XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Họ tên sinh viên thực hiện: VŨ THỊ CƯƠNG Tên luận văn: “Khảo sát hiệu quả của chế phẩm Sorzym sorbitol lên năng suất và sức khỏe của heo nuôi thịt tại D
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA CHẾ PHẨM SORZYM (SORBITOL) LÊN NĂNG SUẤT VÀ SỨC KHỎE CỦA HEO NUÔI THỊT
TẠI DNTN CHĂN NUÔI HƯNG VIỆT TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Sinh viên thực hiện: VŨ THỊ CƯƠNG Lớp: DH05TY
Ngành: Thú y Niên khoá: 2005 – 2010
Tháng 08/2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
VŨ THỊ CƯƠNG
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA CHẾ PHẨM SORZYM (SORBITOL) LÊN
NĂNG SUẤT VÀ SỨC KHỎE CỦA HEO NUÔI THỊT
TẠI DNTN CHĂN NUÔI HƯNG VIỆT
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ Thú y
Giáo viên hướng dẫn
TS NGUYỄN VĂN KHANH ThS NGUYỄN NGỌC CÔN
Tháng 08/2010
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ tên sinh viên thực hiện: VŨ THỊ CƯƠNG
Tên luận văn: “Khảo sát hiệu quả của chế phẩm Sorzym (sorbitol) lên năng suất và sức khỏe của heo nuôi thịt tại DNTN chăn nuôi Hưng Việt - tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu”
Đã hoàn thành luận văn theo yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp khóa ngày ……… …
Giáo viên hướng dẫn
TS Nguyễn Văn Khanh ThS Nguyễn Ngọc Côn
Trang 4
Bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
Đến Tiến Sĩ Nguyễn Văn Khanh và Thạc Sĩ Nguyễn Ngọc Côn, với sự giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp ý kiến quý báu và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
Trân trọng cảm ơn
Ban Giám Đốc trại heo Hưng Việt cùng các Cô, Chú, Anh, Chị, Em công nhân viên
đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực tập ở trại
Trang 5sorzym) Trong suốt thời gian thực tập ở trại, chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
Tăng trọng bình quân sau khi bổ sung chế phẩm sorzym ở mức 1 kg/tấn thức ăn (60,58 ± 9,05 kg/con) và mức 1,5 kg/tấn thức ăn (62,25 ± 8,64 kg/con), lô đối chứng (64,18
± 8,06 kg/con) Hệ số chuyển hóa thức ăn ở lô bổ sung chế phẩm sorzym ở mức 1,5 kg/tấn thức ăn là 2,63 thấp hơn so với lô đối chứng 2,64 và ở mức 1 kg/tấn thức ăn là 2,68 Tăng trọng tuyệt đối ở lô bổ sung chế phẩm sorzym ở mức 1 kg/tấn thức ăn là 747 ± 99 g/con/ngày, ở mức 1,5 kg/tấn thức ăn là 766 ± 94 g/con/ngày thấp hơn so với lô đối chứng (790 ± 93 g/con/ngày)
Tăng trọng bình quân của heo đực thiến là 62,82 ± 8,00 kg/con, của heo cái là 61,49 ± 8,38 kg/con Tăng trọng tuyệt đối của heo đực thiến là 779 ± 86 g/con/ngày, của heo cái là
763 ± 95 g/con/ngày Hệ số chuyển hóa thức ăn của heo đực thiến là 2,63 và của heo cái là 2,67
Tỷ lệ ho ở hai lô có bổ sung sorzym ở mức 1 kg/tấn thức ăn (34 %) và mức 1,5 kg/tấn thức ăn (30 %) cao hơn lô không bổ sung sorzym (28 %) Tỷ lệ thở bụng ở hai lô bổ sung sorzym mức 1 kg/tấn thức ăn (6 %) và 1,5 kg/tấn thức ăn (6 %) thấp hơn lô không bổ sung sorzym (10 %) Tỷ lệ ho kết hợp thở bụng ở hai lô bổ sung sorzym mức 1 kg/tấn thức ăn (0
%), mức 1,5 kg/tấn thức ăn (2 %) và lô không bổ sung sorzym (4 %) Tỷ lệ tiêu chảy ở hai
lô có bổ sung sorzym ở mức 1 kg/tấn thức ăn (10 %) và mức 1,5 kg/tấn thức ăn (16 %) thấp hơn lô không bổ sung sorzym (20 %) Tất cả các chỉ tiêu trên đều không có sự khác biệt về mặt thống kê (p > 0,05)
Trong suốt thời gian thí nghiệm không có heo nào chết ở cả 3 lô Lô bổ sung sorzym
ở mức 1 kg/tấn thức ăn có loại thải 01 heo (2 %)
Mức tổng chi của 2 lô thí nghiệm ít hơn lô đối chứng nhưng hiệu quả kinh tế ở lô bổ
Trang 6MỤC LỤC
Trang
TRANG TỰA i
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ii
LỜI CẢM ƠN iii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iv
MỤC LỤC v
CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG ix
DANH SÁCH CÁC HÌNH x
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 SƠ LƯỢC VỀ TRẠI HEO HƯNG VIỆT 3
2.1.1 Giới thiệu về trại heo Hưng Việt 3
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại 3
2.1.3 Bố trí chuồng trại 4
2.1.4 Cơ cấu đàn và công tác giống heo 4
2.1.5 Chuồng trại 5
2.1.6 Thức ăn6 2.1.7 Nước uống 7
2.1.8 Qui trình chăm sóc nuôi dưỡng 7
2.1.9 Vệ sinh thú y 10
2.1.10 Quy trình tiêm phòng 12
2.1.11 Bệnh và điều trị 13
2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ TIÊU HÓA HEO THỊT 13
2.2.1 Sinh lý tiêu hóa heo thịt 13
2.2.2 Chức năng của gan 15
Trang 72.2.2.2 Vai trò của gan 15
2.2.2.3 Cơ chế giải độc của gan 15
2.2.2.4 Sản xuất mật 17
2.3 GIỚI THIỆU VỀ SORBITOL VÀ CHẾ PHẨM SORZYM 18
2.3.1 Giới thiệu về sorbitol 18
2.3.2 Giới thiệu về sorzym ( do Safa-VEDIC sản xuất) 19
2.4 MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC CHẾ PHẨM DINH DƯỠNG BỔ SUNG VÀO KHẨU PHẦN HEO THIT 20
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 22
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM 22
3.2 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT 22
3.3 NỘI DUNG KHẢO SÁT 22
3.4 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 22
3.4.1 Bố trí thí nghiệm 22
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 23
3.5 HIỆU QUẢ KINH TẾ 25
3.6 XỬ LÝ SỐ LIỆU 25
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 MỨC ĐỘ TĂNG TRỌNG VÀ HỆ SỐ CHUYỂN HOÁ THỨC ĂN 26
