BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA CHẾ PHẨM MICROBOND LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC KHỎE HEO THỊT
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA CHẾ PHẨM MICROBOND LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC KHỎE HEO THỊT TẠI TRẠI CHĂN NUÔI HƯNG VIỆT
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA CHẾ PHẨM MICROBOND LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC KHỎE HEO
THỊT TẠI TRẠI CHĂN NUÔI HƯNG VIỆT
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS Nguyễn Ngọc Côn
Tháng 09/2009
Trang 3KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA CHẾ PHẨM MICROBOND LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC KHỎE HEO THỊT TẠI TRẠI
CHĂN NUÔI HƯNG VIỆT - TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
Giáo viên hướng dẫn
TS NGUYỄN VĂN KHANH ThS NGUYỄN NGỌC CÔN
Tháng 09 năm 2009
Trang 4XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ tên sinh viên thực hiện: NGUYỄN THÀNH NGHIÊM
Tên luận văn: Khảo sát hiệu quả của chế phẩm Microbond lên một số chỉ
tiêu tăng trưởng và sức khỏe heo thịt tại trại chăn nuôi Hưng Việt - Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Đã hoàn thành luận văn theo yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp khoa ngày ……… …
Giáo viên hướng dẫn
Trang 5
Bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
Đến Tiến Sĩ Nguyễn Văn Khanh và Thạc Sĩ Nguyễn Ngọc Côn, với sự giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp ý kiến quý báu và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
Trang 6TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài nghiên cứu ”Ảnh hưởng của chế phẩm Microbond lên một số chỉ tiêu tăng trưởng và sức khỏe heo thịt tại trại chăn nuôi Hưng Việt - Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu” được tiến hành tại trại chăn nuôi Hưng Việt - Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, thời gian từ 12/02/2009 đến 12/06/2009 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu mẫu hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố: khảo sát 120 heo từ 63 ngày tuổi đến xuất chuồng, tương đối đồng đều về trọng lượng, giới tính và giống được chia làm 3 lô (mỗi lô 40 heo), 2 lô thí nghiệm (bổ sung chế phẩm Microbond với mức 1 kg/tấn thức ăn và 2 kg/tấn thức ăn),
lô đối chứng (không bổ sung Microbond) Trong suốt thời gian thực tập ở trại, chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
Tăng trọng bình quân sau khi bổ sung chế phẩm Microbond ở lô 1 (62,44 ± 7,08 kg/con), lô 2 (62,20 ± 7,64 kg/con) và lô đối chứng (60,66 ± 12,82 kg/con) Hệ số chuyển hóa thức ăn ở lô bổ sung chế phẩm Microbond ở lô 1 là 2,85, ở lô 2 là 2,91 thấp hơn so với lô đối chứng (2,92) Tăng trọng tuyệt đối ở lô bổ sung chế phẩm Microbond ở lô 1là 743 ± 84 g/con/ngày, ở lô 2 là 741 ± 91 g/con/ngày cao hơn so với
lô đối chứng (722 ± 153 g/con/ngày)
Tăng trọng bình quân của heo đực thiến là 64,42 ± 6,90 kg/con, của heo cái là 59,12 ± 10,95 kg/con Tăng trọng tuyệt đối của heo đực thiến là 767 ± 82 g/con/ngày, của heo cái là 704 ± 130 g/con/ngày Hệ số chuyển hóa thức ăn của heo đực thiến là 2,87 và của heo cái là 2,92
Tỷ lệ ho ở hai lô có bổ sung Microbond ở lô 1 (22,5 %) và lô 2 (17,5 %) thấp hơn
lô đối chứng (25 %) Tỷ lệ thở bụng ở hai lô bổ sung Microbond lô 1 (5 %) và lô 2 (7,5
%) thấp hơn lô đối chứng (15 %) Tỷ lệ ho kết hợp thở bụng ở lô 1 (5 %), lô 2 (7,5%)
và lô đối chứng (7,5 %) Tỷ lệ tiêu chảy ở lô 1 (47,5 %), lô 2 (50 %) thấp hơn lô đối chứng (62,5 %)
Tỷ lệ loại thải ở 3 lô là như nhau (0 %) Tỷ lệ chết ở hai lô bổ sung Microbond lô
1 và lô 2 là 0 % thấp hơn lô đối chứng là 2,5 %
Hiệu quả kinh tế ở lô bổ sung Microbond lô 1 là 103,7 % và lô 2 là 99,748 % so với lô đối chứng
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
Lời cảm tạ iii
Tóm tắt iv
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt viii
Danh sách các bảng ix
Danh sách các biểu đồ x
Danh sách các hình xi
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích 2
1.3 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 SƠ LƯỢC VỀ TRẠI HEO HƯNG VIỆT 3
2.1.1 Giới thiệu về trại heo Hưng Việt 3
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại 4
2.1.3 Bố trí chuồng trại 4
2.1.4 Cơ cấu đàn và công tác giống heo 5
2.1.5 Chuồng trại 5
2.1.6 Thức ăn 6
2.1.7 Nước uống 8
2.1.8 Qui trình chăm sóc nuôi dưỡng 8
2.1.9 Vệ sinh thú y 11
2.1.10 Quy trình tiêm phòng 11
2.1.11 Bệnh và điều trị 12
2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ HÔ HẤP TRÊN HEO 13
2.2.1 Đặc điểm sinh lý hô hấp của heo 13
Trang 82.2.2 Hệ thống miễm dịch trên đường hô hấp 13
2.2.2.1 Miễn dịch không chuyên biệt 13
2.2.2.2 Hệ niêm dịch - tiên mao 13
2.2.2.3 Cản nhiễm tố (interferon) 14
2.2.2.4 Hệ thống bổ thể 14
2.2.2.5 Những đại thực bào 14
2.2.3 Đặc diểm của một số loại tế bào tham gia trong đáp ứng miễn dịch của cơ thể.15 2.2.4 Quá trình thực bào 16
2.3 ĐẶC ĐIỂM VỀ SINH LÝ TIÊU HÓA TRÊN HEO 17
2.3.1 Các enzyme có vai trò trong hệ thống tiêu hóa 17
2.3.1.1 Khái niệm Enzyme 17
2.3.1.2 Phương thức hoạt động của enzyme 17
2.3.1.3 Enzyme và các cơ chất hoạt động của nó 17
2.3.1.4 Vai trò của enzyme trong chăn nuôi 19
2.3.2 Hệ vi sinh vật đường ruột 20
2.3.2.1 Đặc điểm hệ vi sinh vật đường ruột 20
2.3.2.2 Vai trò của hệ vi sinh vật đường ruột 21
2.4 GIỚI THIỆU VỀ β-GLUCAN VÀ NẤM MEN SACCHAROMYCES CEREVISIAE 22
2.4.1 Giới thiệu nấm men 22
2.4.1.1 Phân loại 22
2.4.1.2 Đặc điểm của nấm men 22
2.4.1.3 Thành phần vách tế bào nấm men (Saccharomyces cerevisiae) 22
2.4.1.4 Ứng dụng 23
2.4.2 Giới thiệu về β-glucan 23
2.4.2.1 Nguồn gốc của β-glucan 23
2.4.2.2 Vai trò của β-glucan trong đáp ứng miễn dịch 23
2.5 Một số công trình nghiên cứu về các chế phẩm dinh dưỡng bổ sung vào khẩu phần heo thịt 24
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 26
3.1 Thời gian và địa điểm 26
Trang 93.2 Đối tượng khảo sát 26
3.3 Giới thiệu vật liệu thí nghiệm 26
3.3.1.Giới thiệu thành phần chế phẩm Microbond 26
3.3.2 Lợi ích của chế phẩm Microbond 27
3.3.3 Phương thức tác động của chế phẩm Microbond 27
3.4 Nội dung nghiên cứu 30
3.5 Công thức tính các chỉ tiêu theo dõi 30
3.6 Phương pháp tiến hành 31
3.7 Xử lí số liệu 32
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 MỨC ĐỘ TĂNG TRỌNG VÀ HỆ SỐ CHUYỂN HOÁ THỨC ĂN 33
4.1.1 Mức độ tăng trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn của các lô thí nghiệm 33
4.1.2 Trọng lượng và tăng trọng theo chế phẩm Microbond và giới tính 36
