BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP HIỆU QUẢ CỦA CHẾ PHẨM KÍCH THÍCH BIẾN DƯỠNG CHỨA BUTAPHOSPHAN LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG V
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HIỆU QUẢ CỦA CHẾ PHẨM KÍCH THÍCH BIẾN DƯỠNG CHỨA BUTAPHOSPHAN LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC KHỎE ĐÀN HEO CAI SỮA TẠI TRẠI CHĂN NUÔI HƯNG VIỆT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Họ và tên sinh viên : BÙI THỊ THƯ Ngành : Dược Thú Y Niên khóa : 2004 - 2009
Trang 2HIỆU QUẢ CỦA CHẾ PHẨM KÍCH THÍCH BIẾN DƯỠNG CHỨA BUTAPHOSPHAN LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC KHỎE ĐÀN HEO CAI SỮA TẠI TRẠI CHĂN NUÔI HƯNG VIỆT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Giáo viên hướng dẫn
TS NGUYỄN VĂN KHANH BSTY LÊ NGUYỄN PHƯƠNG KHANH
Tháng 09/2009
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ tên sinh viên thực tập: BÙI THỊ THƯ
Tên khóa luận: “Hiệu quả của chế phẩm kích thích biến dưỡng chứa Butaphosphan lên một số chỉ tiêu tăng trưởng và sức khỏe đàn heo cai sữa tại trại chăn nuôi Hưng Việt, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”
Đã hoàn thành khóa luận theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của Hội Đồng Chấm Thi Tốt Nghiệp Khoa ngày………
Giáo viên hướng dẫn
TS NGUYỄN VĂN KHANH
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Thành kính ghi ơn ông bà, cha mẹ và gia đình đã hết lòng lo lắng, dạy bảo cho tôi nên người, bên cạnh đó xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến mọi người xung quanh
đã giúp tôi vượt qua mọi khó khăn:
Xin cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm và Ban chủ nhiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y đã hỗ trợ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập
Trân trọng biết ơn toàn thể Thầy Cô trong Khoa Chăn Nuôi Thú Y đã tận tình dạy bảo, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong thời gian tôi học tập tại trường
Xin chân thành ghi ơn thầy Nguyễn Văn Khanh và cô Lê Nguyễn Phương Khanh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi hoàn thành đề tài
Xin cảm ơn Ban Giám đốc trại chăn nuôi Hưng Việt cùng các cô chú anh chị cán bộ công nhân viên đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập
Xin gửi lời cảm ơn đến thầy chủ nhiệm cùng những thành viên của lớp Dược Thú Y 30, và tất cả bạn bè đặc biệt là Anh Tư, những người đã cùng tôi đoàn kết, chia
sẽ những khó khăn trong quá trình học tập và sinh hoạt tại trường
Chân thành cảm ơn
Bùi Thị Thư
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài có tên: “Hiệu quả của chế phẩm kích thích biến dưỡng chứa Butaphosphan lên một số chỉ tiêu tăng trưởng và sức khỏe đàn heo cai sữa tại trại chăn nuôi Hưng Việt, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” Thí nghiệm được thực hiện tại trại
chăn nuôi Hưng Việt tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, trong thời gian từ ngày 4/3/2009 đến ngày 21/6/2009
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố, được tiến hành trên 276 heo con cai sữa từ 28 đến 63 ngày tuổi, chia làm 3 đợt thí nghiệm (tương ứng với 3 lần lặp lại), số lượng heo nhập của từng đợt lần lượt là: đợt 1: 32con/lô, đợt 2: 16con/lô, đợt 3: 44 con/lô Heo trong mỗi lô đồng đều về giới tính và trọng lượng, tổng cộng 92 con/lô thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí như sau: lô đối chứng: không bổ sung chế phẩm, lô thí nghiệm 1: bổ sung chế phẩm ở mức 2ml/con, lô thí nghiệm 2: bổ sung chế phẩm ở mức 4ml/con Thức ăn thí nghiệm có thành phần và giá trị dinh dưỡng như nhau Kết quả thu được như sau:
Tăng trọng bình quân ở ở lô ĐC 12,87kg/con, ở lô TN1 12,14 kg/con và ở lô TN2 12,89 kg/con Tăng trọng tuyệt đối ở lô TN1 là 346,89 g/con/ngày, ở lô TN2 là 368,40 g/con/ngày so với ở lô ĐC là 365,37 g/con/ngày Hệ số chuyển hóa thức ăn ở 3
lô thí nghiệm được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao: lô TN1 (1,65) < lô TN2 (1,68)
< lô ĐC (1,70) Tỉ lệ loại thải ở lô ĐC, lô TN1, TN2 lần lượt là: 1,08%, 1,08%, 3,26%
Tỉ lệ ngày con tiêu chảy ở lô TN1 là 2,84% ở lô TN2 là 2,32% so với ở lô ĐC là 2,08% Tỉ lệ ngày con ho ở lô TN1 là 0,49% ở lô TN2 là 0,44% so với ở lô ĐC là 0,28% Tỉ lệ viêm khớp ở lô ĐC, TN1, TN2 lần lượt là: 5,43%, 4,35%, 6,52% Tỉ lệ viêm da ở lô ĐC là 3,26%, lô TN1 là 1,09%, ở lô TN 2 là 2,17% Tỉ lệ cắn đuôi ở lô TN1 là 0% và ở lô TN2 là 1,08% so với ở lô ĐC là 2,17% Tất cả các chỉ tiêu trên đều không có ý nghĩa về mặt thống kê với P > 0,05
Việc bổ sung chế phẩm chưa cải thiện được mức chi phí cho 1kg tăng trọng, lô TN2 có chi phí cao nhất (16.306 đồng/kg), kế đến là lô ĐC (15.885 đồng/kg) và thấp nhất là lô TN1 (15.795 đồng/kg)
Trang 6MỤC LỤC
Trang
TRANG TỰA i
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN iii
LỜI CẢM TẠ iv
TÓM TẮT LUẬN VĂN v
MỤC LỤC vi
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT x
DANH SÁCH CÁC BẢNG xi
DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ - BIỂU ĐỒ xii
Chương 1 MỞ ĐẦU 1 U 1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích 2
1.3 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 GIỚI THIỆU VỀ TRẠI CHĂN NUÔI HƯNG VIỆT 3
2.1.1 Vị trí địa lí 3
2.1.2 Sơ lược về trại 3
2.1.3 Điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng thú khảo sát 5
2.1.3.1Chuồng trại 5
2.1.3.2 Thức ăn 6
2.1.3.3 Nước uống 6
2.1.3.4 Vệ sinh và tiêm phòng 6
2.1.4 Qui trình chăm sóc nuôi dưỡng 8
2.1.4.1 Đối với nái đẻ và nái nuôi con 8
