1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy làm văn NGHỊ LUẬN xã hội CHO học SINH lớp 9 ở TRƯỜNG THCS

25 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 169 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy làm văn NGHỊ LUẬN xã hội CHO học SINH lớp 9 ở TRƯỜNG THCS NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy làm văn NGHỊ LUẬN xã hội CHO học SINH lớp 9 ở TRƯỜNG THCS NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy làm văn NGHỊ LUẬN xã hội CHO học SINH lớp 9 ở TRƯỜNG THCS NÂNG CAO HIỆU QUẢ dạy làm văn NGHỊ LUẬN xã hội CHO học SINH lớp 9 ở TRƯỜNG THCS

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ

HỘI CHO HỌC SINH LỚP 9 Ở TRƯỜNG THCS

Họ và tên:

Chức vụ: P Hiệu trưởng SKKN thuộc môn: Ngữ văn

, năm 2020

Trang 2

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

STT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt

Trang 3

I Đặt vấn đề 3-4

2 Các biện pháp giải quyết vấn đề 6-18

Trang 4

I ĐẶT VẤN ĐỀ:

Môn Ngữ văn là môn học về khoa học xã hội và nhân văn, có nhiệm vụ cungcấp cho học sinh những kiến thức về tiếng Việt, văn học và làm văn, hình thành vàphát triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận tác phẩm vănhọc, bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cho con người

Cùng với việc rèn kĩ năng đọc hiểu, kĩ năng sử dụng tiếng Việt, phần Tập làmvăn được chú trọng vì đây là phần thể hiện rõ nhất kĩ năng thực hành, sáng tạo củahọc sinh Trong chương trình Ngữ văn THCS, học sinh được học và thực hành tạolập 6 kiểu văn bản trong đó có văn bản nghị luận gồm : nghị luận văn học và nghịluận xã hội

Trong những năm gần đây, việc làm văn nghị luận xã hội gần như đã trởthành yêu cầu bắt buộc trong các kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông, thi vàoCao đẳng, Đại học Không chỉ ở các đề thi tuyển sinh vào các trường Đại học, Caođẳng mà các đề thi chọn học sinh giỏi Ngữ văn lớp 8, 9, thi vào lớp 10 Trung họcphổ thông, cũng thường có một câu về nghị luận xã hội

Ví dụ: Câu 2, đề thi tuyển sinh vào lớp 10 chuyên văn THPT chuyên HùngVương Phú Thọ năm học 2011- 2012:

Hãy viết một đoạn văn nghị luận (từ 15 – 20 câu) trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa câu nói sau: Tôi đã khóc vì không có giày để đi cho đến khi nhìn

thấy một người không có chân để đi giày.

Câu 2, đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT chuyên Đại học Quốc gia Hà Nội

năm học 2012- 2013

" Mẹ sẽ đưa con đến trường, cầm tay con dắt qua cánh cổng, rồi buông tay

mà nói:" Đi đi con, hãy can đảm lên, thế giới này là của con, " ( theo Lý Lan, Cổng trường mở ra, SGK Ngữ văn 7, tập một, NXB Giáo dục)

Từ việc người mẹ không "cầm tay" con dắt con đi tiếp mà buông tay để con tự

đi, hãy viết một đoạn văn theo phương pháp diễn dịch (khoảng 12 câu) bàn về tính

tự lập

Trang 5

Mục đích của việc đưa nghị luận xã hội vào các đề thi nhằm phát huy tínhtích cực của học sinh, gắn lý luận với thực tiễn, tăng cường sự gắn bó của học sinhvới đời sống xã hội, phát triển cho học sinh năng lực chủ động, sáng tạo Cho các

em cơ hội được phát biểu những suy nghĩ, ý kiến cá nhân của mình trước nhữnghiện tượng, vấn đề xã hội, các vấn đề tư tưởng đạo lý mà không bị lệ thuộc vào cácbài văn mẫu hay những ý tưởng có sẵn Các đề nghị luận xã hội hay, đều nhận đượcnhững phản hồi tích cực từ các em học sinh và dư luận xã hội

Vậy, làm thế nào để giúp học sinh THCS làm tốt kiểu bài nghị luận xã hội ? Nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá trong bộ môn Ngữ văn, phát huy tính tính cực, sáng tạo của học sinh trong cách tạo lập văn

bản, tôi lựa chọn đề tài SKKN “ Nâng cao hiệu quả dạy làm văn nghị luận xã hội cho học sinh lớp 9 ở trường THCS”.