4.1.2.1 Ảnh hưởng của giới tính và chế phẩm Microbond lên tăng trọng heo 36
4.1.2.2 Ảnh hưởng của giới tính lên tăng trọng heo 39
4.2 TÌNH HÌNH BỆNH TRÊN ĐÀN HEO THÍ NGHIỆM 40
4.2.1 Tình hình bệnh chung 41
4.2.2 Tình hình bệnh trên đường hô hấp 42
4.2.2.1 Biểu hiện ho trên đàn heo thí nghiệm 42
4.2.2.2 Tỷ lệ thở bụng trên heo thí nghiệm 43
4.2.2.3 Tỷ lệ ho kết hợp thở bụng trên heo thí nghiệm 45
4.2.3 Biểu hiện tiêu chảy 46
4.2.4 Bệnh khác 47
4.2.5 Tỷ lệ loại thải và tỷ lệ chết 48
4.3 Hiệu quả kinh tế 48
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 54
Trang 10CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FMD : Foot and Mouth Disease
HSCHTA : Hệ số chuyển hóa thức ăn
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Thành phần thực liệu các loại thức ăn của heo thịt giai đoạn 63 ngày tuổi
đến xuất chuồng 7
Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng các loại thức ăn của heo thịt giai đoạn từ 63 ngày tuổi đến xuất chuồng .8
Bảng 2.3 Quy trình tiêm phòng của trại chăn nuôi Hưng Việt 12
Bảng 2.4 Tỷ lệ % của các hệ phổ vi khuẩn 21
Bảng 3.1 Thành phần enzyme có trong Microbond 26
Bảng 3.2 Bố trí thí nghiệm sử dụng chế phẩm Microbond 31
Bảng 4.1 Tăng trọng và hệ số chuyển hoá thức ăn qua đợt thí nghiệm 33
Bảng 4.2 Tăng trọng và HSCHTA theo nhóm giới tính giữa các lô thí nghiệm 37
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của chế phẩm Microbond và giới tính lên tăng trọng 38
Bảng 4.4 Trọng lượng và tăng trọng theo giới tính 39
Bảng 4.5 Tình hình bệnh chung trong đợt thí nghiệm 41
Bảng 4.6 Biểu hiện ho trên đàn heo thí nghiệm 42
Bảng 4.7 Tỷ lệ heo thở bụng 44
Bảng 4.8 Tình hình ho kết hợp thở bụng 45
Bảng 4.9 Tỷ lệ heo tiêu chảy 46
Bảng 4.10 Tỷ lệ các bệnh khác 47
Bảng 4.11 Tỷ lệ loại thải và tỷ lệ chết 48
Bảng 4.12 Tổng kết thu và chi trong đợt thí nghiệm 49
Trang 12DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.1 Tăng trọng bình quân ở các lô thí nghiệm 34
Biểu đồ 4.2 Tăng trọng tuyệt đối của các lô thí nghiệm 35
Biểu đồ 4.3 Hệ số chuyển hóa thức ăn của các lô thí nghiệm 36
Biểu đồ 4.4 Tăng trọng bình quân của heo đực thiến và heo cái ở các lô thí nghiệm 39 Biểu đồ 4.5 Tăng trọng tuyệt đối của heo đực thiến và heo cái ở các lô thí nghiệm 39
Biểu đồ 4.6 Tăng trọng của heo đực thiến và heo cái 40
Biểu đồ 4.7 Tỷ lệ bệnh và tỷ lệ ngày con bệnh 42
Biểu đồ 4.8 Tỷ lệ con ho và ngày con ho 43
Biểu đồ 4.9 Tỷ lệ con thở bụng và ngày con thở bụng 44
Biểu đồ 4.10 Tỷ lệ heo bệnh đường hô hấp 46
Biểu đồ 4.11 Tỷ lệ heo tiêu chảy 47
Trang 13DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang Hình 2.1 Trại chăn nuôi Hưng Việt 3 Hình 2.2 Bên trong và bên ngoài chuồng nuôi heo thịt 6
Trang 14Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Từ lâu, thịt heo được xem như là nguồn cung cấp protein rất được ưa chuộng, vì
nó không chỉ thỏa mãn sự ngon miệng mà còn phù hợp với nhu cầu của của người tiêu dùng Khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu tiêu thụ thịt cũng tăng cao Đối với ngành chăn nuôi heo chúng ta cũng đã và đang tiếp thu, ứng dụng những thành tựu khoa học
kĩ thuật của thế giời ngày càng tốt hơn, nhằm thực hiện nhiệm vụ sản xuất nguồn thịt heo đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân, góp phần cải thiện kinh tế cho nhà chăn nuôi, giải quyết lao động nhàn rỗi cho địa phương, thúc đẩy sự phát triển chung của đất nước
Để có được sản phẩm tốt, chất lượng cung cấp cho thị trường đòi hỏi những nhà chuyên môn và nhà chăn nuôi phải quan tâm đến các vấn đề chính: giống, thức ăn, thuốc thú y, chăm sóc, quản lý dịch bệnh,… nhằm tạo điều kiện cho heo sinh trưởng
và phát triển tốt, đem lại hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những khó khăn nhất định do nước ta là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thích hợp cho sự phát triển của mầm bệnh, nhất là vào mùa mưa hoặc lúc giao mùa Trong những năm gần đây tình hình dịch bệnh xảy ra mạnh ( như bệnh lở mồm long móng (FMD), hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp trên heo (PRRS),…) ở một số tỉnh thành của cả nước, gây thiệt hại đáng kể cho nền chăn nuôi heo của nước ta
Để khắc phục thiệt hại đó, các nhà chăn nuôi luôn tìm cách phòng chống bệnh bằng vaccine, cải thiện môi trường, dinh dưỡng phù hợp bằng cách bổ sung thêm các chất khác như enzyme kích thích tiên hóa, vitamin C, β-glucan, các vi sinh vật có lợi,… để tăng cường sức đề kháng và sức tăng trưởng cho heo
Một trong những hướng nghiên cứu được các nhà khoa học và các nhà chăn nuôi quan tâm hiện nay là sử dụng các chế phẩm vi sinh bổ sung vào trong thức ăn Trong
đó chế phẩm hiện nay đang được quan tâm là chế phẩm Microbond với thành phần chủ
yếu là các vi sinh vật có lợi (Saccharomyces cerevisiae, Bacillus subtilis, Aspergillus
Trang 15oryzae, Aspergillus niger,…), rong biển, β-glucan, các amino acid và chất hấp phụ độc
tố nấm trong thức ăn giúp tăng cường sức đề kháng, chống stress, phục hồi sức khỏe nhanh trong trường hợp bị bệnh, kích thích miễn dịch thông qua đại thực bào và những
tế bào miễn dịch để mang lại sức đề kháng bệnh tốt cho cơ thể heo
Từ thực tiễn trên, được sự đồng ý của Khoa Chăn Nuôi - Thú Y, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, với sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Khanh, Th.s Nguyễn Ngọc Côn và sự giúp đỡ cộng tác của trại chăn nuôi Hưng Việt , tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát hiệu quả của chế phẩm Microbond lên một số chỉ tiêu tăng trưởng và sức khỏe heo thịt tại trại chăn nuôi Hưng Việt - Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu”
- Theo dõi các chỉ tiêu tăng trưởng của đàn heo
- Ghi nhận các trường hợp bệnh trên đàn heo
- So sánh hiệu quả kinh tế giữa hai lô thí nghiệm và lô đối chứng
Trang 16Chương 2
TỔNG QUAN 2.1 SƠ LƯỢC VỀ TRẠI HEO HƯNG VIỆT
2.1.1 Giới thiệu về trại heo Hưng Việt
Trại chăn nuôi Hưng Việt là một doanh nghiệp tư nhân được thành lập vào ngày 11/06/1990 Qua 19 năm hình thành và phát triển, trại đã và đang từng bước hoàn thiện
mô hình hoạt động hơn, luôn ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật để ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm Mô hình sản xuất của trại là kết hợp giũa trồng trọt và chăn nuôi Trại nằm trên đường Hùng Vương, khu phố 1, phường Long Tâm, thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu Trại được xây dựng trên vùng đất tương đối bằng phẳng và màu mỡ với tổng diện tích là: 75.000 m2, trong đó:
- Đường đi: 4.000 m2