Trang 72.1.4.2 Đối với heo con cai sữa 9
2.1.4.3 Đối với heo đực giống 10
2.1.4.4 Đối với nái khô và nái mang thai 10
2.1.5 Bệnh và điều trị 11
2.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN 11
2.2.1 Đặc diểm sinh lí heo cai sữa 11
2.2.2 Các nguyên nhân gây bệnh thường gặp 13
2.2.2.1 Các nguyên nhân gây tiêu chảy trên heo con cai sữa 13
2.2.2.2 Các nguyên nhân gây viêm phổi trên heo cai sữa 14
2.2.2.3 Các nguyên nhân gây viêm khớp trên heo cai sữa 14
2.2.3 Vai trò của phospho trong cơ thể gia súc 15
2.2.4 Vai trò của ATP trong cơ thể gia súc 16
2.2.5 Sự tiêu hóa một số các dưỡng chất 16
2.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA BUTAPHOSPHAN 19
2.3.1 Tính chất 19
2.3.2 Tác dụng 20
2.3.3 Chỉ định 20
2.3.4 Liều lượng 21
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 22
3.1 Thời gian và địa điểm 22
3.2 Đối tượng khảo sát 22
3.3 Dụng cụ và vật liệu 22
3.4 Nội dung nghiên cứu 22
3.4.1 Nội dung 1: Đánh giá hiệu quả của chế phẩm chứa dược chất kích thích biến dưỡng Butaphosphan 22
Trang 83.4.1.1 Bố trí thí nghiệm 22
3.4.1.2 Chỉ tiêu theo dõi 23
3.4.1.3 Phương pháp theo dõi 24
3.4.2 Nội dung 2: So sánh hiệu quả kinh tế giữa các lô thí nghiệm 24
3.5 Công thức tính các chỉ tiêu 24
3.6 Xử lí số liệu 26
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 NHIỆT ĐỘ CHUỒNG NUÔI TRONG GIAI ĐOẠN KHẢO SÁT 27
4.2 KHẢ NĂNG TĂNG TRỌNG 29
4.2.1 Trọng lượng bình quân lúc vào thí nghiệm 30
4.2.2 Tăng trọng bình quân 31
4.2.3 Tăng trọng tuyệt đối 32
4.3 LƯỢNG THỨC ĂN TIÊU THỤ VÀ HỆ SỐ CHUYỂN HÓA THỨC ĂN 34
4.3.1 Lượng thức ăn tiêu thụ hằng ngày 35
4.3.2 Hệ số chuyển hóa thức ăn 36
4.4 TỈ LỆ LOẠI THẢI VÀ TỶ LỆ CÁC TRIỆU CHỨNG BỆNH 38
4.4.1 Tỉ lệ loại thải 38
4.4.2 Biểu hiện tiêu chảy 39
4.4.3 Biểu hiện ho trên đàn heo thí nghiệm 41
4.4.4 Tỷ lệ một số các bệnh khác 44
4.4.4.1 Tỷ lệ viêm khớp 45
4.4.4.2 Tỷ lệ cắn đuôi 45
4.4.4.3 Tỷ lệ viêm da 45
4.5 ƯỚC TÍNH HIỆU QUẢ KINH TẾ 47
Trang 9Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 53
Trang 10FCR: Food conversion ratio
FMD: Foot and Mouth Disease
HSCHTA: Hệ số chuyển hóa thức ăn
LOTN1: Lô thí nghiệm 1
LOTN2: Lô thí nghiệm 2
n: Số heo trong một lô thí nghiệm
TTTĐ: Tăng trọng tuyệt đối
TTTA: Tiêu thụ thức ăn
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2 1: Qui trình tiêm phòng của trại 7
Bảng 2 2: Thành phần dinh dưỡng của cám viên đỏ và cám viên vàng 10
Bảng 2 3: Thành phần dinh dưỡng của cám C 10
Bảng 3 1: Bố trí thí nghiệm sử dụng chế phẩm kích thích biến dưỡng trên heo cai sữa .23
Bảng 4 1: Nhiệt độ trung bình ban ngày qua các tháng thí nghiệm 27
Bảng 4 2: Khả năng tăng trọng của heo thí nghiệm 29
Bảng 4 4: Lượng thức ăn tiêu thụ và hệ số chuyển hóa thức ăn ở các lô thí nghiệm 34
Bảng 4 5: Tỉ lệ loại thải qua 3 đợt thí nghiệm 38
Bảng 4 6: Tỉ lệ tiêu chảy qua 3 đợt thí nghiệm 39
Bảng 4 7: Tỉ lệ heo ho qua 3 đợt thí nghiệm 41
Bảng 4 8: Tỉ lệ một số các bệnh khác qua 3 đợt thí nghiệm 44
Bảng 4 9: Ước tính hiệu quả kinh tế 47
Trang 12DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ - BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2 1: Cơ cấu tổ chức trại chăn nuôi Hưng Việt 1
Biểu đồ 4 1: Trọng lượng bình quân lúc vào thí nghiệm 30
Biểu đồ 4 2: Tăng trọng bình quân qua 3 đợt thí nghiệm 31
Biểu đồ 4 3: Tăng trọng tuyệt đối qua 3 đợt thí nghiệm 32
Biểu đồ 4 4: Tiêu thụ thức ăn 35
Biểu đồ 4 5: Hệ số chuyển hóa thức ăn 36
Biểu đồ 4 6: Tỷ lệ heo tiêu chảy qua 3 đợt thí nghiệm 41
Biểu đồ 4 7: Tỷ lệ heo ho qua 3 đợt thí nghiệm 42
Biểu đồ 4 8: Tỷ lệ một số các bệnh khác 45
Trang 13Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, nhờ đẩy nhanh việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, ngành chăn nuôi heo trong cả nước đã có những bước phát triển mạnh mẽ Các cơ sở chăn nuôi đã cải tiến kĩ thuật, mở rộng chăn nuôi công nghiệp nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt đáp ứng được nhu cầu thực phẩm ngày càng cao của người tiêu dùng Các nhà chăn nuôi không ngừng tìm tòi các phương cách để có sản lượng và phẩm chất sản phẩm cao nhất trong thời gian ngắn nhất với mức chi phí thấp để đạt được hiệu quả kinh tế Tuy nhiên thực tế vẫn còn rất nhiều khó khăn đặc biệt là vấn đề bệnh tật như hô hấp, tiêu chảy…nhất là ở giai đoạn heo cai sữa
- giai đoạn heo phải chịu nhiều stress trong chăn nuôi như thay đổi thức ăn, thay đổi nhiệt độ môi trường, tách mẹ, chuyển đàn…Để khắc phục điều này một trong những phương pháp phổ biến được dùng là bổ sung kháng sinh vào thức ăn cho heo, bên cạnh những kết quả có được, nó còn mang đến không ít bất lợi như: tạo ra những dòng vi khuẩn kháng thuốc, rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột, ảnh hưởng đến tăng trọng heo
và sức khỏe người tiêu dùng
Với hi vọng loại bỏ được những hạn chế của phương pháp sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi mà vẫn đem lại hiệu quả kích thích tăng trọng, giảm tiêu tốn thức ăn, tăng sức đề kháng đối với mầm bệnh xâm nhập, được sự đồng ý của Khoa Chăn Nuôi – Thú Y, trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, với sự hướng dẫn của TS.Nguyễn Văn Khanh, BSTY Lê Nguyễn Phương Khanh và sự giúp
đỡ cộng tác của trại chăn nuôi Hưng Việt, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu chúng tôi đã tiến
hành thực hiện đề tài: “Hiệu quả của chế phẩm kích thích biến dưỡng chứa Butaphosphan lên một số chỉ tiêu tăng trưởng và sức khỏe đàn heo cai sữa tại trại chăn nuôi Hưng Việt, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.”