4.1.1 Mức độ tăng trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn của các lô thí nghiệm 26
4.1.2 Trọng lượng và tăng trọng theo chế phẩm sorzym và giới tính 27
4.1.2.1 Ảnh hưởng của giới tính và chế phẩm sorzym lên tăng trọng heo 27
4.1.2.2 Ảnh hưởng của giới tính lên tăng trọng của heo 30
4.2 TÌNH HÌNH BỆNH TRÊN ĐÀN HEO THÍ NGHIỆM 31
4.2.1 Tình hình bệnh chung 31
4.2.2 Tình hình bệnh trên đường hô hấp 32
4.2.2.1 Biểu hiện ho trên đàn heo thí nghiệm 32
4.2.2.2 Tỷ lệ thở bụng trên heo thí nghiệm 33
4.2.2.3 Tỷ lệ ho kết hợp thở bụng trên heo thí nghiệm 35
4.2.3 Biểu hiện tiêu chảy 36
4.2.4 Bệnh khác 37
4.2.5 Tỷ lệ loại thải và tỷ lệ chết 37
4.3 ĐÁNH GIÁ MẪU GAN HEO SAU KHI KHI GIẾT THỊT 38
Trang 85.1 KẾT LUẬN 41
5.2 ĐỀ NGHỊ 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC 44
Trang 9TLNCHH: Tỷ lệ ngày con hô hấp
TLNCTC: Tỷ lệ ngày con tiêu chảy
TLTC: Tỷ lệ tiêu chảy
TTBQ: Tăng trọng bình quân
TTTĐ: Tăng trọng tuyệt đối
VNĐ: Việt Nam đồng
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thành phần thực liệu các loại thức ăn của heo thịt giai đoạn 63 ngày tuổi đến xuất
chuồng 7
Bảng 2.2 Quy trình tiêm phòng của trại chăn nuôi Hưng Việt 12
Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm sử dụng sorzym 23
Bảng 4.1 Tăng trọng và hệ số chuyển hoá thức ăn của các lô thí nghiệm 26
Bảng 4.2 Tăng trọng và HSCHTA theo nhóm giới tính giữa các lô thí nghiệm 28
Bảng 4.3 Tăng trọng và HSCHTA theo giới tính của cùng một lô thí nghiệm 29
Bảng 4.4 Tăng trọng và HSCHTA theo giới tính 30
Bảng 4.5 Tình hình bệnh chung trong đợt thí nghiệm 31
Bảng 4.6 Biểu hiện ho trên đàn heo thí nghiệm 33
Bảng 4.7 Tỷ lệ heo thở bụng 34
Bảng 4.8 Tình hình ho kết hợp thở bụng 35
Bảng 4.9 Tỷ lệ heo tiêu chảy 36
Bảng 4.10 Tỷ lệ các bệnh khác 37
Bảng 4.11 Tỷ lệ loại thải và tỷ lệ chết 37
Bảng 4.12 Tổng kết thu và chi trong đợt thí nghiệm 40
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Toàn cảnh khu chuồng bố trí thí nghiệm 6
Hình 4.1 Mẫu vi thể gan ở lô ĐC 38
Hình 4.2 Mẫu vi thể gan ở lô bổ sung 1kg/tấn TA 39
Hình 4.3 Mẫu vi thể gan ở lô bổ sung 1,5 kg/tấn TA 39
Trang 12vệ sinh…thì vấn đề dịch bệnh cũng phải đặc biệt quan tâm sâu sắc vì nó không chỉ gây thiệt hại về mặt kinh tế mà còn ảnh hưởng đến sức khoẻ vật nuôi và người tiêu thụ Hiện nay, biện pháp chủ yếu mà nhà chăn nuôi kiểm soát dịch bệnh là dùng kháng sinh: điều trị bằng cách tiêm, cho uống, phòng bệnh bằng cách trộn kháng sinh vào thức ăn Việc lạm dụng kháng sinh đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng:
vi khuẩn kháng thuốc, tồn dư kháng sinh trong các sản phẩm chăn nuôi, chức năng tiêu hoá của gia súc bị rối loạn,…Do đó, việc sử dụng các chế phẩm không phải kháng sinh để tăng sức sinh trưởng trên heo là một nhu cầu cấp thiết mà nhà chăn nuôi quan tâm
Trên thực tế, nhiều công ty đã sản xuất nhiều loại chế phẩm như: microbond, biolas, sorzym…bổ sung vào khẩu phần nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn của heo Trong đó, chế phẩm sorzym với thành phần chính là sorbitol với công dụng: trợ tiêu hoá, giúp giải độc gan khi bị trúng độc hay quá tải do lạm dụng kháng sinh, phục hồi chức năng tiêu hoá, tăng cường chức năng của hệ gan mật, giúp heo tăng cường hấp thu dưỡng chất và giảm các rối loạn đường ruột cũng như các vấn
đề bệnh lý khác đang được sử dụng nhiều trong chăn nuôi
Nhằm đánh giá hiệu quả thực tế của sorbitol trên sự tăng trưởng của heo thịt, được sự đồng ý của Khoa Chăn Nuôi Thú Y, trường Đại Học Nông Lâm, Tp Hồ
Trang 13Chí Minh, dưới sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Văn Khanh, ThS Nguyễn
Ngọc Côn, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khảo sát hiệu quả của chế phẩm sorzym (sorbitol) lên năng suất và sức khỏe của heo nuôi thịt tại DNTN chăn nuôi Hưng Việt - tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu”
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU
1.2.1 Mục đích
Đánh giá hiệu quả của việc bổ sung sorzym (sorbitol) trong thức ăn đến tăng trọng, hệ số chuyển hoá thức ăn, tình hình sức khoẻ của heo thịt Từ đó khuyến cáo người chăn nuôi cách sử dụng thích hợp nhất giúp mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho nhà chăn nuôi
1.2.2 Yêu cầu
- Theo dõi tăng trọng, hệ số chuyển hoá thức ăn
- Ghi nhận các trường hợp bệnh trên đàn heo
- Quan sát bệnh tích vi thể trên gan heo khảo sát
- So sánh hiệu quả kinh tế giữa 2 lô thí nghiệm và lô đối chứng
Trang 14Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 SƠ LƯỢC VỀ TRẠI HEO HƯNG VIỆT
2.1.1 Giới thiệu về trại heo Hưng Việt
Trại chăn nuôi Hưng Việt là một doanh nghiệp tư nhân được thành lập vào ngày 11/06/1990 Qua 20 năm hình thành và phát triển, trại đã và đang từng bước hoàn thiện mô hình hoạt động, luôn ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật để ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm Mô hình sản xuất của trại là kết hợp giũa trồng trọt và chăn nuôi Trại nằm trên đường Hùng Vương - khu phố 1- phường Long Tâm - thị xã Bà Rịa - tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu Trại được xây dựng trên vùng đất tương đối bằng phẳng và màu mỡ với tổng diện tích là: 75.000 m2, trong đó:
- Đường đi: 4.000 m2
- Nhà kho: 1.600 m2
- Chuồng trại: 2.900 m2
