1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SKKN môn sinh học ở trường THCS

15 209 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 144 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN môn sinh học ở trường THCS SKKN môn sinh học ở trường THCS SKKN môn sinh học ở trường THCS SKKN môn sinh học ở trường THCS SKKN môn sinh học ở trường THCS SKKN môn sinh học ở trường THCS SKKN môn sinh học ở trường THCS

Trang 1

I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những giải pháp và mục tiêu hàng đầu nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Trong quá trình học, học sinh được coi là chủ thể của hoạt động, học sinh được cuốn hút vào các hoạt động do giáo viên tổ chức chỉ đạo, thông qua đó tự mình khám phá những điều mình chưa rõ từ đó bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Giáo viên đóng vai trò định hướng tổ chức các hoạt động học tập, rèn cho học sinh có được phương pháp, kỹ năng, thói quen và ý chí tự học, tạo cho học sinh lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi học sinh Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực là: dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh; dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học; tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác; kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Trên cơ sở vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào trong giảng dạy bộ môn Sinh học ở trường THCS Trưng Vương tôi đã áp dụng nhiều phương pháp mới phù hợp với từng đối tượng học sinh Một trong những phương pháp mang lại hiệu quả cao và được tôi áp dụng phổ biến hơn cả là:

“Phương pháp tổ chức các hoạt động học tập theo hướng dạy học khám phá”

Trang 2

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lý luận:

Dạy học khám phá là giáo viên tổ chức học sinh học theo nhóm nhằm phát huy năng lực giải quyết vấn đề và tự học cho học sinh

-Trong dạy học khám phá đòi hỏi người giáo viên gia công rất nhiều để chỉ đạo các hoạt động nhận thức của học sinh Hoạt động của người thầy bao gồm: định hướng phát triển tư duy cho học sinh, lựa chọn nội dung của vấn đề và đảm bảo tính vừa sức với học sinh; tổ chức học sinh trao đổi theo nhóm trên lớp; các phương tiện trực quan hỗ trợ cần thiết… Hoạt động chỉ đạo của giáo viên như thế nào để cho mọi thành viên trong các nhóm đều trao đổi, tranh luận tích cực Ðó là việc làm không dễ dàng, đòi hỏi người giáo viên đầu tư công phu vào nội dung bài giảng

-Trong dạy học khám phá, học sinh tiếp thu các tri thức khoa học thông qua con đường nhận thức: từ tri thức của bản thân thông qua hoạt động hợp tác với bạn đã hình thành tri thức có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học; Giáo viên kết luận về cuộc đối thoại, đưa ra nội dung của vấn đề, làm cơ sở cho học sinh

tự kiểm tra, tự điều chỉnh tri thức của bản thân tiếp cận với tri thức khoa học của nhân loại

-Học sinh có khả năng tự điều chỉnh nhận thức góp phần tăng cường tính mềm dẻo trong tư duy và năng lực tự học Ðó chính là nhân tố quyết định sự phát triển bản thân người học

- Ưu điểm của dạy học khám phá

+Phát huy được nội lực của học sinh, tư duy tích cực - độc lập - sáng tạo trong quá trình học tập

+Giải quyết thành công các vấn đề là động cơ trê tuệ kích thích trực tiếp lòng ham mê học tập của học sinh Ðó chính là động lực của quá trình dạy học

Trang 3

+ Hợp tác với bạn trong quá trình học tập, tự đánh giá, tự điều chỉnh vốn tri thức của bản thân là cơ sở hình thành phương pháp tự học - Ðó chính là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của mỗi cá nhân trong cuộc sống

+ Giải quyết các vấn đề nhỏ vừa sức của học sinh được tổ chức thường xuyên trong quá trình học tập, là phương thức để học sinh tiếp cận với kiểu dạy học hình thành và giải quyết các vấn đề có nội dung khái quát rộng hơn

+ Ðối thoại trò - trò, trò - thầy đã tạo ra bầu không khí học tập sôi nổi, tích cực Thông qua thảo luận, tranh luận tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới và góp phần hình thành mối quan hệ giao tiếp trong cộng đồng xã hội

