đề cương ôn thi chính trị học lớp cao cấp lý luận chính trị dành cho các lớp cao cấp lý luận chính trị của các Học viện chính trị. Học và ôn thi theo các câu hỏi hoặc chuyên đề, tài liệu đầy đủ phong phú
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MÔN CHÍNH TRỊ HỌCCâu 1 Đồng chí hãy trình bày những nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị của Phương Tâythời cổ đại và thời cận đại 3Câu 2: Vai trò của nhà nước trong hệ thống chính trị? Tại sao Văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XII xác định: ” Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị” (5 Điểm) 6
Câu 3: XỬ LÝ TÌNH HUỐNG CHÍNH TRỊ- XÃ HỘI Ở CẤP CƠ SỞ 9Câu 4 Từ những nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị của Khổng Tử và Hàn Phi Tử, rút ra những giá trị vận dụng vào thực tiễn chính trị ở nước ta hiện nay 12Câu 5 Đồng chí hãy làm rõ “quyền lực” và “quyền lực chính trị”, với tư cách là các phạm trù của Chính trị học 4đ 15
Câu 6 Từ lý luận về quyền lực chính trị của nhân dân lao động, làm rõ thực trạng và đề xuất giải pháp thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương hoặc trong cơ quan, đơn vị công tác 19 Câu7 Đồng chí hãy trình bày phạm trù “văn hóa chính trị” và những giá trị cơ bản trong cấu trúc văn hóa chính trị 23 Câu 8 Trên cơ sở phương hướng chung nâng cao văn hóa chính trị ở nước ta, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp cụ thể nâng cao văn hóa chính trị ở địa phương, cơ sở 25 Câu 9 Đồng chí hãy làm rõ phạm trù “con người chính trị” và phân tích những phẩm chất cơ bản của thủ lĩnh chính trị 30 Câu 10 Nêu rõ phương hướng và những giải pháp cơ bản xây dựng con người chính trị Việt Nam hiện nay Liên hệ thực trạng và đề xuất giải pháp cụ thể xây dựng con người chính trị ở địa phương, nơi đồng chí đang công tác 32 Câu 11 Đồng chí hãy trình bày phạm trù “hệ thống chính trị” và nêu rõ đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay 34 Câu 12 Trên cơ sở phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của các thành tố trong hệ thống chính trị ở địa phương, cơ sở, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cấp địa phương và cơ sở 36 Câu 13 Từ lý thuyết về xung đột xã hội, hãy làm rõ phạm trù “điểm nóng xã hội” và “điểm nóng chính trị - xã hội” 40 Câu 14 Trên cơ sở phân tích những nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh điểm nóng chính trị - xã hội ở nước ta, đề xuất giải pháp phòng ngừa điểm nóng chính trị - xã hội xảy ra ở địa phương 42
Câu 15: Giá trị và hạn chế chủ yếu trong lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây (trước khi có chủ nghĩa Mác-Lênin) Liên hệ với thực tiễn chính trị Việt Nam? 44Câu 16: Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay 48Câu 17: Khái niệm quyền lực chính trị và các đặc trưng cơ bản của nó Cơ sở khách quan của quyền lực chính trị, các nhân tố đảm bảo việc thực thi quyền lực chính trị Liên hệ với thực tiễn lãnh đạo chính trị 52
Trang 2Câu 18: 57
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 57Câu 19 THỰC THI VÀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 67
Trang 3Câu 1 Đồng chí hãy trình bày những nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị của
Phương Tây thời cổ đại và thời cận đại
Thời cổ đại ở phương Tây, với những cuộc đấu tranh một mất một còn giữa chủ nô dânchủ và chủ nô quý tộc mà biểu hiện của nó là những cuộc cải cách dân chủ ở các thành bang làđặc trưng cơ bản nổi bật của hệ tư tưởng lúc bấy giờ, mà đặc trưng là các tư tưởng và họcthuyết chính trị Hy Lạp - La Mã Họ đề cập về những vấn đề như nguồn gốc, bản chất của nhànước, các hình thức xã hội, thể chế nhà nước, thủ lĩnh chính trị Trước nhất, bàn về thủ lĩnhchính trị, đã có rất nhiều quan điểm, ý kiến của các học giả về vấn đề này
Sang thời cận đại, đặc trưng cơ bản là sự phát triển mạnh mẽ của triết học khai sáng và là thời kỳ của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản với sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhândân lao động đấu tranh cho các quyền cơ bản của con người Đó là những nét tổng thể dệt nên nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị ở các nước phương Tây thời kỳ trước Mác
Việc làm rõ n hững giá trị phổ biến trong sự phát triển chính trị của nhân loại qua sự phát triển tư tưởng chính trị phương tây từ cổ đại đến cận đại sẽ có ý nghĩa rất quan trọng trong tổ chức thực thi quyền lực chính trị của nhân dân lao động ở nước ta Những nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị của Phương Tây thời cổ đại và thời cận đại được thể hiện như sau:
1, Tư tưởng Platon về chính trị và quyền lực: được phản ánh chủ yếu trong tác phẩm
“Nền cộng hòa” Chính trị là sự thống nhất của trí tuệ tối cao Chính trị là nghệ thuật cai trị.Cai trị bằng sức mạnh là độc tài, cai trị bằng thuyết phục, pháp lý, hành chính, tư pháp,ngoạigiao…
2, Tư tưởng Platon về các loại chỉnh thể:
+ Chỉnh thể hùng bá: Dạng chính quyền do những người tài giỏi và danh tiếng (như cácchiến binh, anh hùng dân tộc) điều hành
+ Chỉnh thể đầu sỏ: dạng chính quyền do 1 nhóm người, nổi lên nhờ thế lực tiền tài, điềuhành và thao túng
+ Chỉnh thể dân chủ
+ Chỉnh thể độc tài: Dạng chính quyền nằm trong tầm khống chế và thao túng của 1 cánhân
3, Tư tưởng Arixtot về các loại chỉnh thể và nhà nước: Trong 2 thành phần lớn về chính trị
là chính trị và Hiến pháp A thens, ông đã tổng kết và phát triển các kết luận của các bậc tiền bối vềnguồn gốc, bản chất, hình thức và vai trò của nhà nước pháp quyền
Phân lọai chỉnh thể: qua nghiên cứu 158 thành bang đương thời dựa trên 2 tiêu chí là sốlượng cầm quyền (cá nhân, số ít, số đông) và chất lượng cầm quyền( thuần túy hay biên chế)Arixtot phân chia 2 loại của 3 hình thức cầm quyền cơ bản:
* Loại thuần túy:
+ Quân chủ trị: hình thức cầm quyền của 1 người vìlợi ích chung
+ Qúy tộc trị: hình thức cầm quyền của 1 nhóm vì lợi ích chung
+ Cộng hòa trị : hình thức cầm quyền của số đông là trong lợi ích chung
* Loại biến chất gồm có:
+ Độc tài trị: sự cầm quyền của 1 người vì lợi ích cá nhân
+ Qủa đầu trị: hình thức cầm quyền của 1 nhóm vì lợi ích cục bộ
+ Dân chủ trị: sự cầm quyền của số đông chống lại những người giàu
4, Tư tưởng Arixtot về con người chính trị: con người về bản chất là 1 tạo vật có tính
XH và chính trị, “con người là động vật chính trị” cá nhân không thể có đuợc cuộc sống tốt
Trang 4đẹp và lành mạnh bên ngoài XH, không phải XH cần con người mà ngược lại con người cầnđến XH.
5, Tư tưởng Xenophon về thủ lĩnh chính trị: chỉ những người thực sự hiểu biết về chính
trị , có người làm chủ nghệ thuật cao nhất , nghệ thuật đế vương, đó là thủ lĩnh chính trị Đó
“không phải là những người mang vương trượng,cũng không phải là người được dân chúngchọn ra, cũng không phải là người được chỉ định bằng bốc thăm, cũng khôg phải là ngườichiếm đoạt quyền lựcbằng bạo lực hay mưu chước Các thủ lĩnh là những người biết chỉ huy
Để chỉ huy được người khácngười thủ lĩnh phải là nguời “có sự cao hơn” Ông nói “người làbằng lòng nghe theo người mà người ta đánh giá là cao hơn, thủ lĩnh chính trị phải khéo léotrong lời nói,giỏi thuyết phục nguời khác bằng tài hùng biện kêu gọi tìnhcảm,lợi ích và tìnhyêu sự vinh quang Người thủ lĩnh phải trải qua rèn luyện , chịu đựng về thể chất, sống thanhliêm kiềm chế, từ bỏ các khoái lạc như vậy quyền lực không phải ở bề ngoài,ở chức tước, mà
là người biết đem lại tình yêu đối với lao động, khêu gợi lòng say mê bộc lộ mình của cấpdưới
6, Tư tưởng Jonh Lốc cơ về tự do: tư tưởng chính trị chủ yếu được thể hiện trong tác
phẩm "Hai khảo luận về chính quyền” Tư tưởng về tự do theo Lốc cơ, tự do là giá trị chủ đạocủa chính trị, của pháp quyền tự nhiên Theo Lốccơ: trong tình trạng tự nhiên, con người tự do,
do đó con người đều bình đẳng, tự do không phải là tình trạng phóng túng mà có Luật tự nhiêndo”Thượng đê thiết lập buộc con người phải điều chỉnh hành vi của mình
7, Tư tưởng Mongtexkio về các hình thức chỉnh thể:
+ Chỉnh thể cộng hòa dân chủ, quyền lực tối thượng nằm trong tay nhân dân Nhân dânvừa là quốc vương (thể hiện qua bỏ phiếu ),vừa là bê bối (tuân thủ những pháp quan mà mình
bổ dụng)
+ Chỉnh thể cộng hòa quý tộc, quyền lực tối cao nằm trong tay một vài người
+ Chỉnh thể quân chủ, quyền lực nằm trong tay một người, cai trị bằng những luật lệ cốđịnh đã thiết lập, ý chí nhất thời của nhà vua bảo đảm sự ổn định của pháp luật
8, Tư tưởng Mongtexkio về phân quyền – tam quyền phân lập: tư tưởng về sự phân
quyền: phân quyền để chống chuyên chế, xây dựng những thể chế chính trị đảm bảo tự do chocông dân
* Về ba chức năng quyền lực nhà nước: thể chế chính trị tự do là thể chế trong đó quyềnlực tối cao phải được phân chia thành ba bộ phận:
+ Quyền lập pháp là biểu hiện ý chí chung của quốc gia
+ Quyền hành pháp là việc thực hiện những luật pháp đã được thiết lập
+ Quyền tư pháp: là để trừng trị tội phạm và giải quyết xung đột giữa các cá nhân
9, Tư tưởng Rutxo về chủ quyền của nhân dân: nhà tư tưởng chính trị “Bàn về khế ước
xã hội” tư tưởng về tự do lý tưởng: Rutxo đưa ra học thuyết về chủ quyền tối thượng của nhândân, theo đó phải phân quyền, phải chuyển quyền quốc vương sang tập thể - nhân dân, kết thúcquyền lực tuyệt đối
Tư tưởng về quyền lực nhà nước là sự thể hiện ý chí của đại đa số; các quyền lập pháp,hành pháp và tư pháp là thống nhất và chỉ là biểu hiện bề ngoài của quyền lực tối thượng củanhân dân.học thuyết tối thượng của nhân dân, theo đó phải phân quyền Tư tưởng về các loạihình chính phủ, rutxo cho rằng:
+ Chính phủ dân chủ về lý thuyết là chính trị lý tưởng, hành pháp gắn với lập pháp
+ Trong Chính phủ quân chủ, chính phủ luôn có xu hướng tự tăng cường, nhưng cơ quanlập pháp luôn có xu hướng nới lỏng
Trang 5+ Chính phủ quý tộc, theo ông là thích hợp nhất vì nó chịu sự chi phối của quyền lựcnhân dân do một nhóm người nắm, chính phủ này cho phép phân biệt rõ lập pháp và hànhpháp.
Trang 6Câu 2: Vai trò của nhà nước trong hệ thống chính trị? Tại sao Văn kiện Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ XII xác định: ” Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị” (5
Điểm).
