1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở tinht nghệ an

101 228 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 4,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nguyên nhân sâu xa tạo nên những thành quả đó chính là việc Đảng và Nhà nước ta đã rất coi trọng công tác cán bộ, đã có những đổi mới mạnh mẽ chính sách đối với cán bộ nó

Trang 2

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mỗi chính đảng trong một quốc gia dân tộc muốn xác lập và duy trì được quyền lực chính trị thì phải có những con người chính trị (đội ngũ cán bộ) được tổ chức chặt chẽ theo những nguyên tắc và có phương thức hoạt động nhất định Đội ngũ cán bộ chính là những người xác lập vị trí chính trị của chính đảng, xây dựng và triển khai những chủ trương chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống Do đó, công tác cán

bộ nói chung và chính sách cán bộ nói riêng - yếu tố tác động và ảnh hưởng trực tiếp tới

sự quyết tâm, tính năng động và tích cực của chính đội ngũ cán bộ - có vị trí quyết định trực tiếp tới sự ổn định và phát triển của cách mạng, của Đảng, Nhà nước và dân tộc

Trong hệ thống cán bộ, thì đội ngũ cán bộ cơ sở có vị trí và vai trò đặc thù quan trọng Họ là những người gần dân nhất, trực tiếp đưa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, trực tiếp phục vụ nhân dân Bản chất của Đảng, của chế độ

"của dân, do dân, vì dân" cũng được thể hiện trực tiếp qua đội ngũ cán bộ ở cơ sở Do đó

chính sách của Đảng và Nhà nước ta có đến được với dân, có tạo được sức mạnh từ đông đảo quần chúng nhân dân hay có duy trì được sự ổn định vững vàng để đổi mới phát triển

từ mọi địa phương cơ sở hay không? phụ thuộc trực tiếp vào sự vững mạnh của đội ngũ cán bộ này

Đất nước ta đã bước vào công cuộc đổi mới được gần 20 năm qua Chúng ta đã thu được những thành quả vô cùng quan trọng trên mọi mặt, đời sống của nhân dân không ngừng được nâng cao, quyền làm chủ của nhân dân được bảo đảm, vị thế của đất nước ta ngày càng được khẳng định vững chắc Một trong những nguyên nhân sâu xa tạo nên những thành quả đó chính là việc Đảng và Nhà nước ta đã rất coi trọng công tác cán

bộ, đã có những đổi mới mạnh mẽ chính sách đối với cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở nói riêng Chúng ta đã bước đầu xây dựng được hệ thống chính sách đối với đội ngũ cán bộ cơ sở làm căn cứ (cơ sở) cho các địa phương trên toàn quốc triển khai thực hiện một cách đồng bộ, bài bản và tương đối sát hợp Việc ra đời Nghị quyết TW 5 khoá IX và Nghị định 121/2003/NĐ - CP là minh chứng cho điều đó

Thực hiện chính sách cán bộ nói chung và chính sách cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở nói riêng, tỉnh Nghệ An đã có nhiều cố gắng nhằm thực hiện tốt nhất, với hiệu

Trang 3

quả cao nhất những quy định của Đảng và Nhà nước Hệ thống chính trị từ tỉnh đến cấp

xã của Nghệ An đã triển khai sâu rộng và thực hiện nghiêm chỉnh những chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở Bên cạnh đó, Nghệ An cũng đã có nhiều chính sách cụ thể đối với đội ngũ cán bộ cơ sở nhằm động viên sự cố gắng nhằm mục đích làm sao để đội ngũ cán bộ yên tâm công tác phục vụ nhân dân, góp phần làm cho chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở tỉnh Nghệ An không ngừng được nâng cao, ổn định chính trị được giữ vững, kinh tế - xã hội

có những bước phát triển vững chắc, đời sống nhân dân ngày một được nâng cao, sự đồng thuận xã hội trong nhân dân được củng cố

Tuy nhiên, không phải mọi việc đã xong xuôi Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay vẫn đòi hỏi phải hoàn thiện hơn nữa chính sách cán bộ nói chung

và chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở nói riêng Trong số những bất hợp lý mới nảy sinh khi thực hiện chính sách đối với cán bộ cơ sở trong cả nước nói chung và ở Nghệ An nói riêng cho thấy còn có nhiều điểm cần phải được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện

Mặt khác, cũng có thể thấy lĩnh vực chính sách cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta cũng chưa được nghiên cứu một cách thấu đáo mang tính tổng thể

và toàn diện, đặc biệt dưới góc độ của chu trình hoạch định chính sách Do đó, khi triển khai vào thực tiễn, chính sách cán bộ nói chung và chính sách cán bộ trong hệ thống chính trị cơ

sở bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế

Điều này đã dược thể hiện trong chính quá trình xây dựng và triển khai thực hiện chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở tỉnh Nghệ An Đó chính

là lý do để tác giả chọn “Chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ

sở tỉnh Nghệ An” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Chính trị học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Những nội dung liên quan đến vấn đề chính sách cán bộ nói chung và chính sách đối với cán bộ ở cơ sở đã được một số nhà nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau: xây dựng Đảng, luật học, xã hội học Các công trình nghiên cứu các tác giả đã được công bố dưới

Trang 4

dạng đề tài khoa học, chuyên đề, khảo sát, luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ và các bài đăng tải trên các tạp chí sách, báo

Chẳng hạn như: GS-TS Hoàng Chí Bảo (chủ nhiệm) “ Nghiên cứu một số vấn đề

nhằm củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở trong sự nghiệp đổi mới và phát triển ở nước ta hiện nay “ (đề tài độc lập cấp nhà nước - Học viện Chính trị quốc gia Hồ

Chí Minh, kỷ yếu khoa học tập I, II, III); PGS-TS Nguyễn Đăng Thành (chủ nhiệm), “

Chính sách và những vấn đề cơ bản chi phối việc hoạch định chính sách ở Việt Nam “,

(đề tài khoa học cấp bộ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh- Viện Khoa học chính

trị, 2002); PGS-TS Nguyễn Phú Trọng (chủ biên): “ Luận cứ khoa học cho việc nâng cao

chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001; PGS-TS Bùi Đình Phong: “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ “, Nxb Lao động, Hà Nội 2002; tác giả Nguyễn

Đặng “Chính sách, chế độ đối với những cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn” Bộ lao

động thương binh và xã hội, Nxb Lao động Thương binh Xã hội, Hà Nội 2004; Phan

Công Khâm: “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng nông thôn đồng bằng sông

Cửu Long hiện nay” (luận án tiến sỹ 2000); Mai Đức Ngọc: “Nâng cao năng lực cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã vùng đồng bằng bắc bộ nước ta hiện nay” (luận văn thạc sỹ

2002) Ngoài ra còn nhiều công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu đăng tải trên các sách, báo, tạp chí

Nhìn chung, trên những bình diện khác nhau, các tác giả đã nghiên cứu một cách cơ bản, đi sâu, làm rõ và đưa ra những luận cứ khoa học cùng với những kinh nghiệm thực tiễn nhằm củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước; chu trình hoạch định chính sách và những quy định cụ thể về chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Đó là nguồn tư liệu quý giá giúp tôi kế thừa trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài của mình

Việc nghiên cứu về vấn đề chính sách đối với đội ngũ cán bộ hoạt động trong hệ thống chính trị ở cơ sở dưới góc độ chính trị học, đặc biệt là đối với một tỉnh có nhiều đặc thù như ở Nghệ An vẫn chưa có tác giả nào thực hiện Vì vậy, tôi mạnh dạn nghiên

Trang 5

cứu vấn đề này với mong muốn góp phần vào luận giải những vấn đề mà lý luận và thực tiễn đã và đang đặt ra

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống

chính trị ở cơ sở tỉnh Nghệ An, luận văn mong muốn góp phần tạo thêm cơ sở lý luận về thực tiễn cho việc hoàn thiện chính sách đối với cán bộ cơ sở trong tỉnh và hơn nữa là hoàn thiện chính sách đối với cán bộ cơ sở trong cả nước nói chung

Nhiệm vụ: - Nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò của chính sách cán bộ trong quá

trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở

- Khảo sát đánh giá thực trạng việc xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ cơ sở tỉnh Nghệ An

- Đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới thực hiện chính sách cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở tỉnh Nghệ An

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Chính sách cán bộ nói chung và chính sách cán bộ cơ sở có phạm vi nghiên cứu rất rộng, bao gồm rất nhiều khâu trong tổng thể chu trình chính sách Do vậy, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề từ thực trạng của quá trình triển khai thực hiện chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn (cấp xã) trên địa bàn tỉnh Nghệ An

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan

điểm của Đảng và Nhà nước ta về cán bộ, chính sách cán bộ, vai trò của chính sách cán

bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở

Phương pháp nghiên cứu của luận văn là các phương pháp khái quát hoá, kết hợp với

các phương pháp khảo sát, điều tra, phân tích, tổng hợp, so sánh để phân tích những vấn đề đặt ra

6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

ý nghĩa lý luận:

- Góp phần hệ thống hoá những luận điểm cơ bản, lý luận chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cán bộ, chính sách cán bộ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở

Trang 6

- Góp phần nâng cao nhận thức lý luận về vai trò của chính sách đối với nâng cao

chất lượng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị

- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm đổi mới và dần hoàn thiện chính sách cũng như việc thực hiện chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở

ý nghĩa thực tiễn của luận văn:

- Luận văn có thể cung cấp thêm những luận cứ khoa học giúp các cấp lãnh đạo của tỉnh Nghệ An trong xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ cơ sở và công tác tổ chức cán bộ nói chung

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy ở trường chính trị tỉnh và các trung tâm

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

và cách tiếp cận khác nhau, do đó đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách

Theo các nhà nghiên cứu nước ngoài, ta thấy cách định nghĩa chính sách từ góc

độ là sản phẩm của hoạt động có mục đích của nhà nước

Ví dụ:- Thomas Dye đặc trưng hoá: "Chính sách công là tất cả những gì nhà nước

chọn làm hoặc không làm" [ 81, tr.1]

Cách thứ 2 - Định nghĩa chính sách như là quá trình của những bước giải quết

những vấn đề công cộng

Trang 7

- John Deway coi chính sách là một quá trình giải quyết những vấn đề công cộng

gồm 5 giai đoạn! Cảm nhận tình huống vấn đề, xác định vấn đề, hình thành các giải pháp, lựa chọn một giải pháp và thực thi [53, tr.177]

- Theo quan điểm lý thuyết hệ thống, G Brewer và P.de Leon định nghĩa:" Chính

sách công là những quyết định quan trọng nhất của xã hội, là những hành động có tính chức năng dựa trên sự đồng thuận hoặc phê chuẩn của hệ thống” [19, tr.9]

- Theo hướng chú trọng tới mục đích, bản chất của chính sách công, Deborah Store

viết:

Cái mà tôi cho là bản chất của quá trình hoạch định chính sách trong các môi trường chính trị: Đó chính là các cuộc đấu tranh tư tưởng, hoạch định chính sách là một cuộc đấu tranh không ngừng trong việc đưa ra các chuẩn mực cho việc phân loại, giới hạn và xác định các giá trị định hướng hành vi của con người [20, tr.7]

Căn cứ từ hiện thực chính sách ở nước ta, từ góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu trong nước đã đưa ra một số định nghĩa về " Chính sách":

- Từ cách phân biệt "chính sách" theo nghĩa rộng và "chính sách" theo “nghĩa

hẹp” Trong bài: " những vấn đề đặt ra từ thực tiễn xây dựng chính sách ở nước ta", Tiến

sỹ Nguyễn Hữu Đổng và Tiến sỹ Lê Minh Quân định nghĩa: " Chính sách với nghĩa rộng