- Nhà ở và văn phòng: 800 m2
- Phần còn lại là diện tích đất trồng trọt và một số công trình của trại
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại
Trại có tổng cộng 40 người phân theo trình độ gồm: 1 Thạc sĩ, 3 Đại học, 1 Trung cấp, còn lại là công nhân, bảo vệ và nhà bếp Trong đó riêng tổ chăn nuôi heo
có 15 người gồm có:
- Quản lí chung: 1 người
- Nái nuôi con và heo con theo mẹ: 3 người
- Heo con sau cai sữa: 2 người
- Nái khô, chửa, nái hậu bị và đực làm việc: 3 người
Trang 15- Heo thịt: 6 người
Mô hình hoạt động sản xuất của trại chăn nuôi Hưng Việt là chăn nuôi kết hợp với trồng trọt Trại sử dụng toàn bộ chất thải chăn nuôi đã qua xử lý để phục vụ trồng trọt, giảm được nạn ô nhiễm môi trường và sản phẩm của trồng trọt lại được
sử dụng lại phục vụ cho chăn nuôi
- Chăn nuôi heo: phương hướng chính của trại là sản xuất thịt heo, toàn bộ heo
con cai sữa được giữ lại, chuyển sang nuôi thịt Trại cung cấp heo thịt cho các lò mổ địa phương và cho các vùng lân cận Ngoài ra trại còn cung cấp heo giống, tinh heo,… cho các hộ chăn nuôi địa phương
- Chăn nuôi bò: trại nuôi khoảng 12 bò sữa giống Holstein Friesian, bê cái sinh
ra được giữ lại làm giống, còn bê đực thì bán loại Sản phẩm sữa được sử dụng để nuôi bê, nuôi heo con và cung cấp cho quán bán các sản phẩm có sữa bò
- Trồng trọt: chủ yếu trồng cỏ voi cung cấp cỏ để nuôi bò, bê Nếu cỏ dư sẽ
được bán cho các hộ chăn nuôi trong vùng Ngoài ra, trại còn trồng các loại hoa màu ngắn ngày và trồng theo phương pháp luân canh như: đu đủ, bắp, đậu nành, ớt, rau muống… sản phẩm rau củ quả được cung cấp cho nhu cầu trong trại và bán ra bên ngoài
2.1.3 Bố trí chuồng trại
Diện tích chuồng trại chiếm 2.900 m2, các dãy chuồng được bố trí như sau:
- Dãy A1 và B1 là chuồng nái đẻ và nuôi con
- Dãy A2.1 và A2.2 là chuồng nuôi heo cai sữa
- Dãy A3 và B3 là chuồng nuôi heo nái hậu bị, nái khô và nái mang thai
- Dãy A4 là chuồng nuôi heo đực làm việc
- Dãy A5.1, A5.2, A6, B6, B2 nuôi heo thịt
2.1.4 Cơ cấu đàn và công tác giống heo
Theo ghi nhận ngày29/03/2010, trại có tổng đàn 1824con, cơ cấu đàn heo tại trại như sau:
- Nái sinh sản: 226con
- Nái hậu bị: 76con
Trang 16- Đực làm việc: 11 con
- Heo con theo mẹ: 407con
- Heo con cai sữa: 235 con
- Heo thịt: 869 con
Các nhóm giống heo chính được nuôi tại trại là Yorkshire, Duroc, Landrace x Yorkshire, Pietrain x Duroc Trại có lập gia phả giống đầy đủ để thuận tiện cho công tác lai giống Trại không ngừng nỗ lực để tìm ra công thức lai phù hợp với điều kiện kinh tế của trại nhằm cung cấp sản phẩm có chất lượng cao để đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng
2.1.5 Chuồng trại
Chuồng nái đẻ và nuôi con: Được thiết kế dạng chuồng kín, để đảm bảo nhu
cầu sinh lý của heo con theo mẹ và heo mẹ Đồng thời lắp hệ thống phun sương ở đầu chuồng, và hệ thống quạt hút ở cuối chuồng nuôi để làm mát cho heo, giảm bớt khí độc ở chuồng nuôi Ở mỗi ô chuồng có đèn sưởi ấm cho heo con Mỗi chuồng nái đẻ được phân chia làm hai dãy, mỗi dãy có 16 ô cho nái đẻ và nuôi con (chuồng được thiết kế dạng chuồng lồng, sàn sắt) với kích thước 2,2 x 1,85 m
Chuồng nuôi heo cai sữa: Chuồng được thiết kế dạng nóc đôi, mái lợp ngói,
chiều dài 60 m rộng 12 m, được chia thành 2 dãy có vách ngăn bằng tường cách biệt hoàn toàn, xung quanh chuồng và nóc chuồng được che bằng bạt kín Đầu chuồng
có hệ thống phun sương và cuối chuồng có hệ thống quạt hút để điều hoà nhiệt độ bên trong chuồng cho thích hợp Bên trong mỗi dãy có 11 ô, mỗi ô chuồng có kích thước 4 x 2,5 m, chiều cao 0,8 m, riêng ô cuối cùng dành cho heo cai sữa sớm và heo còi, lối đi cặp vách ngoài có máng ăn Ở đầu chuồng được lắp máng ăn bán tự động có lỗ điều chỉnh thức ăn rơi xuống Mỗi ô có 2 núm uống tự động đặt ở gần góc của ô chuồng, núm dưới cách sàn chuồng 0,2 m, núm trên cách sàn 0,4 m, luôn đảm bảo nước sạch cho heo uống
Chuồng nái mang thai và nái khô: Được thiết kế dạng chuồng hở, chia làm 3 dãy
đều nhau với mỗi dãy là 30 ô cá thể kích thước mỗi ô 2 m x 0,8 m và có sân chơi Mỗi dãy được lắp hệ thống quạt ở giữa và cuối chuồng, phun sương ở phía trên
Trang 17Chuồng heo đực giống: Dạng chuồng hở, mái lợp ngói, được thiết kế với quạt
lùa cùng hệ thống phun sương, 2 bên có thêm mái che chắn nắng để giảm bớt nhiệt
độ khi nắng chiếu trực tiếp vào chuồng, diện tích chuồng 4 m2/con, có sân chơi Mỗi ngăn đều có máng ăn và núm uống riêng biệt
Chuồng heo thịt: Dạng chuồng sàn bằng đà xi măng, mái lợp tôn có lớp bạt
cách nhiệt, chuồng kín, ở cuối dãy chuồng được lắp đặt hệ thống quạt hút Mỗi chuồng chia làm 2 dãy, sau mỗi ô chuồng có hồ nước tắm Mỗi dãy có 11 ô, mỗi ô nuôi 10 con Cuối chuồng có ô dành riêng cho heo bệnh Mỗi ô chuồng có 1 máng
ăn và 1 núm uống riêng biệt
Nái nuôi con sử dụng cám số 6, nái khô và nái mang thai đến 21 ngày tuổi sử dụng cám số 10 Đối với heo thịt từ giai đoạn 63 ngày tuổi đến khi xuất chuồng sử dụng cám C, cám D, cám 6 và cám 7 Riêng thức ăn cho heo con theo mẹ và thức ăn heo con cai sữa giai đoạn đầu được mua từ công ty Cargill Heo con 7 - 10 ngày tuổi bắt đầu tập ăn bằng cám viên đỏ và vàng dành cho heo con tập ăn của công ty Cargill Việt Nam
Trang 18Bảng 2.1 Thành phần thực liệu các loại thức ăn của heo thịt giai đoạn 63 ngày
