Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực là tương xứng với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang là vấn đề trung tâm, là khâu đột phá và phải đi trước một bước như Đại hộ
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU.
Bước vào thế kỷ XXI, khi mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bảo, cùng với vấn đề hòa bình, toàn cầu hóa, bảo vệ môi trường…ở một diện rộng, khắp nơi trên thế giới đang nổi lên vấn đề con người, trí tuệ con người
và nguồn lực con người Con người đang là trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nhiều nước, trong đó có Việt Nam Ngày 07 tháng 11 năm
2006 sau 11 năm đàm phán khó khăn, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của WTO, sự kiện trọng đại này mở ra cho chúng ta thêm nhiều cơ hội và thách thức mới, và nguồn lực chính là yếu tố hàng đầu để quyết định thành công cho đất nước ta trên một sân chơi đầy khó khăn
Để phù hợp với đặc điểm phát triển của thời kỳ lịch sử đặc biệt này Đảng và Nhà nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế thị trường có tác động rất to lớn; làm tăng trường kinh tế nhanh và nâng cao đời sống , thúc đẩy cách mạng khoa học và công nghệ, cải tiến quản lý kinh tế Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa định hướng nền kinh tế tri thức thế kỷ XXI Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực là tương xứng với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang là vấn đề trung tâm, là khâu đột phá và phải đi trước một bước như Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh
tế nhanh, bền vững, con người là nguồn nhân lực, là yếu tố quyết định sự phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
B PHẦN NỘI DUNG
I QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI, NGUỒN LỰC CON NGƯỜI.
1.1 Về con người.
Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, con người vừa là thực thể tự nhiên, vừa là thực thể xã hội, đồng thời là chủ thể cải tạo hoàn cảnh
Con người là một thực thể "song trùng" tự nhiên và xã hội, là sự kết hợp cái
tự nhiên (sinh học) và cái xã hội Hai yếu tố này gắn kết với nhau, đan quyện vào nhau, trong cái tự nhiên chứa đựng tính xã hội và cũng không có cái xã hội tách rời cái tự nhiên
Trang 2Con người trong quá trình tồn tại không chỉ tác động vào tự nhiên, làm biến đổi thế giới tự nhiên mà con người còn quan hệ với nhau tạo nên bản chất người, làm cho con người khác với con vật "Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội"
Con người không thể tồn tại được một khi tách khỏi xã hội Chỉ trong xã hội con người mới có thể trao đổi lao động, thông qua đó mà thoả mãn những nhu cầu trong cuộc sống, như ăn, ở, đi lại v.v Trong xã hội thông qua quan hệ với người khác mà mỗi người nhận thức về mình một cách đầy đủ hơn, trên cơ sở đó mà rèn luyện, phấn đấu vươn lên về mọi mặt, từng bước hoàn thiện nhân cách
Quan niệm về con người xã hội chủ nghĩa:
Con người xã hội chủ nghĩa bao gồm cả những con người từ xã hội cũ để lại
và cả những con người sinh ra trong xã hội mới Con người sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa mang những nét đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, song vẫn còn chịu ảnh hưởng không ít những tư tưởng, tác phong, thói quen của xã hội cũ Cho nên, quá trình xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa là quá trình diễn ra cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa cái cũ và cái mới, cái tiến bộ và cái lạc hậu
Con người xã hội chủ nghĩa vừa là chủ thể trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa là sản phẩm của quá trình đó