(nghĩa chung nhất) là tổng thể các quan điểm, các biện pháp mà chủ thể lãnh đạo, quản

lý (Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội) tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt đến một mục tiêu nào đó trong một khoảng thời gian nhất định" Còn "Chính sách"

theo nghĩa hẹp, là một "quy định cụ thể nào đó nhằm thực hiện đường lối, nhiệm vụ trong

Trang 8

- Trong bài " mấy khía cạnh lý luận về chính sách", Tiến sỹ Vũ Hoàng Công đưa

ra định nghĩa: “Chính sách là các tổng thể những quy định pháp lý có tính nhất quán, thể

hiện thái độ, quan điểm của Nhà nước trong việc khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động nào đó trong các lĩnh vực nào đó của một số đối tượng nào đó của xã hội ” [82, tr.200]

- Trong xác định nội hàm của khái niệm chính sách, Tiến sỹ Nguyễn Đăng Thành với cách tiếp cận xác lập định nghĩa là ngoài việc xác định những hình thức thể hiện của chính sách, điều quan trọng là phải chỉ rõ những đặc trưng thực chất của chính sách Giải quyết được những khác biệt nhất định các hình thức của chính sách, đó chính là trả lời câu hỏi: Ai là chủ thể quyết định chính sách ở nước ta, chỉ có Nhà nước ? hay còn Đảng? hoặc còn là các tổ chức chính trị - xã hội? Phân tích rõ một đặc trưng cơ bản, thực chất của chính sách là tập hợp các phương án giải quyết các mâu thuẫn, các xung đột về giá trị

(lợi ích) trong một cộng đồng Để từ đó đưa ra định nghĩa: "Chính sách là tập hợp những

văn bản theo một hướng nhất định được quyết định bởi chủ thể cầm quyền nhằm quy định quá trình hành động của những đối tượng nào đó, để giải quyết những vấn đề mà nhóm chủ thể - đối tượng đó quan tâm theo một phương thức nhất định để phân bổ giá trị" [82,

tr.12]

Từ các công trình của các tác giả nghiên cứu về khoa học chính sách, đã cho chúng

ta thấy được sự thống nhất ở một số điểm cơ bản sau:

- Định nghĩa được đề cập tới đồng nghĩa với “chính sách công” (phân biệt với " chính sách tư"), chính sách quốc gia tức là những chính sách có ảnh hưởng, tác động đến toàn bộ xã hội

- Thực chất chính sách là tập hợp các phương án giải quyết các mâu thuẫn, các xung đột về giá trị, có thể hiểu nó như là lời giải của bài toán xung đột các giá trị xã hội trong một cộng đồng, có mục đích cuối cùng là tạo ra một trật tự quan hệ lợi ích mà cộng đồng mong đợi thông qua ý chí của chủ thể cầm quyền quyết định

- Do chủ thể quyền lực đề ra (Đảng, Nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị)

- Bao gồm quyết định, các văn bản có liên quan lẫn nhau

- Ngoài những giải pháp mang tính chất chủ trương đường lối vĩ mô thì các văn bản quyết định này gồm cả những hoạt động thực thi trên thực tế đời sống kinh tế - xã hội

Trang 9

- Tập trung giải quyết một lĩnh vực, một vấn đề đang đặt ra trong đời sống chính trị - xã hội

- Hướng vào những mục tiêu cụ thể đã xác định bởi một hệ thống tiêu chí

Có thể thống nhất đưa ra khái niệm về chính sách ở nước ta như sau: Chính sách là

biểu hiện tập trung nhất mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước, là tập hợp các văn bản có tính quy phạmpháp luật của toàn bộ hệ thống chính trị nhằm quy định phương thức hoạt động của các đối tượng để giải quyết một lĩnh vực nào đó trong một thời gian nhất định của đời sống kinh tế - chính trị -xã hội đất nước Là sự quy định chế độ, thể chế hoá các quan hệ lợi ích, các lợi ích nhóm, bộ phận trong xã hội

1.1.2 Chính sách đối với cán bộ

Cán bộ là tên gọi rất phổ biến trong xã hội ta Không chỉ phản ánh chức năng,

nhiệm vụ, đặc trưng của tầng lớp này trong xã hội mà còn thể hiện phẩm chất, những nét đẹp và tính ưu việt của xã hội ta, đội ngũ cán bộ là hình ảnh tập trung, sinh động nhất của nhân cách con người Việt Nam Chính vì thế ngay từ khi Đảng mới ra đời và nhất là từ ngày thành lập Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (năm 1945), Đảng và Bác Hồ đã đặc biệt chú ý tới việc đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng đòi hỏi cấp bách của

cách mạng Chính vì vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ với tính chất là “ Gốc của mọi

công việc” cho nên chính sách đối với đội ngũ cán bộ trở thành vấn đề mang tính chiến

lược của sự nghiệp cách mạng Nó quy định và chi phối khả năng thành công hay thất bại của những chính sách của Đảng và Nhà nước Bởi vì xét đến cùng mọi chủ trương, chính sách đều phải thông qua hoạt động tác nghiệp của đội ngũ này

Chúng ta đều đã được tiếp cận phạm trù “ Cán bộ”, mặc dù cách dùng từ, cách

hiểu trong các trường hợp, các lĩnh vực cụ thể có khác nhau, nhưng về cơ bản có thể quan niệm một cách chung nhất, đó là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương

vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng phát triển của

Trang 10

bản của Đảng, Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị nhằm điều chỉnh hoạt động, những quyền lợi và nghĩa vụ của đội ngũ cán bộ, phù hợp với hoàn cảnh khách quan và những mục tiêu của Đảng, Nhà nước trong mỗi thời kỳ lịch sử

Hiện nay chính sách cán bộ của Đảng ta bao gồm:

- Chính sách về tiêu chuẩn, tuyển dụng cán bộ

- Chính sách về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

- Chính sách bố trí, sử dụng, đề bạt cán bộ

- Chính sách luân chuyển cán bộ

- Chính sách đãi ngộ cán bộ (tiền lương, phụ cấp, chế độ hưu, BHXH )

- Chính sách đảm bảo điều kiện làm việc của cán bộ v v

1.1.3 Chính sách đối với cán bộ cơ sở

Trong rất nhiều nội dung có liên quan đến chính sách cán bộ thì chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở cũng là một nội dung quan trọng

Cán bộ cơ sở có đặc điểm:

- Hầu hết là dân bản địa, cư trú sinh sống tại địa phương Đa số cán bộ đều có quan hệ dòng tộc và quan hệ gắn bó với dân làng, dân phố về mọi mặt kinh tế, văn hoá, tình cảm với đời sống sinh hoạt

- Trong bản thân con người cán bộ cơ sở đều chứa đựng các yếu tố: Người dân, người cùng làng, cùng phố, người đại diện cộng đồng, người đại diện Nhà nước, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn, xung đột nhau chi phối các hoạt động của họ và nhất là trong việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến mối quan hệ giữa các lợi ích cá nhân - công đồng - nhà nước

- Phần lớn đội ngũ cán bộ cơ sở trưởng thành từ những thanh niên “ không thoát ly” qua các phong trào ở địa phương, nguồn khác là bộ đội sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, sỹ quan quân đội xuất ngũ, một số cán bộ hưu trí, nghỉ chế độ và một số ít tăng cường từ trên về

- Do nhiều nguyên nhân, đội ngũ cán bộ cơ sở ít được đào tạo và thường xuyên biến động, không ổn định, tuổi đời bình quân cao

Đội ngũ cán bộ cơ sở có vai trò quyết định đến tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị và quá trình phát triển kinh tế xã hội ở cơ sở Thực tế cho thấy, địa phương nào

có đội ngũ cán bộ tốt thì ở đó có phong trào và kinh tế - xã hội phát triển tốt

Trang 11

Cán bộ cơ sở vừa là người đại diện cho Đảng và Nhà nước trong việc quản lý, điều hành mọi mặt: Chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh ở cơ sở; là người trực tiếp lãnh đạo, tổ chức thực hiện các chủ trương đường lối của Đảng, thực thi quyền hành pháp, cũng như tiến hành tổ chức, triển khai các chương trình kinh tế xã hội ở địa phương Mặt khác cán bộ cơ sở cũng là người thường xuyên chăm lo đến mọi mặt trong đời sống, cả vật chất và tinh thần tới mọi người dân; là người đại diện cho ý chí, quyền lợi của nhân dân địa phương, luôn đấu tranh và bảo vệ mọi quyền lợi chính đáng của

người dân khi bị vi phạm Như Bác Hồ từng nói:“Cán bộ vừa là người lãnh đạo, vừa là

người đầy tớ trung thành của nhân dân” Cán bộ cơ sở là đội ngũ thể hiện cụ thể và trực

tiếp nhất chức năng, yêu cầu bản chất này

Thực tiễn cho thấy rằng chất lượng của đội ngũ cán bộ có ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương ở xã nào, phường nào có đội ngũ cán bộ tốt thì ở

đó các “ phong trào” đều khá, kinh tế, xã hội phát triển, tình hình an ninh chính trị ổn

định, trật tự an toàn xã hội đảm bảo Thực tế đó, ở nước ta đã thành ngạn ngữ: “ Cán

bộ nào thì phong trào đó”

Lịch sử phát triển của làng xã Việt Nam từ trước đến nay cho thấy, để quản lý làng

xã, chính quyền Nhà nước Trung ương bao giờ cũng nắm rất chắc các chức sắc chủ chốt trong xã như: Chánh lệnh trưởng, quản giáp (thời họ Khúc), xã chính (thời Trần), xã trưởng (thời Lê), lý trưởng (thời Nguyễn), xã trưởng, lý trưởng (thời Pháp thuộc) và thông qua các chức sắc chủ chốt này để thực hiện quyền quản lý, cai trị của chính quyền cấp trên đối với cấp xã Chính quyền cấp trên có nắm và quản lý, vươn tới được cơ sở hay không phụ thuộc vào việc có nắm được các chức sắc chủ chốt của xã hay không Cũng chính vì vậy chính quyền cấp trên thường rất quan tâm đến đội ngũ cán bộ xã, đặc biệt là các chức danh chủ chốt trong việc tuyển dụng, bổ nhiệm, chế độ đãi ngộ, thưởng, phạt

Cán bộ cơ sở là những người sống và hoạt động thường xuyên, liên hệ mật thiết và trực tiếp với nhân dân, cán bộ tốt hay không tốt đều có tác động trực tiếp đến phong trào

Do vậy người cán bộ một mặt phải được trang bị đầy đủ kiến thức, trình độ và năng lực chuyên môn để chủ động, vững vàng trong quản lý điều hành, mặt khác người cán bộ cơ

sở cần có đủ các tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức có lối sống trong sạch, lành

Trang 12

mạnh, trung thành với mục tiểu lý tưởng của Đảng, biết hy sinh, gương mẫu để lôi cuốn quần chúng nhân dân tích cực tham gia lao động sản xuất thực hiện tốt các chương trình, phong trào phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

Những năm đổi mới vừa qua cũng đã chỉ ra rằng sự thành công hay thất bại của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế xã hội ở cơ sở phụ thuộc rất lớn vào đội

ngũ cán bộ cơ sở.“Những sai lầm và khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế xã hội bắt nguồn

từ những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng”

[21] Song, toàn bộ hoạt động của bộ máy Đảng, chính quyền, các đoàn thể phối hợp thì đội ngũ cán bộ ở cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng Tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ này quyết định khả năng hiện thực hoá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước

Xác định được vai trò vô cùng quan trọng của đội ngũ cán bộ ở cơ sở, chúng ta đang hướng đến và nỗ lực xây dựng một hệ thống chính sách phù hợp đối với đối tượng này Từ sự

phân tích trên, chúng ta có thể hiểu chính sách đối với đội ngũ cán bộ cơ sở như sau: Chính

sách đối với đội ngũ cán bộ cơ sở là một bộ phận của chính sách cán bộ nói chung, thể hiện trong các văn bản của Đảng, Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị nhằm điều chỉnh quá trình hoạt động, quy định những quyền lợi và nghĩa vụ của đội ngũ cán bộ cơ sở phù hợp với các tính chất, đặc điểm của đời sống kinh tế -xã hội ở cơ sở

Chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở là một chính sách có tầm chiến lược quốc gia, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trực tiếp tác động đến sự ổn định, phát triển về mọi mặt ở cơ sở của Việt Nam hiện nay

1.2 Vai trò của chính sách cán bộ trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở

1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam trong suốt quá trình cách mạng

đã rất coi trọng vấn đề cán bộ Người cho rằng “cán bộ là cái gốc của mọi việc, vì họ là

người đem chính sách của Đảng và Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng ” [66, tr.269], “khi đã có chính sách đúng thì sự thành công hay thất bại

Trang 13

định: “ Đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng ta phải

nắm vững để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng” [30, tr.132]

Khi đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, tại Đại hội lần thứ VIII, Đảng

ta chỉ rõ: “Tình hình và nhiệm vụ mới đòi hỏi Đảng ta phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán

bộ, chú trọng đội ngũ chủ chốt các cấp, chuẩn bị đội ngũ cán bộ kế cận Sớm xây dựng cho được một chiến lược cán bộ của thời kỳ mới”, [26, tr.51] Nghị quyết TW 3 (khoá VIII)

khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận

mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”

[22, tr.66] Đối với cán bộ cấp cơ sở, Đảng ta nhận định đó là những người trực tiếp tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Nghị

quyết TW 5 (khoá IX) chỉ rõ:

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với đội ngũ cán bộ cơ sở [21, tr.167-168]

Đội ngũ cán bộ cơ sở là những người làm việc trong tổ chức Đảng, bộ máy chính quyền và các tổ chức đoàn thể quần chúng của HTCTCS Trách nhiệm của đội ngũ cán bộ này là thay mặt Đảng và Nhà nước trực tiếp lãnh đạo, quản lý xã hội đến tận người dân Họ trực tiếp phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm mọi quyền lực của công dân, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân ở cơ sở, động viên quần chúng làm trọn nghĩa vụ đối với Nhà nước Họ là đầu mối liên hệ giữa Đảng với dân, là hiện thân niềm tin của dân đối với Đảng Chính thông qua đội ngũ cán bộ này mà ý Đảng lòng dân được thống nhất, làm cho Đảng và Nhà nước ở cơ sở bám rễ, ăn sâu trong quần chúng, tạo nên quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân, trực tiếp xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ Vì thế, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở ngang tầm

Trang 14

Từ đầu những năm 1980, các văn bản pháp quy do Chính phủ ban hành và được

áp dụng thực hiện thống nhất trong cả nước Trải qua 25 năm, đến nay chính sách đối với

hệ thống chính trị cơ sở và đội ngũ cán bộ cơ sở đã được điều chỉnh, bổ sung và thay đổi;

có thể phân thành 4 giai đoạn cơ bản được đánh dấu bởi các nghị định của Chính phủ Đó là:

- Giai đoạn 1981 - 1992:

Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Quyết định số 111 - HĐBT ngày 13/10/1981 “ về việc sửa đổi, bổ sung một số chính sách, chế độ đối với cán bộ xã, phường” Ra đời trong điều kiện sau khi đất nước thống nhất, chúng ta đang tiến hành công cuộc tái thiết sau chiến tranh và tiến lên chủ nghĩa xã hội với cơ chế kinh tế tập trung kế hoạch hoá, những quy định của Quyết định này phù hợp với tình hình thực tiễn lúc đó Các chức danh trong bộ máy hành chính chỉ có chức năng quản lý hành chính, còn trách nhiệm quản lý, điều hành các lĩnh vực kinh tế, xã hội giao cho các HTX, phù hợp với khối lượng công việc, chế độ phụ cấp sinh hoạt phí cho cán bộ bình quân, đồng đều theo chế độ cấp thóc và tiêu chuẩn mua hàng Cán bộ có đủ 15 năm công tác liên tục khi nghỉ việc đều có chế độ bảo hiểm, do đó cán bộ yên tâm công tác, việc điều động, thuyên chuyển không gặp khó khăn

Từ cuối năm 1986, Đảng và Nhà nước thực hiện chủ trương đổi mới kinh tế, xóa bỏ

cơ chế kinh tế tập trung bao cấp, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường Năm 1989, nông dân được giao quyền sử dụng đất, HTX giao lại chức năng quản lý kinh tế - xã hội cho UBND Trước những yêu cầu thực tiễn mới đặt ra, thì những quy định của Quyết định 111 - HĐBT tỏ ra bất cập, cần có một chính sách mới đối với đội ngũ cán bộ cơ sở

- Giai đọan 1993 - 1997:

Chính phủ ban hành Nghị định số 46-CP ngày 26/3/1993 “ về chế độ sinh họat phí đối với cán bộ Đảng, chính quyền và kinh phí hoạt động của các đoàn thể nhân dân ở xã, phường, thị trấn”

Trang 15

Nghị định này có nhiều ưu điểm, góp phần tạo động lực cho sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội Trong đó phải kể đến việc áp dụng chế độ kiêm nhiệm, giao trách nhiệm cụ thể cho cán bộ, thực hiện tinh giảm bộ máy, giảm kinh phí hoạt động của các đoàn thể Do vậy quỹ ngân sách hoạt động của cơ sở tăng lên, tạo điều kiện thúc đẩy các phong trào địa phương phát triển Nhưng khi công cuộc đổi mới bắt đầu đi vào chiều sâu,

cơ chế thị trường phát triển mạnh mẽ, nảy sinh nhiều quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích mới đan xen, phức tạp hơn Khối lượng công việc ngày càng nhiều đã làm cho cán bộ cơ sở không thể đảm đương hết Cán bộ đủ tiêu chuẩn khi nghỉ công tác chỉ được hưởng chế độ bảo hiểm một lần, không có chế độ hưu trí dẫn đến làm cho cán bộ không yên tâm công tác, vì họ không nhìn thấy quyền lợi, tương lai lâu dài Trong thực tế đã xuất hiện nhiều hiện tượng cán bộ “ sống gấp “, tranh thủ, trục lợi khi đương chức, đương quyền, làm phát sinh nhiều tiêu cực Thực trạng cán bộ xa dân, công việc của dân bị dồn ứa vẫn chưa được giải quyết, còn bộ máy chính quyền nảy sinh nhiều tiêu cực, trì trệ làm cho dân bức xúc, bất bình Ngày 26/7/1995 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 50 - CP về chế độ sinh hoạt phí đối với các bộ xã, phường, thị trấn Đây thực chất chỉ là Nghị định bổ sung thêm cho Nghị định 46 - CP, nhằm điều chỉnh mức phụ cấp sinh hoạt phí đối với cán bộ cơ sở cho phù hợp với mặt bằng thu nhập chung lúc đó

- Giai đoạn 1998 - 2002:

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 09/1998 NĐ/CP ngày 23/01/1998 về: “Sửa đổi, bổ sung Nghị định 50 - CP ngày 26/07/1998 của Chính phủ về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn”

Ngày 19/5/1998, Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ (Nay là Bộ Nội vụ) và Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành Nghị định 09 - CP

Quốc hội ban hành Pháp lệnh dân quân tự vệ, quy định chức danh xã đội phó Bộ Công an ban hành Thông tư số 40 bổ sung chức danh Phó công an xã và công an viên xã

Nghị định số 09 - CP quy định tăng số chức danh trong bộ máy (từ 21 - 25), có 4 chức danh chuyên môn phải qua đào tạo cơ bản, quy định cán bộ công tác đủ 15 năm và

có 5 năm hưởng sinh họat phí thì sau khi nghỉ công tác được hưởng bảo hiểm, nếu chưa

đủ tuổi quy định có thể chờ, tăng ngân sách cho các đoàn thể cơ sở vv Như vậy, một số những bất hợp lý, mâu thuẫn của Nghị định 46 - CP đã được Nghị định 09 - CP cơ bản giải quyết

Trang 16

Tuy vậy, sau 4 năm thực hiện Nghị định 09 - CP đã bộc lộ một số hạn chế, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề, nhiều bất hợp lý như: Sự phân công giữa các chức danh, có nhiều chức danh nội dung công việc nhiều (chủ tịch UBND, bí thư, văn phòng UBND, các cán bộ địa chính vv.), trong khi đó nhiều chức danh lại quá rỗi việc (phó công an xã,

xã đội phó, phó chủ tịch HĐND ); vấn đề tính thâm niên công tác còn bất hợp lý (quy định nếu cán bộ có thời gian công tác gián đọan trên 12 tháng thì không được tính thời gian công tác trước đó); bộ máy nhân sự tăng lên kéo theo qũy lương, ngân sách chi thường xuyên tăng, trong khi đó các nguồn thu ngân sách của địa phương không tăng, nhiều nơi còn có xu hướng thu hẹp lại, đã làm cho ngân sách bị mất cân đối nghiêm trọng, ngân sách giành cho họat động hầu như không có Mặc dù NĐ-09 cũng đã quy định một số chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ đào tạo, bồi dưỡng, công tác phí, mai táng phí, khen thưởng nhưng vẫn chưa phù hợp với thực tiễn, chưa có tác dụng thu hút cán

bộ trẻ, được đào tạo cơ bản về cơ sở công tác

- Giai đọan 2003 - nay:

Trong tháng 10 năm 2003 Chính phủ đã ban hành 2 Nghị định về chính sách đối với cán bộ cơ sở, đó là:

- Nghị định số 114/2003 NĐ/CP ngày 10/10/2003 “ về công tác cán bộ, công chức

xã, phường, thị trấn”

- Nghị định số 121/2003/ NĐ - CP ngày 21/10/2003 “ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn”

Trong quá trình thực thi 2 Nghị định trên kèm theo một số văn bản pháp quy khác như: Nghị định số 107/2004/ NĐ - CP ngày 01/4/2004 của Chính phủ “ quy định số lượng phó chủ tịch và cơ cấu thành viên UBND các cấp”; Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ “về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang”; Thông tư số 03/2004/ TT - BNV ngày 16/01/2004 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định 114 của Chính phủ; Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-BNV-BTC ngày 05/01/2005 của bộ Nôi vụ và bộ Tài chính về “ hướng dẫn thực hiện chuyển xếp lương cũ sang lương mới đối với cán bộ, công chức, viên chức

”; Nghị định số 184/2004/NĐ-CP ngày 02/11/2004 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh Dân quân tự vệ; Quyết định số 04/2004/QĐ - BNV ngày 16/01/2004

Trang 17

của Bộ Nội vụ” Về việc hành hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức

xã, phường, thị trấn”; và cùng một số văn bản liên quan khác (đã ban hành trước đó) như: Điều lệ bảo hiểm ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày26/01/1995 của Chính phủ

và Nghị định số 01/2003/Nđ-CP ngày 09/01/2003 “về sửa đổi, bổ sung một số của Điều

lệ Bảo hiểm xã hội ”; Điều lệ Bảo hiểm y tế ban hành kèm theo Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 13/8/1998 “về chế độ bảo hiểm y tế đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang”; Quyết định của Thủ tướng chính phủ số 161/2003/QĐ-TTg, ngày 04/8/2003 “về quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở”; “Phê duyệt định hướng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức xã phường, thị trấn đến năm 2010”; Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg, ngày 04/9/2003 v/v ban hành quy chế “ một cửa” tại cơ quan hành chính ở địa phương; và các quy định liên quan khác