Trang 14- Theo dõi các chỉ tiêu tăng trưởng của đàn heo
- Ghi nhận các trường hợp bệnh trên đàn heo
- Bước đầu tính toán hiệu quả kinh tế trên kg tăng trọng
Trang 15Chương 2
TỔNG QUAN 2.1 GIỚI THIỆU VỀ TRẠI CHĂN NUÔI HƯNG VIỆT
2.1.1 Vị trí địa lí
Trại chăn nuôi Hưng Việt thuộc phường Long Tâm, thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu Trại nằm trên quốc lộ 56, cách trung tâm thị xã khoảng 3km Trại nằm trên khu đất khô cao, tương đối bằng phẳng, có tường rào bao bọc xung quanh, biệt lập với khu dân cư, hạn chế việc lây lan dịch bệnh, rất thuận tiện cho việc chăn nuôi
2.1.2 Sơ lược về trại
Trại chăn nuôi Hưng Việt là doanh nghiệp tư nhân được thành lập ngày 11 tháng 6 năm 1990 Trại có tổng diện tích khoảng 75.000 m2 chia làm 3 khu riêng biệt:
Khu dành cho Ban Giám Đốc, kỹ thuật viên và công nhân
Khu trồng trọt chiếm diện tích chủ yếu
Khu chăn nuôi:
Chăn nuôi bò
Chăn nuôi heo: Khu chuồng A và khu chuồng B trong đó:
Chuồng A1, B1: dành cho nái nuôi con Chuồng A2: nuôi heo cai sữa
Chuồng A5, B2, B5, B6 : nuôi heo thịt Chuồng A3, B3: nuôi heo nái khô, nái mang thai Chuồng A4: nuôi heo hậu bị và đực giống
● Nhiệm vụ của trại
Cung cấp heo thịt cho thị trường tiêu thụ trong tỉnh, Tp.Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận
Cung cấp con giống cho các hộ chăn nuôi
Cung cấp tinh dịch cho các hộ chăn nuôi trong tỉnh và vùng phụ cận
Trang 16Công nhân + bảo vệ + nhà bếp: 33 người
Trong đó tổ nuôi heo gồm 16 người:
Quản lí chung: 1 người
Nhóm I: nái nuôi con + heo con theo mẹ + heo con cai sữa : 5 người
Nhóm II: nái khô chửa + heo từ 70 ngày đến xuất chuồng + đực làm việc và đực hậu bị, cái hậu bị: 9 người
Bảo
vệ
Kế toán
Tổ cơ khí
Tổ chăn nuôi heo
Tổ chế biến thức ăn
Nhà bếp
Tổ 1: phụ trách nhóm nái nuôi
con, heo con theo mẹ và heo
con cai sữa
Tổ 2: phụ trách nhóm nọc, nái hậu bị, nái mang thai, heo thịt
Sơ đồ 2 1: Cơ cấu tổ chức trại chăn nuôi Hưng Việt
Trang 17Heo con theo mẹ: 298 con
Heo con cai sữa đến 63 ngày tuổi: 454 con
Heo thịt trên 63 ngày tuổi: 1000 con
Qua 19 năm hình thành và phát triển với công tác quản lí chặt chẽ, luôn ứng dụng các thành tựu kĩ thuật mới kết hợp với đội ngũ công nhân lành nghề trại đã và đang từng bước phát triển vững mạnh hơn
2.1.3 Điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng thú khảo sát
2.1.3.1Chuồng trại
● Chuồng nái đẻ và nái nuôi con
Chuồng được thiết kế dạng chuồng kín, có hệ thống thông gió đầu và cuối chuồng Ở đầu chuồng có hệ thống phun sương để làm mát heo khi thời tiết nóng Mỗi chuồng nái đẻ được phân thành hai dãy, mỗi dãy có 16 ô cho nái đẻ và nái nuôi con,
trong mỗi ô có 2 đèn úm
● Chuồng nuôi heo cai sữa
Là hệ thống chuồng kín, kiểu nóc đôi, mái lợp ngói, sàn sắt, dài 40m, rộng 12m, được chia thành 2 dãy có vách ngăn bằng tường cách biệt hoàn toàn giúp hạn chế việc lây lan dịch bệnh Cuối chuồng có lắp hệ thống quạt hút, ở đầu chuồng là hệ thống phun sương Bên trong mỗi dãy chuồng chia làm 11 ô, mỗi ô có kích thước là
4 × 2,5 (m²), chiều cao 0,8m, riêng những ô cuối chuồng dùng để nuôi heo cai sữa sớm
và heo còi Lối đi cặp vách ngoài có máng ăn, ở đầu mỗi ô chuồng được lắp máng ăn bán tự động có lỗ điều chỉnh thức ăn rơi xuống Mỗi ô có 2 núm uống tự động đặt ở cuối góc ô chuồng, 2 núm uống đặt cách nhau ở độ cao 0,2 m và 0,4m, luôn đảm bảo
có đầy đủ nước sạch cho heo con trong cả chuồng
● Chuồng nái mang thai và nái khô
Được thiết kế dạng chuồng hở, chia làm 3 dãy đều nhau với mỗi dãy là 30 ô cá thể, kích thước của mỗi ô là 2 × 0,8 (m²), có sân chơi Mỗi dãy được lắp hệ thống quạt
ở đầu chuồng, giữa chuồng và cuối chuồng, hệ thống phun sương được lắp đặt ở phía trên, ở giữa và cuối chuồng có ô cá thể riêng dành cho đực thí tình nhằm kích thích nái nhanh động dục trở lại, đồng thời giúp kĩ thuật viên gieo tinh phát hiện heo lên giống
kịp thời để phối đúng thời điểm
Trang 18● Chuồng heo đực giống
Là hệ thống chuồng hở, mái lợp ngói 2 nóc, được thiết kế với quạt lùa cùng hệ thống phun sương, hai bên có thêm mái che chắn để giảm bớt nắng và tránh gió lùa, chuồng được xây dựng với diện tích 4m²⁄con và có sân chơi Mỗi ô đều có máng ăn và
núm uống riêng biệt
● Chuồng heo thịt
Có sàn chuồng làm bằng đà xi măng, được thiết kế dạng chuồng kín, mái lợp ngói 2 nóc, có lắp đặt hệ thống quạt hút ở cuối chuồng, ở đầu chuồng được lắp đặt hệ thống phun sương Chuồng được chia làm 2 dãy, mỗi dãy có 11 ô, mỗi ô nuôi từ 10
đến 15 con và sau mỗi ô chuồng đều có hồ tắm
2.1.3.2 Thức ăn
Heo nái khô, nái mang thai, đực làm việc cho ăn cám hỗn hợp số 10
Heo nái nuôi con, nái hậu bị, đực hậu bị cho ăn cám hỗn hợp số 6
Heo con cai sữa sử dụng cám Cargill đỏ, Cargill vàng và hỗn hợp cám C
Thức ăn hỗn hợp do trại mua các loại nguyên liệu về tự trộn, đảm bảo đủ lượng chất dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển của heo trong từng giai đoạn Riêng thức ăn cho heo con theo mẹ và thức ăn heo con cai sữa giai đoạn đầu được mua từ công ty Cargill
2.1.3.3 Nước uống
Trại sử dụng nguồn nước ngầm được bơm từ các giếng khoan qua xử lí Chlorine
và được đưa lên bồn chứa lớn (20m3) đặt trên cao 10m so với mặt đất, nước được phân phối cho các dãy chuồng và đến từng núm uống tự động cho mỗi ô chuồng suốt ngày đêm
2.1.3.4 Vệ sinh và tiêm phòng
● Vệ sinh thú y
• Đối với chuồng trại
Bố trí hố sát trùng chân, nước sát trùng tay ở cổng ra vào và ở đầu mỗi chuồng, thuốc sát trùng được thay đổi mỗi ngày
Phun thuốc sát trùng xe vào trại mua bán heo bò, cung cấp nguyên liệu thức ăn Sau mỗi đợt bán, chuyển heo, chuồng trại được vệ sinh sạch bằng xà phòng và phun xịt kĩ bằng vòi nước cao áp Sau đó phun thuốc sát trùng Farm Fluid hoặc
