1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn huyện sông mã, tỉnh sơn la hiện nay

75 315 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 754,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này đã được Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá” [5;11] Hồ Chí Minh còn quan

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả các thầy giáo, cô giáo trong khoa

Lý luận chính trị và nhà trường đã tạo điều kiện động viên và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu

Em xin cảm ơn UBND huyện Sông Mã đã nhiệt tình giúp đỡ trong việc sưu tầm

và chọn lọc tài liệu

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Đỗ Huyền Trang, người đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ đạo và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho khóa luận của em hoàn thành đúng tiến độ

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo chủ nhiệm và tập thể lớp k52 Đại học giáo dục chính trị cùng gia đình đã động viên em để em hoàn thành tốt khóa luận

Trong quá trình sưu tầm, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp tài liệu cùng khả năng nắm bắt tình hình của bản thân còn nhiều hạn chế, nên thiếu sót trong khóa luận là điều không thể tránh khỏi Vì vậy, em rất mong nhận được sự ủng hộ, chỉ bảo và đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên cho khóa luận của em thêm đầy đủ và hoàn thiện hơn

Em xin trân thành cảm ơn!

Trang 2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNXH : Chủ nghĩa xã hội

CT - XH : Chính trị - xã hội DTTS : Dân tộc thiểu số HĐND : Hội đồng nhân dân HTCT : Hệ thống chính trị UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích, nhiệm vụ 4

3.1 Mục đích 4

3.2 Nhiệm vụ 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 4

7 Kết cấu của luận văn 5

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ NÔNG THÔN 6

1.1 Quan niệm chung về hệ thống chính trị 6

1.1.1 Khái niệm “chính trị” 6

1.1.2 Khái niệm “hệ thống chính trị” 8

1.2 Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn 14

1.2.1 Khái niệm hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn 14

1.2.2 Đặc điểm của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn 15

1.3 Vị trí, vai trò của cơ sở nông thôn và hệ thống chính trị nông thôn ở nước ta hiện nay 16

1.3.1 Vị trí, vai trò của cơ sở nông thôn (xã, phường, thị trấn) 16

1.3.2 Vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn 22

CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA - NHỮNG VẤN ĐỀ BỨC XÚC HIỆN NAY 25

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La 25

2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 25

Trang 4

2.1.2 Tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội 26

2.2 Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở huyện Sông Mã từ năm 2010 đến nay 30

2.2.1 Về tổ chức và hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng 31

2.2.2 Về tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở nông thôn 34

2.2.3 Về tổ chức và hoạt động của khối đoàn thể nhân dân 35

2.2.4 Về mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn 38

2.2.5 Về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nông thôn 39

2.3 Những vấn đề hạn chế đặt ra cần hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn huyện Sông Mã hiện nay 40

2.3.1 Hạn chế về tổ chức và hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng 40

2.3.2 Về tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở nông thôn 43

2.3.3 Về tổ chức và hoạt động của khối đoàn thể nhân dân ở cấp xã 46

2.3.4 Về mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị 47

2.3.5 Về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nông thôn 48

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ NÔNG THÔN CỦA HUYỆN SÔNG MÃ HIỆN NAY 50

3.1 Phương hướng cơ bản nhằm hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La hiện nay 50

3.1.1 Hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn phải đảm bảo ổn định chính trị - xã hội 50

3.1.2 Hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn phải đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện 51

3.1.3 Hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn phải gắn với việc xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức và mối quan hệ giữa các tổ chức đó trong một thể thống nhất 53

3.1.4 Hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nhằm phát huy có hiệu quả việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 55

Trang 5

3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông

thôn của huyện Sông Mã hiện nay 57

3.2.1 Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng 57

3.2.2 Củng cố, kiện toàn, đổi mới và nâng cao hiệu lực của chính quyền 59

3.2.3 Củng cố, xây dựng và đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cấp xã vững mạnh 61

3.2.4 Thực hiện tốt hơn nữa mối quan hệ hữu cơ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị 61

3.2.5 Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã, đặc biệt chú trọng xây dựng cán bộ người dân tộc bản địa 62

3.2.6 Đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở 65

KẾT LUẬN 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, đổi mới hệ thống chính trị là nhiệm

vụ rất quan trọng Nhiệm vụ hệ trọng đó đã được Đảng ta khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 Toàn bộ hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân Như vậy, quyền lực của nhân dân lao động có được đảm bảo hay không chính là tuỳ thuộc chủ yếu ở hệ thống chính trị có được đổi mới và hoàn thiện hay không Khi công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu, Đảng ta chủ trương hướng mạnh về cơ sở, quan tâm củng cố cơ sở xã hội của hệ thống chính trị, đề cao các sáng kiến và tính chủ động từ

cơ sở Tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (9- 2006) đặc biệt coi trọng đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là ở cơ sở nông thôn (xã, thị trấn) Đây cũng là thể hiện nhận thức mới của Đảng về đổi mới hệ thống chính trị Những nguyên tắc, yêu cầu, nội dung, phương thức đổi mới hệ thống chính trị cấp vĩ mô chi phối quá trình đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở và sự đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở

có tác động tích cực trở lại hệ thống chính trị nói chung

Cơ sở (xã, phường, thị trấn), trong đó xã là chủ yếu, chiếm tới 85% trong tổng

số các đơn vị hành chính cấp cơ sở, do vậy hệ thống chính trị ở cơ sở thuộc khu vực nông thôn giữ vị trí rất quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta Hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nông thôn trên địa bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La trong thời gian qua đang tiếp tục được củng cố, hoàn thiện nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở một cách thực sự Tuy nhiên trong những năm gần đây, vấn đề bức xúc đã và đang đặt ra bởi hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La còn bộc lộ nhiều yếu kém như: hệ thống tổ chức vẫn chưa ổn định, mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị ở đây còn nhiều bất cập, các tổ chức còn lúng túng trong hình thức tổ chức và phương thức hoạt động chưa đáp ứng với yêu cầu thực tiễn hiện nay

Đứng trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tình hình đó phải được khắc phục, phải được giải quyết Việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nông thôn trên địa bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La là vấn đề rất

Trang 7

quan trọng và cấp thiết để đảm bảo sự ổn định, phát triển lâu bền của nông thôn huyện Sông Mã đi lên CNXH hoà nhập chung với tiến trình phát triển của đất nước

Là một sinh viên chuyên ngành Lí luận chính trị nhận thức rõ vấn đề “Hoàn

thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn

La hiện nay” là vấn đề có tính lý luận và thực tiễn quan trọng vừa cơ bản lâu dài, vừa

cấp bách hiện nay Nên tôi chọn đề tài này để nghiên cứu khóa luận của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam vấn đề hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị các cấp

từ trung ương đến cơ sở nói riêng đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu trong những năm qua, theo thời gian có những công trình nghiên cứu sau:

TS Lưu Minh Trị, “Đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn

ngoại thành Hà Nội (cấp xã) trong giai đoạn hiện nay”, năm 1993

Đặng Thị Hiền, “Đổi mới kiện toàn hệ thống chính trị cấp cơ sở nông thôn

(thông qua khảo sát thực tế của tỉnh Tuyên Quang)”, Luận văn thạc sĩ khoa học

chuyên ngành Triết học, 1993

GS.TS Phạm Ngọc Quang, “Tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị nhằm phát huy

hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân lao động”, Tạp chí Triết học, số 3 năm 1996

GS Nguyễn Đức Bình, GS PTS Trần Ngọc Hiên, GS Đoàn Trọng Truyến,

Nguyễn Văn Thảo, PGS PTS Trần Xuân Sầm (đồng chủ nhiệm), “Đổi mới và tăng

cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới” Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 1999

PGS Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên), “Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ

hoá đời sống xã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000

TS Vũ Hoàng Công, “Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu hướng và giải

pháp”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002

TS Đặng Đình Tân, “Chính quyền cấp xã - những vấn đề đặt ra hiện nay”, Tạp chí

Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, Đặc san số 3 năm 2002

Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp

hành Trung ương khoá IX về “ Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở

cơ sở xã, phường, thị trấn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Trang 8

GS.TS Hoàng Chí Bảo (chủ biên), “Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước

ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004

TS Chu Văn Thành (chủ biên), “Hệ thống chính trị cơ sở - Thực trạng và một

số giải pháp đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004

PGS.TS Nguyễn Văn Vĩnh (chủ biên), “Góp phần đẩy lùi nguy cơ, bảo đảm ổn

định và phát triển đất nước”, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2005

Và các công trình khoa học khác nghiên cứu chủ đề có liên quan đến hệ thống chính trị

Phần lớn các công trình khoa học trên đây đều nghiên cứu hệ thống chính trị hoặc các chủ đề có liên quan đến hệ thống chính trị nói chung Các công trình khoa học trên tiếp cận hệ thống chính trị từ nhiều cách, nhiều góc độ khác nhau, nhưng tựu chung lại, các nhà khoa học với tư cách là những chủ thể sáng tạo, nghiên cứu, khảo sát, phân tích, khái quát nêu trên đều cố gắng giải quyết những vấn đề căn cốt của hệ thống chính trị với những mức độ khác nhau Xuyên qua những công trình đó, có thể tổng quan lại những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, các nhà khoa học đã từ nhiều cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra những định nghĩa có thể theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp về hệ thống chính trị

Thứ hai, các nhà khoa học đã tập trung phân tích cấu trúc, đặc điểm, các nhân tố chế định và vị trí, vai trò của hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị Việt Nam

nói riêng với những nét đặc thù của nó

Thứ ba, từ việc xác định các khái niệm công cụ - hệ thống chính trị, các nhà

khoa học khảo sát, phân tích thực trạng hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, vạch ra những tích cực và những hạn chế, những bất cập này cùng những nguyên nhân của nó Tuy nhiên, việc nghiên cứu hệ thống chính trị ở cơ sở không những chỉ ở cơ sở nông thôn (xã, thị trấn) và hẹp hơn nữa là chỉ ở cơ sở nông thôn trên địa bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La với những nét đặc thù riêng thì chưa có công trình khoa học nào dành riêng cho nó

Tất cả những công trình nghiên cứu trước đây thực sự là những tư tưởng quý giá đối với tôi để tiếp cận và kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học, về vấn đề này cùng với việc khảo sát thực tiễn ở huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La nói riêng và ở Việt Nam nói chung, sẽ là cơ sở để tôi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình

Trang 9

3 Mục đích, nhiệm vụ

3.1 Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu những thành tựu, hạn chế trong hệ thống chính trị ở cơ

sở nông thôn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, đề tài đưa ra phương hướng cơ bản và một

số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

Trình bày khái quát một số vấn đề lý luận chung về hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn Đồng thời, làm rõ vai trò của cơ sở nông thôn và hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn

Phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La hiện nay, trên cơ sở đó vạch ra những vấn đề bức xúc cần giải quyết về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La hiện nay

Xác định rõ phương hướng cơ bản và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu về hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn (xã, thị trấn) trên địa bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La 5 năm trở lại đây

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của đề tài là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về hệ thống chính trị