Trang 6

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

1 Thực trạng của vấn đề dạy và học làm văn nghị luận xã hội cho học sinh lớp 9 ở Trường THCS :

1.1 Thuận lợi:

Đối với học sinh: Ở cấp THCS, học sinh bắt đầu được làm quen và tạo lập

các văn bản nghị luận từ lớp 7 và được nâng cao dần ở các lớp 8 và lớp 9 Số tiếthọc dạy và làm tập làm văn nghị luận gồm có 40 tiết trong đó lớp 7: 12 tiết lớp 8:

12 tiết, lớp 9: 17 tiết Riêng ở lớp 9 số tiết dành cho nghị luận xã hội là: 7 tiết

Như vậy, đối với học sinh lớp 9, việc tạo lập văn bản nghị luận không cònquá mới mẻ Học sinh đã nắm được các khái niệm cơ bản về luận điểm, luận cứ, lậpluận, các phương pháp lập luận giải thích, chứng minh; biết cách trình bày một bàivăn nghị luận theo bố cục hoàn chỉnh Những đề nghị luận xã hội hay cũng đã gâyđược hứng thú cho các em học sinh, đặc biệt với đối tượng học sinh giỏi Nhiều bàiviết của học sinh đã thể hiện được những suy nghĩ khá sâu sắc trước những vấn đề,hiện tượng xã hội

Đối với giáo viên: Giáo viên được tham gia các lớp bồi dưỡng về chuyên

môn nghiệp vụ của Sở giáo dục và đào tạo và Phòng giáo dục và đào tạo đầy đủ,thường xuyên Ban Giám hiệu nhà trường tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất, thiết

bị cho việc dạy và học

Tổ chuyên môn có giáo viên cốt cán, có kinh nghiệm về phương pháp dạyhọc Đa số giáo viên có tinh thần học hỏi Tổ cũng thường xuyên tổ chức cácchuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy văn nghị luận nóiriêng

Tài liệu tham khảo phục vụ cho dạy học phần Tập làm văn nghị luận kháphong phú Giáo viên, có thể tham khảo ở nhiều nguồn: sách tham khảo, qua mạngInternet…

1.2 Những khó khăn:

Trang 7

Đối với học sinh: Kiểu bài nghị luận xã hội còn khá mới mẻ với học sinh

THCS, do đó khi phải trình bày những suy nghĩ, ý kiến cá nhân về các vấn đề tưtưởng đạo lý, hiện tượng xã hội…học sinh còn khá lúng túng Có thể thấy do một

số nguyên nhân cơ bản sau:

Đề văn nghị luận xã hội thường là đề mở hay nhưng lại khó, đòi hỏi ở họcsinh tính độc lập sáng tạo, song trên thực tế nhiều em lại chưa nắm chắc kỹ nănglàm bài, chưa biết triển khai luận điểm, luận cứ, còn có thói quen sao chép vănmẫu, các ý tưởng có sẵn, lười suy nghĩ, ngại viết văn Một số em lại cho rằng dạng

đề này khô khan không có cảm hứng để viết

Ngoài ra, kiến thức về văn hóa, xã hội, vốn sống của các em còn quá ít Bởivậy, các em gặp khá nhiều khó khăn khi làm dạng bài này

Đối với giáo viên: Thời lượng dành cho dạy làm văn nghị luận xã hội không

nhiều, thời gian dành luyện tập cho học sinh hạn chế Việc cung cấp kiến thức xãhội cho học sinh trong các giờ học là điều rất khó vì số tiết quy định trong chươngtrình có giới hạn

Một bộ phận giáo viên còn thiếu kinh nghiệm, chưa thật tâm huyết và đầu tưcho chuyên môn, chưa nắm bắt kịp yêu cầu đổi mới trong kiểm tra và đánh giá họcsinh

Xuất phát từ thực trạng đó tôi xin đề xuất một số biện pháp nhằm nâng caohiệu quả dạy tập làm văn nghị luận cho học sinh lớp 9

2 Các biện pháp để giải quyết vấn đề:

2.1 Bồi dưỡng cho học sinh về kiến thức xã hội và đời sống:

Thứ nhất, để học sinh có một vốn kiến thức xã hội nhất định khi làm bài,

giáo viên nên giới hạn cho học sinh phạm vi nghị luận mà đề thi thường ra, hướng

dẫn các em cách tìm hiểu tích lũy kiến thức

Đối với Nghị luận về một tư tưởng đạo lý, phạm vi nghị luận thường đề cập

đến những vấn đề gần gũi, thiết thực với lứa tuổi học sinh như:

- Các mối quan hệ trong gia đình: tình mẹ con, cha con, anh em

Trang 8

- Các mối quan hệ trong nhà trường, xã hội: tình thầy trò, tình bạn, tìnhngười.

