BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM ASCORBIC ACID LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE CỦA HEO
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM ASCORBIC ACID LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE CỦA HEO CON SAU CAI SỮA ĐẾN 63 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI HƯNG VIỆT TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Họ và tên sinh viên : ĐỔNG VĂN QUỐC
Lớp : TC03TYVL Niên khóa : 2003 - 2008
Tháng 6/2009
Trang 2KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM ASCORBIC ACID LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE CỦA HEO CON SAU CAI SỮA ĐẾN 63 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI HƯNG VIỆT TỈNH BÀ
Giáo viên hướng dẫn:
TS NGUYỄN VĂN KHANH ThS NGUYỄN NGỌC CÔN
Tháng 6 năm 2009
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể quý thầy cô khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình dạy dỗ, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Gởi lời biết ơn sâu sắc đến:
Ban Giám Đốc và toàn thể các Cô chú, Anh chị trong trại chăn nuôi Hưng Việt
đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập ở trại
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Tiến sĩ Nguyễn Văn Khanh và Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Côn, đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Sau cùng, chúng tôi cũng xin chân thành tri ân Cha, Mẹ, Anh chị em cùng các bạn đã động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt những năm học vừa qua, cũng như trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
ĐỔNG VĂN QUỐC
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
Qua thời gian thực tập tốt nghiệp từ ngày 23/11/2008 đến ngày 23/02/2009 tại
trại chăn nuôi Hưng Việt, chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng của chế
phẩm Ascorbic acid lên sự tăng trưởng và tình trạng sức khỏe của heo con sau cai sữa đến 63 ngày tuổi tại trại chăn nuôi Hưng Việt tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” Thí
nghiệm gồm 3 lô, ở đợt thí nghiệm 1 mỗi lô gồm có 32 con, ở đợt thí nghiệm 2 mỗi lô gồm có 30 con: lô đối chứng không bổ sung Ascorbic acid, lô thí nghiệm 1 bổ sung 120ppm Ascorbic acid/ tấn thức ăn và lô thí nghiệm 2 bổ sung 180ppm Ascorbic acid/ tấn thức ăn, với 2 lần lặp lại thí nghiệm, chúng tôi đã thu được kết quả sau:
Trọng lượng bình quân lúc vào thí nghiệm ở lô đối chứng là 9,2 0,91 kg, lô thí nghiệm 1 là 9,2 0,91kg, lô thí nghiệm 2 là 9,2 0,93 kg
Trọng lượng bình quân lúc kết thúc thí nghiệm ở lô đối chứng là 21,3 2,67 kg,
lô thí nghiệm 1 là 20,97 2,96 kg, lô thí nghiệm 2 là 21,3 3,06 kg
Tăng trọng tuyệt đối trung bình lúc kết thúc thí nghiệm ở lô đối chứng là 346,12 (g/con/ngày), lô thí nghiệm 1 là 328,4 (g/con/ngày), lô thí ghiệm 2 là 346,6 (g/con/ngày)
Chỉ số biến chuyển thức ăn ở lô bổ sung 180ppm Ascorbic acid là 1,75, lô bổ sung 120ppm Ascorbic acid là 1,81 và và lô không bổ sung Ascorbic acid là1,79
Tỷ lệ loại thải ở lô đối chứng là 0%, ở lô thí nghiệm 1 là 3,23% và lô thí nghiệm 2 là 0%
Tỷ lệ viêm khớp ở lô đối chứng là 8,06%, ở lô thí nghiệm 1 là 4,83% và ở lô thí nghiệm 2 là 6,45%
Tỷ lệ ngày con tiêu chảy ở lô bổ sung 180ppm Ascorbic acid là 2,58%, ở lô bổ sung 120ppm Ascorbic acid là 2,24% và lô không bổ sung Ascorbic acid là 2,35%
Tỷ lệ ngày con bệnh hô hấp ở lô đối chứng là 1,15%, lô thí nghiệm 1 là 1,07%
và lô thí nghiệm 2 là 1,43%
Hiệu quả kinh tế: chi phí sản xuất 1 kg thịt ở lô bổ sung 180ppm Ascorbic acid
là 21.005,74 đồng, lô bổ sung 120ppm Ascorbic acid là 21.358,38 đồng và lô không bổ sung Ascorbic acid là 20.228,06 đồng
Trang 5
MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt luận văn iii
Mục lục iv
Danh sách các chữ viết tắt vii
Danh sách các bảng viii
Danh sách các biểu đồ ix
Danh sách các hình x