Đề tài nghiên cứu từ góc nhìn chính trị học, sử dụng phương pháp biện chứng duy vật Macxit làm nền tảng Trên cơ sở đó, luận văn sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích với tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học và các phương pháp đặc thù của chính trị học như: phân tích giai cấp, dân tộc, nhân loại trong chính trị và phương pháp tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội khi nghiên cứu chính trị

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Về lý luận: Góp phần làm rõ thêm một số nhận thức chung về hệ thống chính trị

ở cơ sở nông thôn

Trang 10

Về thực tiễn: Trên cơ sở các luận cứ khoa học và khảo sát thực tiễn để xác định

rõ những vấn đề bức xúc đang đặt ra đối với hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La hiện nay Đồng thời, luận văn góp tiếng nói vào việc hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên Địa bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn

La hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

Ở CƠ SỞ NÔNG THÔN 1.1 Quan niệm chung về hệ thống chính trị

1.1.1 Khái niệm “chính trị”

Chính trị là một hiện tượng lịch sử, xuất hiện và tồn tại khi xã hội phân chia giai cấp và hình thành nhà nước Chính trị là lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội có giai cấp, nó bao hàm những quan hệ, hiện tượng, những hình thức, khía cạnh rất đa dạng và phức tạp Ở mỗi khía cạnh, mỗi hình thức biểu hiện của nó thường dẫn tới một cách cảm nhận, cách hiểu tương ứng về chính trị Khó thống kê được hết những cách hiểu, định nghĩa như thế về chính trị Song điều đáng chú ý nhất đó là: bản chất của chính trị là gì? Vấn đề trung tâm then chốt của nó là gì? Và kết cấu của nó như thế

nào? Hơn nữa, để làm rõ khái niệm “hệ thống chính trị”, trước hết cần làm rõ khái

niệm “chính trị” Khái niệm chỉ một lĩnh vực phức tạp của đời sống xã hội có giai cấp

mà chính trị học và nhiều khoa học chính trị khác nghiên cứu

Mỗi một xã hội có giai cấp đều được cấu thành từ bốn lĩnh vực cơ bản: kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội Chính trị là một trong bốn lĩnh vực cơ bản đó Khẳng định điều này để chống các quan điểm tư tưởng phi chính trị hoặc tuyệt đối hoá chính trị

Điều này đã được Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: “Trong công cuộc kiến thiết nước

nhà có bốn vấn đề quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá” [5;11]

Hồ Chí Minh còn quan niệm: “văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động

khác không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị” [5;368]

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chính trị về thực chất bắt nguồn từ quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc Trong đó, trước hết và cơ bản nhất là lợi ích kinh tế

Rõ ràng chính trị có lôgíc vận động nội tại của nó và chịu sự quy định của kinh

tế, đồng thời nó tác động to lớn đối với kinh tế và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Chính trị có quá trình hình thành, tồn tại, phát triển và tiêu vong như một hiện tượng lịch sử ra đời khi xã hội phân chia thành các giai cấp và mâu thuẫn đó trở nên không thể điều hoà được

Vấn đề quan hệ giai cấp và vấn đề quyền lực nhà nước là hai vấn đề cơ bản nhất của chính trị Nói đến chính trị là phải nói đến giai cấp và nhà nước Tuy nhiên,

Trang 12

không chỉ có giai cấp và nhà nước mà chính trị còn liên quan đến nhiều vấn đề khác Nói đến chính trị mà chỉ nói đến giai cấp và nhà nước thì chưa đủ, nhất là trong thời đại ngày nay, khi mà hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, bình đẳng đã trở thành mệnh lệnh của đời sống nhân loại

Chính trị là một hiện tượng xã hội đặc biệt, nó xuất hiện khi xã hội phân chia thành các giai cấp, khi xuất hiện nhà nước, cho nên tiếp cận với chính trị từ những lập trường giai cấp khác nhau sẽ có những quan điểm không giống nhau

Quan điểm duy vật lịch sử về chính trị đòi hỏi phải xem xét chính trị trong quan

hệ với kinh tế, với giai cấp, với dân tộc, với nhân loại, với lợi ích giai cấp, với nhà nước cùng thiết chế chính trị đảm bảo hiện thực hoá những nhu cầu chính trị và kinh tế

Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại Đây là thuộc tính bản chất của chính trị Trong quan điểm đó, chính trị do kinh tế quy định, sự vận động và phát triển của kinh

tế quy định sự biến đổi của chính trị

Chính trị là mối quan hệ qua lại giữa các giai cấp, mối quan hệ đó quy định nội dung và cấu thành nền tảng của chính trị Các giai cấp và mối quan hệ qua lại giữa các gia cấp cấu thành cơ sở trực tiếp của chính trị, mặc dù các giai cấp và mối quan hệ giữa chúng do kinh tế quy định Khi xác định bản chất của giai cấp, chủ nghĩa Mác-Lênin trước hết nhấn mạnh phương diện kinh tế Đó là một đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất, nhưng không phải là duy nhất Giai cấp còn được xác định bởi những dấu hiệu chính trị, bởi lợi ích chính trị, bởi quan hệ của nó với nhà nước, bởi cuộc đấu tranh để giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị Cho nên mối quan hệ giữa các giai cấp không chỉ biểu hiện trong lĩnh vực kinh tế mà còn cả trên lĩnh vực kiến trúc thượng tầng Trong mối quan hệ đó, quan hệ kinh tế mang tính quyết định Trong xã hội có giai cấp, các lợi ích kinh tế cơ bản biểu hiện tập trung và khái quát thành lợi ích chính trị Khát vọng lợi ích cơ bản của giai cấp làm nảy sinh cuộc đấu tranh giai cấp

mà hình thức cơ bản của nó là đấu tranh chính trị Điều đó giải thích vì sao Lênin cho rằng, lợi ích kinh tế cơ bản của giai cấp công nhân chỉ được thoả mãn nhờ cách mạng chính trị, thay thế chuyên chính tư sản bằng chuyên chính vô sản

Từ sự phân tích trên có thể định nghĩa: “Chính trị là một lĩnh vực hoạt động

đặc biệt của con người, là lĩnh vực hoạt động quan hệ giữa các giai cấp cũng như các dân tộc, các quốc gia, với vấn đề giành - giữ, tổ chức và thực hiện quyền lực nhà

Trang 13

nước, là sự tham gia của công dân vào các công việc của nhà nước xã hội, là hoạt động chính trị thực tiễn của các giai cấp, đảng phái chính trị, các nhà nước nhằm thực hiện những mục tiêu đặt ra và thỏa mãn lợi ích” [19;54]

Về mặt quan hệ, chính trị là một lĩnh vực rất rộng, gồm nhiều mối quan hệ khác nhau trong không gian và thời gian xác định như: quan hệ giữa các giai cấp, giữa các đảng chính trị với các giai cấp, giữa đảng cầm quyền với các đảng phái khác nhau, giữa đảng với nhà nước, giữa nhà nước với công dân, giữa công dân với công dân, giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị

Về mặt kết cấu, chính trị bao gồm các nhân tố sau:

(1) Chính sách - các quyết định của các chủ thể chính trị

(2) Các thiết chế và thể chế chính trị

(3) Quan hệ con người chính trị - giới lãnh đạo chính trị với công dân

Dưới góc độ tổng quát nhất, chính trị được tiếp cận từ phương diện là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng trong xã hội có giai cấp Cho nên, chính trị là tổng hợp những mối quan hệ chính trị, ý thức chính trị, hệ tư tưởng chính trị, các thiết chế chính trị, tổ chức chính trị và con người chính trị…

Chính trị là hiện tượng xã hội có cấu trúc phức tạp Nó là phương thức tổ chức, điều chỉnh các quan hệ giai cấp, là phương thức quan hệ giữa các giai cấp và nhà nước nhằm giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị của một giai cấp

Vạch rõ dấu hiệu căn bản nhất cũng như quy luật chung nhất của chính trị, trong đó đặc biệt là quy luật về giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị, sẽ là cơ sở khoa học, là tiền đề cần thiết để khảo sát các dấu hiệu đặc trưng bản chất của thiết chế chính trị tương ứng - Hệ thống chính trị

1.1.2 Khái niệm “hệ thống chính trị”

Chính trị là một hiện tượng lịch sử, nó có quá trình ra đời, tồn tại và mất đi chính trị chỉ tồn tại khi xã hội có giai cấp và nhà nước Các nhà kinh điển Mác, Ăngghen, Lênin vẫn chưa dùng khái niệm hệ thống chính trị Tuy nhiên nội dung sự hiểu biết về hệ thống chính trị đã được Mác, Ăngghen, Lênin diễn đạt bằng những phạm trù liên quan như: hình thức chính trị, thiết chế chính trị, thể chế chính trị, cơ cấu chính trị, kết cấu chính trị của xã hội hay tư tưởng chính trị và các thiết chế tương ứng… Sau Mác, là ở các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa (đầu những năm 50 của thế kỷ XX) và ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ (Liên Xô muộn hơn vào đầu những năm

Trang 14

80 của thế kỷ XX) mới xuất hiện khái niệm hệ thống chính trị Ở Việt Nam, bắt đầu từ Hội nghị Trung ương 6 khoá VI (tháng 3-1989) Đảng ta mới dùng khái niệm hệ thống chính trị Trong những văn kiện, sách báo, tạp chí, công trình nghiên cứu chính trị ở nước ta gần đây ngày càng sử dụng rộng rãi phạm trù hệ thống chính trị, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Khái niệm hệ thống chính trị ra đời ở thời kỳ hiện đại, nó là

sự phản ánh chính trị hiện đại Mặc dù đến thời hiện đại, khái niệm hệ thống chính trị mới ra đời, nhưng sự hiểu biết về nó không kém phần đa dạng, phong phú đến mức mà khó có thể thống kê hết được những sự hiểu biết đó Chẳng hạn, ở các nước xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đây, quan niệm phổ biến xem hệ thống chính trị chỉ bao gồm những tổ chức chính trị - xã hội mang bản chất của giai cấp cầm quyền nhằm phục vụ cho quyền lực chính trị của giai cấp đó Quan điểm này đã đồng nhất phạm trù “hệ thống chính trị” với phạm trù “hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền” Từ đó, cho rằng hệ thống chính trị trong chủ nghĩa tư bản chính là hệ thống chuyên chính tư sản, còn hệ thống chính trị chủ nghĩa xã hội là hệ thống chuyên chính vô sản ở Việt Nam trước và một số năm đầu đổi mới, chúng ta chưa dùng khái niệm hệ thống chính trị mà vẫn dùng một cách phổ biến khái niệm chuyên chính vô sản để chỉ hệ thống và

cơ cấu các cơ quan quyền lực lãnh đạo và quản lý xã hội

“Hệ thống chính trị là một bộ phận của cấu trúc thượng tầng xã hội, bao gồm

các tổ chức, các thiết chế hợp pháp, có quan hệ về mục đích, chức năng thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị” [9;9]

Xem xét việc nghiên cứu HTCT mà thực chất là nghiên cứu hệ thống các tổ chức, các thiết chế có quyền lực chính trị, hoặc tham gia vào quyền lực chính trị, thì có hai khái niệm đáng chú ý dưới đây:

“Hệ thống tổ chức quyền lực là hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội, các

đảng chính trị hợp pháp và nhà nước cùng các quan hệ tác động qua lại giữa các yếu

tố đó nhằm tham gia vào quá trình hình thành các chính sách nhà nước, thực thi các quyền lực chính trị đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội và bảo đảm quyền thống trị của giai cấp thống trị hoặc quyền làm chủ của nhân dân lao động (trong các nước xã hội chủ nghĩa)” [9;9]

Tập thể tác giả của Viện Khoa học Chính trị - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh đưa ra định nghĩa: “Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội,

bao gồm các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong

Trang 15

việc thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị, trong việc đưa ra các quyết định chính trị” [20;124]

Hệ thống chính trị là các tổ chức, các thiết chế chính tri - xã hội và các mối quan hệ giữa chúng với nhau trong những cấp độ tổ chức và hoạt động tác động lẫn nhau từ trên xuống và từ dưới lên” [25;289]

Kế thừa nhiều giá trị ở các quan niệm trên, dưới góc nhìn của chính trị học theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, có thể hiểu Hệ thống chính trị là một phạm trù thuộc kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ một chỉnh thể hệ thống các tổ chức, các thiết chế chính trị - xã hội và các mối quan hệ giữa chúng với nhau trong và giữa các cấp độ tổ chức và hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ hợp thành cơ chế chính trị của một chế

độ xã hội nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị

Từ khái niệm vừa đưa ra trên, ta có thể xem xét đến sự tồn tại, vận động, biến đổi của HTCT diễn ra trên thực tế rất đa dạng Và tính đa dạng của HTCT tuỳ thuộc vào các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến:

Nhóm nhân tố khách quan: các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống chính trị quốc gia là địa lý và điều kiện kinh tế - xã hội và lịch sử Trình độ phát triển kinh tế, tương quan giữa các lực lượng chính trị đang hiện diện, yếu tố lịch sử truyền thống văn hoá

HTCT là một hiện tượng lịch sử chỉ tồn tại trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định trong xã hội có giai cấp và hình thành nhà nước Kết cấu HTCT không phải theo ý muốn chủ quan của một giai cấp nào, mà do điều kiện kinh tế - chính trị -

xã hội quy định

Sự hiện diện của các lực lượng chính trị và mối tương quan lực lượng giữa chúng Đây là yếu tố quyết định trực tiếp việc thiết lập HTCT theo mô hình đa đảng hay một đảng trên thực tế

Cùng với sự trưởng thành của ý thức công dân thì truyền thống, thói quen, lịch

sử văn hoá chính trị của dân tộc quốc gia là yếu tố khách quan tạo nên diện mạo bản sắc về HTCT của mỗi quốc gia

Nhóm nhân tố chủ quan:

Sự trưởng thành, năng lực và đạo đức, bản chất và bản lĩnh chính trị của đảng chính trị cùng với đội ngũ đảng viên của nó Đây là yếu tố rất quan trọng liên quan đến sinh mệnh đảng chính trị, nó được xem là thước đo tổng hợp đánh giá mức độ uy tín đích thực của đảng chính trị trước dân chúng như thế nào Điều này hoàn toàn từ xuất

Trang 16

phát điểm, cũng như là hệ quả của sự nỗ lực, trưởng thành nhân tố chủ quan của đảng chính trị mà có

Sự tương đồng về tư tưởng của các đảng chính trị: nếu việc tìm kiếm và tạo dựng sự tương đồng về tư tưởng, quan điểm của các đảng chính trị càng lớn thì dễ dàng chấp nhận nhau, cùng chia sẽ quyền lực chính trị Ngược lại, nếu các đảng chính trị đối chọi nhau về hệ tư tưởng chính trị, về lập trường giai cấp thì dễ dẫn đến xung đột về chính trị, khủng hoảng chính trị có thể diễn ra

Có thể nói, các nhân tố khách quan và chủ quan thường xuyên tác động đến quá trình hình thành và biến đổi của HTCT trong mỗi thời kỳ, cũng như quyết định hình thái tồn tại HTCT

Như vậy, theo lôgíc của tư duy có thể thấy hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa

là một chỉnh thể bao gồm Nhà nước chuyên chính vô sản, Đảng Cộng sản cùng các tổ chức chính trị xã hội hợp pháp ở các cấp độ và mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố đó theo chức năng nhiệm vụ nhằm đảm bảo quyền lực của nhân dân lao động

Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa chính là hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội

mà nhờ đó, nhân dân lao động thực thi quyền lực của mình trong xã hội

Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay bao gồm các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội của quần chúng tham gia vào Mặt trận với tư cách là những thành viên như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh… Về mặt tổ chức được xác định như vậy cho thấy nhiều tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội có vai trò chính trị đáng kể

và thậm chí thường xuyên có đại biểu trong Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, nhưng không phải là thành viên độc lập của hệ thống chính trị, mà chỉ tham gia hệ thống chính trị với tư cách thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (một liên minh chính trị rộng rãi, thống nhất của dân tộc tập hợp lực lượng thực hiện đại đoàn kết dân tộc, hiệp thương chính trị, hợp tác và hỗ trợ phát triển xã hội)

Hệ thống chính trị nước ta có nhiều đặc điểm khác với mô hình hệ thống chính trị của nhiều nước trên thế giới Về hệ thống chính trị ở nước ta, có thể có những quan niệm khác nhau, từ đó nêu ra những đặc trưng khác nhau, song để phục vụ cho việc khảo sát hệ thống chính trị ở cơ sở cần chú trọng các đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, một đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị ở nước ta là tính nhất nguyên chính trị và một đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 17

Tính nhất nguyên thể hiện ở chỗ nền tảng tư tưởng của cả hệ thống chính trị là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu chung, không chấp nhận các khuynh hướng chính trị trái với chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội Chỉ có một hệ thống chính trị duy nhất và thống nhất trong cả nước mà Đảng Cộng sản là hạt nhân lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam với sự vững vàng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong suốt lịch sử của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam

đã thể hiện là một Đảng mác - xít thực sự, chân chính lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi

từ thắng lợi này đến thắng lợi khác

Việc Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội là sự đảm bảo sự chắc chắn nhất để nhân dân bảo vệ và phát huy quyền làm chủ xã hội của mình, chống lại mọi biểu hiện đi ngược lại nguyện vọng, quyền lợi của nhân dân

Hệ thống chính trị nước ta do duy nhất một Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

là một đặc điểm vừa mang tính phổ biến đối với hệ thống chính trị các nước xã hội chủ nghĩa, vừa mang tính đặc thù Việt Nam Tính đặc thù đó do vai trò, vị trí, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam quy định

Thứ hai, hệ thống chính trị mang tính nhân dân rộng rãi

Tính nhân dân rộng rãi của hệ thống chính trị thể hiện chủ yếu ở mục tiêu, phương thức, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị:

Nhân dân là gốc của quyền lực, là chủ của xã hội Tổ chức của Nhà nước do nhân dân lập ra, hoạt động của các cơ quan và công chức nhà nước là đầy tớ của dân chịu sự giám sát tối cao và thường xuyên của dân

Hệ thống chính trị bằng mọi hình thức khác nhau để tập hợp, tổ chức mọi người dân thuộc các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, nghề nghiệp, chính kiến…, ở trong và ngoài nước để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

Thứ ba, tính quá độ của hệ thống chính trị Việt Nam

Hệ thống chính trị hiện nay ở nước ta đã và đang chuyển sang phạm trù hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa nhưng đang ở bước đầu xây dựng Nó là bước phát triển nối tiếp tự nhiên và liên tục từ hệ thống chính trị dân chủ nhân dân trước đây, đó cũng là sự chuyển biến từ cách mạng dân tộc dân chủ lên cách mạng xã hội chủ nghĩa Như trên đã phân tích, trung tâm của hệ thống chính trị là Nhà nước Nhà nước thể hiện bản chất chính trị của hệ thống chính trị và chế độ xã hội Các Đảng chính trị cũng phải giành lấy quyền lực Nhà nước, thông qua Nhà nước và bằng Nhà nước để

Trang 18

thực hiện các mục tiêu chính trị của mình Nhà nước mà một bộ phận quan trọng là nền hành chính nước ta còn rất non trẻ nhưng ảnh hưởng của chế độ tập trung quan liêu, bao cấp còn khá nặng nề Tính chất quá độ đan xen giữa cái cũ và cái mới còn khá đậm nét trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta

Thứ tư, hệ thống chính trị nước ta được tổ chức chặt chẽ, có sự phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mỗi tổ chức và cơ chế hoạt động của từng tổ chức cũng như của cả hệ thống Hệ thống chính trị ở Việt Nam được tổ chức hết sức rộng rãi, chặt chẽ, các mối quan hệ trong đó ngày càng được xác định rõ ràng hơn Trong phạm vi hoạt động của mình, cùng một lúc mỗi một thành viên phải thực hiện các quan hệ có tính chất khác nhau với các đối tượng khác nhau của hệ thống chính trị: quan hệ lãnh đạo, quan hệ chỉ đạo, hướng dẫn, quan hệ phối hợp, cộng tác, liên kết Tất cả tạo thành một mạng lưới chằng chịt, gắn kết chặt chẽ

Thứ năm, hệ thống chính trị nước ta có thuộc tính bản chất là sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính dân tộc

Ở nước ta, vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc luôn gắn bó, quyện chặt lẫn nhau Nghiên cứu quá trình dân tộc và quá trình chính trị của nước ta sẽ đi tới khẳng định sự nổi trội của tính dân tộc trong suốt lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Nhận rõ đặc trưng về sự nổi trội của tính dân tộc không phải là coi nhẹ tính giai cấp,

mà là khắc phục quan niệm tuyệt đối hoá giai cấp để thấy rõ sự thống nhất giữa tính dân tộc và tính giai cấp trong hoàn cảnh đặc thù của nước ta

Những đặc điểm trên vừa quy định kết cấu, tổ chức, vận hành và các mối quan

hệ vừa quy định tính thống nhất của hệ thống chính trị duy nhất trong cả nước Các khái niệm trung ương - địa phương - cơ sở chỉ là những cấp độ khác nhau của hệ thống chính trị nói chung chứ không phải là có ba hệ thống chính trị: hệ thống chính trị trung ương, hệ thống chính trị địa phương và hệ thống chính trị cơ sở Khẳng định điều này có ý nghĩa rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Với cách hiểu hệ thống chính trị nói chung có tính toàn vẹn, duy nhất, thống nhất như vậy sẽ là tiền đề, cơ sở

để hiểu đúng vai trò, vị trí của hệ thống chính trị ở cơ sở - cấp cơ sở của hệ thống chính trị nói chung

Tóm lại, xuất phát từ mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị ở nước ta nhằm xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Để thực hiện mục tiêu đó, tính đồng bộ trong hoạt động và