Là tổ chức quyền lực thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu tráchnhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ các mặt của đời sống xã hội, chịu sự lãnh đạo của giaicấp công nhân, thực hiện đường lối chính trị của giai cấp công nhân, thông qua đội tiên phong
là Đảng Cộng sản Việt Nam
Là thành viên của hệ thống chính trị, là trụ cột của hệ thống chính trị ở Việt Nam, là công cụthể hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Vai trò
Trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, Nhà nước đóng vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng
Vì đó là thiết chế biểu hiện tập trung nhất quyền lực nhân dân và là công cụ hữu hiệu nhất đểthực hiện quyền lực ấy
Không những đứng ở vị trí trung tâm của hệ thống chính trị mà Nhà nước còn là người đạidiện chính thức cho các giai cấp và tầng lớp trong xã hội Điều đó làm cho Nhà nước có một
cơ sở xã hội rộng rãi để có thể triển khai nhanh chóng và thực hiện tốt những quyết định, chínhsách của mình Nhà nước cũng là chủ thể của quyền lực chính trị, là tổ chức chính trị thể hiệntập trung nhất quyền lực nhân dân; có sức mạnh cưỡng chế toàn diện, ban hành và sử dụngpháp luật để quản lý các quá trình xã hội Nhờ có pháp luật, mọi chủ trương, chính sách củaNhà nước được triển khai một cách rộng rãi và thống nhất trên quy mô toàn xã hội
Nhà nước cũng có đầy đủ các phương tiện vật chất cần thiết để thực hiện vai trò của mình Nhànước còn là chủ sở hữu tối cao đối với những tư liệu sản xuất quan trọng nhất của xã hội Bằngviệc nắm giữ các tư liệu sản xuất đó, Nhà nước thực hiện việc điều tiết vĩ mô đối với nền kinh
tế, đảm bảo cho nó phát triển vì lợi ích của nhân dân
Nhà nước nắm giữ nguồn tài chính và cơ sở vật chất to lớn, bảo đảm cho hoạt động của bộmáy nhà nước và của các tổ chức chính trị xã hội khác Nhà nước có quyền tối cao trong việcquyết định những vấn đề đối nội và đối ngoại của đất nước Những quan hệ quốc tế trong lĩnhvực chính trị và kinh tế càng làm cho Nhà nước có vai trò nổi bật hơn trong các quan hệ đốinội, giúp Nhà nước củng cố và phát triển các quan hệ đó trong một thể thống nhất
Quyền lực Nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quantrong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
+ Cơ quan tư pháp: bao gồm Tòa án nhân dân ,Viện kiểm sát nhân dân và các cơ quan điều tra
Trang 7Đây là những cơ quan được thành lập ra để xử lý những tổ chức và cá nhân vi phạm pháp luật,bảo đảm việc thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, chính xác
Tòa án nhân dân là cơ quan nhân danh nhà nước, thể hiện thái độ và ý chí của Nhà nước trướccác vụ án thông qua hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
VKSND là cơ quan đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, bảo đảm việc xét xửđúng người đúng tội Thực hiện các quyền khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra, truy tố
Do đó, cùng với việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nhà nước cũng đangtập trung đẩy mạnh các hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật, cải cách nền hành chính nhànước, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, thực sự làcủa dân, do dân, vì dân
Tại sao Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII xác định: ” Tiếp tục xây dựng, hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”
Xuất phát từ, vị trí vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo
Vị trí
– Là thành viên của hệ thống chính trị, là trụ cột của hệ thống chính trị ở Việt Nam, là công cụ
thể hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Vai trò
– Nhà nước có vai trò trong việc quản lý các mặt của đời sống xã hội như kinh tế văn hóa, xã
hội, quốc phòng – an ninh
– Nhà nước vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh
tế, văn hóa, xã hội của nhân dân
– Nhà nước thể chế hóa những quan điểm chủ trương của Đảng thành Hiến pháp và pháp luật,nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội thông qua hệ thống pháp luật
Xuất phát từ thực trạng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay
Thời gian qua, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có tiến bộ trên
cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc – mộttrong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam ở bất kỳ giai đoạn nào, đãđược phát huy ở mọi cấp, mọi ngành Dân chủ ngày càng được mở rộng Dân chủ xã hội chủnghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thểhiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Quốc hội đã có nhiều đổi mớiquan trọng, tập trung vào thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọngcủa đất nước và quyền giám sát tối cao Điều này được thể hiện rất rõ ở cách thức Quốc hội lấy
ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong xây dựng và ban hành pháp luật Thông quahình thức dân chủ trực tiếp và gián tiếp, nhân dân được tham gia quyết định những vấn đềquan trọng của đất nước Cơ cấu và hoạt động của bộ máy hành pháp, tư pháp được phân định
ngày càng rõ ràng, cụ thể hơn và có nhiều chuyển biến tích cực Với Quy chế dân chủ ở cơ sở,
hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội ngày càng có hiệuquả thông qua các cuộc vận động xã hội đầy ý nghĩa, thu hút được đông đảo các tầng lớp nhândân tham gia, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được thì việc xây dựng và hoàn thiện nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trên thực tế vẫn cònnhiều tồn tại, hạn chế và yếu kém: “Tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc vàcác đoàn thể nhân dân còn một số khâu chậm đổi mới Quốc hội còn lúng túng trong việc thựchiện chức năng giám sát Bộ máy quản lý nhà nước các cấp, nhất là ở cơ sở còn yếu kém Tình
Trang 8trạng nhũng nhiễu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm ở một bộ phận công chức, nhất là ở các cơquan trực tiếp giải quyết công việc của dân và doanh nghiệp, chậm được khắc phục Mô hình
tổ chức chính quyền địa phương, nhất là tổ chức hội đồng nhân dân, còn những điểm bất hợp
lý Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thểnhân dân ở nhiều nơi còn mang tính hành chính, hình thức Dân chủ trong xã hội còn bị viphạm Kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi không nghiêm” Hơn nữa, công tác tuyên truyền, giáodục pháp luật đối với nhân dân còn hạn chế
Từ những lý do trên Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII xác định: ” Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”
Trang 9Câu 3: XỬ LÝ TÌNH HUỐNG CHÍNH TRỊ- XÃ HỘI Ở CẤP CƠ SỞ
Xử lý tình huống chính trị là một trong những nội dung quan trọng của nghệ thuật chnhstrị, rất cần thiết cho hoạt động chính trị thực tiễn, vì nó trang bị phương pháp tiếp cận, nhiệm
vụ , nguyên tắc và qui trình xử lí một số tình huống chính trị; giúp cho cán bộ thêm khả năngchủ động phát hiện các tình huống chính trị, ngăn cản và hạn chế các tác hại của nó trong thựctiễn
I-XUNG ĐỘT XÃ HỘI, TÌNH HUÔNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ ĐIỂM NÓNGCHÍNH TRỊ - XÃ HỘI: Dưới những góc độ tiếp cân khác nhau, có thể có những quan điểmkhác nhau về tình huống: Quan điểm I cho rằng: Tất cả các sự kiện, các biến cố xảy ra trongđời sống mà con người phải nhận thức và tìm cách giải quyết đều gọi là tình huống Quan điểmnày có những điểm hợp lý, nhưng nếu theo quan điểm nầy thì tất cả mọi hoạt động của conngười đều là xử lý tình huống, không phân biệt những sự kiện, biến cố bình thường cần ápdụng những giải pháp bình thường với những sự kiện , biến cố gay cấn, phức tạp đòi hỏi cógiải pháp đặc biệt Quan điểm thứ hai cho rằng, chỉ những sự kiện, những biến cố xảy ra khôngbình thường, có vấn đề gay cấn , phức tạp, đòi hỏi con người phải nhận thức và xử lý băngnhững giải pháp không bình thường, giải pháp đặc biệt mới gọi là tình huống Quan điểm IIhợp lý hơn, vì hoạt động xử lý tình huống của con người chỉ nên giới hạn ở những giải phápđặc biệt đối với các sự kiện, biến cố không bình thường Chính trị là một trong những lĩnh vựchoạt động cơ bản của con người trong xã hội có giai cấp nếu trong điều kiện bình thường, hoạtđộng của chủ thể cầm quyền diễn ra theo qui trình:Ra quyết định, triển khai quyết định, tổngkết, rút kinh nghiệm và chuẩn bị ra quyết định mới… Nhưng họ có thể còn phải gặp những trởngại như các hiện tượng: Nhân dân khiếu kiện, biểu tìh chống đối, lực lượng phản động gâybạo loạn, bản thân các chủ thể cầm quyền thoái hoá, biến chất… Trong trường hợp cụ thể cóthể dẫn đến tình huống thiếu chủ thể cầm quyền những hiện tượng này gây nên sự bất ổn địnhchính trị- xã hội đòi hỏi phải áp dụng những biện pháp đặc biệt để giải quyết Trong đời sống
xã hội,luôn tồn tai các mâu thuẫn Chính các mâu thuẫn này là động lực của sự vận động vàphát triển xã hội Các mâu thuẫn này biểu hiện ra trong các hình thức quan hệ xã hội cụthể,thông thường là những hình thức xung đột, đấu tranh Nếu quá trinhg giải quyết các mauthuẫn đó được tiến hành sớm, các xung đột, đấu tranh sẽ không phát triển đến mức độ căngthẳng, các diểm nóng xã hội hoặc điểm nóng chính trị - xã hội sẽ không xuất hiện Nhưngkhông ít các trường hợp, các mâu thuẫn, các xung đột, không được giải quyết đúng ngay từđầu; cùng với nhiều nguyên nhân chủ quan khách quan khác đã trở thành căng thẳng, đối đầu,hoặc không tương dung Lúc đó đời sống chính trị - xã hội ở trong trạng thái " đặc biệt" khôngbình thường, buộc người cầm quyền sử dụng những phương tiện đặc biệt, không thông thườngmới quản lý được xã hội Như vậy, có thể nói, "tình huống" chính trị - xã hội là trạng thái côngkhai,căng thẳng của xung đột xã hội Trong trạng thái đó, có thể có những " tình huống" pháttriển theo chièu hướng căng thẳng ở mức độ cao (xung đột ở giai đoạn đối đầu, không tươngdung) còn gọi là điểm nóng xã hội"," điểm nóng chính trị - xã hội" Trạng thái "nóng" của đờisống chnhs trị - xã hội được giới truyền thông gọi là "điểm nóng" và có thể dùng như mọt kháiniệm của khoa học chính trị để nghiên cứu một trong những quá trình phức tạp của đời sốngchính trị Điểm nóng là khái niệm chỉ trạng thái không bình thường của sự vật Trong kỹ thuật
đó là trạng thái của sự vật ở "điểm sôi', "điểm bốc cháy", "điểm bùng nổ" điểm nóng xã hộikhi nổ ra thường có những biểu hiện: đời sống xã hội trong trạng thái không bình thường, bất
ổn định, có sự rối loạn; sự phản ứng, xung đột của đám đông, của các lực lượng không còn
Trang 10kiềm chế được trở thành sức mạnh, áp lực chống đối lẫn nhau; hành vi của đám đông quầnchúng đã vượt ra ngoaì khuôn khổ của pháp luật và chuẩn mực văn hoá đạo đức; diễn ra trongkhông gian, thời gian nhất định, có khả năng lan toả sang nơi khác Trong thực tiễn thường xảy