Trang 19Benkocid 1 lần / ngày trong 2 ngày và để trống chuồng 1 tuần trước khi nhập heo mới Ngoài ra các dụng cụ trong chuồng cũng được rửa sạch, ngâm thuốc sát trùng và phơi khô
Quét dọn xung quanh, nạo vét cống rãnh, đường mương thoát nước, định kì sát trùng toàn trại 2 lần / tháng
• Đối với công nhân và khách tham quan
Công nhân được khám sức khỏe định kì và trang bị đồ bảo hộ lao động: quần
áo, ủng… Công nhân giữa các chuồng khác nhau không được qua lại
Khách tham quan phải sát trùng chân tay và mặc áo blouse khi vào trại
+ Nái sinh sản: 2 lần trong năm, sau khi đẻ 7 ngày và tiêm nhắc lại sau khi
đẻ 7 ngày lứa sau
+ Nọc: 2 lần trong năm vào tháng 3 và tháng 9
+ Heo cai sữa: 2 lần, lúc 28-30 ngày tuổi và 49-50 ngày tuổi
+ HBPD, nọc, nái: 2 lần trong năm
+ Heo cai sữa: 1 lần lúc 42-47 ngày tuổi
(Nguồn: Phòng kĩ thuật trại chăn nuôi Hưng Việt)
Trang 202.1.4 Qui trình chăm sóc nuôi dưỡng
Đàn heo ở mỗi chuồng được giao cho một công nhân theo dõi, chăm sóc để nắm được tình trạng của heo đồng thời có biện pháp xử lý khi phát hiện bệnh
2.1.4.1 Đối với nái đẻ và nái nuôi con
● Đối với nái
Nái được theo dõi thường xuyên nếu thấy nái có biểu hiện sắp sinh thì chuẩn
bị các dụng cụ như đèn úm, khăn lau, cồn iod và một số dụng cụ cần thiết khác Thường xuyên theo dõi nái lúc sinh đẻ để kịp thời can thiệp cho những ca đẻ khó Sau khi nái sinh xong tiêm 4 ml Oxytocin (chứa 40 UI) để tống hết nhau ra ngoài, đếm số nhau, kiểm tra kĩ xem còn nhau hay không để tránh tình trạng sót nhau và con, tiêm kháng sinh Duphaben Strep B,P liều 1 ml/ 10 kg thể trọng để ngăn ngừa sự nhiễm trùng tử cung Nái được rửa tử cung một ngày 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều bằng thuốc tím pha với nước ấm theo tỉ lệ 1/1000 trong vòng 3 ngày, theo dõi dịch hậu sản
để kịp thời điều trị nếu nái có biểu hiện viêm nhiễm Bên cạnh đó, lượng thức ăn của nái cũng được theo dõi kỹ, đo thân nhiệt của những nái không ăn hoặc ăn ít Nái sốt,
bỏ ăn hoặc ăn ít điều trị như sau:
Analgin + Vitamin C + Vimexysone Hoặc: Analgin + Vitamin C + TyloD.C Forte (Sài Gòn Vet)
Nái sinh khó, sốt cao, yếu sức trong và sau khi đẻ được tiêm truyền Glucose 5% có bổ sung Analgin, vitamin C, Oxytetra hoặc Calcium B12, tiêm bắp Vimexysone
Thống kê vào sổ theo dõi số heo sơ sinh còn sống, chết, heo còi…
Nái sau khi sinh vẫn cho ăn cám số 10 của trại tự trộn với mức 1kg/ngày, sau
đó tăng dần đến ngày thứ 5 thì có thể cho ăn tự do Nái nuôi con không tắm, chỉ xịt rửa chuồng, máng ăn và làm mát khi heo con đã lớn nhưng hạn chế không làm ướt heo con
● Đối với heo con
Heo con mới sinh được lau chùi sạch sẽ, cắt rốn, sát trùng rốn bằng dung dịch cồn iod, bấm răng, nhúng bột Mistral, sau đó cho bú sữa đầu và cân trọng lượng sơ sinh toàn ổ
Trang 21Tùy số lượng con nhiều hay ít mà tiến hành ghép bầy, loại những con bị dị tật,
quá yếu hoặc quá nhỏ
Heo được 3 ngày tuổi: Tiêm Fe – dextran 100 mg với liều 2 ml/ con
Heo được 4 ngày tuổi: Uống Baycox 5% ngừa cầu trùng gây tiêu chảy
Heo được 7 ngày tuổi: Chích ADE lần một, liều từ 1 – 2 ml/ con
Heo được 7 – 10 ngày tuổi: Tập ăn cho heo con và thiến heo đực không được
chọn làm giống
Trước khi cai sữa 1 ngày chích ADE lần 2 liều 1 ml/ con
Heo con được giữ ấm bằng vải sạch và đèn úm, bấm tai và cắt đuôi sau khi đẻ
từ 1 đến 2 ngày
Tiến hành cai sữa heo con giai đoạn 21 – 28 ngày tuổi tùy theo đợt tách và tình
trạng sức khỏe của heo con
Trong thời gian này không tắm cho heo con Quan sát heo ngày 2 – 3 lần để
phát hiện heo tiêu chảy và các bất thường khác Heo con tiêu chảy chích Ampi – colistin với liều 1 – 1,5 ml/ con, ngày 2 lần kết hợp với uống Tycofer, liều 3- 4
ml/ con
2.1.4.2 Đối với heo con cai sữa
Heo con cai sữa được nuôi ở chuồng có sàn sắt Trong tuần đầu mới nhập heo
được bật đèn úm mỗi đêm để đề phòng heo lạnh Heo trong 2 tuần đầu không tắm mà
chỉ vệ sinh phần nền sàn, sau 2 tuần heo mới được tắm vào lúc trời nắng ấm
Trong giai đoạn này sử dụng cám Cargill đỏ, Cargill vàng và cám C
3 ngày đầu: pha trộn với tỉ lệ 2 kg đỏ : 1 kg vàng
2 ngày tiếp: pha trộn theo tỉ lệ 1 kg đỏ : 1 kg vàng
2 ngày tiếp: pha trộn theo tỉ lệ 1 kg đỏ : 2 kg vàng
2 ngày tiếp chỉ sử dụng cám vàng
Sau 2 ngày ăn cám vàng thì chuyển sang ăn cám vàng pha trộn với cám C tỉ lệ
tương tự như ăn cám Cargill đỏ và vàng Đến ngày thứ 17 thì chuyển sang ăn cám C
hoàn toàn đến 63 ngày tuổi
Trang 22♦ Hàm lượng dinh dưỡng trong từng loại thức ăn của heo con cai sữa thí nghiệm: (nguồn: phòng kĩ thuật trại chăn nuôi Hưng Việt)
Bảng 2 2: Thành phần dinh dưỡng của cám viên đỏ và cám viên vàng
Thành phần dinh dưỡng Cám viên đỏ Cám viên vàng
Năng lượng trao đổi (kcal)
Bảng 2 3: Thành phần dinh dưỡng của cám C
2.1.4.3 Đối với heo đực giống
Heo đực giống được lấy tinh theo chu kỳ 2 lần/tuần, heo luôn được tắm rửa sạch
sẽ và làm mát lúc trời nắng nóng Mỗi ngày heo được cho ăn 2 lần lúc 7 giờ sáng và 5 giờ chiều
2.1.4.4 Đối với nái khô và nái mang thai
Thường tắm một lần vào buổi sáng hoặc buổi chiều, nếu trời nắng nóng thì cho vận hành hệ thống phun sương hoặc có thể xịt tắm lại một lần nữa để làm mát heo Heo được cho ăn ngày 2 lần, lượng thức ăn tùy thuộc vào trọng lượng và giai đoạn mang thai của từng con (từ 2-3,5 kg) Trước khi đẻ 1 tuần nái được tắm rửa sạch sẽ để chuyển lên chuồng nái đẻ, lượng thức ăn tùy thuộc vào tình trạng mập ốm của từng con
Trang 232.1.5 Bệnh và điều trị
Heo được theo dõi hằng ngày để kịp thời phát hiện bệnh và có biện pháp kịp thời Việc điều trị do bộ phận thú y của trại trực tiếp thực hiện Một số loại thuốc được trại
sử dụng để điều trị bệnh cho heo:
Các loại thuốc có chứa kháng sinh như: Ampi – colistin, Vimexyson, Duphapen Strep B.P, Tylo - DC, Tycofer, Marphamox - LA …
Thuốc bổ để phòng bệnh và tăng năng suất cho heo: Glucose, B – complex, Vitamin C và ADE
