Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư. Tại tỉnh Long An, trong thời gian qua, hệ thống chính trị ở phần lớn cơ sở đã tích cực thực hiện nhiệm vụ, thực hiện quy chế dân chủ, cùng với nhân dân tạo nên những thành tựu đổi mới và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt nông thôn và thành thị của tỉnh. Tuy nhiên, hệ thống chính trị ở cơ sở hiện nay còn nhiều mặt yếu kém, bất cập trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và vận động quần chúng. Tình trạng tham nhũng, quan liêu, mất đoàn kết nội bộ, vừa vi phạm quyền làm chủ của dân, vừa không giữ đúng kỷ cương, phép nước xảy ra ở nhiều nơi, có những nơi nghiêm trọng. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong hệ thống chính trị chưa được xác định rành mạch, trách nhiệm không rõ; nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới, còn nhiều biểu hiện của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp. Đội ngũ cán bộ cơ sở ít được đào tạo, bồi dưỡng; chính sách đối với cán bộ cơ sở còn chắp vá.Những yếu kém đó có phần trách nhiệm của bản thân hệ thống chính trị ở cơ sở, có phần thuộc trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị. Một nguyên nhân quan trọng là từ Trung ương đến các cấp, các ngành chưa nhận thức đúng vai trò, vị trí của cơ sở; quan liêu, không sát cơ sở, sát nhân dân, không kịp thời bàn định các chủ trương, chính sách để củng cố, tăng cường các tổ chức và đội ngũ cán bộ cơ sở. Vì vậy, việc nghiên cứu đề án “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn tại tỉnh Long An” là vấn đề có tính lý luận và thực tiễn quan trọng vừa cơ bản lâu dài, vừa cấp bách hiện nay. Đó là lý do tôi chọn đề tài này làm đề án tốt nghiệp.
Trang 1ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ XÃ, PHƯỜNG,
THỊ TRẤN TẠI TỈNH LONG AN
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CHƯƠNG TRÌNH CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Tp HCM, tháng 4 năm 2015
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC III
ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ XÃ, PHƯỜNG,
THỊ TRẤN TẠI TỈNH LONG AN
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CHƯƠNG TRÌNH CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
Tp HCM, tháng 4 năm 2015
Trang 3Trang PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề
2 Mục đích, nhiệm vụ của đề án
2.1 Mục đích
2.2 Nhiệm vụ của đề án
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6 Kết cấu của Đề án
1 1 2 2 2 2 2 2 3 3 3 Phần thứ nhất: CƠ SỞ KHOA HỌC, CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ THỰC
TIỄN VỀ ĐỔI MỚI, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ NƯỚC TA
tỉnh Thừa Thiên Huế
1.3.2.1 Tổng quan về tỉnh Thừa Thiên Huế
13 13 1.3.2.2 Tình hình và kết quả thực hiện đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống
chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn của tỉnh Thừa Thiên Huế 13
Trang 41.3.2.4 Những kinh nghiệm rút ra trong đổi mới và nâng cao chất lượng hệ
thống chính trị ở cơ sở xã, phường của tỉnh Thừa Thiên Huế 27 Phần thứ hai: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ XÃ, PHƯỜNG, THỊ
TRẤN TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ TRONG THỜI GIAN TỚI
2.1 QUAN ĐIỂM
29 29 2.2 MỤC TIÊU
2.2.1 Mục tiêu chung
30 30 2.2.2.2 Về nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên 30
2.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TIẾP TỤC ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ XÃ, PHƯỜNG, THỊ
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 KẾT LUẬN
37 37
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCH TW : Ban Chấp hành Trung ương
HĐND : Hội đồng nhân dân
Trang 61 Tính cấp thiết của vấn đề
Qua gần 30 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn vàquan trọng về kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định về chính trị và hiện nay đangđứng trước yêu cầu mới của sự phát triển ở tầm cao hơn trước
Để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, hệ thống chính trị từ Trungương tới cơ sở phải đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và chỉnh đốn tổchức, nâng cao hiệu lực lãnh đạo và quản lý
Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức vàvận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật củaNhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ củadân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống củacộng đồng dân cư
Tại tỉnh Long An, trong thời gian qua, hệ thống chính trị ở phần lớn cơ