Trang 19

tính thống nhất về mục tiêu, tính chủ động sáng tạo của các tổ chức trong hệ thống chính trị và việc giải quyết tốt các mối quan hệ ngang dọc trong toàn bộ hệ thống là những điều kiện căn bản đảm bảo cho hệ thống chính trị hoạt động có hiệu quả Hay nói cách khác, sự hoàn thiện của hệ thống chính trị sẽ là phương thức và động lực để hoàn thành mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội ở nước ta

1.2 Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn

1.2.1 Khái niệm hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn

Muốn đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc biệt là ở cơ sở nông thôn nước ta nói chung, nông thôn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La nói riêng, vấn đề rất quan trọng và cần thiết trước tiên là phải nhận thức đúng về cơ sở và vị trí, vai trò của

cơ sở, đặc biệt là cơ sở nông thôn Lớp đối tượng mà khái niệm cơ sở nông thôn phản ánh đó chính là toàn bộ những xã, thị trấn đang tồn tại thực trên đất nước ta với những tên gọi, địa dư hành chính, pháp lý chính trị đầy đủ của nó Mặt khác, về mặt nội hàm tương ứng của khái niệm này phải được hiểu các xã, thị trấn ở nông thôn là cơ sở xã hội của chính trị, của chế độ chính trị, là cơ sở của thể chế chính trị, của thể chế nhà nước Cơ sở nông thôn: xã, thị trấn được xét ở đây tồn tại với tư cách là một cấp quản

lý trong hệ thống bốn cấp quản lý hành chính nhà nước hiện hành ở nước ta - cấp cơ

sở Như vậy, cơ sở nông thôn gồm xã, thị trấn là thuộc về cấp cơ sở của hệ thống quản

lý hành chính bốn cấp Khi xét hệ thống chính trị ở phần trên với tư cách là một chỉnh thể thống nhất, duy nhất có bốn cấp độ thì cấp cơ sở là một cấp của hệ thống chính trị hay cấp độ của hệ thống chính trị Tuy nhiên cấp độ cơ sở của hệ thống chính trị còn bao gồm cả phường Nhưng ở đây, luận văn chỉ đề cập đối tượng là: xã, thị trấn, tức là

cơ sở nông thôn nước ta hiện nay Trong đó, đặc biệt khảo sát thị trấn và các xã cơ sở nông thôn ở huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La từ năm 2010 đến nay

Dựa vào những nét khái quát chung nhất về hệ thống chính trị như đã nêu trên

theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, có thể hiểu Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn là toàn bộ các thiết chế chính trị cấp cơ sở- xã, thị trấn (tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân của xã, thị trấn và mối quan hệ giữa chúng) được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc xác định, gắn bó hữu cơ, thống nhất với nhau về mục đích, chức năng, nhiệm vụ nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở nông thôn

Trang 20

1.2.2 Đặc điểm của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn

Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nên nó cũng mang những đặc điểm chung của toàn bộ hệ thống

Ngoài những đặc điểm chung đó, xét khía cạnh địa vị pháp lý và thực tế thì HTCT ở cơ sở nông thôn còn mang đặc trưng riêng

Thứ nhất, hệ thống chính trị cơ sở là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị nước

ta hiện nay Đây là đặc điểm xét theo khía cạnh quan hệ thứ bậc mang tính pháp lý của chỉnh thể hệ thống chính trị duy nhất thống nhất ở nước ta hiện nay Tuy nhiên cấp thấp nhất không phải là cấp kém quan trọng nhất Mà thậm chí, xét theo khía cạnh thực thi mọi đường lối chính sách của Đảng và nhà nước thì đây lại là cấp quan trọng nhất Bởi vì, mọi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cuối cùng có thực hiện được hay không lại là ở cơ sở

Thứ hai, hệ thống chính trị ở cơ sở có bộ máy đơn giản nhất và cán bộ biên chế được hưởng sinh hoạt phí thấp nhất

Theo các quy định hiện hành thì hệ thống chính trị ở cơ sở xã, thị trấn được biên chế và hưởng sinh hoạt phí không quá 25 người Bộ máy đơn giản nhất nhưng không phải là đơn giản nhất trong vận hành bộ máy Các mối quan hệ ở đây không phải là không phức tạp Tính phức tạp ở đây được quy định bởi các yếu tố dân tộc, gia tộc, dòng họ, tôn giáo, văn hoá, truyền thống…

Thứ ba, hệ thống chính trị ở cơ sở là cấp có đội ngũ cán bộ biến động nhất, ít chuyên nghiệp nhất, trình độ học vấn và văn hoá, trình độ lý luận và chuyên môn thấp nhất

Đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị ở cơ sở biến động nhất là vì do cơ chế họ không được biên chế cố định mà chủ yếu lệ thuộc vào lá phiếu bầu chọn trong các cuộc bầu cử nên thời gian này làm cán bộ, thời gian sau làm dân thường Tâm lý không ổn định, số phận bấp bênh chi phối rất lớn đến từng người ở từng thời kỳ khác nhau Dẫn đến việc họ ít được chuyên môn hoá, ít được đào tạo cơ bản và họ cũng còn nặng tâm lý ngại học tập lý luận và chuyên môn nghiệp vụ theo xu hướng tâm lý

“quan nhất thời, dân vạn đại” Phần lớn những người được đào tạo cơ bản cả về lý luận

và chuyên môn nghiệp vụ thì họ tìm cách thoát ly khỏi xã, thị trấn để lại hệ thống chính trị ở cơ sở với đội ngũ cán bộ nổi bật đặc điểm này

Trang 21

Thứ tư, hệ thống chính trị ở cơ sở là cấp trực tiếp nhất chịu sự chi phối của nhân dân

Mọi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước quán triệt, triển khai đến dân đều qua cấp cơ sở Vì vậy, nó là cấp gần dân nhất và thể hiện tính nhân dân một cách

rõ ràng, trực tiếp nhất Song đây là cấp đầu tiên đối mặt với những yêu cầu bức xúc của dân chúng với những mâu thuẫn, thậm chí cả những xung đột nảy sinh trong đời sống dân cư Vì vậy, tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở mang tính tự quản cao

Thứ năm, hệ thống chính trị ở cơ sở nhất là ở cơ sở nông thôn là cấp mà quan hệ dòng họ, văn hoá làng xã, quan hệ dân tộc, tôn giáo tác động mạnh nhất

Hệ thống chính trị ở cơ sở là cấp mà quan hệ dòng họ, văn hoá làng xã có thể tác động mạnh nhất có ảnh hưởng đáng kể đến quan hệ nội bộ trong tổ chức và hiệu quả hoạt động của HTCT ở cơ sở nông thôn Trong quan hệ với dân, cán bộ ở cơ sở nông thôn có thể bị chi phối, ràng buộc rất lớn bởi quan hệ họ hàng, thân tộc, bởi các truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống làng xã Do đó, phải hết sức chú ý khắc phục tư tưởng dòng họ, bè phái, lợi dụng chức quyền theo kiểu “một người làm quan

cả họ được nhờ” hoặc “chi bộ ta”…

Những đặc điểm trên của hệ thống chính trị ở cơ sở, phản ánh, một mặt ở sự thống nhất, duy nhất của cả hệ thống chính trị được tổ chức và hoạt động theo tính thống nhất về mục tiêu và nguyên tắc Mặt khác nó cũng phản ánh nhiều mâu thuẫn,

có loại mâu thuẫn biện chứng của sự phát triển, có loại mâu thuẫn hình thức triệt tiêu

sự phát triển Vấn đề là phát hiện mâu thuẫn và phải có những giải pháp cụ thể xử lý những mâu thuẫn một cách cụ thể để đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở đáp ứng vị trí, vai trò quan trọng cần phải có của nó trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay

1.3 Vị trí, vai trò của cơ sở nông thôn và hệ thống chính trị nông thôn ở nước ta hiện nay

1.3.1 Vị trí, vai trò của cơ sở nông thôn (xã, phường, thị trấn)

Trước đổi mới, trong nền kinh tế hiện vật và kinh tế kế hoạch hóa với phương thức quản lý hành chính mệnh lệnh theo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, chúng ta chỉ nhìn nhận cơ sở như một cấp quản lý hành chính thấp nhất, cuối cùng trong hệ thống bốn cấp Theo cách nhìn này, cơ sở không chỉ thấp nhất mà còn là nhỏ nhất, nên

Trang 22

nói tới cơ sở thường chỉ thấy đó là một vi mô, trong khi cấp Trung ương, toàn quốc mới là cái vĩ mô

Nếu xét theo cấp độ quản lý và nhìn về lượng (quy mô diện tích, quy mô dân số

và dân cư, mức độ làm ra của cải vật chất, tính chất và lĩnh vực hoạt động) thì cách hiểu về cơ sở như đã nêu trên là không có gì sai Song đó mới chỉ là một phương diện của vấn đề cần bàn nhưng chưa đầy đủ

Hơn nữa, cách nhìn từ trên xuống, lâu dần theo thói quen, tiền lệ khó thay đổi hình thành trong tư duy quản lý là tính chất hành chính quan liêu, như: quen dùng chỉ thị, mệnh lệnh từ trên đã áp đặt xuống cơ sở, biến cơ sở trở thành thụ động, trì trệ làm mất đi tính năng động, sinh động và đa dạng phong phú ở cơ sở, Vì cơ sở vốn là nơi diễn ra mọi hoạt động đời sống của dân, việc làm của dân, là thái độ và hành vi ứng xử của dân chúng đối với cấp chính quyền, mọi quan hệ xã hội Cách nhìn từ trên xuống một cách quan liêu - hành chính như vậy, đã tạo ra khoảng cách biệt rất lớn giữa Trung ương với cơ sở, nếu có đi cơ sở cũng chỉ mang hình thức và chiếu lệ, tuỳ thuộc vào trách nhiệm công việc hay phong cách dân chủ, thái độ và tình cảm đạo đức với dân của cán bộ cấp trên chứ không mang tính pháp lý bắt buộc được bảo đảm bởi chế tài, bởi kiểm tra và giám sát

Cách biệt với cơ sở lại càng trở nên nghiêm trọng hơn khi hệ thống thể chế hành chính quan liêu bị xơ cứng bởi các tầng nấc, giấy tờ, công văn, chỉ thị của các cấp trên, bởi cả những khó khăn, trở ngại về giao thông đi lại do hạ tầng cơ sở kém phát triển, bởi thiếu thông tin, không có thói quen cập nhật thông tin từ cơ sở của đội ngũ công chức, viên chức quan liêu Cơ sở nông thôn miền núi, với những làng bản xa xôi gần như cách biệt, thậm chí không ít nơi bị bỏ quên, bị lãng quên, không được đầu

tư, chăm sóc, không được quan tâm để nó diễn ra một cách tự phát Những cơ sở loại

đó vốn đã lạc hậu, khó khăn, chậm phát triển lại càng trở nên khu vực đặc biệt khó khăn hơn

“Cái thấp nhất, nhỏ nhất trong quản lý không bao giờ được đồng nghĩa với cái

ít quan trọng hơn” [1;183], ít quan trọng hơn so với những cái cao hơn, lớn hơn Tư

duy so sánh hình thức ở đây đem áp dụng cho vị trí, vị thế của cơ sở là một sai lầm đã từng xảy ra khi nhận thức về cơ sở và ứng xử với cơ sở Do đó, nhận thức trước đây về

cơ sở còn nhiều điểm chưa đúng và chưa chính xác về đặc điểm, vai trò của cơ sở trong đời sống xã hội cũng như trong hoạt động lãnh đạo và quản lý ở cơ sở Tồn tại