tuổi đến xuất chuồng
- 4,8
2.1.8 Qui trình chăm sóc nuôi dưỡng
9 Heo nái:
Lượng thức ăn:
Nái trước khi sinh 1 tuần cho ăn mức từ 1,4 - 1,7 kg/ngày, ngày ăn 2 lần Sau khi sinh cho ăn hạn chế 5 ngày đầu, sau 5 ngày cho ăn tự do tùy theo khả năng của nái Trong giai đoạn này nái ăn nhiều nhất có thể đạt 6 kg/ngày, những ngày còn lại từ 2,5 - 3,8 kg/ngày Tuy nhiên, trong những ngày lên giống nái thường không ăn hoặc ăn rất ít Sau khi phối cho đến 21 ngày sau lượng thức ăn cho nái là 2,7 - 3 kg/ngày
Trang 19 Chăm sóc:
- Nái khô và nái mang thai: tắm và xịt rửa chuồng ngày 1 lần vào buổi sáng, buổi chiều được làm mát bằng hệ thống phun sương khi trời nóng, thường xuyên theo dõi nái cai sữa để kiểm tra sự lên giống và phối giống đúng lúc
- Nái sắp sinh: được chuyển đến chuồng nái đẻ 1 tuần trước khi sinh, tắm rửa nái sạch sẽ, tắm nhiều lần trong ngày tuỳ thuộc nhiệt độ bên trong chuồng nuôi
- Nái sinh và nuôi con: thường xuyên theo dõi nái lúc sinh đẻ để kịp thời can thiệp cho những ca đẻ khó Sau khi nái sinh xong tiêm 4 ml Oxytocin (chứa 40 UI)
để tống hết nhau ra ngoài, đếm số nhau, kiểm tra kĩ xem còn nhau hay không để tránh tình trạng sót nhau và con Tiêm kháng sinh Duphaben Strep B.P liều 1 ml /10
kg thể trọng để ngăn ngừa sự nhiễm trùng tử cung, trong vòng 3 ngày nái được rửa
tử cung ngày 2 lần bằng thuốc tím 0,1 %, theo dõi dịch hậu sản để kịp thời điều trị nếu nái có biểu hiện viêm nhiễm Bên cạnh đó, lượng thức ăn của nái cũng được theo dõi kỹ, đo thân nhiệt của những nái không ăn hoặc ăn ít Nái sốt, bỏ ăn hoặc ăn
ít điều trị như sau:
Analgin + Vitamin C + Vimexysone
Hoặc: Analgin + Vitamin C + TyloD.C Forte (Sài Gòn Vet)
Nái sinh khó, sốt cao, yếu sức trong và sau khi đẻ được tiêm truyền Glucose 5
% có bổ sung Analgin, vitamin C, Oxytetra hoặc Calcium B12, tiêm bắp Vimexysone Nái nuôi con không tắm, chỉ xịt rửa chuồng, máng ăn và làm mát khi heo con đã lớn nhưng hạn chế không làm ướt heo con
9 Heo con theo mẹ:
Thực hiện các thao tác lau nhớt ở miệng, nhúng bột Mistral, cắt rốn, bấm tai, bấm răng, cân trọng lượng sơ sinh và tách ghép bầy hợp lý
- 3 ngày: Tiêm Fe-dextran 100 mg với liều 2 ml/con
- 4 ngày: Uống Baycox 5 % ngừa cầu trùng gây tiêu chảy
- 7 ngày: Chích ADE lần một, liều từ 1 - 2 ml/con
- 7 - 10 ngày: Tuổi tập ăn cho heo con và thiến heo đực
- Trước khi cai sữa 1 ngày chích ADE lần 2 liều 1 ml/con
Trang 20Trong thời gian này không tắm cho heo con Quan sát heo ngày 2 - 3 lần để phát hiện heo tiêu chảy và các bất thường khác Heo con tiêu chảy chích Ampi-coli ( công ty thuốc Á Châu) với liều 1 - 1,5 ml/con, ngày 2 lần kết hợp với uống Tycofer (Vemedim Việt Nam) 3 - 4 ml/con
9 Heo con cai sữa đến 63 ngày tuổi
Lượng thức ăn:
- 3 ngày đầu: pha trộn với tỷ lệ 2 cám đỏ : 1 cám vàng
- 4 - 5 ngày: pha trộn với tỷ lệ 1 cám đỏ : 1 cám vàng
- 6 - 7 ngày: pha trộn với tỷ lệ 1 cám đỏ : 2 cám vàng
- 8 - 9 ngày: sử dụng cám vàng
- Ngày thứ 10: pha trộn với tỷ lệ 2 cám vàng : 1 cám C
- Ngày thứ 11: pha trộn với tỷ lệ 1 cám vàng : 1 cám C
- Ngày thứ 12: pha trộn với tỷ lệ 1 cám vàng : 2 cám C
- Sau đó cho ăn hoàn toàn bằng cám C đến 63 ngày tuổi
Chăm sóc:
Trong tuần đầu heo được bật đèn úm mỗi đêm đề phòng heo lạnh Heo trong 2 tuần đầu không tắm mà chỉ vệ sinh sàn chuồng Sau 2 tuần heo mới được tắm vào lúc nắng ấm
Heo được theo dõi hằng ngày để kịp thời phát hiện và can thiệp khi heo bệnh Những loại thuốc được dùng như: Ampi-Colistin, Duphapen Strep B.P, Penicilline, Streptomycine,…
9 Heo đực giống
Mỗi ngày cho ăn 2 lần vào 7 giờ sáng và lúc 5 giờ chiều Lấy tinh heo chu kỳ
2 - 3 lần/tuần tuỳ vào tình trạng sức khoẻ của heo Đực giống được tắm rửa sạch và làm mát khi trời nắng nóng
9 Heo thịt giai đoạn 63 ngày tuổi đến xuất chuồng
Đối với heo nhỏ: khi mới nhập qua nuôi heo thịt thì trong vòng một tuần đầu khi thời tiết lạnh nên hạn chế tắm heo, chỉ vệ sinh máng ăn và nền chuồng
Trang 21Đối với heo lớn: mỗi ngày vệ sinh nền chuồng và máng ăn vào lúc 7 giờ sáng, tắm heo và vệ sinh chuồng trại lúc 10h sáng hoặc 14h chiều tùy theo lịch làm việc của công nhân
Lượng thức ăn:
- Khi mới xuống ăn cám C (2 ngày) rồi pha với cám D theo các tỷ lệ: 3 cám C : 1 cám D (ăn 2 ngày), 2 cám C: 1 cám D (ăn 2 ngày), 1cám C : 1 cám D (ăn 2 ngày), 2 cám D : 1 cám C (ăn 2 ngày), 3 cám D : 1 cám C (ăn 2 ngày), rồi chuyển sang cám D cho ăn đến khi heo được 3,5 tuần
- Sau đó pha cám D với cám số 6 theo các tỷ lệ: 3D : 1cám 6 (ăn 2 ngày), 2 cám D : 1cám 6 (ăn 2 ngày), 1 cám D : 1cám 6 (ăn 2 ngày), 2 cám 6 : 1cám D (ăn 2 ngày), 3 cám 6 : 1cám D (ăn 2 ngày), rồi chuyển sang cám 6 cho ăn đến khi heo được 7,5 tuần
- Tiếp tục pha cám 6 với cám 7 theo các tỷ lệ: 3 cám 6 : 1 cám 7 (ăn 2 ngày), 2 cám 6 : 1 cám 7 (ăn 2 ngày), 1 cám 6 : 1 cám 7 (ăn 2 ngày), 2 cám 7 : 1 cám 6 (ăn 2 ngày), 3 cám 7 : 1 cám 6 (ăn 2 ngày), đến giai đoạn này thì chuyển sang ăn cám 7 đến khi xuất chuồng
Trang 229 Công nhân và khách tham quan
Công nhân được khám sức khỏe định kì và mang trang bị bảo hộ lao động: quần, áo, ủng,… không đi qua lại giữa các chuồng
Khách tham quan trước khi vào cổng phải đi qua hố sát trùng chân và có thau nước để sát trùng tay.Khách tham quan phải mặc áo blouse và mang ủng mới được vào khu vực chăn nuôi