2 Thực trạng của vấn đề:

Khi mới bước vào năm học mới đươc 2 tuần tôi chủ động điều tra hứng thú học tập bộ môn Sinh học của học sinh lớp 9 trường THCS Trưng Vương vào đầu tháng 9 năm học 2011 - 2012 thu được kết quả như sau:

Lớp TSHS Có hứng thú Bình thường Không hứng thú

Lý do học sinh không có hứng thú là vì kiến thức mới mẻ, có quá nhiều khái niệm mới và trừu tượng được đưa ra trong mỗi bài học Việc tiếp cận kiến thức trong lĩnh vực hoàn toàn mới gặp nhiều khó khăn

Qua kết quả điều tra nhận thấy có một phần không nhỏ học sinh khó khăn trong việc tiếp cận nội dung bài học Trước tình hình đó tôi tìm cách áp dụng những phương pháp dạy học mới phát huy nhiều hơn nữa tính tích cực, chủ động của học sinh “Phương pháp tổ chức các hoạt động học tập theo hướng dạy học khám phá” được vận dụng để giải quyết vấn đề trên

3 Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề.

Trang 4

3 1 Hoạt động

3 1.1 Xác định mục đích

-Về nội dung :

+ Vấn đề học tập chứa đựng nội dung kiến thức mới là gì?

+ Tại sao lựa chọn vấn đề này mà không lựa chọn vấn đề khác có trong bài giảng?

+ Vấn đề đaỵ lựa chọn liệu khả năng học sinh có thể tự khám phá được không?

- Về phát triển tư duy:

Giáo viên định hướng các hoạt động tư duy đặc trưng cần thiết ở học sinh là gì trong quá trình giải quyết vấn đề ; hoạt động phân tích, tổng hợp hoặc là so sánh hoặc là trừu tượng và khái quát hoặc là phán đoán…

Ðịnh hướng phát triển tư duy cho học sinh chính là ưu việt của dạy học khám phá đạt được so với các PPDH khác

Ví dụ:

+ Vấn đề 1 : tìm hiểu cấu tạo đơn phân axit amin? ( hoạt động tư duy đặc trưng laì phân tích, tổng hợp

+ vấn đề 2 : các loại axit amin khác nhau như thế nào? ( hoạt động tư duy đặc trưng là so sánh

3.1.2 Vấn đề học tâp

- Trong nội dung của bài giảng có chứa đựng nhiều vấn đề hoc tập, trong đó vấn đề trọng tâm là cơ sở để nhận thức các vấn đề khác Dạy học khám phá thường được vận dụng để học sinh giải quyết các vấn đề nhỏ, vì vậy lựa chọn vấn đề là yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của PPDH này

- Lựa chọn vấn đề học tập cần chú ý một số điều kiện sau đây:

+ Vấn đề trọng tâm, chứa đựng thông tin mới

+ vấn đề thường đưa ra dưới dạng câu hỏi hoặc bài tập nhỏ

Trang 5

+ Vấn đề học tập phải vừa sức của học sinh vă tương ứng với thời gian lăm việc

Nếu nội dung giâo viín yíu cầu học sinh lăm việc không chứa đựng thông tin mới thì chỉ lă hình thức thảo luận trong dạy học mă chúng ta thường âp dụng

- Trong thực tế, để dạy học khâm phâ có tính năng rộng rêi thì vấn đề đưa ra thường ngắn gọn vă thời gian học sinh lăm việc khoảng từ 5 phút đến 10 phút Chúng ta sẽ âp dụng ở những tiết giảng có nội dung ngắn gọn vă sử dụng quỹ thời gian kiểm tra vă củng cố băi

Nếu vấn đề học tập có nội dung bao trùm nội dung tiết giảng vă học sinh đê có thói quen tích cực hợp tâc theo nhóm thì giâo viín tổ chức học sinh khâm phâ theo trình tự câc bước trong cấu trúc dạy học níu vấn đề

Ví dụ : Khi dạy qui luật di truyền liín kết gen cho học sinh lớp 9 thì chỉ nín tổ chức học sinh khâm phâ vấn đề nhỏ của quy luật