Trang 23

này cần sớm được khắc phục để vị trí và tầm quan trọng của cơ sở được khẳng định trong thực tế đúng như bản thân nó vốn có Chính thực tiễn đổi mới, nhất là khi đi vào kinh tế thị trường và vận động dân chủ hoá ngày nay đã mở ra nhiều vấn đề về cơ sở, đòi hỏi phải đổi mới nhận thức về nó

Về phương diện nhận thức quản lý, không phải vì cơ sở là cấp thấp nhất nên đội ngũ cán bộ cơ sở bố trí thế nào cũng được Hiện trạng đội ngũ cán bộ cơ sở nông thôn (xã) hiện nay, đang yếu kém, bất cập, phần lớn không được đào tạo, không có chính sách, chế độ ổn định, hợp lý là hậu quả của nhận thức không đúng vì cách tổ chức, bố trí cán bộ nêu trên Mỗi cấp trong hệ thống quản lý có vị trí, vai trò, chức năng riêng của nó Nhận thức và giải quyết không đúng vấn đề này chẳng những gây trở ngại tới hoạt động và hiệu quả của cả hệ thống mà còn làm tổn hại trực tiếp tới cơ sở và cả nước vì mấu chốt của vấn đề là dân và tổ chức cuộc sống của dân sao cho phát triển sức dân, có lực lượng của dân, tài trí của dân góp sức vào thì mới thực hiện được những kế hoạch, mục tiêu phát triển xã hội, mới có động lực và nội lực để xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, đảm bảo sự bền vững của chế độ

Cấp vĩ mô - toàn quốc và Trung ương lẽ dĩ nhiên là hết sức quan trọng, bởi đó

là cấp hoạch định đường lối, chiến lược phát triển quốc gia, ảnh hưởng tới toàn bộ sự phát triển của dân tộc và xã hội Nhưng cấp cơ sở nông thôn cũng có tầm quan trọng của riêng nó Mỗi làng, xã như là mỗi tế bào góp thành cái vĩ mô của toàn xã hội, như

Hồ Chí Minh nói: Kết cấu nhà - làng - nước là một kết cấu bền vững, định hình từ lâu trong lịch sử tạo thành sức sống của dân tộc, truyền thống, bản sắc của một nền văn hoá Hơn nữa, mỗi một làng xã là một hình ảnh thu nhỏ của xã hội, ở đó diễn ra toàn

bộ hoạt động của đời sống xã hội, liên quan hàng ngày, hàng giờ tới cuộc sống của người dân Theo đó, làng xã thực sự là một thực thể kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa đóng vai trò nền tảng của cả xã hội, là động lực trực tiếp của phát triển xã hội Nếu quan tâm tới đời sống của dân, nếu thấm nhuần và nhất quán quan điểm dân là gốc của nước thì cơ sở thực sự mang nội dung và tính chất vĩ mô Thể chế quan liêu trong khi cách biệt với cơ sở thì nó dẫn đến xa dân nên không thấu hiểu cuộc sống của dân, tâm

tư, nguyện vọng của dân với biết bao lợi ích và nhu cầu chính đáng hàng ngày của họ Chỉ có thể xây dựng thể chế dân chủ thì cán bộ, công chức mới trở thành “công bộc của dân”, gần dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân, lãnh đạo và tận tuỵ phục vụ dân trong

sự giúp đỡ, ủng hộ của dân, trong sự kiểm tra giám sát của dân, dân chủ mới không biến thành “quan chủ”, “quan cách mạng” theo cách nói của Hồ Chí Minh

Trang 24

Trọng dân, tín dân và vì dân đã làm thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá về vị trí, vai trò của cơ sở khi mà dân và cuộc sống của dân vừa là điểm xuất phát, vừa là mục tiêu của mọi hoạt động lãnh đạo và quản lý, của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của HTCT Do đó, đổi mới nhận thức về vai trò của cơ sở, chúng ta đặc biệt lưu ý tới những điểm dưới đây:

Cơ sở nông thôn không chỉ là địa bàn cư trú của dân, mà còn là nơi diễn ra mọi hoạt động sinh sống và làm ăn của nhân dân lao động của đời sống xã hội Đó vừa là địa bàn diễn ra các hoạt động sản xuất - kinh doanh của người lao động, của các cơ sở doanh nghiệp theo các thành phần kinh tế , vừa là nơi diễn ra trao đổi, lưu thông hàng hoá, là đầu mối của thị trường, nơi hình thành các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sản xuất và tiêu dùng Do đó, nói tới cơ sở là nói tới người dân (các chủ thể) và hình thức

tổ chức các hoạt động sống của cộng đồng, các mối quan hệ xã hội Mỗi cơ sở là một cộng đồng xã hội, ở đó có hoạt động kinh tế, có giao lưu văn hoá và đồng thời tất yếu phải hình thành nên cộng đồng xã hội - chính trị, bởi có vai trò của quản lý hành chính của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo an ninh, trật tự xã hội và tổ chức đời sống chính trị của các công dân

Cấp cơ sở nông thôn, không chỉ là cấp thực hiện chức năng quản lý của nhà nước mà còn là nơi diễn ra các hoạt động tự quản của cộng đồng xã hội Đây là nét đặc trưng của nước ta, do đặc điểm và truyền thống lịch sử nên tính cố kết cộng đồng đặc biệt nổi bật ở cơ sở Tính chất vừa quản lý, vừa tự quản ở cơ sở thể hiện trong mối quan hệ giữa xã và bản Đây là mối quan hệ tác động qua lại, phân công, phối hợp chứ không phải là sự tách bạch cứng nhắc, siêu hình Về nguyên tắc, cấp cơ sở có chức năng quản lý hành chính nhà nước Nhưng để quản lý trên địa bàn xã thì phải xuống tận bản làng - đơn vị tự quản cộng đồng Trưởng bản có thể được UBND xã uỷ nhiệm cho một số công việc của xã được tổ chức thực hiện trong cộng đồng dân cư ở bản Song điều chủ yếu của bản là tự quản Việc tự quản các hoạt động cũng không khép kín, biệt lập trong từng bản, càng không được đối lập với quản lý Có những công việc

và hoạt động tự quản diễn ra trên quy mô xã Do đó, quản lý và tự quản, xã và bản không được cản trở nhau mà phải phối hợp nhịp nhàng, với một chuẩn mực là tuân thủ đúng pháp luật Đây chính là điểm đặc trưng về sự kết hợp và đan xen giữa quản lý với

tự quản, nên cơ sở tuy là một cấp quản lý hành chính nhà nước nhưng lại là một cấp không hoàn chỉnh, rõ nhất là ở chỗ, cán bộ cơ sở không phải tất cả đều là công chức

Trang 25

nhà nước, theo đúng thể thức bổ nhiệm, điều động, thuyên chuyển của Nhà nước Ở nông thôn làng xã, chỉ một số ít chức danh gắn trực tiếp với chuyên môn như tài chính, địa chính, thống kê, văn phòng trong UBND xã là cơ quan hành chính của cơ sở mới xếp theo ngạch công chức, còn đa số là cán bộ dân cử, dân bầu Cán bộ ở cơ sở là người sở tại, làm việc tại cơ sở, hàng ngày sinh sống, làm việc và quan hệ trực tiếp với dân Trong quan hệ với dân, họ có bị chi phối, ràng buộc rất mạnh mẽ bởi quan hệ họ hàng, thân tộc, bởi các truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống làng xã

Cơ sở nông thôn vừa là cấp cuối cùng trong quản lý xét theo chức năng và thẩm quyền, nhưng nó lại vừa là cấp đầu tiên và trực tiếp nhất, là nền tảng xây dựng chế độ dân chủ của toàn bộ hệ thống chính trị ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH Vì

cơ sở là nơi diễn ra mọi hoạt động của quần chúng, nơi tổ chức các phong trào xã hội của quần chúng để triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhằm đưa đường lối, chính sách vào cuộc sống Đặc điểm này nói lên vai trò quan trọng đặc biệt của cơ sở Mọi đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước có trở thành hiện thực hay không đều tuỳ thuộc vào việc tổ chức triển khai thực hiện ở cơ sở có chu đáo, cụ thể, có tập hợp được lực lượng dân chúng hay không Nó liên quan trực tiếp tới HTCT ở cơ sở, tới chất lượng đội ngũ cán bộ ở cơ sở Có cán bộ tốt thì mới có phong trào mạnh mẽ, sôi nổi Từ các phong trào của quần chúng ở cơ sở mà nảy sinh rất nhiều sáng kiến của dân, xuất hiện những điển hình tiên tiến của xã hội ở ngay cơ sở, làm cho cán bộ trưởng thành, phát huy được phẩm chất và năng lực trong công tác thực tế, nhờ đó làm tăng uy tín, ảnh hưởng của Đảng, Nhà nước trong quần chúng Cơ sở nông thôn chẳng những cung cấp cán bộ cho phong trào, cho cơ sở và cấp trên, mà còn là nơi quần chúng chứng thực tính đúng đắn của đường lối, chủ trương, chính sách hoặc từ thực tiễn cơ sở mà kiểm nghiệm, phát hiện, điều chỉnh, sửa chữa, làm cho đường lối, chính sách ngày càng phù hợp với thực tiễn, càng hợp với lòng dân và được lòng dân hơn

Cơ sở nông thôn là tầng sâu nhất mà sự vận hành của thể chế chính trị từ cấp vĩ

mô phải tác động tới Vì cơ sở gắn liền với dân, có quy mô dân số và diện tích Do

đó, cơ sở tuy là cấp thấp nhất trong cấp quản lý nhưng lại là tầng sâu nhất trong quản lý và lãnh đạo, là địa chỉ quan trọng nhất mà mọi chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phải tìm đến, phải bằng mọi cách tổ chức, tuyên truyền, vận động làm cho dân hiểu, dân tin và dân làm

Trang 26

Cơ sở nông thôn là cấp hành động và tổ chức hành động, nghĩa là cấp tổ chức triển khai thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Do đó, bố trí tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ ở cơ sở phải rất chú trọng tới tính thiết thực, hiệu quả, cán bộ phải giỏi thực hành, biết thực hành lý luận một cách sáng tạo, muốn vậy phải được trang bị tri thức và lý luận khoa học, có kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời lại phải

có phương pháp, đặc biệt là làm công tác dân vận, biết vận động thuyết phục quần chúng, miệng nói tay làm tai lắng nghe

Cơ sở nông thôn là nơi chính quyền trong lòng dân, cán bộ cơ sở từ dân mà ra Đặc biệt, cơ sở nông thôn là nơi trực tiếp nhất của thực tiễn, thể hiện ý thức và năng lực dân chủ của dân bằng cả phương thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Do đó,

cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, cơ sở là cấp có nhiều lợi thế và khả năng nhất để giảm thiểu xuống mức thấp nhất những thói tật quan liêu, hành chính, mệnh lệnh, tệ hại tham