Thuốc sát trùng vết thương: xanh methylen 0,5%
2.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN
2.2.1 Đặc điểm sinh lí heo cai sữa
Trong vòng 20 ngày đầu sau khi heo con cai sữa, từ chỗ heo con đang phụ thuộc vào heo mẹ và thức ăn bổ sung, khi cai sữa heo con phải sống động lập và tự lấy dinh dưỡng để nuôi cơ thể
Heo con có tốc độ sinh trưởng nhanh, đặc biệt là các tổ chức như xương, cơ bắp
và bộ máy tiêu hóa, cũng như cơ năng hoạt động của nó
Sức đề kháng của heo con kém, nhạy cảm với các yếu tố của môi trường xung quanh làm cho heo con dễ nhiễm bệnh tật, đặc biệt là các bệnh về đường tiêu hóa Heo con sống độc lập nên thường xảy ra hiện tượng nhớ mẹ, nhớ đàn, và có thể cắn xé lẫn nhau để tranh dành thứ bậc trong đàn
Theo Đặng Minh Phước (2008), bộ máy tiêu hóa của heo con trong những ngày còn theo mẹ chưa phát triển hoàn toàn, lúc này heo chỉ nhận được nguồn dinh dưỡng duy nhất là sữa mẹ, một loại thức ăn giàu dinh dưỡng và rất dễ tiêu hóa Khi chuyển qua giai đoạn cai sữa nguồn thức ăn heo con thay đổi đáng kể về chất lượng và thành phần dinh dưỡng Để thích nghi được với những thay đổi đó bộ máy tiêu hóa của heo con phải trải qua quá trình phát triển nhanh về kích thước, dung tích và hoạt động sinh
lý để có thể tiêu hóa và sử dụng chất dinh dưỡng Trong khi đó kích thước và dung tích bộ máy tiêu hóa của heo con chỉ phát triển mạnh ở giai đoạn từ 20 – 70 ngày tuổi, giai đoạn từ sơ sinh đến 20 ngày tuổi kém phát triển (Kvasnitski, 1951), do đó khả năng hoạt động của bộ máy tiêu hóa heo con trong giai đoạn này còn kém nên khi heo
Trang 24con chuyển qua thức ăn hỗn hợp sẽ rất dễ mắc các bệnh đường ruột nhất là hội chứng tiêu chảy
Lượng thức ăn ăn vào giai đoạn cai sữa thường thấp và rất biến đổi Heo thường
ăn không đủ thức ăn để đáp ứng đủ cho nhu cầu năng lượng duy trì Bark và ctv (1986), Le Dividich và Herpin (1994) cho rằng nhu cầu năng lượng trao đổi (ME) cho duy trì không đủ cho đến ngày thứ 5 sau cai sữa, cùng với năng lượng trao đổi ăn vào trước cai sữa không đủ nhu cầu cho đến cuối tuần thứ 2 sau cai sữa
Sự thay đổi khẩu phần từ sữa mẹ sang thức ăn thô với độ tiêu hóa thấp hơn sữa
mẹ làm cho heo con không thể ăn nhiều trong 7-10 ngày sau khi cai sữa, giai đoạn này heo dễ bị stress do thay đổi thức ăn Trong 2 tuần sau khi cai sữa sức tăng trưởng của heo có giảm, giai đoạn này chủ yếu do sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh đường tiêu hóa ( Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 1997)
Theo Nguyễn Hiếu Liêm (1995), bên cạnh yếu tố dinh dưỡng heo còn bị ảnh hưởng rất lớn bởi chế độ chăm sóc, tiểu khí hậu chuồng nuôi
Do thay đổi chuồng nuôi, vận chuyển ghép đàn… đã làm cho heo bị hàng loạt các stress Heo con cai sữa chịu lạnh rất kém vì hàm lượng mỡ trong cơ thể ít do đó chuồng nuôi heo cai sữa phải có nhiệt độ thích hơp
Khắc phục tình trạng này bằng cách cung cấp nguồn thức ăn thơm ngon và đầy
đủ chất dinh dưỡng giống như sữa mẹ,… điều tiết bầu tiểu khí hậu thích hợp cho từng giai đoạn phát triển của heo, qui trình chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại hợp lí nhằm không ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh trưởng và phát triển của heo trong giai đoạn này ( trích dẫn bởi Trương Quốc Cường, 2007)
Một thực tế thường thấy là việc nhốt chung những con heo con sau cai sữa thuộc những ổ khác nhau sẽ gây nên những stress về sinh lí cho heo ( de Groot et al., 2003)
Theo Van der Staay và ctv (2007), heo mắc phải rất nhiều stress trong hầu hết
hệ thống chăn nuôi thông thường (Ekkel et al., 1995; Ruis et al., 2001) như những stress do việc nhốt chung những con heo thuộc khác loài với nhau ví dụ như heo thuộc những ổ khác nhau, trong thời kì vỗ béo (de Groot et al., 2001) và trong quá trình vận chuyển (McGlone et al., 1993; Tuchscherer et al., 1998; Ruis et al., 2001) Những stress này sẽ không đảm bảo được phúc lợi động vật và làm suy giảm tình trạng sức
Trang 25khỏe của thú, đẩy nhanh sự xuất hiện nhiều loại bệnh như tiêu chảy sau cai sữa, rối loạn biến dưỡng, hội chứng viêm vú - viêm tử cung - mất sữa (MMA) và làm vết thương lâu lành hơn
2.2.2 Các nguyên nhân gây bệnh thường gặp
2.2.2.1 Các nguyên nhân gây tiêu chảy trên heo con cai sữa
Giai đoạn cai sữa hệ thống enzyme tiêu hóa có sự thay đổi, một vài enzyme tiêu hóa (lactase, glucosidase, protease) bị suy giảm nhưng maltase lại tăng Do đó khả năng hấp thu chất dinh dưỡng cũng giảm.(Trần Thị Dân, 2003) Ngoài ra tác giả còn cho biết trong giai đoạn này hệ thống men tiêu hóa chưa phân tiết đầy đủ nên thức ăn không được hấp thu và tiêu hóa một cách trọn vẹn Lượng thức ăn không được tiêu
hóa đó sẽ là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn đường ruột phát triển như: E.coli,
Salmonella … làm phá vỡ trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột, gây rối
loạn tiêu hóa và dẫn đến tiêu chảy
Theo Nabuurs và ctv (1993), heo thường bị tiêu chảy trong vòng 3-10 ngày sau
cai sữa Điều này liên quan đến sự sinh sôi và phát triển của vi khuẩn E coli gây dung
huyết ( β-haemolytic) làm ảnh hưởng đến phần đầu ruột non của heo Mặc dù những
serotype đặc trưng của E coli đóng vai trò trung tâm trong căn nguyên gây nên chứng tiêu chảy trên heo con sau cai sữa nhưng cũng cần quan tâm đến rotavirus, (trích dẫn
bởi Đặng Minh Phước, 2008)
Do kí sinh trùng: theo Stewart và ctv (1996), các loại giun như: giun tròn
(Ascaris suum), giun chỉ (Strongyloides ransomi), giun kết hạt (Oesophagostomum
spp), giun roi (Trichuris suis) ngoài việc trực tiếp chiếm thức ăn nên làm giảm tăng
trọng và tăng tiêu tốn thức ăn ở heo, chúng còn là tác nhân gây ra nhiều bệnh khác như viêm ruột dẫn tới tiêu chảy, mất nước
