1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Câu hỏi và Đáp án Môn Quan hệ Quốc tế Cao cấp

102 290 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 258,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

24 Câu 8: Nêu và phân tích mục tiêu và chính sách đối ngoại của Mỹ từ sau chiến tranh lạnh đến nay...26 Câu 9: Nêu và phân tích mục tiêu và chính sách đối ngoại của Trung Quốc từ sau chi

Trang 1

MỤC LỤC QUAN HỆ QUỐC TẾ - TẬP 1

Câu 1 Phân tích quan niệm về thời đại và thời đại ngày nay 2

Câu 2 Phân tích Đặc điểm, mâu thuẫn và xu hướng vận động trong giai đoạn hiện nay của thời đại 4

câu 3: Phân tích các thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản 8

Câu 4: Đặc điểm và xu thế vận động của chủ nghĩa tư bản hiện đại 10

Câu 5 Vai trò, vị thế của chủ nghĩa tư bản trong quan hệ quốc tế hiện nay 12

Câu 6: Đồng chí hãy nêu thực trạng của Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế từ sau Chiến tranh lạnh đến nay 21

Câu 7: Đồng chí làm rõ vị trí, vai trò của Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế sau chiến tranh lạnh và dự báo triển vọng của phong trào trong thập niên thứ 2 của thế kỷ XXI 24

Câu 8: Nêu và phân tích mục tiêu và chính sách đối ngoại của Mỹ từ sau chiến tranh lạnh đến nay 26

Câu 9: Nêu và phân tích mục tiêu và chính sách đối ngoại của Trung Quốc từ sau chiến tranh lạnh đến nay 29

Câu 10: Đồng chí hãy phân tích quá trình hợp tác, liên kết an ninh – chính trị của ASEAN sau chiến tranh lạnh 32

Câu 11: Đồng chí hãy phân tích quá trình hợp tác, liên kết kinh tế của ASEAN sau chiến tranh lạnh 35

Câu 12: Phân tích cơ sở hoạch định đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới 38

Câu 13: Phân tích quá trình hình thành, phát triển đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới 42

Câu 14: Phân tích một số nội dung chủ yếu trong chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước ta hiện nay 45

Câu 15: Phân tích những thành tựu, hạn chế và bài học quá trình triển khai thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới 48

Câu 16: Phân tích cơ sở hoạch định đường lối đối ngoại của Đảng và nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới 50

Câu 17: Phân tích một số nội dung chủ yếu trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay 53

Câu 18: Phân tích cơ sở hoạch định đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới 56

Câu 19: Phân tích những thành tựu, hạn chế và bài học từ quá trình triển khai thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới 60

Câu 21: Phân tích quá trình hình thành, phát triển đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới 65

Câu 22: Nêu và phân tích mục tiêu và chính sách đối ngoại của Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh đến nay 68

Câu 23: Đồng chí hãy nêu thực trạng của Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế từ sau Chiến tranh lạnh đến nay 71

Câu 24: Nêu và phân tích mục tiêu và chính sách đối ngoại của Mỹ từ sau chiến tranh lạnh đến nay 75

Câu 25: Phân tích những thành tựu, hạn chế và bài học từ quá trình triển khai thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới 79

Trang 2

Câu 1 Phân tích quan niệm về thời đại và thời đại ngày nay

1.1.Quan niệm về thời đại:

- Tuỳ thuộc vào thế giới quan, lợi ích giai cấp hoặc góc độ nhìn nhận, đã từng xuất hiệncách phân chia thời đại khác nhau, hàm chứa những quan niệm phong phú về phạm trù thời đại Trên cơ sở nhìn nhận tiến trình của xã hội loài người như một dòng chảy lịch sử - tự nhiên,phủ định biện chứng giữa các hình thái kinh tế - xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen xác định mỗihình thái này, với quá trình phát sinh, phát triển và bị thay thế của nó, đánh dấu một thời đại lịch

sử Nhân loại đã, đang và sẽ trải qua 5 thời đại lịch sử là: thời đại nguyên thủy, thời đại chiếmhữu nô lệ, thời đại phong kiến, thời đại tư bản chủ nghĩa và thời đại chủ nghĩa cộng sản

Khái niệm thời đại, vốn đã được C.Mác và Ph.Ăngghen hiểu theo nghĩa rộng bao hàm quátrình kéo dài hàng nhiều thế kỷ, được V.I.Lênin quy về hiểu theo nghĩa hẹp V.I.Lênin đã cụ thểhóa mỗi thời đại lịch sử lớn theo cách phân kỳ hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác vàPh.Ăngghen thành nhiều thời đại nhỏ, tương ứng với từng giai đoạn nhất định

Hiện nay, chúng ta xây dựng nhận thức về thời đại trên nền tảng học thuyết mácxít về cáchình thái kinh tế - xã hội và với quan niệm của V.I.Lênin về thời đại Với tính cách một kháiniệm triết học, thời đại là một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử Với tính cách mộtphạm trù lịch sử, thời đại là một giai đoạn lịch sử được phân biệt với các giai đoạn lịch sử khácbởi đặc điểm bối cảnh, mâu thuẫn, động lực, nội dung, tính chất và phương hướng vận động cơbản Tiêu chí hàng đầu để nhận biết một thời đại cụ thể là xác định giai cấp nào đứng ở vị trítrung tâm của lịch sử, có vai trò chủ yếu quyết định lôgíc vận động của xã hội loài người

1.2 Quan niệm về thời đại ngày nay

Những cuộc hội nghị quốc tế các Đảng Cộng sản và Công nhân năm 1957 và năm 1960khẳng định tính quá độ là đặc trưng hàng đầu trong nội dung chủ yếu của thời đại chúng ta:

“Thời đại chúng ta mà nội dung chủ yếu là quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH mở đầubằng cách mạng XHCN tháng Mười vĩ đại, là thời đại cách mạng XHCN và cách mạng giảiphóng dân tộc, là thời đại chủ nghĩa đế quốc bị thủ tiêu, là thời đại ngày càng có thêm nhiều dântộc tiến lên con đường XHCN, là thời đại thắng lợi của CNXH và chủ nghĩa cộng sản trên phạm

vi toàn thế giới”2.

HCM từ khi tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, đã nhận diện chính xác thời đại mới Đây là điểmkhác biệt giữa người với các lãnh tụ đương thời trong Quốc tế Cộng sản ở chỗ sớm đề ra đườnglối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn, đi trước thời đại, đúng tư tưởng Lênin về vấn đề dântộc và thuộc địa Chính Người và ĐCSVN từ khi ra đời đến nay đều khẳng định thời đại ngàynay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH Văn kiện Đại hội lần thứ I của Đảngkhẳng định thế kỷ XX là “Thế kỷ chứng kiến một phong trào cách mạng sâu rộng trên phạm vitoàn thế giới, gắn với thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Mười Nga - cuộc cách mạng vĩ đại

mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH ở một loạt nước châu Âu, châu Á và MỹLatinh; sự giải phóng hầu hết các nước thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, sự phát triển củaphong trào cộng sản, công nhân quốc tế và phong trào hòa bình dân chủ mặc dù vào thập niêncuối CNXH hiện thực lâm vào thoái trào” Như vậy, cho đến trước Đại hội X của Đảng (2006)trong các văn kiện chính thức của Đảng ta và HCM đều khẳng định bằng câu chữ đầy đủ thờiđại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH được mở đầu từ Cách mạngTháng Mười

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá

độ lên CNXH ( Bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng đã khẳng định “Đặc điểm nổi bật trong giaiđoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùngtồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc Cuộc đấu

2 2 Văn kiện Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế năm 1960, Tư liệu Học viện Nguyễn Ái Quốc,

H.1982, tr.60.

Trang 3

tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội

dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng sẽ có những bước tiến mới Theo quy luật tiến hóa củalịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH”1.

Thời đại ngày nay đã vận động qua bốn giai đoạn từ cột mốc 1917 đến nay Giai đoạn I(1917-1945) là giai đoạn cách mạng XHCN thắng lợi ở một nước; chế độ XHCN được xây dựng

và củng cố; phong trào giải phóng dân tộc phát triển thành cao trào và chiến thắng của loàingười tiến bộ đối với chủ nghĩa phát xít Giai đoạn II (từ năm 1945 đến giữa thập kỷ 70) là giaiđoạn CNXH được mở rộng thành hệ thống thế giới; phong trào giải phóng dân tộc, phong tràocông nhân và phong trào hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới phát triển mạnh mẽ;đồng thời cũng là giai đoạn xuất hiện một số bất đồng lớn trong phong trào cộng sản, công nhânquốc tế Giai đoạn III (từ cuối thập kỷ 70 đến đầu thập kỷ 90) là giai đoạn trì trệ, khủng hoảngcủa nhiều nước XHCN, đối lập với quá trình điều chỉnh, thích nghi của chủ nghĩa tư bản hiệnđại Lợi dụng tình thế này, các thế lực thù địch và phản bội đã phối hợp tấn công làm sụp đổ chế

độ xã hội XHCN ở Đông Âu và Liên Xô Giai đoạn IV (từ đầu thập kỷ 90 đến nay) là giai đoạncác nước XHCN và phong trào cộng sản quốc tế khắc phục khủng hoảng, thoái trào để từngbước hồi phục, cải cách, đổi mới và phát triển

Giai đoạn hiện nay của thời đại, được tính từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, chứa đựng nhiềubước vận động quanh co, phức tạp của lịch sử Nhìn từ nền tảng vật chất của xã hội loài người,giai đoạn hiện nay được đặc trưng bằng sự hiện diện mạnh mẽ của nền sản xuất hậu côngnghiệp, của nền kinh tế tri thức, của công nghệ thông tin Xét trên bình diện các xu hướng lớncủa đời sống quốc tế, giai đoạn hiện nay là giai đoạn của quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa vàkhu vực hóa Từ góc độ chính trị quốc tế, giai đoạn hiện nay của thời đại là giai đoạn đấu tranhgiai cấp và đấu tranh dân tộc gay gắt, phức tạp Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc ráo riếtchống phá phong trào cách mạng thế giới nhằm tái lập sự thống trị toàn cầu của tư bản độcquyền quốc tế Các quốc gia dân tộc trên thế giới đang triển khai cuộc đấu tranh chống đế quốcvới nội dung sinh động (chống tự do hóa tư bản chủ nghĩa, chống tư bản tài chính lũng đoạn,chống độc quyền tư bản toàn cầu, chống toàn cầu hóa tư bản chủ nghĩa ) và hình thức phongphú Phong trào cộng sản quốc tế đã có bước phục hồi, củng cố và phát triển: CNXH được củng

cố và có thêm sinh lực mới thông qua cải cách, đổi mới; các đảng cộng sản từng bước xác lậpvai trò, vị trí chính trị ở các nước thuộc Liên Xô cũ, Đông Âu, các nước tư bản phát triển và cácnước đang phát triển Á - Phi - Mỹ Latinh

1 1 ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, tr.69.

Trang 4

Câu 2 Phân tích Đặc điểm, mâu thuẫn và xu hướng vận động trong giai đoạn hiện nay của thời đại

2.1 Những đặc điểm mới trong giai đoạn hiện nay của thời đại

Một là, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại có bước phát triển nhảy vọt đạt đượcnhững kỳ tích to lớn

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ diễn ra mạnh mẽ, đạt được nhiều kỳ tích tác độngđến tất cả các lĩnh vực của đời sống mỗi quốc gia và quan hệ quốc tế đương đại Đặc điểm nổibật của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại là ở chỗ khoa học, công nghệ và sảnxuất không còn là ba lĩnh vực tách rời nhau Trái lại, phát minh khoa học, chuyển hóa thànhcông nghệ và đưa vào sản xuất đại trà ngày càng thống nhất trong một quá trình; khoảng cáchgiữa các khâu nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu triển khai và ứng dụng vào sản xuất ngày càng rútngắn

Những thành tựu khoa học và công nghệ được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của cuộcsống Trong nền sản xuất hiện đại, sản phẩm đổi mới rất nhanh, giá thành giảm mạnh, nguyênvật liệu được sử dụng tiết kiệm, năng suất lao động rất cao

Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triểnnhảy vọt, đồng thời bản thân nó là lực lượng sản xuất mới, hiện đại Tính chất và trình độ củalực lượng sản xuất trong thế kỷ XX đã thay đổi căn bản

Trước mắt, tư bản độc quyền có thể lợi dụng cách mạng khoa học và công nghệ để củng cố,tăng cường địa vị thống trị Song trong sâu xa, về lâu dài, cách mạng khoa học và công nghệ lànhân tố thách thức đối với chủ nghĩa tư bản

Hai là, toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều nước thamgia, xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia chi phối,chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa cóđấu tranh

Toàn cầu hóa là hệ quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đặc biệt là củacông nghệ thông tin Toàn cầu hóa trước hết là biểu hiện của sự xã hội hóa cao độ lực lượng sảnxuất Toàn cầu hóa đồng thời là sự phát triển tất yếu theo chiều rộng và chiều sâu của quan hệsản xuất tư bản chủ nghĩa, mặc dầu không phải tất cả các nước tham gia toàn cầu hóa đều lànhững nước tư bản Chấn tâm của toàn cầu hóa là các nước tư bản phát triển, xứ sở của phần lớncông ty xuyên quốc gia trên thế giới

Toàn cầu hóa là một quá trình phức tạp đầy mâu thuẫn, chứa đựng cả mặt tích cực lẫn mặttiêu cực, cả thời cơ và thách thức đối với các quốc gia, trong đó có các nước đang phát triển,chậm phát triển chịu nhiều thách thức gay gắt hơn cả

Toàn cầu hóa có tác dụng nhất định trong việc thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác để phát triển.Toàn cầu hóa tháo dỡ các rào cản đối với tự do thương mại, làm cho giao lưu kinh tế diễn ramạnh mẽ nhanh chóng Toàn cầu hóa tạo môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt buộc cácnước phải có tư duy năng động, có cơ chế quản lý, bộ máy quản lý hoạt động có hiệu quả Toàncầu hóa và cách mạng thông tin tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tiếp cận nhanh chóngnhững thành tựu văn hóa, khoa học của loài người đồng thời có điều kiện đóng góp tích cực vào

sự phát triển của văn minh nhân loại

Bên cạnh tác dụng tích cực nói trên, toàn cầu hóa tạo ra những thách thức và nguy cơ khôngnhỏ đối với các nước, nhất là các nước đang phát triển Toàn cầu hóa làm tăng tính phụ thuộccủa các nước đang phát triển vào bên ngoài về vốn, công nghệ và thị trường

Toàn cầu hóa kinh tế có tác động trực tiếp đến lĩnh vực chính trị, đến an ninh quốc gia Nó tạo

ra nguy cơ các nước đang phát triển bị lệ thuộc về kinh tế, từ đó sẽ dẫn đến lệ thuộc về chính trịgây nguy hại đến chủ quyền và an ninh quốc gia

Trang 5

Điểm mới không lường được đó là các cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính từ các tâm điểmnhư Mỹ, châu Âu… lan rộng, tác động đến nhiều khu vực, trở thành các cuộc khủng hoảng tàichính và suy thoái kinh tế toàn cầu, để lại hậu quả nặng nề.

Ba là, quan hệ giữa các nước lớn - nhân tố rất quan trọng tác động đến sự phát triển thế giớiTrong số hơn 200 quốc gia, một số cường quốc có sức chi phối lớn đối với chính trị, kinh tếthế giới và quan hệ quốc tế đương đại Căn cứ vào sức mạnh tổng hợp, ảnh hưởng thực tế,những quốc gia sau đây được cộng đồng thế giới xem là nước lớn: Mỹ, Canada, Braxin, Nga,Anh, Pháp, Đức, Italia, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Nam Phi

Các nước lớn và quan hệ giữa các nước lớn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triểnthế giới 12 nước lớn chiếm hơn 1/3 lãnh thổ và quá nửa dân số thế giới, hơn 70% GDP của cảthế giới Đa số nước lớn là những cường quốc hàng đầu về kinh tế, khoa học, công nghệ, sứcmạnh quân sự Có 5 nước lớn là uỷ viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Nhóm G7

là những nước tư bản phát triển nhất

Các nước lớn không phải một khối thống nhất mà là một tập hợp đầy mâu thuẫn Quan hệgiữa các nước lớn gồm nhiều loại: đồng minh, liên kết, không liên kết, đối tác, đối thủ, đối thủtrực tiếp, đối thủ tiềm tang; hết sức phức tạp

Sau khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu tan rã, chiến tranh lạnh kết thúc, đối đầu Xô –

Mỹ chấm dứt,quan hệ giữa các nước lớn có nhiều biến động Hiện đang hình thành một trật tựthế giới mới với đặc điểm nhất siêu đa cường

Bốn là, cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc tiếp diễn và ngày càng tăng lên Xung độtdân tộc, tôn giáo tiếp tục bùng phát với những diễn biến có nhiều nguy cơ khó lường

Sau sự kiện Liên Xô tan rã, mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc càng phức tạp, đấu tranhgiai cấp và đấu tranh dân tộc trên thế giới không dịu đi mà tiếp tục diễn ra gay gắt dưới nhữnghình thức mới

Độc lập dân tộc, bình đẳng dân tộc là vấn đề lớn nhất, bức xúc nhất của thời đại hiện nay Bóclột dân tộc tiếp tục là điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản độc quyền Các dân tộc nhỏ yếuchậm phát triển không những bị bóc lột mà còn có nguy cơ bị đẩy ra bên lề cuộc sống hiện tại

Hố ngăn cách giữa “khu vực trung tâm” và “khu vực ngoại vi” của thế giới tư bản ngày càng sâurộng thêm Các chính sách đế quốc tiếp tục được áp dụng đối với các nước đang phát triển, trong

đó nguy hiểm nhất là chính sách xâm lược chia để trị, can thiệp trắng trợn vào nội bộ các nước

Mỹ đang thi hành chính sách đế chế ngay trong thời đại văn minh

Năm là, Nhân loại đang đứng trước những vấn đề toàn cầu hết sức bức súc đòi hỏi phải có sựhợp tác đa phương để giải quyết

Chưa bao giờ nhân loại đang phải đối phó với rất nhiều vấn nạn đòi hỏi phải có sự hợp tác đaphương để giải quyết Đó là sự nóng lên của trái đất với vấn đề hiệu ứng nhà kính; vấn đề ônhiễm môi trường với việc xử lý rác thải; vấn đề khủng hoảng sinh thái; vấn đề bệnh tật như lâynhiễm HIV/AIDS, SARS,cúm gia cầm; vấn đề đói nghèo Giải quyết những vấn đề này phụthuộc vào đường lối của mỗi quốc gia và do đó phong trào quần chúng đòi giải quyết các vấn đềtoàn cầu là một bộ phận của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới

2.2 Những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu trong giai đoạn hiện nay của thời đại

Thực tiễn sự vận động của lịch sử mười năm cuối của thế kỷ XX và những năm đầu của thế

kỷ XXI chỉ rõ CNXH hiện thực vẫn tồn tại ở một số nước, đặc biệt là tư tưởng XHCN vẫn đang

là sự lựa chọn của nhiều dân tộc trên con đường phát triển Bốn mâu thuẫn cơ bản của thời đạivẫn còn nguyên vẹn trong giai đoạn hiện nay của thời đại, cho dù tình hình đã có những thay đổitrong từng mặt đối lập cấu thành mâu thuẫn, trong hình thức biểu hiện và mức độ gay gắt của

nó Các mâu thuẫn đó là:

(1) Mâu thuẫn giữa CNXH và chủ nghĩa tư bản

Đây là mâu thuẫn cơ bản xuyên suốt của thời đại xét cả từ góc độ lý luận và thực tiễn Đây làmâu thuẫn giữa hai hình thái kinh tế- xã hội mang bản chất đối lập không thể điều hòa được Sau

Trang 6

khi hệ thống CNXH Liên Xô Đông Âu sụp đổ, trên thế giới hiện vẫn còn tồn tại các nướcXHCN như Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cuba, Triều Tiên, và sự xuất hiện trào lưu CNXH ởchâu Mỹ latinh… Hệ tư tưởng XHCN vẫn tồn tại trong niềm tin của giai cấp công nhân và nhândân lao động trên thế giới

Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay mâu thuẫn giữa CNXH và CNTB cũng có những điềuchỉnh Các nước CNXH và CNTB hiện nay mâu thuẫn, đấu tranh với nhau nhưng tạm thờikhông nhằm tiêu diệt lẫn nhau như giai đoạn trước đây mà cùng chung sống hòa bình và cạnhtranh với nhau trong một thế giới toàn cầu hóa

(2) Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động vẫn là mâuthuẫn cơ bản xuyên suốt hiện nay

Trong giai đoạn hiện nay giai cấp tư sản có nhiều điều chỉnh tích cực, do nắm bắt và làm chủđược thành tựu của cuộc cách mạng KH-CN, họ đã điều chỉnh trong cách thức thống trị và điềuchỉnh bóc lột giá trị thặng dư một cách tinh vi hơn Việc phân chia lợi nhuận theo cổ phần, cổtức… đã dẫn đến biến đổi trong cơ cấu giai cấp công nhân, xuất hiện công nhân cổ trắng, cổvàng, cổ xanh Giai cấp công nhân giờ không còn là giai cấp vô sản như trước đây, họ có cổphần, có tài sản và trở thành tầng lớp trung lưu của xã hội

Tuy nhiên quan hệ bóc lột giá trị thặng dư của nhà tư sản với giai cấp công nhân và nhân dânlao động không vì lẽ đó mà giảm sút hoặc mất đi Ở nhiều nước tư bản, 90% tài sản vẫn tậptrung trong tay 10 dân số Chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn Theo báo cáo của Tổ chứcchống nghèo đói Oxfam cho biết khoảng cách giàu nghèo trên thế giới đang lên kỷ lục Năm

2010, 388 người giàu nhất mới chiếm nửa tài sản thế giới Nhưng năm 2015, con số này chỉ còn

62 Nhóm người này hiện có 1.760 tỷ USD, tương đương 3,5 tỷ người có thu nhập ở nửa cuốithế giới

Chính sự vận động của mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động sẽquyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản

(3) Mâu thuẫn giữa các nước đang phát triển và chậm phát triển với các nước tư bản phát triểntrong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, ổn định, phát triển đang có nguy cơ ngày càng trởnên gay gắt hơn

Lợi dụng những khó khăn của phong trào XHCN do sự đổ vỡ của hệ thống XHCN năm 1991,

sự sụp đổ của cực Liên Xô trong hai cực Xô – Mỹ, Mỹ đã và đang mưu toan sắp đặt lại trật tựthế giới mới do Mỹ làm bá chủ Đặc biệt sau sự kiện 11/9 / 2001, lợi dụng vấn đề chống chủnghĩa khủng bố quốc tế, Mỹ đã tăng cường tập hợp các nước lớn, tiến hành điều chỉnh chiếnlược, tự cho phép “đánh đòn phủ đầu” tất cả các quốc gia dân tộc nào không theo “cái gậy” chỉhuy của Mỹ Nhiều nước bị Mỹ xếp vào trục “liên minh ma quỷ”, bị buộc tội “bảo trợ cho khủngbố” Mỹ đã lấy cớ đó để tiến hành các cuộc xâm chiếm Afgannistan, Irac, Syri… Hòa bình, độclập toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia bị đe dọa nghiêm trọng, quan hệ giữa các dân tộc trongquan hệ quốc tế trên những nguyên tắc đã được thiết lập nhiều năm trước đây đã bị phá vớ dohành động của chủ nghĩa đế quốc

Tuy nhiên bên cạnh mâu thuẫn giữa các nước đang phát triển và chậm phát triển với các nước

tư bản phát triển trong cuộc đấu tranh vảo vệ độc lập dân tộc thì về kinh tế các nhóm nước nàycũng đang có sự hợp tác trong phát triển kinh tế xã hội Các nước đang phát triển và chậm pháttriển cũng nhận được nhiều sự hỗ trợ về vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý từ các nước phát triển

để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, tăng cường xóa đói giảm nghèo và phòngchống, giảm nhẹ thiệt hại của thiên tai

Mâu thuẫn giữa các nước phát triển, các nước lớn, các trung tâm tư bản, các tập đoàn tư bảnxuyên quốc gia với nhau

Mặc dù các nước tư ban chủ nghĩa luôn có sự thống nhất với nhau về bản chất chế độ, vê lợiích giai cấp, về mục tiêu chống phá CNXH và phong trào cách mạng, nhưng quan hệ giữa cácnước tư bản chủ nghĩa giữa các tập đoàn tư bản luôn là quan hệ liên minh nhằm tìm kiếm lợi

Trang 7

nhuận tối đa Song, giữa các nước tư bản chủ nghĩa có những mâu thuẫn về lợi ích quốc gia, lớních của mỗi tập đoàn tư bộ do vậy luôn diễn ra những cuộc đấu tranh lúc ngấm ngầm, lúc côngkhai Đây là mâu thuãn nảy sinh một cách tất yếu do quy luật tự do cạnh tranh kiểu “cá lớn nuốt

cá bé” và do sự phát trển không đều của chủ nghĩa tư bản Sự cạnh tranh ảnh hưởng, chạy đua

vũ trang của các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Liên bang Nga về chính trị, an ninh, vănhóa… là những nguyên nhân tiềm ẩn nhưng nguy cơ bất ổn cho hòa bình, an ninh thế giới Ví dụnhư vấn đề Syri, Ukraina, biển Đông, vấn đề hạt nhân ở Triều Tiên…

Con đường giải quyết mâu thuẫn giữa các nước lớn trước mắt bằng thương lượng songphương hoặc đa phương nhưng đã có nhiều lúc bế tắc do mâu thuẫn quyền lợi của các nước lớn

về kinh tế, thương mại, văn hóa, chính trị vẫn còn tồn tại âm ỉ

Tuy nhiên trong mâu thuẫn này cũng đang diễn ra xu hướng thỏa hiệp, dung hòa lợi ich, biểuhiện rõ nét và mới đây nhất như thỏa thuận Nga – Mỹ về vấn đề Syri…

Ngoài 4 mâu thuẫn cơ bản trên, trong giai đoạn hiện nay của thời đại đang nổi lên một mâuthuẫn chủ yếu đó là mâu thuẫn giữa một bên là các thế lực cực đoan nhất, hiếu chiến nhất củachủ nghĩa đế quốc bá quyền với một bên là các lực lượng đấu tranh chống lại các thế lực đó vìhòa bình, độc lập dân tộc, ổn định và phát triển bền vững

Như vậy trong giai đoạn hiện nay của thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH, những mâu thuẫn

cơ bản của thời đại vẫn còn tồn tại dù về hình thức biểu hiện, mức độ có thể có những chuyểnhóa khác nhau Chúng ta cần nhìn nhận rõ để xử lý tỉnh táo trong các quan hệ quốc tế trên chặngđường phát triển của mình, để kiên trì mục tiêu XHCN, kiên trì bảo vệ độc lập dân tộc và toànvẹn lãnh thổ quốc gia trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi như hiện nay

2.3 Xu thế vận động của thế giới trong giai đoạn hiện nay của thời đại:

- Hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển là xu thế lớn, là đòi hỏi bức xúc của các dân tộc vàcác quốc gia trên thế giới

- Các quốc gia lớn, nhỏ đều tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết khuvực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vực khác

- Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, đấu tranh chống sự áp đặt vàcan thiệp của nước ngoài, bảo vệ độc lập chủ quyền và nền văn hóa dân tộc

- Các nước XHCN, các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng, tiến bộ trênthế giới kiên trì đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

- Các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa đấu tranh trong cùng tồntại hòa bình

Hợp tác và đấu tranh là hai mặt trong quan hệ quốc tế và chi phối phương thức quan hệ giữacác nước Khi nhu cầu hội nhập quốc tế ngày càng trở nên bức xúc đối với các quốc gia dân tộc,thì môi trường hòa bình, ổn định và phát triển của mỗi nước là điều kiện để hội nhập tốt hơn,hiệu quả hơn Cuộc đấu tranh của các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển vàtiến bộ xã hội đang gặp khó khăn, thử thách, nhưng sẽ có những bước tiến mới Theo quy luậttiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH

Trang 8

câu 3: Phân tích các thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản

CNTB với tư cách là một hệ thống, ra đời tư cuối thế kỷ XVII, đến nay đã trải qua nhiều giaiđoạn phát triển Mỗi giai đoạn CNTB có vai trò, vị trí và những đặc điểm kinh tế, chính trị, xãhội khác nhau nhất định Trong giai đoạn hình thành, CNTB có vai trò cách mạng tiến bộ, thủtiêu chế độ phong kiến, thúc đẩy lịch sử phát triển nhanh chóng Nó xóa bỏ nền sản xuất nhỏ, đivào xây dựng một nền sản xuất lớn, hình thành thị trường cũng như những mối quan hệ quốc tếngày càng rộng lớn

Thời kỳ CNTB tự do cạnh tranh

CNTB thời kỳ đầu, từ khi hình thành đến cuối thế kỷ XIX, được gọi là CNTB thời kỳ tự docạnh tranh Cùng với việc củng cố quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự phát triển của côngnghiệp lớn trong CNTB là một nét nổi bật nhất của thế giới đương thời, tạo ra những đột phá lớn

về phát triển kinh tế - xã hội mà trước đó chưa từng có trong lịch sử Nhờ sử dụng máy móc hiệnđại, cải tiến kỹ thuật và tổ chức sản xuất, thúc đẩy cạnh tranh tự do, mở rộng thị trường, CNTB

đã tạo ra một khối lượng tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt khổng lồ Guồng máy sản xuất vàtrao đổi vì mục tiêu lợi nhuận không ngừng tăng tốc, vận hành gần như hết công suất Nhà nước

tư sản trong thời kỳ tự do cạnh tranh, về cơ bản, chỉ chú trọng làm công việc bảo vệ trật tự xãhội, bảo vệ chế độ tư hữu tư bản và tự do cạnh tranh, không can thiệp sâu vào sản xuất kinhdoanh Hệ thống tự do kinh doanh thuần túy tư nhân đã có vai trò to lớn trong phát triển kinh tế,tạo nên cả một thời đại công nghiệp trong lịch sử Sức sống sâu xã của nó là kích thích động lực,lợi ích tư nhân qua cạnh tranh sản xuất hàng hóa

Tuy nhiên, từ nửa sau thế kỷ XIX, chính cuộc chạy đua săn tìm lợi nhuận trong môi trường tự

do cạnh tranh dẫn đến tình trạng sản xuất quá thừa Hậu quả là nền sản xuất xã hội lâm vàokhủng hoảng mà sự nghiêm trọng của nó tới mức đe dọa sự sống còn của chế độ sở hữu tư nhân

tư sản – nền tảng của chế độ tư bản Tính trạng này đẩy tới giới hạn, làm bộc lộ những mâuthuẫn sâu xa, buộc CNTB phải thay đổi, điều chỉnh nếu không muốn đổ vỡ tất cả Những mâuthuẫn đó nảy sinh là do hàng loạt nguyên nhân Trước hết, sở hữu tư nhân trong cạnh tranh tự nódẫn đến tập trung sở hữu lại cho thiểu số người và làm mất sở hữu của đa số người Nhà nướcbảo vệ “quyền thiêng liêng” về sở hữu thành ra bảo vệ lợi ích của thiểu số người và chà đạp lênlợi ích của đa số người Sản xuất phát triển theo cách làm giàu cho thiểu số và nghèo khổ bầncùng cho đa số Một sự giàu có được tạo dựng trên lưng người khác và trên lưng dân tộc khác.Mặt khác, thiểu số giàu dẫn đến quyền kiểm soát, chi phối bộ máy nhà nước theo lợi ích của

họ Tự do, bình đẳng, dân chủ được thực hiện giữa người chủ sở hữu và đa số người làm thuê trởthành mất ý nghĩa chân thực Tự do kinh doanh của các nhân dẫn đến phủ nhận tự do của đa số.Bình đẳng giữa các cá nhân trở thành bất bình đẳng sâu sắc và dân chủ chỉ còn là cơ chế thựchiện quyền lực của giới chủ giàu có Người lao động làm thuê bị đẩy vào cuộc sống nghèo khổcùng cực Xã hội tồn tại không bình thường, thường xuyên mất ổn định, dễ bùng nổ; mâu thuẫn

xã hội, trước hết là giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân, lao động ngày càng trở nên gaygắt Toàn bộ tình hình như đã nêu chính là loogic biện chứng của tự do kinh doanh dựa trên sởhữu tư nhân thuần túy

Trong xã hội tư bản, các cuộc khủng hoảng kinh tế quy mô lớn liên tiếp nổ ra càng thúc đẩymức độ và tính gay gắt của các mâu thuẫn giai cấp, xã hội, báo hiệu sự kết thúc thời kỳ tự docạnh tranh của CNTB Hơn 20 năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX đã xảy ra 4 cuộc khủnghoảng kinh tế lớn Thời kỳ phồn vinh cuối thế kỷ XIX và cuộc khủng hoảng 1900 – 1903 đượccoi là dấu mốc chung của bước ngoặt cơ bản chuyển từ CNTB tự do cạnh tranh sang thời kỳ chủnghĩa đế quốc với việc xác lập quyền thống trị của các tổ chức độc quyền lũng đoạn ở các nước

tư bản chủ nghĩa

Thời kỳ CNTB độc quyền

Trang 9

Bước vào thế kỷ XX, sản xuất công nghiệp trong CNTB ngày càng tăng lên nhanh chóng dẫntới tập trung sản xuất và tích tụ tư bản chủ nghĩa Ngân hàng từ vai trò trung gian chuyển thànhnhóm độc quyền, sử dụng vốn của toàn thể tư bản và tiểu chủ, sử dụng vốn của toàn thể tư bản

và tiểu chủ, sử dụng phần lớn tư liệu sản xuất và các nguồn nguyên liệu Với số tư bản kếch xùtrong tay, ngân hàng có thể tham gia và can thiệp vào nội bộ các xí nghiệp công nghiệp, xuấthiện xu hướng dung hợp giữa tư bản độc quyền ngân hàng với tư bản độc quyền công nghiệp,tạo thành tư bản tài chính và giới tài phiệt Cùng với xuất khẩu hàng hóa, CNTB bắt đầu xuấtkhẩu tư bản ra bên ngoài và đây trở thành hình thức xuất khẩu chủ yếu, ngày càng chiếm ưu thế

áp đảo

Sự phát triển của CNTB độc quyền gắn liền với sự bành trướng, mở rộng thống trị thị trường

và thuộc địa thế giới Sự tranh giành thị trường và thuộc địa giữa các nước tư bản đế quốc lànguyên nhân cơ bản, vừa sâu xa vừa trực tiếp dẫn đến hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷXX

Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối thập niên 70 thế kỷ XX, với nhiều biện phápđiều chỉnh về chính trị, kinh tế, quan hệ sản xuất, nắm được cách mạng khoa học kỹ thuật, dovậy CNTB đã tạo nên bước phát triển mới mạnh mẽ về lực lượng sản xuất, về cơ sở hạ tầng và

sự thay đổi về kiến trúc thượng tầng, hình thành CNTB độc quyền nhà nước Sự điều chỉnh dễnhận thấy nhất là việc nhà nước tư sản đẩy mạnh can thiệp, điều tiết trên quy mô toàn xã hội,không để thị trường tự do điều tiết thuần túy Quyền lực tập trung của nhà nước xâm nhập và xử

lý mọi quan hệ xã, nhấn mạnh điều tiết nhà nước đối với thị trường, tạo ra các hệ thống phúc lợi,bảo hiểm để số đông người dân có thể sống và chịu đựng được trong xã hội hiện có Xét theogóc độ này, có thể xem CNTB bước vào giai đoạn phát triển mới – CNTB hiện đại – bắt đầu từsau chiến tranh thế giới thứ hai Như vậy, khi kinh tế càng phát triển thì chính trị và nhà nướckhông thu hẹp lại mà càng mở rộng, nhằm tạo điều kiện đề tiên quyết chính trị cho kinh tế - xãhội phát triển

Sự kết hợp chặt chẽ quyền lực chính trị của nhà nước tư bản với quyền lực sức mạnh kinh tếcủa các tổ chức tư bản độc quyền là một bước phát triển cao của CNTB Sự kết hợp trên giúpcho CNTB hiện đại có thể khắc phục được phần nào những khó khăn trong hoạt động kinh tếnhư tình trạng rồi loạn, vô chính phủ, khủng hoảng theo chu kỳ Nhà nước trong CNTB hiện đạikhông phải là đứng ngoài kinh tế, đứng trên kinh tế, ăn bám như sinh vật ký sinh, mà đã thực sựlàm rất nhiều về kinh tế như xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, điều tiết kinh tế - xã hội, trựctiếp sở hữu và điều hành một bộ phận trong nền kinh tế

Từ cuối thập niên 70 thế kỷ XX đến nay, CNTB hiện đại chuyển sang giai đoạn độc quyềnquốc tế - độc quyền xuyên quốc gia, triệt để tận dụng ưu thế về thực lực mọi mặt trong bối cảnhtoàn cầu hóa nhằm bành trướng thế lực trên quy mô toàn cầu với mục đích cố hữu là thu lợinhuận độc quyền cao Chủ nghĩa tự do mới chủ trương hạn chế sự can thiệp của nhà nước, đẩymạnh tự do hóa và tư nhân hóa nhằm tiếp sinh lực cho tăng trưởng kinh tế theo hướng đảm bảosinh lợi cho các tập đoàn kinh doanh lớn, xây dựng lại thể chế, chống lại “dân chủ hỗn loạn” Nótrở thành cơ sở tư tưởng và căn cứ lý luận mới để CNTB hiện đại lũng đoạn quốc tế, bànhtrướng ảnh hưởng ra toàn cầu

Sự phát triển mạng lưới các công ty xuyên quốc gia cùng với sự bùng nổ của cách mạng khoahọc và công nghệ làm cho thị trường toàn cầu trở thành công xưởng toàn cầu, đặt ra cơ sở vậtchất hùng mạnh để CNTB hiện đại chuyển sang giai đoạn độc quyền, lũng đoạn quốc tế, hìnhthành độc quyền toàn cầu và CNTB toàn cầu hóa Mặt khác, mạng Internet với tư cách là mạng

kỹ thuật và mạng lưới kinh tế dày đặc giúp tư bản lũng đoạn có khả năng khống chế toàn cầu, nótrở thành kỹ thuật mang tính chất tiêu chí đánh dấu CNTB hiện đại bước sang một giai đoạnmới

Tuy nhiên, những mâu thuẫn vốn có của nghĩa tư bản lại bộc lộ trầm trọng thêm Chi phí củachính phủ tư sản không giảm mà tăng lên nhanh chóng Vấn đề gánh nặng chi phí của chính phủ,

Trang 10

sự mất cân đối cơ cấu kinh tế và gia tăng thất nghiệp luôn là những áp lực lớn dẫn đến khủnghoảng chính trị trong nhiều nước tư bản phát triển Cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng củaCNTB từ năm 2008 càng làm nổi rõ những bất ổn trong cấu trúc kinh tế tư bản và những nangiải mà các định chế kinh tế toàn cầu đang phải đối mặt Nó cho thấy sự phá sản của chủ nghĩa

tự do mới, quá nhấn mạnh bàn tay điều tiết của thị trường tự do, đồng thời phản ánh sự bất cậpkhông chỉ trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ, mà cả trong lĩnh vực sản xuất của CNTB hiện đại.Hầu như tất cả các nước tư bản phát triển hiện nay đều quay trở lại nhấn mạnh vai trò điều tiếtcủa nhà nước

Trong những năm gần đây, khái niệm “CNTB toàn cầu hóa” được sử dụng để chỉ CNTB hiệnđại trong giai đoạn đương đại Đây được coi là giai đoạn mới của CNTB độc quyền quốc tế, tuy

nó có cách thức tồn tại mới và hình thức thống trị, áp bức mới nhưng không thay đổi về bảnchất Đồng thời, tính chất phức tạp và quyết liệt của đấu tranh giai cấp trong CNTB hiện đại vẫnchứa nội dung trọng tâm là mối quan hệ giữa lao động làm thuê và giới chủ tư bản

-Câu 4: Đặc điểm và xu thế vận động của chủ nghĩa tư bản hiện đại

1 CNTB hiện đại thường xuyên có những biện pháp tự điều chỉnh nhằm thích nghi với tình hình mới, để tồn tại và tiếp tục có bước phát triển Điều dễ nhận thấy nhất là sự điều chỉnh của CNTB hiện đại về quan hệ sản xuất.

+ Trước hết, sở hữu tư liệu sản xuất có một số điều chỉnh khiến quan hệ sản xuất tư bản chủnghĩa có biến thái mới Một bộ phận không nhỏ cơ sở kinh tế tồn tại dưới hình thức công ty cổphần Giá cổ phiếu có xu hướng ngày một nhỏ đi dẫn đến nhiều người trong xã hội có thể muađược số cổ phiếu nhất định, trở thành cổ đông và có cảm nhận mình là đồng sở hữu của công ty

tư bản Biện pháp điều chỉnh này đưa lại nhiều kết quả

Về kinh tế, nó kích thích và khai thác tối đa khả năng thu hút nguồn lực xã hội đầu tư vào sảnxuất

Về chính trị, giai cấp tư sản có cơ sở để làm suy yếu tinh thần đấu tranh, phản kháng của giaicấp công nhân và người lao động

+ Có nhiều nét mới trong lĩnh vực tổ chức quản lý, điều hành hoạt động sản xuất theo hướngcải thiện mối quan hệ giữa chủ và thợ, giữa người quản lý và người bị quản lý

+ Điều chỉnh QHSX của CNTB hiện đại còn được tiến hành trong lĩnh vực phân phối lợi ích.Nhà nước tư sản đều ban hành và thực hiện khá nhiều các chính sách phúc lợi xã hội Tuy nhiên,các chính sách phúc lợi xã hội của nhà nước tư sản, trước tiên là do kết quả đấu tranh của ngườilao động Chừng nào cuộc đấu tranh ấy suy giảm thì những chính sách phúc lợi xã hội cũng sẽgiảm theo

Sự cải thiện đời sống vật chất và tinh thần trong xã hội tư bản còn là do kết quả của sự pháttriển khoa học và công nghệ, kết quả của sự phát triển sản xuất có năng suất, chất lượng, hiệuquả ngày một cao Từ đó cho phép giai cấp tư sản trả lại một phần cho người lao động để nhằmmục đích thu lại nhiều hơn

Cùng với những điều chỉnh về kinh tế, CNTB hiện đại tiến hành một số biện pháp điều chỉnh

về chính trị, cải cách tư pháp và bộ máy hành chính, phân quyền thêm cho địa phương, các tổchức xã hội, các tổ chức phi chính phủ, xây dựng xã hội công dân

2 CNTB hiện đại tăng mạnh chi tiêu quân sự để giải quyết năng lực sản xuất thừa, tạo thêm công ăn việc làm và khống chế các nước ngoại vi nhưng tiếp tục đối mặt trước các vấn

đề xã hội nhân văn nan giải

+ Việc tăng mạnh ngân sách quân sự tuy tạo ra một số lượng đáng kể việc làm mới nhưng lạigây ra hậu quả nghiêm trọng: chi phí quân sự tăng tới mức người dân đóng thuế không chịu nổi

và không thể chấp nhận được về mặt nhân văn – xã hội

Trang 11

+ Nhiều cuộc chiến tranh cục bộ, nội chiến, xung đột xảy ra ở nhiều nơi, đặc biệt là ở cácnước đang phát triển Các cuộc chiến tranh này khó có thể chấm dứt vì nó mang lại lợi nhuận rấtcao cho các tập đoàn sản xuất vũ khí của các nước tư bản.