- Nhà kho: 1.600 m2
- Chuồng trại: 2.900 m2
- Nhà ở và văn phòng: 800 m2
- Phần còn lại là diện tích đất trồng trọt và một số công trình của trại
Hình 2.1: Trại chăn nuôi Hưng Việt
Trang 172.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại
Trại có tổng cộng 40 người phân theo trình độ gồm: 1 Thạc sĩ, 3 Đại học, 1 Trung cấp, còn lại là công nhân, bảo vệ và nhà bếp Trong đó riêng tổ chăn nuôi heo có 15 người gồm có:
- Quản lí chung: 1 người
- Nái nuôi con và heo con theo mẹ: 3 người
- Heo con cai sữa: 2 người
- Nái khô, chữa, nái hậu bị và đực làm việc: 3 người
- Heo thịt: 6 người
Mô hình hoạt động sản xuất của trại chăn nuôi Hưng Việt là chăn nuôi kết hợp với trồng trọt Trại sử dụng toàn bộ chất thải chăn nuôi để phục vụ trồng trọt, giảm được nạn ô nhiễm môi trường Trại cung cấp cho thị trường: thịt heo, và hoa màu
- Chăn nuôi heo: phương hướng chính của trại là sản xuất thịt heo, toàn bộ heo
con cai sữa được giữ lại, chuyển sang nuôi thịt Trại cung cấp heo thịt cho các lò mổ địa phương và cho các vùng lân cận Ngoài ra trại còn cung cấp heo giống, tinh heo,… cho các hộ chăn nuôi địa phương
- Chăn nuôi bò: trại nuôi khoảng 12 bò sữa giống Holstein Friesian, bê cái
sinh ra được giữ lại làm giống, còn bê đực được nuôi theo hướng thịt Sản phẩm sữa được sử dụng để nuôi bê thịt, nuôi heo con và cung cấp cho quán bán các sản phẩm có sữa bò
- Trồng trọt: chủ yếu trồng cỏ voi cung cấp cỏ để nuôi bò, bê Nếu cỏ dư sẽ
được bán cho các hộ chăn nuôi trong vùng Ngoài ra, trại còn trồng các loại hoa màu ngắn ngày và trồng theo phương pháp luân canh như: đu đủ, bắp, đậu nành, ớt,… sản phẩm rau củ quả được cung cấp cho nhu cầu trong trại và bán ra bên ngoài
2.1.3 Bố trí chuồng trại
Diện tích chuồng trại chiếm 2.900 m2, các dãy chuồng được bố trí như sau:
- Dãy A1 và B1 là chuồng nái đẻ và nuôi con
- Dãy A2.1 và A2.2 là chuồng nuôi heo cai sữa
- Dãy A3 và B3 là chuồng nuôi heo nái hậu bị, nái khô và nái mang thai
- Dãy A4 là chuồng nuôi heo đực làm việc
- Dãy A5.1, A5.2, A6, B6, B2 nuôi heo thịt
Trang 182.1.4 Cơ cấu đàn và công tác giống heo
Theo ghi nhận ngày 10/03/2009, trại có tổng đàn 1810 con, cơ cấu đàn heo tại trại như sau:
- Nái sinh sản: 186 con
- Nái hậu bị: 78 con
- Đực làm việc: 6 con
- Heo con theo mẹ: 212 con
- Heo con cai sữa: 410 con
- Heo thịt: 918 con
Các nhóm giống heo chính được nuôi tại trại là Yorkshire, Duroc, Landrace x Yorkshire, Pietrain x Duroc Trại có lập gia phả giống đầy đủ để thuận tiện cho công tác lai giống Trại không ngừng nổ lực để tìm ra công thức lai phù hợp với điều kiện kinh tế của trại nhằm cung cấp sản phẩm có chất lượng cao để đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng Gần đây trại đang thử nghiệm đưa tinh heo có nguồn gốc từ Mỹ: giống Yorkshire để lai cải tiến với giống heo đang có ở trại với mục tiêu là nâng cao năng suất sinh sản của heo nái
2.1.5 Chuồng trại
- Chuồng nái đẻ và nuôi con: Được thiết kế dạng chuồng kín, để đảm bảo nhu
cầu sinh lý của heo con theo mẹ và heo mẹ Đồng thời lắp hệ thống phun sương ở đầu chuồng, và hệ thống quạt hút ở cuối chuồng nuôi để làm mát cho heo, giảm bớt khí độc ở chuồng nuôi và có đèn sưởi ấm cho heo con Mỗi chuồng nái đẻ được phân chia làm hai dãy, mỗi dãy có 16 ô cho nái đẻ và nuôi con (chuồng được thiết kế dạng chuồng lồng, sàn sắt) với kích thước 2,2 x 1,85 m
- Chuồng nuôi heo cai sữa: Chuồng được thiết kế dạng nóc đôi, mái lợp ngói,
chiều dài 60 m rộng 12 m, được chia thành 2 dãy có vách ngăn bằng tường cách biệt hoàn toàn, xung quanh chuồng và nóc chuồng được che bằng bạt kín Đầu chuồng có
hệ thống phun sương và cuối chuồng có thệ thống quạt hút để điều hoà nhiệt độ bên trong chuồng cho thích hợp Bên trong mỗi dãy có 11 ô, mỗi ô chuồng có kích thước 4
x 2,5 m, chiều cao 0,8 m, riêng ô cuối cùng dành cho heo cai sữa sớm và heo còi, lối đi cặp vách ngoài có máng ăn Ở đầu chuồng được lắp máng ăn bán tự động có lỗ điều chỉnh thức ăn rơi xuống Mỗi ô có 2 núm uống tự động đặt ở gần góc của ô chuồng,
Trang 19núm dưới cách sàn chuồng 0,2 m, núm trên cách sàn 0,4 m, luôn đảm bảo nước sạch cho heo uống
- Chuồng nái mang thai và nái khô: Được thiết kế dạng chuồng hở, chia làm 3
dãy đều nhau với mỗi dãy là 30 ô cá thể kích thước mỗi ô 2 m x 0,8 m và có sân chơi Mỗi dãy được lắp hệ thống quạt ở giữa và cuối chuồng, phun sương ở phía trên
- Chuồng heo đực giống: Dạng chuồng hở, mái lợp ngói, được thiết kế với quạt
lùa cùng hệ thống phun sương, 2 bên có thêm mái che chắn nắng để giảm bớt nhiệt độ khi nắng chiếu trực tiếp vào chuồng, diện tích chuồng 4 m2/con, có sân chơi Mỗi ngăn đều có máng ăn và núm uống riêng biệt
- Chuồng heo thịt: Dạng chuồng sàn bằng đà xi măng, mái lợp tôn có lớp bạt
cách nhiệt, chuồng kín, ở cuối dãy chuồng được lắp đặt hệ thống quạt hút Mỗi chuồng chia làm 2 dãy, sau mỗi ô chuồng có hồ nước tắm Mỗi dãy có 11 ô, mỗi ô nuôi 10 con Cuối chuồng có ô dành riêng cho heo bệnh Mỗi ô chuồng có 1 máng ăn và 2 núm uống riêng biệt
Hình 2.2: Bên trong và bên ngoài chuồng nuôi heo thịt 2.1.6 Thức ăn
Phần lớn thức ăn của trại cho các loại heo được trại mua nguyên liệu về, tự trộn với thành phần thực liệu có thể thay đổi tùy mùa vụ và giá thành của từng loại nguyên liệu nhưng luôn đảm bảo đầy đủ, cân bằng dưỡng chất cho heo Nái nuôi con sử dụng cám số 6, nái khô và nái mang thai đến 21 ngày tuổi sử dụng cám số 10 Đối với heo thịt từ giai đoạn 63 ngày tuổi đến khi xuất chuồng sử dụng cám D, cám 6 và cám 7 Riêng thức ăn cho heo con theo mẹ và thức ăn heo con cai sữa giai đoạn đầu được mua
từ công ty Cargill Heo con 7 - 10 ngày tuổi bắt đầu tập ăn bằng cám viên đỏ và vàng
Trang 20dành cho heo con tập ăn của công ty Cargill Việt Nam Lúc đầu heo chỉ ăn cám đỏ Sau 1 tuần, cám đỏ được trộn chung với cám vàng theo tỷ lệ tăng dần và đạt tỷ lệ 1 : 2
và lúc cai sữa
Bảng 2.1: Thành phần thực liệu các loại thức ăn của heo thịt giai đoạn 63 ngày
tuổi đến xuất chuồng
4
Trang 21Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng các loại thức ăn của heo thịt giai đoạn từ 63
ngày tuổi đến xuất chuồng
88,27 3200,00 18,99 7,50 5,00 1,05 0,31 0,59 0,67 0,19 0,90 0,65 0,39 0,61 9,45
88,37 3200,00 18,50 7,00 5,00 1,00 0,29 0,57 0,64 0,18 0,80 0,55 0,33 0,50 13,45 (Nguồn: phòng kỹ thuật trại heo Hưng Việt)
2.1.7 Nước uống
Trại sử dụng nguồn nước ngầm được bơm từ các giếng khoan qua xử lí chlorine
và được đưa lên bồn chứa lớn (20 m3) đặt trên cao 10 m so với mặt đất, nước được phân phối cho các dãy chuồng và đến từng núm uống tự động cho mỗi ô chuồng suốt ngày đêm