Một mặt, trong lao động sản xuất, đấu tranh xã hội, con người tạo ra những điều kiện cơ sở vật chất ngày một tốt hơn, phục vụ con người ngày một chu đáo hơn, cuộc sống của con người ngày càng đầy đủ hơn, môi trường xã hội ngày càng trong sạch, ngày càng nhân văn hơn, do vậy, càng có những điều kiện để xây dựng nên những phẩm chất của con người xã hội chủ nghĩa Mặt khác, cũng chính trong quá trình lao động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội mà con người cải tạo chính bản thân mình, tự rèn luyện khắc phục những hạn chế, thiếu sót của bản thân
Mỗi thời kỳ lịch sử, trên cơ sở của sự phát triển lực lượng sản xuất, của trình
độ phát triển xã hội, cần phải xác định mô hình con người cần xây dựng Toàn bộ mọi hoạt động của xã hội, hệ thống luật pháp, những chính sách kinh tế - xã hội, mục tiêu của giáo dục - đào tạo phải hướng vào mục tiêu đó, hình thành những phẩm chất con người theo bản chất, mục tiêu xã hội chủ nghĩa Một khi con người
Trang 3đã hình thành với những phẩm chất tốt đẹp đó lại trở thành chủ thể tự giác để phát triển xã hội theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa
Dựa trên lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu những giá trị truyền thống của dân tộc, căn cứ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, những đặc trưng con người
xã hội chủ nghĩa mà chúng ta phấn đấu xây dựng là:
+ Con người xã hội chủ nghĩa là con người có ý thức, trình độ và năng lực làm chủ Đồng thời xã hội tạo ra những điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội, v.v
để con người thực hiện được quyền làm chủ đó
+ Con người xã hội chủ nghĩa là con người lao động mới, có tri thức sâu sắc
về công việc mà mình đang đảm nhận, lao động có ý thức kỷ luật, có tinh thần hợp tác với đồng nghiệp, biết đánh giá chất lượng lao động, hiệu quả lao động của bản thân
+ Con người xã hội chủ nghĩa là con người sống có văn hoá, có tình nghĩa với anh em, bạn bè, mọi người xung quanh, biết được vị trí của mình trong từng mối quan hệ xã hội và giải quyết đúng đắn được những mối quan hệ đó; thường xuyên có ý thức nâng cao trình độ tri thức về mọi mặt, ra sức rèn luyện sức khoẻ, bảo đảm phát triển toàn diện cá nhân
+ Con người xã hội chủ nghĩa là con người giàu lòng yêu nước, thương dân,
có tình thương yêu giai cấp, thương yêu đồng loại, sống nhân văn, nhân đạo, có ý thức và kiên quyết đấu tranh bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ những thành quả cách mạng; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của kẻ thù
2 Về nguồn lực con người.
Trong các nguồn lực có thể khai thác như nguồn lực tự nhiên, nguồn lực khoa học - công nghệ, nguồn vốn, nguồn lực con người thì nguồn lực con người là quyết định nhất, bởi lẽ những nguồn lực khác chỉ có thể khai thác có hiệu quả khi nguồn lực con người được phát huy Chúng ta biết rằng, điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa lý, nguồn vốn có vai trò rất lớn trong sự phát triển của một quốc gia Song những yếu tố đó ở dưới dạng tiềm năng, tự chúng là những khách thể bất động Chúng chỉ trở thành nhân tố "khởi động", và phát huy tác dụng khi kết hợp với nguồn lực con người Những nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt, ngược lại nguồn
Trang 4lực con người ngày càng đa dạng và phong phú và có khả năng nội sinh không bao giờ cạn Ngược lại nguồn lực con người càng được sử dụng, lại càng được nâng cao chất lượng và hiệu quả
Các lĩnh vực khoa học khác nhau, có thể hiểu nguồn lực theo những cách khác nhau, nhưng chung nhất nguồn lực là một hệ thống các nhân tố mà mỗi nhân
tố đó có vai trò riêng nhưng có mối quan hệ với nhau tạo nên sự phát triển của một
sự vật, hiện tượng nào đó
Từ cách hiểu như vậy, nguồn lực con người là những yếu tố ở trong con người có thể huy động, sử dụng để thúc đẩy sự phát triển xã hội
Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về nguồn lực con người Ngân hàng Thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng, nghề nghiệp, v.v.) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất, kinh doanh, hay trong một hoạt động nào đó
Qua các ý kiến khác nhau có thể hiểu, nguồn lực con người là tổng thể
những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội, v.v tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người có thể sử dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trong những hoạt động xã hội
Khi chúng ta nói tới nguồn lực con người là ta nói tới con người với tư cách
là chủ thể hoạt động sáng tạo tham gia cải tạo tự nhiên, làm biến đổi xã hội
Nói tới nguồn lực con người là nói tới số lượng và chất lượng nguồn nhân lực
Số lượng nguồn lực con người được xác định trên quy mô dân số, cơ cấu độ tuổi, sự tiếp nối các thế hệ, giới tính và sự phân bố dân cư giữa các vùng, các miền của đất nước, giữa các ngành kinh tế, giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội
Chất lượng nguồn lực con người là một khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về thể lực, trí lực, tay nghề, năng lực quản lý, mức độ thành thạo trong công việc, phẩm chất đạo đức, tình yêu quê hương đất nước, ý thức giai cấp,
ý thức về trách nhiệm cá nhân với công việc, với gia đình và xã hội, giác ngộ và bản lĩnh chính trị, v.v và sự kết hợp các yếu tố đó Trong các yếu tố trên thì phẩm
Trang 5chất đạo đức và trình độ học vấn là quan trọng nhất, nó nói lên mức trưởng thành của con người, quy định phương pháp tư duy, nhân cách, lối sống của mỗi con người
Số lượng và chất lượng nguồn lực con người có quan hệ với nhau một cách chặt chẽ Nếu số lượng nguồn lực con người quá ít sẽ gây khó khăn cho phân công lao động xã hội và do vậy, chất lượng lao động cũng bị hạn chế Chất lượng nguồn lực con người nâng cao sẽ góp phần làm giảm số lượng người hoạt động trong một đơn vị sản xuất, kinh doanh hay giảm số người hoạt động trong một tổ chức xã hội, đồng thời cũng tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của một tập thể người trong lao động sản xuất, hoạt động xã hội
Xã hội muốn phát triển nhanh và bền vững phải quan tâm đào tạo nguồn lực con người có chất lượng ngày càng cao Muốn thực hiện được điều đó, cần có sự quan tâm ngay trong quá trình đào tạo, trong quá trình sử dụng và phân công lao động xã hội
II VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM.
Hiện nay, phát triển bền vững được xác định là chiến lược ưu tiên hàng đầu của hầu hết các quốc gia trên thế giới Một trong những cơ sở, nền tảng quan trọng nhất để thực hiện chiến lược phát triển đó là nguồn lực con người Lịch sử phát triển xã hội đã chứng minh rằng, trong mọi giai đoạn, con người là yếu tố đóng vai trò quyết định sự phát triển theo chiều hướng tiến bộ của xã hội Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã hoàn toàn đúng khi khẳng định rằng, sự phát triển của xã hội không phải do bất kỳ một lực lượng siêu nhiên nào, mà chính con người đã sáng tạo nên lịch sử của mình - lịch sử xã hội loài người Nhận thức rõ vai trò to lớn của nguồn lực con người, trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh đến nguồn lực con nguời, coi đó
là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất
nước
Với sự ra đời của triết học Mác, vấn đề con người đã được nhìn nhận, đánh giá và lý giải một cách sâu sắc, khoa học và toàn diện Đặc biệt, triết học Mác đã
có những phân tích hết sức đúng đắn và khoa học về vị trí, vai trò của con người đối với sự phát triển xã hội Vai trò quan trọng không thể thay thế của con người
trong tiến trình phát triển lịch sử thể hiện tập trung trên một số điểm cơ bản sau:
Trang 6Trước hết, bằng hoạt động cải biến tự nhiên theo nhu cầu mục đích của
mình, đối tượng hoá lực lượng bản chất của mình thông qua thực tiễn, con người
đã tự khẳng định và thể hiện vai trò động lực đối với sự phát triển của xã hội Nhờ
hoạt động lao động, con người không chỉ tạo nên bước chuyển quan trọng của mình, “tách” khỏi thế giới động vật để trở thành con người theo đúng nghĩa của từ này, mà còn "tự nhân đôi mình lên một cách tích cực, một cách hiện thực” như C.Mác đã khẳng định V.I Lênin cũng chỉ rõ rằng, con người là nhân tố quyết định, làm biến đổi thế giới bằng chính những hành động thực tiễn của mình Trên
cơ sở thực tiễn, nhận thức của con người về hiện thực khách quan ngày càng đầy
đủ hơn, sâu sắc hơn, tiếp cận gần hơn bản chất của khách thể bằng cách sáng tạo hệ thống những khái niệm, phạm trù và sử dụng chúng như những phương tiện nhận thức thế giới Quá trình vươn lên không ngừng trong nhận thức, phản ánh thế giới khách quan cũng chính là quá trình con người tích cực hoá năng lực tư duy của mình thông qua sự trừu tượng hoá, khái quát hoá, suy lý lôgíc để nắm bắt những quy luật vận động, phát triển của thế giới
Trên cơ sở đó, con người vận dụng những hiểu biết, tri thức về thế giới vào hoạt động thực tiễn nhằm cải biến thế giới, phục vụ lợi ích của mình Chính con người từng bước nhận thức, khám phá những thuộc tính, bản chất, quy luật, sức mạnh của tự nhiên và đã vận dụng, sử dụng chúng để cải biến tự nhiên theo mục đích của mình Nhờ con người mà tự nhiên hoang sơ đã trở thành tự nhiên nhân tạo, thành thế giới tự nhiên mang tính người với những đặc tính hoàn toàn mới; đến lượt nó, giới tự nhiên đã hoà nhập vào đời sống xã hội của con người như một thành tố không thể thiếu Đồng thời, trong quá trình tác động vào giới tự nhiên, con người có thể hoàn thiện mọi tố chất: thể chất, trí tuệ, tình cảm, tâm lý của mình để ngày càng thể hiện đầy đủ tư cách một thực thể thống nhất giữa cái tự nhiên - sinh học với cái xã hội - văn hoá
Thứ hai, do có năng lực nhận thức và cải tạo thế giới, con người đóng vai trò
là chủ thể hoạt động sáng tạo lịch sử, làm cho lịch sử vận động theo hướng tiến bộ.
Lịch sử nhân loại chính là lịch sử hoạt động của con người Con người là chủ thể tích cực trong quá trình phát triển xã hội và sáng tạo ra lịch sử của chính mình Họ
là chủ thể của các quan hệ kinh tế - xã hội và mọi giá trị tinh thần của xã hội Theo quan niệm duy vật về lịch sử, sự phát triển của xã hội loài người từ trước đến nay (và tiếp tục sau này), suy cho cùng, được quyết định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất Trong cấu trúc của lực lượng sản xuất, con người không chỉ là một
bộ phận cấu thành cơ bản mà hơn thế, còn đóng vai trò đặc biệt quan trọng - kết nối các yếu tố khác với nhau để chúng phát huy tác dụng Với tính cách một thành
tố của lực lượng sản xuất, con người vừa là chủ thể sáng tạo và “tiêu dùng” sản phẩm của sản xuất, vừa là một nguồn lực đặc biệt của quá trình sản xuất V.I.Lênin
hoàn toàn đúng khi ông coi "lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại
Trang 7là công nhân, là người lao động" Thực tế cho thấy, lao động của con người không
chỉ cải biến tự nhiên, mà còn cải biến chính bản thân con người và các quan hệ giữa con người với con người Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Lao động là điều kiện
cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người” Như vậy, con người và xã hội loài người tồn tại, phát triển được không phải là nhờ vào một sức mạnh thần bí, vô
hình nào từ bên ngoài, mà chính là do hoạt động sản xuất vật chất Đồng thời, đây
cũng là cơ sở cho các hoạt động trong đời sống tinh thần của con người