ra các điểm nóng xã họi nhiều hơn các điểm nóng chính trị xã hội Còn điểm nóng chính trị
-xã họi xảy ra ít hơn , nhưng phức tạp hơn và quyết liệt hơn, vì nó quan hệ trực tiếp tới quyềnlực nhà nước Tuy nhiên, điểm nóng xã hội trong các lĩnh vực khác nhau đều có khả năng trựctiếp trở thành điểm nóng chính trị- xã hội Xung đột xã hội xảy ra từ các hình thức thấp, những
va chạm, bất đồng các quan hệ xã hội, cho đến những hình thức cao như đấu tranh giữa cácnhóm, các giai cấp, xung đột vũ trang, chiến tranh Những xung đột xã hội, chính trị - xã hội ởmức cao độ gọi là nhưng điểm nóng xã hội, điểm nóng chính trị - xã hội Như vạy, điểm nóng
xã hội, điểm nóng chính trị - xã hội chỉ là một hình thưc của xung đột xã hội, nằm trong phạmtrù "xung đột xã hội
I- XỬ LÝ TÌNH HUỐNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI:
1- Khái niệm tình huống, tình huống chính trị - xã hội a- Tình huông: Theo Từ điểntiếng Việt, tình huống là: toàn thể những sự việc xảy ra taị một nơi, trong một thời gian, buộcngười ta phải suy nghĩ, hành động, đối phó, chịu đựng…" Như vậy có thể hiểu những sự kiện,những biến cố xảy ra không bình thường, có vấn đề gay cấn, phức tạp, đòi hỏi con người phảinhận thức và xử lý bằng những giải pháp không bình thường, giải pháp đặc biệt thì được gọi làtình huống b- Tình huống chính trị - xã hội: Tình huống chính trị - xã hội là những sự kiện,biến cố không bình thường diẽn ra trong đời sống chính trị - xã hội, gây nen sự bất ổn địnhhoặc khả năng trực tiếp gây nên sự bất ổn định chính trị - xã hội, đòi hỏi con người phải ápdụng những giải pháp đặc biệt để giải quyết Những dấu hiệu cơ bản về biểu hiện tình huốngchính trị: - Sự bất mãn, chống đối của một bộ phận nhân dân với một số đại - xung đột giữaphe phái trong lực lượng cầm quyền - Bộ máy chính quyền bất lực,tê liệt hoặc có khoảngtrống quyền lực - Những chuẩn mực luật pháp, đạo đức, văn hoá có thể không được tuân thủ -Khủng hoảng vè tư tưởng, niểm tin gây tổn hại đến ý thức hệ chủ đạo của xã hội - Các lựclượng tiêu cưc, phản động có điều kiện trỗi dậy gây mất an ninh xã hội, làm tăng nguy cơ đốivới sự bền vững của chế độ xã hội Một tình huống chính trị- xã hội xuát hiện không nhất thiếtphải có đầy đủ các dáu hiệu trên mà có thể chỉ cần một vài dấu hiệu nào đó, gây nên bất ổnđịnh chính trị - xã hội Cũng như các hiện trượng xã hội khác, việc xuát hiện các tình huốngchính trị - xã hội có những nguyên nhân nhất định Ở đây có thể có những nguyên nhân kháchquan từ sự vận động, biến đổi của kinh tế, chính trị, xã hội nằm ngoài ý thức của chủ thể cầmquyền, nhưng cũng có khi là do những nguyên nhân chủ quan từ sai lầm, yếu kém của chủ thểcầm quyền Cũng có thể tìm nguyên nhân các tình huống chính trị - xã hội từ đời sống quan hệquốc tế, từ những nguyên nhân từ bên ngoài dất nước.v.v Ở đây có thể có những nguyên nhânkhách quan từ sự vận động, biến đổi của KT-CT- XH nằm ngoài ý thức của chủ thể cầmquyền, nhưng cũng có khi là do những nguyên nhân chủ quan từ sai lầm, yếu kém của chủ thểcầm quyền Thứ nhất, phải đưa xã hội nơi xảy ra điểm nóng trở lại bình thường: hệ thốngchính trị, cơ sở sản xuất kinh doanh, Bệnh viện, trường học, các dịch vụ công cộng, các côngtrình phúc lợi xã hội… Thứ hai, phải tập trung sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và sự quản lý củachính quyền cơ sở khắc phục những thiệt hại vè người và của (nếu có) Thứ ba, tứng bước xácđịnh trách nhiệm của các bên thì tiến hành xử lý vi phạm từ tất cả các phía; củng cố, thay thế,
bổ sung sàng lọc đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị 4- Bước bốn: rút kinh nghiệm, dự báotình hình, áp dụng những biện pháp để điểm nóng không tái phát Khi tiến hành rút kinhnghiệm cần phải đánh giá lại đội ngũ cán bộ lãnh đạo, qua điểm nóng bộc lộ rõ năng lực, phẩm
Trang 11chất của đội ngũ cán bộ cũng cần đánh giá lại hệ thống tổ chức quyền lực (bộc lộ những mặtmạnh, mặt yếu qua điêm nóng) Đánh giá phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, những thiếu sót bấtcập trong chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước Cần khách quan đánh giálại cơ sở chính trị - xã hội của Đảng trong quần chúng: 1) Ai là lực lượng thật sự chống quanliêu tham nhũng? 2) Ai là lực lượng bị kích động, lôi kéo chống chính quyền? Đồng thời khitổng kết rút kinh nghiệm cần dự báo tình hình và áp dụng các giải pháp để điểm nóng khôngtái phát.Để công tác dự báo có kết quả cần dự báo theo những thông số thu nhập đuợc về cácmặt kinh tế-xã hội; theo những kịch bản nhât định, kể cả những kịch bản xấu nhất Cũng cần
dự báo các phương thức xử lí nếu đỉem nóng tái phát Qua phân tích ở phần trên chúng ta cóthể thấy rằng, xung đột xã hội là hiện tuợng trong đời sống xã hội Giải quyết, giải toả và quản
lí tốt xung đột xã hội không sinh ra những tình huống chính trị-xã hội hoặc điểm nóng chínhtrị-xã hội Mặc dù vậy, các tình huống chính trị- xã hội và điểm nóng chính trị- xã hội, dùkhông muốn vẫn sẽ là một hiện tượng tồn tại trong đời sống xã hội và đời sống chính trị, đạcbiệt là xẫ hội còn phân chia giai cấp, còn những khác biệt về lợi ích,còn bất bình đẳng trongquá trình hiện thực hoá các lợi ích, trong thụ huởng những thành qủa phát triển chung và phúclợi xã hội Điểm nóng chính trị- xã hội còn là một hiện tượng gắn liền vói những chuyển biếnmạnh mẽ trong đời sống kinh tế-xã hội, khi mà sự phát triển vuợt ra ngoài tầm kiểm soát củaNhà nuớc và xã hội,v.v… Tính chất,qui mô,hình thức biểu hiện, phuơng thức xử lý của cácxung đột xã hội, cũng như các điểm nóng chính trị, xã hội rất đa dạng muôn hình, muôn vẻ Dovậy, khi có điểm nóng chính trị-xã hội cần bình tĩnh, tạp trung sự lãnh đạo giaỉi quyết dứtđiểm.Khi giải quyết phải phát huy vai trò của các cấp uỷ Đảng, phải dựa vào quần chúng nhândân
Trang 12Câu 4 Từ những nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị của Khổng Tử và Hàn Phi Tử, rút ra những giá trị vận dụng vào thực tiễn chính trị ở nước ta hiện nay.
Những biến đổi to lớn trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội đã tạo điều kiện đătk cơ sởcho sự ra đời của các trào lưu, trường phái, học thuyết chính trị, triết học, đạo đức ở TrungQuốc thời kỳ này Sử gọi đây là thời kỳ “Bách gia tranh minh”, ‘Bách gia chư sử”, trăm nhàđua sáng, trăm nhà làm thấy Các trường phái tư tưởng, các nhà chính trị đều hướng vào giảiquyết vấn đề thực tiễn xã hội bức xúc lúc này là cắt nghĩa về mặt lý luận, nguyên nhân của tìnhtrạng bất ổn, loạn lạc, chiến tranh, đồng thời chỉ ra những giải pháp khắc phục tình trạng trên,đưa xã hội trở lại ổn định, phát triển
Tuỳ theo lợi ích và lập trường giai cấp, tuỳ theo cách tiếp cận và nhìn nhận vấn đề mà mỗitrường phái có những kiến giải khác nhau về vấn đề trên Trong số rất nhiều trường phái tưtưởng chính trị thời kỳ này, đáng chú ý là: Phái NHo gia - đại biểu cho tư tưởng của tầng lớpquý tộc cũ; phái Pháp gia - đại biểu cho tư tưởng của tầng lớp địa chủ mới kiêm thươngnhân;phái Mặc - đại biểu cho tư tưởng của tầng lớp bình dân, thợ thủ công và những người sảnxuất nhỏ
Những nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị của Khổng Tử và Hàn Phi Tử đại diệncho 2 phái: Phái Nho gia và Phái Pháp gia
Thứ nhất: Tư tưởng “Đức trị”
Khổng Tử (551-479 tr.CN) Là người sáng lập học phái Nho gia Tư tưởng chính trị của
Khổng Tử được thể hiện rõ nét ở các nội dung “Nhân – Lễ – Chính danh”:
*Nhân: "Nhân" là bộ phận quan trọng trong tư tưởng Khổng Tử, - "Nhân" là bản chất nhân
đạo của con người Trong chính trị, "Nhân" là phạm trù trung tâm, thể hiện bằng hành vi “đạo đức; của người cầm quyền Có đạo đức tất có quyền lực: “Làm chính trị mà dùng đức thì cứ như sao Bắc đẩu, cứ đứng nguyên một chỗ mà các sao khác phải hướng về chầu” hoặc; “Đức của người quân tử như gió, đức của kẻ tiểu nhân như cỏ, giáo thổi cỏ sẽ lướt theo: = “Đức trị”
*Lễ: Lễ là biểu hiện của Nhân "Lễ" tạo cho con người biết phân biệt trên dưới, biết thân phận,
vai trò, địa vị của mình trong xã hội "Lễ" quy định chuẩn mực cho các mối quan hệ cơ bản:vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè Các quan hệ này có hai chiều phụ thuộc vào nhau.Vua sai khiến bề tôi phải theo "Lễ", bề tôi thờ vua theo đạo trung; cha đối với con phải nhân
từ, con thờ cha phải hiếu thảo…
* Chính danh Chính danh là sự xác định danh phận, đẳng cấp và vi trí của từng cá nhân, tầng
lớp trong xã hội Ai ở vị trí nào thì làm tròn bổn phận ở vị trí ấy, không được làm vượt quáchức năng, bổn phận của mình Danh phải hợp với "thực", nội dung phải phù hợp với hìnhthức Khi có danh thì thực mới có ý nghĩa, danh không chính thì ngôn không thuận, ngônkhông thuận thì việc không thành Trong chính trị, lời nói phải đi đôi với việc làm
Thứ 2 Tư tưởng “Pháp trị”
- Hàn Phi Tử (280-233 tr.CN)- Pháp gia thời kỳ sau, là người tổng kết và phát triển tư tưởng
của những nhà pháp gia tiền bối, hoàn chỉnh học tư tưởng của trường phái này với các nội
dung cơ bản: Pháp - Thuật - Thế
* Pháp: là những quy ước, khuôn mẫu, chuẩn mực do vua ban ra, được phổ biến rộng rãi để
mọi người thực hiện Yêu cầu của pháp luật: + Phải hợp thời, đáp ứng được những yêu cầuphát triển xã hội + Phải rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với trình độ dân chúng + Phải công bằng để
kẻ mạnh không lấn kẻ yếu, đám đông không hiếp đáp số ít + Quyền lực phải tập trung vào mộtngười làm vua + Vua đề ra pháp luật, quan lại theo dõi việc thực hiện, dân là người thi hành
Trang 13pháp luật.
* Thuật: là thủ đoạn hay thuật cai trị của người làm vua để kiểm tra, giám sát, điều khiển bề
tôi Thuật còn là phương pháp tuyển chọn, sử dụng người đúng chức năng, tạo cho họ làm trònbổn phận của mình Thuật là điều vua dùng để chế ngự âm mưu quyền thuật của quần thần,thuật cần phải được giấu kín, tuyệt đối bí mật, không để bất cứ người nào biết
* Thế: là uy thế, quyền lực của người cầm quyền Thế phải tuân thủ theo nguyên tắc tập trung,
không được chia sẻ, không được để rơi vào tay người khác Vua phải nắm chắc hai phươngtiện cưỡng chế là thưởng và phạt Thưởng và phạt phải căn cứ trên cơ sở của pháp luật chứkhông thể tuỳ tiện Vua cũng phải phục tùng pháp luật Khi có thế, uy quyền của vua sẽ tănglên, lời nói có thêm sức mạnh
Như vậy, trong tư tưởng pháp trị của Hàn phi tử bao gồm ba nội dung quan trọng có mối quan
hệ hữu cơ tạo thành một thể thống nhất, bổ sung cho nhau, phát huy lẫn nhau; trong đó “pháp”giữ vị trí trung tâm, “thuật” và “thế” là hai yếu tố cần và đủ để “pháp” có thể thực hiện và pháthuy tác dụng
* Liên hệ những giá trị của “Đức trị” và “Pháp trị” vận dụng vào thực tiễn chính trị ở
nước ta hiện nay.