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Tổng quan về trại chăn nuôi Hưng Việt 3
2.1.1 Sơ lược về trại 3
2.1.2 Cơ cấu tổ chức .3
2.1.3 Hoạt động sản xuất của trại .4
2.1.4 Cơ cấu đàn .4
2.1.5 Con giống .5
2.1.6 Bố trí chuồng trại .5
2.2 Qui trình chăm sóc nuôi dưỡng 5
2.2.1 Chuồng trại .5
2.2.2 Thức ăn 7
2.2.3 Nước uống .7
2.2.4 Chăm sóc và nuôi dưỡng .7
2.2.5 Vệ sinh chăn nuôi 9
2.2.6 Qui trình tiêm phòng của trại 10
Trang 62.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN 11
2.3.1 Tổng quan về vitamin C 11
2.3.1.1 Khái niệm 11
2.3.1.2 Các trạng thái bệnh dinh dưỡng về vitamin 11
2.3.1.3 Ảnh hưởng của vitamin đến hệ thống kháng thể 12
2.3.1.4 Sử dụng vitamin để tăng cường chức năng kháng thể 12
2.3.2 Khái niệm về Ascorbic acid (vitamin C) 13
2.3.3.Giới thiệu về Ascorbic acid .13
2.3.3.1.Cấu trúc của Ascorbic acid 13
2.3.3.2.Tính chất lý học của Ascorbic acid 13
2.3.4.Nguồn cung cấp Ascorbic acid .14
2.3.5 Vai trò và chức năng của Ascorbic acid 14
2.3.6 Ảnh hưởng của sự thiếu và thừa Ascorbic acid 16
2.3.6.1.Ảnh hưởng khi thiếu Ascorbic acid 16
2.3.6.2 Ảnh hưởng khi thừa Ascorbic acid 16
2.3.7 Một số chế phẩm Ascorbic acid sử dụng trong chăn nuôi 16
2.3.8 Đặc điểm sinh lý heo cai sữa 17
2.3.9 Các nguyên nhân gây bệnh thường gặp 18
2.3.9.1 Nguyên nhân gây bệnh viêm khớp trên heo con cai sữa 18
2.3.9.2 Nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy trên heo con cai sữa 18
2.3.9.3 Nguyên nhân gây bệnh viêm phổi trên heo con cai sữa 20
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 21
3.1 Thời gian và địa điểm thực tập 21
3.2 Nội dung 21
3.3 Bố trí thí nghiệm 21
3.4 Chất sử dụng 22
3.5 Thời gian bổ sung chế phẩm Ascorbic acid .22
3.6 Đối tượng thí nghiệm 22
3.7 Thức ăn thí nghiệm 22
3.8 Chỉ tiêu theo dõi 23
3.8.1 Nhiệt độ chuồng nuôi 23
Trang 73.8.2 Khả năng tăng trọng 24
3.8.3 Các chỉ tiêu về khả năng sử dụng thức ăn 24
3.8.4 Tình trạng sức khoẻ 24
3.9 Hiệu quả kinh tế 25
3.10 Xử lí số liệu .25
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 Nhiệt độ chuồng nuôi trong giai đoạn khảo sát 26
4.2 Khả năng tăng trọng 27
4.3 Chỉ số biến chuyển thức ăn 29
4.4 Tình trạng sức khỏe 31
4.4.1 Tỷ lệ loại thải .32
4.4.2 Tỷ lệ các triệu chứng bệnh .32
4.5 Hiệu quả kinh tế 33
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35
5.1 KẾT LUẬN 35
5.2 ĐỀ NGHỊ 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
PHỤ LỤC 38
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Một số chế phẩm Ascorbic acid dùng trong chăn nuôi 17
Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm (con) 22
Bảng 3.2.Thành phần dinh dưỡng cám viên đỏ và cám viên vàng 23
Bảng 3.3.Thành phần dinh dưỡng Cám C .23
Bảng 4.1 Nhiệt độ trung bình hàng ngày qua các tháng thí nghiệm .26
Bảng 4.2 Khả năng tăng trọng của heo thí nghiệm 27
Bảng 4.3.Chỉ số biến chuyển thức ăn 29
Bảng 4.4 Tỷ lệ loại thải và tỷ lệ các triệu chứng bệnh .31
Bảng 4.5 Hiệu quả kinh tế của heo thí nghiệm .33
Trang 10DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.1 Khả năng tăng trọng của heo thí nghiệm 28
Biểu đồ 4.2 Chỉ số biến chuyển thức ăn cho cả 2 đợt 30
Biểu đồ 4.3 Tỉ lệ loại thải và tỉ lệ các triệu trứng bệnh 32
Biểu đồ 4.4 Hiệu quả kinh tế của heo thí nghiệm 34
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Chuồng heo cai sữa 6 Hình 2.2 Chuồng heo nái 6 Hình 2.3 Chuồng heo thịt 7
Trang 12đề lao động ở nông thôn Bên cạnh đó nó còn cung cấp nguồn thực phẩm giàu dưỡng chất cho nhu cầu thiết yếu của con người
Trong chăn nuôi ngoài vấn đề xây dựng chuồng trại, con giống, chăm sóc nuôi dưỡng hàng ngày thì vấn đề dinh dưỡng cũng chiếm vai trò không kém quan trọng, nó quyết định đến tốc độ tăng trưởng và hiệu quả kinh tế
Ngày nay một trong những vấn đề hàng đầu mà người chăn nuôi đặc biệt quan tâm là sự thay đổi về thời tiết, khí hậu sẽ tác động đến vật nuôi làm giảm sức đề kháng,
từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các mầm bệnh xâm nhập
Để khắc phục tình trạng đó, người chăn nuôi luôn tìm đủ mọi cách phòng chống: Vacxin, kháng sinh, thuốc chống nấm mốc hay một loại thuốc có khả năng tăng sức chống đỡ của cơ thể đối với một số mầm bệnh
Một số nhà nghiên cứu cho rằng có một yếu tố có thể góp phần quan trọng đến
sự hấp thu và tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi đó là vitamin C (Ascorbic acid) như ta được biết với vai trò: cần thiết cho sự tăng trưởng, sinh sản, chống stress, tăng cường hệ miễn dịch.…
Dựa trên lý thuyết đã nêu ra, được sự đồng ý của bộ môn Bệnh Lý - Ký Sinh Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Khanh và Ths Nguyễn Ngọc Côn, chúng tôi tiến hành đề tài
“Khảo sát ảnh hưởng của chế phẩm Ascorbic acid lên sự tăng trưởng và tình trạng sức khỏe của heo con sau cai sữa đến 63 ngày tuổi tại trại chăn nuôi Hưng Việt Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”
Trang 131.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Đánh giá khả năng tăng trưởng và sức khỏe của heo con sau cai sữa đến 63
ngày tuổi khi bổ sung Ascorbic acid và hiệu quả kinh tế
1.2.2 Yêu cầu
Theo dõi và thu thập số liệu để khảo sát một số chỉ tiêu trong điều kiện chăn nuôi của trại như:
- Khả năng tăng trọng
- Các chỉ tiêu về khả năng sử dụng thức ăn:
+ Chỉ số biến chuyển thức ăn
+ Tiêu thụ thức ăn (kg/con/ngày)
- Tình trạng sức khoẻ
- Hiệu quả kinh tế
Trang 14Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về trại chăn nuôi Hưng Việt
2.1.1 Sơ lược về trại
Trại chăn nuôi Hưng Việt là một doanh nghiệp tư nhân được thành lập vào ngày 11/06/1990 Mô hình sản xuất của trại là kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi Trại nằm trên quốc lộ 56 thuộc ấp Tây, xã Hòa Long, thị xã Bà Rịa - Vũng Tàu, cách thị xã khoảng 3km, (nay thuộc phường Long Tâm)
Với tổng diện tích là 75.000m² trong đó:
Diện tích đường đi: 4.000m²
Diện tích nhà kho: 1.600m²
Diện tích chuồng trại: 2.900m²
Diện tích trồng hoa màu: 35.000m²
Diện tích trồng cỏ thâm canh: 16.000m²
Tổ cơ khí
Tổ heo
Tổ chế biến thức ăn
Nhà bếp
Tổ 1: Nái nuôi con, heo con
theo mẹ và heo con cai sữa
Tổ 2: Nọc, nái hậu bị, nái mang thai, heo thịt
Trang 15Trại có tổng cộng 40 người, trong đó:
Trình độ thạc sĩ: 1 người
Trình độ đại học: 3 người
Công nhân: 36 người
Riêng tổ chăn nuôi heo có 15 người:
Quản lý:1 người
Tổ nuôi heo nái sinh sản và heo con: 5 người
Tổ nái khô, nái mang thai, đực làm việc, heo thịt: 9 người
2.1.3 Hoạt động sản xuất của trại
Trại kết hợp mô hình sản xuất giữa chăn nuôi với trồng trọt, sử dụng chất thải trong chăn nuôi để làm phân bón phục vụ cho trồng trọt tránh được nạn ô nhiễm môi trường, hàng năm trại thường cung cấp các loại sản phẩm thịt heo, thịt bò, hoa màu cho thị trường
Chăn nuôi heo là hướng sản xuất chính của trại, toàn bộ heo con sinh ra được trại giữ lại nuôi đến lớn bán heo thịt Ngoài ra trại còn cung cấp con giống, tinh heo cho các hộ chăn nuôi ở địa phương
Chăn nuôi bò: trại có 9 bò sữa giống Holstein Friesian, toàn bộ bê cái sinh ra được trại giữ lại làm giống, còn bê đực được nuôi theo hướng thịt Riêng phần sữa bò trại sử dụng làm sữa chua để phục vụ cho quán giải khát hàng ngày
Trồng trọt: ngoài trồng cỏ voi để cung cấp cho bò, trại còn trồng các loại hoa màu ngắn ngày và trồng theo phương pháp luân canh, sản phẩm thu được sẽ phục vụ cho nhu cầu trong trại và bán ra bên ngoài
2.1.4 Cơ cấu đàn
Tính đến ngày 23/02/2009 trại có tổng đàn 2102 con giống:
Heo nọc làm việc: 6 con
Heo nái: 280 con
Heo hậu bị: 104 con
Heo con cai sữa: 462 con
Heo con theo mẹ: 260 con
Heo thịt: 990 con
Trang 162.1.5 Con giống
Trại có giống: Yorkshire, Duroc, Landrace × Yorkshire và Pietrain × Duroc Hiện trại đang thử nghiệm đưa tinh heo Yorkshire có nguồn gốc từ Mỹ để lai cải tiến với giống heo đang có ở trại, mục tiêu nhằm để nâng cao năng suất sinh sản