Con người sử dụng sức lao động của mình (cả cơ bắp lẫn trí tuệ) kết hợp với các công cụ, phương tiện sản xuất khác để tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn các nhu cầu của bản thân và xã hội Trong quá trình đó, con người còn không ngừng sáng tạo nên những công cụ lao động mới, thay đổi cách thức sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Lực lượng sản xuất phát triển đòi hỏi phải thay đổi quan hệ sản xuất lỗi thời và lúc đó, chính con người - với tư cách chủ thể các quan hệ sản xuất - bằng hoạt động thực tiễn cách mạng của mình tạo lập nên quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất; theo đó, tạo nên bước phát triển mới của phương thức sản xuất và của xã hội Trong các cuộc cách mạng xã hội, con người luôn đứng ở vị trí trung tâm, là lực lượng tiến hành cuộc đấu tranh đưa xã hội sang một giai đoạn phát triển mới, tiến bộ hơn Đó chính là vai trò tích cực của nhân tố con người trong phát triển lịch sử thông qua quá trình thay thế hợp quy luật hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế
- xã hội khác cao hơn Nói cách khác, thông qua quá trình đó, con người đã sáng tạo, "viết nên" lịch sử của mình, của xã hội loài người
Thứ ba, trong quan hệ so sánh với các nguồn lực khác của sự phát triển xã
hội, con người đóng vai trò nguồn lực trọng yếu nhất; hơn thế, còn là nguồn lực vô tận, có thể khai thác không bao giờ cạn Như chúng ta đã biết, sự phát triển xã hội luôn cần đến một hệ thống các nguồn lực khác nhau, như tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, Trong đó, con người thể hiện như một nguồn tài nguyên quý giá nhất Các nguồn lực vật chất ngoài con người đương nhiên là cần thiết cho sự phát triển, song chúng là những nguồn lực hữu hạn, nghĩa là có thể bị cạn kiệt và một số trong đó là không thể tái tạo được; hơn nữa, chúng cũng chỉ thực sự phát huy giá
trị khi được kết hợp với nguồn lực con người Trong khi đó, nguồn lực con người
có những tiềm năng nổi trội hơn hẳn Đặc biệt, trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh như ngày nay, trí tuệ được coi là nguồn tài nguyên vô hạn; đồng thời, lao động trí tuệ của con người có ảnh hưởng quyết định đối với năng suất, chất lượng lao động và do vậy, con người trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất đối với sự phát triển bền vững
Như vậy, có thể thấy nhân tố con người đóng vai trò cực kỳ to lớn trong lịch
sử phát triển của nhân loại Một mặt, trong toàn bộ các nhân tố hợp thành cơ thể xã
Trang 8hội, con người luôn đứng ở vị trí trung tâm; mặt khác, trong hệ thống động lực
thúc đẩy lịch sử xã hội phát triển, con người là động lực cơ bản, quan trọng nhất và đóng vai trò quyết định
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, cũng đã có nhiều nhà tư tưởng lớn sớm nhận rõ và luôn đề cao vai trò của con người, của quần chúng nhân dân Chẳng
hạn, Nguyễn Trãi đã từng ví sức dân như nước, đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền
cũng là dân Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và kế thừa những giá trị tinh hoa trong truyền thống tư tưởng của dân tộc về con người, trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới
và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam
luôn coi con người là vốn quý nhất Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng
định rằng, trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của toàn dân Quan điểm đó thể hiện sự tin tưởng của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào sức mạnh vô địch, tuyệt đối của quần chúng nhân dân - những người làm nên lịch sử của dân tộc Thực tế cho thấy, những thắng lợi to lớn, những thành tựu vẻ vang của cách mạng Việt Nam giành được trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa luôn gắn liền với vai trò của quần chúng nhân dân, với