3.1.3 Vai trò cần thiết của phương tiện trực quan trong dạy học khâm phâ

- Chúng ta thử hình dung dạy học khâm phâ được vận dụng như sau: giâo viín đưa ra vấn đề học tập dưới dạng cđu hỏi vă yíu cầu học sinh lăm việc theo nhóm, không có sự hỗ trợ của phương tiện trực quan (PTTQ) Như vậy, nguồn kiến thức vẫn lă lời nói, chúng ta đê chuyển kiểu dạy học thầy nói- trò nghe thănh trò nói trò nghe, nếu thế thì thầy nói cho trò nghe dễ hiểu hơn

Qua đó ta thấy PPTQ thật sự cần thiết trong dạy học khâm phâ, nó đóng vai trò

lă nguồn kiến thức, lă động cơ kích thích sự hợp tâc tích cực trong nhóm

- Câc phương tiện trực quan đó có thể lă : hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ, mô hình…

đê có sự gia công sư phạm của giâo viín vă được thể hiện trong giấy, tranh, đỉn chiếu, bảng dính hoặc lă câc thí nghiệm trực quan trong giờ dạy

PTTQ sẽ kích thích sự quan sât tìm tòi, tranh luận của học sinh Ðó lă một yếu tố quan trọng đảm bảo sự thănh công của dạy học khâm phâ

3.1.4 Phđn nhóm học sinh

Trang 6

Trong quá trình giáo viên chia học sinh thành từng nhóm, nên lưu ý một số điều kiện sau đây:

- Sự phân nhóm đảm bảo cho các thành viên đối thoại và giáo viên di chuyển thuận lợi để bao quát lớp, đối thoại với trò

Ví dụ: bố trí chỗ ngồi theo hình chữ O, chữ U, hình vuông…

- Số lượng học sinh của mỗi nhóm là bao nhiêu tùy theo nội dung của vấn đề, đồng thời đảm bảo sự hợp tác tích cực giữa các thành viên trong nhóm

Nếu vấn đề chỉ cần quan sát và trao đổi thông tin trong nhóm thì có thể bố trí mỗi nhóm gồm từ 6 đến 12 học sinh

Nếu vấn đề yêu cầu ngoài sự trao đổi với nhau còn phải thực hiện một việc làm nào đó như báo cáo, hoàn thiện sơ đồ… thì mỗi nhóm chỉ nên có từ 2 đến 4 học sinh

Nếu số thành viên trong mỗi nhóm quá nhiều thì sẽ có những thành viên không tích cực hợp tác

- Chú ý khả năng nhận thức của các học sinh trong mỗi nhóm để bảo đảm sự hợp tác mang lại hiệu quả

Ví dụ : trong nhóm đều là những học sinh yếu thì không có sự học hỏi lẫn nhau

và khó giải quyết được vấn đề đưa ra

- Ðiều kiện cơ sở vật chất của nhà trường: Trong thời gian của tiết học, có lúc học sinh làm việc trong nhóm, có lúc làm việc giữa các nhóm trong lớp và với thầy đã tạo ra một lớp học linh động Chính vì vậy đòi hỏi thiết kế bàn học thuận tiện cho việc di chuyển và mỗi lớp chỉ nên có từ 25 đến 30 học sinh Trong điều kiện thực tế hiện nay, chúng ta có thể khắc phục bằng cách cho các học sinh ngồi cùng bàn là một nhóm hoặc là học sinh ngồi bàn trước quay lại với học sinh ngồi bàn sau làm thành một nhóm, do đó sự hợp tác giữa các học sinh trong học tập vẫn có thể thực hiện được

3.1.5 Kết quả khám phá

Trang 7

Dạy học khám phá phải đạt được mục đích là hình thành các tri thức khoa học cho học sinh, dưới sự chỉ đạo của giáo viên:

- Giáo viên tổ chức hợp tác giữa các nhóm để thống nhất về nội dung kiến thức của vấn đề

- Giáo viên đối thoại với học sinh để mỗi thành viên tự đánh giá, tự điều chỉnh rút ra tri thức khoa học