+ Sự phát triển khoa học – công nghệ đang làm đe dọa sự tồn tại hợp lý của con người vì việc

sử dụng khoa học không vì mục đích nhân đạo của CNTB hiện đại

+ Xã hội do CNTB hiện đại tạo ra vẫn là một xã hội lạnh lùng như C.Mác và Ph.Ăngghentừng khẳng định Chính sự cạnh tranh khốc liệt, luôn tìm cách đánh bại đối thủ bằng mọi giá,chủ nghĩa cá nhân vị kỷ được đẩy đến tột cùng làm tổn thương nhiều người trong xã hội đặc biệt

là trẻ em và người già

3 CNTB hiện chuyển sang giai đoạn lũng đoạn quốc tế và toàn cầu được biểu hiện trên bốn mặt chủ yếu: tự do hóa, tư hữu hóa, thị trường hóa và nhất thể hóa toàn cầu của kinh tế.

+ Nắm trong tay ưu thế về nhiều mặt và sức mạnh quân sự, các thế lực tư bản đế quốc không

từ bỏ thủ đoạn nào nhằm nhất thể hóa toàn cầu về mọi mặt, nhưng trước hết là về kinh tế Đâythực chất là mưu đồ Mỹ hóa và phương Tây hóa đối với phần còn lại của thế giới Để thực hiệnmưu đồ này, các thế lực tư bản đế quốc triệt để sử dụng các thể chế kinh tế, tài chính quốc tế do

họ khống chế và mạng lưới các công ty xuyên siêu quốc gia, thi hành chính sách đối ngoạicường quyền, áp đặt và trong nhiều trường hợp đi đôi cả với răn đe quân sự

+ Mỹ và nhiều nước tư bản phát triển ra sức bành trướng tư bản lũng đoạn ra toàn cầu, khốngchế toàn cầu, làm cho không gian tự do ngoài nước của tư bản lũng đoạn mở rộng nhanh chóng.Trong tiến trình tự do hóa kinh tế thì tự do hóa tài chính được chú ý nhất, ảnh hưởng lớn nhất,trở thành đòn bẩy để tư bản lũng đoạn quốc tế khống chế kinh tế toàn cầu Tự do hóa về tàichính bao gồm những vấn đề như: thực hiện tự do hóa hoàn toàn về lãi suất, đa nguyên hóanghiệp vụ ngân hàng, mở cửa thị trường tài chính đối ngoại, tự do hóa giao dịch ngoại hối

+ Vào cuối thập niên 90 của thế kỷ XX đã dấy lên trên thế giới làn sóng của phong trào chốngtoàn cầu hóa Toàn cầu hóa là một xu thế vận động khách quan của lịch sử nên thực chất củaphong trào này là chống lại việc lợi dụng nó để áp đặt một kiểu toàn cầu hóa tiêu cực, phi nhântính của CNTB, chống hệ thống quyền lực tư bản độc quyền quốc tế lũng đoạn đời sống mọi mặtcủa thế giới

4 Trong CNTB hiện đại, các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ vẫn diễn ra cùng với sự xuất hiện khủng hoảng kinh tế mang tính cơ cấu.

+ Các cuộc khủng hoảng chu kỳ không gay gắt và kéo dài như trước nhưng diễn biến của nólại phức tạp hơn, ranh giới giữa giai đoạn tiêu điều và phục hồi không thật rõ rệt, vật giá lại leothang ngay cả trong giai đoạn khủng hoảng tiêu điều và trong giai đoạn hưng thịnh mức tăng củasản xuất cũng rất thấp, tình trạng ngưng trệ hầu như diễn ra dài hơn Đó là điểm mới của khủnghoảng trong CNTB trong bối cảnh toàn cầu hóa

+ Ngoài khủng hoảng kinh tế chu kỳ, trong CNTB hiện đại còn tồn tại song song loại khủnghoảng kinh tế mang tính cơ cấu và cơ chế quản trị - điều tiết Những hình thức của khủng hoảng

cơ cầu như: khủng hoảng năng lượng, nguyên liệu, khủng hoảng tài chính – tiền tệ thế giới,khủng hoảng tín dụng, nợ nần quốc tế, lạm phát mang tính thế giới,…

+ Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu từ năm 2008 thêm một lần nữa cho thấy rõ,khủng hoảng vẫn luôn là bạn đồng hành của kinh tế TBCN với biên độ ngày càng dầy hơn Lýluận của chủ nghĩa Mác – Lê nin về CNTB, chủ nghĩa đế quốc vẫn giữ nguyên giá trị và là cơ sởkhoa học để phân tích làm rõ nhiều vấn đề mang tính bản chất của khủng hoảng kinh tế trongCNTB hiện đại Toàn cầu hóa càng phát triển thì càng đẩy nó mâu thuẫn với các thể chế quản trị

- điều tiết kinh tế quốc gia hiện hành Khủng hoảng thể chế quản trị kinh tế cũng là một nguyênnhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay

5 Xuất hiện nhiều hình thức bóc lột, áp bức mới của CNTB hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Trang 12

+ Các nhà tư bản vẫn là giai cấp thống trị, là giới chủ trong xã hội, có vai trò chi phối nhànước phục vụ cho lợi ích của họ và tìm cách bóc lột người lao động thu lợi nhuận độc quyềncao Mối quan hệ giữa người lao động và tư bản về bản chất vẫn mang tính chất đối kháng.+ Tận dụng được cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại và do một số điều chỉnhquan hệ sản xuất, CNTB hiện đại đã giải quyết được một số vấn đề nhất định về việc làm và thunhập cho người lao động Điều kiện lao động của giai cấp công nhân cũng đã có phần thay đổi.Chính trong hoàn cảnh đó, sự áp bức, bóc lột của giới chủ tư bản ngày càng tinh vi và trở nênnặng nề hơn bất cứ thời kỳ nào trước đây của CNTB.

+ Trong bối cảnh toàn cầu hóa, CNTB hiện đại không cần đến những hình thức bóc lột siêukinh tế như thời áp đặt chế độ thuộc địa trước đây mà bẳng những hình thức mới, chỉ bẳng quan

hệ và ràng buộc về kinh tế vẫn đảm bảo cho nó lợi nhuận siêu ngạch Đó cũng chính là lý do làmxuất hiện một phong trào đấu tranh rộng lớn trên thế giới trong những năm qua, với sự tham giacủa đông đảo nhân dân lao động chống lại mặt trái của toàn cầu hóa Nội dung chủ yếu là chống

áp bức, bóc lột kinh tế với hình thức ôn hóa

Xu thế vận động

Thứ nhất, xu hướng xã hội hóa về kinh tế.

Ở các nước tư bản phát triển ngày nay, hầu như không có nước nào không có kinh tế nhànước và hợp tác Các thành phần này, nước nhiều thì chiếm đến 30-40%, nước ít thì chiếm 5-10% GDP, và là một mắt khâu quan trọng trong sự phát triển chỉnh thể của một nền kinh tế hiệnđại Ngoài ra, các công ty cổ phần, các xí nghiệp công nhân tự quản lý,… Công nhân có thể có

cổ phần ở các đơn vị sản xuất – kinh doanh và có thể tham gia vào các hội đồng quản trị doanhnghiệp Kinh tế tư nhân riêng biệt, cá thể thuần túy còn nhưng không giữ vai trò chủ yếu trong

sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại

Thứ hai, xu hướng lao động trí tuệ Một đặc trưng cơ bản của thời đại ngày nay là xã hội loài

người đã tạo ra được một lực lượng sản xuất mới – đó là lực lượng sản xuất trí tuệ hóa và từ đótạo ra một nền văn minh trí tuệ hay văn minh tri thức Xu hướng trí tuệ hóa lao động được hìnhthành và giúp CNTB hiện đại vượt qua không ít thách thức trong quá trình phát triển của nó

Thứ ba, xu hướng quyền lực nhà nước ngày càng phải trở thành quyền lực của đa số Quyền

lực của nhà nước ở các nước tư bản phát triển về cơ bản vãn do các tập đoàn tư bản chi phối.Nhưng quyền lực của nhân dân lao động, của các tổ chức xã hội, của truyền thông đại chúng,…ngày càng lớn mạnh và có chiều hướng sâu chính trị

Thứ tư, xu hướng quốc tế hóa mọi mặt của đời sống Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của

cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại và toàn cầu hóa, ngày nay không một quốc gia dân tộcnào có thể phát triển được nếu đứng ngoài quan hệ quốc tế Phụ thuộc lẫn nhau, hợp tác cùngphát triển là mệnh lệnh của thời đại Chủ nghĩa tư bản hiện đại, với những ưu thế về nhiều mặt,càng về những năm gần đây càng chủ động thúc đẩy xu hướng quốc tế hóa, chi phối và khốngchế quá trình toàn cầu hóa phục vụ cho nhu cầu phát triển của mình

Thứ 5, Bóc lột chât xám, thu hút nguồn lực chất lượng cao

-Câu 5 Vai trò, vị thế của chủ nghĩa tư bản trong quan hệ quốc tế hiện nay

Chủ nghĩa tư bản hiện đại ngày là một chủ thể lớn có vai trò, vị trí cao trong đời sốngquan hệ quốc tế CNTB còn khả năng phát triển kinh tế - xã hội, nhất là chuyển sản xuất sangchiều sâu như hiện nay Sở hữu tư nhân, lợi ích tư nhân vẫn còn là động lực lâu dài của pháttriển kinh tế trong xã hội tư bản hiện đại Lực lượng sản xuất của CNTB hiện đại đạt đến tínhchất và trình độ xã hội hóa rất cao Năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất cũng như trình độ

Trang 13

kinh nghiệm tổ chức quản lý điều hành kinh tế, xã hội của các nước tư bản phát triển tiếp tục cónhững bước phát triển mới.

CNTB hiện đại là thời kỳ nhằm khắc phục những vấn đề của CNTB “cổ điển” trước chiếntranh thế giới lần thứ hai Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các nước tư bản phát triển đều nhấnmạnh đến điều tiết nhà nước đối với thị trường, tạo ra các hệ thống phúc lợi, bảo hiểm để sốđông người có thể sống và chịu đựng được trong xã hội hiện đại

CNTB hiện đại là giai đoạn tạo ra được nền kinh tế tri thức, chuyển mạnh sản xuất ở trình độ

cơ khí sang tin học hóa và từ đây toàn cầu hóa kinh tế với tính cách là cấp độ phát triển cao hơncủa xu thế quốc tế hóa ngày càng phát triển Cùng với đó, hệ thống quyền lực nhà nước tư bảnthực hiện chức năng xã hội ngày một rộng lớn với nền hành chính công chính sách công có hiệuquả cao

Để làm dịu các mâu thuẫn kinh tế, chính trị, xã hội, CNTB hiện đại đã tiến hành nhiều biệnpháp điều chỉnh nhưng không làm thay đổi bản chất của CNTB Nhà nước tư sản càng điềuchỉnh thì cũng càng bộc lộ mâu thuẫn của nó với sự phát triển xã hội Sự áp bức bóc lột củaCNTB ngày càng tinh vi và nặng nề hơn Cuộc đấu tranh giành giật thị trường giữa các nước tưbản diễn ra gay gắt và quyết liệt

Hệ thống thế giới của CNTB hiện đại bao gồm nhiều quốc gia phát triển ở những trình độkhác nhau Trong số đó, có 30 nước thuộc tổ chức OECD là những nước tư bản phát triển Đặcbiệt có nhóm 7 nước tư bản phát triển cao nhất (G7) là Mỹ, Nhật Bản, Anh, Đức, Pháp, Ý,Canađa đang chi phối lớn đời sống quan hệ quốc tế trên các phương diện kinh tế - thương mại,chính trị, quân sự, an ninh và khoa học – công nghệ Hiện nay, do sự xuất hiện của nhiều nềnkinh tế mới nổi lên khá mạnh mẽ như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Braxin, Nam Phi,… nên người

ta thường nói đến các cơ chế tương tác của G8, G20, BRICS nhưng dù sao G7 vẫn là một nhómnước có thực lực mạnh nhất và có cơ chế phối hợp chặt chẽ nhất Với sự phát triển không đềugiữa các nước diễn ra nhanh chóng đã làm xuất hiện nhiều nước và vùng lãnh thổ công nghiệpmới (NICs) ở Châu Á và Mỹ Latinh Thực tế này làm gia tăng sức mạnh cho CNTB hiện đại Các nước tư bản phát triển hiện chiếm khoảng 20% dân số thế giới, nhưng nắm giữ đến 86%tổng giá trị thu nhập quốc dân toàn thế giới và trên 80% thành tựu mới của cách mạng khoa học– công nghệ, do vậy họ có vai trò lớn trong đời sống quan hệ quốc tế Hàng năm có hơn 1 nghìn

tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài lưu chuyển trên thế giới, phần lớn là của các nước tư bản pháttriển Các nước này thành lập câu lạc bộ các nước chủ nợ để phát huy vị thế của mình trêntrường quốc tế và bảo đảm lợi ích quốc gia của họ

Với sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự, khoa học – công nghệ, các nước tư bản phát triểnnắm quyền chi phối các tổ chức quốc tế lớn như: Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹtiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Ba trung tâm quyền lực kinh tế,chính trị của chủ nghĩa tư bản hiện đại là Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản ngày càng tác động mạnh mẽđến quá trình vận động của thế giới đương đại Sau chiến tranh lạnh, Mỹ trở thành siêu cườngduy nhất, có sức mạnh nhiều mặt vượt trội, do đó Mỹ tham vọng thiết lập trật tự thế giới một cực

do mình thống trị Chính sách đơn phương áp đặt, cường quyền của Mỹ hiện nay làm cho rấtnhiều quốc gia trên thế giới quan ngại

Mặc dù còn khả năng phát triển nhưng CNTB hiện đại vẫn tiếp tục chứa đựng trong lòng nónhiều mâu thuẫn, khó khăn gay gắt, phức tạp và những giới hạn lịch sử mà nó không thể nàovượt qua được CNTB hiện đại thực hiện được một bước phát triển thì càng tạo ra những gìkhông dung được với chính bản thân nó Từ góc nhìn này, CNTB hiện đại là CNTB chốngCNTB, là CNTB hướng tới hậu tư bản, phi tư bản Chiến tranh, môi sinh, bất bình đẳng, pháttriển vì con người,… biết bao nhiêu vấn đề có tính sống còn phải khắc phục trong các lĩnh vựctrên, và sự khắc phục này về cơ bản là khắc phục chính CNTB hiện đại

CNTB hiện đại dù có tạo ra sự phát triển như đã có, đang có, nhưng cũng luôn tạo ra sự mấtcân bằng và sự mất cân bằng đã đến mức “đang động chạm đến chính sự tồn tại của cả hành tinh

Trang 14

và loài người” Không phải các nhà nước tư bản tìm tòi, thích ứng mà xu thế phát triển của lịch

sử nhân loại đã đặt ra một vấn đề mới, một giai đoạn mới để chuyển đổi chất lượng nhà nước vàchế độ xã hội theo yêu cầu phát triển vì con người, vì đa số của lịch sử đương đại Như vậy,trong lòng CNTB hiện đại đang nảy sinh các quá trình mang tính xu hướng khách quan Theo

đó, quá trình trí tuệ hóa lao động dẫn đến đòi hỏi hình thành các nhân cách tự do một cách phổbiến Quá trình xã hội hóa kinh tế dẫn đến đòi hỏi phải kết hợp hài hòa mọi lợi ích, huy độngtoàn bộ các nguồn lực xã hội để phát triển Do đó, phát triển không thể chỉ vì lợi ích của thiểu

số Quá trình nhà nước phải thực hiện chức năng xã hội ngày càng nhiều, phải trở thành quyềnlực công thực sự Quá trình quốc tế hóa sẽ là quá trình làm cho các nguồn lực quốc gia dân tộchợp tác cùng phát triển thay vì nô dịch, cưỡng đoạt các quốc gia dân tộc nhỏ, yếu

Các mâu thuẫn của CNTB hiện đại đang dẫn chế độ đó đến chỗ đối lập với toàn bộ những lợiích thiết thân của nhân dân lao động và toàn thể nhân loại CNTB hiện đại ngày càng làm nảysinh thêm những nhân tố, những mầm mống cách mạng mới phủ định nó với tính cách là mộthình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử Xu hướng vận động khách quan của chủ nghĩa tư bảnhiện đại đã và đang chuẩn bị tiền đề không chỉ vật chất – kỹ thuật, mà cả những nhân tố hợp lýtrong thiết chế chính trị, nhà nước cho CNXH

-Những thành tựu, giới hạn và xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn hiện nay

1 Những thành tựu chủ nghĩa tư bản đạt được trong sự vận động đầy mâu thuẫn

Trong quá trình phát triển, nếu chưa xét đến hậu quả nghiêm trọng đã gây ra đối với loài người,thì chủ nghĩa tư bản vẫn có những mặt tích cực đối với sản xuất Đó là:

– Thực hiện xã hội hóa sản xuất

Quá trình xã hội hóa sản xuất biểu hiện ở sự phát triển phân công lao động xã hội, hợp tác laođộng, tập trung hóa, liên hiệp hoá sản xuất… làm cho các quá trình sản xuất phân tán được liên kết vào một hệ thống sản xuất, một quá trình sản xuất xã hội

– Phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội Dưới sự tác động của quy luật giá trị thặng dư và các quy luật kinh tế khác của cơ chế thị trường, một mặt, giai cấp tưsản tăng cường bóc lột, làm giàu nhanh chóng; mặt khác, những nhân tố đó có tác động mạnh

mẽ thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, tiến bộ khoa học – công nghệ và tăng năng suất laođộng xã hội

– Chuyển sản xuất nhỏ thành sản xuất lớn hiện đại

Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ: kỹ thuật cơ khí thay kỹ thuật thủ công lạc hậu, rồi từ cơ khí chuyển dần sang tự động hoá,tin học hoá, công nghệ hiện đại Đồng thời nền sản xuất cũng được xã hội hóa ngày càng cao, có

sự điều tiết thống nhất Đó chính là quá trình chuyển nền sản xuất nhỏ thành nền sản xuất lớnhiện đại

Tuy nhiên, những thành tựu chủ nghĩa tư bản đạt được trong sự vận động đầy mâu thuẫn.Điều đó biểu hiện ở hai xu hướng trái ngược nhau; đó là:

Xu thế phát triển nhanh chóng của nền kinh tế biểu hiện ở chỗ: trong nền kinh tế tư bản chủnghĩa thế giới đã xuất hiện thời kỳ tăng trưởng với tốc độ cao hiếm thấy Nguyên nhân của xu thế này là do: yêu cầu nội tại và xu thế tăng nhanh tốc độ của việc phát triển lực lượngsản xuất gắn với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ; quá trình vận hành của nền kinh tế tưbản chủ nghĩa bao hàm những nhân tố kích thích sự phát triển kinh tế; tác dụng can thiệp và

Trang 15

điều chỉnh cục bộ đối với quan hệ sản xuất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước; việc mở rộng thị trường trong nước và quốc tế

Xu thế trì trệ của nền kinh tế Đó là vì sự thống trị độc quyền đã tạo ra những nhân

tố ngăn cản sự tiến bộ kỹ thuật và phát triển sản xuất Tư bản độc quyền có thể thông qua những biện pháp như giá cả độc quyền, hạn chế sản lượng và mua phát minh kỹthuật… thông qua tổ chức độc quyền và các thủ đoạn trao đổi không ngang giá… để thu lợi nhuận cao một cách ổn định từ trong và ngoài nước Tất cả những cái đó đã làm mất tácdụng ở mức độ nhất định những nhân tố thúc đẩy kỹ thuật, sản xuất tiến bộ Ngày nay, những nhân tố nêu trên vẫn tồn tại và tiếp tục tác động, biểu hiện là: tốc độ tăng trưởng kinh

tế lạc hậu nhiều so với khả năng mà khoa học và công nghệ hiện đại cho phép

2 Giới hạn và hậu quả chủ nghĩa tư bản gây ra

Bên cạnh mặt tích cực nói trên, chủ nghĩa tư bản cũng đứng trước những giới hạn mà

nó không thể vượt qua

Giới hạn lịch sử của chủ nghĩa tư bản bắt nguồn từ mâu thuẫn kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản: mâu thuẫn giữa tính chất và trình độ xã hội hóa cao của lực lượng sảnxuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Mặc dù chủ nghĩa tưbản ngày nay đã có sự điều chỉnh nhất định trong những hình thức quan hệ sở hữu, quản lý vàphân phối nhưng vẫn không thể khắc phục được mâu thuẫn khách quan này

Mâu thuẫn cơ bản nói trên biểu hiện ra thành những mâu thuẫn cụ thể sau đây:

Một là, mâu thuẫn giữa tư bản và lao động: sự phân cực giàu – nghèo và tình trạng bấtcông xã hội tăng lên chứng tỏ bản chất bóc lột giá trị thặng dư vẫn tồn tại, dù được biểu hiệndưới những hình thức tinh vi hơn Cả sự bần cùng hoá tuyệt đối lẫn tương đối của giai cấp côngnhân vẫn đang tồn tại Tuy đại bộ phận tầng lớp trí thức và lao động có kỹ năng đang có việc làm được cải thiện mức sống và gia nhập vào tầng lớp trung lưu, nhưng vẫn không xoáđược sự phân hóa giàu – nghèo sâu sắc

Hai là, mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc Ngày nay,mâu thuẫn này đang chuyển thành mâu thuẫn giữa các nước chậm phát triển bị lệ thuộc vớinhững nước đế quốc Nhiều nước chậm phát triển không những bị vơ vét cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, mà còn mắc nợ không thể nào trả được

Ba là, mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa với nhau, chủ yếu là giữa ba trung tâm kinh tế,chính trị hàng đầu của thế giới tư bản, giữa các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia Mâu thuẫn này

có phần dịu đi trong thời kỳ còn tồn tại sự đối đầu giữa hai hệ thống thế giới tư bản chủ nghĩa

và xã hội chủ nghĩa, nay có

chiều hướng diễn biến phức tạp Một mặt, sự phát triển của xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh

tế và đòi hỏi của cách mạng khoa học và công nghệ khiến các nước đó phải liên kết với nhau Mặt khác, do tác động của quy luật phát triển không đều và lợi ích cục bộ của giai cấpthống trị ở mỗi nước, các nước đó đã trở thành đối thủ cạnh tranh với nhau, tranh giành quyền lực và phạm vi ảnh hưởng trên thế giới, nhất là giữa ba trung tâm Mỹ, Nhật Bản vàTây Âu Biểu hiện của mâu thuẫn giữa các nước ấy trước hết là các cuộc chiến tranh thươngmại, cạnh tranh giữa các công ty xuyên quốc gia dưới nhiều hình thức, trên thị trường chứng khoán, nơi đầu tư có lợi…