sở đã tích cực thực hiện nhiệm vụ, thực hiện quy chế dân chủ, cùng với nhândân tạo nên những thành tựu đổi mới và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội,làm thay đổi rõ rệt bộ mặt nông thôn và thành thị của tỉnh
Tuy nhiên, hệ thống chính trị ở cơ sở hiện nay còn nhiều mặt yếu kém,bất cập trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và vận động quầnchúng Tình trạng tham nhũng, quan liêu, mất đoàn kết nội bộ, vừa vi phạmquyền làm chủ của dân, vừa không giữ đúng kỷ cương, phép nước xảy ra ởnhiều nơi, có những nơi nghiêm trọng Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phậntrong hệ thống chính trị chưa được xác định rành mạch, trách nhiệm không rõ;nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới, còn nhiều biểu hiện của cơchế tập trung quan liêu, bao cấp Đội ngũ cán bộ cơ sở ít được đào tạo, bồidưỡng; chính sách đối với cán bộ cơ sở còn chắp vá
Những yếu kém đó có phần trách nhiệm của bản thân hệ thống chính trị
ở cơ sở, có phần thuộc trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị Mộtnguyên nhân quan trọng là từ Trung ương đến các cấp, các ngành chưa nhậnthức đúng vai trò, vị trí của cơ sở; quan liêu, không sát cơ sở, sát nhân dân,không kịp thời bàn định các chủ trương, chính sách để củng cố, tăng cường
Trang 7các tổ chức và đội ngũ cán bộ cơ sở Vì vậy, việc nghiên cứu đề án “Đổi mới
và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn tại tỉnh Long An” là vấn đề có tính lý luận và thực tiễn quan trọng vừa cơ bản
lâu dài, vừa cấp bách hiện nay Đó là lý do tôi chọn đề tài này làm đề án tốtnghiệp
2 Mục đích, nhiệm vụ của đề án
2.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu những thành tựu, hạn chế của hệ thống chính trị ở
cơ sở xã, phường, thị trấn của tỉnh Thừa Thiên - Huế, đề án đưa ra phươnghướng cơ bản và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệ thống chính trị
ở cơ sở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Long An hiện nay
2.2 Nhiệm vụ
- Khái quát một số vấn đề lý luận chung về hệ thống chính trị ở cơ sở xã,phường, thị trấn; đồng thời, làm rõ vai trò hệ thống chính trị ở cơ sở xã,phường, thị trấn trong hệ thống chính trị
- Phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động hệ thống chính trị ở
cơ sở xã, phường, thị trấn của Long An;
- Xác định phương hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện
hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn của Long An
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tổ chức cơ sở đảng, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân xã, phường,thị trấn; Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn và các tổ chức chính trị - xãhội khác như: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ, HộiNông dân, Hội Cựu chiến binh xã, phường, thị trấn và các cơ quan liên quan;Cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong hệ thống chính trị ở cơ sở xã,phường, thị trấn của tinh Long An
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: tỉnh Long An
- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng từ năm 2010 – 2014 và đềxuất giải pháp có tầm nhìn đến năm 2020
Trang 84 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Đề án được xây dựng dựa trên hệ thống các quan điểm củachủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về hệ
thống chính trị; đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã,
phường, thị trấn
- Phương pháp nghiên cứu: Đề án nghiên cứu từ góc nhìn chính trị học,
sử dụng phương pháp biện chứng duy vật Macxit làm nền tảng Trên cơ sở
đó, đề án sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích với tổnghợp, so sánh, và một số phương pháp đặc thù khác
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Về lý luận: Góp phần làm rõ thêm một số nhận thức chung về hệ thống
chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn
- Về thực tiễn: Trên cơ sở các luận cứ khoa học và khảo sát thực tiễn để
xác định rõ những vấn đề bức xúc đang đặt ra đối với hệ thống chính trị ở cơ
sở xã, phường, thị trấn tỉnh Long An hiện nay Đồng thời, góp tiếng nói vàoviệc hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn tỉnh Long Anhiện nay
6 Kết cấu của Đề án
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Đề
án gồm các phần nội dung như sau:
Phần thứ nhất: Cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn về đổi
mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay
Phần thứ hai: Một số giải pháp tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng
hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn tại tỉnh Long An trong thờigian tới
Phần thứ ba: Tổ chức thực hiện.