ô, tham nhũng Vì nhờ dân chúng thường xuyên kiểm tra, giám sát hành vi cán bộ

Tại cơ sở xã hiện nay tồn tại song hành các thể chế quản lý, pháp luật nhà nước, quy chế dân chủ và các bản hương ước của thôn, làng Phải tổ chức thực hiện và tăng cường kiểm tra, giám sát sao cho không thể xảy ra các hiện tượng tuỳ tiện, cục bộ địa phương, coi thường pháp luật Phải khắc phục từ tâm lý, ý thức đến hành vi, hoạt động một nhược điểm thâm căn cố đế là “lệ làng cao hơn phép nước”, là tư tưởng dòng họ,

bè phái, lợi dụng chức quyền theo kiểu “một người làm quan cả họ được nhờ” Đó là những nét chung về đặc điểm, vai trò cơ sở ở nông thôn

Ngoài ra, cần phải chú ý tới một thực tế: cùng là cấp xã, cấp cơ sở nhưng xã – bản, làng - xã ở nước ta rất đa dạng, nó thống nhất trong khác biệt Xã đồng bằng khác xã trung du, miền núi, Tây Nguyên Xã ở miền Bắc rất khác xã ở miền Trung

và miền Nam

Tóm lại, cơ cấu kinh tế của xã đang chuyển đổi Cơ cấu xã hội ở xã đang ngày

một đa dạng hơn Đời sống chính trị trong làng xã đang đan xen cả những biến đổi tích cực, ổn định, phát triển lẫn những suy thoái, biến dạng, những tiêu cực và tệ nạn xã hội Có những xã nổi trội, xuất sắc, là những xã anh hùng trong đổi mới như xã Chiềng Cang, Chiềng khương… Nhưng cũng còn một phần đông các xã đang phải nỗ lực vượt lên, ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, trì trệ, và cũng không ít các xã đang quá yếu kém, đang xuất hiện các điểm nóng phải giải quyết Đây là một trong những vấn đề chính trị hệ trọng, có ý nghĩa chiến lược Chính vì thế, Hội nghị Trung ương 5 khoá IX

Trang 27

của Đảng đã ra Nghị quyết về “Đổi mới và nâng cao chất lượng của HTCT ở cơ sở xã

- phường - thị trấn” vào tháng 3 năm 2002 vừa qua

1.3.2 Vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn

HTCT ở cơ sở bao gồm xã, phường, thị trấn Nước ta có trên 10.538 đơn vị cơ

sở, trong đó có gần 8.947 xã, 565 thị trấn và chỉ có 1.026 phường [1;31] Với con số tuyệt đối đó, cấp cơ sở được gọi chung là cấp xã Cơ sở là cấp trực tiếp nhất trong hệ thống 4 cấp của quản lý hành chính ở nước ta hiện nay

Cho đến thời điểm hiện nay, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp với địa bàn nông thôn rộng lớn Kinh tế nông thôn chủ yếu vẫn là kinh tế nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp sản xuất nhỏ và thuần nông ở từng hộ gia đình của nông thôn, lực lượng sản xuất còn chậm phát triển Quá trình phân công và phân công lại lao động xã hội còn đang diễn ra, hơn 70% sức lao động và hơn 80% dân cư đang ở nông thôn

Do đó, HTCT ở cơ sở, đặc biệt ở nông thôn có một vị trí và vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội, đối với việc đảm bảo và giữ vững ổn định chính trị -

xã hội để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Nếu giữ vững ổn định chính trị - xã hội là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để thực hiện đổi mới và phát triển thì phải đặc biệt chú trọng và chăm lo sự ổn định và phát triển ở cơ sở, nhất là nông thôn Rõ ràng, nếu để sự yếu kém của HTCT ở cơ sở nông thôn xảy ra thì hệ quả tất yếu dẫn đến gây mất ổn định chính trị - xã hội Thực tế vừa qua ở nước ta càng cho thấy sự cần thiết, bức xúc của việc củng cố, xây dựng và phát triển cơ sở đã đến lúc đặt ra phải có giải pháp kiện toàn để tạo sự chuyển biến tích cực của HTCT ở cơ sở nông thôn Kinh nghiệm lịch sử và bài học của ông cha ta về việc an dân, trị quốc, cũng như kinh nghiệm đấu tranh cách mạng qua các thời kỳ do Đảng lãnh đạo đã cho thấy: việc giành dân, giữ dân có tầm quan trọng đặc biệt đối với

sự bền vững của chế độ Chính quyền trong lòng dân, cơ sở xã hội của chế độ là lòng dân, là sức mạnh đồng thuận xã hội của dân chúng từ cơ sở Do vậy để ổn định chính trị và phát triển xã hội, nhất thiết phải sớm khắc phục những yếu kém của HTCT ở cơ

sở, phải xây dựng HTCT ở cơ sở trở thành HTCT thực sự của dân, do dân và vì dân

Có một HTCT được lòng dân, được dân tin, dân yêu mến, dân giúp đỡ, dân ủng hộ và dân bảo vệ từ cơ sở thì ổn định chính trị sẽ được đảm bảo, mục tiêu của đổi mới sẽ được thực hiện thắng lợi

Trang 28

Với một nước phổ biến là nông nghiệp, nông thôn và nông dân thì cần phải lưu ý tới một triết lý được rút ra từ thực tiễn là: Nông thôn là biển, thành thị là thuyền, biển lặng

- thuyền yên Phát triển toàn diện và chăm lo tới cuộc sống vật chất và tinh thần của nông dân, đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo và khắc phục sự phân hoá giàu nghèo đang diễn ra gay gắt ở nông thôn, đảm bảo dân chủ và công bằng xã hội đối với nông dân Đó không chỉ là những nhiệm vụ đặt ra hàng ngày đối với HTCT ở cơ sở nông thôn, mà còn là thước đo đánh giá sự chuyển biến của HTCT ở cơ sở nông thôn Như vậy, vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn đối với sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội là thực hiện tập trung nhất ở việc bảo đảm vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng, tăng cường chức năng quản lý của Nhà nước theo đường lối chính trị của Đảng đối với kinh tế, phát huy quyền làm chủ của nhân dân mọi mặt trong đời sống thực tế

Dân chủ hoá đời sống xã hội nông thôn, thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ đối với nông dân và đưa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 - khoá IX về đổi mới và nâng cao chất lượng HTCT ở cơ sở xã, phường, thị trấn vào cuộc sống - đó là giải pháp cơ bản, lâu dài để tạo ra ở nông thôn một cộng đồng xã hội đồng thuận, đoàn kết, dân chủ và ngày càng ổn định, phát triển Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chỉ biết đến giá trị của dân chủ, của độc lập tự do khi dân được ăn no, mặc ấm Nước nhà có độc lập tự do mà dân chúng vẫn đói rét, nghèo nàn, lạc hậu thì độc lập tự do đó phỏng

có ích gì Phải làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành, được chăm sóc sức khỏe, được hưởng tự do và hạnh phúc Chỉ có thực hành dân chủ rộng rãi mới là chiếc chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi khó khăn

Tóm lại, tiếp cận và nghiên cứu hệ thống chính trị như một hệ thống chỉnh thể

các tổ chức, thiết chế, hệ thống các quan hệ và các cấp độ khác nhau như trên cho thấy

rõ được cấu trúc, bản chất và mục tiêu của hệ thống chính trị ở nước ta Hệ thống chính trị mà chúng ta đang đổi mới, hoàn thiện là hệ thống chính trị nhằm xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ của dân, phát huy vai trò làm chủ của các tầng lớp nhân dân lao động Tiếp cận và nghiên cứu hệ thống chính trị như vậy

sẽ thấy rõ được mối quan hệ máu thịt giữa hệ thống chính trị với dân và giữa dân với

hệ thống chính trị: Đảng của dân tộc, của nhân dân, nhà nước của dân, do dân, các tổ chức chính trị - xã hội của dân và tất cả đều vì dân Như vậy, hệ thống chính trị của chúng ta đang xây dựng về thực chất là của dân, do dân và vì dân Từ cách tiếp cận như thế chúng ta sẽ thấy rõ vị trí, vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn - một

Trang 29

cấp (cơ sở) của hệ thống chính trị duy nhất thống nhất gần dân nhất, trực tiếp vì dân nhất Vì vậy, mọi hoạt động của các chủ thể quyền lực trong HTCT cơ sở nông thôn là nhằm bảo đảm thực hành dân chủ, phản ánh ý chí nguyện vọng của nhân dân tại cơ sở

Do vậy, mọi cơ chế, quy chế thực hiện dân chủ và hoạt động của HTCT cơ sở nông thôn phải được dân biết, dân bàn, dân tham gia, dân kiểm tra Những căn cứ lý luận như vậy sẽ là công cụ nhận thức quan trọng để luận văn khảo sát hệ thống chính trị ở

cơ sở nông thôn trên địa bàn huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La dưới dây

Trang 30

2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Huyện Sông Mã nằm ở phía Tây - Nam của tỉnh Sơn La, phía Bắc giáp huyện Thuận Châu, Đông Bắc giáp huyện Mai Sơn, Nam và Đông Nam giáp hai huyện Xiềng Khọ, Viêng Thoong (Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào), Tây giáp hai huyện Điện Biên và Điện Biên Đông (tỉnh Điện Biên)

Sông Mã có diện tích tự nhiên 3.136km², gồm 18 xã, 1 thị trấn [18;5], có độ cao trung bình so với mặt biển 600m, cao nhất là đỉnh Pu Sam Sao 1.940m (thuộc xã Nậm Lạnh ), điểm thấp nhất là 200m (dòng Sông Mã đoạn thuộc xã Chiềng Khương, giáp biên giới Việt Lào)

Sông Mã thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, mỗi năm chia làm hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500mm, tập trung vào các tháng 6, 7, 8 Từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau bị ảnh hưởng gió Tây Nam, thời tiết lạnh, khô hanh, sự chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm khá cao, nhiệt

độ trung bình ở mức 17,8ºC độ ẩm trung bình 79,7% [18;5 ] Khí hậu vùng Sông Mã

phù hợp với sự sinh trưởng của cây trồng, nhất là các lại cây lương thực, một số cây công nghiệp và cây ăn quả thuộc họ nhãn, vải, họ cây có múi Đất đai Sông Mã nhìn chung có tầng canh tác dày, độ phì cao, rất thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp

Rừng Sông Mã có nhiều gỗ quý như: lát, dổi, thông, chò chỉ…, nhiều muông thú như voi, hổ, hươu, nai, khỉ, vượn…, nhiều loại cây dược liệu quý như đẳng sâm, sa nhân, hà thủ ô… Đặc biệt Sông Mã có khu rừng quốc gia Dồm Cang, Púng Bánh, Nậm Mằn, Huổi Một, với diện tích 13.670ha, thuộc loại rừng á nhiệt đới, nhiều chỗ còn là rừng nguyên sinh Cây cối có hơn 1.000 loài khác nhau, các gỗ quý như: thông, dổi Đáng chú ý ở đây có khỉ mặt đỏ, vọoc đen là hai loài thú quý hiếm ở Việt Nam Trước đây khu rừng này có tê giác, một đàn voi khoảng 20 - 30 con sinh sống ổn định trong nhiều năm, nhưng từ cuối thập niên 70 đàn voi di cư dần về phía biên giới Việt - Lào, rồi sang Lào, đến nay chỉ còn 2 - 3 con