Các loại thuốc sát trùng thông dụng: Farm Fluid, Benkocid, vôi,… với nồng độ tùy thuộc hướng dẫn của từng loại thuốc và có sự luân phiên thay đổi thuốc thường xuyên để tránh sự đề kháng của mầm bệnh
Trang 23
2.1.10 Quy trình tiêm phòng
Quy trình tiêm phòng của trại được trình bày ở Bảng 2.2
Bảng 2.2 Quy trình tiêm phòng của trại chăn nuôi Hưng Việt
+ Nái sinh sản: 1 lần trước khi đẻ 15 - 17 ngày + Nọc: 2 lần/năm
E.coli + Nái sinh sản: 2 lần trước khi đẻ 6 tuần và 2 tuần
Pasteurella
(Tụ huyết
trùng)
+ HBPD, nái, nọc: 2 lần/năm + Heo con cai sữa: 1 lần lúc 42 - 47 ngày tuổi
(Nguồn: Phòng kỹ thuật trại chăn nuôi Hưng Việt)
Trang 242.1.11 Bệnh và điều trị
Heo được theo dõi hằng ngày để kịp thời phát hiện và có biện pháp can thiệp nếu có cá thể nào bệnh Việc điều trị bệnh cho heo do bộ phận thú y của trại trực tiếp thực hiện
- Các loại thuốc thường được sử dụng để điều trị bệnh như: Ampi-colistin, Duphapen Strep B.P, Dexa VMD, Vimexysone, Tiamulin, Oxytetra, Tylo D.C Forte, Multibio,…
- Thuốc sát trùng vết thương: xanh Methylen 0,5 %, cồn Iod,…
- Thuốc giảm đau hạ sốt - kháng viêm: Analgine-C, MD-Dexa,…
- Thuốc trợ lực, trợ sức, vitamin: vitamin C, B.Comp In, ADE, Ferrohi
Pra-100, Anem-XPra-100, Injectavit, Calcium B12,…
2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ TIÊU HÓA HEO THỊT
2.2.1 Sinh lý tiêu hóa heo thịt
Sự tiêu hóa là giai đoạn đầu của việc nuôi dưỡng Quá trình này diễn ra dưới tác động vật lý như: sự nhai nghiền thức ăn, sự nhu động ruột để phân tán thức ăn thành những hạt nhỏ, đồng thời cũng diễn ra dưới tác động của vi sinh vật và tác động hóa học như: tác động của các enzyme tiêu hóa để biến đổi các chất dinh dưỡng có phân tử lớn như protein, tinh bột, lipid…rồi mới hấp thu qua niêm mạc ruột vào máu, lúc này cơ thể mới sử dụng được Phần còn lại không được tiêu hóa hấp thu của thức ăn, cùng với cặn bã của dịch tiêu hóa, niêm mạc biểu bì, xác vi sinh vật và những sản phẩm trao đổi chất khác được tống ra ngoài được gọi là phân
Do đó, sự hiểu biết về sự tiêu hóa thức ăn của gia súc trong những điều kiện khác nhau rất quan trọng trong việc xác định giá trị của thức ăn và tổ chức đúng đắn việc nuôi dưỡng thú (Dương Thanh Liêm và ctv, 2006)
Heo thịt thường được nuôi từ 5-6 tháng để đạt thể trọng xuất chuồng từ 80-100
kg Ở mức thể trọng này phẩm chất thịt ngon nhất và hiệu quả thức ăn bắt đầu giảm, heo có xu hướng tích lỹ nhiều mỡ, nuôi kéo dài thêm không có lợi (Võ Văn Ninh, 2007)
Trang 25Nhu cầu dưỡng chất của heo thay đổi theo từng giai đoạn do vậy để có được năng xuất cao cần hiểu rõ sự phát triển của heo Theo Võ Văn Ninh (2007), thời gian nuôi heo thịt có thể chia làm 2 giai đoạn:
mỡ sớm Dư khoáng chất nhất là calci-phospho sẽ gây hậu quả xấu cho sự hóa cốt, tạo xương, một số vi lượng dư thừa sẽ gây độc
Trong giai đoạn này heo có thể đạt thể trọng khoảng 50kg
Giai đoạn 2:
Khoảng 2-3 tháng cuối, đây là thời kỳ heo tích luỹ mỡ và các thớ cơ, các mô liên kết, con thú nảy nở theo chiều ngang, mập ra Giai đoạn này heo cần nhiều glucid, lipid hơn giai đoạn 1, nhu cầu protein, khoáng chất, sinh tố cho mỗi kg thức
ăn ít hơn giai đoạn đầu
Dư thừa dưỡng chất trong giai đoạn này chỉ làm tăng chi phí thức ăn và tăng lượng mỡ Nhưng nếu thiếu dưỡng chất con thú trở nên gầy, bắp cơ dai không ngon, thiếu những hương vị cần thiết, thịt có màu không hấp dẫn người tiêu dùng
Giai đoạn này heo có thể đạt thể trọng từ 50-100 kg
Để heo phát triển một cách hoàn thiện thì nhà chăn nuôi phải thay đổi khẩu phần ăn trong từng giai đoạn để phù hợp với nhu cầu phát triển của cơ thể heo Việc thay đổi thức ăn nên tiến hành từ từ vì thú cần thời gian làm cho hệ men tiêu hóa thức ăn thích ứng với thức ăn mới
Trang 262.2.2 Chức năng của gan
2.2.2.1 Đặc điểm cơ thể học của gan
Vị trí: gan heo nằm ngang bên phải khoảng xương sườn 7-13, bên trái từ
xương sườn 8-10
Hình thái: gan có 2 mặt và 2 cạnh Mặt trước cong lồi theo chiều cong cơ hoành Mặt sau sát dạ dày, có phần lõm là rốn gan, ở đó có dây chằng gan-dạ dày, động mạch gan, tĩnh mạch cửa và thần kinh đi vào gan, các hạch lâm ba và ống dẫn mật Cạnh trên dày, có tĩnh mạch chủ sau và thực quản đi qua Cạnh dưới mỏng, sắc
có các mẻ chia gan thành nhiều thùy Gan heo chia làm 6 thùy: thùy trái, giữa trái,
vuông, giữa phải, phải và thùy phụ Túi mật nằm sau thùy giữa phải
Cấu tạo: mặt ngoài gan được bao bởi màng sợi rất mỏng Màng này tạo thành
các vách ngăn phân chia gan thành các thùy và các tiểu thùy
Mô gan màu đỏ nâu, mềm cấu tạo nên các tiểu thùy hình đa giác Trong mỗi tiểu thùy các tế bào gan sắp xếp thành các cột hình nan hoa xe đạp, xen kẽ có các tế bào kupfer có tác dụng thực bào diệt khuẩn Chính giữa tiểu thùy có ống dẫn mật và tĩnh mạch nơi 3-4 tế bào gan tiếp giáp nhau tạo thành khe hở gọi là quãng cửa kiernnan
ở đó có các động mạch , tĩnh mạch, ống mật gian thùy và thần kinh (Nguyễn Đình Nhung và Nguyễn Minh Tâm, 2005)
2.2.2.2 Vai trò của gan
Gan có nhiều chức năng:
Tiết nhiều chất nội bào và ngoại bào vào mật làm phân huỷ và hấp thu mỡ
Sản xuất colesterol được vận chuyển trong máu và mô
Chuyển và bất hoạt nhiều chất như là kích thích tố, độc tố và thuốc
Sản xuất hầu hết proteína huyết tương