Ngoài ra theo Straw và ctv (1996), còn có một số yếu tố khác góp phần gây nên hội chứng tiêu chảy trên heo cai sữa như:
Thay đổi nhiệt độ: nhiệt độ lạnh hay biến động nhiệt độ lớn trong ngày đều có thể là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây nên hội chứng tiêu chảy của heo, khi nhiệt độ môi trường thấp sẽ làm giảm nhiệt độ cơ thể và làm giảm khả năng thực bào các tác nhân lây nhiễm bệnh
Trang 26Stress: các stress như cai sữa, nhốt lẫn với heo lạ có khả năng ngăn chặn chức năng của hệ thống miễn dịch Một số stress khác nhau làm tăng mức cortisol và các hormone khác trong hệ tuần hoàn của heo, cortisol làm giảm sức đề kháng đối với các tác nhân lạ, chăm sóc heo một các thô bạo cũng làm tăng mức cortisol trong máu Cai sữa làm giảm đột ngột kháng thể thụ động cùng với các stress khác sẽ làm tăng sự mẫn cảm của heo với các bệnh đường ruột
Vệ sinh chuồng trại không hợp lí cũng là nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy ở heo con sau cai sữa
2.2.2.2 Các nguyên nhân gây viêm phổi trên heo cai sữa
● Dinh dưỡng: Dinh dưỡng đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động của
cơ thể và sự chống lại các tác nhân gây bệnh từ môi trường Khẩu phần dinh dưỡng kém là nguyên nhân chung cho rất nhiều bệnh trong đó có bệnh đường hô hấp Theo Nguyễn Như Pho (2000), khi thiếu vitamin A tổ chức biểu mô đường hô hấp phát triển không bình thường, giảm sức bền từ đó thú dễ mắc bệnh Sự mất cân đối Ca/P trong khẩu phần làm hệ xương lồng ngực biến dạng cũng ảnh hưởng đến chức năng hô hấp Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (1997), dạng thức ăn cũng làm ảnh hưởng đến đường hô hấp, xay nhuyễn thường làm tăng độ bụi của thức ăn hỗn hợp nên heo
dễ bị hắt hơi, viêm phổi
● Vi sinh vật: sự hiện diện của mầm bệnh đường hô hấp trong môi trường rất
nhiều Khi gặp điều kiện thuận lợi (bất lợi của môi trường, sức đề kháng của cơ thể giảm), chúng sẽ xâm nhập, bộc phát, gây nên các bệnh lý hô hấp rất phổ biến như:
Mycoplasma, Salmonella cholerae suis, Pasteurella multocida, Coronavirus, Orthormyxoviridae, …
● Ký sinh trùng: giun phổi (Metastrongylus), di hành của ấu trùng giun đũa
(Ascaris suum) qua bộ máy hô hấp và các cơ quan khác làm tổn thương các cơ quan
mà chúng đi qua
2.2.2.3 Các nguyên nhân gây viêm khớp trên heo cai sữa
Do chuồng trại kém vệ sinh, mật độ heo, những chấn thương ở chân do cơ học như nền chuồng (nền chuồng trơn trợt hoặc quá nhám, nền chuồng sạt lở) hoặc trong khẩu phần thiếu dinh dưỡng như canxi, phospho Ngoài ra, sau khi sinh heo con dễ bị tổn thương do bấm răng, cắt đuôi, kim chích sắt tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập
Trang 27vào cơ thể gây bệnh Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu vẫn là vi khuẩn như:
Actinobacillus suis, Haemophilus parasuis (Glasser's disease) thỉnh thoảng có Mycoplasma, Staphylococci, Corynebacterium, nhưng phổ biến nhất vẫn là vi khuẩn Streptococcus suis
2.2.3 Vai trò của phospho trong cơ thể gia súc
Khác với Ca ở chỗ P phân bố ở phần mềm cơ thể khá nhiều, 16-20% Vì vậy Phospho có những vai trò chủ yếu sau đây:
Chức năng cấu tạo: phospho tham gia cấu trúc bộ xương, ngoài ra nó còn tham
gia cấu tạo các hợp chất hữu cơ quan trọng như phospholipid, phosphoprotein, acid nucleic
Chức năng enzyme: phospho còn tham gia cấu tạo trong các enzyme của các
hợp chất cất giữ năng lượng như ATP Các chất đóng vai trò cân bằng kiềm, acid trong
cơ thể (H2PO4- ; HPO4- - ) Phospho làm tăng quá trình sản xuất ATP Sự kết gắn của những bó cơ đòi hỏi một năng lượng cao, và năng lượng này được cung cấp bởi ATP Trong khi đó ATP được sản xuất nhờ vào sự kết hợp của Creatin và Phosphate (Creatine + Phosphate = ATP) Chính vì vậy mà chức năng của phospho cũng là làm tăng quá trình sản xuất ATP cung cấp năng lượng cho cơ thể
● Triệu chứng thiếu phospho
Các triệu chứng thiếu phospho ở trong xương chiếm 4/5 số trường hợp thiếu phospho trong cơ thể Nhu cầu phospho cao nhất trong giai đoạn thú sinh trưởng nhanh cùng với sự phát triển của bộ xương Khi không cung cấp phospho đầy đủ, triệu chứng thấy trước tiên là giảm tính ngon miệng, tuần hoàn năng lượng giảm, từ đó làm cho sự sinh trưởng phát triển của thú chậm lại, nhưng trên động vật có vú ít thấy sự rối loạn hình thành bộ xương Có lẽ vì động vật có vú có tốc độ sinh trưởng chậm hơn ở gia cầm
● Tác hại của sự cung cấp dư thừa
Nếu cung cấp quá dư thừa thì P sẽ phản ứng với Mg++, Ca++ tạo nên dạng muối phosphat không tan kết tủa đóng hạt trong thận, trong bọng đái gây tác hại xấu cho thú, làm tắt nghẽn ống dẫn niệu, bể thận có thể dẫn đến tình trạng tử vong, trong đó nặng nhất là ở thú đực so ống dẫn tiểu đi theo đường dương vật có dạng cong chữ S làm cho muối khoáng đọng lại gây bí đái (Dương Thanh Liêm và ctv, 2002)
Trang 282.2.4 Vai trò của ATP trong cơ thể gia súc
Phân tử này có 3 phần: một cấu trúc vòng có các nguyên tử C, H và N được gọi
là adenin, một phân tử đường 5 cacbon là ribose và 3 nhóm phosphate kế tiếp nhau nối vào chất đường
Phân tử ATP phân giải, nhả năng lượng như nhau: với sự có mặt của nước, khi gãy liên kết giữa oxy với nguyên tử phospho (P) cuối cùng thì tách ra một phân tử phosphate vô cơ (Pi), còn lại là Adenosin Diphosphate và có 7kcal/mol được giải phóng
ATP là phân tử mang năng lượng có chức năng vận chuyển năng lượng đến nơi cần thiết cho tế bào sử dụng Chỉ có thông qua ATP, tế bào mới sử dụng được thế năng hóa học cất giấu trong cấu trúc phân tử hữu cơ Cụ thể khi một phân tử glucose phân giải thành CO2 và nước thì có 686 kcal/mol được giải phóng
(nguồn: http://viwipedia.org/wiki/Adenosine-triphosphate)
2.2.5 Sự tiêu hóa một số các dưỡng chất
● Tiêu hóa Glucid