Tư tưởng “Pháp trị” và “Đức trị” là hai trường phái quản lý khác nhau xong hai vấn đề này cómối quan hệ mật thiết với nhau Pháp luật là một biện pháp để khẳng định một chuẩn mực đạođức; ngược lại đạo đức là những nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng giá trị được xã hội thừanhận, có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác,nhưng nhiều khi rất cần sự hỗ trợ của pháp luật Bởi vì nếu không kết hợp tính nghiêm minh,khoa học của pháp luật thì giáo dục đạo đức trở thành vô nghĩa
Một thời gian dài chúng ta đã trị nước bằng Chỉ thị và Nghị quyết Sau khi đường lối đổi mới
đi vào cuộc sống, xã hội Việt Nam đã thực sự phân hóa về giai tầng, về quyền lợi, nhất là saukhi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tham gia vào Hiệp định Đối tácxuyên Thái Bình Dương (TPP) … những mối quan hệ chằng chịt trong nước lại đan xen phứctạp với các mối quan hệ quốc tế, thì dứt khoát nền đức trị cổ truyền đã chấm hết vai trò lịch sửcủa nó, và nay chỉ một nền pháp trị cứng rắn bất vị thân mới có khả năng giải quyết đúng đắncác mối quan hệ xã hội phức tạp hiện nay
Vận dụng hài hòa tư tưởng “Đức trị” và “Pháp trị” trong quá trình đổi mới quản lý ở Việt Nam
đã mang lại kết quả rất quan trọng, vừa bảo vệ được thành quả cách mạng, giữ vững được địnhhướng XHCN, vừa tạo được sự phát triển mới về chất Tuy nhiên quá trình đổi mới còn rất gay
go, phức tạp, một mặt đó là sự nghiệp chưa từng có trong lịch sử, phải vừa làm vừa học hỏi,vừa điều chỉnh …, mặt khác phải cảnh giác chống lại âm mưu phá hoại của kẻ thù và chống lạicăn bệnh quan liêu, tham nhũng từ chính trong hệ thống quản lý
Hiện nay, trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, chúng ta phải có tư duy toàn cầu về một Quốchội, một Chính phủ thời hội nhập Vấn đề rộng lớn, nhưng lõi cốt là tập trung xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Chính phủ phảithật sự là công bộc của dân Chúng ta coi việc giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân học tập vàlàm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa cơ bản, lâu dài và cấp bách.Tuy nhiên, hội nhập quốc tế mà pháp luật không nghiêm thì phải trả giá đắt Chúng ta đã cóquá nhiều bài học về vấn đề này do sự kém hiểu biết về pháp luật (Việt Nam và quốc tế), nonkém trong trình độ quản lý, không nghiêm và minh về pháp luật Trước tình hình đó, việcnghiên cứu và quán triệt sâu sắc tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa
Trang 14“đức trị” với “pháp trị” là hết sức cần thiết, vì nó tiếp tục soi sáng công cuộc đổi mới của Đảng
- Để dựng nước và giữ nước thành công, vấn đề cơ bản về chính trị đặt ra cho giai cấp cầmquyền là phải có đường lối trị nước, an dân đúng đắn, biết khơi dậy và phát huy được nội lực
và sức mạnh tổng hợp của đất nước Chìa khoá của vấn đề, bí quyết của thành công chính là tưtưởng và đường lối chính trị lấy dân làm gốc dựa vào dân, khoan thư sức dân, huy động đượcsức mạnh đoàn kết toàn dân, kết hợp đúng đắn lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc, là xây dựngmột nền chính trị nhân nghĩa, là nghệ thuật biết chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, lấy yếu thắngmạnh, lấy trí nhân để thay cường bạo, biết chắt lọc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ và những kinhnghiệm quản lý trong quá trình giao lưu với bên ngoài, xây dựng quan hệ hữu nghị với cácnước láng giềng
- Ngày nay dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, những bài học kinh nghiệm trong quá trình dựngnước, những giá trị tư tưởng quý báu trong kho tàng lịch sử tư tưởng chính trị nói riêng và tưtưởng dân tộc nói chung đang được bảo tồn, kế thừa và phát huy lên tầm cao mới trong sựnghiệp đổi mới, thực hiện CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCNvì mục tiêu “dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”./
Trang 15Câu 5 Đồng chí hãy làm rõ “quyền lực” và “quyền lực chính trị”, với tư cách là các phạm trù của Chính trị học 4đ
1 Khái niệm:
a Quyền lực: Vấn đề quyền lực đã được quan tâm, nghiên cứu ngay từ thời cổ đại đến nay vẫn tồn
tại nhiều quan niệm về quyền lực
- Từ điển Bách khoa Triết học (Liên Xô) xác định: "Quyền lực, trong ý nghĩa chung nhất, là năng lực và khả năng thực hiện ý chí của mình, tác động đến hành động, hành vi của những người khác nhờ phương tiện nào đó, như uy tín, quyền hành, sự cưỡng bức (kinh tế, chính trị, nhà nước, gia đình…).
* Khái niệm "quyền lực" bao hàm các yếu tố:
- Quyền lực là quan hệ giữa những con người (nhóm người, tập đoàn người, cộng đồng người),nhưng quan hệ đó không phải là đặc điểm, tính chất có tính đặc trưng, mà là quan hệ đặc biệt- quan
hệ ý chí “Quyền lực là quan hệ có tính chất ý chí giữa những con người Nó vốn có đối với xã hội
đó, để tổ chức nền sản xuất xã hội”.
- Quyền lực là tác động, sự chi phối của chủ thể này đối với chủ thể khác Sự tác động đó được hiểu
là khả năng của một chủ thể bắt buộc chủ thể khác phải hành động theo kiểu cần thiết đối với nó.Như vậy, quyền lực bao hàm sức mạnh tác động từ chủ thể nay đến chủ thể khác, bắt buộc phải hànhđộng theo ý chí của nó
- Quyền (quan hệ thừa nhận ý chí) và yếu tố thứ hai là "lực" (sự tác động có sức mạnh bắt buộc).Thiếu một trong hai yếu tố đó (có "quyền" mà không có "lực", hoặc có "lực" mà không có "quyền")không đủ tạo thành "quyền lực" Tuy nhiên, cần chú ý rằng, hai yếu tố đó lại có thể chuyển hoánhau: có "quyền" có thể tạo ra "lực" và khi có "lực" có thể sinh ra "quyền"
b Quyền lực chính trị.
Quyền lực chính trị là ý chí chung của một tập đoàn xã hội (trước hết là một giai cấp, một dân tộc) thể hiện năng lực thực hiện những lợi ích của tập đoàn xã hội đó, trong khi tác động, chi phối các tập đoàn xã hội khác.
Xét ở tầng sâu nhất bản chất thì "Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp" Do vậy, quyền lựcchính trị thực chất là năng lực thực hiện lợi ích khách quan của gai cấp
+ Theo Mác: Quyền lực chính trị là khả năng của một giai cấp trong việc thực hiện lợi íchkhách quan của mình
+ Ph Ăngghen chỉ rõ: "Quyền lực chính trị, theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chứccủa một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác" Như vậy, bản chất quyền lực chính trị là quan hệgiữa giai cấp với giai cấp Quyền lực chính trị gắn với giai cấp, lấy chính sự tồn tại của giai cấplàm cơ sở Do vậy, quyền lực chính trị là một phạm trù lịch sử
2 Phân tích các đặc điểm của QL, QL chính trị
* Đặc điểm của Quyền lực
- Quyền lực là phạm trù có tính phổ biến; không có lĩnh vực hay quan hệ nào lại không có sự tácđộng của quyền lực Khi hình thành xã hội, hoạt động của con người đều mang tính phối hợp, cóquan hệ với những người khác Hoạt động chung của con người trong quan hệ với những ngườikhác làm nảy sinh quyền lực dù đó là hoạt động lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa hay các lĩnh vực
xã hội khác
- Quyền lực gắn quan hệ giữa con người với những người khác Do vậy, mỗi quyền lực chỉ có hiệulực tác động trong quan hệ nhất định không có quyền lực “vạn năng”, “tuyệt đối” tác động trong mọi
Trang 16quan hệ Quan hệ giữa con người với con người trong xã hội vô cùng đa dạng, đan xen, chồng chéonhau khiến cho quan hệ quyền lực trong xã hội hết sức phức tạp:
- Quyền lực là quan hệ mang tính thứ bậc: Nó bao hàm sự phân định vị thế giữa chủ thể nắm giữquyền lực (A) với chủ thể chịu tác động của quyền lực (B); ở đó B buộc phải hành động theo ý chí
của A Quyền lực là quan hệ phục tùng, tuân thủ; không có quan hệ ngang bằng, bình đẳng “Bất kỳ hoạt động chung nào cũng đồi hỏi cần có người tổ chức, chỉ huy và những kẻ phục tùng – cái vốn tạo thành điểm xuất phát cũng như nội dung trung tâm của phạm trù quyền lực”
* Đặc điểm của Quyền lực Chính trị
+ Thứ nhất: Quyền lực chính trị luôn mang tính giai cấp trong nội dung cơ bản của nó Thực chất
quyền lực chính trị là lợi ích giai cấp, thể hiện thành ý chí của một giai cấp; do vậy, quyền lực chínhtrị luôn gắn với giai cấp nhất định Không thể có quyền lực chính trị "phi giai cấp"; không có quyền lựcchính trị bên ngoài sự tồn tại của giai cấp
+ Thứ hai: Quyền lực chính trị vừa mang tính thống nhất về cơ bản, lại vừa có sự "không thuần
nhất" Tính thống nhất của quyền lực chính trị xuất phát từ lợi ích cơ bản chung của toàn bộ giai cấp.Chẳng hạn, giá trị thặng dư là lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản, tạo nên sự thống nhất của toàn bộgiai cấp tư sản trong việc thực hiện quyền lực chính trị của nó, nhằm thực hiện tối đa giá trị thặng
dư Tính "không thuần nhất" của quyền lực chính trị lại có cơ sở từ sự khác nhau về lợi ích cục bộ,
về nhận thức và phương thức thực hiện lợi ích giai cấp của các bộ phận khác nhau trong nội bộ mộtgiai cấp
+ Thứ ba: Quyền lực chính trị có cơ cấu tổ chức kiểu "hình tháp" ("hình chóp") Càng lên tầng cao
của "hình tháp" đó mật độ quyền lực càng đậm đặc, cường độ quyền lực càng lớn Quyền lực chínhtrị có cấu tạo gồm nhiều phân hệ gắn kết, chi phối lẫn nhau theo xu hướng tạo sự cân bằng bên trongquyền lực chính trị Tuy nhiên, đó là sự cân bằng "động"; nghĩa là tương quan giữa các phân hệkhông phải là bất biến, mà luôn có những biến đổi Từ đó, sự vận động của quyền lực chính trị làxác lập sự cân bằng bên trong cấu trúc - phá vỡ sự cân bằng - hướng đến xác lập sự cân bằng mới …
+ Thứ tư: Quyền lực chính trị được thể hiện theo "chế độ đại diện", tức là quyền lực chính trị được
hiện thân hoá ở những nhóm hoặc cá nhân đại diện của tập đoàn xã hội (giai cấp, dân tộc, đảngphái…) Chế độ đại diện của quyền lực chính trị tạo ra khả năng "tha hoá quyền lực": biến quyền lựcchính trị vốn là quyền lực chung của một tập đoàn xã hội (giai cấp, dân tộc, đảng phái…) thànhquyền lực của một nhóm, thậm chí của cá nhân "đại diện" Vì vậy, chống tha hóa quyền lực chính trị
là một nội dung quan trọng trong tổ chức và thực thi quyền lực chính trị
* Liên hệ với thực tiễn VN
Ở VN hiện nay, mục tiêu của quyền lực chính trị là vì dân Dưới sự lãnh đạo của ĐCS
VN, trải qua các cuộc chiến tranh lâu dài, gian khổ, với thắng lợi của CMT8/1945, nhân dân ta
đã lật đỏ sự thống trị của chế độ thực dân phong kiến, lập nên Nhà nước VNDCCH xác lậpquyền lực chính trị của nhân dân lao động Chủ tịch HCM chỉ rõ: “Nước ta là nước dân chủ.Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng
là trách nhiệm của dân…Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”