Sản xuất hầu hết yếu tố đông máu
2.2.2.3 Cơ chế giải độc của gan
Theo Ngô Kiến Đức và ctv: gan có vai trò rất quan trọng trong việc khử chất độc nội sinh và ngoại sinh Quá trình khử độc theo 2 cơ chế chính đó là cố định thải trừ và biến đổi hóa học:
Trang 279 Cố định và thải trừ
Gan có khả năng giữ lại các kim loại như: đồng, chì hay các chất màu (dẫn xuất của phtalein) rồi sau đó đào thải chúng qua mật
9 Cơ chế biến đổi hóa học
Gan khử độc theo nguyên tắc biến đổi chất độc thành các chất ít độc, dễ tan hơn và đào thải chúng ra ngoài Các phản ứng quan trọng của gan để loại thải chất độc bao gồm:
Phản ứng tạo urê từ NH3: khả năng này của gan là rất lớn, chỉ khi loại
bỏ 70% tổ chức gan mới ảnh hưởng đến sự tổng hợp ure
Phản ứng phân giải H2O2 bằng catalase tạo thành H2O và oxy nguyên tử
Phản ứng hydroxyl hóa: thường xảy ra với các chất có cấu trúc nhân thơm, sản phẩm tạo thành là dẫn chất phenol dễ đào thải hơn
Phản ứng oxy hóa
Phản ứng khử oxy: xảy ra với các chất có nhóm aldehyd và ceton
Phản ứng methyl hóa: là phản ứng phổ biến trong cơ thể
Phản ứng liên hợp:
+ Với glycin: nhóm amin của glycin kết hợp với nhóm COOH của chất độc
+ Với sulfonic: một số sản phẩm thối rữa của đường tiêu hóa như phenol, indol, scatol…được hấp thu một phần vào máu, được khử độc ở gan và đào thải qua nước tiểu dưới dạng ete sulfuric
+ Với glucuronic: quá trình liên hợp xảy ra giữa nhóm OH hay nhóm COOH của chất độc với acid glucuronic tạo hợp chất có liên kết ozid hay este
+ Với acid acetic
+ Với glutamine
Qua các cơ chế trên chúng ta thấy rằng nhờ có hệ thống enzyme đặc hiệu mà gan có khả năng chuyển hóa phong phú, giúp cơ thể chống lại các chất độc ngoại sinh cũng như các chất độc nội sinh rất hiệu quả
Trang 282.2.2.4 Sản xuất mật
Mật được sản xuất bởi tế bào gan, có thành phần tương tự như máu Như dịch tuỵ, thể tích và thành phần ion của mật thay đổi khi nó chảy qua ống tiết Tế bào biểu mô trong ống dẫn nhỏ vận chuyển tích cực các ion bicarbonate vào mật Vì vậy, nồng độ ion bicarbonate trong mật nhiều hơn trong huyết tương
Mật được tiết vào những kênh nhỏ giữa những tế bào gan riêng biệt gọi là ống mật nhỏ Màng tế bào gan tạo thành các kênh này Muối mật chuyển từ tế bào gan vào ống dẫn mật nhỏ Khớp nối giữa hai tế bào ngăn muối mật được tạo ra trong lỗ hở ống dẫn mật nhỏ chảy ngược lại và cho phép chúng chảy vào dịch ngoại bào gan Ống dẫn mật nhỏ tập hợp thành kênh lớn và cuối cùng vào trong ống dẫn mật thông thường
− Tác dụng của muối mật và acid mật
Mật bao gồm hai thành phần chính muối và acid mật
Acid mật được sản xuất từ cholesterol Trước khi được tiết từ tế bào gan acid mật kết hợp với acid amin Vì vậy acid mật hiện diện dưới dạng ion kiềm của mật Muối mật có tác dụng tiêu hoá mỡ Một mặt của muối mật tích điện âm do đó hoà tan nước, trong lúc mặt kia kị nước Phân tử muối mật trong nước tạo thành hạt micelle bằng cách quay mặt kị nước vào trong để tránh nước; trong lúc phân tử muối mật sẽ quay ra đối với mặt ưa nước Dạng hạt micelle tạo thành khi nồng độ muối mật vượt quá mức nào đó Phospholipid và cholesterol hoà tan vào trung tâm hạt micelle ở phần kị nước
Ngược với acid mật, muối mật không hoà tan mỡ Cuối cùng hấp thu muối mật bằng hoà tan lượng nhỏ ở ruột non Điều này là quan trọng, bởi vì: muối mật làm nhiệm vụ khi nó di chuyển qua chiều dài ruột non, trước khi chúng được hấp thụ tích cực ở cuối ống tiêu hoá
Muối mật hấp thu trở về bằng tĩnh mạch cửa gan, nơi mà nó được tái phân tiết Tái tuần hoàn giữa ruột và gan gọi là tuần hoàn ruột-gan Lượng acid mật thất thoát vào phân khoảng 5%, 95% được tái tuần hoàn, lượng thất thoát được thay thế bằng tổng hợp ở gan Nếu tuần hoàn gan-ruột bị ngừng thì muối mật gỉảm, hoạt động hấp thu mỡ và vitamin hoà tan trong mỡ kém
Trang 29− Điều hoà tiết mật
Phân tiết mật được điều hoà bởi thần kinh phó giao cảm và kích thích tố Secretin Tuy nhiên, yếu tố quan trọng để xác định thể tích mật là lượng muối cấp cho tế bào gan Khi muối mật tiết vào ống dẫn mật, chênh lệch áp suất thẩm thấu tạo ra giữa lòng ống dẫn mật và dịch ngoại bào bao quanh Nước và các chất hoà tan
có trọng lượng phân tử thấp vận chuyển từ dịch tế bào qua khớp nối giữa hai tế bào
và ống dẫn mật nhỏ Khi nồng độ muối mật máu tăng, lượng muối mật được tiết từ
tế bào gan và thể tích mật tăng tương ứng
Giữa những bữa ăn mật được dự trữ và cô dặc trong túi mật Nồng độ mật cao nhất, sản xuất mật cao nhất khi muối mật được tái tuần hoàn gan-ruột sau bữa ăn Chất chứa acid của tá tràng kích thích phóng thích secritin làm tăng ion bicarbonate trong tuỵ và gan Ion bicarbonate trong mật trung hoà acid chất chứa dạ dày
Khi không tiêu hoá, cơ vòng oddi co và túi mật dãn Kết quả, mật chảy vào túi mật, dự trữ và cô đặc Quá trình cô đặc dựa trên vận chuyển tích cực ion ra khỏi túi mật vào máu, nước theo sau để cân bằng áp suất thẩm thấu Sau bữa ăn, co thắt cơ trơn túi mật và cơ vòng oddi dãn ra Thức ăn có mỡ hoặc peptide tác động lên tế bào biểu mô phân tiết CCK (cholecystokinin) ở tá tràng làm cho tế bào này tiết kích thích tố CCK
CCK làm enzyme phân giải lipide của tuỵ và mật từ gan phân tiết vào ruột để phân huỷ mỡ Khi tiêu hoá mỡ hoàn thành, những kích thích để giải phóng CCK bị loại bỏ làm mật được tiếp tục dự trữ trong túi mật
2.3 GIỚI THIỆU VỀ SORBITOL VÀ CHẾ PHẨM SORZYM
2.3.1 Giới thiệu về sorbitol
- Công thức cấu tạo
(http://en.wikipedia.org/wiki/file:sorbitol.png)
Trang 30- Dược lực học
Thuốc nhuận trường thẩm thấu
Thuốc có tác động hướng gan-mật
- Dược động học
Thuốc hấp thu kém qua đường tiêu hoá
Sau khi uống sorbitol chuyển hoá thành fructose nhờ vào men deshydrogenase, sau đó chuyển hoá thành glucose
sorbitol-Một tỷ lệ rất nhỏ sorbitol không bị chuyển hoá được đào thải qua thận, phần còn lại qua đường hô hấp dưới dạng CO2
- Tác dụng
Sorbitol (D-glucitol) là một rượu có nhiều nhóm hydroxyl, có vị ngọt bằng ½ đường mía (saccarose)
Thuốc thúc đẩy sự hydrate hoá các chất chứa trong ruột
Sorbitol kích thích tiết cholecystokinin-pancreazymin và tăng nhu động ruột nhờ tác dụng nhuận tràng thẩm thấu
(http://www.thuocbietduoc.com.vn)
- Ứng dụng
Sorbitol được ứng dụng nhiều trong cuộc sống: dùng trong ngành mỹ phẩm tẩy rửa, dùng trong sản xuất cao su nhân tạo, trong sản xuất nhựa, dùng làm thuốc điều trị…
2.3.2 Giới thiệu về sorzym ( do Safa-VEDIC sản xuất)
Trang 312.4 MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC CHẾ PHẨM DINH DƯỠNG BỔ SUNG VÀO KHẨU PHẦN HEO THỊT
Nguyễn Thành Hưng (2005), khảo sát ảnh hưởng của β-glucan lên năng suất
và sức khỏe của heo thịt có kháng thể chống virus PRRS tại trại heo Phú Sơn Tác giả đã ghi nhận tăng trọng bình quân ở lô bổ sung β-glucan ở mức 120 ppm (74,45 kg/con) cao hơn so với mức 40 ppm (71,68 kg/con) và 80 ppm (73,47 kg/con) Bùi Thanh Tiển (2006), khảo sát ảnh hưởng của β-glucan lên năng suất và sức khỏe của heo thịt tại xí nghiệp chăn nuôi heo Đồng Hiệp, huyện Củ Chi, TP HCM Khảo sát cho biết tăng trọng bình quân ở lô bổ sung β-glucan mức 60 ppm (64,73 kg/con) thấp hơn so với lô 120 ppm (65,38 kg/con)
Nguyễn Văn Tươi (2006), khảo sát ảnh hưởng của β-glucan ảnh hưởng của lên năng suất và sức khoẻ heo thịt tại Trung Tâm Chăn Nuôi Hoà Khánh - Huyện Cái
Bè - Tỉnh Tiền Giang Khảo sát ghi nhận tăng trọng bình quân ở lô bổ sung glucan mức 120 ppm (72,19 kg/con) cao hơn mức 0 ppm (67,32 kg/con)
β-Phạm Thanh An (2007), ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm sinh học Biolas trong khẩu phần đến năng xuất heo thịt giai đoạn từ 65 ngày tuổi đến xuất chuồng Khảo sát hệ số chuyển hóa thức ăn ở lô sử dụng Biolas là 2,58, ở lô đối chứng là 2,39
Phan Thị Ngọc Trâm (2007), ảnh hưởng của việc sử dụng enzyme phytase trong thức ăn lên khả năng tăng trưởng của heo thịt Khảo sát ghi nhận hệ số chuyển hóa thức ăn ở mức bổ sung enzyme 100 g/tấn TA là 3,39, ở mức bổ sung enzyme
100 g/tấn TA và khẩu phần giảm chuẩn 5 % là 3,4, ở lô không bổ sung là 3,5
Lê Như Trinh (2007), khảo sát ảnh hưởng của việc sử dụng enzyme hỗn hợp trong thức ăn đến sự sinh trưởng của heo thịt Khảo sát ghi nhận hệ số chuyển hóa thức ăn ở lô sử dụng enzyme 200 g/tấn TA là 4,31, ở lô sử dụng enzyme 200 g/tấn
TA và khẩu phần giảm chuẩn 5 % là 3,41 và ở lô không bổ sung enzyme là 2,83
Lê Thị Thúy Hằng (2008), khảo sát ảnh hưởng của β-glucan lên năng suất và sức sinh sản của heo thịt tại trại chăn nuôi Hưng Việt tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (2008) Khảo sát ghi nhận tăng trọng bình quân ở lô bổ sung β-glucan ở mức 80
Trang 32ppm (61,01 kg/con) cao hơn so với mức 160 ppm (61,66 kg/con) và ở lô không có
bổ sung β-glucan (58,28 kg/con)
Võ Hoàng Giang (2009), khảo sát ảnh hưởng của chế phẩm glucan C lên sự tăng trưởng của heo thịt tại trại chăn nuôi Hưng Việt - Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu Khảo sát cho thấy tăng trọng bình quân ở các mức 1 kg/tấn TA (58,09 kg), ở mức 1,3 kg/tấn TA (55,92 kg) và ở lô đối chứng (53,8 kg)
Nguyễn Thành Nghiêm (2009), khảo sát ảnh hưởng của chế phẩm microbond lên một số chỉ tiêu tăng trưởng và sức khỏe heo thịt tại trại chăn nuôi Hưng Việt - Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu Khảo sát cho thấy tăng trọng bình quân sau khi bổ sung chế phẩm microbond ở mức 1 kg/tấn thức ăn (62,44 kg/con) và mức 2 kg/tấn thức ăn (62,20 kg/con) cao hơn lô đối chứng (60,66 kg/con)
Trang 33Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM
Thời gian từ 15/01/2010 đến 15/05/2010
Địa điểm: tại DNTN chăn nuôi heo Hưng Việt, đường Hùng Vương-khu phố phường Long Tâm-thị xã Bà Rịa-tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
1-3.2 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT
150 heo 63 ngày tuổi đến xuất chuồng ( 140 ngày tuổi )
3.3 NỘI DUNG KHẢO SÁT
- Nội dung 1:Đánh giá tăng trọng và hệ số chuyển hoá thức ăn trên heo bổ sung chế phẩm sorzym So sánh hiệu quả kinh tế
- Nội dung 2: Đánh giá tình hình bệnh trên heo bổ sung sorzym Đánh giá bệnh tích trên gan heo sau khi giết thịt
3.4 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
3.4.1 Bố trí thí nghiệm
- Chúng tôi chọn một cách ngẫu nhiên 150 heo 63 ngày tuổi, tương đối đồng đều về trọng lượng, giới tính và giống Các heo này được chia làm 3 lô, gồm 2 lô thí nghiệm I và II (bổ sung sorzym mức 1kg/1tấn thức ăn và 1,5kg/1tấn thức ăn) và lô đối chứng (không bổ sung sorzym) Thí nghiệm được chia làm 2 đợt:
• Đợt 1 có 60 heo trong đó: lô đối chứng 20 con (10 đực + 10 cái), lô I 20 con (10 đực + 10 cái), lô II 20 con (10 đực + 10 cái)