- Lối sống, cách ứng xử; phẩm chất, tâm hồn: lòng dũng cảm, trung thực, vịtha, nhân hậu, thói ích kỷ, đố kỵ, cách cho và nhận

Nghị luận về một hiện tượng xã hội, phạm vi nghị luận thường đề cập đến

những hiện tượng có tính chất điển hình trong cuộc sống như:

- Những hiện tượng tích cực: phong trào đền ơn đáp nghĩa, ủng hộ nạn nhânchất độc da cam, hiến máu nhân đạo, tấm gương vượt khó

- Những hiện tượng tiêu cực: nghiện game, bạo lực học đường, vi phạm antoàn giao thông, ô nhiễm môi trường, lối sống vô cảm…

Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu, tích lũy, giáo viên cũng có thể

hỗ trợ học sinh bằng cách cung cấp cho các em một số những khái niệm, nghĩa củamột số từ ngữ khó mà các em chưa hiểu rõ đề học sinh có cách hiểu đúng như: thếnào là vị tha, lòng dũng cảm, nhân đạo, đố kỵ, vô cảm…

Thứ hai, rèn cho học sinh thói quen thường xuyên đọc ghi chép tích lũy tư

liệu, dẫn chứng từ các nguồn: Internet, báo Thiếu niên, Văn học và tuổi trẻ; và một

số sách tham khảo như Quà tặng cuộc sống; Hạt giống tâm hồn, danh ngôn… Rèn

được thói quen này, không chỉ tốt cho các em trong việc làm văn mà còn tạo chocác em ý thức quan tâm và suy nghĩ về trách nhiệm của bản thân trước các vấn đềcủa đời sống

2.2 Rèn cho học sinh kỹ năng làm bài:

2.2.1 Học sinh phải nắm chắc các phương pháp lập luận; giải thích, chứng minh, bình luận vì đây là những phương pháp lập luận cơ bản trong bài làm văn nghị luận xã hội.

a Giải thích:

Đề bài nghị luận xã hội thường đưa ra những khái niệm hoặc những câu danhngôn, yêu cầu người viết tìm hiểu và lý giải nội dung ý nghĩa bên trong Để làm

Trang 9

sáng tỏ vấn đề, người viết phải đi vào lý giải từ ngữ, khái niệm, tìm hiểu nghĩa đen,nghĩa bóng, nghĩa hẹp, nghĩa rộng, để hiểu được đúng vấn đề.

Bước kết thúc của thao tác giải thích là rút ra điều chúng ta cần vận dụng khi

đã tìm hiểu được chân lý Phương hướng để vận dụng những chân lý này vào cuộcsống hàng ngày, tuỳ theo cá thể hay cho cộng đồng mà có hướng vận dụng phùhợp, và mỗi chúng ta phải như thế nào?

Từ những điều nói trên, có thể rút ra một sơ đồ giải thích tổng quát theo babước:

- Làm sáng tỏ điều mà người ta muốn nói (giải thích)

- Trả lời vì sao người ta đã nói như vậy? (tại sao?)

- Từ chân lý được nói lên, rút ra bài học gì trong thực tiễn? (để làm gì)

b Chứng minh:

Làm sáng tỏ chân lý bằng các dẫn chứng và lý lẽ Khi đã chấp nhận cái chân

lý thể hiện trong một phát ngôn nào đó, nhiệm vụ của ta là phải thuyết phục ngườikhác cũng chấp nhận như mình bằng những dẫn chứng rút ra từ thực tế cuộc sốngxưa và nay; từ lịch sử, từ văn học (nếu đề yêu cầu) và kèm theo dẫn chứng là những

lý lẽ dẫn dắt, phân tích tạo ra lập luận vững chắc, mang đến niềm tin cho ngườiđọc

Bước đầu tiên là phải tìm hiểu điều cần phải chứng minh , không những chỉ

bản thân mình hiểu, mà còn phải làm cho người khác thống nhất, đồng tình vớimình cách hiểu đúng nhất

Tiếp theo là việc lựa chọn dẫn chứng Từ thực tế cuộc sống rộng lớn, tư liệulịch sử rất phong phú, ta phải tìm và lựa chọn những dẫn chứng xác đáng nhất, tiêubiểu, toàn diện nhất Dẫn chứng phải thật sát với điều đang muốn làm sáng tỏ vàkèm theo dẫn chứng phải có lý lẽ phân tích, chỉ ra những nét, những điểm ta cầnlàm nổi bật trong các dẫn chứng kia Để dẫn chứng và lý lẽ có sức thuyết phục cao,phải sắp xếp chúng thành một hệ thống mạch lạc và chặt chẽ: theo trình tự thời

Trang 10

gian, không gian, từ xưa đến nay, từ xa đến gần, từ ngoài vào trong hoặc ngượclại sao cho hợp logic.

Bước kết thúc vẫn là bước vận dụng, đặt vấn đề vào thực tiễn cuộc sống hômnay để đề xuất phương hướng nỗ lực Cần tránh công thức và rút ra kết luận chothoả đáng, thích hợp với từng người, hoàn cảnh, sự việc

Từ những điều nói trên, giáo viên hướng dẫn học sinh rút ra một sơ đồ tổngquát theo ba bước:

- Làm rõ điều cần chứng minh trong luận đề được nêu lên

- Lần lượt đưa ra các dẫn chứng và lý lẽ để làm sáng tỏ điều cần chứng minh

- Rút ra kết luận về phương hướng nỗ lực

c Bình luận:

Đối với học sinh lớp 9, giáo viên chỉ hướng dẫn và yêu cầu và học sinh ở mức

độ đơn giản là bày tỏ thái độ của bản thân như: khen chê, đồng tình hay bác bỏtrước một vấn đề, hiện tượng xã hội Để khách quan và tránh phiến diện, ta phảixem xét kĩ vấn đề để có thái độ đúng đắn Trước một vấn đề xã hội, có thể có bakhả năng:

2.2.2 Nhận dạng đề nghị luận xã hội, mô hình hóa cấu trúc bài văn:

Muốn học sinh có kỹ năng làm bài, trước hết giáo viên phải giúp các em

nhận diện được các dạng bài nghị luận xã hội và kỹ năng làm từng dạng bài cụ thể

để các em biết định hướng và triển khai bài viết Theo người viết, đối với lớp 9 có

thể hướng dẫn cho các em một số dạng bài nghị luận xã hội thường gặp sau:

a Dạng nghị luận về một tư tưởng, đaọ lý:

Về đề tài nghị luận

Trang 11

- Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống ).

- Về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, tính khiêm tốn )

- Về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em…)

- Về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…)

Về cấu trúc bài thường gồm các ý cơ bản sau:

- Giới thiệu tư tưởng, đạo lý cần nghị luận

- Giải thích tư tưởng, đạo lý cần bàn luận (từ ngữ, khái niệm, nghĩa đen, nghĩa bóng…)

- Bàn luận về tư tưởng đạo lý

Đề 1: Nêu suy nghĩ cùa anh (chị) về câu ngạn ngữ Hi Lạp:

“Học vấn có những chùm rễ đắng cay, nhưng hoa quả lại ngọt ngào”

Học sinh có thể lập luận theo nhiều cách nhưng bài cần đảm bảo một số ý cơ bảnsau :

Ý 1: Giải thích câu ngạn ngữ:

Học vấn là sự hiểu biết do học tập mà có; là quá trình con người thu nhận kiếnthức từ nhà trường, thầy cô, sách vở, bạn bè …

- Chùm rễ đắng cay: hiểu theo nghĩa rộng: trên con đường học tập, chúng ta

phải đầu tư công sức, thời gian, tiền bạc, phải vượt qua rất nhiều khó khăn, giannan, mà không phải lúc nào kết quả cũng tốt đẹp

- Hoa quả ngọt ngào: những thành quả tốt đẹp sẽ đạt được sau một quá trình

dài nỗ lực học tập Có học vấn con người mới có điều kiện làm chủ thiên nhiên, xãhội và bản thân mình