Bốn là, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội Mâu thuẫn này là mâu thuẫnxuyên suốt thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Chế độ xã hội chủnghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ khiến chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào, nhưng

Trang 16

bản chất thời đại không hề thay đổi Do đó mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hộivẫn tồn tại một cách khách quan

3 Xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản

Chủ nghĩa tư bản trong quá trình phát triển của nó, một mặt đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển rất mạnh mẽ, tạo ra cơ sở vật chất – kỹ thuật của nền sản xuất lớn hiện đại; mặt khác làm cho mâu thuẫn cơ bản của nó – mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với tính chất chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa

về tư liệu sản xuất thêm gay gắt

Ngày nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học, công nghệ, thị trường, đang có khả năng thích nghi và phát triển trong chừng mực nhất định; chủnghĩa tư bản cũng đã buộc phải thực hiện một số điều chỉnh giới hạn về quan hệ sản xuất, trongkhuôn khổ của chủ nghĩa tư bản, song không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có của nó,không thể vượt quá giới hạn lịch sử của nó

Mặt khác, các quốc gia độc lập ngày càng tăng cường cuộc đấu tranh để tự lựa chọn và quyếtđịnh con đường phát triển tiến bộ của mình Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài họcthành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện vàkhả năng tạo ra bước phát triển mới Vì vậy, sớm hay muộn chủ nghĩa tư bản cũng sẽ bị thay thế bằng một chế độ mới, cao hơn – xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn thấp là chủnghĩa xã hội

Trang 17

-Những biểu hiện mới của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn hiện nay

Xét về phương diện lịch sử, chủ nghĩa tư bản vào những thập kỷ cuối thế kỷ XX trở lại đây đã

có những biến đổi sâu sắc, có thể coi như một bước phát triển mới của chủ nghĩa tư bản độcquyền nhà nước

1 Những biểu hiện mới trong năm đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền

a) Sự tập trung sản xuất và sự thống trị của các tổ chức độc quyền: sự xuất hiện ngày càng nhiều những công ty độc quyền xuyên quốc gia bên cạnh sự phát triển của các xí nghiệp vừa và nhỏ

Hiện tượng liên kết đa dạng tiếp tục phát triển, sức mạnh của các consơn và cônglômêrát ngày càng được tăng cường Cách mạng khoa học và công nghệ dường như biểu lộ thành hai

xu hướng đối lập nhau nhưng thực ra là thống nhất với nhau: xu hướng tập trung và xu hướngphi tập trung hóa

Sự xuất hiện nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ là do:

Thứ nhất, việc ứng dụng các thành tựu cách mạng khoa học và công nghệ cho phép tiêu chuẩnhóa và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng sâu rộng, dẫn tới hình thành hệ thống gia công, nhất

là trong những ngành sản xuất ô tô, máy bay, đồ điện, cơ khí, dệt, may mặc, đồ trang sức, xâydựng nhà ở

Nhìn bề ngoài, dường như đó là hiện tượng “phi tập trung hóa”, nhưng thực chất đó chỉ là mộtbiểu hiện mới của sự tập trung sản xuất, trong đó các hãng vừa và nhỏ lệ thuộc và chịu sự chiphối của các chủ hãng lớn về công nghệ, vốn, thị trường, v.v

Thứ hai, những ưu thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong cơ chế thị trường Những doanhnghiệp vừa và nhỏ nhạy cảm với thay đổi trong sản xuất, linh hoạt ứng phó với tình hình biếnđộng của thị trường, mạnh dạn trong việc đầu tư vào những ngành mới đòi hỏi sựmạo hiểm, kể cả những ngành lúc đầu ít lợi nhuận và những ngành sản phẩm đáp ứng nhucầu cá biệt Các doanh nghiệp nhỏ dễ dàng đổi mới trang bị kỹ thuật mà không cần nhiều chi phí

bổ sung

b) Sự thay đổi trong các hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của tư bản tài chính

Thích ứng với sự biến đổi mới, hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của tư bản tài chính đã thay đổi Sự thay đổi diễn ra ngay trong quá trình liên kết và thâm nhập vào nhau giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp Ngày nay, phạm vi liên kết được mở rộng ra nhiều ngành, do đó các tập đoàn tài chính thường tồn tại dưới hình thức những tổhợp đa dạng kiểu công – nông – thương – tín – dịch vụ hay công nghiệp – quân sự – dịch vụquốc phòng Nội dung của sự liên kết cũng đa dạng hơn, tinh vi hơn, phức tạp hơn Vai trò kinh

tế và chính trị của tư bản tài chính ngày càng lớn, không chỉ trong khuôn khổ quốc gia mà cònảnh hưởng mạnh mẽ tới các nước khác trên thế giới Trùm tài chính không chỉ tăng cường địa vị thống trị về kinh tế mà còn tăng cường sự khống chế và lợi dụng chínhquyền nhà nước Trong chính phủ, họ có nhiều người đại diện hơn, hơn nữa, việc tự mình đảmnhiệm các chức vụ quan trọng trong chính phủ ngày càng phổ biến Để bành trướng ra thế giới

và thích ứng với quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế, các tập đoàn tư bản tài chính đã thànhlập các ngân hàng đa quốc gia và xuyên quốc gia, tạo điều kiện cho các công ty xuyên quốc giathâm nhập vào các nước khác, đặc biệt là Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế(IMF) Hoạt động của các tập đoàn tài chính quốc tế đã dẫn đến sự ra đời các trung tâm tài chínhcủa thế giới như: Nhật Bản, Mỹ, Cộng hoà Liên bang Đức, Hồng Kông, Singapo…

Trang 18

c) Xuất khẩu tư bản vẫn là cơ sở của tư bản độc quyền nhưng quy mô, chiều hướng và kết cấu của việc xuất khẩu tư bản đã có bước phát triển mới

Có sự tăng trưởng rất nhanh của việc xuất khẩu tư bản của các nước tư bản phát triển Nguyênnhân của quy mô xuất khẩu tư bản ngày càng lớn, một mặt, là do cuộc cách mạng khoa học vàcông nghệ mới đã thúc đẩy sự phát triển của việc phân công quốc tế, việc quốc tế hoá sản xuất

và việc tăng nhanh tư bản “dư thừa” trong các nước; mặt khác là do sự tan rã của hệ thống thuộc địa cũ sau chiến tranh

Chiều hướng xuất khẩu tư bản cũng có những thay đổi rõ rệt Trước kia, luồng tư bản xuất khẩuchủ yếu từ các nước tư bản chủ nghĩa phát triển sang các nước kém phát triển (khoảng 70%).Nhưng từ sau những năm 70 của thế kỷ XX, 3/4 tư bản xuất khẩu được đầu tư vào các nước pháttriển, mở đầu bằng việc tư bản quay trở lại Tây Âu

Từ những năm 70, của thế kỷ XX đại bộ phận dòng tư bản lại chảy qua

chảy lại giữa các nước tư bản chủ nghĩa phát triển với nhau Nguyên nhân chủ yếu của sựchuyển hướng đầu tư nói trên là:

– Về phía các nước đang phát triển, phần lớn những nước này ở trong tình hình chính trị thiếu ổnđịnh; thiếu môi trường đầu tư an toàn và thuận lợi; thiếu đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học –

kỹ thuật, công nhân lành nghề; trình độ dân trí thấp và tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân ít,không đủ mức cần thiết để tiếp nhận đầu tư nước ngoài

– Về phía các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ làmxuất hiện nhiều ngành sản xuất và dịch vụ mới, nhất là những ngành có hàm lượng khoa họccao, đòi hỏi lượng vốn lớn để đầu tư vào nghiên cứu khoa học – kỹ thuật và sản xuất Có một sự

di chuyển vốn trong nội bộ các công ty độc quyền xuyên quốc gia Các công ty này cắm chinhánh ở nhiều nước, nhưng phần lớn chi nhánh của chúng đặt ở các nước tư bản chủ nghĩa pháttriển Để vượt qua những hàng rào bảo hộ mậu dịch và khắc phục những trở ngại do việc hìnhthành các khối liên kết như EU, NAFTA… các công ty xuyên quốc gia đã đưa tư bản vào trongcác khối đó để phát triển sản xuất

Tuy nhiên, một loạt công ty ở các nước Anh, Pháp, Hà Lan… đã vượt qua cả lệnh cấm vận của

Mỹ để đầu tư vào các nước đang phát triển Chẳng hạn họ đầu tư thăm dò và khai thác dầu khí ởViệt Nam – đó là bằng chứng rõ rệt chứng minh cho xu hướng trên Sở dĩ như vậy là vì tìnhtrạng thiếu dầu khí và những kim loại quý hiếm vẫn đang là “gót chân Asin” của nền kinh tế cácnước tư bản chủ nghĩa phát triển, trong khi đó các nước đang phát triển giàu tài nguyên lại thiếuvốn và kỹ thuật để khai thác, và nguồn lợi cao từ lĩnh vực này đối với cả hai phía

d) Sự phân chia thế giới giữa các liên minh của chủ nghĩa tư bản: xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá ngày càng tăng bên cạnh xu hướng khu vực hóa nền kinh tế

Sức mạnh và phạm vi bành trướng của các công ty độc quyền xuyên quốc gia tăng lên càng thúcđẩy xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế và sự phân chia phạm vi ảnh hưởng giữa chúng vớinhau, đồng thời thúc đẩy việc hình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước quốc tế

Cùng với xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá đời sống kinh tế lại diễn ra hiện tượng khu vựchóa, hình thành ngày càng nhiều liên minh kinh tế khu vực như: Liên hợp châu Âu (EU), Hiệphội các nước Đông Nam á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu á – Thái Bình Dương(APEC)… Ngày càng có nhiều nước tham gia vào các Liên minh Mậu dịch tự do (FTA) hoặccác Liên minh Thuế quan (CU) FTA là khu vực trong đó các nước thành viên cam kết xoá bỏhàng rào thuế quan đối với hàng hóa của nhau CU là liên minh trong đó các nước thành viên cómức thuế chung đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước ngoài khối Các liên minh kinh tế khu

Trang 19

vực hấp dẫn nhiều chính phủ vì chúng có nhiều ưu thế hơn so với tiến trình tự do hoá thươngmại toàn cầu.

e) Sự phân chia thế giới giữa các cường quốc vẫn tiếp tục dưới những hình thức cạnh tranh và thống trị mới

Tuy chủ nghĩa thực dân cũ đã hoàn toàn sụp đổ và chủ nghĩa thực dân mới đã suy yếu, nhưng các cường quốc tư bản chủ nghĩa, khi ngấm ngầm, lúc công khai, vẫn tranh giành nhauphạm vi ảnh hưởng bằng cách thực hiện “Chiến lược biên giới mềm”, ra sức bành trướng “biêngiới kinh tế” rộng hơn biên giới địa lý, ràng buộc, chi phối các nước kém phát triển từ sự lệthuộc về vốn, công nghệ đi đến sự lệ thuộc về chính trị vào các cường quốc

Chiến tranh lạnh kết thúc, nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi, nhưng lại được thay thế bằng những cuộc chiến tranh khu vực, chiến tranh thương mại, những cuộc chiến tranhsắc tộc, tôn giáo mà đứng trong hoặc núp sau các cuộc đụng độ đó là các cường quốc đế quốc Những cuộc tấn công của Mỹ và đồng minh vào ápganixtan, Irắc… chứng tỏ chủ nghĩa đế quốcvẫn là một đặc điểm trong giai đoạn phát triển hiện nay của chủ nghĩa tư bản

Tóm lại, dù có những biểu hiện mới, chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn hiện nay vẫn là chủ nghĩa

tư bản độc quyền Những biểu hiện mới đó chỉ là sự phát triển của năm đặc điểm cơ bản củachủ nghĩa tư bản độc quyền mà thôi

2 Những biểu hiện mới trong cơ chế điều tiết kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước

Trong giai đoạn hiện nay, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước có những biểu hiện mới sauđây:

– Các hình thức của kinh tế thuộc nhà nước trong nền kinh tế quốc dân ngày càng trở nên đa dạng, nó vừa bao gồm các xí nghiệp thuộc nhà nước trong các ngành sản xuất vật chất, vừa bao gồm các tổ chức tài chính thuộc ngân hàng, ngành kinh tế thứ ba (dịch vụ),cùng những công trình cơ sở hạ tầng xã hội mới xây dựng do nhà nước tư bản chủ nghĩa đầu tư – Kinh tế thuộc nhà nước và tư nhân kết hợp tăng lên mạnh mẽ Năm 1979, trong 40 công tycông nghiệp lớn nhất của Tây Âu có 7 công ty hỗn hợp vốn giữa nhà nước và tư nhân, trong đóvốn nhà nước chiếm khoảng một nửa Trong công ty dầu lửa của Mỹ, cổ phần do Chính phủ nắm là 46% ở Cộng hoà Liên bang Đức đã có 1.000 xí nghiệp thuộc Nhà nước và tưnhân kết hợp

– Chi tiêu tài chính của các nhà nước tư bản phát triển dùng để điều tiết quá trình tái sản xuất

xã hội tăng lên nhiều Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, khoản chi này chiếm khoảng 10% tỷ trọng tổng giá trị sản phẩm quốc dân, thì đến đầu những năm 1980,khoản chi này đã chiếm hơn 30%, cá biệt có nước vượt quá 50%

– Phương thức điều tiết của nhà nước linh hoạt, mềm dẻo hơn với phạm vi rộng hơn

Phương thức điều tiết của nhà nước cũng thay đổi một cách linh hoạt, mềm dẻo hơn, kết hợpđiều tiết tình thế với điều tiết dài hạn Các công cụ và phạm vi điều tiết của nhà nước cũng đadạng và mở rộng hơn

Trang 20

-Phân tích vai trò của chủ nghĩa tư bản đối với sự phát triển của nền sản xuất xã hội?

Chủ nghĩa tư bản phát triển qua hai giai đoạn: chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do và chủ nghĩa tưbản độc quyền, mà nấc thang tột cùng của nó là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước

Trong suốt quá trình phát triển, nếu chưa xét đến hậu quả nghiêm trọng đã gây ra đối với loàingười thì chủ nghĩa tư bản cũng có những đóng góp tích cực đối với phát triển sản xuất Đó là:– Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản đã giải phóng loài người khỏi “đêm trường trung cổ” của xãhội phong kiến: đoạn tuyệt với nền kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp chuyển sang phát triển kinh tếhàng hoá tư bản chủ nghĩa: chuyển sản xuất nhỏ thành sản xuất lớn hiện đại Dưới tác động củaquy luật giá trị thặng dư và các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá, chủ nghĩa tư bản đã làmtăng năng suất lao động, tạo ra khối lượng của cải vật chất khổng lồ

– Phát triển lực lượng sản xuất

Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ vốitrình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao: từ kỹ thuật thủ công lên kỹ thuật cơ khí (thời kỳcủa C Mác và V.I Lênin) và ngày nay các nước tư bản chủ nghĩa cũng đang là những quốc gia

đi đầu trong việc chuyển nền sản xuất của nhân loại từ giai đoạn cơ khí hóa sang giai đoạn tựđộng hoá, tin học hoá và công nghệ hiện đại Cùng với sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ làquá trình giải phóng sức lao động, nâng cao hiệu quả khám phá và chinh phục thiên nhiên củacon người, đưa nền kinh tế của nhân loại bước vào một thời đại mới: thời đại của kinh tế trithức

– Thực hiện xã hội hoá sản xuất

Chủ nghĩa tư bản đã thúc đẩy nền sản xuất hàng hoá phát triển mạnh và đạt tới mức điển hìnhnhất trong lịch sử, cùng với nó là quá trình xã hội hoá sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu Đó là

sự phát triển của phân công lao động xã hội, sản xuất tập trung với quy mô hợp lý, chuyên mônhoá sản xuất và hợp tác lao động sâu sắc, mối liên hệ kinh tế giữa các đơn vị, các ngành, các lĩnhvực ngày càng chặt chẽ… làm cho các quá trình sản xuất phân tán được liên kết với nhau và phụthuộc lẫn nhau thành một hệ thống, thành một quá trình sản xuất xã hội

– Chủ nghĩa tư bản thông qua cuộc cách mạng công nghiệp đã lần đầu tiên biết tổ chức laođộng theo kiểu công xưởng, do đó dã xây dựng được tác phong công nghiệp cho người lao động,làm thay đổi nền nếp thói quen của người lao động sản xuất nhỏ trong xã hội phong kiến

– Chủ nghĩa tư bản lần đầu tiên trong lịch sử đã thiết lập nên nền dân chủ tư sản Nền dân chủnày tuy chưa phải là hoàn hảo song so với thể chế chính trị trong các xã hội phong kiến, nô lệ,vẫn tiến bộ hơn rất nhiều bởi vì nó được xây dựng trên cơ sở thừa nhận quyền tự do thân thể của

cá nhân

Tóm lại, chủ nghĩa tư bản ngày nay – với những thành tựu và đóng góp của nó đối với sự pháttriển của nền sản xuất xã hội, là sự chuẩn bị tốt nhất những điều kiện, tiền đề cho sự ra đời củachủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Nhưng bước chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủnghĩa xã hội vẫn phải thông qua các cuộc cách mạng xã hội Dĩ nhiên, cuộc cách mạng xã hội sẽdiễn ra bằng phương pháp nào – hoà bình hay bạo lực, điều đó hoàn toàn tuỳ thuộc vào nhữnghoàn cảnh lịch sử – cụ thể của từng nước và bối cảnh quốc tế chung từng thời điểm, vào sự lựachọn của các lực lượng cách mạng

Trang 21

Câu 6: Đồng chí hãy nêu thực trạng của Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế từ sau Chiến tranh lạnh đến nay.

Sau sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, một thời kỳ mới của phong tràocộng sản quốc tế đã đến với nhiều thử thách, khó khăn và thời cơ thuận lợi mới

* Những thành tựu đạt được

1 Các đảng cộng sản cầm quyền lãnh đạo sự nghiệp cải cách, đổi mới xây dựng và bảo vệ CNXH

Tại các nước đi lên xây dựng CNXH như Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Lào và Cộng hòa

Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, công cuộc cải cách, đổi mới xây dựng và phát triển kinh tế - xã

hội tuy diễn ra ở những thời điểm khác nhau, nhưng đạt được nhiều thành tựu quan trọng Do

đó, vai trò và ảnh hưởng của CNXH trên thế giới từng bước được củng cố Các nước XHCN donâng cao được vị thế quốc tế nên ngày càng trở thành những chủ thể quan trọng của quan hệquốc tế hiện đại Nhiều nước đã chủ động điều chỉnh và đổi mới đường lối, chính sách đối ngoạitheo hướng giữ vững độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, hội nhập với khuvực và thế giới

Trung Quốc, với tổng số hơn 82 triệu đảng viên, Đảng Cộng sản Trung Quốc giữ vững vai tròlãnh đạo sự nghiệp cải cách, mở cửa, xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc Về mặt thực tiễn,đất nước Trung Quốc ngày càng được khẳng định là cường quốc kinh tế, chính trị, quân sự trênthế giới, đời sống người lao động được cải thiện mọi mặt; xã hội ngày càng hiện đại; những ưuviệt của chế độ XHCN được đảm bảo ngày càng tốt hơn; CNXH vẫn tiếp tục là một quá trìnhhiện thực đối với 1/5 dân số toàn cầu Năm 2012 là 7426,09 tỷ USD vượt qua GDP của NhậtBản là 4.305 tỷ USD (tính theo PPP) để chiếm vị trí nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Giới phântích dự báo, năm 2020 tổng GDP của Trung Quốc là 20.000 tỷ USD

Đảng và nhân dân Việt Nam kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, kiên trì chủ nghĩaMác-Lênin, tư tưởng HCM, đã bảo vệ CNXH bằng phương thức hữu hiệu nhất là phát triển nóngang tầm với đòi hỏi của dân tộc và của thời đại trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn.Công cuộc đổi mới sau gần 30 năm thu được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử ViệtNam đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhậptrung bình, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010, kinh tế tăngtrưởng nhanh đạt tốc độ bình quan 7,26%/năm Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010theo giá thực tế gấp 3,26 lần so với năm 2000, GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 1.168USD Về đối ngoại, từ chỗ bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã bình thường hóa, phát triểnquan hệ đa phương, đa dạng với tất cả các nước trên cơ sở giữ vững độc lập dân tộc, chủđộng và tích cực hội nhập với khu vực và thế giới Con đường đi lên CNXH ở Việt Namngày càng được xác định rõ hơn

Lào Đi lên từ điểm xuất phát rất thấp cả về kinh tế lẫn phát triển xã hội, ngay từ khi tiến hành đổi

mới (1986), Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã có nhiều nỗ lực lãnh đạo xây dựng kinh tế - xã

hội, giữ vững ổn định chính trị và định hướng XHCN Tổng kết 20 năm đổi mới, Đảng Nhândân Cách mạng Lào khẳng định: đã xác định phương hướng đúng đắn về chuyển từ nền kinh tếtập trung sang kinh tế hàng hóa, vận dụng cơ chế thị trường trên cơ sở tăng cường vai trò quản

lý của Nhà nước, phân định rõ vai trò quản lý vĩ mô và vai trò quản lý vi mô của đơn vị kinh tế,

cơ chế thị trường đã tạo cho hệ thống kinh tế hoạt động sinh động và có hiệu quả cao, tạo điềukiện và khả năng mới cho việc mở rộng quan hệ hợp tác cũng như sự hội nhập với các nướctrong khu vực và thế giới11 Đánh giá thành tựu sau 25 năm đổi mới đất nước (1986-2011) Đạihội lần thứ IX của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (2011) đã đánh giá thành tựu 5 năm của Đạihội VIII là: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Lào tăng 7,9%/năm, đạt bình quân đầu người

1 1 Xem Đảng Nhân dân Cách mạng Lào: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, tháng 3-2006.