ph-ương thức phát huy, sử dụng nguồn lực con người một cách đúng đắn và hiệu quả của Đảng
Bước vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, một lần nữa, vai trò quan trọng của nguồn lực con người tiếp tục được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định
và phát huy Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã chỉ rõ rằng, con người là nguồn lực quan trọng nhất của
sự phát triển xã hội; rằng, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhiệm vụ chiến lược của Đảng nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, một trong những yếu tố quyết định việc chúng ta có tranh thủ, tận dụng thành công những thuận lợi, cơ hội
và vượt qua những thách thức, khó khăn mà quá trình đó đặt ra hay không phụ thuộc đáng kể vào con người - nguồn lực nội sinh đóng vai trò quan trọng và quyết
định nhất Đương nhiên, nguồn lực nội sinh này cần được bồi dưỡng, phát triển về mặt chất lượng và sử dụng một cách hợp lý mới phát huy được tiềm năng, hiệu quả
to lớn của nó Song, để làm được như vậy, cần có sự đánh giá một cách đúng đắn, toàn diện và khách quan thực trạng nguồn nhân lực của nước ta hiện nay; từ đó, có những giải pháp mang tính khả thi nhằm phát huy sức mạnh của nguồn lực này
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đưa ra đánh giá khái quát về phương
Trang 9diện những hạn chế của nguồn lực con người, cụ thể là chất lượng lao động và việc khai thác, sử dụng lao động ở nước ta hiện nay.
Như chúng ta đã biết, Việt Nam là quốc gia có dân số đông trong khu vực Xét về mặt lượng, có thể khẳng định nguồn nhân lực nói chung, lực lượng lao động nói riêng của chúng ta rất dồi dào Điều này là một thuận lợi nếu chúng ta biết khai thác triệt để và sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả; song đó cũng là một khó khăn, một sức ép lớn có thể kìm hãm quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nhìn chung, trong điều kiện hiện nay, đông đảo về lượng không còn là một ưu thế của lực lượng lao động Xét về mặt chất lượng, ngoài những phẩm chất như cần cù, khéo léo , nguồn nhân lực nói chung và lực lượng lao động nói riêng của nước ta còn khá nhiều hạn chế, bất cập Điều này thể hiện trên một số khía cạnh cơ bản, như thể chất, trí lực, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng, Hiện nay, mặt bằng dân trí ở nước ta đã được cải thiện và nâng cao một bước; cụ thể là, tính đến năm
2005, cả nước đã có trên 30 tỉnh, thành phố hoàn thành chương trình phổ cập trung học cơ sở Tuy nhiên, chất lượng trí lực của nhân tố con người không chỉ thể hiện
ở trình độ học vấn, quan trọng hơn là ở trình độ chuyên môn kỹ thuật được phản ánh thông qua các chỉ số về số lượng và chất lượng lao động đã qua đào tạo Theo
số liệu điều tra thực trạng lao động - việc làm năm 2004, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo ở nước ta còn rất lớn: 72% Số lao động được đào tạo và được cấp bằng từ công nhân kỹ thuật trở lên chiếm tỷ trọng thấp: 16,65% Xét về lực lượng trí thức, tính đến tháng 7 năm 2005, nước ta có 2.339.091 người có trình độ cao đẳng và đại học trở lên, trong đó có hơn 18.000 thạc sĩ, gần 16.000 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học đang hoạt động ở tất cả các ngành, lĩnh vực, địa phương Trí thức khoa học và công nghệ tập trung chủ yếu trong khu vực sự nghiệp (71%), khu vực hành chính (gần 22%) và khu vực doanh nghiệp gần 7%
Nếu phân tích sâu hơn sẽ thấy những bất hợp lý khác, chẳng hạn, cơ cấu lao động đã qua đào tạo ở các trình độ lại phân bổ không đồng đều giữa các vùng nông thôn và thành thị, trung ương và địa phương, miền núi và đồng bằng Thực tế cho thấy, lực lượng lao động đã qua đào tạo, đặc biệt là số lao động có trình độ cao tập trung chủ yếu ở các cơ quan trung ương, các thành phố hoặc trung tâm kinh tế lớn, như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Đặc biệt, có sự mất cân đối trầm trọng về lực lượng trí thức có trình độ tiến sĩ trở lên ở các vùng, miền; vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ chiếm gần 90% số tiến sĩ cả nước (trong đó, thành phố Hà Nội chiếm 63,82% và thành phố Hồ Chí Minh chiếm 19,33%) Ở 6 vùng còn lại, vùng cao nhất cũng chỉ chiếm chưa đến 4% Tổng số tiến sĩ của hai vùng Tây Bắc và Tây Nguyên chỉ đạt 1% tổng số tiến sĩ của cả nước
Mặt khác, trong số lao động đã qua đào tạo không phải ai cũng làm việc đúng ngành nghề chuyên môn; tình trạng làm trái ngành, trái nghề không phải là cá
Trang 10biệt Có thể nói, việc sử dụng không hợp lý lao động nói chung đã là một sự lãng phí, song sử dụng không hợp lý lao động đã qua đào tạo thì mức độ lãng phí còn lớn hơn nhiều
Như vậy, có thể khẳng định rằng, đối với nước ta, để phát huy nguồn lực con người một cách hợp lý, hiệu quả cần phải có một hệ thống các biện pháp đồng bộ; trong đó, cần tập trung vào một số biện pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, phát triển mạnh mẽ giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ nhằm, một mặt, phục vụ trực tiếp sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; mặt khác, xây dựng tiềm lực trí tuệ - cốt lõi của nguồn nhân lực chất lượng
cao Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu và
“vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”
Trí tuệ là một trong những chỉ số quan trọng nhất của chất lượng nhân tố con người, nhất là trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ có những bước phát triển nhảy vọt, khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và sự xuất hiện của kinh tế tri thức hiện nay Bên cạnh đó, cần phải chú trọng công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho con người, trước hết là với các thế hệ trẻ - những chủ
nhân tương lai của đất nước Bởi vì, xã hội hiện đại không chỉ cần có những con người chuyên gia, mà còn rất cần những con người công dân, có nhân cách và trách nhiệm cao đối với cộng đồng và xã hội Do đó, quan điểm của Đảng về “giáo
dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu” phải trở thành tư tưởng chỉ đạo, được tất cả các cấp, các ngành, gia đình và xã hội quán triệt sâu rộng và thực thi nghiêm túc nhằm đào tạo những con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đủ cả đức lẫn tài, cả sức khoẻ dồi dào lẫn đời sống tinh thần phong phú, tạo nền tảng đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững Mặt khác, để phát huy vai trò của giáo dục - đào tạo trong sự nghiệp đổi mới, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng hợp lý, hiệu quả lực lượng lao động Đồng thời, cần kết hợp giữa nâng cao trình độ dân trí và phát triển nguồn nhân lực đồng đều ở các vùng miền, các cộng đồng xã hội; gắn chiến lược phát triển khoa học công nghệ với nâng cao hàm lượng trí tuệ trong nhân tố con người Từ chỗ có nguồn lực con người bảo đảm về chất lượng, cần xây dựng và thực hiện những phương thức,
cơ chế phát huy nguồn lực đó
Thứ hai, cần quan tâm giải quyết hài hoà các quan hệ lợi ích theo phương châm bảo đảm công bằng xã hội trong từng chính sách, từng bước phát triển Lợi
ích chính là điểm mấu chốt, là một trong những động lực hàng đầu nhằm phát huy nhân tố con người Trong thực tiễn cách mạng trước đây, do nhu cầu giải phóng dân tộc nổi lên hàng đầu nên lợi ích toàn dân tộc phải được đặt lên trên hết trong giải quyết mọi mối quan hệ lợi ích Tuy nhiên, khi đất nước hoà bình, các nhu cầu