Trang 31

Trong vòng 30 năm trở lại đây, rừng bị tàn phá nghiêm trọng, muông thú quý hiếm bị săn bắn, tài nguyên rừng gần như cạn kiệt , độ che phủ có lúc chỉ còn 7%, thú gần như không còn Những năm gần đây huyện đã triển khai nhiều chương trình bảo

vệ rừng, trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, nhưng hiệu quả còn thấp, hiện nay độ che phủ rừng là 45%

Hệ thống sông, suối ở Sông Mã khá phong phú, lưu lượng nước dồi dào, rất thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư Con Sông Mã chảy suốt dọc huyện theo hướng Tây - Bắc xuống Đông Nam, từ Bó Sinh lần lượt qua 10 xã và thị trấn Sông Mã, đến Chiềng Khương, rồi đổ sang Lào Ngoài ra còn trên 20 con suối lớn, nhỏ, phân bố tương đối đều ở các vùng

Hệ thống đường giao thông ở Sông Mã phát triển chậm là khó khăn lớn trong quá trình phát triển của huyện Đường ôtô duy nhất ra tỉnh là đường 4G, được xây dựng vào năm 1959 Đây là tuyến đường hiểm trở nhất tỉnh sơn la, đường hẹp, quanh co khúc khủy, dốc cao, vực sâu, lại có trên 20 lần qua suối, mùa mưa thường bị tắc nghẽn do lũ, sạt lở đất Các tuyến đường liên bản đều là tạm thời Toàn huyện còn 8 xã chưa có đường

ô tô đến trung tâm xã Dòng Sông Mã siết với nhiều thác ghềnh nguy hiểm, khó khăn cho việc xây dựng đường thủy

Điều kiện tự nhiên đã tạo ra cho Sông Mã những tiềm năng lớn để phát triển nông, lâm nghiệp và có thể trở thành vùng nguyên liệu phong phú cho phát triển công nghiệp chế biến Mặt khác Sông mã có hai cửa khẩu với nước công hòa dân chủ nhân dân Lào có thể mở mang quan hệ thương mại với nước bạn

2.1.2 Tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội

2.1.2.1 Tình hình kinh tế

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Sông Mã lần thứ XIX (nhiệm kỳ 2010-2015), hơn 3 năm qua kinh tế của huyện duy trì tốc độ tăng trưởng khá Tổng giá trị gia tăng năm 2011: 14,3%, năm 2012: 13,02%, năm 2013 đạt tốc độ tăng bình quân 12,8%/năm Giá trị gia tăng bình quân đầu người năm 2011 đạt 8,3 triệu đồng, năm 2012 đạt 9,4 triệu đồng, năm 2013 đạt 11 triệu đồng Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực Năm 2011 tỷ trọng nông lâm nghiệp chiếm 47,1%, công nghiệp - xây dựng 22,1%, thương mại - dịch vụ 30,8% Đến năm 2013, tỷ trọng nông lâm nghiệp đạt 46,24%, công nghiệp - xây dựng 22,24%, thương mại - dịch vụ 31,5% Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với

Trang 32

thị trường tiêu thụ, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 7,3%/năm Sản lượng lương thực có hạt năm 2011 đạt: 102.424 tấn, năm 2012 đạt: 107.069 tấn, năm 2013 đạt: 108.160 tấn, an ninh lương thực được đảm bảo Cây ăn quả ổn định diện tích 5.298 ha Tổng đàn gia súc năm 2013 đạt 145.000/90.000 con, đạt 161,73% so với Nghị quyết, tăng bình quân 6,8%/năm, tổng đàn gia cầm năm 2013 đạt 775 nghìn con tăng bình quân 16%/năm Công tác quy hoạch xây dựng Nông thôn mới được triển khai tại 18 xã, triển khai xây dựng 01 xã điểm Nông thôn mới (xã Chiềng Khương) Diện tích nuôi trồng thuỷ, đặc sản năm 2011 là 386 ha, đến năm 2013 ước thực hiện 402 ha tăng 12,82% so với năm 2010 Công tác bảo vệ, khôi phục, phát triển vốn rừng được các cấp, các ngành quan tâm thường xuyên, 3 năm qua đã trồng mới được 345 ha; thực hiện khoanh nuôi tái sinh rừng, bảo vệ rừng, nâng độ che phủ của rừng lên 45% năm

2013 [4;1]

Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp có sự phát triển cả về quy mô và số lượng sản phẩm, chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường Triển khai xây dựng Nhà máy gạch Tuynel tại xã Chiềng Khoong, xây dựng Nhà máy thuỷ điện Nậm Công, thuỷ điện Nậm Công 3, thuỷ điện Nậm Sọi, thuỷ lợi - thuỷ điện Kéo Bắc Từ 2010 đến 2013 tăng bình quân 10%/năm Các sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cơ bản đáp ứng được thị trường nội huyện, thị trường nội tỉnh Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 3 năm 2011 - 2013 đạt 1.940 tỷ đồng Triển khai thực hiện có hiệu quả các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu chính phủ, vốn

dự án tái định cư thuỷ điện Sơn La để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng Từ năm 2011 đến năm 2013, đã hoàn thành đưa vào sử dụng 178 công trình phục vụ dân sinh Các công trình kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất, giao lưu, trao đổi hàng hoá góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân [4;1]

Thương mại - dịch vụ phát triển khá, mạng lưới thương nghiệp, dịch vụ và hệ thống chợ đã cơ bản đáp ứng việc cung cấp các mặt hàng thiết yếu cho nhân dân Tổng mức hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội 3 năm 2011 - 2013 đạt trên

900 tỷ đồng Mạng lưới thông tin liên lạc không ngừng được mở rộng và nâng cao chất lượng phục vụ, đã phủ sóng điện thoại di động đạt 19/19 xã, thị trấn Tỷ lệ người dân được sử dụng điện thoại 32 thuê bao/100 dân Công tác tín dụng đã đáp ứng nhu cầu vay vốn của nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, tạo việc làm, giúp nhân

Trang 33

dân ổn định cuộc sống, từng bước xoá đói, giảm nghèo Công tác thu, chi ngân sách 3 năm 2011-2013 đều đạt và vượt chỉ tiêu đề ra Tổng thu ngân sách 3 năm (2011-2013) đạt 1.584,6 tỷ đồng, trong đó thu trên địa bàn đạt 68 tỷ đồng Các hoạt động tài chính, tín dụng đáp ứng nhu cầu của nhân dân Tổng dư nợ các ngân hàng thương mại trên địa bàn năm 2013 đạt trên 437 tỷ đồng, tăng 151 tỷ đồng so với năm 2010 Công tác tổ chức đón dân tái định cư của huyện đã tạo được sự đồng thuận và thu được nhiều kết quả quan trọng Đã tổ chức di chuyển, tiếp nhận an toàn 616 hộ tái định cư của huyện Quỳnh Nhai về 20 điểm tái định cư được quy hoạch trên địa bàn huyện Các chế độ chính sách về nhiệm vụ tái định cư thuỷ điện Sơn La cơ bản được quan tâm giải quyết, đời sống của nhân dân tái định cư từng bước ổn định [4;1]

2.1.2.2 Tình hình văn hóa - xã hội

Sông Mã bao gồm 6 dân tộc anh em cũng sinh sống (Thái, Kinh, H’Mông, Xinh Mun, Khơ Mú, Lào) và một số dân tộc khác như: Tày, Mường, Ê Đê… Nhưng số lượng rất ít Số liệu điều tra dân số năm 1999 cho thấy toàn huyện có 129.841 người, trong đó Thái 58,5%, Mông 16%, Kinh 13,4%, Khơ Mú 3.6%, Xinh Mun 4%, Lào 2,6%, các dân tộc khác 0,2% [18;8] Dân số Sông Mã ngày một tăng theo số liệu điều tra năm 2012 là trên 133.000 người, có 9 dân tộc anh em cùng chung sống (Thái, Mông, Kinh, Sinh Mun, Khơ Mú, Kháng, Mường, Lào, Tày) Mật độ dân số bình quân

78 người/km2 [4;1]

Cư dân Sông Mã sống chủ yếu dọc hai bờ sông Mã và các con suối lớn Người Thái đông nhất, sinh sống ở vùng thấp có nhiều phiêng bãi bằng, có ruộng nước Người Xinh Mun thường ở gần sông suối, nhưng sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy Người Khơ Mú ở rẻo giữa, sống bằng nương rẫy Người H’Mông sống ở vùng núi cao, nhưng khi kinh tế hàng hóa phát triển và nhất từ khi thực hiện định canh định cư

và xóa bỏ cây thuốc phiện, nhiều gia đình đang có xu hướng chuyển xuống vùng thấp

để phát triển kinh tế vườn Người Lào sống tập trung chủ yếu ở Mường Và và Mường Lạn

Với đặc điểm là huyện có đa dân tộc, 9 dân tộc cùng chung sống, Điều đó đã tạo cho huyện Sông Mã một diện mạo phong phú và đa dạng cả về dân tộc và về văn hóa Ngày nay bên cạnh việc sử dụng rộng rãi tiếng Việt thì tiếng nói và chữ viết của các dân tộc bản địa cũng được khuyến khích phát triển, ngày một phong phú và đa dạng đáp ứng nhu cầu biểu đạt về nhiều lĩnh vực khác nhau trong giao tiếp đặc biệt là tiếng Thái, Mông

Trang 34

Mỗi dân tộc đều có những bản sắc văn hóa riêng:

Như người Thái vá người Xinh Mun đặt bàn thờ - Phi hươn [18;10] ở một góc nhà phía trên đường trước (phái quản) ngôi nhà Người Khơ Mú lại đặt bàn thờ - Phi hươn trên gác bếp Việc thờ cúng trời đất, tổ tiên được thể hiện bằng nhiều hình thức

lễ hôi phong phú Vào mùa xuân có Xên mường (cúng mường), có xên bản (cúng bản), ngày xưa thường tổ chức linh đình tới hai đến ba ngày, phí tổn do dân đóng góp Xên mường, xên bản như một lễ tổng kết năm cũ, bước sang năm mới, cầu mong trời đất tổ tiên phù hộ cho mường, bản

Người Khơ Mú có tết “mã phứa, mã măn” (phứa: khoai sọ, Măn: củ mài) vào dịp thu hoạch nương dẫy xong Cũng vào dịp này người Lào có tết “kin khẩu hó” Đây

là những hình thức mừng được mùa và cầu mong sự phù hộ của trời đất, tổ tiên đẻ mùa sau được nhiều hơn Trong tết “mã phứa, mã măn” người Khơ Mú chọn một người đàn

bà trong bản cho vào một cái bồ kín và bỏ vào trong đó một hòn đá tròn nhẵn, người phụ nữ tượng trưng cho mẹ lúa, mẹ khoai, hòn đá tượng trưng cho hạt lúa, củ khoai… Thể hiện mong ước trời đất cho họ những hạt lúa, củ khoai to bằng hòn đá

Người H’Mông có tết cổ truyền, tổ chức trong 10 ngày từ 25/12 năm trước đến ngày 5/1 năm sau (theo dương lịch), có phần tết thịt lợn, phần tết thịt gà, có bánh dầy… trong dịp tết có tổ chức thăm hỏi, vui chơi, đánh quay, ném pao…

Từ sau ngày giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc vân động xây dựng đời văn hóa từng bước phát huy hiệu quả, xuất hiện hình thức lễ hội mới, đặc biệt các

dân tộc huyện Sông Mã đã lấy ngày Quốc khánh 2 – 9 là này tết: “kin chiêng xoong

căm bươn cầu” (ăn tết mùng 2- 9) [18;11], đã trở thành tập quán chung của các dân

tộc vùng Sông Mã

Mỗi dân tộc có phong tục, tập quán, tính cách riêng, nhưng đồng bào Sông Mã đều có chung đức tính cần cù, chịu khó trong lao động, trung thực, chất phác, mến khách

và rộng lượng… có truyền thông đấu tranh kiên cường bảo vệ quê hương đất nước

Đổi mới công tác giáo dục - đào tạo, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, quy mô, mạng lưới trường lớp phát triển đều ở các bậc học Hiện nay toàn huyện có 71 đơn vị trường học và 2.131 cán bộ giáo viên các cấp học Duy trì và giữ vững 19/19 xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập Trung học

cơ sở Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi đạt 14/19 xã thị trấn Tỷ lệ học sinh lên lớp, đỗ tốt nghiệp, học sinh khá, giỏi và thi đỗ vào các trường cao đẳng, đại

Trang 35

2.1.2.3 Tình hình quốc phòng, an ninh đối ngoại

Phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Đảng bộ và nhân dân huyện Sông Mã đã làm tốt cống tác an ninh, quốc phòng bảo vệ chủ quyền của huyện

Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của toàn dân trong xây dựng thế trận, lực lượng và tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ huyện vững chắc, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới Mở rộng quan hệ với các huyện trong, ngoài tỉnh, đảm bảo giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội Tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện với huyện Mường Ét của tỉnh Hủa Phăn (nước CHDCND Lào)

Tóm lại: Những đặc điểm mang tính đặc thù nêu trên, tác động chi phối rất mạnh tới HTCT cơ sở cấp xã của huyện Sông Mã Điều này cần phải tính toán kỹ lưỡng trong quá trình kiện toàn HTCT ở cơ sở nông thôn của huyện Sông Mã

2.2 Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở huyện Sông Mã từ năm

2010 đến nay

Phát huy truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm, sau ngày thành lập huyện năm 1953, trong công cuộc đổi mới Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, tình hình chính trị của huyện Sông Mã luôn ổn định, giữ vững quốc phòng - an ninh và củng cố trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh

tế - xã hội Nhờ vậy, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Sông Mã đã khai thác có hiệu quả những lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực góp phần khắc phục những khó khăn về kết cấu hạ tầng, công nghiệp, tài chính, trình độ dân trí

Một trong những thành tựu quan trọng mà Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Sông Mã đạt được trong nhiều năm qua là kiện toàn HTCT Ngay sau khi thành lập huyện, ý thức được vai trò, vị trí của HTCT cơ sở, huyện ủy Sông Mã cùng với Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) huyện đã có sự chú trọng xây dựng và cũng cố HTCT cơ sở nông thôn Quán triệt sự phối hợp chặt chẽ việc thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong hoạt động của HTCT cơ sở Kết quả là đã tiến hành sắp xếp lại tổ chức bộ máy của HTCT các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở Từng tổ chức trong HTCT ở cơ sở đã quan tâm việc xây dựng và thực hiện quy chế làm việc và quy chế phối hợp hoạt động nên đã giúp cho

Trang 36

mỗi tổ chức nhận thức rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của mình Qua đó tiến hành rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nâng cao trách nhiệm công tác, góp phần hạn chế việc chồng chéo hoặc buông lỏng nhiệm vụ, tạo cơ sở phối hợp đồng bộ

và thống nhất việc xác lập mối quan hệ làm việc ở các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể cấp xã Nhờ đó, HTCT cơ sở nông thôn ngày càng phát huy dân chủ, tăng cường được sự lãnh đạo, hiệu lực quản lý, điều hành

Các tổ chức cơ sở Đảng đã có sự chuyển biến tích cực, hoạt động có nền nếp, nội dung sinh hoạt ngày càng thiết thực, khắc phục dần cơ sở yếu kém Qua từng nhiệm kỳ, trình độ của đại biểu HĐND, thành viên của UBND cấp cơ sở đã được nâng lên Hoạt động của chính quyền cơ sở từng bước được đổi mới về chất lượng Cùng với Mặt trận là các các tổ chức đoàn thể nhân dân có sự đổi mới về nội dung, phương pháp tập hợp quần chúng, đồng thời gắn các hoạt động phong trào với công tác tuyên truyền, giáo dục đoàn viên, hội viên hướng về thôn làng, đa dạng hoá dưới nhiều hình thức tuyên truyền phù hợp với các đối tượng khác nhau, đặc biệt là người Dân tộc thiểu số (DTTS), tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được nhanh chóng phổ biến xuống cơ sở và triển khai thực hiện hiệu quả hơn, góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào DTTS

2.2.1 Về tổ chức và hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng

2.2.1.1 Về đội ngũ cán bộ làm công tác Đảng ở cơ sở của huyện Sông Mã

Về phẩm chất chính trị: Đại đa số cán bộ làm công tác Đảng ở cơ sở có phẩm chất chính trị tốt, vững vàng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, luôn trung thành với đường lối chính sách của Đảng, có tinh thần trách nhiệm cao, làm việc có hiệu quả, nhất là trong công tác thuyết phục, tập hợp và vận động đồng bào các dân tộc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phát huy và giữ vững đoàn kết dân tộc, đề cao tinh thần đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống lại sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước

và nhân dân ta

Về đạo đức, lối sống: Số đông đồng chí cấp uỷ, Đảng viên tiếp tục giữ gìn và phát huy được tư cách Đảng viên, tự giác rèn luyện đạo đức, lối sống lành mạnh, luôn giữ gìn đoàn kết nội bộ, thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình, trung thực với

Trang 37

Đảng Các tổ chức đảng và đảng viên ở cơ sở đã tăng cường mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm Triển khai quy chế dân chủ ở cơ sở có những chuyển biến tích cực

Về trình độ:

Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ làm công tác Đảng của huyện đã được nâng lên đáng kể: Bí thư 2/19 đồng chí có trình độ sơ cấp, 16/19 có trình độ trung cấp, 1/19 có trình độ cao cấp [3;1] Như vậy, đã đáp ứng được phần nào yêu cầu, nhiệm vụ công tác trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của huyện

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ làm công tác Đảng viên hiện nay ở các tổ chức đảng ở cấp cơ sở đã có những thay đổi theo hướng dần được chuyên môn hoá

2.2.1.2 Về tổ chức và hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng

Là vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở:

Toàn huyện hiện có 54 tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn Trong đó,

có 18 xã và 01 thị trấn, với 22 đảng bộ cơ sở và 30 chi bộ cơ sở, tổng số đảng viên trong toàn huyện là 5900, sinh hoạt ở 513 chi bộ thôn, làng, tổ dân phố trực thuộc đảng uỷ [6;1]

Thực hiện Điều lệ Đảng và các nghị quyết Trung ương khoá VII,VIII, nhất là nghị quyết hội nghị Trung ương 3 (khoá VII), Nghị quyết hội nghị Trung ương 6 (lần 2) – khoá VIII và quy định số 50-QĐ/TW ngày 19/11/1992 của Ban bí thư (Khóa VII)

về chức năng, nhiệm vụ Đảng bộ, chi bộ ở cơ sở, các tổ chức cơ sở Đảng ở xã, phường, thị trấn đã cụ thể hoá thành các quy chế hoạt động để thực hiện chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo trong điều kiện mới

Mối quan hệ giữa Đảng với dân ngày càng được củng cố, với ý thức trọng dân, tin dân, các tổ chức cơ sở Đảng ở cơ sở đã tổng hợp được nhiều ý kiến đóng góp của nhân dân đối với mỗi kỳ họp hội đồng nhân dân Sự gắn bó giữa Đảng với dân ở cơ sở của huyện Sông Mã, thể hiện rõ trong các chủ trương xoá đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, quan tâm đến những người có công với nước, những đối tượng gặp hoàn cảnh khó khăn , được mọi tầng lớp nhân dân trong huyện đánh giá cao

Phương thức lãnh đạo của cấp uỷ đảng xã, phường, thị trấn:

Ngày đăng: 27/10/2016, 16:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Chí Bảo (chủ biên) (2004), Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay
Tác giả: Hoàng Chí Bảo (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
5. Bảo tàng Hồ Chí Minh (1997), Hồ Chí Minh về văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh về văn hoá
Tác giả: Bảo tàng Hồ Chí Minh
Năm: 1997
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình chính trị học Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chính trị học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
9. Vũ Hoàng Công (2002), Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu hướng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu hướng và giải pháp
Tác giả: Vũ Hoàng Công
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. Phân viện Báo chí và tuyên truyền - Khoa Chính trị học (1999), Chính trị học đại cương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính trị học đại cương
Tác giả: Phân viện Báo chí và tuyên truyền - Khoa Chính trị học
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
25. Viện Khoa học Chính trị, Học viện CTQG Hồ Chí Minh (2004), Tập bài giảng chính trị học (Hệ cao cấp lý luận chính trị), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng chính trị học
Tác giả: Viện Khoa học Chính trị, Học viện CTQG Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2004
2. Hoàng Chí Bảo (chủ biên) (2010), Dân chủ và dân chủ ở cở sở nông thôn trong tiến trình đổi mới, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
3. Báo cáo danh sách trích ngang cán bộ và công chức xã, thị trấn huyện Sông Mã tính đến thời điểm 30/6/2013 Khác
6. Bảng tổng hợp kết quả đánh giá xếp loại Đảng viên và tổ chức Đảng của huyện Sông Mã (2010 - 2014) Khác
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo Giáo trình Chính trị học Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005 Khác
15. Hồ Chí Minh: Toàn tập,Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2000 Khác
16. Kỷ yếu Đảng bộ huyện Sông Mã qua các kỳ đại hội 2013 Khác
17. Mẫu số 8/ BCĐBHĐND Ban bầu cử huyện ủy Sông Mã Danh, sách những người chúng cử Đại biểu HĐND huyện Sông Mã, khóa XIX nhiệm kỳ (2011 - 2016) Khác
19. Nguyễn Văn Long (chủ biên) (2011), Giáo trình chính trị học, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Khác
21. Số:11 / BC - PN Hội LHPN Sơn La Hội LHPN huyện Sông Mã, Báo cáo Tổng kết phong trào phụ nữ và hoạt động công tác Hội năm 2011 Phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2012 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w