2.1.8 Qui trình chăm sóc nuôi dưỡng
9 Heo nái:
Lượng thức ăn:
Nái trước khi sinh 1 tuần cho ăn mức từ 1,4 - 1,7 kg/ngày, ngày ăn 2 lần Sau khi sinh cho ăn hạn chế 5 ngày đầu, sau 5 ngày cho ăn tự do tùy theo khả năng của nái Trong giai đoạn này nái ăn nhiều nhất có thể đạt 6 kg/ngày, những ngày còn lại từ 2,5 -
Trang 223,8 kg/ngày Tuy nhiên, trong những ngày lên giống nái thường không ăn hoặc ăn rất
ít Sau khi phối cho đến 21 ngày sau lượng thức ăn cho nái là 2,7 - 3 kg/ngày
Chăm sóc:
- Nái khô và nái mang thai: tắm và xịt rửa chuồng ngày 1 lần vào buổi sáng, buổi chiều được làm mát bằng hệ thống phun sương khi trời nóng, thường xuyên theo dõi nái cai sữa để kiểm tra sự lên giống và phối giống đúng lúc
- Nái sắp sinh: được chuyển đến chuồng nái đẻ 1 tuần trước khi sinh, tắm rửa nái sạch sẽ, tắm nhiều lần trong ngày tuỳ thuộc nhiệt độ bên trong chuồng nuôi
- Nái sinh và nuôi con: thường xuyên theo dõi nái lúc sinh đẻ để kịp thời can thiệp cho những ca đẻ khó Sau khi nái sinh xong tiêm 4 ml Oxytocin (chứa 40 UI)
để tống hết nhau ra ngoài, đếm số nhau, kiểm tra kĩ xem còn nhau hay không để tránh tình trạng sót nhau và con, tiêm kháng sinh Duphaben Strep B.P liều 1 ml /10
kg thể trọng để ngăn ngừa sự nhiễm trùng tử cung, trong vòng 3 ngày nái được rửa tử cung ngày 2 lần bằng thuốc tím 0,1 %, theo dõi dịch hậu sản để kịp thời điều trị nếu nái có biểu hiện viêm nhiễm Bên cạnh đó, lượng thức ăn của nái cũng được theo dõi
kỹ, đo thân nhiệt của những nái không ăn hoặc ăn ít Nái sốt, bỏ ăn hoặc ăn ít điều trị như sau:
Analgin + Vitamin C + Vimexysone
Hoặc: Analgin + Vitamin C + TyloD.C Forte (Sài Gòn Vet)
Nái sinh khó, sốt cao, yếu sức trong và sau khi đẻ được tiêm truyền Glucose 5 %
có bổ sung Analgin, vitamin C, Oxytetra hoặc Calcium B12, tiêm bắp Vimexysone Nái nuôi con không tắm, chỉ xịt rửa chuồng, máng ăn và làm mát khi heo con đã lớn nhưng hạn chế không làm ướt heo con
9 Heo con theo mẹ:
Thực hiện các thao tác lau nhớt ở miệng, nhúng bột Mistral, cắt rốn, bấm tai, bấm răng, cân trọng lượng sơ sinh và tách ghép bầy hợp lý
+ 3 ngày: Tiêm Fe-dextran 100 mg với liều 2 ml/con
+ 4 ngày: Uống Baycox 5 % ngừa cầu trùng gây tiêu chảy
+ 7 ngày: Chích ADE lần một, liều từ 1 - 2 ml/con
+ 7 - 10 ngày: Tuổi tập ăn cho heo con và thiến heo đực
+ Trước khi cai sữa 1 ngày chích ADE lần 2 liều 1 ml/con
Trang 23Trong thời gian này không tắm cho heo con Quan sát heo ngày 2 - 3 lần để phát hiện heo tiêu chảy và các bất thường khác Heo con tiêu chảy chích Ampi-coli ( công
ty thuốc Á Châu) với liều 1 - 1,5 ml/con, ngày 2 lần kết hợp với uống Tycofer (Vemedim Việt Nam) 3 - 4 ml/con
9 Heo con cai sữa đến 63 ngày tuổi
Lượng thức ăn:
- 3 ngày đầu: pha trộn với tỷ lệ 2 cám đỏ : 1 cám vàng
- 4 - 5 ngày: pha trộn với tỷ lệ 1 cám đỏ : 1 cám vàng
- 6 - 7 ngày: pha trộn với tỷ lệ 1 cám đỏ : 2 cám vàng
- 8 - 9 ngày: sử dụng cám vàng
- Ngày thứ 10: pha trộn với tỷ lệ 2 cám vàng : 1 cám C
- Ngày thứ 11: pha trộn với tỷ lệ 1 cám vàng : 1 cám C
- Ngày thứ 12: pha trộn với tỷ lệ 1 cám vàng : 2 cám C
- Sau đó cho ăn hoàn toàn bằng cám C đến 63 ngày tuổi
Chăm sóc:
Trong tuần đầu heo được bật đèn úm mỗi đêm đề phòng heo lạnh Heo trong 2 tuần đầu không tắm mà chỉ vệ sinh sàn chuồng Sau 2 tuần heo mới được tắm vào lúc nắng ấm
Heo được theo dõi hằng ngày để kịp thời phát hiện và can thiệp khi heo bệnh Những loại thuốc được dùng như: Ampi-Colistin, Duphapen Strep B.P, Penicilline, Streptomycine,…
9 Heo đực giống
Mỗi ngày cho ăn 2 lần vào 7 giờ sáng và lúc 5 giờ chiều Lấy tinh heo chu kỳ 2 -
3 lần/tuần tuỳ vào tình trạng sức khoẻ của heo Đực giống được tắm rửa sạch và làm mát khi trời nắng nóng
9 Heo thịt giai đoạn 63 ngày tuổi đến xuất chuồng
Đối với heo nhỏ: khi mới nhập qua nuôi heo thịt thì trong vòng một tuần đầu khi thời tiết lạnh nên hạn chế tắm heo, chỉ vệ sinh máng ăn và nền chuồng
Đối với heo lớn: mỗi ngày vệ sinh nền chuồng và máng ăn vào lúc 7 giờ sáng, tắm heo và vệ sinh chuồng trại lúc 10 h sáng hoặc 14 h chiều tùy theo lịch làm việc của công nhân
Trang 24Trong giai đoạn 60 đến 88 ngày tuổi cho ăn cám D, từ giai đoạn 88 ngày tuổi đến
116 ngày tuổi cho ăn cám số 6, từ giai đoạn 116 ngày tuổi cho đến khi xuất chuồng cho ăn cám số 7
Quét dọn xung quanh, nạo vét cống rãnh, đường mương thoát nước định kỳ vào đầu mỗi tháng
9 Công nhân và khách tham quan
Công nhân được khám sức khỏe định kì và mang trang bị bảo hộ lao động: quần,
áo, ủng,… không đi qua lại giữa các chuồng
Khách tham quan trước khi vào cổng phải đi qua hố sát trùng chân và có thau nước để sát trùng tay
Khách tham quan cũng phải mặc áo blouse và mang ủng mới được vào khu vực chăn nuôi
Các loại thuốc sát trùng thông dụng: Farm Fluid, Benkocid, vôi,… với nồng độ tùy thuộc hướng dẫn của từng loại thuốc và có sự luân phiên thay đổi thuốc thường xuyên để tránh sự đề kháng của mầm bệnh
2.1.10 Quy trình tiêm phòng
Quy trình tiêm phòng của trại được trình bày ở bảng 2.3
Trang 25Bảng 2.3: Quy trình tiêm phòng của trại chăn nuôi Hưng Việt
Parvovirus + HBPD: 2 lần sau khi tuyển chọn được 4 tuần và nhắc lại sau 4 tuần
+ Nái sinh sản: 1 lần trước khi đẻ 15 - 17 ngày + Nọc: 2 lần/năm
E.coli + Nái sinh sản: 2 lần trước khi đẻ 6 tuần và 2 tuần
Pasteurella
(Tụ huyết
trùng)
+ HBPD, nái, nọc: 2 lần/năm + Heo con cai sữa: 1 lần lúc 42 - 47 ngày tuổi
(Nguồn: Phòng kỹ thuật trại chăn nuôi Hưng Việt)
2.1.11 Bệnh và điều trị
Heo được theo dõi hằng ngày để kịp thời phát hiện và có biện pháp can thiệp nếu
có cá thể nào bệnh Việc điều trị bệnh cho heo do bộ phận thú y của trại trực tiếp thực hiện
Trang 26- Các loại thuốc thường được sử dụng để điều trị bệnh như: Ampi-colistin, Duphapen Strep B.P, Dexa VMD, Vimexysone, Tiamulin, Oxytetra, Tylo D.C Forte, Multibio,…
- Thuốc sát trùng vết thương: xanh Methylen 0,5 %, cồn Iod,…
- Thuốc giảm đau hạ sốt - kháng viêm: Analgine-C, MD-Dexa,…
- Thuốc trợ lực, trợ sức, vitamin: vitamin C, B.Comp In, ADE, Ferrohi Pra-100, Anem-X100, Injectavit, Calcium B12,…
2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ HÔ HẤP TRÊN HEO
2.2.1 Đặc điểm sinh lý hô hấp của heo
Quá trình trao đổi không khí được thực hiện ở phế nang, được chia làm hai kỳ (hít vào và thở ra) Kỳ hít vào đem không khí từ bên ngoài vào phổi, kỳ thở ra đem không khí từ phổi ra ngoài Đây là hiện tượng thông khí, bởi sự chênh lệch áp lực giữa phế nang với không khí và môi trường xung quanh, sự chênh lệch này được thực hiện nhờ lồng ngực dãn ra hay ép xuống, tương ứng với sự tăng hay giảm thể tích phổi Nguồn gốc của hiện tượng cơ học là do sự hiện hữu của một khoảng trống giữa lá thành và lá tạng gọi là xoang màng ngực Trong xoang có chất dịch làm giảm ma sát khi phổi co giản, áp lực trong xoang ngực gọi là áp lực xoang màng ngực