Tinh bột được cấu tạo bởi 2 thành phần: amylose và amylopectin Trong cơ thể, tinh bột được enzyme amylase phân giải thành các disaccharide, sau đó chúng được thủy phân thành các phân tử monosaccharide với sự xúc tác của hệ thống enzyme tương ứng có trong lớp tế bào biểu mô của màng ruột non Các đường đơn thường gặp trong tiêu hóa thường là glucose, fructose và galactose, còn trong máu cũng như trong
tế bào chất là D – glucose Đôi khi galactose và fructose được hấp thu từ ruột non vào máu trước khi được biến đổi thành glucose Sự biến đổi sẽ xảy ra trong các tế bào lớp màng nhầy ruột non và trong gan
Heo con sơ sinh tiêu hóa tinh bột rất khó khăn vì α-amylase tuyến tụy có hoạt tính không đáng kể, sau đó tăng theo tuổi nhưng mức độ tăng nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào thành phần thức ăn
Hoạt tính maltase thấp ở heo sơ sinh và tăng nhanh đến 8 tuần tuổi, còn saccharase không tìm thấy lúc sơ sinh (hoặc chỉ rất ít), mức thấp ở một tuần tuổi và đạt mức đáng kể ở 2 tuần tuổi, hoạt tính tăng theo tuổi của heo
Trang 29Lactase có hoạt tính cao lúc sơ sinh và tăng nhanh chóng đạt đến đỉnh khi heo con đạt 1-2 tuần tuổi, rồi giảm nhanh và còn rất thấp ở 7-8 tuần tuổi Đối với heo con không tập ăn sớm thì hoạt tính của lactase giảm chậm hơn so với heo con tập ăn sớm
● Tiêu hóa lipid
Lipid là một hợp chất hữu cơ có nhiệm vụ sinh lí và sinh hóa quan trọng trong
cơ thể động vật Nó là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng cho duy trì và sản xuất (khi oxy hóa 1g lipid sẽ giải phóng được 9,3 kcal), nó còn tham gia vào cấu trúc lipoprotein của màng tế bào và cấu trúc của một số hormone, là dung môi hòa tan một
số chất như vitamin A, D, E, K, làm mô đệm, giữ nhiệt, tạo các lớp lipid trên da hoặc màng bào thai chống mất nước (Nguyễn Phước Nhuận và ctv, 2003)
Sự hấp thu lipid từ đường tiêu hóa tùy thuộc vào sự tạo thành các hạt micell có chứa muối mật và phospholipid Sự hấp thu những acid béo có chuỗi cacbon dài theo
hệ thống bạch huyết, trong khi những acid béo có chuỗi cacbon ngắn có thể hấp thu theo tĩnh mạch cửa Trong cơ thể lipid được tích trữ dưới dạng mỡ nằm dưới da
Lipase là enzyme tiêu hóa lipid chủ yếu ở ruột non Lipase khi mới được phân tiết còn ở trạng thái chưa hoạt động, nó được hoạt hóa khi tiếp xúc với muối mật Dưới tác dụng của lipase, lipid sẽ được thủy phân thành glycerol và acid béo tự do hoặc các monoglycerol và diacylglycerol
Sự tiêu hóa lipid xảy ra mạnh mẽ ở ruột non Dưới tác động của acid mật và enzyme lipase lipid được phân tán thành các hạt nhỏ li ti kích thước 0,5-20 micromet (Nguyễn Phước Nhuận và ctv, 2003)
Trong thời gian theo mẹ, heo con tiêu hóa từ 300-1000g sữa/ngày, sữa heo nái
có phẩm chất cao, đặc biệt là hàm lượng lipid cao (7%), heo con trong giai đoạn này
có khả năng tích lũy lipid nhanh hơn protein và đến 21-28 ngày tuổi hàm lượng lipid trong cơ thể heo có thể đạt 15-20%
Hoạt tính lipase cao lúc sơ sinh và tăng theo tuổi, đến 5 tuần tuổi giảm chút ít rồi ổn định
● Tiêu hóa protein
Protein giữ vai trò quan trọng trong việc tổng hợp protein ở các mô trong cơ thể,
nó tham gia vào cấu trúc của enzyme, kích thích tố Ngoài ra protein còn có khả năng cung cấp 10-15% nhu cầu năng lượng của cơ thể khi cần thiết
Trang 30Protein được cấu tạo bởi các acid amine được nối với nhau bằng các nối peptide Khi protein thức ăn vào bên trong cơ thể, dưới tác động của nhóm enzyme protease, protein của thức ăn sẽ được thủy phân dần thành các polypeptide, oligopeptide và cuối cùng thành các acid amine được hấp thu vào bên trong cơ thể để làm nguyên liệu tổng hợp các protein cho cơ thể Sự tiêu hóa protein chủ yếu diễn ra ở ruột non của hệ thống tiêu hóa
Protease là enzyme có khả năng phân cắt nối liên kết – CO – NH – trong phân
tử protein và chuỗi polypeptide Chúng xúc tác các phản ứng thủy phân protein thành các polypeptide, các oligopeptide và cuối cùng thành các acid amine
Pepsin là enzyme có trong dịch vị của dạ dày Pepsin được phân lập từ tiền chất pepsinogen dưới xúc tác của HCl và pepsin (phản ứng tự xúc tác) Pepsin hoạt động tốt nhất ở môi trường pH từ 1,5 – 2,5 Khi pH từ 5 – 6 thì pepsin hầu như không còn tác động lên protein Sản phẩm của sự thủy phân protein do pepsin là polypeptide, protease và pepton
Trypsin có trong dịch tụy và dịch ruột Khi mới được phân tiết, trypsin ở trạng thái chưa hoạt động là trypsinogen Nó được biến đổi theo sơ đồ sau:
Enterokinase Trypsinogen Trypsin + Hexapeptide
Trypsin Dưới tác động của trypsin, các polypeptide lớn sẽ bị thủy phân đến dạng peptide
có phân tử trọng thấp hơn và một phần thành các acid amine Ngoài các enzyme kể trên, sự thủy phân protein còn có các enzyme như chymotrypsin, nhóm enzyme protaminase (thủy phân protamin) cũng tham gia vào quá trình phân giải protein của thức ăn, cung cấp acid amine cho cơ thể động vật
Hoạt tính pepsin thấp ở 2 tuần đầu sau khi sinh và sau đó tăng cao khi pH dạ dày thích hợp Trong dịch vị heo con còn có chymosin với hoạt tính cao vào tháng đầu, trypsin có hoạt tính cao từ 36 - 48h sau khi sinh, chúng đều là những enzyme tiêu hóa protein khi vai trò pepsin còn rất thấp, (theo bài giảng chăn nuôi heo, Nguyễn Thị Bạch Trà, 1998)
Trang 31● Tiêu hóa chất xơ
Chất xơ có ở vách tế bào thực vật, được cấu tạo từ các polysaccharide Nó không được tiêu hóa bởi các enzyme nội sinh của heo ngay cả khi heo trưởng thành Khi vào trong cơ thể chất xơ có vai trò làm cho thú có cảm giác no, kích thích nhu động ruột chống táo bón, các chất dinh dưỡng không bị vón cục và dính vào thành ruột làm khó tiêu và có thể dẫn đến viêm loét thành ruột
2.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA BUTAPHOSPHAN
2.3.1 Tính chất
Công thức cấu tạo của Butaphosphan:
IUPAC name: 2-(butylamino)propan-2-yl-hydroxy-oxophosphanium