2.1.6 Bố trí chuồng trại
- Dãy chuồng A1 và B1: dùng cho nái nuôi con
- Dãy chuồng A21 và A22: dùng để nuôi heo con cai sữa
- Dãy chuồng A3 và B3: dùng để nuôi nái mang thai, nái khô và nái hậu bị
- Dãy chuồng A4: dùng để nuôi đực hậu bị và đực làm việc
- Dãy chuồng B2, A51, A52, A6 và B6: dùng để nuôi heo thịt
Ngoài ra trại còn có một dãy chuồng dùng để nuôi bê con và hai dãy chuồng dùng để nuôi bò
2.2 Qui trình chăm sóc nuôi dưỡng
2.2.1 Chuồng trại
Chuồng nái đẻ và nái nuôi con
Được thiết kế dạng chuồng kín, có hệ thống thông gió đầu và cuối chuồng Ở
đầu chuồng có hệ thống phun sương để làm mát heo khi thời tiết nóng Mỗi chuồng nái
đẻ được phân thành hai dãy, mỗi dãy có 16 ô cho nái đẻ và nuôi con, trong mỗi ô có 2 đèn úm
Chuồng nuôi heo cai sữa
Là hệ thống chuồng kín, kiểu nóc đôi, mái lợp ngói, chiều dài 40m, rộng 12m, được chia thành 2 dãy có vách ngăn bằng tường cách biệt hoàn toàn Cuối chuồng có lắp hệ thống quạt hút, ở đầu chuồng là hệ thống phun sương Bên trong mỗi dãy chuồng chia làm 11 ô, mỗi ô có kích thước là 4 × 2,5 (m²), chiều cao 0,8m, riêng ô cuối chuồng dùng để nuôi heo cai sữa sớm và heo còi Lối đi cặp vách ngoài có máng
ăn, ở đầu mỗi ô chuồng được lắp máng ăn bán tự động có lỗ điều chỉnh thức ăn rơi xuống Mỗi ô có 2 núm uống tự động đặt ở cuối góc ô chuồng, 2 núm uống đặt cách nhau ở độ cao 0,2 m và 0,4m, luôn đảm bảo có đầy đủ nước sạch cho heo con
Trang 17Hình 2.1 Chuồng heo cai sữa
Chuồng nái mang thai và nái khô
Được thiết kế dạng chuồng hở, chia làm 3 dãy đều nhau với mỗi dãy là 30 ô cá thể, kích thước mỗi ô 2 × 0,8 (m²) và có sân chơi Mỗi dãy được lắp hệ thống quạt ở đầu chuồng, giữa chuồng và cuối chuồng, hệ thống phun sương được lắp đặt ở phía trên, ở giữa và cuối chuồng có ô cá thể riêng dành cho đực thí tình nhằm kích thích nái nhanh động dục trở lại, đồng thời giúp kĩ thuật viên gieo tinh phát hiện heo lên giống kịp thời để phối đúng thời điểm
Hình 2.2 Chuồng heo nái Chuồng heo đực giống
Là hệ thống chuồng hở, mái lợp ngói 2 nóc, được thiết kế với quạt lùa cùng hệ
thống phun sương, hai bên có thêm mái che chắn để giảm bớt nắng và tránh gió lùa, chuồng được xây dựng với diện tích 4m²∕con và có sân chơi Mỗi ô đều có máng ăn và
Trang 18Chuồng heo thịt
Dạng chuồng sàn có đà làm bằng xi măng, mái lợp ngói 2 nóc, chuồng được thiết kế dạng kín, có lắp đặt hệ thống quạt hút ở cuối chuồng, ở đầu chuồng được lắp đặt hệ thống phun sương Chuồng được chia làm 2 dãy, mỗi dãy có 11 ô, mỗi ô nuôi từ
10 đến 15 con và sau mỗi ô chuồng đều có hồ tắm
Hình 2.3 Chuồng heo thịt 2.2.2 Thức ăn
- Heo nái khô, nái mang thai, đực làm việc cho ăn cám hỗn hợp số 10
- Heo nái nuôi con, nái hậu bị, đực hậu bị cho ăn cám hỗn hợp số 6
- Heo con cai sữa sử dụng hỗn hợp cám C
- Thức ăn hỗn hợp do trại mua các loại nguyên liệu về tự trộn Riêng thức ăn cho heo con theo mẹ và thức ăn heo con cai sữa giai đoạn đầu được mua từ công ty Cargill
2.2.3 Nước uống
- Nguồn nước của trại được sử dụng từ hệ thống giếng khoan, nước được bơm
lên hồ chứa và có hệ thống ống dẫn truyền vào các dãy chuồng của trại để dùng cho heo uống và sinh hoạt hàng ngày của trại
2.2.4 Chăm sóc và nuôi dưỡng
-Trại Hưng Việt có qui trình chăm sóc, nuôi dưỡng khá tốt, hiện trại đang từng bước khắc phục những hạn chế để ngày càng được hoàn thiện hơn Công nhân ở trại luôn có ý thhức, trách nhiệm và đầy nhiệt tình với công việc của mình
- Trại bố trí và xây dựng nhiều dãy chuồng tách biệt nhằm giúp cho việc chăm sóc thuận tiện hơn, heo ở mỗi giai đọan khác nhau được nuôi ở những dãy chuồng khác nhau nhằm để giúp ngăn ngừa bệnh tật xuất hiện
Trang 19Đối với heo con