Hơn nửa thế kỷ qua nhân dân lao động ở nước ta dùng quyền lực đó để bảo vệ và xâydựng đất nước ngày càng phát triển Chế độ xã hội mà nhân dân ta đang phấn đấu xây dựng làchế độ xã hội chủ nghĩa, đó là chế độ “lần đầu tiên trong lịch sử những xã hội văn minh, quầnchúng nhân dân vươn lên tham gia một cách độc lập không những vào việc bầu cử và cả vàoviệc quản lý hàng ngày nữa” Nội dung chính trị xuyên suốt thời kỳ quá độ là thực hiện ngàycàng đầy đủ quyền lực chính trị của nhân dân lao động
Trang 17Quyền lực chính trị của nhân dân lao động là ý chí chung của mọi tầng lớp, thể hiện khảnăng thực hiện được những lợi ích cơ bản của những người lao động, được thực hiện bằngquyền lực nhà nước, bằng hoạt động của các đoàn thể quần chúng và bằng quyền làm chủ trựctiếp của nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Chủ thể quyền lực chính trị ở nước ta hiện nay là nhân dân lao động, đó không phải làmột giai cấp, một tầng lớp mà bao gồm nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau Trong đó, giai cấpcông nhân là giai cấp tiên tiến, đại diện cho phương thức sản xuất hiện đại, do vậy cũng là giaicấp đại diện cho lợi ích cơ bản chung của toàn thể nhân dân lao động Nhân dân lao động với
tư cách chủ thể quyền lự là khối liên hiệp các tầng lớp lao động, lấy liên minh công nhân –nông dân và tầng lớp trí thức làm nòng cốt, do giai cấp công nhân lãnh đạo HCM khẳng định
“Để giành lấy thắng lợi, CM nhất định phải do GCCN lãnh đạo Vì nó là giai cấp tiên tiến nhất,giác ngộ nhất, kiên quyết nhất, có kỷ luật nhất và tổ chức chặt chẽ nhất”
Từ thực tiễn thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động ở nước ta, Đảng ta đãtổng kết và khái quát thành cơ chế thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động là
“Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” Cơ chế này đã được Đảng ta nêu ra tại
ĐH IV (1976) và tái khẳng định trong Hiến pháp 2013 Thực chất cơ chế này là xác định vaitrò, chức năng và mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân tạo thành sức mạnh tổng hợpcủa hệ thống chính trị
Đảng lãnh đạo, trước hết là đưa ra đường lối đúng đắn, xác định mục tiêu, nhiệm vụtrong từng giai đoạn, làm định hướng và quy tụ sức mạnh của toàn dân tạo nên sức mạnh củaquyền lực Đồng thời, Đảng còn đào tạo, rèn luyện một đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, phẩmchất để tập hợp và tổ chức nhân dân thực hiện được quyền lực chính trị của mình thông quanhà nước
Nhà nước quản lý, trước hết là thể chế hóa các mục tiêu chính trị đã được xác địnhthành pháp luật, tức là thành ý chí của toàn dân mang tính pháp lý Đồng thời, bằng hệ thốngcác cơ quan hành pháp, tư pháp, Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện quyền lực chínhtrị của nhân dân lao động thông qua thực hiện chức năng, nhiêm vụ quản lý nhà nước – quyềnlực do nhân dân ủy quyền
Nhân dân làm chủ khẳng định vị thế chủ thể quyền lực thuộc về nhân dân, đồng thờicũng xác định nhân dân chính là nguồn gốc tạo nên sức mạnh quyền lực
Như vậy, trong cơ chế này, nhân dân là chủ thể quyền lực; Nhà nước là công cụ chủ yếuthực hiện quyền lực của nhân dân; Đảng là người lãnh đạo đảm bảo Nhà nước là “của dân, dodân, vì dân” và nhân dân là chủ nhân của quyền lực
Để thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân cần thực hiện những điều kiện sau:
Thứ nhất: Để nhân dân lao động có quyền lực chính trị phải có cơ sở kinh tế thích ứng
đảm bảo - đó là chế độ công hữu về những TLSX chủ yếu Không có cơ sở kinh tế, không nóitới quyền lực chính trị của nhân dân lao động Leenin nói “Pháp quyền không bao giờ có thểcao hơn chế độ kinh tế và trình độ phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế quyết định”
Do đó, phải kiên trì tiến hành nhiệm vụ “quan trọng nhất và khó khăn nhất”là công cuộc xâydựng kinh tế, là việc đặt nền móng kinh tế cho toàn bộ máy nhà nước XHCN Vấn đề là trongđiều kiện nước ta từ một nền kinh tế lạc hậu, chậm phát triển cần xác định đúng con đường phùhợp để xác lập cơ sở phát triển kinh tế Đó là mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN màĐảng ta đã khẳng định
Thứ hai: Phải xây dựng Đảng cầm quyền thực sự là chính đảng của giai cấp công nhân,
thực sự là đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động Đảng phải tập trung được những tinh hoa
Trang 18trí tuệ, phẩm chất của GC, của DT, xứng đáng là đội tiên phong, bộ tham mưu lãnh đạo nhândân thực hiện QLCT của mình Phải xây dựng đảng theo lời dạy của Chủ tịch HCM “Đảng ta
là một đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực
sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, phải xứngđáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”
Thứ ba: Cần xây dựng nhà nước thật sự “của dân, do dân, vì dân” Đội ngũ cán bộ, công
chức nhà nước phải thực sự thấm nhuần tư tưởng HCM, xứng đáng là những “công bộc” củadân, có đủ năng lực hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ, có phẩm chất trong sạch, không tham
ô, tham nhũng, không quan liêu, hách dịch, sách nhiễu nhân dân
Thứ tư: Xây dựng các đoàn thể quần chúng ngày càng lớn mạnh, thực sự là tổ chức của
quần chúng Các đoàn thể phải phản ánh, đại diện được những lợi ích cơ bản của quần chúng,chăm lo bảo vệ được những lợi ích chính đáng của quần chúng
Thứ năm: Nhân dân lao động chỉ có quyền lực thực sự khi bản thân người dân có nhận
thức đúng đắn, có ý thức và năng lực thực hiện quyền lực của mình Do vậy đòi hỏi phải khôngngừng nâng cao trình độ dân trí, trình độ văn hóa chính trị của nhân dân
Thứ sáu: Đẩy mạnh và mở rộng dân chủ hóa xã hội nhằm tạo được môi trường xã hội
thuận lợi để thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân Một môi trường dân chủ thực sự làngười dân làm chủ trên mọi mặt đời sống xã hội Tuy nhiên, Dân chủ phải gắn liền với kỷcương, dân chủ trên cơ sở pháp luật “Đất nước phải có kỷ cương Trật tự kỷ cương trước hếtphải rất nghiêm từ trong bộ máy nhà nước Có làm được như vậy thì mới lập lại được trật tự,
kỷ cương của toàn xã hội”
Có thể nói rằng, mọi đường lối, chủ trương của Đảng đều là kết quả phản ánh khái quátnhu cầu, lợi ích chính đáng của nhân dân Nhà nước là công cụ để thể chế hóa và thực hiệnquyền lực chính trị của nhân dân lao động, đồng thời thông qua nhà nước nhân dân lao độngđược tổ chức lại để có được sức mạnh nhằm thực hiện vai trò là chủ thể đích thực của quyềnlực chính trị Các đoàn thể nhân dân là cầu nối giữa Đảng, Nhàn nước và nhân dân; là cơ sởchính trị xã hội của Đảng; là nơi đại diện cho ý trí đại đoàn kết và nguyện vọng chân chính củanhân dân; là các tổ chức có vai trò trong việc phối hợp với chính quyền chăm lo bảo vệ các lợiích và nguyện vọng chính đáng của tầng lớp nhân dân
Đấu tranh cho QLCT, giành, giữ và thực thi QLCT là vấn đề trung tâm của đời sốngchính trị, là hoạt động cơ bản, thực chất của các chủ thể QL Tạo lập các nhân tố cơ bản đảmbảo cho việc giành, giữ và thực thi QLCT là vấn đề quan trọng nhất của các g/c, các chínhđảng trong XH đương đại Đây cũng chính là vấn đề hệ trọng trong sự nghiệp xây dựng tổquốc Việt Nam XHCN hiện nay
Trang 19Câu 6 Từ lý luận về quyền lực chính trị của nhân dân lao động, làm rõ thực trạng và đề xuất giải pháp thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương hoặc trong cơ quan, đơn vị công tác.
1 Các điều kiện đảm bảo thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động
Thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động là một sự nghiệp vĩ đại diễn ra trong suốt một thời kỳ lịch sử, hoàn thiện dần từ thấp đến cao Để có được quyền lực chính trị của nhân dân lao động trong thực tế cần có những điều kiện đảm bảo cho nó
Thứ nhất: Trước hết để nhân dân lao động có quyền lực chính trị phải có cơ sở kinh tế thích
ứng đảm bảo - đó là chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu Không có cơ sở kinh tế đó,
không thể nói tới quyền lực chính trị của nhân dân lao động Vấn đề là trong điều kiện nước ta từmột nền kinh tế lạc hậu, chậm phát triển cần xác định đúng con đường phù hợp để xác lập cơ sở kinh
tế đó Đó chính là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước - hay mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN mà Đại hội IX của Đảng(2001) đã khái quát
Thứ hai: Phải xây dựng Đảng cầm quyền thực sự là chính đảng của giai cấp công nhân, thực
sự đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động Đảng phải tập trung được những tinh hoa trí tuệ,phẩm chất của giai cấp, của dân tộc, xứng đáng là đội tiên phong, bộ tham mưu lãnh đạo nhân dânthực hiện quyền lực chính trị của mình, thể hiện:
- Đường lối chính trị của Đảng phải thể hiện đúng đắn chính xác những lợi ích cuả nhân dânlao động qua từng thời kỳ, mà ngày nay lợi ích ấy là thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hộicông bằng dân chủ văn minh
- Đội ngũ Đảng viên phải gồm những người giác ngôi lợi ích sâu sắc, là những người tiên tiếncủa giai cấp
- Tổ chức các cấp của Đảng từ TƯ tới chi bộ phải có năng lực lãnh đạo chính trị, tức là xácđịnh chính xác mục tiêu chính trị, có năng lực thuyết phục quần chúng, tổ chức quần chúng thựchiện mục tiêu chính trị
Đây là điều kiện có ý nghĩa cốt tử, vì vậy xây dựng Đảng phải là nhiệm vụ then chốt Do vậy,Đảng phải luôn luôn tự chỉnh đốn, tự đổi mới, đổi mới không ngừng để nâng cao uy tín của Đảngđối với nhân dân, khẳng định vị thế và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhân dân
Thứ ba: Cần xây dựng được nhà nước thật sự "của dân, do dân, vì dân" Đó là Nhà nước của
chính những người lao động, do chính những người lao động cử ra và hoạt động của nhà nước đónhằm đảm bảo lợi ích của những người lao động, phục vụ lợi ích của những người lao động, thểhiện:
- Hệ thống pháp luật của nhà nước phải thể hiện ý chí chung của toàn dân, phản ánh những lợiích cơ bản của các tẩng lớp nhân dân
- Các cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp) do nhân dân bầu ra
và chịu trách nhiệm trước nhân dân
- Hệ thống các cơ quan nhà nước phải được tổ chức ngày càng hoàn thiện để đủ năng lực thựchiện quyền lực của nhân dân ủy quyền, thể hiẹn trên 2 mặt:
+ Trấn áp kẻ thù của nhân dân
+ Tổ chức xây dựng một xã hội vì lợi ích của nhân dân
- Quy chế hoạt động và thủ tục hành chính nhà nước phải được cải cách, đơn giản hóa, hướngđến phục vụ tốt nhất vì lợi ích của nhân dân
Trang 20- Phải xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước phải thực sự là những "công bộc" củadân, có đủ năng lực hoàn thành tốt chức tránh, nhiệm vụ, có phẩm chất trong sạch, không tham ô,tham nhũng, không quan liêu, hách dịch, sách nhiễu nhân dân.
Thứ tư: Xây dựng các đoàn thể quần chúng ngày càng lớn mạnh, thực sự là tổ chức của quần
chúng Các đoàn thể phải phản ánh, đại diện được những lợi ích cơ bản của quần chúng, chăm lobảo vệ được những lợi ích chính đáng của quần chúng (trước hết là những người lao động) Đổi mớimạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động của các đoàn thể, thu hút tập hợp quần chúng vàođoàn thể và tổ chức được các phong trào hoạt động của quần chúng, đáp ứng nhu cầu, lợi ích thiếtthực, cụ thể của quần chúng
Thứ năm: Nhân dân lao động chỉ có quyền lực thực sự khi bản thân những người lao động
phải có nhận thức đúng đắn, phải có ý thức và năng lực thực hiện quyền lực của mình Do vậy, đòi
hỏi phải không ngừng nâng cao trình độ dân trí, trình độ văn hoá chính trị của quảng đại quần
chúng Lênin nói: "Một người không biết chữ là người đứng ngoài chính trị…"
Để nâng cao dân trí, trước hết cần phát triển giáo dục, thực hiện "giáo dục là quốc sách hàngđầu", nhằm nâng cao mặt bằng trình độ học vấn của nhân dân, đồng thời phải coi trọng phát triển hệthống thông tin xã hội, nhất là các phương tiện thông tin đại chúng là, đáp ứng nhu cầu cung cấpthông tin và góp phần nâng nhanh trình độ dân trí của nhân dân
Thứ sáu: Đẩy mạnh và mở rộng dân chủ hoá xã hội nhằm tạo được một môi trường xã hội
thuận lợi để thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động
- Về kinh tế : người lao động phải làm chủ TLSX, có cơ hội, điều kiện phát triển kinh tế, từ đó
thực sự làm chủ sở hữu, làm chủ quản lý và làm chủ phân phối
- Về chính trị: người dân phải là chủ thể chủ động tự giác, của các quá trình chính trị, có điều
kiện thể hiện chính kiến, có ý thức quan tâm tới chính trị và các quyền lợi chính trị của người dânphải được thể chế hóa
- Về văn hóa: người lao động phải được hưởng thụ văn hóa, và là chủ thể tham gia sáng tạo
văn hóa
Đẩy mạnh dân chủ hóa XH trước hết phải đẩy mạnh dân chủ hóa trong Đảng, phong cách
dân chủ hóa trong Đảng sẽ là tấm gương, là cơ sở để đẩy mạnh dân chủ hóa trong xã hội Đồng thờitrong quá trình thực hiện dân chủ hóa XH, cần choncần kiên quyết đấu tranh chống lại các khuynhhướng dân chủ cực đoan, dân chủ tư sản, dân chủ hình thức Cần khắc phục và loại trừ các khuynhhướng sai trái lợi dụng dân chủ để phá hoại dân chủ, chống các hiện tượng vô Chính phủ Dân chủphải gắn liền với kỷ cương, dân chủ trên cơ sở luật pháp
2 Nội dung liên hệ:
Cách 2: Phân tích tình hình thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở địa phương (+ Phân tích thực trạng vệc thực hiện quy chế DCCS + Nêu những hạn chế trong việc thực hiện quy chế DCCS + Đề ra giải pháp khắc phục.)
Nêu Thực trạng thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở đơn vị
Ưu điểm:
Thành tựu của đơn vị
Công tác xây dựng Đảng đạt nhiều kết quả, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu củacác cấp ủy, tổ chức Đảng được nâng lên; chỉ đạo và tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ cáccấp nhiệm kỳ 2015-2020
Hoạt động của Công đoàn, Đoàn Thanh niên có nhiều tiến bộ, tạo gắn kết
Cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở thường xuyên quan tâm đến công tác quántriệt và triển khai, chỉ đạo việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Trang 21Tăng cường công tác tuyên truyền và quán triệt bằng nhiều hình thức như: tổ chứccác hội nghị cho cán bộ chủ chốt;
nội dung tập trung vào tuyên truyền, quán triệt các văn bản của Trung ương, của Đảng
bộ Bộ KHCN về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở;
Tuy nhiên, còn một số khó khăn:
Nội dung, phương thức kiểm tra QCDC ở một số đơn vị trực thuộc còn mang tính hình thức,chưa quan tâm đến việc tổ chức sơ kết, tổng kết, phát hiện điển hình để nhân diện rộng
Hoạt động giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức xã hội chưa được phát huy;
hoạt động của Ban thanh tra nhân dân ở một số nơi chưa có hiệu quả chưa cao Ban thanhtra nhân dân một số cơ quan, đơn vị hoạt động hiệu quả hạn chế
chưa chú trọng cụ thể hóa Nghị định số 04/2015/NĐ-CP vào quy chế thực hiện dân chủ tại
cơ quan; việc xây dựng chương trình công tác chỉ đạo và thực hiện QCDC còn hình thức chưa sátvới thực tiễn
Giải pháp thực hiện (có thể kết hợp với Bài học kinh nghiệm – phía dưới)
Một là, Đẩy mạnh công tác tuyên truyền các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và các văn bảnquy phạm pháp luật của Nhà nước về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tới cán bộ, đảng viên vànhân dân; xác định rõ vai trò chính quyền các cấp trong việc tổ chức thực hiện Coi việc xâydựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, là trách nhiệmcủa cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Đẩy mạnh việc thực hiện dân chủ gắn với việc học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; Chỉ thị về chấn chỉnh tác phong, lề lối làm việc vànâng cao trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ; đưa việc thực hiện dân chủ ở cơ sở thành một tiêuchuẩn để xem xét, đánh giá chi bộ, đảng bộ, cán bộ, đảng viên
Hai là, Quan tâm kiện toàn, củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của BCĐ thực hiệnQuy chế dân chủ ở cơ sở các cấp Phối hợp tổ chức tập huấn, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộtrong thực hiện Quy chế dân chủ Tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện quy chế hoạtđộng, quy định về thực hiện dân chủ ở các loại hình cơ sở sao cho phù hợp với đặc điểm củatừng cơ quan, đơn vị
Ba là, Xây dựng và tổ chức thực hiện tốt kế hoạch kiểm tra, giám sát việc thực hiện QCDC
ở cơ sở Tập trung việc kiểm tra, giám sát theo chuyên đề, lĩnh vực, phối hợp, lồng ghép công táckiểm tra của cấp ủy với kiểm tra thực hiện QCDC ở cơ sở đảm bảo thiết thực, hiệu quả
Bốn là, Quan tâm sơ, tổng kết các chương trình, nghị quyết, đề án liên quan đến thựchiện QCDC ở cơ sở Đánh giá, rút kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện; xây dựng và banhành các văn bản hướng dẫn thực hiện QCDC ở cơ sở cho phù hợp Phát huy vai trò, tráchnhiệm của các thành viên BCĐ, các ngành trong công tác nắm bắt tâm tư, nguyện vọng,những bức xúc của người dân để có biện pháp giải quyết kịp thời; làm tốt việc tiếp xúc, đốithoại trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền các cấp với nhân dân, góp phần
ổn định tình hình
Nhiều bài học kinh nghiệm từ thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Từ thực tế triển khai thực hiện Kết luận số 120-KL/TW ngày 7/1/2016 của Bộ Chínhtrị (khóa XI) 'Về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thựchiện quy chế dân chủ cơ sở', 6 bài học kinh nghiệm lớn đã được rút ra
Hội nghị toàn quốc đánh giá kết quả thực hiện Kết luận số 120-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở diễn ra vào sáng 16/7 tại Hà Nội.
Trang 22Theo đó, thứ nhất cần nắm vững các quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhànước về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, nhận thức đúng đắn, vận dụng sángtạo, phù hợp với thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân.
Thực hiện quy chế dân chủ gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơnvị; gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh,đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, các phong tràothi đua, các cuộc vận động
Thứ hai, cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, nhất là người đứng đầu phải xác định rõviệc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là một trong những nhiệm vụ trọngtâm, thực sự tâm huyết trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện; có sự vào cuộc đồng
bộ, phối hợp chặt chẽ trong cả hệ thống chính trị trong triển khai thực hiện Nơi nào cấp ủy,chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nhận thức đầy đủ, quan tâm,trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và thực sự gương mẫu trong thực hiện dân chủ thì nơi đó dânchủ được thực hiện tốt, bảo đảm thực chất, hiệu quả
Thứ ba, coi trọng thể chế hóa các quan điểm của Đảng về xây dựng và thực hiện dânchủ ở cơ sở thành các quy định pháp luật Thực hiện dân chủ phải được cụ thể hóa, xâydựng thành các quy chế, quy định, quy trình công khai, dân chủ, minh bạch trong các lĩnhvực, nhất là các lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân và thườnghay xảy ra tham nhũng, tiêu cực
Xây dựng, phát triển các hình thức thực hành dân chủ phù hợp, nâng cao chất lượngdân chủ đại diện, mở rộng dân chủ trực tiếp Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điềuhành của các cơ quan nhà nước; đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tụchành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức; xử lý nghiêm đối với các vụ việc thamnhũng, tiêu cực; tăng cường tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân; đổi mới và nâng caochất lượng các hình thức lấy ý kiến nhân dân
Thứ tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao trình
độ dân trí, nhất là đối với nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng dân tộcthiểu số; chú trọng tuyên truyền các chính sách, pháp luật liên quan trực tiếp đến đời sốngcủa người dân, đến thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, quyền và nghĩa vụ của công dân
Thứ năm, phát huy dân chủ phải luôn gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương; kiênquyết đấu tranh, xử lý những trường hợp lợi dụng dân chủ, nhân quyền để chống phá Đảng,Nhà nước, gây mất ổn định về an ninh trật tự và những hành vi vi phạm dân chủ, quyền làmchủ của nhân dân
Thứ sáu, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; chú trọng công tác sơ kết, tổng kết,biểu dương, khen thưởng đối với các tập thể, cá nhân thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơsở; tuyên truyền, nhân rộng những mô hình tốt; chấn chỉnh, uốn nắn những nơi làm chưatốt
Tài liệu kèm theo: Nghị định 04/2015/NĐ-CP của Chính phủ về "Thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập"
Trang 23Câu7 Đồng chí hãy trình bày phạm trù “văn hóa chính trị” và những giá trị cơ bản trong cấu trúc văn hóa chính trị
Khái niệm: Văn hoá là một khái niệm phức tạp và đa nghĩa, gắn liền với con người và đời
sống xã hội loài người Văn hoá chỉ trình độ phát triển lịch sử nhất định của một xã hội, chỉ trình độ hiểu biết của sự sáng tạo và năng lực của con người được phản ánh trong quá trình tồn tại và phát triển của lịch sử Như vậy, văn hoá là năng lực sáng tạo của con người, thúc đẩy con người vươn
tới những giá trị cao đẹp Cái chân giá trị con người vươn tới là: Chân, Thiện, Mỹ
Văn hoá chính trị: là một bộ phận, một phương diện của văn hoá trong xã hội có giai
cấp, thể hiện trình độ phát triển của chế độ chính trị và phẩm chất, năng lực, sự sáng tạo của con người trong hoạt động chính trị nhằm phục vụ lợi ích giai cấp của chủ thể chính trị
tương ứng phù hợp với mục tiêu chính trị và xu thế phát triển tiến bộ chung của lịch sử
Phương hướng nâng cao VHCT ở nước ta hiện nay
Trên cơ sở những nhân tố tác động, quy định, chế ước văn hoá chính trị, căn cứ vào thựctrạng văn hoá chính trị ở nước ta, để nâng cao hiệu quả của việc giáo dục, bồi dưỡng văn hoá chínhtrị cho các tầng lớp nhân dân trong điều kiện hiện nay cần chú ý một số phương hướng lớn sau đây:
Một là: Coi trọng và nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác nghiên cứu, giáo dục chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ tư tưởng tiên tiến và nhân văn của thời đại Hai là:
Giáo dục đường lối, chính sách đổi mới, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước tạo nên sự đồng thuậntrong toàn xã hội, quyết tâm thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, chấn hưng đất nước
Ba là: Hướng vào việc đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức mới về CNXH, nâng cao nhận
thức và bản lĩnh trong nền kinh tế thị trường, khơi dậy khát vọng làm giàu chân chính, không chấpnhận bản thân nghèo hèn, quốc gia nhược tiểu
Như vậy, CNXH không đồng nghĩa với đói nghèo, nhưng phải làm giàu chân chính mới là giàu của CNXH Từ đó đánh thức lòng tự tôn dân tộc
Bốn là: Hướng vào xây dựng con người mới Việt Nam XHCN, là con người có giác
ngộ lý tưởng và yêu CNXH, có trình độ lao động cao, có đạo đức cách mạng, sống nhân văn,tình nghĩa, thủy chung.Hồ Chí Minh đã nói “Muốn có CNXH phải có con người XHCN”
Năm là: Góp phần đổi mới hệ thống chính trị, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản
cầm quyền, bản chất và hiệu quả quản lý của Nhà nước, tính chủ động, tích cực sáng tạo của các tổchức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân hướng tới thực hiện quyền làm chủ đích thực của nhândân lao động
Sáu là: Góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chống đa
nguyên, đa Đảng, tự do vô chính phủ, dân chủ giả hiệu, mâu thuẫn dân, chống âm mưu diễn biếnhòa bình của các thế lực thù địch
Liên hệ thực tiễn trong văn hóa chính trị ở địa phương hoặc cơ quan đơn vị: Địa phương
(văn hóa chính trị của cán bộ ĐV + ND); Cơ quan (CB ĐV và quần chúng)
- Phân tích thực trạng VHCT:
Ưu điểm:
+ Tinh thần dân tộc yêu nước, quyết tâm bảo vệ độc lập chủ quyền với ý chí “không có gìquý hơn độc lập tự do” giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc thà hy sinh chứ không chịu làm nô lệ.+ Đề cao vai trò nhân dân, lấy dân làm gốc đoàn kết toàn dân trong phát triển kinh tế, xãhội
+ Đề cao tính tự lực tự cường trọng dụng nhân tài, khuyến khích việc học tập phát huy trítuệ
Trang 24+ Truyền thống nhân văn nhân đạo.
+ Sáng tạo linh hoạt dễ thích ứng mẫn cảm về chính trị
+ Đề cao pháp luật kết hợp pháp trị với đức trị coi trọng việc giáo dục nêu gương thuyếtphục cảm hóa con người
Hạn chế:
+ Tư tưởng phong kiến bảo thủ lạc hậu tập quán sản xuất nhỏ tiểu nông, lối sống tự do coithường luật pháp, phép vua thua lệ làng
+ Chủ nghĩa hình thức tệ tham nhũng bệnh quan liêu
+ Sự thiếu dân chủ vi phạm quyền làm chủ của nhân dân
+ Nhiều nhược điểm từ cơ chế quản lý hành chính quan liêu, bao cấp xin cho chưa đượckhắc phục triệt để trong khi những tiêu cực mới phát sinh do tác động bởi mặt trái của cơ chếthị trường có xu hướng gia tăng
+ Tình trạng thờ ơ chính trị ở một bộ phận nhân dân sự thoái hóa biến chất yếu kém vănhóa chính trị ở một bộ phận cán bộ đảng viên đã và đang gây ảnh hưởng tiêu cực trong xã hộilàm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với đảng nhà nước và chế độ
* Đề xuất giải pháp
- Tăng cường và củng cố hệ tư tưởng của chủ nghĩa MácLê và tư tưởng Hồ Chí Minh làmnền tảng tư tưởng cho toàn xã hội và làm cho nó thực sự là nền tảng tư tưởng là nhân tố địnhhướng chi phối trong văn hóa chính trị ở nước ta
- Giáo dục đường lối chính sách đổi mới, hiến pháp, pháp luật của nhà nước tạo lên sựđồng thuận trong toàn xã hội hình thành ý thức tôn trọng luật pháp để dần hình thành nền dânchủ pháp quyền, xây dựng con người mới Việt Nam phù hợp với thời kỳ đổi mới thực hiệncông nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
- Hướng vào việc đổi mới tư duy nâng cao nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội về kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa về toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, khơi dậykhát vọng làm giàu chính chất từ đó tạo ra sự đồng thuận nhất trí cao về tư tưởng và hànhđộng của các tầng lớp nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của đảng và đánh thứclòng tự tôn dân tộc
- Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa là con người có giác ngộ lý tưởng yêu chủnghĩa xã hội có trình độ lao động cao có đạo đức cách mạng sống nhân văn có tình nghĩathủy chung
- Đổi mới hệ thống chính trị giữ vững vai trò lãnh đạo của đảng, nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước tính chủ động tích cực sáng tạo của các tổ chức chính trị xã hội hướng tới thựchiện quyền làm chủ đích thực của chủ nghĩa xã hội
- Tích cực đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận chống đa nguyên, đa đảng tự do vôchính phủ dân chủ giả hiệu chống âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch
Trang 25Câu 8 Trên cơ sở phương hướng chung nâng cao văn hóa chính trị ở nước ta, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp cụ thể nâng cao văn hóa chính trị ở địa phương, cơ sở.
* Khái niệm “văn hoá”, Văn hoá chính trị:
Văn hoá chỉ trình độ phát triển lịch sử nhất định của một xã hội, chỉ trình độ hiểu biết của
sự sáng tạo và năng lực của con người được phản ánh trong quá trình tồn tại và phát triển củalịch sử
- Giá trị văn hoá được biểu hiện dưới 2 dạng:
+ Vật chất, vật thể (văn hoá hữu hình)
+ Tinh thần, phi vật thể, phi vật chất (văn hoá vô hình)
Văn hoá chính trị là một bộ phận, một phương diện của văn hoá trong xã hội có giai cấp, thể hiện trình độ phát triển của chế độ chính trị và phẩm chất, năng lực, sự sáng tạo của con người trong hoạt động chính trị nhằm phục vụ lợi ích giai cấp của chủ thể chính trị tương ứng
phù hợp với mục tiêu chính trị và xu thế phát triển tiến bộ chung của lịch sử
* Phương hướng chung nâng cao VHCT ở nước ta hiện nay
Trên cơ sở hiểu rõ những nhân tố tác động, quy định, chế ước văn hoá chính trị, căn cứ vào thựctrạng văn hoá chính trị ở nước ta, để nâng cao hiệu quả của việc giáo dục, bồi dưỡng văn hoá chínhtrị cho các tầng lớp nhân dân trong điều kiện hiện nay cần chú ý một số phương hướng lớn sau đây:
Một là: Coi trọng và nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác nghiên cứu, giáo dục chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ tư tưởng tiên tiến và nhân văn của thời đại Hai là: Giáo
dục đường lối, chính sách đổi mới, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước tạo nên sự đồng thuận trongtoàn xã hội, quyết tâm thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, chấn hưng đất nước
Ba là: Hướng vào việc đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức mới về CNXH, nâng cao nhận thức và
bản lĩnh trong nền kinh tế thị trường, khơi dậy khát vọng làm giàu chân chính, không chấp nhận bảnthân nghèo hèn, quốc gia nhược tiểu
Như vậy, CNXH không đồng nghĩa với đói nghèo, nhưng phải làm giàu chân chính mới là giàu của CNXH Từ đó đánh thức lòng tự tôn dân tộc
Bốn là: Hướng vào xây dựng con người mới Việt Nam XHCN, là con người có giác ngộ lý
tưởng và yêu CNXH, có trình độ lao động cao, có đạo đức cách mạng, sống nhân văn, tìnhnghĩa, thủy chung.Hồ Chí Minh đã nói “Muốn có CNXH phải có con người XHCN”
Năm là: Góp phần đổi mới hệ thống chính trị, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm
quyền, bản chất và hiệu quả quản lý của Nhà nước, tính chủ động, tích cực sáng tạo của các tổ chứcchính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân hướng tới thực hiện quyền làm chủ đích thực của nhân dân laođộng
Sáu là: Góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chống đa nguyên, đa
Đảng, tự do vô chính phủ, dân chủ giả hiệu, mâu thuẫn dân, chống âm mưu diễn biến hòa bình củacác thế lực thù địch
* Thực trạng VHCT ở nước ta hiện nay
Trang 26- Ý thức dân chủ pháp quyền hạn chế, thói quen dân chủ làng xã vẫn tồn tại.
- Tính tự phát “tiểu tư sản” (tiểu nông), tâm lý vụn vặt, chỉ nhìn lợi ích trước mắt, không nhìnlợi ích lâu dài
- Lối sống tùy tiện Dẫn đến, cách hành xử hoặc là cam chịu, nhẫn nhục, hoặc tự phát, manhđộng
Giải pháp mang tính định hướng VHCT:
• Một là: Tăng cường và củng cố hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng cho toàn xã hội
• Hai là: Giáo dục đường lối, chính sách đổi mới, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước tạo nên
sự đồng thuận trong toàn xã hội, hình thành ý thức tôn trọng luật pháp để dần hình thành dânchủ pháp quyền
• Ba là: Hướng vào việc đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và bản lĩnh trong nền kinh tế thị
trường, khơi dậy khát vọng làm giàu chân chính Từ đó đánh thức lòng tự tôn dân tộc
• Tư là: Hướng vào xây dựng con người mới Việt Nam XHCN, là con người có giác ngộ lý
tưởng và yêu CNXH, có trình độ lao động cao, có đạo đức cách mạng, sống nhân văn, tìnhnghĩa, thủy chung
• Năm là: Góp phần đổi mới HTCT, giữ vững vai trò lãnh đạo của ĐCS cầm quyền, bản chất
và hiệu quả quản lý của Nhà nước, tính chủ động, tích cực sáng tạo của các tổ chức chính trị
-xã hội, hướng tới thực hiện quyền làm chủ đích thực của nhân dân lao động
• Sáu là: Tiếp thu có chọn lọc, kế thừa và phát huy các giá trị, những tinh hoa văn hoá chính trị
của dân tộc và nhân loại
• Bảy là: Góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chống đa
nguyên, đa đảng, tự do vô chính phủ, dân chủ giả hiệu, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”của các thế lực thù địch
* Liên hệ thực tiễn trong văn hóa chính trị ở địa phương hoặc cơ quan đơn vị: Địa phương
(văn hóa chính trị của cán bộ ĐV + ND); Cơ quan (CB ĐV và quần chúng)
(phần này các a/c tự viết trong cơ quan của mình theo gợi ý của Luật cán bộ ,công chức năm 2008)
Luật quy định có tính “định hướng lớn về những giá trị cốt lõi cần quan tâm khi thi hành công vụ”:
- Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật
- Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
- Công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát.
- Bảo đảm tính hệ thống, thống nhất, liên tục, thông suốt và hiệu quả.
- Bảo đảm thứ bậc hành chính và sự phối hợp chặt chẽ
- Đồng thời, cụ thể hóa những nghĩa vụ cụ thể mà cán bộ, công chức phải làm:
Nghĩa vụ của cán bộ, công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân
- Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia.
- Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân
- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân
- Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ
- Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
Trang 27được giao
- Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước.
- Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
- Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao.
- Chấp hành quyết định của cấp trên Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người
ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về quyết định của mình.
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Nghĩa vụ của cán bộ, công chức là người đứng đầu
Ngoài việc thực hiện quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật này, cán bộ, công chức là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị còn phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
- Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị;
- Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức;
- Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;
- Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong
cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý
có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân;
- Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, tổ chức;
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Đồng thời Luật quy định một số hành vi ứng xử có tính đạo đức, văn hóa của cán bộ, công chức.
Đạo đức của cán bộ, công chức
Cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ.
Văn hóa giao tiếp ở công sở
- Trong giao tiếp ở công sở, cán bộ, công chức phải có thái độ lịch sự, tôn trọng đồng nghiệp; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc.
- Cán bộ, công chức phải lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp; công bằng, vô tư, khách quan khi nhận xét, đánh giá; thực hiện dân chủ và đoàn kết nội bộ.
- Khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức phải mang phù hiệu hoặc thẻ công chức; có tác phong lịch sự; giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và đồng nghiệp.
Văn hóa giao tiếp với nhân dân
- Cán bộ, công chức phải gần gũi với nhân dân; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc.
Trang 28- Cán bộ, công chức không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thi hành công vụ.
Một trong những hoạt động có tính “không được làm” cũng được Luật cụ thể hóa Luật chia thành ba nhóm loại “không được làm”:
Những việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến đạo đức công vụ
- Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự
ý bỏ việc hoặc tham gia đình công.
- Sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật.
- Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để
vụ lợi.
- Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức.
Những việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến bí mật nhà nước
- Cán bộ, công chức không được tiết lộ thông tin liên quan đến bí mật nhà nước dưới mọi hình thức.
- Cán bộ, công chức làm việc ở ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước thì trong thời hạn ít nhất là 05 năm, kể từ khi có quyết định nghỉ hưu, thôi việc, không được làm công việc có liên quan đến ngành, nghề mà trước đây mình đã đảm nhiệm cho tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài.
- Chính phủ quy định cụ thể danh mục ngành, nghề, công việc, thời hạn mà cán bộ, công chức không được làm và chính sách đối với những người phải áp dụng quy định tại Điều này Những việc khác cán bộ, công chức không được làm
Ngoài những việc không được làm quy định tại Điều 18 và Điều 19 của Luật này, cán
bộ, công chức còn không được làm những việc liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quy định tại Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
và những việc khác theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.
d Các văn bản pháp luật khác có liên quan đến công vụ nhà nước
- Quy chế văn hoá công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ.
Mặc dù Quyết định này không nói về đạo đức, mà sử dụng thuật ngữ văn hóa (ứng xử, giao tiếp) Thực chất, những chuẩn mực văn hóa tổ chức mang tính pháp lý trong chừng mực nào đó có thể đồng nhất với đạo đức công vụ Quyết định trên, quy định một số hành vi ứng xử của cán bộ, công chức trong hoạt động thực thi công vụ.
Quyết định quy định có tính nguyên tắc định hướng cho văn hóa ứng xử của cán bộ, công chức viên chức trong các cơ quan hành chính nhà nước Đó là:
+ Phù hợp với truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc và điều kiện kinh tế - xã hội; + Phù hợp với định hướng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, hiện đại;
+ Phù hợp với các quy định của pháp luật và mục đích, yêu cầu cải cách hành chính, chủ trương hiện đại hoá nền hành chính nhà nước.