Qua gần hai năm thực hiện cho thấy NĐ-121/CP và NĐ-114/CP có nhiều đổi mới, tiến bộ hơn hẳn so với các Nghị định trước đây, đặc biệt được đội ngũ cán bộ cơ sở hào hứng đón nhận và là nguồn động viên thiết thực đối với họ Những nội dung của NĐ khoa học hơn, có nhiều điều mới, quy định cụ thể, sát hợp, đáp ứng tốt hơn đối với ĐNCBCS và cơ bản đã giải quyết được những bất hợp lý, mâu thuẫn của NĐ-50/CP, NĐ-09/CP

Nghị định 121/CP và NĐ 114/CP được xây dựng trên cơ sở quy định rõ về số lượng, tiêu chuẩn (tuổi, trình độ ), chế độ lương (hệ số lương cao hơn ), phụ cấp, bảo hiểm, chức năng, nhiệm vụ, chế độ đào tạo, bồi dưỡng cho từng chức danh thuộc các đối tượng cán bộ chuyên trách, công chức và định hướng giao cho cấp Tỉnh quy định chính sách, chế độ cán bộ không chuyên trách cấp xã và cán bộ ở thôn, bản, khối phố Đặc biệt, NĐ-204/CP đã quy định chuyển chế độ tiền lương đối với cán bộ chuyên trách

cơ sở sang hưởng chế độ lương mới cao hơn mức quy định tại NĐ-121/CP (có hệ số, thang bậc lương cụ thể) cho từng chức danh Song, so với yêu cầu mới đang đặt ra đối với HTCTCS và ĐNCBCS ở nước ta thì một số nội dung được quy định tại các Nghị định trên vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế, khó khắc phục ngay được, thậm chí phát sinh mâu thuẫn mới

Chỉ riêng phần chế độ đãi ngộ có thể thấy: Xuất hiện mâu thuẫn về mức lương, thời gian nâng lương, cách tính thời gian tham gia BHXH và các quyền lợi khác đối với

Trang 18

cán bộ chuyên trách so với công chức ở cơ sở còn chênh lệch, chưa công bằng, mặc dù

họ cùng trong một môi trường công tác như nhau, trong khi đó theo quy định thì rõ ràng nhiệm vụ và trách nhiệm của cán bộ chuyên trách (chủ chốt) đòi hỏi cao hơn, nặng nề hơn, phức tạp và phải chịu áp lực hơn; mức phụ cấp của cán bộ không chuyên trách là quá thấp, các chế độ khác đối với họ còn bị thiệt thòi; quy định mức hưởng 5% phụ cấp tái cử từ nhiệm kỳ thứ 2 (cùng và không cùng chức vụ) đối với cán bộ chuyên trách không thống nhất giữa NĐ-121/CP và NĐ-204-CP, vì vậy xẩy ra một số trường hợp “ chức vụ thì lên nhưng lương thì xuống ” v.v Từ tính chất đặc thù của cơ sở, từ “thuộc

tính” vốn có cho thấy: Cán bộ chuyên trách thường “gắn kết bền vững” với cơ sở, nếu phát triển thì cũng thường chỉ trong khung cấp xã, còn Công chức thường mang tính “

hành chính”, “ thoát ly”cơ sở, tương lai phát triển rộng hơn, Do vậy, gây ra những vấn

đề trong tư tưởng đối với đội ngũ CBCS, ảnh hưởng làm giảm động lực phấn đấu, trách nhiệm, mức độ hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ này

1.2.3 Tác động của chính sách cán bộ trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị cơ sở

Hệ thống chính trị ở cơ sở là toàn bộ các thiết chế về chính trị bao gồm tổ chức Đảng, chính quyền, Nhà nước và các đoàn thể chính trị- xã hội được tổ chức và quy định hoạt động theo các nguyên tắc nhất định và gắn bó hữu cơ với nhau, nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước và thực thi quyền làm chủ của nhân dân ở

cơ sở Là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị nước Việt Nam XHCN, do vậy, hệ thống chính trị cơ sở cũng mang đầy đủ những đặc điểm chung của toàn bộ hệ thống

Ngoài ra, xét trên hai khía cạnh là địa vị pháp lý và điều kiện thực tế, hệ thống chính trị cơ sở còn có những đặc điểm:

- Là cấp gần nhất với cộng đồng dân cư, do đó tổ chức cũng như cơ chế hoạt động

có tính tự quản cao, thường chịu sự chi phối bởi các quan hệ khác (phong tục, tính ngưỡng, huyết thống, địa vị )

- Thẩm quyền pháp lý xét trong toàn bộ hệ thống là cấp tổ chức thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ở các cơ sở

Trang 19

- Là cấp có bộ máy đơn giản nhất, có đội ngũ biến động nhất, ít tính chuyên nghiệp

và trực tiếp chịu sự chi phối của nhân dân và cũng là cấp đầu tiên đối mặt với những yêu cầu bức xúc của dân chúng, những mâu thuẫn nảy sinh trong đời sống kinh tế-xã hội

Với những đặc điểm đã nêu của hệ thống chính trị cơ sở, với các thành tố tạo nên, cũng là tổ chức cơ bản của hệ thống chính trị Việt Nam XHCN, là nền tảng chính trị vững

chắc ở cơ sở

Do vậy, việc xây dựng và hoàn thiện HTCT ở cơ sở được thực hiện trên các mặt sau:

- Xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy

- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, quy tắc, chuẩn mực của các mối quan hệ và hoạt động của các bộ phận cấu thành của HTCT cơ sở

- Xây dựng và hoàn thiện đội ngũ cán bộ, công chức của HTCT cơ sở

Xây dựng và hoàn thiện chính sách đối với cán bộ ở cơ sở có mối quan hệ với mặt thứ ba này Qua thực tiễn, có thể thấy chính sách đối với cán bộ cơ sở đã, đang và sẽ có tác động trên các khía cạnh sau:

a- Thu hút những người có trình độ, năng lực và nhiệt tình về công tác tại cơ sở, đồng thời loại bỏ cán bộ không đủ tiêu chuẩn khỏi các vị trí công tác

ở nơi làm được điều này thì HTCT có thêm sức mạnh Tiếc rằng thực tế trong cả nước chứng minh rằng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở chủ yếu được hình thành một cách tự phát Nghiên cứu nguồn gốc của các cán bộ cơ sở cho thấy phần lớn họ là những người vì lý do này khác không thể thoát ly khỏi địa phương, là những người vốn là bộ đội xuất ngũ, hoặc cán bộ công nhân viên đã về hưu, nghỉ việc trở về địa phương Số là thanh niên có trình độ đại học tự nguyện trở về quê nhà làm cán bộ cơ sở rất hiếm hoi Đó là lý do khiến cho đội ngũ cán bộ cơ sở phần lớn độ tuổi cao, phần lớn trình độ học vấn dưới đại học, phần lớn công tác với trạng thái tâm lý bất đắc dĩ (nhất là cán bộ trẻ)

Tình hình trên gây cản trở lớn cho việc nâng cao chất lượng cán bộ ở cơ sở thu hút người có đức, có tài phục vụ lâu dài cho cơ sở

b- Tạo điều kiện và khuyến khích cán bộ không ngừng nâng cao trình độ, năng lực công tác

Trình độ học vấn của cán bộ, năng lực tổ chức, điều hành, lãnh đạo, chỉ đạo của cán

bộ là yếu tố làm nên chất lượng của HTCT cơ sở Nếu làm được điều này thì chính sách

Trang 20

đối với cán bộ cơ sở sẽ góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ cơ sở và do đó chắc chắn nâng cao chất lượng của HTCT cơ sở Tuy nhiên cũng phải thấy phần lớn đội ngũ cán bộ cơ sở ở nước ta chưa được tạo điều kiện học tập Bằng chứng là số lượng cán

bộ đương chức được tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, về quản lý hành chính nhà nước, về pháp luật còn chưa nhiều Ngay ở các địa phương quan tâm nhất thì chương trình, nội dung giảng dạy cho đối tượng này cũng chưa được thiết thực Việc tự học để nâng cao trình độ mới chỉ dừng lại ở số ít

c- Khuyến khích cán bộ làm việc tận tuỵ, có trách nhiệm, trong sạch, gắn bó với nhân dân

Một đội ngũ cán bộ thạo việc, tận tuỵ, có tinh thần trách nhiệm là điều mong muốn

và là điều tối quan trọng để có một HTCT vững mạnh Thực tế đội ngũ cán bộ cơ sở nói chung là tốt Nhưng cũng phải thấy cái tốt chủ yếu bắt nguồn từ những nguyên nhân ngoài chế độ, chính sách, nghĩa là từ ý thức chính trị, từ danh dự, từ trách nhiệm với làng xóm quê hương Sự tác động của chính sách thông qua tiền lương, các chế độ đãi ngộ khác đối

với cán bộ cơ sở để họ có được những điều như trên còn rất hạn chế

1.3 Một số yếu tố tác động, chi phối trong xây dựng và thực hiện chính sách đối với đội ngũ cán bộ cơ sở

Trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách nói chung và chính sách đối với cán bộ cơ sở nói riêng có những nhân tố khách quan và chủ quan Khách quan như trình độ kinh tế và truyền thống văn hoá- chính trị, hoàn cảnh quốc tế và trong nước Chủ quan là những điều thuộc về sự tính toán, sự chủ ý của những người hoạch định và thực hiện chính sách

Thứ nhất, yếu tố chính trị:

Bất kỳ một chính sách nào của Nhà nước đều mang tính chính trị, có nghĩa là nó căn

cứ vào đường lối chính trị và tư tưởng chỉ đạo của Đảng cầm quyền, phục vụ đường lối chính trị và tư tưởng đó

Trong xã hội ta, việc xây dựng và triển khai thực hiện chính sách đối với đội ngũ cán bộ trước hết phải nhằm đảm bảo giữ vững quyền lãnh đạo duy nhất thuộc về giai cấp công nhân và Đảng tiên phong của nó trên cơ sở độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đảm bảo được lợi ích cao nhất và quan trọng nhất là quyền lực tối cao thuộc về đông đảo nhân

Trang 21

dân Đội ngũ cán bộ ở cơ sở - là đối tượng đặc biệt quan trọng mà các chính sách của Đảng

và Nhà nước đang tập trung hoạch định và xây dựng phải đáp ứng được những yêu cầu đảm bảo quyền lực chính trị xuống tận cơ sở, thực hiện tốt khả năng tuyên truyền hệ tư tưởng, quan điểm định hướng xã hội chủ nghĩa và cuối cùng là đảm bảo việc hoạch định và triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách, các phương án quản lý xã hội một cách tốt nhất

Thứ hai, yếu tố kinh tế:

Bất cứ một quyết sách nào cũng phải dựa trên các năng lực kinh tế quốc gia hoặc dựa trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân hoặc trong phạm vi từng lĩnh vực, từng địa phương với quy mô, bình diện hẹp hơn Chưa nói đến chính sách đối với đội ngũ cán bộ ngay cả những chính sách tưởng chừng như không liên quan đến kinh tế, như quốc phòng - an ninh, văn hoá - xã hội hay thực hiện quy chế tổ chức ở cơ sở cũng không thể tách rời các điều

kiện kinh tế Hiểu một cách đơn giản nhất, trước hết là khả năng của ngân sách cấp cho

hay khả năng huy động các nguồn lực vật chất để thực hiện chính sách

Yếu tố kinh tế là biểu hiện nội dung bảo đảm lợi ích vật chất đối với đội ngũ cán bộ

cơ sở Và điều này lại phải tính đến trong mặt bằng thu nhập quốc dân trong phạm vi quốc

gia nói chung và trong phạm vi địa phương nói riêng

Thực hiện cải cách cơ bản chế độ tiền lương cán bộ, công chức, coi chính sách tiền lương là chính sách đầu tư cho con người, cho phát triển kinh tế - xã hội và là một giải pháp hạn chế những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng trong đội ngũ cán bộ Từng bước thực hiện tiền tệ hoá đầy đủ tiền lương nhất là tiền tệ hoá vào trong các khoản chi phí nhà ở, phương tiện thông tin, đi lại cải cách

hệ thống thang bảng lương trên cơ sở phân định rõ tính chất và đặc điểm lao động của các loại cán bộ, công chức; điều chỉnh bất hợp lý về bội số và hệ số trong các thang lương, bảng lương, sửa đổi, bổ sung các quy địnhvề chế độ phụ cấp theo cấp bậc chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, chế độ phụ cấp làm việc ở nơi xa xôi, miền núi, hải đảo [23, tr.234]

Nội dung kinh tế ở đây chính là yêu cầu về mặt kinh tế mà thông qua hoạt động của đội ngũ cán bộ cũng như tác dụng của chính sách cán bộ cơ sở đưa lại đối với đời sống nhân dân cũng như lợi ích đem lại cho Nhà nước Đời sống nhân dân trước hết là “ăn, mặc,

Trang 22

Thứ ba, yếu tố pháp lý:

Là những yếu tố cần thiết phải có để cho ra đời một chính sách Đối với bất kỳ chính sách nào thì trước khi được ban hành đều phải nghiên cứu dựa trên các yếu tố, các nguyên tắc pháp lý Khi đã được ban hành thì toàn bộ nội dung của nó, một mặt phù hợp, hài hoà yêu cầu của các nhóm lợi ích (từ chủ thể nắm quyền lực đến các đối tượng khác nhau), mặt khác thể hiện rõ sự tuân thủ nghiêm chỉnh các qui định của pháp luật, thể hiện những yếu tố có tính qui phạm về mặt pháp lý mà bản thân chủ thể ra quyết định cũng phải tuân thủ

Chính sách đối với cán bộ cơ sở là hệ thống các văn bản qui định mục đích và hoạt động của đội ngũ cán bộ ở cơ sở, trước hết dựa trên nguyên tắc mà Hiến pháp đã ban hành, thông qua các qui định cụ thể cho từng loại đối tượng để xây dựng thành một hệ thống các tiêu chí tiêu chuẩn, quyết định nhiệm vụ quyền hạn cũng như lợi ích của từng loại cán bộ

Hệ thống luật pháp do Nhà nước ban hành ở nước ta là sự thể chế hoá cương lĩnh, chiến lược và định hướng chính sách của Đảng ta Vì vậy hệ thống các chính sách không những phải căn cứ vào những quan điểm, đường lối của Đảng mà còn phải tuân thủ những qui phạm pháp luật được thể chế hoá từ những quan điểm, đường lối chính trị đó Mặt khác bản thân các chính sách mới được ban hành lại tạo ra các lĩnh vực điều tiết mới của hệ thống pháp luật, thông qua đó góp phần thúc đẩy hệ thống pháp luật ngày càng bao quát, quản lý rộng rãi, chặt chẽ và hoàn thiện hơn

Thứ tư, yếu tố tâm lý xã hội:

Yếu tố tâm lý tác động đến chính sách cán bộ ở cơ sở bao gồm:

- Tâm lý từ phía chủ thể ra quyết định (cấp trên)

- Tâm lý từ chủ thể thực hiện (đội ngũ cán bộ )

- Tâm lý từ khách thể xã hội (thái độ của quần chúng)

Trang 23

Để tránh khuynh hướng độc đoán, chuyên quyền, thiếu dân chủ trong việc xây dựng chính sách cần có quan điểm cho phép người đứng đầu có quyền quyết định những vấn đề thuộc lĩnh vực của mình trong một thời điểm nhất định Đối với các cá nhân trong tập thể, cần có chế độ bảo lưu ý kiến cũng như xem xét một cách nghiêm túc những vấn đề mới đặt

ra, mặc dù nó xuất hiện nhiều khi chỉ từ ý kiến của thiểu số Tránh tình trạng dân chủ chung chung, phong trào, hời hợt và thiếu sáng tạo, đột phá Tuy nhiên, trước khi có quan điểm này, thì quan điểm chủ đạo và chỉ đạo là tập trung trí tuệ tập thể, phát huy dân chủ trong mọi lúc, mọi nơi nhằm hoạch định và xây dựng những chính sách thiết thức và hiệu quả nhất

Trong thực hiện chính sách đối với đội ngũ cán bộ cơ sở, bản thân họ những người trực tiếp làm việc trong hệ thống chính trị cơ sở là những người thực thi chính sách cũng như trực tiếp tác nghiệp trong đời sống nhân dân Chính vì vậy ngoài năng lực, trình độ và

ý thức chính trị của mỗi con người chủ thể ra chính sách cần phải nghiên cứu những đặc tính tâm lý của từng loại đối tượng như: Cán bộ ở vùng núi cao, dân tộc thiểu số, cán bộ ở vùng có đạo (trong đạo thì có các đạo giáo khác nhau) hoặc cán bộ là người theo các tôn giáo, cán bộ ở vùng nông thôn nông nghiệp, cán bộ là người ở thành thị

Nghiên cứu và vận dụng đúng đặc tính tâm lý của từng loại đối tượng cán bộ sẽ giúp cho cán bộ tự tin và thuận lợi trong việc thực thi nhiệm vụ và ngược lại nếu không tính đến vấn đề này sẽ rất khó khăn cho cán bộ, thậm chí là phản tác dụng

Thái độ của quần chúng nhân dân trong đại đa số các trường hợp phản ánh mức độ phù hợp của chính sách đối với lợi ích của nhân dân (đương nhiên phải loại trừ trường hợp quần chúng bị kẻ xấu kích động, lôi kéo lợi dụng) Thái độ của dân chúng (tổ chức kinh tế, văn hoá, chính trị, tôn giáo hoặc dân cư một địa phương, vùng ) nếu đồng tình với chính sách sẽ là thuận lợi cho chính sách đi vào thực tế, thực thi có hiệu quả, còn nếu dân chúng thờ ơ hay phản đối sẽ trở thành những trở ngại to lớn trong việc thực thi chính sách Chính sách cán bộ ở cơ sở nếu phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, những con người được nhân dân tin yêu tín nhiệm nếu được bố trí đúng vị trí, sở trường và được đối xử công bằng

sẽ trở thành động lực thúc đẩy mọi hoạt động phối kết hợp cũng như các hoạt động cần thiết phải huy động sức dân

Trang 24

Trường hợp chính sách mà nhà nước đưa ra đi ngược lại, làm nguy hại đến lợi ích, đời sống của dân chúng đều có thể dẫn đến những xung đột chính trị, trở thành điểm nóng, thậm chí biến thành vũ trang chính trị, bạo loạn lật đổ Do vậy, khi ban hành một chính sách, một chủ trương không thể không xem xét đến nguyện vọng của đại đa số quần chúng nhân dân, đến nguyện vọng cũng như tâm lý xã hội của các nhóm lợi ích khác nhau

Kết luận chương 1

Trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổng hợp những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, kết hợp lý luận với thực tiễn, chương 1 của Luận văn đã cố gắng hệ thống hoá, góp phần làm rõ một số khái niệm “công cụ” liên quan đến chính sách đối với đội ngũ cán

bộ ở cơ sở Từ đó đã phân tích về vai trò, tác động của chính sách cán bộ trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở Cũng ở chương này, Luận văn đã đi sâu làm

rõ một số yếu tố tác động, chi phối trong xây dựng và triển khai thực hiện chính sách đối với đội ngũ cán bộ ở cơ sở

Những khía cạnh vừa nêu đã giúp luận chứng một số vấn đề cơ bản liên quan tạo tiền đề để đánh giá về thực trạng chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị

ở cơ sở tỉnh Nghệ An hiện nay

Chương 2

Thực trạng chính sách đối với đội ngũ cán bộ

Trong hệ thống chính trị ở cơ sở tỉnh nghệ an hiện nay

2.1 Tình hình kinh tế- xã hội và chính trị tỉnh Nghệ An

2.1.1 Khái quát về kinh tế - xã hội

Tình hình kinh tế- xã hội và chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hoạch định, triển khai thực hiện chính sách nói chung và chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở nói riêng Chính vì vậy, trước khi xem xét đánh giá thực trạng chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở tỉnh Nghệ An, luận văn cần khái quát về tình hình kinh tế- xã hội của tỉnh Nghệ An

Trang 25

Vị trí địa lý: Nghệ An nằm ở khu vực trung tâm Bắc miền Trung, có toạ đội địa lý

từ 18035’ đến 200 vĩ độ Bắc và từ 103050’ đến 1050 kinh độ Đông, cách thủ đô Hà Nội

297 Km về phía Bắc, cách cố đô Huế 360 Km về phía Nam Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, phía Đông giáp Biển Đông

Địa hình: phức tạp, bị chia cắt bởi các hệ thống núi đồi, sông suối, hướng nghiêng

từ Tây-Bắc xuống Đông-Nam Địa-Kinh tế Nghệ An rất đa dạng về miền sinh thái, có đủ các vùng núi cao, trung du, đồng bằng, đô thị, ven biển, biên giới và hải đảo

Khí hậu: Nghệ An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt Mùa nắng-

nóng kèm theo gió lào, nhiệt độ nhiều ngày lên cao tới 38-400c gây khô hạn kéo dài, thường có mưa lớn kèm theo lụt bão Mùa lạnh thường kèm theo hanh, khô và rét đậm

Đất đai: Diện tích đất tự nhiên là 16.487 km2, trong đó 3/4 là miền núi, vùng cao Diện tích đất có giá trị nông nghiệp là 18,7 vạn ha, trong đó có 3 vạn ha đất đỏ Bazan có khả năng trồng các loại cây công nghiệp; 115vạn ha có khả năng lâm nghiệp,trong đó có

60 vạn ha rừng với trữ lượng gỗ 40 triệu m3

Điều kiện và tiềm năng phát triển kinh tế- xã hội:

Dân số: tỉnh Nghệ An có gần 3 triệu người, mật độ trung bình là 180 người/km2 Trong đó, số người trong độ tuổi lao động là 1,7 triệu người, hàng năm được bổ sung trên

3 vạn lao động trẻ, trong đó 15% được đào tạo nghề Số người được đào tạo chủ yếu thuộc đồng bằng, đô thị, còn ở miền núi cao không đáng kể.(theo điều tra số lao động có trình độ chuyên môn từ cao đẳng chiếm 1,3%, số có trình độ đại học trở lên là 0,78%) Trên địa bàn Nghệ An có 7 dân tộc anh em cùng sinh sống, người kinh chiếm 85% dân số sống hầu hết trên địa bàn Tỉnh, tập trung chủ yếu ở đồng bằng, thành phố, thị xã, thị trấn; đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 15% dân số(Thái, H’mông, Khơ mú, Thổ, Ơ đu, Đan lai) chủ yếu sống rải rác ở miền núi, vùng cao

Về hành chính: Tỉnh Nghệ An có 19 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm thành phố

Vinh, thị xã Cửa Lò, 10 huyện miền núi: Quế phong, Kỳ Sơn, Tương Dương, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Con Cuông, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương và 7 huyện đồng bằng: Đô Lương, Yên Thành, Nam Đàn, Hưng Nguyên; ven biển là Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc Có 469 đơn vị hành chính cấp xã gồm 434 xã, 18 phường,17 thị trấn,

Trang 26

số lượng cán bộ và tổ chức bộ máy của từng loại xã cũng cần có những quy định khác nhau nhất định

Về văn hoá- xã hội: Nghệ An là vùng đất có nền văn hoá lâu đời, xuất hiện vào

hàng sớm nhất trong lịch sử Việt Nam với những minh chứng các di chỉ khảo cổ thời tiền

sử Khắp nơi ở xứ Nghệ, ở đâu cũng ghi đậm dấu ấn lịch sử, văn hoá, những điển tích, truyền thống về sự linh địa của sông núi, hào kiệt của quốc gia Nằm trong mạch ngầm của truyền thống cách mạng và đấu tranh kiên dũng, Nghệ An đã sinh dưỡng biết bao anh hùng, hào kiệt tài hoa: Mai Thúc Loan, Nguyễn Xí, Hồ Xuân Hương, Phan Bội Châu, Hồ Tùng Mậu, Phan Đăng Lưu, Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai Đặc biệt, mảnh đất địa linh, nhân kiệt, khí thiêng sông núi, truyền thống lịch sử văn hoá muôn đời đã kết tinh lại trong một người con kiệt xuất của quê hương – Nguyễn

ái Quốc- Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất

ở các xã, bản, làng, thôn, xóm của Nghệ An đều có những phong tục tập quán, với nền văn hoá dân gian, giàu bản sắc dân tộc độc đáo Người Nghệ An nổi tiếng bởi sự

thông minh, hiếu học, cần cù, chịu rèn luyện, trung thực, đoàn kết, thuỷ chung, gắn bó

Hệ thống giáo dục, đào tạo với quy mô khá lớn và khá toàn diện.(1 trường đại học,

4 cao đẳng, 3 trung cấp, trường chính trị tỉnh, 2 trung tâm GDTX, 19 trung tâm BDCT

cấp huyện và nhiều trung tâm dạy nghề )

Trang 27

Với đặc điểm tự nhiên, đất đai, tài nguyên, dân số và truyền thống văn hoá, cách mạng của mình, Nghệ An có nhiều thuận lợi để khai thác tiềm năng, phát huy thế lợi phát triển kinh tế xã hội một cách toàn diện và vững chắc Trong thời gian gần đây, kinh tế xã hội Nghệ An đã có bước phát triển khá toàn diện, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, văn hoá xã hội có nhiều tiến bộ, cơ sở hạ tầng kỹ thuật được tăng cường, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể

2.1.1.1 Những thành tựu về phát triển kinh tế-xã hội những năm qua

Phát huy truyền thống và những tiềm năng, thế lợi sẵn có, cùng với cơ chế, chính sách thông thoáng, Nghệ An đã tập trung khai thác nội lực, thu hút ngoại lực tạo nên dấu

ấn mới cho xứ Nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trong những năm qua, thắng lợi có ý nghĩa lớn nhất là kinh tế phát triển nhanh và đúng hướng, tốc độ tăng trưởng GDP khá cao, thời kỳ 1991-2000 đạt 8%, giai đoạn 2001-2005 đạt trên 10,6% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: đến năm 2005 tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 44,27% năm 2000 xuống 36,7%; tỷ trọng ngành công nhiệp- xây dựng tăng từ 18,62% năm 2000 lên 27,5%; kinh tế dịch vụ- du lịch- thương mại tăng khá, bộ mặt nông thôn thay đổi nhanh, ngành càng khởi sắc Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế-xã hội mà các kỳ đại hội đề ra đều đạt và vượt kế hoạch Đặc biệt một số chỉ tiêu chủ yếu như tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách, tổng sản lượng lương thực, giá trị sản xuất công nghiệp và giảm tỷ lệ đói nghèo của Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ XV (nhiệm kỳ 2000-2005) đã

về đích kế hoạch trước 2 năm

Các ngành kinh tế tăng trưởng mạnh đã tạo đà tăng thu ngân sách Nếu như năm

1996 tổng thu ngân sách đạt 481 tỷ đồng, thì đến năm 2004 đạt 1.662 tỷ đồng tăng hơn gấp 3 lần, năm 2005 phấn đấu ước đạt 1.783 tỷ đồng Đời sống nhân dân cũng được nâng cao Đến năm 2003 tỷ lệ đói nghèo giảm còn 11,6%, năm 2005 còn 8,0% Kết cấu kỹ thuật hạ tầng được tăng cường đầu tư xây dựng nâng cấp Bằng công sức đóng góp của nhân dân, hệ thống giao thông, thuỷ lợi ở nông thôn đã từng bước được hoàn thiện Diện mạo thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò và các thị trấn, thị tứ ngày càng khang trang, xanh sạch đẹp, bộ mặt nông thôn khởi sắc

Không chỉ chú trọng phát triển kinh tế, Nghệ An còn rất quan tâm phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội Đặc biệt trong sự nghiệp giáo dục-đào tạo phát huy truyền

Trang 28

thống hiếu học, phong trào thi đua học tập được phát động sôi nổi khắp nơi, quy mô các cấp học, ngành học phát triển mạnh Hàng năm, số lượng học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng không ngừng tăng Các chương trình văn hoá cơ sở phát huy hiệu quả thiết thực trong việc nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân Đến năm 2005 toàn tỉnh

có trên 80% số hộ đạt tiểu chuẩn gia đình văn hoá, phong trào thể dục-thể thao quần chúng phát triển mạnh

Quốc phòng-an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, giữ vững ổn định chính trị ở tất cả các vùng, miền trong tỉnh (vùng tôn giáo, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo )

2.1.1.2 Những khó khăn, hạn chế

Là tỉnh giàu tiềm năng và lợi thế trong phát triển kinh tế –xã hội Bên cạnh những thuận lợi căn bản và những thành tựu đạt được, Nghệ An đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức Đó là xa các cực tăng trưởng và các trung tâm kinh tế - văn hoá lớn của cả nước nên sức thu hút đầu tư thấp, phải tự vươn lên bằng nội lực của chính mình Diện tích Nghệ An lớn nhất nước, địa hình phức tạp, đồi núi chiếm 83%, có 419 km đường biên giới, dân số đông với nhiều tộc người thiểu số và tôn giáo; thiên nhiên khắc nghiệt, hậu quả chiến tranh nặng nề; điểm xuất phát về kinh tế thấp, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, hệ thống hạ tầng xã hội còn yếu kém là những rào cản không nhỏ trong quá trình phát triển Kết cấu hạ tầng kinh tế –xã hội của Tỉnh hầu như phải xây dựng lại từ đầu sau chiến tranh

Trên 2/3 diện tích tự nhiên bao gồm 242 xã, 1,4 triệu dân với 7 dân tộc thiểu số cùng sinh sống thuộc khu vực miền núi, vùng cao; địa hình hiểm trở, bị chia cắt bởi nhiều núi đèo và sông suối; cơ sở vật chất kỹ thuật (điện, giao thông, trạm xá, trường học ) còn rất nghèo nàn; đồng bào du canh du cư còn nhiều, dân trí thấp, đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn

Tài nguyên thiên nhiên phong phú về chủng loại nhưng trữ lượng nhỏ bé, lại nằm vùng sâu, khó khai thác công nghiệp

Công tác quản lý điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở cũng gặp khó khăn, đặc biệt

ở các huyện miền núi: Diện tích rộng, các xã, bản ở cách xa nhau, giao thông bị chia cắt, thông tin bị gián đoạn đặc biệt trong những mùa nước lũ

Trang 29

An Hầu hết những người đỗ đạt thường đi thoát li, ít khi ở lại quê hương sinh sống lập nghiệp, cống hiến tài năng góp phần xây dựng quê hương Mặt khác, do tư tưởng hẹp hòi, cục bộ, nên cũng rất khó khăn trong việc thu hút nguồn lực từ bên ngoài về tham gia xây dựng làng xã, quê hương

Tất cả những yếu tố trên ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý và điều hành đội ngũ cán bộ trong HTCT ở cơ sở Đó cũng chính là rào cản hạn chế sự đóng góp của đội ngũ cán bộ cơ sở trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của Nghệ An

Một điểm đặc thù khác cũng phải lưu ý ở Nghệ An là ngay ở cơ sở xã, phường có một đội ngũ lớn, đông đảo các đồng chí cán bộ đảng viên có quá trình, có trình độ, còn nhiệt huyết về nghỉ hưu, sinh hoạt Bên cạnh thuận lợi cho phong trào cơ sở thì cũng là một thách thức đòi hỏi HTCTCS, cán bộ cơ sở phải có và phải trau dồi thường xuyên phẩm chất đạo đức và khả năng lãnh đạo

Cho đến nay, so với tình hình chung cả nước thì Nghệ An vẫn là một tỉnh nghèo Mức tăng trưởng kinh tế vẫn dưới tiềm năng Nền kinh tế chủ yếu vẫn là kinh tế nông nghiệp, đến năm 2005 trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệp vẫn đang chiếm tỷ trọng lớn (37,9%) so với công nghiệp (27,5%); chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, hiệu quả sản xuất chưa cao; sức cạnh tranh của sản phẩm nội tỉnh yếu Tốc độ đô thị hóa chậm Thu nhập bình quân đầu người mới chỉ bằng 64% mức bình quân chung của cả nước, nội lực trong dân còn rất mỏng, nguồn thu ngân sách mới đáp ứng được 58% nhu cầu chi thường xuyên, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao (8% theo chuẩn cũ) Lao động thiếu việc làm còn lớn

Trang 30

Nhiều vấn đề xã hội như: Tệ nạn ma tuý, tham nhũng, lãng phí, tội phạm còn diễn biến phức tạp, tai nạn giao thông còn nhiều, an ninh biên giới, vùng dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo vẫn còn diễn biến phức tạp

Đời sống của nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa vẫn còn rất nhiều khó khăn

Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy đảng ở một số đảng bộ cơ sở còn hạn chế Hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là vùng biên giới, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều bất cập, cải cách hành chính chưa có tiến bộ đáng kể

Với đặc điểm và những hạn chế nêu trên, gây những khó khăn nhất định trong việc phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh trên địa bàn Do vậy, đòi hỏi mọi cán bộ, Đảng viên và mọi người dân Nghệ An nói chung và đội ngũ cán bộ cơ sở nói riêng phải luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm, vừa phải tháo vát, mưu trí, vừa phải có sức khoẻ, đồng thời phải có kiến thức trình độ nhất định về các mặt để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh của Tỉnh trong giai đoan mới

Thông qua việc xem xét và phân tích kỹ những điều kiện, môi trường sống và làm việc của người cán bộ cấp xã, để thấy được những thuận lợi, khó khăn trong quá trình hoạt động, công tác, cũng như trong việc phấn đấu rèn luyện, học tập và trưởng thành đối với người cán bộ cơ sở nói chung, và cán bộ ở những vùng, miền khác nhau nói riêng Đây là những căn cứ thực tiễn để chúng ta đề xuất, kiến nghị các giải pháp sát đúng và phù hợp: đảm bảo giữa tính đổi mới và tính kế thừa, vừa đảm bảo chế độ, chính sách theo tiêu chuẩn chung, vừa đáp ứng yêu cầu cụ thể của từng vùng miền, từng địa phương và từng dân tộc nhằm từng bước xây dựng ĐNCBCS của tỉnh Nghệ An có đủ năng lực và phẩm chất để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới- giai đoạn CNH, HĐH đất nước

2.1.2 Những nét cơ bản về thực trạng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ

Trang 31

rõ: "Trong thời gian qua, hệ thống chính trị ở phần lớn cơ sở đã tích cực tổ chức thực

hiện nhiệm vụ, thực hiện Quy chế dân chủ, cùng với nhân dân tạo nên những thành tựu đổi mới và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt nông thôn và thành thị" [21, tr.166] HTCTCS ở nhiều nơi đã

phát huy vai trò là hạt nhân chính trị trong tổ chức, vận động nhân dân thực hiện một cách chủ động, sáng tạo các Nghị quyết của Đảng, đưa Nghị quyết vào cuộc sống và góp phần đưa cuộc sống vào Nghị quyết Qua đó, HTCTCS ở nhiều nơi đã không ngừng trưởng thành và vững mạnh, thực sự là nền tảng chính trị vững chắc ở cơ sở, cho ta những kinh nghiệm tốt

Bên cạnh những mặt được đáng biểu dương, khuyến khích phải thừa nhận HTCT

xã, phường, thị trấn đang là khâu yếu cần đặc biệt quan tâm Nghị quyết TW 5 (khoá IX)

khi đánh giá về mặt hạn chế của HTCTCS đã nêu:

Hệ thống chính trị cơ sở hiện nay còn nhiều mặt yếu kém, bất cập trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và vận động quần chúng Tình trạng tham nhũng, quan liêu, mất đoàn kết nội bộ, vừa vi phạm quyền làm chủ của nhân dân vừa không giữ đúng kỷ cương phép nước diễn ra ở nhiều nơi, có nơi nghiêm trọng Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận trong hệ thống chính trị chưa được xác định rành mạch, trách nhiệm không rõ; nội dung, phương thức hoạt động chậm được đổi mới, có nhiều biểu hiện của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp Đội ngũ cán bộ cơ sở ít được đào tạo, bồi dưỡng; chính sách đối với cán bộ cơ sở còn chắp vá [21, tr.166]

Rõ ràng những yếu kém, bất cập nêu trên đã làm cho HTCTCS kém hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động

Những yếu kém và các vấn đề bức xúc đó của HTCTCS có phần trách nhiệm của bản thân HTCTCS, có phần trách nhiệm của cả HTCT nói chung Thực tiễn đã chỉ ra rằng, chính

vì chúng ta chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và vị trí chiến lược của HTCTCS dẫn đến tình trạng coi nhẹ, buông lỏng làm cho hiệu quả, hiệu lực của HTCTCS bị giảm sút, có nơi

bị mất vai trò Đó chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng lộn xộn mất ổn định ở nhiều nơi trên toàn quốc mà đặc biệt là các điểm nóng Thái Bình và Tây Nguyên trong những năm vừa qua

Trang 32

Tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ của HTCTCS luôn được kiện toàn, chất lượng ngày càng được nâng cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra Chất lượng và hiệu quả lãnh đạo của các tổ chức Đảng, sự quản lý điều hành của HĐND, UBND và sự phối hợp của Mặt trân Tổ quốc cùng các đoàn thể nhân dân ở cơ sở đã tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, ổn định về chính trị, đoàn kết thống nhất hành động, tin tưởng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển quê hương giàu đẹp của toàn Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà

Với phương châm: Cả hệ thống chính trị vào cuộc, tất cả hướng về cơ sở, lấy khối,

xóm, thôn, bản làm địa bàn hoạt động; bám sát Nghị quyết, chỉ thị cấp trên, năng đông,

sáng tạo cụ thể hoá thành chương trình hành động cho từng lĩnh vực, ngành và khối, xóm Đổi mới cơ chế quản lý, thực hiện các chương trình kinh tế Đẩy mạnh phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện các chính sách xã hội, từng bước cải thiện đời sống nhân dân Đổi mới công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân quyết tâm đưa Nghệ An thoát khỏi tình trạng tỉnh nghèo và đến năm 2010 trở thành một trong những tỉnh khá của cả nước

Tổ chức hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở tỉnh Nghệ An:

+ Về các tổ chức cơ sở Đảng:

Nghệ An có 469 Đảng bộ xã, phường, thị trấn, chiếm gần 40% tổng số TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh

Những năm qua, phần lớn các TCCSĐ xã, phường, thị trấn ở Nghệ An đã thể hiện được về cơ bản vai trò hạt nhân chính trị lãnh đạo các mặt hoạt động và bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện ở cơ sở, năng động trong việc cụ thể hoá các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước sát hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương; chăm lo phát triển kinh tế-xã hội, tạo điều kiện để các tầng lớp nhân dân phát triển kinh tế, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo, ổn định đời sống và làm nghĩa

vụ với Nhà nước, bảo đảm quốc phòng-an ninh, trật tự xã hội; thực hiện quy chế dân chủ

Trang 33

cơ sở Thông qua công tác kiểm tra việc thể chế hoá đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, ở các đơn vị cùng với sự phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên, các tổ chức Đảng nên đã thực hiện tốt hơn cơ chế Đảng lãnh đạo,Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ, các tổ chức đoàn thể phối hợp Số cơ sở Đảng đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh năm sau cao hơn năm trước Năm 2004 qua phân loại TCCSĐ, có 70% số Đảng bộ xã, phường, thị trấn đạt danh hiệu vững mạnh, 29% TCCSĐ đạt khá, 1% số Đảng bộ yếu kém

+ Về bộ máy chính quyền:

Hội đồng nhân dân, UBND xã, phường, thị trấn đã từng bước quản lý Nhà nước trên địa bàn theo pháp luật, năng động, sáng tạo trong việc cụ thể hoá các chủ trương nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, chăm lo phát triển kinh tế- xã hội, từng bước nâng cao đời sống của nhân dân trên địa bàn từng xã, phường, thị trấn

Hội đồng nhân dân tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động, chuyển biến trong thực hiện chức năng quyết định, giám sát, khắc phục tính hình thức và ngày càng khẳng định vai trò là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân Các kỳ họp HĐND đều được lãnh đạo, định hướng của cấp uỷ, phát huy dân chủ, trí tuệ, trách nhiệm của tập thể, tổ chức đối thoại thẳng thắn và trả lời chất vấn có trách nhiệm Tiếp xúc cử tri ngày càng được cải tiến và có hiệu quả nhằm tập hợp đầy đủ nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của cử tri Công tác kiểm tra giám sát của các tổ đại biểu cũng như các đại biểu được tăng cường

ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn đã bám sát các nghị quyết của Đảng uỷ

và HĐND, cụ thể hoá bằng chính sách, giải pháp, các chương trình, dự án để triển khai thực hiện Xây dựng, ban hành các quy định, hướng dẫn rõ thẩm quyền quản lý và trình

tự giải quyết của chính quyền về quản lý Nhà nước trên từng lĩnh vực như: Quản lý xã hội, đất đai, tài chính ngân sách, giải quyết khiếu nại tố cáo Công tác quản lý, điều hành được cải tiến theo hướng tích cực, nghiên cứu, xử lý, tháo gỡ ách tắc, khó khăn của địa phương để thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh Nên hoạt động quản lý điều hành của chính quyền cơ sở thuận lợi hơn, tránh được những thủ tục phiền hà trong giải quyết công việc Giải quyết các đề xuất, kiến nghị, thắc mắc

Trang 34

của dân kịp thời hơn Về cơ sở vật chất đến nay các xã, phường, thị trấn vùng đô thị, đồng bằng, núi thấp đa số có trụ sở làm việc 2 tầng khang trang, một bộ máy vi tính; có trên 80% khối, xóm có nhà văn hoá, sân chơi thể thao; 100% khối, xóm xây dựng được quy ước, hương ước

Hội đồng nhân dân, UBND phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, trưởng khối, xóm, tiểu ban mặt trận bằng nhiều hình thức thực hiện sâu rộng quy chế dân chủ

Do đó đã phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng quê hương trong phát triển sản xuất, xây dưng cơ sở kỹ thuật hạ tầng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Kết quả phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh năm sau cao hơn năm trước Trong 5 năm qua, bằng huy động sức dân đã xây dựng được 642 km đường nhựa, 3.257 km đường bê tông, chủ yếu là đường giao thông nông thôn, hàng ngàn nhà tình thương, nhà tình nghĩa, hàng triệu ngày công xây dựng các công trình phúc lợi khác, Những năm gần đây đã xuất hiện nhiều cơ

sở không có đơn thư khiếu kiện vượt cấp, khiếu kiện đông người, đơn thư của nhân dân được giải quyết kịp thời, đúng luật

+ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội ở cơ sở các xã, phường, thị

trấn đã từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, xây dựng HTCTCS Tập trung vận động nhân dân, đoàn viên, hội viên hăng hái tham gia vào các phong trào sản xuất, các chương trình phát triển kinh tế- xã hội, vươn lên làm giàu chính đáng, giúp nhau xoá đói giảm nghèo, tích cực đấu tranh với các tệ nạn xã hội, đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, thực hiện rộng rãi quy chế dân chủ ở cơ sở Tăng cường thu hút các chương trình, dự án, mở rộng các hình thức huy động vốn, vận động hội viên, đoàn viên ứng dụng các tiến bộ khoa học

kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh Đồng thời các tổ chức đoàn thể chính trị- xã hội cũng

đã thực sự đứng ra bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của quần chúng nhân dân lao động Hàng năm, các tổ chức đoàn thể quần chúng ở cơ sở đều có tỷ lệ tập hợp đoàn viên, hội viên khá cao từ 75%-85%, các hội có tính chất nghề nghiệp- xã hội được củng cố kiện toàn và hoạt động tốt Đến nay, các tổ chức chính trị- xã hội đã được kiện toàn lớn mạnh, cơ bản đáp ứng nhiệm vụ đề ra ở cơ sở

2.1.3 Thực trạng đội ngũ cán bộ ở cơ sở tỉnh Nghệ An hiện nay

Trang 35

Theo số liệu điều tra tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2004 của sở Nội vụ cho thấy thực trạng ĐNCBCS tỉnh Nghệ An

Về trình độ các mặt của đội ngũ cán bộ cơ sở:

- Đối với cán bộ chuyên trách cấp xã:

+ Về trình độ văn hoá phổ thông: Cán bộ xã có trình độ văn hoá cấp 2, cấp 3 chiếm 99,3%, trong đó cấp 3 chiếm trên 3/4 (76,7%) Các xã ở đồng bằng và núi thấp có trình độ văn hoá cấp 3 là 83% cao hơn so với bình quân chung toàn tỉnh là 76,7% (đồng bằng: 83%; núi thấp 80%, núi cao 60%) (xem biểu 2.1)

Bảng 2.1: Trình độ văn hoá cán bộ chuyên trách xã

Nguồn: Sở Nội vụ- Nghệ An

Đối với các chức danh chủ chốt ở một số xã (chủ yếu ở miền núi, vùng cao) và các đoàn thể có trình độ văn hoá cấp 1 và cấp 2 còn chiếm tỷ lệ cao: Chủ tịch Phụ nữ xã 36,9%, Chủ tịch UBMTTQ xã 31,6%, Hội Nông dân 34%, CCB 36%, Bí thư- chủ tịch HĐND 22,6% (xem biểu tổng hợp về số lượng, chất lượng cán bộ, công chức xã,

phường, thị trấn)

+ Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ:

Bảng 2.2: Trình độ chuyên môn cán bộ chuyên trách xã

TT

Vùng, miền

T số (Người)

Nguồn: Sở Nội vụ- Nghệ An

Trong số cán bộ chuyên trách cấp xã được khảo sát cho ta thấy: Số có trình độ chuyên môn nghiệp vụ sơ cấp chiếm 10,30%; trung cấp 14,50% và cao đẳng-đại học

Trang 36

Trừ các phường, xã ở thành phố Vinh, thị xã Cửa lò, một số xã làm công tác đào tạo khá tốt như Thượng Sơn (Đô Lương), Đồng Văn (Thanh chương) số cán bộ được đào tạo chuyên môn cũng chỉ chiếm trên 50% tổng số cán bộ chuyên trách ở xã

Đa số các chức danh chủ chốt ở xã chưa được đào tạo về chuyên môn, chẳng hạn như:

Bí thư Đảng uỷ 35,9%, Chủ tịch UBND 30,4%, Phó Chủ tịch HĐND 45,6%, Phó Chủ tịch UBND 33,4% Chủ tịch MTTQ 49,78%, Chủ tịch Hội Nông dân 50,8%, Chủ tịch Hội Phụ nữ 54,7%, Bí thư Đoàn Thanh niên 52,7%

+Về trình độ lý luận:

Cán bộ chuyên trách cấp xã đã được đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chiếm 67,6% (trong đó sơ cấp 16,9%, trung cấp 48,3% và cao cấp 2,4%) Những năm gần đây Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã có nhiều cố gắng mở các lớp bồi dưỡng, đào tạo tập trung bằng nhiều hình thức, song vẫn còn 32,4% số cán bộ chưa được đào tạo, bồi dưỡng Nhìn chung, số cán

bộ được đào tạo, bồi dưỡng chất lượng còn rất hạn chế

Bảng 2.3: Trình độ lý luận Chính Trị cán bộ chuyên trách cấp xã

TT Vùng, miền

T số (Người )

Nguồn: Sở Nội vụ- Nghệ An

Trình độ về lý luận chính trị đào tạo qua chương trình trung cấp giữa các xã có điều kiện và ít điều kiện; các xã ở đồng bằng, trung du và miền núi cũng khác nhau (thấp dần từ xã khá đến xã yếu, thấp dần từ xã đồng bằng đến xã trung du rồi đến miền núi cao)

Trang 37

Nhìn chung các cán bộ chủ chốt đa phần đã được đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị như Bí thư Đảng uỷ kiêm Chủ tịch HĐND 92,45%, Phó Bí thư hoặc trực Đảng 86,8%, Chủ tịch UBND 81,90%; Phó Chủ tịch HĐND 70,5%, Phó Chủ tịch UBND 68,65%, Chủ tịch MTTQ 67,2% Số chức danh còn lại chưa vượt tỷ lệ 60% như Chủ tịch Hội nông dân 52,8%%, Chủ tịch Hội Phụ nữ 50,8%, hội nông dân 52,8%, Bí thư Đoàn thanh niên 45,5%

Mặc dù có 2/3 số cán bộ chuyên trách cấp xã đã được đào tạo, bồi dưỡng,nhưng nhìn chung hiệu quả hoạt động chưa tương xứng, chưa biểu hiện rõ ràng.(Qua thực tế cho phép chúng ta đi đến nhận xét: cần phải xem xét lại cả về nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng về chính trị cho cán bộ cơ sở, vì chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao nhận thức và phương pháp công tác cho cán bộ)

+ Về trình độ quản lý hành chính nhà nước và tin học

Bảng 2.4: Trình độ Quản lý nhà nước và Tin học cán bộ chuyên trách xã

Nguồn: Sở Nội vụ- Nghệ An

Cho đến thời điểm hiện nay mới có 47,7% cán bộ chuyên trách cấp xã được bồi dưỡng, đào tạo về quản lý nhà nước, trong đó 33,3% là qua khoá bồi dưỡng ngắn hạn 10

- 12 ngày chương trình quản lý hành chính Nhà nước, còn số cán bộ có trình độ trung cấp trở lên rất ít (khoảng 1,7%) Hầu hết cán bộ chuyên trách xã chưa được đào tạo cơ bản về Quản lý nhà nước

Trình độ tin học thì hầu như chưa được đào tạo, mới khoảng 3,6% có trình độ A

và 1,05% có trình độ B

Trang 38

Nguồn: Sở Nội vụ- Nghệ An

Đội ngũ cán bộ cấp xã ngày càng được trẻ hoá hơn Song, cơ cấu về độ tuổi hiện nay còn chưa hợp lý: tỷ lệ cán bộ có độ tuổi dưới 35 còn thấp, chỉ có 12,6%; từ 36 đến 45

là 43,3%; Từ 46 đến 55 có 36,4% và từ 51 tuổi trở lên là 5,5% Nhìn chung đội ngũ cán

bộ cấp xã có tuổi đời tương đối già, số người có tuổi đời từ 46 trở lên chiếm tỷ lệ khá cao: 41,9%

Cán bộ các xã ở vùng núi thấp có độ tuổi già hơn các vùng khác: độ tuổi trên 46 là 52,6%; ở vùng núi cao thì độ tuổi dưới 35 chỉ có 9,33%.(dưới tuổi 30 chỉ 3,55%)

Cán bộ các xã ở vùng đồng bằng, đô thị có tuổi đời trẻ hơn các vùng khác: độ tuổi dưới 35 là 15,1 % cao hơn mức mức bình quân chung của toàn tỉnh (12,6%); độ tuổi trên

45 là 39,96% thấp hơn mức bình quân chung của toàn tỉnh (42%)

Đối với các chức danh chủ chốt, qua khảo sát cho thấy quá già: từ 51 tuổi trở lên như Bí thư gần 30% (5,5% ở tuổi 55 trở lên, 24,3% ở tuổi 51), Trực Đảng 24%, Phó Chủ tịch HĐND 12,3%, Chủ tịch UBND 13,8%, Chủ tịch MTTQ 40%, hội Nông dân 38% Đặc biệt Bí thư Đoàn thanh niên tuổi từ 31 trở lên chiếm 73,07% trong đó trên 41 tuổi có 16%

Cơ cấu về cán bộ nữ, dân tộc, tôn giáo

Bảng 2.6: Cơ cấu cán bộ nữ, dân tộc, tôn giáo

Trang 39

TT

Vùng, miền

T số (Người )

Nữ Dân tộc

Tôn giáo (Thiên chúa giáo)

Nguồn: Sở Nội vụ- Nghệ An

Qua biểu trên ta thấy tỷ lệ cán bộ nữ tăng hơn những nhiệm kỳ trước đây, nhưng còn thấp, chỉ khoảng 11,8%, ở vùng núi cao chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, song cán bộ là người dân tộc cũng chỉ chiếm khoảng 66,94% Vùng đồng bằng có đông đồng bào công giáo, song cán bộ là người công giáo cũng có rất ít khoảng 0,8%

Với cơ cấu cán bộ như trên còn bộc lộ nhiều bất hợp lý (đặc biệt trong những địa bàn có đông dân cư là người dân tộc và tôn giáo sinh sống), cần phải có thời gian dài mới khắc phục được và phải bằng nhiều giải pháp

- Đối với Công chức xã, phường, thị trấn: (xem biểu tổng hợp số lượng, chất lượng Công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Nghệ An)

Công chức cấp xã được bố trí theo cơ cấu của các chức danh quy định Qua khảo sát, nghiên cứu thực trạng hoạt động của nhóm cán bộ này cho thấy: Tuy Công chức xã mới được thực hiện 2 năm với yêu cầu về tiêu chuẩn (đầu vào) cao hơn các đối tượng khác, đặc biệt là kiến thức chuyên môn được đào tạo, nhưng nhìn chung chất lượng cũng nằm trong một " luồng " như các đối tượng cán bộ khác ở cơ sở, thậm chí có mặt thấp hơn

Đối với những công chức được đào tạo chủ yếu trung cấp và sơ cấp, số có trình độ đại học rất ít Trong tổng số 3.725 công chức cấp xã mới có 2.200 (49,89%) được đào tạo chuyên môn từ sơ cấp trở lên, trong đó sơ cấp 321 (8,6%), trung cấp 1535 (41,2%), đại học 344 (9,2%), song số người có bằng cấp được bố trí đúng vị trí, phù hợp với chuyên môn đào tạo không cao.Trong số công chức chuyên môn thì công chức Kế toán- Tài chính có tỷ lệ được đào tạo cao nhất (83,5%), đến công chức Địa chính-Xây dựng

Trang 40

(73,78%), công chức Văn phòng-Thống kê (68,1%), công chức Tư pháp- Hộ tịch được đào tạo ít nhất (50,4%) Về trình độ lý luận chính trị, quản lý Nhà nước thấp hơn cán bộ chuyên trách: lý luận chính trị sơ cấp 12,7%, trung cấp 20,5%, cao cấp 1%; quản lý Nhà nước sơ cấp 6,7%, trung cấp 0,35%, số còn lại chưa được đào tạo

Đội ngũ công chức cơ sở cũng có bình quân tuổi đời tương đối cao: dưới 30 tuổi chỉ có 5-16%, dưới 35 có 27,4%, từ 36-45 tuổi chiếm 50,6%, từ 46 trở lên chiếm 16,4%

- Đối với đội ngũ cán bộ không chuyên trách:

Đội ngũ cán bộ không chuyên trách ở cấp xã và ở xóm, khối, bản là những người tham gia công tác ở các tổ chức Đảng, Chính quyền, đoàn thể, tổ chức hội với hình thức bán thời gian (chỉ sử dụng một phần thời gian trong toàn bộ quỹ thời gian lao động) và được hưởng phụ cấp (không phải lương) Chất lượng của đội ngũ cán bộ này chưa có quy định tiêu chuẩn cụ thể về các mặt Do vậy, nhìn chung hầu hết cán bộ không chuyên trách

ở cấp xã và ở các xóm, khối, bản không có bằng cấp chuyên môn và chưa được quan tâm bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ

Về ưu điểm:

Trong thời gian qua, đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Nghệ An đã từng bước trưởng thành và có nhiều đóng góp trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước qua các thời kỳ cách mạng, trong 2 cuộc kháng chiến giữ nước vĩ đại của nhân dân ta Phần đông vẫn giữ được bản lĩnh chính trị vững vàng, có kinh nghiệm trong chỉ đạo và thực hiện các nhiệm

vụ chính trị Trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và quản lý nhà nước có sự chuyển biến và nâng lên một bước Nhìn chung, đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn đã năng động và sáng tạo hơn trong việc thực thi nhiệm vụ và đóng vai trò tích cực vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội, cải cách hành chính, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa góp phần trực tiếp ổn định tình hình cơ sớ tạo nền tảng cho sự đổi mới về mọi mặt trong khu vực nông nghiệp và nông thôn của tỉnh nhà

Tuy nhiên, đứng trước những nhiệm vụ to lớn của thời kỳ đổi mới- công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; trước những yêu cầu nhiệm vụ mới, đội ngũ cán bộ cơ sở

Nghệ An còn bộc lộ nhiều điểm bất cập cần phải được quan tâm giải quyết

Những mặt tồn tại hạn chế:

Thứ nhất: Đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn hiện có khá đông về số

lượng, song còn một số lượng lớn chưa được đào tạo cơ bản, hệ thống về các mặt, đặc

Ngày đăng: 30/12/2015, 17:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Trình độ văn hoá cán bộ chuyên trách xã - Chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở tinht nghệ an
Bảng 2.1 Trình độ văn hoá cán bộ chuyên trách xã (Trang 35)
Bảng 2.2: Trình độ chuyên môn cán bộ chuyên trách xã - Chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở tinht nghệ an
Bảng 2.2 Trình độ chuyên môn cán bộ chuyên trách xã (Trang 35)
Bảng 2.3: Trình độ lý luận Chính Trị cán bộ chuyên trách cấp xã - Chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở tinht nghệ an
Bảng 2.3 Trình độ lý luận Chính Trị cán bộ chuyên trách cấp xã (Trang 36)
Bảng 2.4: Trình độ Quản lý nhà nước và Tin học cán bộ chuyên trách xã - Chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở tinht nghệ an
Bảng 2.4 Trình độ Quản lý nhà nước và Tin học cán bộ chuyên trách xã (Trang 37)
Bảng 2.6: Cơ cấu cán bộ nữ, dân tộc, tôn giáo - Chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở tinht nghệ an
Bảng 2.6 Cơ cấu cán bộ nữ, dân tộc, tôn giáo (Trang 38)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w