- Đối với heo con cai sữa thường tắm một lần trong ngày vào buổi trưa, ở giai đoạn đầu sau khi cai sữa heo thường không được tắm để tránh heo bị lạnh và tránh các bệnh về hô hấp, tiêu chảy…khi heo mới sinh ra được lau chùi sạch sẽ nhất là vùng mũi, miệng để giúp cho heo hô hấp dễ dàng Heo được bấm răng, cắt rốn và sát trùng bằng dung dịch cồn Iod, sau đó cho bú sữa đầu và cân trọng lượng sơ sinh toàn ổ
Tùy số lượng con nhiều hay ít mà tiến hành ghép bầy, loại bỏ những con bị dị tật và những con quá yếu hay quá nhỏ
Heo được bấm tai và cắt đuôi sau khi đẻ được 1-2 ngày
Khi được 3 ngày tuổi thì heo được tiêm sắt lần 1 với liều 1 ml ∕con
Heo được 7-10 ngày tuổi thì tiêm sắt lần 2 với liều 1 ml ∕con
Khi heo được 7 ngày tuổi thì tiêm ADE lần 1 với liều 1 ml ∕con và bắt đầu tập
ăn cám Cargill đỏ
Heo được 10 ngày tuổi thì tiêm ADE lần 2 với liều 2 ml ∕con
Đối với nái khô và nái mang thai
Thường tắm một lần vào buổi sáng hoặc buổi chiều, nếu trời nắng nóng thì cho vận hành hệ thống phun sương hoặc có thể xịt tắm lại một lần nữa để làm mát heo Heo được cho ăn ngày 2 lần, lượng thức ăn tùy thuộc vào trọng lượng và giai đoạn mang thai của từng con (từ 2-3,5 kg) Trước khi đẻ 1 tuần nái được tắm rửa sạch sẽ để chuyển lên chuồng nái đẻ, lượng thức ăn tùy thuộc vào tình trạng mập ốm của từng con
Đối với nái
Luôn được theo dõi thường xuyên hàng ngày nếu thấy nái có biểu hiện sắp
sinh thì ta can thiệp kịp thời Sau khi nái sinh sẽ được đặt viên kháng sinh Amphoprim bolus để tránh viêm nhiễm Nếu phát hiện nái sốt thì tiêm Analgin C và kết hợp với truyền dịch điện giải
Sau khi nái đã tống hết nhau thì tiến hành thụt rửa tử cung bằng thuốc tím pha với nước ấm với tỉ lệ 1/1000, mỗi ngày 2 lần và thụt rửa liên tục trong 3 ngày
Ghi vào sổ theo dõi: số heo sơ sinh còn sống, heo chết, heo còi và heo bị bệnh khác
Trang 20Nái sau khi sinh sẽ cho ăn cám hỗn hợp số 6 của trại tự trộn với mức 1 kg /ngày
và tăng dần đến ngày thứ 5 thì cho ăn tự do
Đối với đực giống
Được lấy tinh theo chu kỳ 2 lần/tuần, heo luôn được tắm rửa sạch sẽ và làm mát lúc trời nắng nóng Mỗi ngày heo được cho ăn 2 lần lúc 7 giờ sáng và 5 giờ chiều
- Thức ăn cho heo do trại tự trộn, đảm bảo đủ lượng chất dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển của heo trong từng giai đoạn Riêng thức ăn cho heo con tập ăn và giai đoạn đầu sau cai sữa được mua từ công ty Cargill
- Đàn heo ở mỗi chuồng được giao cho một công nhân theo dõi chăm sóc để nắm được tình trạng của heo đồng thời có biện pháp xử lý khi phát hiện bệnh
2.2.5 Vệ sinh chăn nuôi
- Chuồng trại được vệ sinh thường xuyên mỗi ngày Mỗi dãy chuồng đều có hệ thống ống nước riêng để tắm heo và rửa chuồng
- Trước cửa chuồng luôn có hố sát trùng, các dãy chuồng luôn được cách ly với nhau, công nhân chỉ được thực hiện công việc trong dãy chuồng của mình phụ trách không được qua các dãy chuồng khác Công nhân làm việc được trang bị quần áo bảo
hộ và ủng, mỗi chuồng đều có sổ ghi nhận tình trạng bệnh, sổ thức ăn và sổ theo dõi tăng trọng heo
- Các phương tiện ra vào trại đều phải qua hố nước sát trùng
- Khách tham quan khi vào trại phải tuân theo qui định của trại
Trang 212.2.6 Qui trình tiêm phòng của trại
+ Nái sinh sản: 2 lần trong năm, sau khi đẻ 7 ngày và tiêm nhắc lại sau khi
đẻ 7 ngày lứa sau
+ Nọc: 2 lần trong năm vào tháng 3 và tháng 9
+ Heo cai sữa: 2 lần, lúc 28-30 ngày tuổi và 49-50 ngày tuổi
+ HBPD, nọc, nái: 2 lần trong năm
+ Heo cai sữa: 1 lần lúc 42-47 ngày tuổi
(Nguồn: phòng kĩ thuật trại heo Hưng Việt)
2.2.7 Bệnh và điều trị
Tất cả heo đều được theo dõi hàng ngày để kịp thời phát hiện bệnh và có biện pháp can thiệp
Các loại thuốc thường được sử dụng: Duphapen strep B.P, Dexa, Dexazin,
Analgivet, Ampi- colistin, Penicilline, Streptomycine…
Thuốc bổ: B- complex, β Glucan, vitamin ADE…
Trang 222.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.3.1 Tổng quan về vitamin
2.3.1.1 Khái niệm
Vitamin là hợp chất hữu cơ có phân tử trọng tương đối nhỏ, có trong cơ thể với
số lượng rất ít, nhưng không thể thiếu được vì nó có vai trò rất quan trọng là tham gia cấu trúc nhóm ghép trong nhiều hệ thống enzyme, xúc tác các phản ứng sinh học để duy trì mọi hoạt động sống bình thường như sinh trưởng, sinh sản, bảo vệ cơ thể và sản xuất các sản phẩm chăn nuôi…
2.3.1.2 Các trạng thái bệnh dinh dưỡng về vitamin
Có 3 trạng thái bệnh dinh dưỡng về vitamin được đề cập:
Trạng thái thiếu tuyệt đối vitamin
Là trạng thái thiếu hẳn một hoặc vài loại vitamin nào đó, nếu cho thú ăn loại thức ăn này kéo dài, thú sẽ mắc bệnh và xuất hiện các triệu chứng rất đặc trưng Trạng thái này trong thực tiễn ít khi xảy ra, bởi vì trong thức ăn nguyên liệu dù ít hay nhiều cũng có vitamin, không đến nỗi thiếu hoàn toàn Trạng thái này xảy ra có thể do 3 trường hợp:
Cho thú ăn quá đơn điệu một vài loại thức ăn mà không bổ sung premix, vitamin, ví dụ như bột củ mì, tấm, cám mà không cho thú ăn rau xanh, thú sẽ mắc bệnh thiếu vitamin A
Thức ăn để quá lâu, hoặc bị oxy hóa các vitamin làm cho hư hỏng
Trong thức ăn có chất ức chế, đối kháng vitamin Ví dụ cho thú ăn lòng trắng trứng sống liên tục, thú sẽ thiếu vitamin H (biotin)
Trạng thái thiếu tương đối vitamin
Là trạng thái thiếu hụt so với nhu cầu, chứ không phải thiếu hoàn toàn, có nghĩa
là trong thức ăn vẫn có vitamin, nhưng số lượng thấp hơn nhu cầu Triệu chứng thiếu biểu hiện không đặc trưng, không rõ ràng Người ta cảm nhận được qua số liệu thống
kê về sức sản xuất bị suy giảm, sức đề kháng bệnh cũng giảm Thú dễ bị nhiễm trùng
và mẫn cảm với stress do môi trường gây ra Đối với thú làm giống thì sự thành thục đôi khi chậm trễ Giảm thấp một số chỉ tiêu sinh sản như tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ đậu thai,
tỷ lệ đẻ, tỷ lệ ấp nở…không dễ dàng gì để chẩn đoán bệnh một cách chính xác
Trang 23Ví dụ như thiếu tương đối vitamin A, ở heo nái đẻ có hiện tượng khô thai nhẹ,
tỷ lệ ấp nở của gia cầm tương đối thấp, có nhiều trứng sát Đôi khi nó cũng giống với những triệu chứng của một số bệnh truyền nhiễm mãn tính
Trong thực tiễn chăn nuôi, trạng thái thiếu này rất phổ biến kể cả những nước
có ngành chăn nuôi phát triển, nhất là chăn nuôi theo lối công nghiệp
Trạng thái dư thừa vitamin
Trạng thái này ít xảy ra trong chăn nuôi vì vitamin rất đắt tiền, song đôi khi cũng xuất hiện do nhà chăn nuôi sử dụng vitamin tinh khiết bổ sung vào thức ăn không tính toán cẩn thận hoặc thao tác phối trộn không chuẩn xác làm cho một số vitamin dư quá nhiều gây rối loạn trao đổi chất Ví dụ vitamin A khi bổ sung vào thức ăn lên đến hàng triệu đơn vị trong 1 kg thức ăn thì thú sẽ bị dị ứng nặng, nổi nhiều mẫn đỏ trên
da Nếu cho ăn quá nhiều vitamin D cũng gây rối loạn phát triển bộ xương Giữa các loại vitamin thì vitamin tan trong chất béo nếu dư thừa quá nhiều sẽ có hại hơn các vitamin tan trong nước, vì cơ thể đào thải vitamin tan trong chất béo khó khăn hơn
2.3.1.3 Ảnh hưởng của vitamin đến hệ thống kháng thể
Ảnh hưởng của khẩu phần, đặc biệt là vitamin trên hệ thống kháng thể rất lớn
Nó không những quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất kháng thể để phòng các bệnh truyền nhiễm do vi trùng, siêu vi mà ngay cả bệnh ung thư cũng có giá trị phòng ngừa rất cao Hầu hết các vitamin đều tham gia trong nhóm ghép, co-enzyme, nó có tác động trên hệ thống kháng thể bởi 2 con đường: thứ nhất là thúc đẩy cơ thể sản xuất ra
hệ thống tế bào kháng thể rất đa dạng Thứ hai là thúc đẩy các quá trình sinh hóa học
tế bào để sản xuất ra nhiều protein kháng thể Nhờ có quá trình này mà cơ thể đã loại trừ các bệnh tật gây ra bởi vi khuẩn, virus, nấm, kí sinh trùng và các khối u
2.3.1.4 Sử dụng vitamin để tăng cường chức năng kháng thể
Đây là hướng đi rất phù hợp với mục tiêu dinh dưỡng hiện đại, sử dụng biện pháp dinh dưỡng để nâng cao sức đề kháng bệnh, để giảm thiểu tối đa việc dùng các kháng sinh và hóa dược độc hại trong chăn nuôi Sử dụng giải pháp dinh dưỡng để làm cho sức đề kháng bệnh của động vật nuôi làm thực phẩm được nâng cao, đồng hành với mục tiêu sản xuất thịt sạch, không tồn dư các chất độc hại, tạo ra thực phẩm có giá trị bổ dưỡng cao, an toàn cho người sử dụng
Trang 24Trong các loại vitamin, người ta nhận thấy vitamin ADE và vitamin C thường thiếu so với nhu cầu trong những trường hợp stress do hoàn cảnh chăn nuôi công nghiệp Nhưng các vitamin này có vai trò quan trọng để giúp cho hệ thống đề kháng của cơ thể được cũng cố vững chắc, chống lại sự sâm nhập của vi trùng, virus gây bệnh Ngày nay người ta còn thấy nó có ý nghĩa quyết định để thúc đẩy hệ thống tế bào bạch cầu thực bào các tế bào ung thư trong máu
2.3.2 Khái niệm về Ascorbic acid (vitamin C)
Ascorbic acid là hợp chất hữu cơ rất cần thiết cho hoạt động trao đổi chất thông thường của cơ thể, nó không được dùng làm nguồn năng lượng hay thành phần cấu trúc mà thường dùng làm co-enzyme trong các phản ứng trao đổi chất Trong cơ thể chiếm số lượng rất ít nhưng nó có vai trò rất quan trọng là tham gia cấu trúc nhóm ghép trong nhiều hệ thống enzyme, xúc tác các phản ứng sinh học để duy trì hoạt động sống bình thường của cơ thể như: sinh trưởng, sinh sản, bảo vệ cơ thể và sản xuất các sản phẩm chăn nuôi (Dương Thanh Liêm và ctv, 2002)
2.3.3.Giới thiệu về Ascorbic acid
2.3.3.1.Cấu trúc của Ascorbic acid
Ascorbic acid là dạng hợp chất 2-keto-L-gluconic acid, có hai trạng thái: trạng thái có hydro và trạng thái khử hydro (Dương Thanh Liêm và ctv, 2006)
Ascorbic acid được phát hiện vào năm 1928 (Lê Hồng Mận - Bùi Đức Lũng, 2002)
2.3.3.2.Tính chất lý học của Ascorbic acid
Ascorbic acid có dạng bột màu trắng, khi hòa tan vào nước có pH = 2,2-2,5 Ascorbic acid rất nhạy cảm với oxy trong không khí với sự hiện diện của kim loại nặng Khi đã bị oxy hóa thì mất tác dụng của Ascorbic acid (Dương Thanh Liêm và ctv, 2006)
Ascorbic acid dễ tan trong nước, rượu, không tan trong glycerin, axeton, xăng clorofozm và mỡ (Nguyễn Văn Thưởng và ctv, 1992)
Ascorbic acid là một vitamin kém ổn định nhất trong các vitamin tan trong nước (Nguyễn Phước Nhuận và ctv, 2001)
Trang 252.3.4 Nguồn cung cấp Ascorbic acid
Trừ vi khuẩn ra, Ascorbic acid được tìm thấy trong tế bào động thực vật Đặc biệt có nhiều trong thực vật xanh, rau quả tươi Nếu đem sấy khô thì Ascorbic acid sẽ
bị hư hỏng Trong trứng gà không có Ascorbic acid nhưng nếu đem ấp 4 ngày khi phôi bắt đầu hình thành và hoạt động thì sẽ xuất hiện Ascorbic acid
Về các loại động vật trừ con người, khỉ, chuột biển, tôm và cá, còn lại các động vật khác có khả năng tổng hợp Ascorbic acid ở gan, thận và tuyến thượng thận Những loài động vật kể trên sở dĩ không tổng hợp đủ Ascorbic acid cho nhu cầu vì cơ thể chúng thiếu enzyme Ascorbic acid ở hai giai đoạn cuối cùng (Dương Thanh Liêm và ctv, 2006)
Theo Lee Russell McDoWell (1989), nguồn cung cấp Ascorbic acid chủ yếu là
từ trái cây và rau quả nhưng thực phẩm có nguồn gốc từ động vật cũng có chứa Ascorbic acid Ascorbic acid có nhiều trong trái cây tươi, nhất là trái cây có vị chua
2.3.5 Vai trò và chức năng của Ascorbic acid
Ascorbic acid đóng vai trò cung cấp hydro, là thành viên trong hệ thống phản ứng oxy hóa khử của cơ thể Người ta nhận thấy nếu thiếu nó thì gây tổn hại đến phản ứng tạo hydro-prolin, một acid amin quan trọng trong tổ chức liên kết sụn, xương (Dương Thanh Liêm và ctv, 2006)
Ascorbic acid là chất xúc tác cho nhiều phản ứng biến đổi trong cơ thể, tham gia kích thích hoạt động của tuyến tiêu hóa, tham gia vào quá trình tổng hợp glycogen (Nguyễn Văn Thưởng và ctv, 1992)
Ascorbic acid tham gia trong quá trình oxy hóa các chất acid có hương vị, tổng hợp Norepinephrine và Carnitine (Lê Hồng Mận-Bùi Đức Lũng, 2002)
Trong một số thời gian trong năm có khí hậu bất lợi: đầu mùa mưa, đầu mùa khô, việc cung cấp Ascorbic acid cho chăn nuôi heo sẽ giảm thiểu tình trạng heo nhiễm bệnh, nhất là nhóm nái đẻ, nái chửa, nái nuôi con, heo con theo mẹ và heo con cai sữa (Võ Văn Ninh, 1999)
Ascorbic acid cũng cần thiết cho việc cấu tạo bền chắc hệ thống mao quản huyết (Võ Văn Ninh, 1999)
Ascorbic acid cần thiết cho sự hoạt hóa acid pholic, cho việc thu nhận sắt vào các ferrine để làm cho sắt trở nên hữu dụng Ascorbic acid cũng rất cần thiết cho việc
Trang 26tạo kháng thể tế bào và kháng thể dịch thể để chống lại bệnh tật (Dương Thanh Liêm
và ctv, 2006)
Theo Dương Thanh Liêm và ctv, 2006, ảnh hưởng của Ascorbic acid trên hệ thống kháng thể của động vật thể hiện như sau:
Hàm lượng cao Ascorbic acid được tìm thấy trong tế bào vỏ thượng thận, ở đây
có sự điều chỉnh thải tiết glucocorticoid (cortisol) Nếu cơ thể lâm vào tình trạng stress thì có sự tiêu thụ rất lớn Ascorbic acid Nếu hàm lượng Ascorbic acid trong huyết tương thấp thì làm cho tế bào bạch cầu giảm sự nhận Ascorbic acid, khả năng chống
đỡ sẽ thấp Hàm lượng Ascorbic acid trong tế bào sấp sĩ 800µg trong 109 tế bào
Hàm lượng Ascorbic acid trong tế bào và huyết thanh của người khi không có
và có bổ sung 2g Ascorbic acid trong 5 ngày
(Dương Thanh Liêm và ctv, 2006) Những bệnh tật có liên quan đến sự sụt giảm Ascorbic acid, hay nói cách khác Ascorbic acid có tác dụng tăng cường sức đề kháng chống các bệnh sau đây:
Tác dụng tăng sức đề kháng chống các bệnh của Ascorbic acid
STT loài Tăng sức đề kháng chống bệnh
1 Ngựa Bệnh viêm phổi do Streptococcus, bệnh viêm phổi do virus, bệnh cúm
Influenza, viêm nội mạc tử cung
2 Bò Bệnh viêm phổi và tiêu chảy trên bò, viêm nội mạc tử cung, Endometritis,
Leucosis
3 Heo Bệnh tiêu chảy, dịch tả, đóng dấu son (Erysipelas)
4 Chó Bệnh do parvovirus, bệnh sốt do virus, bệnh viêm gan, ung thư, giảm bạch cầu
5 Mèo Panleucopenia, viêm khí quản do virus
6 Gia cầm Bệnh dịch tả, leucosis, cầu trùng, bệnh Gumboro, bệnh Marek’s
(Dương Thanh Liêm và ctv, 2002)
Các chỉ tiêu Không bổ sung
Acorbic acid
Có bổ sung Ascorbic acid
Tế bào bạch cầu Leucocyte (µg /109 tế bào) 336 ± 95 442 ± 137
Tế bào bạch cầu hạt Granulocyte (µg /109 tế bào) 93 ± 25 125 ± 25
Huyết tương (plasma) (µg/ml) 7,9 ± 3,9 20,9 ± 6,3
Trang 272.3.6 Ảnh hưởng của sự thiếu và thừa Ascorbic acid
2.3.6.1.Ảnh hưởng khi thiếu Ascorbic acid
- Thiếu Ascorbic acid gây rối loạn sự trao đổi tế bào niêm mạc, tổ chức liên kết,
tổ chức sụn Hậu quả của nó làm cho rối loạn sự tạo thành bộ xương ở người và chuột biển (Dương Thanh Liêm và ctv, 2008)
-Thiếu Ascorbic acid gây ra bệnh xơ cứng động mạch, chảy máu dưới da, cơ, sức khỏe yếu (Lê Hồng Mận – Bùi Đức Lũng, 2002)
- Thiếu Ascorbic acid gây ra triệu chứng: nướu răng xốp, đau nhức, răng lung lay, mạch máu dễ vở, viêm khớp (Nguyễn Phước Nhuận và ctv, 2001)
2.3.6.2 Ảnh hưởng khi thừa Ascorbic acid
- Ascorbic acid không gây độc nhưng dạng acid hóa của nó: Dehydro-Ascorbic acid lại có độc tính Như vậy khi sử dụng Ascorbic acid liều cao sẽ tích lũy dehydro-Ascorbic acid (Nguyễn Phước Nhuận và ctv, 2001)
- Đối với các động vật kinh tế, người ta coi Ascorbic acid là yếu tố tăng sức đề kháng cho cơ thể Tuy vậy sự bổ sung Ascorbic acid thường xuyên không phải lúc nào cũng cho kết quả dương tính Người ta đề nghị nên bổ sung cho heo con khi cai sữa sớm, trong điều kiện môi trường có nhiều stress Đối với heo nọc, bổ sung Ascorbic acid để cải thiện phẩm chất tinh dịch Bổ sung Ascorbic acid khi có bệnh truyền nhiễm, nhất là các bệnh do siêu vi trùng gây ra, không chữa trị được bằng các loại kháng sinh (Dương Thanh Liêm và ctv, 2006)
2.3.7 Một số chế phẩm Ascorbic acid sử dụng trong chăn nuôi
- Ngày nay trên thị trường có rất nhiều chế phẩm Ascorbic acid sử dụng trong chăn nuôi và để phục vụ cho thị hiếu của con người, các nhà sản xuất luôn tạo ra nhiều dạng khác nhau như: dạng Ascorbic acid tiêm, dạng bột, dạng thuốc điều trị kết hợp với một vài chế phẩm khác