Butaphosphan có dạng bột trắng hoặc hơi vàng
Công thức phân tử: C7H17NO2PP
+
Trọng lượng phân tử: 178,189141 [g/mol]
Một số kết luận và đề nghị của hội đồng kiểm nghiệm sản phẩm thuốc thú y (Committee for veterinary medical products, 2000) được ghi trong Annex II of Council Regulation (EEC) số 2377/90 và được cụ thể như sau:
ADI (Average daily intake): 0,6 mg/1kgTL tương đương 36mg/người
Butaphosphan được loại thải nhanh chóng sau khi tiêm vào đường tĩnh mạch ở
bò đang tiết sữa (lactating cattle)
6 giờ sau khi điều trị lượng Butaphosphan tồn dư trong sữa là không đáng kể (≤ 1,5% của ADI) và không gây hại đến người tiêu thụ
Không có độc tính gene (genotoxic)
Không ảnh hưởng lên khả năng sinh sản
Không gây ung thư
Trang 32Không có dữ liệu nào rõ ràng về dược động học của Butaphosphan được chứng minh, và phương thức hoạt động chính xác của chúng vẫn còn là một câu hỏi mặc dù hiệu quả của Butaphosphan đơn giản chỉ là do phospho
Những thuốc thú y có chứa Butaphosphan thường đi kèm với muối Ca, muối Magie hoặc vitamin B12
Đề nghị: đối với bò chỉ sử dụng cho đường tiêm truyền tĩnh mạch, không dùng cho bò sản xuất sữa cung cấp cho người
(nguồn: www.emea.europa.eu/pdfs/vet/mrls/063099en.pdf)
2.3.2 Tác dụng
Butaphosphan là một acid tự do với một chuỗi gồm 4 nguyên tử cacbon mạch thẳng n-butanol, với chức năng là giúp cố định vitamin B12 (một loại vitamin rất cần thiết cho cơ thể và rất thường được đi kèm trong công thức thuốc có chứa Butaphosphan) (nguồn: http://www.faqs.org/patents/app/20080261914)
Hoạt chất chính là phosphonic acid, được coi là nguồn bổ sung chất khoáng phospho cho cơ thể, có tác dụng kích thích biến dưỡng và được coi như là thuốc bổ giúp giảm stress do nhiều nguyên nhân trên gia súc như ngựa, heo, cừu, dê Chỉ sử dụng ở bò trong thời kì không tiết sữa Chỉ định chủ yếu cuả Butaphosphan là những rối loạn biến dưỡng đặc biệt là ở gia súc còn nhỏ Nó còn được sử dụng để hỗ trợ trong điều trị các bệnh như vô sinh (infertilily), uốn ván và bại liệt với vai trò như một chất
hỗ trợ cho Canxi và Magie (Theo The European Agency for the Evalution of Medical Products, 2000)
2.3.3 Chỉ định
Sử dụng cho thú khi:
- Rối loạn trao đổi chất gây ra do thức ăn và chăm sóc kém
- Rối loạn dinh dưỡng và tăng trưởng ở thú non do bệnh tật
- Điều trị bệnh thời kì sinh sản, bệnh vô sinh
- Chống co giật và liệt, dùng chung với điều trị bằng canxi và magie
- Là loại thuốc hỗ trợ cho gia súc khi làm việc quá mức, mệt mỏi, phục hồi năng suất và sức khỏe cho gia súc
Trang 332.3.4 Liều lượng
Đối với gia súc Butaphosphan được tiêm với liều 1000-2500mg/con qua đường tĩnh mạch, tiêm bắp hoặc tiêm dưới da, việc điều trị có thể lặp lại hằng ngày nếu được chỉ định
Trang 34Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
3.1 Thời gian và địa điểm
Thời gian thực hiện đề tài: từ 04/03/2009 đến 21/6/2009
Địa điểm thực hiện: trại chăn nuôi Hưng Việt, đường Hùng Vương, Khu phố 1, phường Long Tâm, thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
3.2 Đối tượng khảo sát
276 con heo nuôi từ lúc cai sữa đến 63 ngày tuổi
3.4 Nội dung nghiên cứu
3.4.1 Nội dung 1: Đánh giá hiệu quả của chế phẩm chứa dược chất kích thích biến dưỡng Butaphosphan
3.4.1.1 Bố trí thí nghiệm
Chia số heo vừa tách mẹ ra làm 3 lô để tiến hành thí nghiệm, hai lô sử dụng thuốc thí nghiệm, một lô không sử dụng thuốc (lô đối chứng) theo bảng 1 Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố Theo dõi đến 63 ngày tuổi Lặp lại thí nghiệm 3 lần
Trang 35Bảng 3 1: Bố trí thí nghiệm sử dụng chế phẩm kích thích biến dưỡng trên heo cai sữa
Tiêm mỗi lần 2ml/con Lần 1: lúc nhập heo Lần 2: sau đó 1 tuần
Đường cấp
3.4.1.2 Chỉ tiêu theo dõi
■ Nhiệt độ chuồng nuôi
■ Chỉ tiêu tăng trưởng
- Trọng lượng bình quân đầu thí nghiệm và cuối thí nghiệm
- Tăng trọng bình quân
- Tăng trọng tuyệt đối
- Lượng thức ăn tiêu thụ hằng ngày
- Hệ số chuyển hóa thức ăn
Trang 36- Tỉ lệ heo cắn đuôi
3.4.1.3 Phương pháp theo dõi
■ Nhiệt độ chuồng nuôi
Nhiệt độ chuồng nuôi được đo bằng nhiệt kế
Nhiệt kế được đặt ở giữa chuồng cách nền chuồng 1,5m
Ghi nhận nhiệt độ ở 3 thời điểm trong ngày: 7h, 12h, 5h
■ Chỉ tiêu tăng trưởng
Cân trọng lượng heo lúc cai sữa (lúc bắt đầu thí nghiệm) bằng cân đồng hồ có lồng sắt, sau đó cân trọng lượng heo lúc 63 ngày tuổi (lúc chuyển qua chuồng nuôi heo thịt) bằng cân bàn có lồng sắt Hai loại cân này được sử dụng duy nhất trong suốt quá trình thí nghiệm
Cám được phân phối cho từng lô thí nghiệm liên tục theo hệ thống máng bán tự động Sau mỗi giai đoạn cám được tổng kết theo từng lô, cuối cùng tổng lượng cám của các lô trong suốt quá trình thí nghiệm được cộng lại để tính chỉ số chuyển hóa thức
ăn
■ Chỉ tiêu bệnh
Hằng ngày theo dõi đàn heo thí nghiệm vào buổi sáng từ 7h đến 11h30 và chiều
từ 2h đến 5h30, ghi nhận các biểu hiện bệnh như: tiêu chảy, ho, sốt, viêm khớp, viêm
da, cắn đuôi… Đồng thời ghi nhận số heo loại thải ở mỗi lô qua 3 đợt thí nghiệm
3.4.2 Nội dung 2: So sánh hiệu quả kinh tế giữa các lô thí nghiệm
Hiệu quả kinh tế giữa các lô thí nghiệm được tính toán dựa trên chi phí cho 1kg tăng trọng ở mỗi lô Trong phạm vi đề tài, mục đích là để so sánh hiệu quả kinh tế giữa giữa 2 lô thí nghiệm và lô đối chứng vì thế chúng tôi chỉ tính toán dựa trên chi phí thức
ăn, chi phí chế phẩm chứa Butaphosphan được bổ sung và chi phí thuốc thú y, còn chi phí về các khấu hao trong chăn nuôi như: chuồng trại, nhân công, điện, nước,… được chia đều trên đầu heo nên không tính vào đây Vì thế, hiệu quả kinh tế chỉ có ý nghĩa
so sánh giữa 3 lô
3.5 Công thức tính các chỉ tiêu
Hằng ngày đến từng ô chuồng khảo sát đếm số heo có biểu hiện bệnh và ghi vào sổ theo dõi và tính các chỉ tiêu theo công thức: