1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tieu luan he thong chinh tri o co so

21 239 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 115,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay một số nhà khoa họcNga coi hệ thống chính trị như một tổ hợp phức tạp các thể chế nhà nước, cácđảng chính trị, các tổ chức xã hội, trong khuôn khổ đó diễn ra đời sống chính trị

Trang 1

C.Mác và Ph.Ăngghen đã tiếp cận khái niệm hệ thống chính trị như một chế

độ

chính trị theo tính hệ thống của nó và sử dụng những thuật ngữ tương đương như:

"hệ thống cai trị", "hệ thống đẳng cấp chính trị", "cơ cấu chính trị", "hình thứcchính

trị", "thiết chế xã hội và chính trị", "cơ cấu chính quyền" vv

Trang 2

Kế thừa và phát triển những tư tưởng về dân chủ và hệ thống chính trị của

C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin tiếp tục hoàn thiện khái niệm dân chủ và hệthống

chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trên thực tế, V.I.Lênin chưa sử

dụng khái niệm "hệ thống chính trị" trong các bài nói, bài viết của mình, nhưngông

thường dùng khái niệm "chuyên chính vô sản" để nghiên cứu về thiết chế chính trịcủa

xã hội Mà hệ thống chuyên chính vô sản theo quan niệm của Lênin bao gồm: Nhà

nước của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân giữ vai tròlãnh

đạo nhà nước và các tổ chức quần chúng mà tiêu biểu là công đoàn Như vậy, nếuxét

theo nội hàm, những thuật ngữ mà C.Mác và Ph.Ăngghen đưa ra và đượcV.I.Lênin kế

thừa, phát triển với thuật ngữ hệ thống chính trị hiện đại có liên quan chặt chẽ vớinhau

và được hiểu là tương đồng

Đối với khoa học chính trị hiện đại, hệ thống chính trị là một phạm trù rất

quan trọng, bởi vì nó tổng hợp những vấn đề của thực tiễn chính trị Hơnnữa,

Trang 3

những vấn đề đó không phải được xem xét rời rạc, lộn xộn, biệt lập mà là xem xét trong một chỉnh thể có tính hệ thống, có hình thái phát sinh, phát triển, có chủ thể, đối tượng, với các mối quan hệ chức năng, theo những vị trí, vai trò nhất định; có

8

"đầu vào" và "đầu ra"; có nội dung và hình thức, có hiện tượng và bản chất Vì vậy, hiện nay quan niệm về hệ thống chính trị còn rất khác nhau, phụ thuộc vào khuynh hướng, trường phái chính trị học khác nhau

Ở phương Tây, có hai cách tiếp cận cơ bản về hệ thống chính trị Thứ nhất,

cách tiếp cận thể chế: coi hệ thống chính trị là tập hợp các thể chế chính trị (gồm các tổ chức nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội) và những mối quan hệ qua lại giữa chúng Thứ hai, cách tiếp cận hệ thống: coi hệ thống chính trị không chỉ bao gồm cấu trúc thể chế và các quan hệ giữa chúng, mà còn là những chuẩn mực chính trị, vai trò chính trị, hành vi chính trị Từ hai cách tiếp cận cơ bản này phát triển nên một số quan điểm khác nhau về hệ thống chính trị như: Nhà chính trị học

Mỹ D.Istons, trong tác phẩm Hệ thống chính trị (1953), Giới hạn sự phân tíchchính trị

Trang 4

(1965) cho rằng: "Hệ thống chính trị giống như một bộ máy tự phát triển, tự điềutiết

và phản ứng với những tác động từ bên ngoài Hệ thống đó có "đầu vào", đó là nơithu

nhận những tác động, yêu cầu, ủng hộ của môi trường xã hội và văn hóa xãhội

quanh nó Còn "đầu ra" là những quyết định chính trị và hành động chính trị đểthực

hiện các quyết định đó" [43, tr.33-34] Cách tiếp cận khác của nhà chính trị học Mỹ

G.Almold cho rằng: "Hệ thống chính trị đó là các kiểu khác nhau của hành vichính trị,

của các tổ chức nhà nước cũng như phi nhà nước Các kiểu hành vi đó được chia rahai cấp độ là: thể chế và định hướng" [43, tr.34-35] Một số cách tiếp cận khác cho

rằng: "Hệ thống chính trị là cơ chế để thực hiện và giải quyết các vấn đề, đồng thời

để

hoạch định và kiểm soát sự thực hiện các quyết định cũng như kiểm soát các quan

hệ

quản lý của Nhà nước" [43, tr.35]

Đến đầu những năm 80, khái niệm hệ thống chính trị được khẳng định trong các tài liệu triết học, chính trị học của Liên Xô Hệ thống chính trị được hiểu theo cách tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội, là bộ phận của thượng tầng kiến trúc được

Trang 5

quyết định bởi hạ tầng kinh tế, theo kết cấu xã hội giai cấp Hệ thống chính trị là

một kiểu xác định của hình thái kinh tế - xã hội Hiện nay một số nhà khoa họcNga

coi hệ thống chính trị như một tổ hợp phức tạp các thể chế nhà nước, cácđảng

chính trị, các tổ chức xã hội, trong khuôn khổ đó diễn ra đời sống chính trị và thực thi quyền lực nhà nước, quyền lực xã hội

9

Ở nước ta, đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề tài khoa học đề cập đến hệ

thống chính trị, hoặc những khía cạnh khác nhau của hệ thống chính trị, đã cókhông

ít định nghĩa hệ thống chính trị được nêu ra Có thể khái quát theo hai quan niệm: Quan niệm thứ nhất, xem hệ thống chính trị chỉ bao gồm những tổ chức chính trị -

Trang 6

hội mang bản chất của giai cấp cầm quyền, hoặc phục vụ cho quyền lực chính trịcủa

giai cấp đó Theo đó, hệ thống chính trị đồng nhất với phạm trù "hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền" Quan niệm thứ hai, xem trong hệ thống chính trị,

ngoài hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền với tư cách là bộ phận cơbản,

quan trọng nhất, quy định bản chất và chức năng cơ bản của toàn bộ hệ thống, còn

củng cố, duy trì và phát triển chế độ xã hội đương thời" [19, tr.197]

Nhìn chung, ở Việt Nam, cách tiếp cận khái niệm hệ thống chính trị là mô tả các yếu tố thực thể cơ bản cấu thành và phản ánh chức năng tổng quát của hệ thốngchính trị Phù hợp với quan điểm đó, có thể nêu lên định nghĩa chung về hệ thống chính trị như sau: "Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (các cơ quan quyền lực nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức và các phong

Trang 7

trào chính trị ) được xây dựng trên các quyền và chuẩn mực xã hội, phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và quan

hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị" [55, tr.262]

Như vậy, có thể thấy, hệ thống chính trị là một hệ thống cấu trúc, một chỉnh thể bao gồm các bộ phận cấu thành, có quan hệ mật thiết với nhau, có vị trí, chức năng, vai trò khác nhau Hệ thống ấy được thể hiện ở những cấp khác nhau: trung

ương, địa phương, cơ sở Cấu trúc hệ thống chính trị rất đa dạng, ở mỗi quốc gialại

có đặc thù khác nhau, nhưng cơ bản gồm 3 bộ phận: Đảng chính trị, Nhà nước, các

tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp

1.1.1.2 Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa

Trong các xã hội nô lệ, phong kiến, tư bản tuy trình độ phát triển về mọi mặt

rất khác nhau, nhưng đều có chung bản chất là dựa trên cơ sở của chế độ chiếmhữu

Trang 8

Ở các nước xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị ra đời dựa trên tiền đề chính

trị là thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhângiành

chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản, tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng

hội mới Vì vậy, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể thực sự của quyền lực chính trị, tự định đoạt quyền chính trị của mình Dù đã trải qua những thăng trầm, biến cố trong quá trình phát triển, nhưng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa vẫn luôn kiên định và nhất quán mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, dân

Trang 9

chủ, không có sự đối kháng giai cấp, không có sự phân biệt giàu nghèo

Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác

nhau, tùy theo góc độ tiếp cận, các nhà nghiên cứu đưa ra các định nghĩa khácnhau

Tuy nhiên, có thể thấy rõ điểm chung mà các định nghĩa nêu lên là xem hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là cách thức tổ chức quyền lực chính trị mà giai cấp côngnhân nắm quyền thực hiện phù hợp với lợi ích của giai cấp mình Các tác giả trong

cuốn "Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới",nhà

xuất bản Chính trị quốc gia (1999) đã khẳng định: "Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là một chỉnh thể bao gồm Nhà nước chuyên chính vô sản, Đảng Cộng sản và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp và mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố nhằm đảm bảo quyền lực của nhân dân" [6, tr.47] Cũng có định nghĩa cho rằng:

"Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là liên minh các thiết chế chính trị - xã hội được thành lập, hoạt động trong mối liên hệ chặt chẽ mà vai trò lãnh đạo thuộc về Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhằm thực hiện triệt để quyền lực nhân dân xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội" [52, tr.301]

Đối với nước ta, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể chân

Trang 10

 chính của quyền lực Cho nên, hệ thống chính trị Việt Nam là cơ chế, công

cụ thựchiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Hệ

thống chính trị ở nước ta hiện nay về mặt thành tố bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

và các tổ chức chính trị - xã hội Các bộ phận này được kết nối với nhau theo những

quan hệ, cơ chế và nguyên tắc vận hành nhất định, trong một môi trường văn hóa

chính trị đặc thù Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân của hệ thống

chính trị, giữ vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trụ cột, là trung tâm của hệ thống chính trị; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội là cơ sở chính trị của nhà nước và xã hội Về mặt tổ chức bộ máy, hệ thống chính trị nước ta được tổ chức thành 4 cấp gắn liền với nền hành chính quốc gia: cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố; cấp huyện, quận, thị xã và cấp xã, phường, thị trấn

Hệ thống chính trị Việt Nam được tổ chức theo mô hình có đỉnh quyền lực

So với nhiều nước trên thế giới, ngay cả những nước có cùng mô hình hệ thống chính trị, thì hệ thống chính trị Việt Nam vẫn có những đặc điểm khác biệt Những

Trang 11

đặc điểm chủ yếu của hệ thống chính trị Việt Nam là:

Một là, hệ thống chính trị ở Việt Nam là hệ thống chính trị nhất nguyên, chỉ

do một Đảng Cộng sản lãnh đạo Nó thể hiện ở chỗ, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh được coi là nền tảng tư tưởng chung của cả hệ thống; chủ nghĩa

xã hội là mục tiêu chung; không chấp nhận các khuynh hướng chính trị trái với chủ

nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trái với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

Trong hệ thống chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên, nhưng đồng thời cũng giữ vai trò lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị Sự lãnh đạo của Đảng đốivới xã hội nói chung, hệ thống chính trị nói riêng xuất phát từ điều kiện cụ thể của nước ta như: truyền thống lịch sử; phẩm chất vốn có của Đảng; những thành tựu to lớn mà Đảng ta đem lại cho nhân dân trong quá trình lãnh đạo cách mạng

Hai là, các tổ chức chính trị - xã hội do Đảng Cộng sản thành lập, có lịch

sử đấu tranh vẻ vang, có vai trò to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ

và xây dựng đất nước Các đoàn thể quần chúng luôn gắn mình với sự nghiệp cao cả của Đảng và lịch sử hào hùng của dân tộc, thể hiện rõ là các tổ chức quần chúng có chức năng xã hội gắn với đời sống của các tầng lớp nhân dân, vừa tổ

Trang 12

Ba là, hệ thống chính trị nước ta là hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa được xây dựng theo mô hình Xô viết, mặc dù đang trong quá trình đổi mới, hoàn thiện nhưng ảnh hưởng của chế độ tập trung quan liêu, bao cấp trong mô hình ấy đang còn khá nặng nề cả trong cách nghĩ, cách làm của đảng viên và nhân dân, cũng nhưtrong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước

Bốn là, nền hành chính nhà nước, một bộ phận quan trọng của hệ thống chính trị

còn rất non trẻ, lại hầu như không được kế thừa gì từ quá khứ (chế độ thực dân phong

kiến), bị ảnh hưởng của mô hình tập trung quan liêu cao độ, nhưng phải thực hiện rất

Trang 13

nhiều nhiệm vụ lịch sử mới mẻ và to lớn như: đưa nước ta từ một nước nông

dân, do dân, vì dân

Những đặc điểm này vừa quy định kết cấu, tổ chức, vận hành và các mối

quan hệ, vừa cho thấy những khó khăn thách thức mà chúng ta phải giải quyết, vừađặt ra những yêu cầu đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta khác với các hệ thống chính trị khác trên thế giới

1.1.2 Hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay

Trang 14

rất phong phú, đa dạng từ một cộng đồng người tập hợp lại theo lứa tuổi, giới tính,

công việc, sở thích, nghề nghiệp hay gia đình, cơ quan, công sở, một xí nghiệp, doanh

nghiệp, công ty, một bệnh viện, một trường học, một viện nghiên cứu Tuy nhiên, những loại hình và mô hình này không nằm trong đối tượng nghiên cứu của đề tài

13

Cơ sở được nghiên cứu ở đây là khái niệm dùng để chỉ một cấp quản lý trong

hệ thống bốn cấp quản lý hành chính nhà nước hiện hành ở nước ta Ở nước ta hiện

nay, xã, phường, thị trấn được gọi chung là cấp cơ sở và do số lượng xã là tuyệt đối,

thị trấn cũng tương đương với xã; còn phường ở các tỉnh vẫn gắn một phần với sảnxuất và cư dân nông nghiệp nên cấp cơ sở được gọi chung là cấp xã

Đến tháng 12 năm 2012 ở nước ta có 11.120 đơn vị cơ sở xã, phường, thị trấn [45, tr.13] Đây là địa bàn cư trú, làm ăn của nhân dân lao động, nơi diễn ra mọi

hoạt động của đời sống xã hội Ở đó, vừa diễn ra các hoạt động sản xuất, kinh

doanh của người lao động, vừa diễn ra quá trình trao đổi, lưu thông hàng hóa, là đầu

Trang 15

mối của thị trường, nơi hình thành các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sản xuất vàtiêu dùng Nói tới cơ sở là nói tới nơi diễn ra các hoạt động của người dân và cuộc

sống của họ; nói tới các hình thức tổ chức hoạt động sống của cộng đồng và các mối

quan hệ xã hội giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng Tại đây, vai

trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động của các tổ chức chính

trị - xã hội đều hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng

an ninh, giữ vững ổn định chính trị và tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư Tất

cả những hoạt động đó đều nằm trong khuôn khổ lãnh đạo, quản lý, điều hành trực tiếp của toàn bộ hệ thống chính trị cơ sở

Khi nghiên cứu về hệ thống chính trị cơ sở có nhiều cách tiếp cận khác nhau Cách tiếp cận thứ nhất, xem xét hệ thống chính trị cơ sở như một hệ thống

về mặt tổ chức và chức năng của các bộ phận hợp thành: tổ chức Đảng, chính quyền

(Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân), Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân (Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh) ở

xã,

Trang 16

phường, thị trấn Mỗi bộ phận hợp thành hệ thống chính trị cơ sở có vị trí, vai trò

chức năng khác nhau, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau, cụ thể:

Đảng bộ cơ sở, mà nòng cốt là Ban Chấp hành Đảng bộ là hạt nhân chính trị, trực tiếp thực hiện vai trò lãnh đạo thông qua việc triển khai, đề ra các chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết định hướng cho chính quyền triển khai các hoạt độngquản lý, điều hành trên phạm vi địa bàn; bằng hoạt động của đảng viên trong bộ

máy chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở; bằng việc giới thiệu đảng

viên ưu tú tham gia giữ các chức vụ chủ chốt trong chính quyền và các đoàn thể

14

nhân dân; bằng công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục; bằng sự gương mẫu của đảng viên; bằng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước đối với cán bộ và đảng viên

Chính quyền là trụ cột của hệ thống chính trị cơ sở, có vai trò quản lý, điều

Trang 17

hành toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội trên phạm vi địa bàn theo Hiến pháp và pháp

luật Trong chính quyền cơ sở, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước

nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, là cơ quan hành chính nhà

nước ở cơ sở, thực hiện nhiệm vụ theo nghị quyết của Hội đồng nhân dân, nhiệm

vụ do

cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền và chỉ đạo tổ chức thực hiện, đôn đốc,

kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ tự quản của địa phương

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có chức năng tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân ở cơ sở thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng,

chính sách, pháp luật Nhà nước, của chính quyền cơ sở; củng cố, tăng cường khối đại

đoàn kết toàn dân, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; chăm lo lợi ích và bảo vệ quyền lợi chính đáng của hội viên, đoàn viên Đồng thời, thực hiện chức năng giámsát, phản biện đối với hoạt động của chính quyền, đối với cán bộ, công chức, đảng

Ngày đăng: 16/04/2018, 20:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w