Cơ phổi không tự co giản mà co giản một cách thụ động nhờ cơ hoành và cơ liên sườn Ngoài ra còn một số cơ quan tham gia khi gắng sức như cơ vùng cổ, cơ vùng ngực và các cơ của các chi trong trường hợp thở khó
Các hoạt động của phổi được điều khiển bằng dây thần kinh phế vị
2.2.2 Hệ thống miễm dịch trên đường hô hấp
2.2.2.1 Miễn dịch không chuyên biệt
Miễn dịch không chuyên biệt đóng vai trò chủ yếu trong việc phòng vệ, có tính
hệ thống và tính định vị tại chỗ
Miễn dịch không chuyên biệt chủ yếu bao gồm hệ niêm dịch - tiên mao, cảm nhiễm tố, hệ thống bổ thể, những tế bào phế nang, đại thực bào, bạch cầu trung tính và các tế bào diệt tự nhiên (Natural Killer-NK) (Trần Thanh Phong, 2000)
2.2.2.2 Hệ niêm dịch - tiên mao
Bầu không khí ở trại heo thường chứa một lượng bụi nhất định, phần lớn lượng bụi này do thức ăn khô (thức ăn khô bụi gấp 2 đến 3 lần thức ăn ướt) Bụi đóng vai trò
Trang 27quan trọng trong sinh bệnh ở đường hô hấp vì nó mang vi sinh vật (vi trùng, siêu vi trùng, nấm mốc) và là nguồn gốc phát triển tình trạng quá mẫn trên heo Ngoài ra, bụi còn gây kích ứng khi heo được nuôi dưỡng bằng thức ăn dạng bột mịn và thường đưa đến chứng viêm phổi
Hệ niêm dịch - tiên mao được xem như công cụ để lọc và thuần khiết không khí, giúp phòng vệ đường hô hấp qua việc hấp thu những chất hóa học khi hít phải, ẩm hóa không khí hít vào và giữ nước cho niêm mạc Hệ niêm dịch - tiên mao được cấu tạo bởi hai thành phần: niêm dịch và những lông tơ rung
2.2.2.3 Cản nhiễm tố (interferon)
Interferon được tổng hợp bởi những tế bào trong đáp ứng với cảm nhiễm do virus, làm cho những tế bào đích kháng virus với một phổ rộng Interferon được phân thành ba lớp chính α, β, γ Trong cảm nhiễm virus, interferon được tổng hợp liên quan tới α và β Trên đường hô hấp heo, interferon được phát hiện trong chất tiết ở khí phế quản khi gây nhiễm bởi virus cúm, virus TGE (Transmissible-gastro-enteritis: viêm dạ dày - ruột truyền nhiễm)
Interferon là một cytokine được tổng hợp bởi tế bào lympho T trợ giúp, chính nó kích thích hoạt động gây độc tố tế bào lymmpho, hoạt hóa chức năng của tế bào diệt tự nhiên và hoạt hóa những tế bào bạch cầu đơn nhân, những đại thực bào, chống lại có hiệu quả việc suy giảm miễn dịch do dexamethazone, đồng thời phòng vệ cho những đại thực bào ở phế quản, phế nang chống lại virus (Trần Thanh Phong, 2000)
2.2.2.4 Hệ thống bổ thể
Bổ thể là nhóm protein huyết thanh trong đó một số có hoạt động như enzyme tạo phản ứng chuỗi, sinh ra những phân tử hiệu ứng tham gia vào quá trình viêm, thực bào, ly giải tế bào
2.2.2.5 Những đại thực bào
Đại thực bào trong mô phổi có nhiệm vụ chính trong cơ chế phòng vệ phổi, tác động chủ yếu của đại thực bào là làm sạch phế nang β-glucan có tác dụng kích thích miễn dịch thông qua đại thực bào và những tế bào miễn dịch để mang lại hiệu quả kháng bệnh tốt cho cơ thể heo
Vai trò của đại thực bào không chỉ là thực bào mà còn có chức năng phá hủy tế bào ung thư, sản sinh những protein có hoạt tính sinh học như lysozyme, interferon,
Trang 28các tiểu phần của bổ thể, một số cytokine, prostaglandine, leucotriene Ngoài ra, đại thực bào còn sắp sếp và trình diện kháng nguyên với những tế bào T giúp đỡ Như vậy đại thực bào là nguồn gốc khởi động miễn dịch đặc hiệu Trên heo thường chứa 4 type đại thực bào:
- Đại thực bào phế nang - phế quản
- Đại thực bào mạch máu phổi
- Đại thực bào màng phổi
- Đại thực bào của mô liên kết
Tuy nhiên chỉ có đại thực bào phế nang - phế quản, đại thực bào mạch máu phổi được nghiên cứu nhiều nhất (Trần Thanh Phong, 2000)
Tế bào diệt tự nhiên (Natural Killer-NK) là những tế bào có khả năng tiêu giải tế bào ung thư và những tế bào cảm nhiễm bởi virus, chúng tham gia phần nào vào việc bảo vệ đường hô hấp mà không phụ thuộc vào phức hợp tương thích mô chủ yếu (Major hiscompatibility complex-MHC) hay kháng thể
Khi sinh ra, heo mất dần tế bào diệt tự nhiên hay hoạt động tế bào diệt tự nhiên giảm nhiều, nhưng khi có sự cảm nhiễm vi sinh vật sẽ kích thích những tế bào này chín mùi và phát triển Hoạt động của tế bào diệt tự nhiên trên heo được hoạt hóa bởi IL-2 sản phẩm từ lympho T trợ giúp và bởi interferon, IL-2 chỉ tăng hoạt động tế bào diệt tự nhiên ở heo trưởng thành, và interferon tăng hoạt trên tế bào diệt tự nhiên ở heo con Trong khi đó, corticoid lại làm hạn chế hoạt động của tế bào diệt tự nhiên
2.2.3 Đặc diểm của một số loại tế bào tham gia trong đáp ứng miễn dịch của cơ thể
Tế bào B là những lympho bào có khả năng sản xuất immunoglobin Ở giai đoạn bào thai, chúng phát triển trong gan của phôi thai và sau đó phát triển ở tủy xương trong suốt cuộc đời của cá thể Các tế bào B trưởng thành có thể tổng hợp và thể hiện phân tử immunoglobin trên bề mặt tế bào của mình và các phân tử này hoạt động như các thụ cảm quan kháng nguyên đặc hiệu cho tế bào B đó Tế bào B phân bố khắp các
tổ chức tế bào dạng lympho thứ cấp, đặc biệt là các nang lympho và lách Tế bào B đáp ứng kích thích của phân tử kháng nguyên bằng cách phân đôi và biệt hóa thành tế bào plasma Lympho T điều khiển quá trình này nhờ sự tương tác với các thụ quan và sản xuất ra các cytokine
Trang 29Chính điều này khẳng định vai trò của tế bào T trong đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào Ngoài chức năng sản xuất kháng thể, tế bào B còn hoạt động như một tế bào trình diện kháng nguyên (Tô Long Thành, 2002)
Tế bào thực bào bao gồm bạch cầu đơn nhân, đại thực bào và bạch cầu trung tính Chức năng của chúng là bắt các mầm bệnh, các kháng nguyên, các chất cặn bã tế bào
và phân hủy các chất đó (quá trình này gọi là thực bào) Kháng thể và các cấu phần của bổ thể bám vào các hạt và tạo điều kiện thúc đẩy quá trình trên Đại thực bào cũng
có thể xử lý và trình diện kháng nguyên mà chúng đã nuốt vào để các lympho bào nhận diện
Tế bào plasma là các tế bào lympho B biệt hóa tạo thành Các tế bào này sống được 3 - 5 ngày và có khả năng sản xuất hơn 300 phân tử kháng thể trong một giây
Tế bào lympho T gây độc tế bào có khả năng tiêu diệt các tế bào đích bị nhiễm virus hoặc các tế bào ngoại lai Các tế bào này không biểu hiện kháng nguyên phù hợp
tổ chức của vật chủ
Các tế bào T hỗ trợ có một vài chức năng chủ yếu:
- Giúp đỡ các tế bào B phân chia, biệt hóa và sản xuất kháng thể
- Giúp đỡ các tế bào T gây độc tế bào để diệt tế bào đích
Cytokine có tác dụng điều khiển sự phát triển của các dòng tế bào bạch cầu và các tế bào mầm của hệ thống tạo máu Cytokine có chức năng hoạt hóa các đại thực bào, cho phép các tế bào đại thực bào tiêu diệt mầm bệnh mà chúng đã nuốt vào
Thúc đẩy quá trình sản xuất các phân tử glycoprotein phức hợp tương thích mô chủ yếu MHC (Major histocompatibility complex) trên các tế bào trình diện kháng nguyên Tế bào lympho T ức chế là các tế bào T có chức năng dập tắt hoạt động của các tế bào T khác Tế bào trí nhớ là quần thể các tế bào T hoặc tế bào B có thời gian sống khá dài, được hình thành dưới sự kích thích trước đây của kháng nguyên đặc hiệu (Tô Long Thành, 2002)
2.2.4 Quá trình thực bào
Khi vật lạ xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, một số lớn đại thực bào ở thành phế nang sẽ thực bào chúng và giải phóng các sản phẩm thực bào vào bạch huyết Nếu vật lạ không bị tiêu hóa, đại thực bào thường tạo ra tế bào khổng lồ bao quanh vật lạ cho đến khi chúng bị hòa tan dần dần (Trịnh Bỉnh Duy, 2000)
Trang 30Một đại thực bào có thể bắt giữ được nhiều vi khuẩn Sau khi thực bào sẽ xảy ra hiện tượng phân huỷ kháng nguyên và trình diện những peptid hay những điểm quyết định kháng nguyên với tế bào miễn dịch (lympho T, B) Ngoài ra, trên bề mặt đại thực bào còn tiết ra nhiều yếu tố gây hoại tử tế bào ung thư (Qureshi, 2003) (trích dẫn Hồ Thị Nga, 2007)
2.3 ĐẶC ĐIỂM VỀ SINH LÝ TIÊU HÓA TRÊN HEO
2.3.1 Các enzyme có vai trò trong hệ thống tiêu hóa
2.3.1.1 Khái niệm Enzyme
Enzyme là một protein và chất xúc tác sinh học
Giống như những protein khác, enzyme là một chuỗi dài những amino acids được liên kết bởi những liên kết peptides Nó hiện diện trong tất cả các tế bào sống, thực hiện chức năng chuyển hoá cho tế bào, chẳng hạn biến đổi chất dinh dưỡng thành năng lượng và tế bào mới, nó cho phép các phản ứng cần thiết cho sự sống và sự sinh sản của tế bào diễn ra ở một vận tốc cao và với tính chất đặc thù không tạo ra các sản phẩm phụ như ở các phản ứng thông thường
(http://www.mapsenzymes.com/Enzymes_Animal_Feed.asp)
2.3.1.2 Phương thức hoạt động của enzyme
Theo lý thuyết enzyme luôn luôn có thể hoạt động tối đa hoặc tối thiểu cho đến khi không còn hoạt động nữa Nhưng trên thực tế bản chất của enzyme là một protein, chúng có đầy đủ bản chất của protein bị phân huỷ trong môi trường hữu cơ tự nhiên và cũng bị phân huỷ bởi những enzyme tiêu hoá protein
Hoạt động của enzyme tiêu hoá nhằm phân huỷ các cấu trúc phức tạp của các chất dinh dưỡng phức tạp mà cơ thể không thể phân giải được tạo ra những chất đơn giản mà cơ thể có thể hấp thu được Enzyme tiêu hoá không đóng vai trò như là một chất dinh dưỡng hay chất kích thích sinh trưởng mà chỉ có tác dụng nâng cao hiệu suất thức ăn, đặc biệt là những thức ăn có nguồn gốc thực vật (Lê Như Trinh, 2007)
2.3.1.3 Enzyme và các cơ chất hoạt động của nó
9 Amylase
Amylase tên khác của enzyme glycoside hydroxydase, nó xúc tác quá trình phân giải những chất bột đường thành các phân tử đường glucose, amylase thực hiện chức năng trên tất cả các liên kết α-1,4-glycoside
Trang 31Vì có thể hoạt động trên bất cứ vị trí nào trên chuỗi tinh bột, amylase có thể phá
vỡ những chuỗi carbohydrate mạch dài thành maltotriose và maltose từ cơ chất
amylose hay maltose, glucose và “limit dextrin” từ amylopectin
về cả chức năng lẫn cấu trúc đã được biết đến
Cellulase xúc tác quá trình thủy phân nội phân tử những liên kết glucoside trong cellulose, lichenin và β-D-glucan trong những hạt ngũ cốc
1,4-β-D-Tên khác của cellulase: Endoglucanase, Endo-1,4-β-glucanase, Carboxymethyl cellulase, Endo-1,4-β-D-glucanase, β-1,4-glucanase, β-1,4-endoglucan hydrolase, Celludextrinase, Avicelase
(http://en.wikipedia.org/wiki/enzyme)
9 Pectinase
Pectinase là thuật ngữ chung chỉ những enzyme phân giải pectin, một polysaccharide ở thành tế bào thực vật Giống như thạch, nó giúp kết dính các tế bào lại với nhau
Pectinase có thể được sản xuất từ nấm như nấm Aspergillus niger, pectinase giúp
phá vỡ lá phiến giữa trong thực vật để giải phóng dưỡng chất ra khỏi chúng
(http://en.wikipedia.org/wiki/enzyme)
9 Phytase
Phytase là thuật ngữ chung chỉ những ezyme giúp phân giải phần acid phytic (phytate) không thể tiêu hoá được trong các hạt lương thực hay các hạt dầu vì vậy mà làm giải phóng phosphorus và calcium có thể tiêu hóa được
Phytase ngày nay được sử dụng rộng rãi như chất bổ sung vào thức ăn vật nuôi nhằm làm tăng giá trị dinh dưỡng của thực vật trong khẩu phần bằng việc giải phóng phosphate vô cơ từ acid phytic và vì vậy mà nó làm giảm sự thải phospho ra bên ngoài môi trường gây ô nhiễm
Trang 32(http://en.wikipedia.org/wiki/enzyme)
9 Protease
Protease là enzyme điều khiển quá trình dị hoá protein bằng việc thuỷ phân những liên kết peptide, cái mà liên kết những amino acid lại với nhau trong chuỗi polypeptide
Hiện nay có 6 nhóm protease đã được biết đến:
- Glutamic acid proteases
Protease hiện diện trong tất cả tế bào sinh vật và cấu thành 1 - 5 % thành phần của gen Protease còn là một dạng ngoại độc tố của vi khuẩn, nó giúp vi khuẩn phá hỏng những cấu trúc bên ngoài tế bào
2.3.1.4 Vai trò của enzyme trong chăn nuôi
Trong chăn nuôi hàng hoá, nhà sản xuất khai thác tối đa khả năng sinh lợi, mang lại hiệu quả kinh tế của vật nuôi Để giúp vật nuôi tiêu hoá tốt thức ăn, tăng trọng nhanh, hạn chế các tác động bất lợi có trong nguyên liệu thức ăn thì xu hướng chung hiện nay người ta bổ sung thêm vào thức ăn các enzyme thức ăn công nghiệp Có rất nhiều công trình nghiên cứu cho thấy vai trò tích cực của thức ăn trong ngành chăn nuôi, đặc biệt là đối với chất xơ, phytate và ảnh hưởng tích cực của môi trường
Trang 332.3.2 Hệ vi sinh vật đường ruột
2.3.2.1 Đặc điểm hệ vi sinh vật đường ruột
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1987), ở ruột và dạ dày động vật khi mới sinh ra hoàn toàn không có vi khuẩn, sau vài giờ kể từ khi chúng được sinh ra mới thấy xuất hiện một vài vi khuẩn, và từ đó chúng bắt đầu sinh sản dần Sau đó một số vi khuẩn khác sẽ theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hoá, sống và sinh sôi nảy nở ở đó, chúng có thể biến đổi ít nhiều nhưng cơ bản vẫn tồn tại cho đến khi con vật chết Thành phần, số lượng và chất lượng của hệ vi sinh vật đường tiêu hoá phụ thuộc vào tuổi tác của loài gia súc, cách nuôi dưỡng, chăm sóc,… ngoài ra còn có các điều kiện vật lý, hoá học của môi trường ở đường tiêu hoá
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1970) và nhiều tác giả khác có thể chia hệ vi sinh vật đường tiêu hoá làm 2 nhóm:
Nhóm vi sinh vật tùy nghi: một số những vi sinh vật này là những vi sinh vật có hại, chúng thay đổi theo điều kiện thức ăn, môi trường, đường tiêu hoá, sức đề kháng
của cơ thể,… như: Salmonella, Klebsiella, E.coli, Clostridium, Shigella,
Staphylococcus,… đa số chúng thích nghi với môi trường pH trung tính đến kiềm
Dưới những điều kiện môi trường thích hợp, chúng phát triển sản sinh độc tố xâm nhập phá vỡ tế bào đường ruột, gây tổn thương thành ruột nguy hại cho gia súc, gia cầm (trích dẫn bởi Lý Kim Hữu, 2005)
Nhóm vi sinh vật bắt buộc: đây là những vi sinh vật chịu được độ pH thấp, chúng phát triển tốt trong đường ruột gia súc, gia cầm và định cư vĩnh viễn Đa số chúng có khả năng giúp cơ thể động vật tiêu hoá thức ăn được tốt hơn nhờ vào hệ thống enzyme của chúng và giúp phòng chống một số bệnh do vi sinh vật cơ hội gây ra Nhóm vi sinh vật bắt buộc gồm có:
- Vi khuẩn: Lactobacillus acidophilus, Lactobacillus bulgaricus, Streptococcus
lactic (hiện nay gọi là Lactococcus lactic) (Holt, 1992), Bacillus subtilis, Bisidobacterium, Cellulomonas,…
- Nấm men: Saccharomymyces cerevisiae, Saccharomymyces boulardii,…
- Nấm mốc: Aspergillus niger, Aspergillus oryzae, Mucor spp,…
- Protozoa: Entodinium, Diplodinium,…
Trang 34Mặt khác, người ta cũng chia hệ vi sinh vật làm 3 nhóm dựa vào số lượng của chúng trong đường ruột như nhóm hệ phổ chính (chiếm số lượng trên 90 % tổng số vi
sinh vật đường ruột như: Bifidobacterium, Lactobacillus, Bacterioides,…), nhóm hệ phổ vệ tinh (chiếm dười 10 % bao gồm nấm men, Clostridium, Proteus,
Salmonella,…), nhóm tuỳ nghi (chiếm 0,1 % gồm Clostridium, Salmonella,…) (Tô
Minh Châu, 2000)
Bảng 2.4: Tỷ lệ % của các hệ phổ vi khuẩn
Phân loại nhóm Tỷ lệ % trong tổng số vi
sinh vật đường ruột
Một số vi sinh vật thường trú
Lactobacillus, Bacterioides,…
Proteus, Salmonella,…
Hai nhóm vi sinh vật trên luôn ở trạng thái cân bằng động và cũng là điều kiện cần thiết đảm bảo cho sức khoẻ của vật chủ Cũng có thể hai nhóm vi sinh vật khác nhau tranh chấp cùng một chất dinh dưỡng có khối lượng rất ít trong ống tiêu hoá Vi khuẩn nào đồng hoá chất dinh dưỡng này có hiệu quả thì sẽ loại trừ vi khuẩn kia
Một số vi khuẩn khác nữa có thể làm thay đổi một số đặc điểm lý hoá của hệ thống tiêu hoá như độ pH, tiềm năng oxy hoá khử, nồng độ các chất ức chế chuyển hoá làm cho một số vi khuẩn khác phát triển hoặc không phát triển được ( trích dẫn bởi Phan Thị Ngọc Trâm, 2007)
2.3.2.2 Vai trò của hệ vi sinh vật đường ruột
Giúp cho quá trình tiêu hoá tốt hơn nhờ vào hệ enzyme
Đa số các vi sinh vật có lợi đường ruột tham gia vào quá trình tiêu hoá tinh bột, đường, đạm, và chất xơ thành những sản phẩm dễ hấp thu hơn Nhóm này gồm những
vi sinh vật sinh một số enzyme có khả năng phân hủy các chất trên: amylase,
glucanase, protease, cellulase,… gồm: các vi khuẩn lactic, Bacillus subtilis, Isotrichs,
Aspergillus oryzae, Aspergillus niger,…
Trang 35Đối với những thú trưởng thành, tiêu hoá chủ yếu nhờ vào enzyme thì sự xuất hiện của vi sinh vật sản sinh enzyme cũng giúp thú tiêu hoá thức ăn được tốt hơn, có nhiều ưu điểm hơn so với enzyme tổng hợp, nguồn enzyme của các vi sinh vật tương đối lý tưởng, do có nhiều ưu điểm hơn so với các nguồn từ động vật và thực vật như:
- Tốc độ sinh sản của vi sinh vật rất nhanh
- Nguồn nguyên liệu dễ nuôi cấy, dễ kiếm và rẻ tiền
- Các enzyme của vi sinh vật có hoạt tính rất cao Ngoài ra có thể điều khiển các điều kiện tối ưu trong quá trình nuôi cấy để đạt hiệu suất cao trong sản xuất
2.4 GIỚI THIỆU VỀ β-GLUCAN VÀ NẤM MEN SACCHAROMYCES CEREVISIAE
2.4.1 Giới thiệu nấm men
2.4.1.2 Đặc điểm của nấm men
Tồn tại ở trạng thái đơn bào
Đa số nảy nở theo lối nảy chồi, cũng có hình thức phân cách tế bào
Có khả năng lên men đường saccharose
Thành tế bào có chứa glucan, mannan và kitin
Thích nghi với môi trường có nhiều đường, có tính acid cao
Nấm men phân bố rộng rãi trong tự nhiên, nhất là trong các môi trường có chứa đường, có pH thấp chẳng hạn như trong rau quả, rau dưa, mật mía, rỉ đường, mật ong, trong đất ruộng mía, đất vườn cây ăn quả và trong các loại đất nhiễm dầu mỏ
2.4.1.3 Thành phần vách tế bào nấm men (Saccharomyces cerevisiae)
Vách tế bào nấm men Saccharomyces cerevisiae chiếm khoảng 15 - 30 % vật
chất khô với đa phần là β(1,3)-glucan, β(1,6)-glucan, mannoprotein và kitin Những thành phần cấu tạo nên một mắt xích với hình dáng đại phân tử phức tạp (Kollar và
Trang 36cộng sự, 1997) Trong thực tế, vì thành phần tế bào chỉ chiếm 10 - 20 % thể tích vách
nó có thể so sánh như một lưới rào hơn là một cấu trúc lỏng (Lipke and Ovalle, 1998) β(1,6)-glucan giữ vai trò trọng tâm trong tổ chức vách tế bào, nó liên kết với β(1,3)-glucan, mannoprotein và kitin (Kollar và cộng sự, 1997, trích dẫn bởi Lê Thị Thúy Hằng, 2008)
2.4.1.4 Ứng dụng
Có rất nhiều loài nấm men được sử dụng rỗng rãi trong công nghệ sản xuất như: công nghiệp sản xuất bia, rượu, nước giải khát, sinh khối phục vụ chăn nuôi và cao nấm men, lipid nấm men, các enzyme như: amylase, invertase, lactase, uricase, polygalacturonase, sản xuất esgoterol, acid ribonucleic, riboflavin Các acid amin như: lysine, cystine, methionine,…
Loài Saccharomyces cerevisiae hiện đang được sử dụng như một công cụ đắc lực
để mang các AND tái tổ hợp phục vụ cho việc sản xuất các sản phẩm thế hệ của kỹ thuật di truyền
2.4.2 Giới thiệu về β-glucan
2.4.2.1 Nguồn gốc của β-glucan
β-glucan có nguồn gốc chính từ vách tế bào nấm men Saccharomyces cerevisiae,
nó được sử dụng như là một chất kích thích miễn dịch β-glucan là một đường đa phân
tử, chúng được tìm thấy cùng với một loại glycoprotein Hợp chất đường đa này có nhiều trong các loại cây, nấm vi sinh, nguồn tập trung giàu nhất là trong vách tế bào nấm men và hiện diện với số lượng ít hơn trong nấm rơm, lúa mạch, yến mạch,…(Aoki, 1984 - trích dẫn bởi Nguyễn Văn Tươi, 2006)
2.4.2.2 Vai trò của β-glucan trong đáp ứng miễn dịch
β-glucan giúp kích thích hệ miễn dịch tự nhiên: tăng cường hoạt động của các đại thực bào và kích thích tăng tiết nhiều cytokines (chất hoạt hóa tế bào) nhằm tiêu diệt các mầm bệnh xâm nhập từ bên ngoài β-glucan giúp giảm hệ số chuyển đổi thức ăn, kích thích tiêu hóa, phòng các bệnh đường ruột, nhiễm trùng do vi khuẩn, virus,… (Nguồn: http://www.hoinongdan.org.vn)
β-glucan là một chất kích thích miễn dịch mạnh mẽ, hoạt hóa đại thực bào trong
hệ thống miễn dịch Những nghiên cứu đã cho thấy sản phẩm này không chỉ tác động
Trang 37trên đại thực bào mà còn trên tế bào lympho B, tế bào diệt tự nhiên (NK) và tế bào T trí nhớ
β-glucan làm tăng đáp ứng miễn dịch thông qua việc kích thích đại thực bào Nó làm tăng số lượng, kích thích và chức năng của đại thực bào, kích thích sự tiết lysozym
và TNF (tumor necrosis factor) của đại thực bào, làm tăng sự thực bào, làm tăng hoạt động của tế bào lympho T và B Ngoài ra chúng còn làm giảm hàm lượng cholesterol (Meria và cộng sự 1997 - trích dẫn bởi Nguyễn Văn Tươi, 2006)
Tại Châu Âu trong suốt những thập niên 40, một loại men thô ly trích từ vách tế
bào nấm men S cerevisiae được gọi là zymosan có khả năng kích thích hệ thống miễn
dịch không đặc hiệu, bất chấp mọi mầm bệnh xâm nhập (Fizpatril and Dicatlo, 1964 - trích dẫn bởi Nguyễn Văn Tươi, 2006)
Dược động học của β-glucan là tăng cường sức đề kháng của vật chủ với sự xâm nhập của virus, vi khuẩn, nấm và kí sinh trùng β-glucan có khả năng chống ung thư, ngăn cản chất phóng xạ gây ung thư và hiệu quả như chất bổ trợ (Diluzio, 1983; Bohn
và Bemiller, 1995 - trích dẫn bởi Nguyễn Văn Tươi, 2006)
2.5 Một số công trình nghiên cứu về các chế phẩm dinh dưỡng bổ sung vào khẩu phần heo thịt
Nguyễn Thành Hưng (2005), khảo sát ảnh hưởng của β-glucan lên năng suất và sức khỏe của heo thịt có kháng thể chống virus PRRS tại trại heo Phú Sơn Tác giả đã ghi nhận tăng trọng bình quân ở lô bổ sung β-glucan ở mức 120 ppm (74,45 kg/con) cao hơn so với mức 40 ppm (71,68 kg/con) và 80 ppm (73,47 kg/con)
Bùi Thanh Tiển (2006), khảo sát ảnh hưởng của β-glucan lên năng suất và sức khỏe của heo thịt tại xí nghiệp chăn nuôi heo Đồng Hiệp, huyện Củ Chi, TP HCM Khảo sát cho biết tăng trọng bình quân ở lô bổ sung β-glucan mức 60 ppm (64,73 kg/con) thấp hơn so với lô 120 ppm (65,38 kg/con)
Nguyễn Văn Tươi (2006), khảo sát ảnh hưởng của β-glucan ảnh hưởng của lên năng suất và sức khoẻ heo thịt tại Trung Tâm Chăn Nuôi Hoà Khánh - Huyện Cái Bè - Tỉnh Tiền Giang Khảo sát ghi nhận tăng trọng bình quân ở lô bổ sung β-glucan mức
120 ppm (72,19 kg/con) cao hơn mức 0 ppm (67,32 kg/con)
Trang 38Trần Quốc Tuấn (2006), đánh giá hiệu quả chất hấp phụ độc tố nấm mốc trong thức ăn heo thịt Khảo sát cho thấy hệ số chuyển hóa thức ăn ở mức 1 kg/tấn TA là 2,754, ở mức 2 kg/tấn TA là 2,764 và ở lô không bổ sung là 2,753
Nguyễn Trần Phương Quyên (2007), đánh giá hiệu quả của một số chất hấp phụ độc tố nấm mốc trong thức ăn heo thịt Khảo sát cho thấy hệ số chuyển hóa thức ăn ở
lô sử dụng chất hấp phụ P là 3,13, ở lô sử dụng chất hấp phụ Q là 3,05 và ở lô đối chứng là 3,29
Phan Thị Ngọc Trâm (2007), ảnh hưởng của việc sử dụng enzyme Phytase trong thức ăn lên khả năng tăng trưởng của heo thịt Khảo sát ghi nhận hệ số chuyển hóa thức ăn ở mức bổ sung enzyme 100 g/tấn TA là 3,39, ở mức bổ sung enzyme 100 g/tấn
TA và khẩu phần giảm chuẩn 5 % là 3,4, ở lô không bổ sung là 3,5
Lê Như Trinh (2007), khảo sát ảnh hưởng của việc sử dụng enzyme hỗn hợp trong thức ăn đến sự sinh trưởng của heo thịt Khảo sát ghi nhận hệ số chuyển hóa thức
ăn ở lô sử dụng enzyme 200 g/tấn TA là 4,31, ở lô sử dụng enzyme 200 g/tấn TA và khẩu phần giảm chuẩn 5 % là 3,41 và ở lô không bổ sung enzyme là 2,83
Lê Thị Thúy Hằng (2008), khảo sát ảnh hưởng của β-glucan lên năng suất và sức sinh sản của heo thịt tại trại chăn nuôi Hưng Việt tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (2008) Khảo sát ghi nhận tăng trọng bình quân ở lô bổ sung β-glucan ở mức 80 ppm (61,01 kg/con) cao hơn so với mức 160 ppm (61,66 kg/con) và ở lô không có bổ sung β-glucan (58,28 kg/con)
Võ Hoàng Giang (2009), khảo sát ảnh hưởng của chế phẩm Glucan C lên sự tăng trưởng của heo thịt tại trại chăn nuôi Hưng Việt - Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu Khảo sát cho thấy tăng trọng bình quân ở các mức 1 kg/tấn TA (58,09 kg), ở mức 1,3 kg/tấn TA (55,92 kg) và ở lô đối chứng (53,8 kg)
Trang 39Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
3.1 Thời gian và địa điểm
- Thời gian thực hiện đề tài: từ ngày 12/02/2009 đến ngày 12/06/2009
- Địa điểm thực hiện: trại chăn nuôi Hưng Việt, đường Hùng Vương, khu phố 1, phường Long Tâm, thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
3.2 Đối tượng khảo sát
Gồm 120 con heo sau cai sữa (63 ngày tuổi) đến khi xuất chuồng (5 tháng tuổi)
3.3 Giới thiệu vật liệu thí nghiệm
3.3.1 Giới thiệu thành phần chế phẩm Microbond
Chế phẩm Microbond là một chế phẩm sinh học với thành phần chính là:
Saccharomyces cerevisiae, Bacillus subtilis, Aspergillus oryzae, Aspergillus niger,
rong biển, β-glucan, các amino acid và chất hấp phụ độc tố nấm
9 Thành phần enzyme
Bảng3.1: Thành phần enzyme có trong Microbond
Amylase Tối thiểu 10.500.000
Protease Tối thiểu 1.000.000
Cellulose Tối thiểu 480.000
Lipase Tối thiểu 300.000
Pectinase Tối thiểu 200.000
Xylanase Tối thiểu 140.000
Lactase Tối thiểu10.000
Phytase Tối thiểu 0 - 70
Trang 409 Chỉ tiêu dinh dưỡng:
Protein thô ……… min 27 %
Béo thô ……… min 1 %
Xơ thô ……… max 10 %
3.3.2 Lợi ích của chế phẩm Microbond
− Loại bỏ ảnh hưởng của độc tố nấm
− Cải thiện số heo con/lứa đẻ
− Tăng hấp thu thức ăn và giảm thải phân
− Giảm mùi Amoniac và các mùi hôi khác
− Giảm những thiệt hại do loạn khuẩn đường ruột
− Tăng sức đề kháng bệnh và giảm chi phí thuốc thú y
3.3.3 Phương thức tác động của chế phẩm Microbond
a Nhóm hoạt động 1: Kết chặt độc tố nấm
Hai thành phần chính là Clinoptilolite và Glucomannan este hoá được chiết xuất
từ vách tế bào Saccharomymyces cerevisiae Sự hiệp lực cộng hưởng độc đáo của hai
hoạt chất này tạo nên cách kết chặt hiệu quả nhất đối với mọi loại độc tố nấm phổ biến
Clinoptilolite
9 Khả năng hấp thu độc tố
Hiệu quả trong việc hấp thụ độc tố nấm phân cực, ví dụ như aflatoxin
Clinoptilolite là alumino silicate thủy hoá có nguồn gốc núi lửa với cấu trúc silicon tetrahedral 3 chiều Clinoptilolite rất thích hợp cho việc hấp thu độc tố nấm vì
nó có nhiều lỗ, chống chịu tốt với nhiệt độ cực cao
Clinoptilolite trong Microbond đã qua quy trình sản xuất hoạt hoá được cấp bằng sáng chế đặc biệt Clinoptilolite được tinh chế bằng cách loại bỏ về cơ bản mọi yếu tố không đất sét có thể làm ảnh hưởng đến việc hấp thu độc tố nấm Nhờ loại bỏ các yếu
tố phụ này, các lớp riêng biệt đều trở nên rỗng hơn, vì thế clinoptilolite tinh chế có tổng diện tích bề mặt cao (45 - 60 m2/g) và có thể tích lỗ bên trong lớn (0,34 cm3/g) để hấp thu độc tố nấm có kích thước 3 - 6 micron