Ý 2: Bàn luận về kinh nghiệm học tập và giá trị của học vấn:

Trang 12

- Học vấn là con đường tiếp thu kiến thức của nhân loại, để học tập có hiệuquả chúng ta phải đầu tư công sức, tiền bạc, thời gian…

- Trong đó, sự nỗ lực của bản thân là điều quan trọng Sự nỗ lực đó thể hiệnnghị lực và quyết tâm cao của người học trong việc vượt lên hoàn cảnh, thử thách

- Chúng ta sẽ gặt hái những thành công tốt đẹp không chỉ cho bản thân ta

mà còn góp phần làm cho cuộc sống tươi đẹp hơn

- Tuy nhiên, hoa quả của học vấn không chỉ là sự giàu sang, địa vị xã hội

mà là sự hiểu biết cái Chân, Thiện, Mĩ để hoàn thiện nhân cách, đạo đức con người.(Làm sáng tỏ tư tưởng trên bằng việc phân tích một số ví dụ lấy từ các tấmgương học tập, phấn đấu và rèn luyện gian khổ để có được những vinh quang caoquý…)

Ý 3: Bài học nhận thức và hành động:

Nhận thức và hành động của bản thân trong học tập và cuộc sống

Đề số 2: Nhà bác học người Pháp LuisPaster đã nói : “ Học vấn không có

quê hương nhưng người học vấn phải có Tổ quốc”.

Hãy viết một bài văn nghị luận ( không quá hai trang giấy thi) trình bàycách hiểu của em về ý kiến trên

Về nội dung bài viết cần đảm bảo các ý cơ bản sau:

Ý 1: Học vấn là toàn bộ kiến thức của nhân loại được tích luỹ từ hàng ngànnăm Người học phải phần đấu suốt đời vì học có thể xem là quyển vở không cótrang cuối

- Học vấn không mang tính quốc tế, mỗi phát minh của đất nước con ngườinơi nào đó đều trở thành phát minh của nhân loại

- Việc học không giới hạn bởi môi trường, biên giới, mỗi người đều cóquyền chọn cho mình môi trường học tập tốt nhất

Ý 2: Từ “ nhưng” để liên kết, đối lập nhằm làm nổi bật vế thứ hai của câunói

Trang 13

– Tổ quốc là quê hương, đất nước, nơi sinh ra ta và là nơi ta lớn lên; nơi ở của tổ tiên ta, dòng họ ta Mỗi người đều phải có Tổ quốc.

- Người học là người chủ của học vấn đó phải có quê hương bản quán, người

ta không thể học cao, học rộng mà quên mất mình là ai, quên mất cội nguồn

– Mỗi người phải sống vì Tổ quốc mình, dân tộc mình

– Phải phấn đấu không ngừng vì sự phồn vinh của Tổ quốc, vì lòng tự hào dântộc Việc học phải hướng đến mục đích phục vụ cho quê hương, Tổ quốc

b Dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống :

Về đề tài nghị luận thường đề cập đến các hiện tượng:

- Môi trường (hiện tượng Trái đất nóng lên, thiên tai, ô nhiễm…)

- Ứng xử văn hóa (lời cám ơn, lời xin lỗi, cách nói năng nơi công cộng…)

- Hiện tượng tiêu cực (nghiện thuốc lá, bạo lực gia đình, học sinh đánh nhautrong trường học…)

- Hiện tượng tích cực (hiến máu nhân đạo, chương trình mùa hè xanh, xâynhà tình nghiã, người tốt việc tốt…)

Về cấu trúc bài thường gồm các ý cơ bản sau:

- Giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận

- Nêu rõ biểu hiện của hiện tượng

- Bàn luận về hiện tượng

+ Chỉ ra nguyên nhân dẫn đến hiện tượng

+ Phân tích mặt đúng, sai, lợi, hại

(Dùng dẫn chứng từ cuộc sống để chứng minh)

- Bày tỏ thái độ, ý kiến của bản thân về hiện tượng trên

Tuy nhiên, nhưng cấu trúc trên chỉ mang tính chất tương đối, học sinh cầnphải vận dụng linh hoạt trong quá trình làm bài

Một số đề tham khảo:

Ngày đăng: 21/08/2020, 09:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w