- Nội dung vấn đề học tập mà các nhóm học tập cần đạt được, do giáo viên chuẩn bị trước 2 Hoạt động của nhóm học sinh

- Sự phân nhóm học tập và thời gian làm việc trong nhóm của học sinh là do giáo viên chỉ đạo dựa trên nội dung của vấn đề học tập

- Sự hợp tác trong từng nhóm:

Mỗi nhóm suy nghĩ và có giải pháp riêng của bản thân để giải quyết vấn đề; sau

đó các thành viên trao đổi, tranh luận để tìm ra quan điểm chung trong tiến trình khám phá vấn đề, tuy nhiên vẫn có thể tồn tại những ý kiến của cá nhân chưa được thống nhất

- Sự hợp tác giữa các nhóm trong tập thể lớp:

+ Mỗi nhóm trình bày tóm tắt nội dung của vấn đề đã được phát hiện, trên

cơ sở đó có sự tranh luận giữa các nhóm về kết quả khám phá, dưới sự chỉ đạo của giáo viên

Trong quá trình này, giáo viên đóng vai trò như một trọng tài, lựa chọn những phán đoán, kết luận đúng của các nhóm để hình thành kiến thức mới

+ Trên thực tế số lượng học sinh trong mỗi lớp đông và thời gian có hạn, do

đó giáo viên cần theo dõi sự làm việc của các nhóm để từ đó chỉ cần từ 1 đến 3 nhóm trình bày là đi đến nội dung của vấn đề

Giáo viên không cần thiết phân tích những kết luận sai, chưa chính xác mà chỉ nêu lên kết luận đúng của từng nhóm, từ đó mỗi học sinh tự đánh giá, điều chỉnh nội dung của vấn đề

Trang 8

- Tùy theo từng vấn đề học tập mà giáo viên có thể vận dụng một hoặc cả hai hình thức hợp tác học tập nói trên:

+ Nếu vấn đề đuợc giải quyết thành công ở đa số các nhóm thì không cần hình thức hợp tác học tập giữa các nhóm nữa

+ Nếu là một vấn đề học tập khó, mang nội dung kiến thức mở rộng, hệ thống thì giáo viên giao cho học sinh tham khảo SGK chuẩn bị trước; sau đó giáo viên tổ chức sự hợp tác học tập theo lớp

- Hoạt động hợp tác học tập tích cực của học sinh thể hiện qua các yếu tố: + Mỗi học sinh, mỗi nhóm tích cực phát biểu, tranh luận

+ Ða số các nhóm đều phát hiện được nội dung bản chất của vấn đề, tuy nhiên có thể sự khái quát còn chưa đầy đủ, thiếu chính xác ở một vài nhóm + Giáo viên thu nhận được thông tin về quá trình tư duy của học sinh trong quá trình giải quyết vấn đề Ðó chính là mối liên hệ nghịch cần thiết để GV

tự điều chỉnh, tổ chức dạy học khám phá tốt hơn

3.2.Ví dụ vận dụng.

Bài 15: ADN

1 Mục đích: Học sinh thông qua hoạt động tích cực theo nhóm và quan sát

mô hình ADN khám phá ra cấu tạo của ADN

2 Hoạt động của giáo viên:

-Trước khi vào vấn đề giáo viên giới thiệu một cách sơ lược về ADN Sử dụng mô hình giới thiệu cho học sinh về ADN và cho học sinh quan sát 4 loại đơn phân Chú thích về ký hiệu (Đ: đường C5H10O4 , P: H3PO4, A: Adenin, T: Timin, G: Guanin, X: Xitozin) Sau đó chia lớp thành 6 nhóm, phát cho mỗi nhóm 1 mô hình ADN tháo rời, một mô hình ADN đã lắp sẵn

- Đặt vấn đề thảo luận, khám phá:

+ Mô tả cấu tạo của mỗi nucleotid? Điểm giống và khác nhau giữa các loại nucleotid?

Trang 9

+ Hai nucleotid kế tiếp liên kết với nhau nhờ các thành phần nào?