Nếu coi đó là văn hóa ứng xử, mọi cán bộ, công chức đều phải quan tâm tuân thủ khi thực hiện các quan hệ với nhau; với quan hệ với cơ quan nhà nước và với công dân trong thực thi công vụ.
e Các văn bản của các tổ chức khác có liên quan đến công chức
Trang 29Ngoài ra, còn một số văn bản khác liên quan đến cán bộ, công chức và quy tắc ứng xử: Quyết định số: 1253/2008/ QĐ - TANDTC ngày 18/9/2008 của Toà án nhân dân tối cao về Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức ngành Toà án nhân dân; Quyết định số 2534/QĐ - BGTVT ngày 18/8/2008 của Bộ Giao thông vận tải về việc ban hành Quy tắc ứng xử của cán
bộ, công chức, viên chức làm việc trong ngành giao thông vận tải; Quyết định số 29/2008/ QĐ
- BYT ngày 18/8/2008 của Bộ y tế về việc ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp y tế; Quyết định số 61/2008/QĐ - BVHTTDL ngày 31/7/2008 của
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về việc ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức ngành văn hoá, thể thao và du lịch; Quyết định số 07/2008/ QĐ - KTNN ngày 16/5/2008 của Kiểm toán Nhà nước ban hành Quy tắc ứng xử của kiểm toán viên nhà nước; Quyết định
số 03/2007/QĐ - BNV ngày 16/5/2007 của Bộ trưởng Nội vụ về việc ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương, Quyết định
số 86/QĐ - BTP ngày 18/1/2008 của Bộ Tư pháp ban hành Quy chế văn hoá công sở cơ quan
Bộ Tư pháp,…
Trang 30Câu 9 Đồng chí hãy làm rõ phạm trù “con người chính trị” và phân tích những phẩm chất
nhằm mục tiêu giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị”.
b Quan niệm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về con người chính trị
- C.Mác, F.Ăngghen và V.I.Lênin:Các Ông đã kế thừa các quan niệm về con người chính trịtrong lịch sử nhân loại, đồng thời có những phát triển mới có tính cách mạng trong quan niệm
về con người chính trị
+ Con người chính trị mang tính giai cấp
+ Trong cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản, giai cấp vô sản đã xâydựng lên chính đảng của mình - Đảng Cộng sản, đào luyện ra thủ lĩnh chính trị, lãnh tụ củamình
- V.I.Lênin đã đưa việc xây dựng con người chính trị vào trong xây dựng chủ nghĩa xã hội:+ Xác định vai trò của quần chúng lao động, nhân dân lao động, đã chỉ ra tính tất yếu ra đờicủa Đảng Cộng sản là đảng của giai cấp công nhân, và trở thành đảng cầm quyền trong chủnghĩa xã hội
+ Lênin cũng bàn nhiều về đảng viên và đội ngũ cán bộ cách mạng, đến thủ lĩnh
2 Những phẩm chất cần có của thủ lĩnh chính trị
a Khái niệm
“Thủ lĩnh chính trị là khái niệm để chỉ những người đứng đầu của một tổ chức chính trị, đóng vai trò đặc biệt trong cơ cấu tổ chức, dẫn dắt hoạt động chính trị của tổ chức đó trong các quá trình chính trị nhằm giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị”
b Những phẩm chất cần có của thủ lĩnh chính trị
- Thủ lĩnh chính trị phải là người có trí tuệ cao
Thủ lĩnh chính trị phải có năng lực nhận thức đúng quy luật phát triển xã hội, quy luật vậnđộng của đời sống chính trị; ở năng lực tư duy chính trị nhạy bén, sắc sảo trong việc phát hiệnnhững vấn đề và cách giải quyết các vấn đề trong đời sống chính trị Năng lực nhận thức quyluật và tư duy chính trị của thủ lĩnh chính trị được thể hiện ở tầm nhìn chiến lược trong việcđịnh hướng hoạt động chính trị của tổ chức chính trị hay giai cấp, dân tộc; thể hiện trong việcphân tích, xử lý các sự kiện, tình huống diễn biến của đời sống chính trị
- Thủ lĩnh chính trị phải là người có bản lĩnh chính trị, kiên định mục tiêu chính trị khi thấy rõ
lợi ích cơ bản của tổ chức chính trị, thủ lĩnh chính trị lấy đó làm lý tưởng sống của mình, cókhát vọng và quyết tâm kiên trì thực hiện lợi ích đó Trong mọi diễn biến phức tạp, khó khăncủa những biến động khó lường của đời sống chính trị, không dao động, ngả nghiêng; luônvững vàng trên con đường theo đuổi thực hiện mục tiêu chính trị, thực hiện lợi ích cơ bản của
tổ chức hay giai cấp, dân tộc
- Thủ lĩnh chính trị phải có năng lực lãnh đạo tập đoàn người
Đó là năng lực xác định đúng đắn, chính xác mục tiêu, nhiệm vụ chính trị cụ thể trong từngthời kỳ; năng lực vận động, thuyết phục và tập hợp lực lượng; năng lực xây dựng cơ cấu tổchức chính trị và điều hành hoạt động chính trị để thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ chính trị
đã được xác định Đó còn là năng lực đưa ra những quyết định chính trị chính xác (đúng đắn
Trang 31và kịp thời), xử lý khôn ngoan các tình huống chính trị phức tạp, vượt qua các khó khăn, trởngại trong hoạt động chính trị.
- Thủ lĩnh chính trị phải có đạo đức, là tấm gương sáng về đạo đức, lối sống.
Đạo đức cao nhất ở người thủ lĩnh chính trị là phải vì lợi ích chung, luôn đặt lợi ích chung của
tổ chức, của giai cấp, của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân mình
- Một yếu tố không thể thiếu đối với thủ lĩnh chính trị là sức lôi cuốn đối với người khác
Vì thế, thủ lĩnh chính trị phải có phong cách mang sắc thái hấp dẫn, ấn tượng Phong cách củathủ lĩnh chính trị không thể theo một khuôn mẫu, "công thức" cứng nhắc, mà phải tự nhiên toát
ra từ toàn bộ lối sống, cách ứng xử, suy nghĩ, hành vi… trong các tình huống
Trang 32Câu 10 Nêu rõ phương hướng và những giải pháp cơ bản xây dựng con người chính trị Việt Nam hiện nay Liên hệ thực trạng và đề xuất giải pháp cụ thể xây dựng con người chính trị ở địa phương, nơi đồng chí đang công tác.
a Phương hướng xây dựng con người chính trị Việt Nam
- Chú trọng xây dựng CNCT khi xây dựng con người mới XHCN trong thời kỳ quá độ lênCNXH, đó là:
+ Có lòng yêu nước, giác ngộ lý tưởng xã hội chủ nghĩa
+ Có năng lực và trí tuệ để đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo về Tổquốc Việt Nam XHCN
- Xây dựng con người chính trị Việt Nam ở cả trên ba cấp độ:
+ Thủ lĩnh: có tài, có đức, thấm nhuần lý tưởng XHCN…
+ Đội ngũ cán bộ, công chức: kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, có trình độ chuyên môn,nghiệp vụ vững vàng, có đạo đức tốt…
+ Quần chúng nhân dân: nhận thức rõ lý tưởng XHCN, củng cố niềm tin vào chủ trương,đường lối của Đảng, có ý thức pháp luật, có tinh thần yêu nước, đoàn kết
b Về giải pháp:
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội Xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật của chủnghĩa xã hội:
+ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
+ Hội nhập quốc tế và khu vực, nhất là về kinh tế
+ Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
+ Xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
- Đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị:
- Tăng cường giáo dục, nâng cao ý thức chính trị nhằm giác ngộ mục tiêu, lợi ích chính trị: + Với nhân dân: Tuyên truyền, vận động, giáo dục lý tưởng cách mạng, tinh thần yêu nước, ýchí kiên cường, anh dũng, đoàn kết trong nhân dân
+ Với cán bộ, đảng viên: giáo dục lý tưởng cách mạng, niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, có tinhthần đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước, ý thức làm việc và cống hiến cho sự nghiệp xâydựng chủ nghĩa xã hội của cán bộ, đảng viên
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhằm thực hiện mục tiêu, lợi ích chính trị:
+ Đối với đội ngũ cán bộ, công chức nói chung: Đào tạo, bồi dưỡng trình độ, chuyên môn,nghiệp vụ đáp ứng được đòi hỏi của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế,cũng như nền kinh tế thị trường
+ Đối với đội ngũ cán bộ chiến lược: xây dựng lộ trình và quy trình đầy đủ, rõ ràng để tuyểnlựa, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách , từ đó có cơ sở để đánh giá trình độ, năng lực,phẩm chất chính trị, lối sống mà đề bạt, ứng cử vào các vị trí quyền lực, vị trí lãnh đạo trong
bộ máy của Đảng và Nhà nước
Trang 33* Liên hệ con người chính trị tại địa phương, các a/c công tác tại ngành nào thì liên hệ
Trang 34Câu 11 Đồng chí hãy trình bày phạm trù “hệ thống chính trị” và nêu rõ đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay
1 Khái niệm “Hệ thống chính trị” Hệ thống chính trị - đó là một cơ cấu tổ chức bao gồm các
thực thể chính trị của xã hội (nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, các phong trào chính trị …) được pháp luật hiện hành thừa nhận và hoạt động công khai trong khuôn khổ pháp luật, thông qua đó giai cấp cầm quyền thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội, duy trì và phát triển chế độ chính trị phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Từ định nghĩa hệ thống chính trị có thể thấy nó có các thuộc tính cơ bản sau:
+ Tính chỉnh thể: Hệ thống chính trị được tạo thành từ các thực thể chính trị cùng với tổng thểcác quan hệ gắn kết, tác động chi phối, ràng buộc lẫn nhau giữa các thực thể đó Nhờ đó, hệthống chính trị có một chất lượng mới, khác hẳn “phép cộng số học” đơn thuần các thực thểchính trị
+ Tính công khai: Hệ thống chính trị là một cơ cấu tổ chức chính trị hợp pháp, được pháp luậtbảo hộ, do vậy luôn có tính công khai Chỉ có các thực thể chính trị hợp pháp (được pháp luậthiện hành thừa nhận và hoạt động công khai trong khuôn khổ pháp luật) mới là những thành tốcủa hệ thống chính trị
+ Tính giai cấp: là thuộc tính đặc trưng của hệ thống chính trị Xét về thực chất hệ thống chínhtrị chính là cơ cấu tổ chức quyền lực của giai cấp cầm quyền, nhằm thực hiện quyền lực chínhtrị của giai cấp cầm quyền, duy trì chế độ chính trị phù hợp với lợi ích của giai cấp đó Do vậy,
hệ thống chính trị bao giờ cũng mang bản chất của một giai cấp; cho dù về hình thức, cấu trúc
hệ thống chính trị thường mang sắc thái “đa giai cấp”
2 Đặc điểm của HTCT Việt Nam
a HTCT Việt Nam có sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính dân tộc
- Tính giai cấp là thuộc tính bản chất của HTCT(HTCT)
* Tính giai cấp của HTCTthể hiện ở chỗ, HTCT Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân.
- HTCT Việt Nam ra đời từ cuộc cách mạng dân tộc dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo.
=> mang bản chất giai cấp công nhân - Bản chất giai cấp công nhân của HTCT còn thể hiện ởvai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân ViệtNam, với tư cách một đảng cầm quyền
* Tính dân tộc của HTCT Việt Nam thể hiện ở chỗ:
- Ra đời từ cuộc cách mạng dân tộc dân chủ giành độc lập dân tộc - HTCT Việt Nam đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu để tập hợp lực lượng; thu hút mọi tầng lớp, giai cấp vì lợi ích chung của dân tộc - HTCT Việt Nam ta lấy khối đại đoàn kết toàn dân làm cơ sở chính trị - xã hội;
không tạo sự đối đầu, đối kháng giai cấp - HTCT Việt Nam lấy mục tiêu giữ vững độc lập dân
tộc, vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh làm điểm tương đồng để phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, - Trong sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính dân tộc của HTCT Việt Nam, nét đặc thù là có sự nổi trội của tính dân tộc
b HTCTViệt Nam chỉ có một đảng duy nhất cầm quyền
- Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thực hiện cuộc thành công Cách mạng Tháng Tám, lậpnên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, hình thành HTCT thể hiện quyền lực chính trị củanhân dân - Dưới sự lãnh đạo của Đảng, HTCT Việt Nam ngày càng vững mạnh, thực hiệnthắng lợi cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào thời kỳ quá
độ lên CNXH, tiến hành đổi mới toàn diện đất nước
c HTCTViệt Nam mang tính quá độ