Trang 22

8,35 triệu kip (vượt chỉ tiêu đề ra); kinh tế vĩ mô ổn định, chương trình giảm nghèo đạt kết quảtốt

Cuba Cách mạng và chế độ XHCN của Cuba tiếp tục được bảo vệ, duy trì, củng cố và phát

triển trong suốt hơn nửa thế kỷ qua

Hội nghị Trung ương 6 khóa V (2008) của Đảng Cộng sản Cuba nêu chủ trương tiến hành cảicách kinh tế với phương châm “thận trọng và chắc chắn” Tháng 6-2008, Quốc hội Cuba đãthông qua một số chủ trương về cải cách cơ chế và chính sách khuyến khích phát triển sản xuấtnông nghiệp, chính sách tiền lương và chính sách tiền tệ Và gần đây nhất là hoạt động bìnhthường hóa quan hệ với Mỹ đã được tiến hành, hứa hẹn một tương lai nhiều triển vọng cho đất

nước và người dân Cuba CNXH ở Cuba từng bước vượt qua nhiều thách thức lớn, đồng thời đạt

nhiều thành tựu khích lệ trong phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, đặc biệt trong các lĩnh vực y

tế, giáo dục, thể thao, du lịch, trở thành tấm gương và nguồn động viên, cổ vũ to lớn đối với cácđảng cộng sản, phong trào cánh tả quốc tế nói chung và ở khu vực Mỹ Latinh nói riêng

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên: là đất nước xây dựng CNXH trong tình trạng bị Mỹ

và phương Tây bao vây, cấm vận, cô lập Song nhân dân Triều Tiên dưới sự lãnh đạo của ĐảngLao động vẫn kiên trì con đường đã lựa chọn và có những thành tựu nhất định trong xây dựng

cơ sở hạ tầng kinh tế, tự chủ một số công nghệ, phát triển tiềm lực quân sự

Các đảng cộng sản cầm quyền cũng đã chủ động tổng kết rút ra những bài học kinh nghiệmthành công cũng như thất bại trong xây dựng CNXH ở Liên Xô, Đông Âu và những kinhnghiệm của chính bản thân mình Từ đây, họ tích cực tìm tòi về lý luận, về thực tiễn con đườngxây dựng CNXH ở nước mình Quá trình tìm tòi, khám phá mô hình phát triển ở các nướcXHCN có nét mang tính đột phá cả về lý luận và thực tiễn Điều này được thể hiện nổi bật nhấttrong việc sử dụng kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển kinh tế - xã hội vàxây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH Trung Quốc xác định mô hình kinh tế thị trườngXHCN, ở Việt Nam - nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, ở Lào - nền sản xuất hàng hóa

đi lên CNXH

Những thành tựu cải cách, đổi mới của các nước XHCN là một thực tế sinh động chứng minhcho sức sống và khả năng tự đổi mới để đi lên của CNXH Các đảng cộng sản và công nhânquốc tế coi đây là nguồn cổ vũ lớn lao, giúp họ củng cố niềm tin vào lý tưởng XHCN Sự tìmtòi, khai phá con đường đi lên CNXH của các đảng cộng sản cầm quyền là một đóng góp có giátrị cả về lý luận và thực tiễn cho việc phát triển CNXH, chủ nghĩa Mác-Lênin trong hoàn cảnhlịch sử mới Điều đó tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá trình phục hồi của phong trào cộng sảnquốc tế, góp phần thiết thực vào việc tìm kiếm những phương thức hoạt động hiệu quả củaphong trào trong giai đoạn hiện nay

2 Quá trình phục hồi và củng cố của phong trào cộng sản ở khu vực Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) và Đông Âu

Sau khi hệ thống XHCH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, hầu hết các đảng cộng sản cũng bị

tan rã, rơi vào tình trạng chia rẽ, phân liệt và suy yếu nghiêm trọng Tuy nhiên, từ giữa thập niên

90 thế kỷ XX bắt đầu diễn ra sự phục hồi và củng cố với mức độ khác nhau của các đảng cộng sản ởkhu vực SNG và Đông Âu

Cụ thể

Trên lãnh thổ Liên bang Nga cho đến nay có 13 đảng cộng sản Trong đó Đảng Cộng sảnLiên bang Nga (KPRF) được thành lập ngày 20-6-1990; Đảng từng có 550 nghìn đảng viên với

cơ cấu tổ chức trong cả nước Trong cuộc các bầu cử Tổng thống Nga (1996, 2000, 2004, 2008

và 2012), ứng cử viên của Đảng KPRF luôn đứng vị trí thứ hai

Liên đoàn các Đảng Cộng sản - Đảng Cộng sản Liên Xô ra đời tháng 3-1993 Từ 14 đảngthành viên lúc mới thành lập, đến nay Liên đoàn có sự tham gia của 19 đảng cộng sản và haiphong trào cánh tả ở hầu hết các nước cộng hòa thuộc Liên xô trước đây trong tư cách là những

Trang 23

thành viên tập thể với trên 1 triệu đảng viên Từ năm 1993 đến nay Liên đoàn đã tổ chức 6 lần

Đại hội

Ngoài ra có sự phục hồi và phát triển của nhiều đảng trong khu vực như ; Đảng Cộng sản

Xlôvakia, Đảng Cộng sản Séc - Môrava , Đảng Cộng sản Ácmênia, Đảng Cộng sản

Tátgikixtan (KPT), Đảng của Những người cộng sản Cộng hòa Mônđôva (PKRM), Đảng của

Những người cộng sản Bêlarút và Đảng Cộng sản Bêlarút v.v…

3 Quá trình phục hồi và củng cố của phong trào cộng sản ở các nước tư bản phát triển

Phong trào cộng sản ở khu vực các nước tư bản phát triển, càng về những năm gần đây càng

có những dấu hiệu phục hồi rõ nét Trong hoàn cảnh còn nhiều khó khăn nội bộ, lại thườngxuyên bị các thế lực thù địch công kích gay gắt, nhưng nhiều đảng cộng sản và công nhân tạikhu vực này vẫn kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin, lý tưởng cộng sản, điều chỉnh chiến lược, sách l-ược đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ lợi ích của các tầng lớp laođộng Đi đầu theo hướng nêu trên phải kể đến những cố gắng của Đảng Cộng sản ở Hy Lạp, TâyBan Nha, Bồ Đào Nha, Đảng Cộng sản Tái lập Italia, Đảng Tiến bộ của nhân dân lao động Síp,Đảng Cộng sản Nhật Bản, v.v

Nhằm tập hợp lực lượng xã hội rộng rãi, các đảng cộng sản và công nhân ở các nước tư bảnphát triển chú trọng mục tiêu đấu tranh vì dân sinh, dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội Nhờvậy, ảnh hưởng và uy tín của nhiều đảng có xu hướng được củng cố, nâng cao Các đảng cộngsản và công nhân ở các nước tư bản phát triển quan tâm đến sự phát triển của xu thế toàn cầuhóa và tác động của nó, đồng thời cũng bày tỏ quan điểm khá rõ ràng về xu thế này Điều đó đ-ược thể hiện trong các cương lĩnh, tuyên bố chính trị, chương trình hành động cũng như văn kiệnđại hội gần đây của nhiều đảng Thừa nhận toàn cầu hóa là xu thế khách quan, song về cơ bản,các đảng cộng sản ở Pháp, Đức, Anh, Hy Lạp và Đảng Tiến bộ của nhân dân lao động Síp đềunhấn mạnh tính chất tư bản chủ nghĩa và những tác động tiêu cực của tiến trình toàn cầu hóađang diễn ra trên thực tế đối với người lao động, đặc biệt ở các nước nghèo, chậm phát triển Do

đó, các đảng này đều xác định phải tích cực tham gia và tìm kiếm một chỗ đứng xứng đángtrong phong trào chống mặt trái tiêu cực của toàn cầu hóa đang diễn ra sôi động hiện nay

4 Quá trình vận động, củng cố và phát triển của phong trào cộng sản ở các nước đang phát triển Á - Phi - Mỹ Latinh

Các đảng cộng sản ở các nước đang phát triển, tuy ra đời sớm và chiếm số lượng đông, nhưngngay trong thời kỳ trước năm 1991, phần lớn đều là các đảng không nắm chính quyền, nhiềuđảng còn phải hoạt động bất hợp pháp và tất cả đều phải đối mặt với tình trạng kém phát triển vềkinh tế - xã hội của đất nước Khó khăn mang tính đặc thù này tăng lên trong những năm đầuthập niên 90, khi phong trào cộng sản ở các nước đang phát triển Á - Phi - Mỹ Latinh không còn

sự hậu thuẫn từ hệ thống XHCN

Phong trào cộng sản Mỹ Latinh - Caribê đã đạt nhiều thành công lớn trong việc tập hợp vàliên minh lực lượng những năm vừa qua Chấp nhận sáng kiến của Đảng Lao động Braxin, đôngđảo các lực lượng cộng sản, công nhân, cánh tả, dân chủ - xã hội, tư sản cấp tiến ở khu vực đãtập hợp lại, thành lập Diễn đàn Sao Paolô (Braxin) của cánh tả khu vực vào tháng 9-1990 Từ 41đảng thành viên sáng lập, qua các 18 kỳ hội nghị từ 1990 đến nay, Diễn đàn Sao Paolô có hơn

130 đảng phái, tổ chức, phong trào ở tất cả các châu lục trên thế giới tham gia

Sau những đảo lộn chính trị ở Liên Xô và Đông Âu, hầu hết các đảng cộng sản ở Trung Đông

và châu Phi từng bước được phục hồi và có sự tập hợp lực lượng mới Các Đảng cộng sản lớnnhất ở Trung Đông và châu Phi hiện nay là Đảng Cộng sản Nam Phi, Đảng Cộng sản Ixraen,Đảng Cộng sản Xiry Đảng Cộng sản Nam Phi hiện nay có khoảng 75 nghìn đảng viên, chiếm53/400 ghế Quốc hội và tham gia chính phủ liên minh Đảng Cộng sản Ixraen có 2 đại biểutrong Quốc hội

* Những hạn chế, thách thức của PTCS và CNQT

Trang 24

Trừ các Đảng cộng sản đang nắm quyền thì các PTCS và CNQT ở cả châu Âu, Châu Mỹlatinh đều còn nhiều hạn chế.

Tuy có sự phục hồi và củng cố quan trọng, nhưng nhìn chung phong trào cộng sản ở SNG và

Đông Âu vẫn đứng trước nhiều khó khăn, hạn chế: Thứ nhất, tuyệt đại đa số các đảng cộng sản

hoạt động trong điều kiện không nắm chính quyền, chưa thực sự chủ động và linh hoạt trong đấu

tranh chính trị Thứ hai, các đảng chưa đi sâu vào quần chúng lao động, chưa nắm được giai cấp

công nhân Đảng Cộng sản về cơ bản chỉ có tổ chức cơ sở ở các địa bàn cư trú, chưa xác lập

được ở các nhà máy, xí nghiệp, cơ quan nhà nước Thứ ba, các đảng chưa nắm được tầng lớp thanh niên, phần lớn đảng viên đều là những người cao tuổi, người nghỉ hưu Thứ tư, trong

từng đảng và giữa các đảng chưa có sự thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức, sự hợp tác

và phối hợp hành động còn hạn chế Thứ năm, chính quyền, các lực lượng cánh hữu và các thế

lực thù địch quốc tế thường xuyên chống phá một cách tinh vi, thâm độc

Bên cạnh sự phục hồi đầy tính năng động, phong trào cộng sản Mỹ Latinh - Caribê vẫn còn

nhiều hạn chế: Thứ nhất là thiếu sự đoàn kết, thống nhất cao, một số nước có vài đảng cộng sản cùng tồn tại (Chilê, Đôminicana, Braxin, Pêru, Paraguay ) Thứ hai là chưa hoàn toàn nắm được ngọn cờ dân tộc Thứ ba là chưa có đường lối và phương án đấu tranh phù hợp đối với từng thời điểm cụ thể Thứ tư là chưa nắm được quần chúng lao động Thứ năm là còn bị trào

lưu xã hội dân chủ tác động một cách tiêu cực

Nói chung khó khăn của PTCS và CNQT đang phải đối mặt là:

- Nhiều đảng chưa thích ứng kịp với cơ chế đa nguyên (1,50đ)

- Nhiều đảng không lập được cơ sở Đảng được ở các cơ quan công quyền, các nhà máy, xínghiệp

- Một số đảng không nắm được thanh niên và đang trong quá trình bị già hóa

- Các đảng đang bị Chính quyền và các lực lượng đối lập chống phá

- Một số phong trào đang thiếu một lực lượng chính trị đủ tầm đứng ra lãnh đạo

Phong trào cộng sản ở khu vực các nước đang phát triển từ năm 1991 đến nay đã vận độngtừng bước, vượt qua những khó khăn, thử thách do cục diện chính trị thế giới đặt ra Nhìnchung, các đảng của phong trào đã phục hồi về mặt tổ chức, điều chỉnh đường lối chiến lược,sách lược phương thức đấu tranh và đã bước đầu thích nghi khá linh hoạt với điều kiện lịch sửmới Mặc dù còn nhiều hạn chế, yếu kém, nhưng thực trạng của phong trào vẫn chứng tỏ giaicấp công nhân và các tầng lớp lao động khác ở thế giới thứ ba là lực lượng chủ yếu trong cuộc đấutranh chống chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, chống đói nghèo, bất công, vì hòa bình, độc lập dântộc, dân sinh, dân chủ và phát triển

-Câu 7: Đồng chí làm rõ vị trí, vai trò của Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế sau chiến tranh lạnh và dự báo triển vọng của phong trào trong thập niên thứ 2 của thế kỷ XXI.

Trước những tác động to lớn của toàn cầu hóa, cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế trithức, sự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản toàn cầu, trào lưu xã hội dân chủ và cuộc khủng hoảngcủa mô hình CNXH hiện thực như đã nêu trên, PTCS và CNQT từ 1991 trở lại đây đang có dấuhiệu phục hồi, tồn tại và phát triển trong điều kiện mới, phong phú về nội dung, đa dạng về hìnhthức thể hiện

Trang 25

Thứ hai: Phong trào đang đứng trướng những cơ hội và thách thức mới của thời đại, đó là sựbiến đổi về lượng dẫn đến biến đổi về chất của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, kết cấukinh tế - xã hội (trong đó có kết cấu giai cấp), thay đổi phương thức sống và phương thức tưduy trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng và cách mạng khoa học công nghệ, sự phát triểncủa kinh tế tri thức, sự điều chỉnh và thích nghi của CNTB, sự khủng hoảng của mô hình CNXHhiện thực và thỏa hiệp của một bộ phận đi theo "con đường thứ ba".

Về cơ hội thời đại tạo ra những tiền đề mới và đưa nhân loại dịch chuyển gần hơn về CNXH.Thách thức là cũng tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đội ngũ công nhân và những người laođộng, dẫn đến phân tán lực lượng, lợi ích và có sự chênh lệch ngày càng lớn về trình độ, điềukiện sống ngay trong lòng GCCN NHững cơ hội và thách thức đó đòi hỏi PTCS và CNQT hiệnnay phải có sự phối hợp trên quy mô toàn cầu để tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận tươngxứng

Thứ ba: Phong trào đã có những bước phát triển mới về lý luận và linh hoạt, sáng tạo tronghoạt động thực tiễn Trước hết, đó là quá trình nhận thức ngày càng đầy đủ, đúng đắn và làmsáng tỏ hơn các vấn đề của thời đại, về quy luật phát triển của bản thân phong trào Đồng thời có

sự tìm tòi và hiện thực hóa con đường đi lên CNXH ở các nước XHCN còn lại, bước đầu đạtđược nhiều thành tựu quan trọng Bên cạnh đó đã tìm ra những hình thức tập hợp lực lượng mớivới những phương thức tổ chức và hoạt động mới trên cơ sở tận dụng cả thành tựu và hạn chếcủa quá trình toàn cầu hóa (đặc biệt là phong trào chống mặt trái của toàn cầu hóa) và cách mạngkhoa học - công nghệ đương đại (đặc biệt là mạng thông tin toàn cầu)

Thứ tư: Phong trào đang tự đổi mới để phục hồi và phát triển Trước hết là sự đổi mới trong tổchức và hoạt động theo hướng linh hoạt, phù hợp với bối cảnh mới Tiếp theo, quan hệ các ĐCS

và công nhân trên thế giới (lực lượng lãnh đạo, hạt nhân của phong trào) từng bước được khôiphục và củng cố; không ngừng quan tâm mở rộng hợp tác, tăng cường phối hợp hành động vàtập hợp lực lượng trên tinh thần chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân Các quan hệ đượcthiết lập trên nhiều cấp độ (song phương, đa phương, khu vực và toàn cầu) và nhiều hình thức(hợp tác, trao đổi, hội nghị, hội thảo, diễn đàn ).Trong đó, nguyên tắc quan trọng nhất trongquan hệ giữa các ĐCS và công nhân hiện nay là độc lập, tự chủ, bình đẳng, ko can thiệp vàocông việc nội bộ của nhau, đoàn kết hợp tác vì lợi ích chung

2 Những triển vọng của phong trào cộng sản quốc tế

Từ thực trạng phong trào cộng sản quốc tế hiện nay, có thể thấy một số xu hướng vận độngcủa phong trào trong thời gian tới:

Một là, phong trào cộng sản quốc tế tuy vẫn chưa vượt ra khỏi khủng hoảng, đồng thời

còn đứng trước nhiều khó khăn, thử thách lớn nhưng phong trào tiếp tục hồi phục, củng cố.Phong trào sẽ vận động thông qua những bước đi, hình thức, cơ chế hoạt động phong phú,linh hoạt, từ việc tìm tòi mô hình CNXH, con đường đấu tranh cách mạng, chiến lược vàsách lược đến tập hợp lực lượng, liên minh giai cấp, phối hợp hành động chung

Hai là, sự vận động tới đây của phong trào sẽ còn quanh co và không đồng đều, về tổng

thể, sẽ có những bước tiến mới trong khi vẫn có thể xảy ra những bước lùi bộ phận Một sốđảng cộng sản và công nhân có thể sẽ giành được thắng lợi trong bầu cử và lên cầm quyền ởmột số nước như đã từng xảy ra ở Nêpan hoặc Mônđôva Nhưng, với so sánh lực lượng ởmỗi nước và trên trường quốc tế trong thập niên tới, những thắng lợi đó (nếu có) mới làthắng lợi trong bầu cử, chưa thể làm thay đổi chế độ chính trị - xã hội với việc giành chínhquyền về tay nhân dân lao động để xây dựng CNXH Các nước XHCN đứng trước cả thời cơcũng như thách thức, nhưng vẫn tiếp tục cải cách, đổi mới với những thành tựu mới, tăngcường được sức mạnh tổng hợp quốc gia, hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thếgiới

Ba là, quá trình tự đổi mới của các đảng cộng sản diễn ra khá toàn diện, trong đó các đảng sẽ

coi trọng hơn đổi mới về lý luận, đường lối chính trị và tổ chức, đồng thời đổi mới các mối quan

Trang 26

hệ đoàn kết, hữu nghị giữa các đảng nhằm tăng cường sự hợp tác, phối hợp cả song phương và

đa phương

Bốn là, các đảng đều nhấn mạnh yêu cầu cấp bách trong việc mở rộng ảnh hưởng của mình

trong giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác, các tổ chức thanh niên, côngđoàn chủ động củng cố cơ sở giai cấp - xã hội, nâng cao vai trò trong đời sống chính trị xã hội

Năm là, triển vọng chung của phong trào cộng sản quốc tế sẽ tùy thuộc chủ yếu vào khả năng

tự đổi mới của các đảng cộng sản và công nhân, vào sự hợp tác và phối hợp hành động giữa cácđảng ở các khu vực và trên thế giới, vào sự phát triển của CNXH hiện thực, vào việc CNXH thểhiện những ưu việt của mình cũng như khả năng sử dụng các thành tựu văn minh nhân loại trongcuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

1.2 Những nhân tố chi phối chính sách đối ngoại sau chiến tranh lạnh:

* Những nhân tố bên trong:

+ Về kinh tế: Mỹ là siêu cường số 1 thế giới về kinh tế; GDP: 17.400 tỷ USD (năm 2014).GDP/người: gần 49.000 USD (năm 2014)

Có vai trò chủ đạo đối với nhiều tổ chức kinh tế, tài chính thương mại của thế giới; có nhiềucông ty xuyên quốc gia nhất thế giới Có ảnh hưởng lớn đối với các tổ chức liên kết toàn cầu.+ Về quân sự: Là siêu cường số 1 thế giới với ngân sách quân sự khổng lồ Mỹ có đội quânthường trực 1,4 triệu người được triển khai ở 1.100 căn cứ quân sự trong nước và 270 nghìnquân trên 209 căn cứ quân sự ở 35 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới,

+ Về KH- CN: là cường quốc dẫn đầu thế giới về KH- CN; chiếm 20/29 lĩnh vực công nghệmũi nhọn của thế giới Hiện nay, ở Mỹ có 3.600 trường đại học, với 500 ngành học khác nhau;chiếm hơn 50% phát minh sáng chế khoa học hàng năm của thế giới; đang ở vị trí dẫn đầu trongngành công nghệ mới như nano, sinh học và vật liệu mới

+ Về chính trị - xã hội: Tương đối ổn định; có nguồn nhân lực dồi dào, có trình độ cao, luônđược bổ sung; có nhiều lợi thế trong nhiều lĩnh vực – Khó khăn:

- Có những khó khăn: thâm hụt ngân sách; thất nghiệp cao; phân hóa giàu – nghèo lớn; nhiềuvấn đề xã hội khác nổi lên: dịch bệnh, đói nghèo,,

*Những nhân tố bên ngoài:

- vị thế siêu cường duy nhất thế giới là nhân tố đóng vai trò chi phối chiến lược và chính sáchđối ngoại của Mỹ sau chiến tranh lạnh; môi trường sau chiến tranh lạnh có nhiều thuận lợi cho

Mỹ theo đuổi tham vọng bá chủ thế giới

- Với tư cách là siêu cường thế giới duy nhất, trước mắt Mỹ không gặp phải thách thức quân

sự - an ninh từ bất cứ nước lớn nào Tuy nhiên, Mỹ lại đang đứng trước những đe dọa an ninhmới, được coi là “phi truyền thống, không cân xứng” Đó là việc không ngăn chặn được sự phổbiến vũ khí giết người hàng loạt; sự gia tăng chủ nghĩa khủng bố quốc tế, tội phạm có tổ chức,xung đột lãnh thổ, sắc tộc, tôn giáo, nạn “tin tặc” Đó là sự đe dọa an ninh liên quan đến các vấn

đề phát triển, nghèo đói, dòng người di cư, sự hủy diệt môi trường sinh thái Giới cầm quyền Mỹ

Trang 27

còn cho rằng các “nhà nước ngoan cố, cứng đầu” ở thế giới “đang phát triển” đang tiềm ẩnnhững mối đe dọa an ninh đối với Mỹ

- Các quốc gia độc lập, có chủ quyền đang khẳng định vị thế là những chủ thể có vai trò ngàycàng tăng trong hệ thống các quan hệ quốc tế hiện đại Ý thức độc lập tự chủ, tự cường quốc gia,

tự cường khu vực của các nước vừa và nhỏ, đang phát triển trỗi dậy mạnh mẽ Đồng thời, cùngvới sự phát triển sâu rộng của xu thế toàn cầu hóa là sự gia tăng tính tùy thuộc lẫn nhau giữa cácquốc gia dân tộc trong cộng đồng quốc tế Bên cạnh đó, sự kết thúc Chiến tranh lạnh đã làm xuấthiện xu hướng phi tư tưởng hóa các quan hệ quốc tế, nghĩa là các quan hệ quốc tế được xúc tiến khôngcòn dựa trên yếu tố ý thức hệ là chính, mà dựa trên lợi ích quốc gia là chính

2 Mục tiêu chiến lược chính sách đối ngoại của Mỹ sau chiến tranh lạnh:

Mục tiêu chiến lược xuyên suốt, nhất quán, không thay đổi, mang tính chất lâu dài là duy trì

và củng cố vị trí bá quyền thế giới của Mỹ trong tất cả các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh tế thương mại, quân sự - an ninh Ngăn chặn, đẩy lùi tiến tới tiêu diệt CNXH và sự cầm quyền củacác Đảng cộng sản

-3 Nội dung chính sách đối ngoại của Mỹ sau chiến tranh lạnh:

* Ba trụ cột:

Để thực hiện mục tiêu chiến lược bao trùm trên, chính quyền Mỹ tập trung vào các mục tiêu

được gọi là trụ cột, là căn cứ, là cơ sở trong tổng thể chiến lược đối nội và đối ngoại của Mỹ:

Một là, củng cố và tăng cường an ninh cho Mỹ và đồng minh của Mỹ.

Hai là, bảo đảm sự thịnh vượng kinh tế cho nước Mỹ.

Ba là, thúc đẩy dân chủ và nhân quyền ở nước ngoài

* Ba nhóm lợi ích:

Tất cả các mục tiêu trên đều gắn liền với mục tiêu trên hết và không thay đổi là phục vụ cáclợi ích quốc gia của Mỹ Các chính quyền Mỹ xác định nước Mỹ có 3 nhóm lợi ích quốc gia ở 3cấp độ như sau:

Thứ nhất, các lợi ích quốc gia quan trọng sống còn.

Thứ hai, các lợi ích quốc gia quan trọng.

Thứ ba, các lợi ích ngoại vi và các lợi ích khác.

Trên thực tế Mỹ luôn tuân thủ nguyên tắc căn cứ vào lợi ích để có biện pháp, hành độngtương ứng Để bảo đảm các lợi ích quốc gia, tư tưởng chỉ đạo chính sách đối ngoại Mỹ là tưtưởng thực hiện hành động ngoại giao trên cơ sở sức mạnh, trước hết là sức mạnh quân sự Tuynhiên, qua các đời tổng thống thời kỳ sau Chiến tranh lạnh đã có một số điều chỉnh nhất định

3 Có thể thấy qua các chiến lược cụ thể của chính quyền Mỹ qua các đời tổng thống; tiếp tục can dự vào khu vực Châu á Thái bình dương; :

* Chiến lược qua các đời tổng thống Mỹ:

- Thời Tổng thống G.H.Bush (1989-1993): Ông đã điều chỉnh chiến lược đối ngoại Mỹ từ

“Ngăn chặn” sang “Vượt trên ngăn chặn” Thực chất của chiến lược mới này là lợi dụng các cuộckhủng hoảng trầm trọng ở Trung Đông Âu và Liên Xô để đẩy nhanh hơn nữa chiến lược “Diễnbiến hòa bình” ở khu vực này, lái các nước này đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, vào vòngkiểm soát của Mỹ Sau khi Liên Xô tan rã, CNXH ở Liên Xô và Trung Đông Âu bị sụp đổ, Tổngthống Mỹ G.H.Bush càng ra sức phô trương thanh thế và chuyển mục tiêu sang xây dựng “một trật

tự thế giới mới” với quyền thống soái của Mỹ

- Thời Tổng thống B.Clinton (1993-2000): Tổng thống Bill Clintơn đã từng bước điều chỉnh

từ chiến lược “Vượt trên ngăn chặn” sang “Chiến lược an ninh quốc gia cam kết và mở rộng”.Chính quyền Clinton “cam kết” về vai trò “lãnh đạo thế giới”, tiếp tục can dự vào các công việc

và thể chế quốc tế, về tiếp tục dẫn dắt nền kinh tế thế giới theo hướng tự do hóa và toàn cầu hóa

Mỹ sẽ khuếch trương, mở rộng các cộng đồng tự do, các nền dân chủ, thực chất là khuếchtrương, mở rộng dân chủ Mỹ, giá trị Mỹ, mô hình Mỹ ra toàn thế giới Mỹ độc tôn ở vị trí siêucường thế giới

Trang 28

- Thời Tổng thống G.W Bush (2001-2004): Chính quyền G.W.Bush đã có những điều chỉnh

chiến lược lớn như : chống khủng bố trở thành ưu tiên chiến lược, an ninh quân sự trở thành trụcột hàng đầu; hành động đơn phương khi theo đuổi mục đích; châu Á - Thái Bình Dương trởthành trọng điểm số 1 Chiến lược an ninh quốc gia “đánh đòn phủ đầu” là sự thể hiện các điềuchỉnh chiến lược đó của chính quyền Tổng thống G.W.Bush, còn liên minh quốc tế chống khủng

bố là một trong những biểu hiện trên thực tế chính sách đối ngoại thực dụng của Mỹ

- Thời Tổng thống Barak Obama (từ 1-2009 đến 2017): Chính sách đối ngoại của chính

quyền Obama tập trung vào ba mục tiêu chiến lược hàng đầu: củng cố vị trí siêu cường sốmột thế giới của Mỹ, giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính nhằm phục hồi và pháttriển kinh tế, chống khủng bố với trọng tâm là cuộc chiến ở Irắc và Ápganixtan Một số thayđổi trong đối ngoại của B.Obama so với chính quyền tiền nhiệm, đó là:

- Chính sách đối ngoại của Mỹ bớt đơn phương hơn, chú trọng đến tính hiệu quả, linh hoạthơn theo hướng tăng đối thoại, hợp tác (tuy nhiên vẫn kiên quyết xử lý bằng “sức mạnh cứng”khi cần thiết)

- Phương sách thực hiện chính sách đối ngoại thể hiện rõ nét hơn sự kết hợp sức mạnh cứng

và sức mạnh mềm để tạo nên “sức mạnh thông minh”

- Khu vực Mỹ Latinh và châu Phi được chú trọng hơn so với hai thời Tổng thống G.H.Bush

và G.W.Bush

- Ngoài các tổ chức, các thiết chế quốc tế mà từ lâu Mỹ đã có vị trí áp đảo, Mỹ đang có chínhsách gia tăng ảnh hưởng tại các tổ chức như ASEAN, ASEM, EU,

- Thời Tổng thống Trump: (2017 đến nay): cụ thể hóa quan điểm “Nước Mỹ là trên hết” vào

một chiến lược toàn diện Chiến lược này tập trung vào 4 vấn đề chính, bao gồm bảo vệ đấtnước, thúc đẩy sự thịnh vượng của Mỹ, giữ gìn hòa bình thông qua sức mạnh và thúc đẩy ảnhhưởng của Mỹ

* Xoay trục sang Châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ tiếp tục can dự vào khu vực Châu á

Thái bình dương để duy trì lợi ích kinh tế, quyền lực chính trị, văn hóa, sức mạnh quân sự vàngoại giao, nhất là để kiềm chế các nước thách thức vai trò vượt trội của Mỹ trong các khu vựcnày và trên toàn thế giới với các mục tiêu: 1) Về kinh tế: nhằm đưa nước Mỹ thoát khỏi khủnghoảng và suy thoái kinh tế, tiếp tục là đầu tàu kinh tế của khu vực và thế giới; 2) Về chính trị:

Mỹ muốn có tiếng nói quyết định tại các diễn đàn, các tổ chức, các liên kết trong khu vực, trên

cơ sở đó tiếp tục khẳng định vị thế, vai trò là trung tâm lãnh đạo thế giới; 3) Về văn hóa: tiếp tụctruyền bá các giá trị Mỹ, nhất là tự do, dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, đưa văn hóa Mỹthâm nhập ngày càng mạnh mẽ vào khu vực; 4) Về quân sự: đối phó với việc tăng cường sứcmạnh quân sự của các cường quốc trong khu vực, nhất là Trung Quốc, hỗ trợ cho các đồng minhthân cận duy trì sức mạnh vượt trội về quân sự và răn đe tiến công các nước; 5) Về ngoạigiao:tăng cường củng cố quan hệ với các đồng minh để tạo sự cân bằng chiến lược giữa Đông vàTây, giữa châu Âu, châu Á, châu Mỹ, giữa nước Mỹ với các trung tâm quyền lực chính trị, sứcmạnh kinh tế, quân sự trên thế giới; thu hút các nước khác đi theo Mỹ làm đối trọng với cácnước trong khu vực, trước hết là hình thành các liên minh mới để bao vây, làm đối trọng vớiTrung Quốc, sau đó là Nga

Cải thiện quan hệ với các nước bên kia Đại Tây Dương

Mục tiêu cơ bản, lâu dài: đưa các nước đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản do Mỹ đứng đầu;khôi phục vị thế vai trò siêu cường duy nhất của Mỹ và làm bá chủ thế giới

Để thực hiện mục tiêu trên, chính quyền Obama đã nêu rõ nội dung, biện pháp thực hiện:

1là, tăng cường các mối quan hệ đồng minh an ninh song phương với Nhật Bản, Hàn Quốc,

Ốxtrâylia, Thái Lan, Philíppin trên cơ sở duy trì đồng thuận về chính trị với những giá trị cốt lõicủa quan hệ đồng minh; bảo đảm quan hệ đồng minh linh hoạt để đối phó những thách thức mớicũng như tận dụng cơ hội mới; bảo đảm khả năng phòng thủ và hạ tầng thông tin để răn đe bất

cứ sự khiêu khích nào

Trang 29

2 là, tăng cường quan hệ với các quốc gia mới nổi và các quốc gia tiềm năng như: TrungQuốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Xinhgapo, NiuDilân, Malaixia, Mông Cổ, Việt Nam, Brunây và cácquốc đảo ở Thái Bình Dương.

3 là, tăng cường can dự các thể chế khu vực bằng cách tiến hành tham gia đầy đủ các diễn đàn

và tổ chức như ASEAN, APEC, EAS và đóng vai trò tích cực trong việc xây dựng chươngtrình nghị sự của các diễn đàn này

4 là, mở rộng quan hệ, mở rộng thương mại và đầu tư đối với khu vực thông qua APEC, G20

và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) để thúc đẩy mở cửa thị trường, giảm ràocản thương mại, tăng cường minh bạch và thực hiện cam kết thương mại công bằng

5 là, tăng cường hiện diện quân sự Mỹ tại khu vực, một mặt tiến hành “hiện đại hóa” các mốiquan hệ quân sự với đồng minh ở Đông Bắc Á, mặt khác tìm cách tăng cường hiện diện tạiĐông Nam Á và Ấn Độ Dương

6 là, thúc ép các nước tiến hành cải cách nhằm tăng cường bảo vệ dân chủ, nhân quyền và tự

do chính trị theo kiểu Mỹ và phương Tây

* Ngoài ra, Mỹ còn thực hiện nhiều kế hoạch, hoạt động nhằm tái cân bằng tại khu vực Châu Á, kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc; can thiệp vào vấn đề Ucraina, kiềm chế Nga, cuộc chiến chống IS; thắt chặt quan hệ với các đồng minh; tái khởi động nhiều căn

cứ quân sự.

Như vậy, sau chiến tranh lạnh, mục tiêu chiến lược và nội dung chính sách đối ngoại của Mỹlà Đây là một trong những nhân tố quan trọng làm cho quan hệ giữa các nước lớn và cuộccạnh tranh chiến lược giữa các nước này ở khu vực và TG càng gay gắt, quyết liệt trên tất cả cáclĩnh vực chiến lược về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại

1.2 Những nhân tố chi phối chính sách đối ngoại sau chiến tranh lạnh:

* Những nhân tố bên trong:

-Về mặt kinh tế: thành công của chính sách cải cách mở cửa được thực hiện từ sau Hội nghị

Ban Chấp hành Trung ương khóa XI Đảng Cộng sản Trung Quốc (12-1978) đã tạo ra nhữngchuyển biến lớn, với tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao, trung bình 8 - 9%/năm GDP của TrungQuốc đã tăng gấp 3 lần trong vòng 30 năm; năm 2002 đạt 1232 tỷ USD Năm 2010, Trung Quốc

đã trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới và GDP năm 2014 của Trung Quốc là: 10.138 tỷUSD Từ năm 2009 đến nay, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tăng từ 2,2 nghìn tỷ USD lên 3,4nghìn tỷ USD và là nước có dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới, tương đương chiếm 30% dự trữngoại hối toàn cầu

- Về quân sự - quốc phòng: chú trọng hiện đại hóa lực lượng vũ trang Đặc biệt, Trung Quốc

tập trung phát triển vũ khí chiến lược và đang thực hiện chiến lược tiến ra biển Đông, thườngđược gọi là phát triển “hải quân biển xanh” Là cường quốc hạt nhân lớn thứ ba thế giới Chi phíquốc phòng của Trung Quốc năm 2012 đã nâng lên mức 106 tỷ USD và năm 2013 là 120 tỷUSD

Trang 30

- Trong lĩnh vực khoa học - kỹ thuật: có bước phát triển nhanh Trung Quốc phóng thành công

tàu vũ trụ có người lái Thần Châu V lên quỹ đạo của trái đất tháng 10-2003; Tháng 6-2013,Trung Quốc phóng thành công tàu Thần Châu 10 mang theo ba phi hành gia lên vũ trụ

Tuy nhiên, Trung Quốc cũng đang gặp phải những khó khăn, thách thức không nhỏ như: nạntham nhũng, chuyên quyền vẫn là một trong những nguy cơ lớn và không dễ loại trừ; sự pháttriển quá nóng của nền kinh tế đang tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định và khủng hoảng Sự chênh lệchgiàu nghèo giữa các khu vực, giữa thành thị và nông thôn ngày càng lớn, gây ra những hệ quảtiêu cực; dân số quá đông buộc Chính phủ Trung Quốc thi hành chính sách mỗi gia đình chỉ đượcsinh 1 con cũng kéo theo những hệ quả tiêu cực; số người thất nghiệp đông cũng đang trở thànhvấn đề xã hội bức xúc

*Những nhân tố bên ngoài:

- Thuận lợi: Sau Chiến tranh lạnh, xu thế quốc tế nổi bật là tập trung mọi ưu tiên cho pháttriển kinh tế; xu thế toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng cũng tạo ra nhiều

cơ hội và đặt ra nhiều nguy cơ đối với an ninh quốc gia và sự phát triển của các nước trongcộng đồng quốc tế, trong đó có Trung Quốc Đồng thời, sau chiến tranh lạnh chính sách củaNga và Mỹ ở Châu Á Thái Bình Dương ôn hòa là cơ hội cho Trung Quốc

- Khó khăn:

+ Chính sách 2 mặt của Mỹ đối với TQ;

+ Sự e ngại của nhiều nước trong khu vực trước sự trỗi dậy của TQ nhất là các nước ĐôngNam Á (TQ không thực sự trỗi dậy hòa bình, đe dọa sự ổn định, hòa bình của các nước khác.+ Sự cạnh tranh quyền lực của các nước lớn với TQ

2 Nội dung mục tiêu và chính sách đối ngoại của Trung Quốc từ sau chiến tranh lạnh đến nay:

2.1 Mục tiêu chiến lược:

Với sức mạnh kinh tế, chính trị và quân sự không ngừng gia tăng, Trung Quốc đã và đang thựchiện mục tiêu phát huy ảnh hưởng quốc tế của mình Cụ thể là: sớm đưa Trung Quốc trở thànhmột cường quốc khu vực và thế giới trong một thế giới đa cực, đa trung tâm; Trung Quốc sẽ phải lànước đóng vai trò lãnh đạo ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và trên thế giới trong tương laikhông xa Đây là mục tiêu chiến lược mà Trung Quốc theo đuổi một cách kiên trì, nhất quán,mang tính nguyên tắc

Để đạt được mục tiêu chiến lược này, từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc đến nay, Trung Quốc

tập trung thực hiện hai mục tiêu cơ bản sau: Thứ nhất, tiếp tục tăng cường sức mạnh quốc gia tổng hợp cũng như từng mặt kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa Thứ hai, tăng vị thế quốc tế và mở

rộng ảnh hưởng quốc tế của Trung Quốc Đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, TrungQuốc muốn xây dựng một khu vực hòa bình, ổn định, không để điểm nóng trở thành xung đột vũtrang, đồng thời tăng cường ảnh hưởng chi phối của Trung Quốc ở khu vực, trước hết ở Đông Á

và sớm đưa Đài Loan thống nhất với Đại lục

2.2 Một số nội dung chủ yếu trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Khi tổng kết thực tiễn 13 năm đổi mới (tính từ Hội nghị trung ương 4 khóa XIII năm 1989), Đạihội XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc (11-2002) đã rút ra 10 bài học kinh nghiệm, trong đó bài họcthứ 9 là: “Kiên trì chính sách ngoại giao hòa bình, độc lập tự chủ, bảo vệ hòa bình thế giới và cùngnhau phát triển” Đây là nội dung xuyên suốt, bao trùm chính sách đối ngoại của Trung Quốc thời

kỳ sau Chiến tranh lạnh và được tiếp tục khẳng định tại Đại hội XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc:

“Cho dù tình hình thế giới biến đổi như thế nào, chúng ta vẫn trước sau như một, thực hiện chínhsách ngoại giao hòa bình, độc lập, tự chủ Tôn chỉ của chính sách ngoại giao Trung Quốc là bảo vệhòa bình thế giới, cùng phát triển”

Nội dung chủ yếu của chính sách ngoại giao hòa bình, độc lập, tự chủ của Trung Quốc đượcthể hiện ở những khía cạnh cụ thể như sau:

Trang 31

Thứ nhất, luôn đặt chủ quyền và lợi ích quốc gia lên vị trí số 1, không cho phép bất cứ nước

nào can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc; căn cứ vào tình hình đất nước để tự chủquyết định lĩnh vực và tốc độ mở cửa; tuân thủ chính sách không liên minh

Thứ hai, tích cực phát triển quan hệ láng giềng hữu hảo với các nước xung quanh, duy trì hòa

bình, ổn định, thúc đẩy phát triển chung Đó là phát triển quan hệ toàn diện, hợp tác cùng có lợi vớicác nước ASEAN (đa phương và song phương); với các nước Nam Á (Ấn Độ, Pakixtan,Ápganixtan); với các nước Trung Á (các nước trong Tổ chức hợp tác Thượng Hải); với 2 nướctrên bán đảo Triều Tiên

Thứ ba, tích cực phát triển quan hệ kiểu mới với các nước lớn, các nước phát triển Đây là một

trong những trọng tâm của chính sách đối ngoại Trung Quốc sau Chiến tranh lạnh (với Liên bangNga, với Mỹ, với các nước Tây Âu, Nhật Bản và các nước phát triển khác trong các khu vực khácnhư Canađa, Ôxtrâylia, Niu Dilân)

Thứ tư, giải quyết hòa bình các vấn đề do lịch sử để lại (đó là vấn đề đưa Hồng Kông, Ma

Cao, Đài Loan trở về Đại lục theo phương châm “một nước hai chế độ”, là giải quyết vấn đềbiên giới với Liên bang Nga, với Việt Nam và với Ấn Độ)

Thứ năm, tích cực phát triển ngoại giao đa phương và xây dựng hình tượng “nước lớn có trách

nhiệm” Nội dung này trong những năm gần đây rất được chú trọng, thể hiện ở hoạt động đốingoại của Trung Quốc trên các diễn đàn quốc tế (tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, tại WTO,APEC, ARF) Quan hệ với các nước đang phát triển cũng rất được chú trọng thông qua các diễnđàn như Nhóm 77, Phong trào Không liên kết và thông qua các mối quan hệ song phương

Tháng 10-2007, Đảng Cộng sản Trung Quốc tiến hành Đại hội Đảng lần thứ XVII Trong Vănkiện Đại hội, Đảng Cộng sản Trung Quốc sau khi xác định chủ đề của thời đại vẫn là “hòa bình

và phát triển”, đã tuyên bố rằng Trung Quốc trước sau như một “kiên định đi con đường pháttriển hòa bình”; “trước sau như một thực hiện chính sách mở cửa cùng có lợi, cùng thắng”; “kiêntrì phát triển hợp tác hữu nghị với tất cả các nước trên cơ sở năm nguyên tắc cùng tồn tại hòabình”; “Trung Quốc tiếp tục quán triệt phương châm ngoại giao thân thiện, làm bạn với lánggiềng, tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác thực chất với các nước có chung biên giới, tíchcực triển khai hợp tác khu vực, cùng tạo ra môi trường khu vực hòa bình, ổn định, bình đẳng, tincậy lẫn nhau, hợp tác cùng có lợi”, và Đại hội XVIII (11-2012), Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếptục đường lối đối ngoại đã nêu ở trên

* Có thể nói thêm về các chiến lược cụ thể của chính quyền TQ qua các thời kỳ:

-Thời kỳ Đặng Tiểu Bình: với phương châm 24 chữ vàng cho đối ngoại (L lẽ quan sát; Bìnhtĩnh đối phó; Giữ vững trận địa; Giấu mình chờ thời; Giỏi về phòng thủ; Quyết không đi đầu)

- Thời kỳ Giang Trạch Dân: tiếp tục tinh thần của Đ T Bình; mạnh dạn tiếp cận thế giới; kiêntrì mở rộng quan hệ với Mỹ

- Thời kỳ Hồ Cẩm Đào: mở rộng ảnh hưởng ra nhiều khu vực (Châu Phi, Mỹ La tinh, ĐôngNam Á); bước đầu cạnh tranh quyết liệt và tìm kiếm sự cân bằng với Mỹ

- Thời kỳ Tập Cận Bình: xây dựng quan hệ với nước lớn kiểu mới với Mỹ (cạnh tranh nhưnghợp tác, cùng chia sẻ trách nhiệm); thúc đẩy quan hệ chiến lược với Nga; điều chỉnh cách tiếpcận thế giới nhằm lấy uy tín cho TQ; điều chỉnh chiến lược biển; thực hiện giấc mơ Trung Hoa

* Có thể nói thêm về quan hệ Việt – Trung:

Bình thường hóa quan hệ 1991

- Dòng chảy chủ lưu: hòa bình, hữu nghị, hợp tác trên tất cả các lĩnh vực Đặc biệt, các hiệpước như Hiệp ước biên giới trên đất liền, Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợptác nghề cá giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được ký kết, tạo cơ sở pháp lý quan trọng và vữngchắc để hai nước quản lý biên giới, lãnh thổ, thực hiện mục tiêu chung là xây dựng biên giớiTrung - Việt thành biên giới hòa bình, hữu nghị và ổn định lâu dài Hai nước quyết tâm đưaphương châm 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tươnglai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, “bổ sung thế mạnh cho

Trang 32

nhau, hai bên cùng có lợi, cùng thắng”, tăng cường tin cậy lẫn nhau của quan hệ Việt - Trungthực sự đi vào cuộc sống.

- Nhưng mặt khác, cho đến nay quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam vẫn còn tồn tại nhữngbất đồng, mâu thuẫn lớn nhỏ rất khó giải quyết và không chỉ trong việc tranh chấp hai quần đảoHoàng Sa, Trường Sa./

Câu 10: Đồng chí hãy phân tích quá trình hợp tác, liên kết an ninh – chính trị của ASEAN sau chiến tranh lạnh.

1 Những nhân tố tác động tới quá trình hợp tác, liên kết

1.1 Vị trí chiến lược của khu vực ĐNA:

- Đông Nam Á là một trọng điểm chiến lược của thế giới:

Là khu vực nằm ở phía Đông Nam của châu Á, bao gồm 11 quốc gia: Brunây, Campuchia,Inđônêxia, Đông Timo, Lào, Mianma, Malaixia, Philíppin, Thái Lan, Việt Nam và Xingapo Vớitổng diện tích 4,7 triệu km2 và dân số khoảng 651,5 triệu người (2017) thì Đông Nam Á là khuvực có dân số khá đông trong đó 85% dân số tập trung ở 4 nước là Inđônêxia, Việt Nam, TháiLan và Philíppin Ngoại trừ Lào, thì tất cả các quốc gia đều là các quốc gia ven biển hoặc cácquốc gia hải đảo, có tiếp xúc với biển Đông, Ấn Độ Dương hoặc Thái Bình Dương nên rất thuậnlợi cho việc phát triển kinh tế biển như nghề cá, khai thác tài nguyên biển và mở rộng giao lưuquốc tế bằng đường biển

-Là khu vực có khí hậu nhiệt đới - xích đạo, nóng ẩm, mưa nhiều, sông ngòi dày đặc rấtthuận tiện phát triển nông nghiệp nhiệt đới, lâm nghiệp, thủy điện và giao thông đườngthủy Đông Nam Á là khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú

-Là nơi giàu truyền thống lịch sử - văn hóa, Đông Nam Á là khu vực sinh sống của nhiều

dân tộc có nguồn gốc, tiếng nói, tôn giáo khác nhau, nhưng chủ yếu là các dân tộc gốc Á Cónhiều tôn giáo lớn Đông Nam Á là khu vực có nền văn hóa vừa có tình truyền thống đặc sắc,vừa có tính ngoại lai hòa quyện tạo nên một chỉnh thể thống nhất nhưng rất đa dạng vàphong phú

-Là nơi có vị thế địa - chiến lược, án ngữ vị trí vô cùng quan trọng với hệ thống cảng biển, eo

biển và đường hàng hải thuận tiện nhất từ Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương sang Thái BìnhDương

1.2 Tình hình thế giới:

- Cục diện thế giới sau Chiến tranh lạnh đang hình thành xu hướng đa cực theo một cơ cấuquyền lực là một siêu cường Mỹ và một số cường quốc chủ chốt như Trung Quốc, Nga, EU,Nhật Bản, chi phối các vấn đề quan trọng của thế giới, định đoạt nhiều quy tắc, luật lệ quốc

tế

Tương quan so sánh lực lượng ở Đông Nam Á sau Chiến tranh lạnh nổi lên vai trò của cácnước lớn gồm Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, các nước này vừa cạnh tranh vừa kiềm chếlẫn nhau, ảnh hưởng không nhỏ đến hợp tác, liên kết của ASEAN

Từ một điểm nóng của thời Chiến tranh lạnh, chỉ sau một thập niên, Đông Nam Á đãnhanh chóng trở thành nơi hội tụ những nỗ lực hợp tác giữa các nước trong khu vực với cácnước trên thế giới Xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển được củng cố tăng cường ở ĐôngNam Á đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác và phát triển ở Đông Nam Á nở rộ hơnnữa trong thế kỷ XXI

Trang 33

- Những phát triển mới của toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ đã tác động đến

sự hợp tác, liên kết giữa các quốc gia Đông Nam Á hiện nay theo hai chiều thuận - nghị ch, vừatạo thời cơ, vừa tạo nguy cơ, thách thức

1.3 Đặc điểm và nhu cầu hợp tác, liên kết khu vực:

Xuât hiện từ năm 1959

Đông Nam Á có nhiều đặc điểm, nhưng nổi lên trên hết là đặc điểm: Đoàn kết, Thống nhất

trong đa dạng đặc điểm này đã và đang chi phối hoạt động hợp tác và hội nhập của khu vực.

Trước tình hình thế giới có nhiều biến động, tình trạng bất ổn định xảy ra ở nhiều quốc gia vàkhu vực trên thế giới thì đoàn kết, thống nhất trong khu vực là yếu tố hàng đầu để gìn giữ hòabình, ổn định trong khu vực Trong những năm qua, các nước ASEAN đã kiên trì và nỗ lực phấnđấu cho hòa bình, ổn định của khu vực, thông qua việc tạo dựng và phát triển mối quan hệ lánggiềng hữu nghị giữa các nước thành viên cũng như các nước ngoài ASEAN trên tinh thần tôntrọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, hợp tác cùng có lợi,giải quyết các bất đồng, tranh chấp bằng thương lượng hòa bình Sau chiến tranh lạnh, thế giới

đã chứng kiến sự chủ động, sáng tạo và phát triển thích ứng của ASEAN trước các biến chuyểnmới của tình hình khu vực và quốc tế Những đóng góp tích cực của ASEAN đã trở thành quantrọng không thể thiếu cho hòa bình, ổn định, an ninh và phát triển ở khu vực

2.Quá trình hợp tác, liên kết an ninh – chính trị của ASEAN sau chiến tranh lạnh:

Một trong những biểu hiện đáng ghi nhận đầu tiên trong họp tác, liên kết ở Đông Nam Á làtiến trình cải thiện quan hệ của các nước ASEAN với các nước Đông Dương và Mianma Trongđiều kiện quôc tế và khu vực thay đổi theo chiều hướng có lợi cho hòa bình họp tác, ASEANđược nhìn nhận là tổ chức đóng vai trò hạt nhân đối với quá trình khu vực hóa Đông Nam Á Do

đó, các nước Đông Dương và Mianma đều tích cực chuẩn bị gia nhập ASEAN, coi đây là hướng

ưu tiên trong chính sách đối ngoại của mình Bước chuyển biến mang ý nghĩa bước ngoặt này sở

dĩ có được là do nhiêu nguyên nhân Song, một tác nhân quan trọng là vấn đề Campuchia đượcgiải quyết về cơ bản với việc ký kết Hiệp định hòa bình Pari về Campuchia ngày 23-10-1990.Đây cũng là kết quả của những nỗ lực họp tác chính trị đầu tiên mà các nước ASEAN và cácnước khác trong khu vực đạt được vào thời điểm Chiến tranh lạnh kết thúc

Một thành tựu quan trọng khác trong quá trình hợp tác, liên kết khu vực là bằng nỗ lực tậpthể, ASEAN đã khởi tiến những bước đi đầu tiên trong việc tạo lập lòng tin và thực thi chínhsách ngoại giao phòng ngừa, góp phần củng cố an ninh khu vực Trước khuynh hướng nhiềucuộc xung đột bùng nên và tạo ra hiệu ứng lan truyền ở các khu vực khác sau khi Chiến tranhlạnh kêt thúc, các nước Đông Nam Á không thể không lo ngại về sự ổn định an ninh, chính trịkhu vực Bởi vì, tại đây nguồn gốc gây xung đột vẫn rất tiềm tàng Ngoài những tranh chấp songphương giữa các nước khu vực, ở đây còn có những tranh chấp phức tạp về mặt lịch sử giữaTrung Quốc và nhiều nước Đông Nam Á về chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải, đặc quyền kinh tế,

V.V Hơn nữa, việc Nga và Mỹ thực hiện cắt giảm lớn sự có mặt quân sự của họ tại khu vực

cũng đã tạo ra môi trường thuận lợi cho cuộc cạnh tranh lấp “khoảng trống” an ninh giữa TrungQuốc và Nhật Bản

Nếu xét trên bình diện an ninh, các nước Đông Nam Á đứng trước những thách thức mớiphức tạp Họ tuy đã đạt được một số thành tựu nhất định về duy trì ổn định; song tại đây rõ ràng

là chưa có một cơ chế an ninh được thể chế hóa nhằm xử lý các tình huống tranh chấp, xung đột

có thể xảy ra Đồng thời, an ninh Đông Nam Á lại phụ thuộc rất chặt chẽ vào các yếu tố bênngoài, nhất là vào các nước lớn Cho nên, không thể xây dựng một cơ chế an ninh bao trùm toànkhu vực và tất cả các nước có lợi ích an ninh liên quan Điều này buộc các nước khu vực phảitìm kiêm cơ chê bảo đảm an ninh một cách thích hợp

Các nước Đông Nam Á đã chủ động đề nghị một khuôn khổ mới để bàn thảo về các vấn đề anninh thông qua việc tổ chức Hội nghị sau hội nghị Bộ trưởng của ASEAN (PMC) Theo hướngnày, PMC đầu tiên bàn về an ninh khu vực được tổ chức nhân Hội nghị Bộ trưởng ASEAN

Trang 34

(AMM) lần thứ 25 tại Manila (Philippin - 7-1992) Song, PMC chỉ mới là nơi đối thoại giữaASEAN với các bên đối thoại đầy đủ của Hiệp hội Cho nên, nó không có sự tham gia của một

số đối tác rất chủ chốt khác liên quan đến an ninh khu vực như Trung Quốc, Việt Nam, Liênbang Nga Điều đó hạn chế ý nghĩa và tác dụng của PMC Các nước khu vực cần phải xác lậpmột cơ cấu mới mang tính bao quát hơn Xuất phát từ đây, AMM lần thứ 26 (7-1993) tạiXingapo đã nêu sáng kiến và thành lập Diễn đàn an ninh ASEAN (ARF)

Cuộc họp đầu tiên của Diễn đàn an ninh khu vực (ARF-1) được tổ chức tại Băngcốc (7-1994)với sự tham gia của 18 bộ trưởng ngoại giao các nước khu vực và các nước hữu quan chủ chốtnhư Mỹ, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, EU, ôxtrâylia, V.V Diễn đàn là nơi các nước tham giatrình bày quan điểm về hòa bình và an ninh khu vực Những ý kiến khác biệt nhau được trao đổi

để có thể giảm bót khác biệt, nhờ vậy giảm bớt mối đe dọa đối với an ninh khu vực Cho đếnnay, ARF đã diễn ra 11 kỳ họp (1994-2004), đây là cả một chặng đường không ít khó khăn,nhưng thể hiện nỗ lực cao của các nước Đông Nam Á trong họp tác an ninh, chính trị Ngay từARF - 1, các bên đã chấp nhận những mục tiêu, nguyên tắc của Hiệp ước Bali như là phươngchân ứng xử giữa các quốc gia và là phương tiện để xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa,họp tác chính trị và an ninh khu vực Hiện nay, các nước ASEAN đã bước sang giai đoạn thựchiện ngoại giao phòng ngừa Với các cố gắng của các nước ASEAN, vai trò của ARF ngày càngtrở nên có ý nghĩa quan trọng trong đời sống chính trị khu vực và thế giới ARF đang tiếp tục tậphợp những ý nguyện tiến tới xây dựng ở Đông Nam Á và mở rộng ra châu Á - Thái Bình Dươngmột cơ chế an ninh chung có hiệu quả Đồng thời, ARF cũng ngày càng quan tâm thảo luậnnhững vấn đề quốc tế quan trọng, nhất là cuộc chiến chống khủng bố quốc tế sau sự kiện 11-9-2001

Tuy nhiên, do ARF trong quy mô bao hàm các nước có lợi ích hét sức đa dạng, trình độ pháttriển và lịch sử - văn hóa khác biệt, cho nên nó không thể không vấp phải những khó khăn phứctạp Điều đó hạn chế hoặc làm giảm ý nghĩa các thoả thuận mà nó đạt được Do lợi ích khácnhau, nên quan điểm về an ninh của mỗi bên tham gia ARF cũng khác nhau Mặt khác, sự thamgia của các nước lớn vào việc thảo luận các vấn đề an ninh khu vực không thể không tạo ra

những bất lợi nhất định đối với các nước ASEAN Trên một số vấn đề cụ thề có liên quan trực

tiếp đến lợi ích của các cường quốc, các nước ASEAN phải chịu sức ép, do đó sẽ khó khăn trongviệc xừ lý những vấn đề nội bộ khu vực Đây là một trở ngại đối với ASEAN trên con đườngxúc tiến hợp tác an ninh và chính trị

Trước những diễn biến phức tạp về an ninh châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là ở biểnĐông, ASEAN ngay từ năm 1996 đã nêu ý tưởng xây dựng bộ Quy tắc ứng xử (COC) khu vực

Ý tưởng này được Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ sáu (Hà Nội, 1998) nhất trí thúc đẩy.Tại Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN lần thứ 32 tổ chức tại Xingapo (7-1999), bản dựtháo Quy tắc ứng xử do Philippin đề xuất đã được thảo luận sôi nổi Mặc dù chưa đạt được sựnhất trí của tất cả các nước thành viên, nhưng đây có thể coi là bước khởi động đầu tiên củaASEAN Ểầm đặt nền tảng cho sự ổn định lâu dài trong khu vực và tăng ìrờng sự hiểu biết giữacác bên có yêu sách chủ quyền ở biển í Đông Đến tháng 11-2002, ASEAN và Trung Quốc đã kýkết Tuyên bố về ứng xử của các bên (DOC) tại biển Đông

Cho đến nay, sự hợp tác quân sự giữa các nước Đông Nam Á mới ờ mức độ song phương,hoặc vài ba nước cùng tham gia Nhưng hiện nay còn có thêm một hình thức mới là cuộc họpcủa các quan chức quân sự cấp cao ASEAN, mà tại đó các vấn đề lliên quan đến quốc phòng và

an ninh luôn là những chủ đề chính ASEAN còn phát triển hợp tác an ninh, chính trị trongkhuôn khổ các cơ chế đa phương khác như ASEM, hợp tác tiểu vùng, ASEAN + 1, ASEAN +3,

Năm 2004, tại các diễn đàn của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 37 (AMM

-37); ASEAN + 3 (với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc); ASEAN + 1 (với từng nước trong

ba nước nêu trên); Diễn đàn ASEAN lần thứ 11 (ARF-11); ASEAN với 10 nước đối thoại (PMC

Trang 35

+ 10) và ASEAN với từng nước đối thoại (PMC + 1), các nước ASEAN đã nêu bật nỗ lực hướngmạnh tới việc xây dựng một Cộng đồng ASEAN hòa bình, đoàn kết, phát triển năng động, hộinhập toàn diện vào năm 2020 với ba trụ cột chính là Cộng đồng an ninh ASEAN (ASC), Cộngđồng kinh tế ASEAN (AEC), Cộng đồng Xã hội và Văn hóa ASEAN (ASCC) AMM - 37 tánthành dự thảo Kế hoạch Hành động của Cộng đồng an ninh ASEAN (ASCPA) với các biện pháp

cụ thể như tăng cường giao lưu, hiểu biết giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các ngành, các đoànthể chính trị, quân sự, xã hội Ở các nước Đông Nam Á Kế hoạch nêu trên đề cao các nguyêntắc của ASEAN như đồng thuận, không can thiệp công việc nội bộ, tôn trọng chủ quyền quốcgia; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp, không tính tớithành lập khối quân sự hay liên minh quân sự; khẳng định không cho phép dùng lãnh thổ mộtnước tiến hành các hoạt động chống lại bất kỳ thành viên nào nhằm thúc đẩy các nỗ lực chốngkhủng bố và tội phạm xuyên quốc gia như buôn lậu ma tuý, vũ khí và buôn bán người ASEANkhẳng định Tuyên bố về ứng xử của các bên (DOC) tại biển Đông đã ký với Trung Quốc là bướctiến quan trọng hướng tới đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại biển Đông (COC) để thúc đẩy hòabình, an ninh khu vực ARF - 19 cũng ra Tuyên bố về tăng cường an ninh giao thông chốngkhủng bố quốc tế và Tuyên bố về không phổ biến vũ khí hạt nhân Pakistan được kết nạp làmthành viên chính thức thứ 25 của ARF Nhật Bản và Pakixtan chính thức tham gia Hiệp ướcThân thiện và hợp tác cùa ASEAN Tuyên bố nguyên tắc sáu điểm của ASEAN về biển Đông (7-2012) đó thể hiện quan tâm chung và cách tiếp cận chủ đạo cúa Hiệp hội đối với các vấn đề trênbiển Đông, đồng thời cũng cho thấy khả năng của ASEAN trong xây dựng đồng thuận, thúc đẩyđối thoại và hợp tác về tất cả các nội dung trao đổi trong khu vực Hiện nay ASEAN đã sẵn sàng

và mong muốn trao đổi, thỏa thuận tiến tới ký kết một bộ quy tắc ứng sử (COC) với Trung Quốc

để đóng góp vào duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và ngày 18-11-2012 tại Campuchia.Tuyên bố Nhân quyền ASEAN - AHRD “đã được ký kết giữa các lãnh đạo của 10 nước ASEANđây là văn kiện quan trọng của ASEAN nhằm tạo khuôn khổ tăng cường họp tác và thúc đẩy vàbảo vệ nhân quyền trong khu vực”

Những nỗ lực hợp tác chính trị - an ninh của ASEAN giai đoạn hiện nay được thể hiện qua các

mặt chủ yếu sau: Một là, tăng cường hợp tác trong việc giải quyết tranh chấp chủ quyền ở biển Đông Hai là, củng cố ARF thành công cụ hiệu quả đảm bảo an ninh khu vực Ba là, hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên Bốn là, ASEAN tiến hành sửa đổi TAC, cố gắng đưa các nước lớn vào khuôn khổ khu vực Năm là, xây dựng Cộng đồng an ninh ASEAN (ASC),

với mục tiêu chính là nâng hợp tác an ninh và chính trị ASEAN lên tầm cao mới, đảm bảo các nướcASEAN chung sống hòa bình và với toàn thế giới trong môi trường công bằng, dân chủ và hài hòa,góp phần đưa ASEAN từ một hiệp hội trở thành một tổ chức hợp tác liên chính phủ chặt chẽ vớimức độ liên kết cao hơn trên cơ sở pháp lý của Hiến chương chung./

Trang 36

ở 4 nước là: Indonêxia, Việt Nam, Thái lan, Philippin Đây cũng là 4 trong 22 nước trên thế giới

có dân số trên 50 triệu người (ĐNA còn Myanma cũng trên 50triệu người) Cùng với sự pháttriển kinh tế dân số đông và đặc điểm tâm lý dân c đã làm cho ĐNA trở thành thị trường tiêu thụ,thị trường nhân lực lao động đầy tiềm năng nhng cha đợc khai thác một cách triệt để

Các nước ĐNA hầu hết có khí hậu nhiệt đới xích đạo đại dương (nóng ẩm ma nhiều), mạnhlới sông ngòi dày đặc, trữ lượng nước dồi dào, lại hầu hết là quốc đảo 5/11 nước; hoặc tiếp giápvới đại dương 5/11 rất thuận lợi cho phát triển nông lâm nghiệp, thuỷ hải sản ĐNA có nguồn tàinguyên phong phú, đây là nơi cung cấp tới 90% tổng sản lượng Cao su, Dừa, Đay, Gai… cho thếgiới và chiếm vị trí quan trọng về các mặt hàng Chè, Cà Fê, Bông, Hương liệu… Việt nam vàThái lan còn là 2 nước chiếm vị trí hàng đầu trong xuất khẩu Gạo trên thế giới Các nước ĐNAcòn có nguồn khoáng sản phong phú trong đó trữ lượng kim loại chiếm tỷ lệ cao nh: Thiếc,Đồng, Chì, Sắt…Đặc biệt là dầu mỏ đợc tìm thấy hầu hết ở các quốc gia ĐNA, nhất là khu vựcBiển đông

- ĐNA án ngữ trên một vị trí Địa – Chiến lược vô cùng quan trọng trên thế giới với nhiều lợithế, trở thành một khâu then chốt của cầu nối giữa hai châu lục á-âu, giữa Tây nam á, Trung cậnđông, Bắc phi với Đông bắc á và Bắc Mỹ

Hệ thống cảng biển, eo biển và đường hàng hải thuận tiện nhất từ Đại Tây Dương và ấn ĐộDương đến Thái Bình Dương (với 2 eo biển Malắcca và eo biẻn Trung quốc-Đài loan; hai cảngbiển lớn và hiện đại vào loại bậc nhất trên thế giới là Singapo và Cam Ranh; với 5/7 tuyến biểnquan trọng của thế giới đi qua khu vực) Dọc và quanh các bờ biển của các nước ĐNA và cáctuyến đường hàng không quốc tế, trên biển là tuyến cáp quang quốc tế

Có thể nói rằng ĐNA là khu vực chiến lược quan trọng có quan hệ và lợi ích với tất cả cáccường quốc trên thế giới và do đó trở thành địa bàn quan tâm, giành giật ảnh hưởng của nhiềucường quốc từ rất sớm

- ĐNA là khu vực Lịch sử- Văn hoá đa sắc thái và giàu truyền thống Đây là nơi giao thoagiữa các nền văn hoá, văn minh trên thế giới nh: Trung quốc, Nhật bản, ả rập, ấn độ…nhng cũng

là nơi có nền văn hoá bản địa riêng biệt mà các nền văn hoá lớn đến không thể đồng hoá đợc màchỉ đợc tiếp nhận Người ta ghi nhận đợc tại khu vực này một nền văn hoá mang tính mở nhngthống nhất trên một mẫu số chung: đó là sự đoàn kết cộng đồng để tạo nên sức mạnh tập thể trênmột nền tảng chung của nền văn minh lúa nước Nét văn hoá chung của ĐNA đợc ghi nhận là sựđoàn kết trong đa dạng Có nhiều tôn giáo lớn nhng không có xung đột tôn giáo lớn trong lịch

sử, có nhiều thể chế chính trị nhng vẫn đoàn kết, thống nhất đợc một số tổ chức chung nhASEAN…

- Nói đến ĐNA trong giai đoạn hiện nay phải nói đến đặc điểm lớn nhất và nổi trội nhất

đó là: Khu vực phát triển năng động, thống nhất, là hạt nhân trong nhiều mối quan hệ quốc tế lớn (cộng đồng Đông á; Hợp tác á - Âu, Hợp tác Châu á - Thái Bình Dương….)

Hai là: những nhân tố quan trọng tác động đến quan hệ các nước ở Đông Nam á là sự điều chỉnh chính sách của các nước lớn đối với khu vực.

Mỹ: Do đặt trọng tâm vào chấn hưng nền kinh tế và giải quyết các vấn đề nội bộ, nên ngay

sau chiến tranh lạnh Mỹ đã có sự giảm nhất định các mối quan tâm đối với khu vực ĐNA nh rútcác căn cứ quân sự ở SUBIC và KLAC ở Philippin năm 1992 Tuy nhiên trước sự phát triểnnăng động của hợp tác khu vực, đặc biệt là sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc, Nhật Bản ởkhu vực này Mỹ đã điều chỉnh chính sách tăng cường quan hệ với các nước ĐNA Mỹ từng bớcbãi bỏ cấm vận và xúc tiến bình thường hóa quan hệ với Việt Nam 1995, tìm kiếm cơ sở để triểnkhai lực lượng phản ứng nhanh tại khu vực, tích cực tham gia ARF Sau sự kiện 11/9/2001 Mỹ

đa quân trở lại Philippin dới danh nghĩa chống khủng bố quốc tế

Trung Quốc: Do những cầu phát triển kinh tế và an ninh nên Trung Quốc tăng cường hướng

xuống phía Nam, thực hiện chiến lược khai thác Biển Đông 2002 Trung Quốc ký kết vớiASEAN "Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện"; theo đó, hai bên quyết định thành lập khu

Trang 37

vực mậu dịch tự do vào năm 2010 Năm 2003 Trung Quốc chính thức tham gia "Hiệp ớc hữunghị và hợp tác Đông Nam á" Đó là những sự kiện quan trọng đánh dấu một bớc phát triển mới

về chất trong quan hệ của mình với ASEAN nhằm đối phó với xu thế hợp tác, liên kết toàn khuvực đang diễn ra sôi động

Nhật Bản: Thực hiện chủ trơng "Quay trở về", củng cố hợp tác khu vực ĐNA, muốn nâng

cao ảnh hưởng chính trị cho tơng xứng với sức mạnh kinh tế từ đây lập ảnh hưởng toàn diện đốivới khu vực Nhật Bản coi trọng phát triển quan hệ với các nước ASEAN điều đó đợc thực hiệnbởi các học thuyết: Học thuyết MiaZaoa; Học thuyết Haisimoto; Học thuyết Ôbuchi và gần đây

là Học thuyết Kôizumi về ĐNA Chuyển quan hệ với ASEAN sang quan hệ bạn bè, hợp tácbình đẳng, mở rộng ra không chỉ trong lĩnh vực kinh tế , thương mại mà cả chính trị, an ninhninh, văn hóa - xã hội

Nga và EU: Cùng với Mỹ, Nhật bản, Trung quốc, Liên Bang Nga và liên minh Châu âu (EU)

cũng ngày càng quan tâm hơn đến ĐNA Bên cạnh các quan hệ song phương EU thông qua cơchế hợp tác á - âu (ASEM) để phát triển quan hệ với ASEAN Tháng 7/ 2003 ủy ban châu âu đãban hành "Đối tác mới với các nước ĐNA", đa ra sáu lĩnh vực ưu tiên trong quan hệ với khuvực

Những điều chỉnh chính sách của các nước lớn đối với khu vực ĐNA sau chiến tranh lạnh đã

và đang tác động mạnh mẽ đến cục diện khu vực và quan hệ giữa các nước ở đây, làm xuất hiệnnhững phương thức tập hợp lực lượng mới cơ động, linh hoạt nhng cũng rất phức tạp Điều đóbuộc các nước ĐNA cần có chính sách thích hợp trong tiến trình phát triển hợp tác, liên kết khuvực

Vận động trong bối cảnh quan hệ nêu trên, các quốc gia ĐNA cần thiết phải đẩy mạnh quátrình hợp tác và liên kết khu vực, liên kết quan hệ về nhiều lĩnh vực khác, Hợp tác ngày càngtăng, nhng cạnh tranh cũng rất gay gắt, đòi hỏi các nước trong khu vực không chỉ mở rộng quan

hệ chính trị đối ngoại, mà còn thực hiện liên kết kinh tế, giao lưu văn hóa, giáo dục, y tế, thôngtin…, nhờ vậy các nước trong khu vực mới có khả năng đứng vững trong xu thế cạnh tranh vàphát triển

2 Quan hệ hợp tác, liên kết khu vực ĐNA sau chiến tranh lạnh:

Những xu hướng phát triển chủ yếu của thế giới

- Hoà bình, ổn định, đối thoại, hợp tác và phát triển là xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế

- Sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của cách mạng KH-CN đa thế giới đến những bướcphát triển mới về chất

- Xu hướng toàn cầu hoá trước hết là toàn cầu hoá về kinh tế

- Xu hướng vừa hợp tác vừa đấu tranh giữa các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau

Hợp tác và liên kết ở khu vực ĐNA sau chiến tranh lạnh

- Sau chiến tranh lạnh và vấn đề Campuchia đợc giải quyết, trước các yêu cầu khách quan vàchủi quan; mối quan hệ giữa các nước trong khu vực đợc tăng cường, thiết lập và đẩy mạnh.Trong 40 năm tồn tại và phát triển, trong gần 30 năm đầu (1967-1995) nếu nh ASEAN chỉ kếtnạp đợc 1 thành viên mới là Brunây 1984; và tiến hành 4 cuộc hội nghị thợng đỉnh thì chỉ tronghơn 10 năm sau cùng đã có 4 quốc gia mới gia nhập ASEAN đó là Việt Nam 1995 ; Lào,Mianma 1997; Campuchia 1999 và có tới 7 hội nghị thợng đỉnh đợc tổ chức Đáng chú ý hơnquan hệ giữa các nước ĐNA diễn ra sôi động trên tất cả các lĩnh vực theo hướng đẩy mạnh qúatrình hợp tác, liên kết khu vực và mở rộng quan hệ quốc tế

Trên lĩnh vực an ninh-chính trị: là lĩnh vực quan tâm nhất và thành công nhất Các quốc

gia trong khu vực đã tạo ra đợc những cơ chế giải pháp hữu hiệu có khả năng ngăn ngừa xungđột, tạo điều kiện thuân lợi cho việc xây dựng môi trường hoà bình, hữu nghị, hợp tác để cùngnhau bảo vệ độc lập, chủ quyền và phát triển

Diễn đàn an ninh ASEAN (ARF) đợc thành lập 1993 tại Singapo và tiến hành cuộc hợpđầu tiên vào tháng 7/1994 tại Băng Cốc với sự tham dự của 18 Bộ trưởng ngoại giao các nước

Trang 38

trong khu vực và các nước hữu quan chủ chốt như Mỹ, Nga, Trung quốc, Nhật bản, Ôxtrâylia…các bên đã chấp nhận những mục tiêu và nguyên tắc của hiệp ớc Bali nh là phương châm ứng xửgiữa các quốc gia là phương tiện để xây dựng lòng tin, thực hiện ngoại giao phòng ngừa, hợp tácchính trị và an ninh khu vực Các cuộc họp ARF (11 cuộc trong 10 năm từ 1994-2004) là nơi cácnước trình bày, trao đổi các quan điểm về hoà bình và an ninh khu vực cũng nh một số vấn đềquốc tế quan tâm ARF 11 đã ra tuyên bố về tăng cường an ninh giao thông, chống khủng bốquốc tế và tuyên bố về không phổ biến vũ khí hạt nhân Bộ quy tắc ứng xử khu vực (COC) đangđợc khởi thảo nhằm đặt nền tảng cho việc xử lý các vấn đề giữa các quốc gia có yêu sách chủquyền trên biển đông Tháng 11/2002 ASEAN và Trung quốc đã ký tuyên bố chung về ứng xửcủa các bên COC tại biển đông

Từ năm 2004 ASEAN nhất trí nỗ lực hướng tới việc xây dựng một cộng đồng ASEAN hoàbình, đoàn kết, phát triển năng động, hội nhập toàn diện vào năm 2004 với 3 trụ cột chính làcộng đồng an ninh ASEAN (ASC), cộng đồng kinh tế (AEC), cộng đồng xã hội và văn hoá(ASCC) Dự thảo kế hoạch hành động của cộng đồng an ninh ASEAN đã đợc thông qua

Sự hợp tác quân sự: Mới ở mức độ song phương hoặc vài nước cũng tham gia nhng đã xuất

hiện thêm một hình thức hợp tác mới về quân sự là cuộc hợp của các quan chức quân sự cấp caoASEAN với chủ đề chính là các vấn đề liên quan đến Quốc phòng và An ninh ASEAN còn pháttriển hợp tác an ninh, chính trị trong khuôn khổ các cơ chế đa phương nh ASEAN, hợp tác tiểuvùng, ASEAN + 1, ASEAN + 3…

+ Trên lĩnh vực kinh tế: Thành tựu lớn nhất đã tạo ra đợc các cơ sở pháp lý, dã hiện thực hoá

từng phần tự do thương mại, đã đặt nền móng cho sự hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN.Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đợc tiến hành xây dựng từ năm 1993, trên cơ sở sửdụng thoả thuận về thuế quan u đãi, cắt giảm thuế quan đợc xác định Quyết định thực hiệnAFTA phản ánh sự cố gắng lớn thúc đẩy hợp tác kinh tế và chương trình hợp tác kinh tế lớn nhất

từ trước đến nay của ASEAN

Hội nghị thợng đỉnh ASEAN VI (Hà nội – 1998) đã thông qua hiệp định khu vực đầu t (AIA)nhằm hình thành khu vực đầu t ASEAN 2002 Đây cũng là một hướng u tiên của ASEAN hiệnnay “Sáng kiến hội nhập ASEAN – AIA” năm 2000 và tuyên bố Hà nội năm 2001 đợc thôngqua nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN với 4 lĩnh vựu u tiên giúp các thành viênmới: Phát triển cơ sở hạ tầng nguồn lực, công nghệ thông tin và thúc đẩy liên kết kinh tế

Các nước ASEAN đang thực hiện việc xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào năm2020; theo đó ASEAN sẽ trở thành một thị trường duy nhất có cơ sở sản xuất thống nhất, trong

đó có sự tự do lưu thông hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, t bản, nhân tài và nhân công có tay nghề.Mặt khác, ASEAN chú trọng và tích cực phát triển hợp tác, liên kết kinh tế trong khuôn khổcác kinh tế đa phương nh ASEM, hợp tác tiểu vùng, ASEAN + 1, ASEAN + 3, diễn đàn đốithoại hợp tácc châu á (ACD)

Trong lĩnh vực văn hoá xã hội: Hội nghị thợng đỉnh IV (SinGaPo – 1992) Nhấn mạnh:

ASEAN cần đẩy nhanh quá trình hình thành bản sắc và đoàn kết khu vực: Đang hướng tới thànhlập trường đại học ASEAN nhằm tăng cường hợp tác đào tạo, nghiên cứu và thông tin Hợp tácliên kết trong lĩnh vực truyền hình, xuất bản cũng đợc xúc tiến Hướng tới xây dựng cộng đồng

xã hội và văn hoá ASEAN (ASCC) vào năm 2020

-Câu 12: Phân tích cơ sở hoạch định đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới.

1 Tình hình thế giới và khu vực

Trang 39

1.1 Đặc điểm chủ yếu

Đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, Liên Xô tan rã, các nước XHCN Đông Âu sụp đổ làm chocục diện thế giới và quan hệ quốc tế thay đổi một cách cơ bản CNXH hiện thực lâm vào thoáitrào, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bị khủng hoảng sâu sắc, toàn diện Cơ cấu địa -chính trị và sự phân bố quyền lực toàn cầu bị đảo lộn, cán cân so sánh lực lượng thế giớinghiêng về phía có lợi cho chủ nghĩa tư bản

Cách mạng khoa học và công nghệ có bước tiến nhảy vọt tác động sâu sắc tình hình kinh tế,chính trị, xã hội và quan hệ quốc tế Tuy nhiên, những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đạilại chủ yếu thuộc về các nước phát triển do họ có thực lực kinh tế, tiềm lực khoa học hùng mạnhcùng với mạng lưới công ty xuyên quốc gia vươn rộng khắp hành tinh

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ khiến cho sự phát triển kinh tế ngày càng phụ thuộcvào nhân tố tri thức - trí tuệ, tạo ra bước ngoặt hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông tinToàn cầu hóa kinh tế phát triển mạnh mẽ lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia Trong xuthế toàn cầu hóa, tự do hóa kinh tế và cải cách thị trường diễn ra phổ biến Các nền kinh tế dựavào nhau, liên kết với nhau, xâm nhập lẫn nhau, khiến cho tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nướcngày càng tăng Tuy nhiên, xu thế toàn cầu hóa đang bị một số nước phát triển và các tậpđoàn tư bản xuyên quốc gia chi phối, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợptác vừa có đấu tranh

Thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc vẫn tiếp tục diễn ra gay

go, phức tạp Nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi, song nhiều cuộc chiến tranh cục bộ, xungđột sắc tộc và tôn giáo, chạy đua vũ trang, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên thiênnhiên xảy ra ở nhiều nơi

Đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc có những biểu hiện mới với hình thức và nộidung đa dạng Cùng với cuộc đấu tranh do các nước XHCN tiến hành chống “diễn biến hòabình” của chủ nghĩa đế quốc, tại nhiều nước diễn ra cuộc đấu tranh chống âm mưu canthiệp, lật đổ thông qua “cách mạng màu sắc” Phong trào đấu tranh chống các chính sáchcủa chủ nghĩa tự do mới, chống mặt trái của toàn cầu hóa diễn ra sôi nổi, lôi cuốn hàngtriệu người tham gia

Các nước lớn là nhân tố rất quan trọng đối với sự phát triển của thế giới Một số cường quốc

có sức chi phối lớn nền chính trị, kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế, trong đó Mỹ vẫn có ưuthế khá nổi trội, tỏ rõ tham vọng “lãnh đạo” thế giới Sự cạnh tranh quyết liệt giữa các nướclớn, các trung tâm tư bản quốc tế làm thu hẹp đáng kể khoảng cách chênh lệch thực lực kinh tếgiữa họ Quan hệ giữa các nước lớn rất đa dạng về cấp độ và luôn thay đổi, chuyển hóa hếtsức phức tạp, khó lường Các nước lớn vừa đấu tranh vừa thỏa hiệp và vì lợi ích của mình nhìnchung đều tránh đối đầu trực diện với nhau

Nhân loại đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc mà không một quốc gia riêng lẻ nào cóthể tự giải quyết được nếu không có sự hợp tác đa phương Những nỗ lực chung của cộng đồngquốc tế nhiều năm qua đã đưa lại một số kết quả trong việc làm giảm thiểu hiệu ứng nhà kính,

xử lý nguồn nước và rác thải, chữa trị các bệnh lây nhiễm HIV/AIDS, SARS, dịch cúm gia cầmNhưng, tính chất nghiêm trọng và phức tạp của những vấn đề toàn cầu tiếp tục đòi hỏi các nướcphải tích cực phối hợp, hợp tác một cách hiệu quả thiết thực cả trong khuôn khổ song phươngcũng như đa phương

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động Hợp táckhu vực diễn ra sôi động trên nhiều tầng nấc từ liên khu vực đến hợp tác theo nhóm nước và songphương, từ chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế mở rộng ra các lĩnh vực chính trị, an ninh Bên cạnh đó,

sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn rất gay gắt, kiềm chế lẫn nhau ngày càng sâu sắc Tínhnăng động cao của các quá trình hợp tác, liên kết, hội nhập khu vực ảnh hưởng tích cực đến việchình thành một cấu trúc khu vực mới có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển Tuy nhiên, tại khuvực này cũng tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định như: tranh chấp về ảnh hưởng và quyền lực,

Trang 40

về biên giới, lãnh thổ, biển đảo, tài nguyên giữa các nước cùng với những bất ổn kinh tế, chính trị,

xã hội ở một số nước

1.2 Xu thế vận động của thế giới hiện nay

Hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển là xu thế lớn, là đòi hỏi bức xúc của các dân tộc

và các quốc gia trên thế giới Các nước đều dành ưu tiên phát triển kinh tế, coi phát triểnkinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của mỗi nước;đồng thời tạo sự ổn định chính trị, mở rộng hợp tác quốc tế Chính sách đối ngoại của mỗinước được hoạch định và triển khai thực hiện nhằm tranh thủ khai thác các nguồn lực bênngoài phục vụ cho sự phát triển của đất nước, trước hết về kinh tế

Các quốc gia lớn, nhỏ đều tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết khuvực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vực khác Hợp tác ngày càng tăng,nhưng cạnh tranh cũng rất gay gắt

Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, đấu tranh chống sự áp đặt vàcan thiệp của nước ngoài, bảo vệ độc lập chủ quyền và nền văn hóa dân tộc Đối với các nướcđang phát triển, do sự phụ thuộc vào các nước tư bản phát triển về khoa học, công nghệ và vốn,nên họ đang đứng trước những thách thức lớn Việc nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực, tựcường, đấu tranh chống sự áp đặt và can thiệp của nước ngoài là một xu thế tất yếu trong bốicảnh quốc tế hiện nay

Các nước XHCN, các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng, tiến bộ trênthế giới kiên trì đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Phong tràocộng sản và công nhân quốc tế có những bước hồi phục và vẫn là một lực lượng chính trị tolớn trong thời đại ngày nay Sự củng cố, lớn mạnh của các đảng cộng sản cầm quyền và sựphục hồi nhất định của các đảng cộng sản ở các nước tư bản phát triển và các nước đang pháttriển, đặc biệt là sự phát triển của trào lưu cánh tả Mỹ Latinh đang mở ra triển vọng mới chophong trào cộng sản, công nhân quốc tế trong thế kỷ XXI

Các nước với chế độ chính trị - xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợptác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc1 Hợp tác và đấu tranh là haimặt trong quan hệ quốc tế và chi phối phương thức quan hệ giữa các nước Đấu tranh và hợp táctrong cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau là nguyên tắc, làphương pháp xử lý các quan hệ quốc tế hiện nay Khi nhu cầu hội nhập quốc tế ngày càng trở lênbức xúc đối với các quốc gia dân tộc, thì môi trường hòa bình, ổn định và phát triển của mỗinước là điều kiện để hội nhập tốt hơn, hiệu quả hơn

Tình hình thế giới và khu vực với những đặc điểm và xu thế nêu trên quy định tính đa dạnghóa, đa phương hóa trong chính sách đối ngoại của các nước, trong đó có Việt Nam Các nướcđều tiến hành điều chỉnh chính sách đối ngoại, tìm cách hội nhập ngày càng sâu rộng với khuvực và thế giới vì mục tiêu phát triển

2 Tình hình và nhiệm vụ cách mạng Việt Nam

Tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng xácđịnh rõ: “Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầutiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết choviệc đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường tiếp theo” Trong đó, những nhiệm

vụ kinh tế- xã hội có ý nghĩa vừa cơ bản, vừa trước mắt là đẩy mạnh giải phóng sức sản xuất, tậptrung phát triển kinh tế xã hội để nhanh chóng vượt ra khỏi khủng hoảng kinh tế, phá thế bị baovây cấm vận của các thế lực thù địch và mở rộng quan hệ đối ngoại

Từ thập niên 90 thế kỷ XX, nền kinh tế Việt Nam chuyển mạnh từ cơ chế kế hoạch hóa tậptrung quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, hình thành ngày càng đồng bộ các yếu tố thịtrường ĐCSVN xác định xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và coi đây là môhình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên CNXH Nhờ có sự nỗ lực vượt bậc với những bước

1 Xem ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, tr.69.

Ngày đăng: 24/10/2018, 17:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w