• Đợt 2 có 90 heo trong đó: lô đối chứng 30 con (15 đực + 15 cái), lô I 30 con (15 đực + 15 cái), lô II 30 con (15 đực + 15 cái)
Trang 34Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm sử dụng sorzym
Lô Số lượng
Lô đối chứng (không bổ sung sorzym) 50 = (25 đực + 25 cái)
Lô I (bổ sung sorzym mức 1kg/1tấn thức ăn) 50 = (25 đực + 25 cái)
Lô II (bổ sung sorzym mức 1,5kg/1tấn thức ăn) 50 = (25 đực + 25 cái)
Tổng 150
- Ngoài việc bổ sung sorzym ra thì điều kiện chuồng trại, thức ăn cơ bản, quy
trình chăm sóc nuôi dưỡng và tiêm phòng vaccin đều theo quy trình của trại
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi
- Chỉ tiêu tăng trưởng:
Để ghi nhận mức tăng trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn: cân trọng lượng heo
lúc 63 ngày tuổi (lúc bắt đầu thí nghiệm) và lúc 140 ngày tuổi, sử dụng cân bàn có
lồng sắt để cân heo thí nghiệm (chỉ sử dụng một cân duy nhất trong suốt quá trình
thí nghiệm) Thức ăn được cân trọng lượng 25 kg/bao và đổ vào máng ăn bán tự
động Ghi nhận lượng thức ăn hằng ngày cho vào máng ăn Khi kết thúc thí nghiệm
thì cân lượng thức ăn còn dư trong máng ăn Ghi nhận lượng thức ăn tiêu thụ của
từng lô thí nghiệm để tính hệ số chuyển hóa thức ăn
Các công thức tính:
• Tăng trọng bình quân (TTBQ, kg/con)
TTBQ = Tổng tăng trọng / Tổng số con nuôi
• Tăng trọng tuyệt đối (TTTD, kg/con)
TTTD = Tổng tăng trọng / Tổng ngày con nuôi
• Hệ số chuyển hoá thức ăn (HSCHTA, kg thức ăn/kg tăng trọng)
HSCHTA = Tổng lượng thức ăn tiêu thụ / Tổng tăng trọng
- Các chỉ tiêu về bệnh trên heo:
Để theo dõi tình hình bệnh trên heo khảo sát: hàng ngày theo dõi đàn heo thí
nghiệm từ 7h-11h30 và 14h-17h30 ghi nhận biểu hiện bệnh như: tiêu chảy, ho, thở
thể bụng, viêm khớp, sốt, viêm da…
Trang 35+ Chỉ tiêu bệnh hô hấp
• Tỷ lệ con có triệu chứng ho (%)
Tỷ lệ ho (%) = Số con ho / Số con theo dõi x100
• Tỷ hệ heo có triệu chứng thở thể bụng (%)
Tỷ lệ thở bụng (%) = Số con thở bụng / Số con theo dõi x100
• Tỷ hệ heo có triệu chứng ho-thở bụng (%)
Tỷ lệ ho-thở bụng (%) = Số con ho-thở bụng / Số con theo dõi x100
+ Chỉ tiêu bệnh tiêu chảy
• Tỷ lệ con có biểu hiện tiêu chảy (TLTC, %)
TLTC (%) = Số con biểu hiện tiêu chảy / Số con theo dõi x100
• Tỷ lệ ngày con có biểu hiện tiêu chảy (TLNCTC, %)
TLNCTC (%) = Tổng số ngày con biểu hiện tiêu chảy / Số ngày con theo dõi x100 + Chỉ tiêu các bệnh khác
• Tỷ lệ con có triệu chứng viêm khớp (%)
Tỷ lệ viêm khớp (%) = Số con viêm khớp / Số con theo dõi x100
• Tỷ lệ con có triệu chứng viêm da (%)
Tỷ lệ ho (%) = Số con viêm da / Số con theo dõi x100
• Tỷ lệ con có triệu chứng sốt (%)
Tỷ lệ ho (%) = Số con sốt / Số con theo dõi x100
- Chỉ tiêu tỷ lệ loại thải và tỷ lệ chết
• Tỷ lệ loại thải (%)
Tỷ lệ loại thải (%) = Số con loại thải / Số con theo dõi x 100
• Tỷ lệ chết (%)
Tỷ lệ chết (%) = Số con chết / Số con theo dõi x 100
- Đánh giá biến đổi bệnh lý trên gan heo
Chúng tôi lấy ngẫu nhiên mỗi lô 5 mẫu gan để làm tiêu bản vi thể và xem cấu trúc mô gan
Trang 36Mẫu gan heo sau khi lấy tại các lò mổ được bảo quản trong formol 10% và gửi phòng thí nghiệm Bệnh xá Thú y đại học Nông Lâm-thành phố Hồ Chí Minh làm tiêu bản vi thể
Mẫu vi thể được thực hiện với kỹ thuật Paraffin, cắt mẫu bằng Microtome với độ dày 4-5 µm, nhuộm màu H và E, quan sát và mô tả bệnh tích dưới kính hiển vi ở độ phóng đại (100x) và (400x) Chụp ảnh một số biến đổi cấu trúc mô gan
3.5 HIỆU QUẢ KINH TẾ
Trong phạm vi đề tài, với mục đích là so sánh hiệu quả kinh tế giữa 3 lô nên chúng tôi chỉ tính toán dựa vào thức ăn cơ bản, chi phí thuốc thú y, chi phí sorzym
và tăng trọng, còn các chi phí khác và con giống không đề cập đến Vì thế, chênh lệch giữa thu và chi chỉ có ý nghĩa so sánh giữa 3 lô
3.6 XỬ LÝ SỐ LIỆU
- Số liệu được thu thập bằng phần mềm excel 2003 và sử lý bằng phần mềm
Minitab 13.0 for windows
- Số liệu được phân tích bằng trắc nghiệm F đối với các tính trạng số lượng
- So sánh các tỷ lệ bằng phương pháp Chi-square
Trang 37Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 MỨC ĐỘ TĂNG TRỌNG VÀ HỆ SỐ CHUYỂN HOÁ THỨC ĂN
4.1.1 Mức độ tăng trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn của các lô thí nghiệm
Qua thời gian theo dõi, kết quả tăng trọng và hệ số chuyển hoá thức ăn được
trình bày qua Bảng 4.1
Bảng 4.1 Tăng trọng và hệ số chuyển hoá thức ăn của các lô thí nghiệm
Chỉ tiêu LÔ ĐC LÔ I (1 kg) LÔ II (1,5 kg) P
Trong khảo sát của chúng tôi, trọng lượng của heo lúc bắt đầu thí nghiệm (63
ngày tuổi) giữa 3 lô thí nghiệm là tương đương nhau Khi xuất thịt, tăng trọng bình
quân của lô ĐC (64,18 kg/con) là cao nhất, kế đến là lô II (62,25 kg/con) và thấp
nhất là lô I (60,58 kg/con), nhưng xét về mặt thống kê sự khác biệt này không có ý
nghĩa (p > 0,05) So với kết quả của Võ Hoàng Giang (2009) khi khảo sát ảnh
hưởng của chế phẩm Glucan C lên sự tăng trưởng của heo thịt tại trại chăn nuôi
Hưng Việt - Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cho thấy tăng trọng bình quân ở các mức 1
kg/tấn TA là 58,09 kg/con, ở mức 1,3 kg/tấn TA là 55,92 kg/con và ở lô đối chứng
là 53,80 kg/con thấp hơn kết quả của chúng tôi So với Nguyễn Thành Nghiêm
(2009) khi khảo sát ảnh hưởng của chế phẩm Microbond lên sự tăng trưởng của heo