+ Các nuclêotid đứng đối diện nhau trên hai mạch polynucleotid liên kết với nhau như thế nào?

+ Các phân tử ADN khác nhau ở đặc điểm nào?

- Sau thời gian 10 phút giáo viên yêu cầu 2 hoặc 3 nhóm nêu kết quả thảo luận

3 Kết quả khám phá:

- Sau thời gian thảo luận học sinh tìm ra đáp án:

+ Mỗi nuclêotid gồm 3 thành phần: 1 phân tử Đ, 1 phân tử P và 1 trong 4 loại A, T, G, X Các nuclêotid giống nhau bởi thành phần Đ và P, khác nhau bởi thành phần A,T,G,X

+ Hai nuclêotid liên kết với nhau bởi thành phần Đ liên kết với P

+ Các nuclêotid đứng đối diện nhau trên hai mạch polynucleotid liên kết với nhau bởi thành phân bazơnitơ theo nguyên tắc: A - T, G - X

+ Các phân tử ADN khác nhau bởi trật tự sắp xếp các nuclêotid trên nó

- Giáo viên kết luận và bổ sung những phần còn thiếu trong nội dung kiến thức cho học sinh, từ đó đưa ra những khái niệm, tính đa dạng và đặc thù của ADN, nguyên tắc bổ sung, chu kỳ xoắn,

Bài 16: ADN VÀ BẢN CHẤT CỦA GEN

1 Mục đích: Học sinh dựa trên kiến thức đã có để so sánh và suy luận phát hiện

ra hiện tượng đúng và sai trong cơ chế tự sao của ADN

2 Hoạt động giáo viên:

- Giáo viên chuẩn bị bảng phụ có gắn sẵn 2 mô hình tổng hợp ADN trong đó 1

mô hình tổng hợp đúng và 1 mô hình tổng hợp sai về nguyên tắc bổ sung Yêu cầu học sinh nhắc lại về cấu trúc của ADN, ý nghĩa của nguyên tắc bổ sung trong cấu trúc của ADN

Trang 10

Nêu câu hỏi có vấn đề: Hình 1 và 2 mô tả quá trình tự nhân đôi của ADN.

+ Quá trình tự nhân đôi ADN diễn ra trên mấy mạch?

+ Em hãy xác định hình nào mô tả có hiện tượng sai? Tại sao?

+ Nhận xét gì về cấu tạo giữa 2 ADN con và ADN mẹ?

+ ADN được tổng hợp theo những nguyên tắc nào?

3 Tổ chức học sinh:

Mỗi học sinh quan sát, sau đó trao đổi trong nhóm từ 4 - 5 học sinh, thời gian 7 phút, yêu cầu 2 nhóm nêu kết quả thảo luận

4 Kết quả khám phá:

- Sau thời gian thảo luận học sinh tìm ra đáp án:

+ Quá trình nhân đôi ADN diễn ra trên 2 mạch

+Hình 1: Mô tả hiện tượng đúng

+Hình 2: Mô tả hiện tượng sai ở điểm sau: Có cặp bazơnitric bắt cặp không theo quy tắc bổ sung

+ 2 ADN con giống nhau và giống ADN mẹ Mooic ADN con mang 1 mạch của mẹ và 1 mạch mới được tổng hợp

+ ADN được tồng hợp theo nguyên tắc bổ sung và nguyên tắc bán bảo toàn

- Giáo viên nhận xét kết luận và bổ sung những kiến thức còn thiếu cho học sinh

4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

Sau một thời gian vận dụng “Phương pháp tổ chức các hoạt động học tập theo hướng dạy học khám phá” kết quả học tập bộ môn được nâng lên rõ rệt Không khí học tập ở mỗi lớp trở nên sôi nổi, các nhóm học sinh tích cực thỏa luận tìm

ra vấn đề và hăng hái phát biểu ý kiến của mình Một số học sinh yếu được giáo viên chủ động chỉ định đại diện cho nhóm trình bày kết quả thảo luận cũng trở nên mạnh dạn hơn Tôi đặc biệt quan tâm đến những học sinh có kết quả điều

Ngày đăng: 13/06/2018, 15:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w