Trang 9Phần thứ nhất:
CƠ SỞ KHOA HỌC, CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ ĐỔI MỚI, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ
SỞ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1.1 Hệ thống chính trị
1.1.1.1 Khái niệm
Trong mọi xã hội có giai cấp, quyền lực của chủ thể cầm quyền đượcthực hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định Đó là hệthống chính trị
Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội baogồm các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp phápđược liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quátrình của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thờiphù hợp với lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền
Ở nước ta, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể chânchính của quyền lực Bởi vậy, hệ thống chính trị ở nước ta là cơ chế, là công
cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo củaĐảng Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản ViệtNam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc ViệtNam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ ViệtNam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựuchiến binh Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp khác của nhândân được thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhânvới giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ củanhân dân
1.1.1.2 Đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay
Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay có những đặc điểm cơ bản sau:
Trang 10Một là, các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta đều lấy chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam chohành động Các quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh đều được tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta vậndụng, ghi rõ trong hoạt động của từng tổ chức
Hai là, hệ thống chính trị ở nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam Đảng là một tổ chức trong hệ thống chính trị nhưng có vai tròlãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị Trong điều kiện cụ thể ở nước
ta, do những phẩm chất của mình - Đảng là đại biểu cho ý chí và lợi ích thốngnhất của các dân tộc; do truyền thống lịch sử mang lại và do những thành tựurất to lớn đạt được trong hoạt động thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sựlãnh đạo của Đảng làm cho Đảng ta trở thành Đảng chính trị duy nhất cókhả năng tập hợp quần chúng lao động đông đảo để thực hiện lý tưởng củaĐảng, nhân dân tự nguyện đi theo Đảng, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảngtrong thực tế Đây là đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta
Ba là, hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc tập trung dân chủ Nguyên tắc này được tất cả các tổ chức trong hệthống chính trị ở nước ta thực hiện
Việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhân tố cơbản đảm bảo cho hệ thống chính trị có được sự thống nhất về tổ chức và hànhđộng nhằm phát huy sức mạnh đồng bộ của toàn hệ thống cũng như của mỗi
tổ chức trong hệ thống chính trị
Bốn là, hệ thống chính trị bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp
công nhân và tính nhân dân, tính dân tộc rộng rãi
Đây là đặc điểm khác biệt căn bản của hệ thống chính trị ở nước ta với
hệ thống chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện tính ưu việt của chế
độ xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất lợi ích giữa giai cấp công nhân, nhân dânlao động cũng như cả dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh
1.1.1.3 Các nguyên tắc vận hành
- Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Trang 11- Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước
và xã hội
- Nguyên tắc tập trung dân chủ
- Nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất có phân công, phối hợp vàkiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,hành pháp, tư pháp; thực hiện sự phân cấp, nâng cao tính chủ động của chínhquyền địa phương, cơ sở
- Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách
1.1.1.4 Những yêu cầu, nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị nước ta:
* Yêu cầu đặt ra cho việc đổi mới hệ thống chính trị:
- Đổi mới HTCT nhằm đáp ứng yêu cầu của những biến đổi trong đờisống kinh tế - xã hội;
- Đổi mới HTCT phải đáp ứng sự phát triển Khoa học công nghệ; bámsát những Xu hướng chính trị đương đại
* Những nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta:
- Đổi mới hệ thống chính trị tức là đổi mới nội dung và phương thức hoạt
động; cũng như mối quan hệ giữa các tổ chức chính trị hợp pháp trong hệthống chính trị; chứ không được thay đổi mục tiêu và con đường XHCN,không chấp nhận “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, gây rối lọan xã hội
- Đổi mới là nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
- Đổi mới theo định hướng xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhândân, vì nhân dân
- Đổi mới nhằm đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
- Đổi mới nhằm ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2 Hệ thống chính trị cơ sở
1.1.2.1 Khái niệm
Hệ thống chính trị cơ sở là toàn bộ các thiết chế chính trị như tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định và gắn bó hữu cơ với nhau nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở.
Trang 121.1.2.2 Những đặc điểm của hệ thống chính trị cơ sở
Là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị Việt Nam xã hội chủ nghĩa, do vậy hệ thông chính trị cơ sở cũng mang những đặc điểm chung của toàn bộ hệ thống đó là:
- Được tổ chức chặt chẽ, có sự phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩmquyền của mỗi tổ chức và cơ chế hoạt động của từng tổ chức cũng như của cả
- Cấp có bộ máy đơn giản nhất, có đội ngũ cán bộ biến động nhất, ít tínhchuyên nghiệp, trực tiếp chịu sự chi phối của nhân dân
- Là cấp mà quan hệ dòng họ, văn hoá làng xã có thể tác động mạnhnhất
- Là cấp đầu tiên đối mặt với những yêu cầu bức xúc của dân chúng,những mâu thuẫn nảy sinh trong đời sống
1.1.2.3 Vị trí, vai trò của hệ thống chính trị cơ sở
Hệ thống chính trị cơ sở với các thành tố tạo nên chính mình là tổ chức
cơ bản của hệ thống chính trị Việt Nam xã hội chủ nghĩa, là nền tảng chính trịvững chắc ở cơ sở Điều này được lý giải bởi chính tác dụng và chức năng
Trang 13trong hoạt động của cả hệ thống cũng như của từng tổ chức trong hệ thống đốivới các giai đoạn phát triển, trên những lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh
tế - xã hội đất nước
- Trước thời kỳ đổi mới, vai trò, nhiệm vụ của hệ thống chính trị cơ sởcũng như của toàn bộ hệ thống là tiếp tục duy trì, phát huy khối đại đoàn kếtdân tộc trong công cuộc hàn gắn những vết thương chiến tranh, xây dựng,phát triển kinh tế trong điều kiện quản lý tập trung, kế hoạch hoá cao độ Hoạtđộng của hệ thống chính trị cơ sở trong thời kỳ này chịu ảnh hưởng nặng nềcủa cơ chế chung đó nên kém hiệu quả, có nhiều bất cập trong tổ chức và hoạtđộng, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra đúng như Đảng ta đã thừanhận tại Đại hội lần thứ VI của Đảng
- Từ khi thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng cho đến nay
cùng với những thành tựu to lớn mà chúng ta đã giành được, tổ chức và hoạtđộng của hệ thống chính trị cơ sở nhìn chung đã có những thay đổi theohướng tích cực Lý luận và thực tế ở cơ sở xã, thị trấn, phường cho thấy nơinào các thành tố cấu thành hệ thống chính trị cơ sở mạnh, cán bộ tốt, ở đóphong trào phát triển toàn diện, kinh tế xã hội ngày một tăng trưởng, đời sốngcủa nhân dân từng bước được nâng cao Ngược lại ở đâu hệ thống chính trị cơ
sở suy yếu, cán bộ yếu kém về trình độ năng lực, sa sút về phẩm chất đạo đức,quần chúng nhân dân không có quyền làm chủ, bị khống chế thì ở đấy có taihọa hoặc ít nhất cũng ẩn chứa mầm mống của tai họa Nói về nguyên nhâncủa những tồn tại, hạn chế hiện nay trong hệ thống chính trị cơ sở, Nghị quyếtHội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương (khoá IX) đã chỉ rõ “Cóphần trách nhiệm của bản thân hệ thống chính trị ở cơ sở, có phần thuộc tráchnhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị Một nguyên nhân quan trọng là từTrung ương đến các cấp, các ngành chưa nhận thức đúng vai trò, vị trí của cơsở; quan liêu không sát cơ sở, sát nhân dân, không kịp thời bàn định các chủtrương, chính sách để củng cố, tăng cường các tổ chức và đội ngũ cán bộ cơsở”
Qua phân tích cho thấy lúc nào và chừng nào hệ thống chính trị cơ sởvững mạnh thì không những nó là nền tảng chính trị vững chắc ở cơ sở màcòn là nền móng căn bản của cả hệ thống chính trị Việt Nam xã hội chủ nghĩa
1.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ
Trang 141.2.1 Các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng liên quan đến hệ thống chính trị cơ sở
- Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18 tháng 02 năm 1998 của Bộ Chính trị vềxây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở;
- Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 18 tháng 3 năm 2002, của BCHTW(khóa IX) về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã,phường, thị trấn;
- Nghị quyết số 15-NQ/TW (khóa X) ngày 30 tháng 7 năm 2007 củaBCHTW (khóa X) tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối vớihoạt động của hệ thống chính trị;
- Kết luận số 64-KL/TW, ngày 28 tháng 05 năm 2013, của Ban Chấphành Trung ương Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thốngchính trị từ Trung ương đến cơ sở
1.2.2 Các nghị quyết, luật, pháp lệnh của Quốc hội và nghị định, chỉ thị, quyết định của Thủ tướng Chính phủ
- Luật số 11/2003/QH11, ngày 26 tháng 11 năm 2003, của Quốc hộinước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Quốc hội) về tổ chức Hội đồngnhân dân và Uỷ ban nhân dân;
- Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, ngày 20 tháng 04 năm 2007 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội (khóa XI) về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thịtrấn
- Nghị quyết số 26/2008/NQ-QH12, ngày 15 tháng 11 tháng 2008 củaQuốc hội về thực hiện thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân huyện,quận, phường;
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đã được Quốchội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thôngqua ngày 28 tháng 11 năm 2013);
- Nghị quyết số 26/2008/NQ-QH12, ngày 15 tháng 11 tháng 2008 củaQuốc hội về việc thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường;
- Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12, ngày 16 tháng 01 năm 2009 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa XII) về danh sách huyện, quận, phường
Trang 15của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện thí điểm không tổchức hội đồng nhân dân huyện, quận, phường;
- Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12, ngày 16 tháng 01 năm 2009 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa XII) về điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn củaHĐND, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và quy định nhiệm vụ,quyền hạn, tổ chức bộ máy của UBND huyện, quận, phường nơi không tổ chứcHĐND huyện, quận, phường
- Nghị định số 29/1998/NĐ-CP, ngày 11/5/1998 của Chính phủ về việcban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã;
- Chỉ thị số 22/1998/CT-TTg, ngày 15/5/1998, của Thủ tướng Chính phủ
về việc triển khai Quy chế thực hiện dân chủ ở xã;
- Chỉ thị số số 24/1998/CT-TTg, ngày 19/6/1998 của Thủ tướng Chínhphủ về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn,
ấp, cụm dân cư;
- Quyết định số 85/2002/QĐ-TTg, ngày 28 tháng 6 năm 2002 của Thủtướng Chính phủ về Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 18tháng 3 năm 2002 của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng(khoá IX) về "Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã,phường, thị trấn"
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.3.1 Thực tiễn hệ thống chính trị nước ta hiện nay
Trong thời gian qua, hệ thống chính trị ở phần lớn cơ sở đã tích cực thựchiện nhiệm vụ, thực hiện quy chế dân chủ, cùng với nhân dân tạo nên nhữngthành tựu đổi mới và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, làm thay đổi rõ rệt bộmặt nông thôn và thành thị [2] Tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể chính trị - xã hội từng bước được sắp xếp, kiện toàn; chứcnăng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các tổ chức trong hệ thống chính trịđược phân định, điều chỉnh hợp lý hơn; góp phần bảo đảm vai trò lãnh đạocủa Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trongthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế của đấtnước [3]
Trang 16Tuy nhiên, hệ thống chính trị ở cơ sở hiện nay còn nhiều mặt yếu kém,bất cập trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và vận động quầnchúng Tình trạng tham nhũng, quan liêu, mất đoàn kết nội bộ, vừa vi phạmquyền làm chủ của dân, vừa không giữ đúng kỷ cương, phép nước xảy ra ởnhiều nơi, có những nơi nghiêm trọng Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phậntrong hệ thống chính trị chưa được xác định rành mạch, trách nhiệm không rõ;nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới, còn nhiều biểu hiện của cơchế tập trung quan liêu, bao cấp Đội ngũ cán bộ cơ sở ít được đào tạo, bồidưỡng; chính sách đối với cán bộ cơ sở còn chắp vá.
Những yếu kém đó có phần trách nhiệm của bản thân hệ thống chính trị
ở cơ sở, có phần thuộc trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị Mộtnguyên nhân quan trọng là từ Trung ương đến các cấp, các ngành chưa nhậnthức đúng vai trò, vị trí của cơ sở; quan liêu, không sát cơ sở, sát nhân dân,không kịp thời bàn định các chủ trương, chính sách để củng cố, tăng cườngcác tổ chức và đội ngũ cán bộ cơ sở [2] Số lượng cán bộ, công chức, nhất làviên chức ở các đơn vị sự nghiệp công lập và cán bộ công chức xã, phường,thị trấn tăng nhanh Một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêucầu nhiệm vụ [3]
Để đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở cần tậptrung giải quyết mấy vấn đề cơ bản và bức xúc sau đây:
- Một là, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong hệ
thống chính trị, đồng thời xây dựng mối quan hệ đoàn kết, phối hợp giữa các
tổ chức dưới sự lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ cơ sở; đổi mới nội dung vàphương thức hoạt động hướng vào phục vụ dân, sát với dân, được dân tin cậy
- Hai là, thực hành dân chủ thực sự trong nội bộ các tổ chức của hệ
thống chính trị ở cơ sở theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy quyềnlàm chủ của dân trên cơ sở thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, phát huy quyềndân chủ đại diện, quy định cụ thể việc thực hiện quyền của dân giám sát tổchức và cán bộ ở cơ sở và thay thế người không đủ tín nhiệm Phát huy dânchủ phải đi liền với củng cố và nâng cao kỷ luật, kỷ cương theo pháp luật
- Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động
nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm,thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, lãng phí;
Trang 17trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý vàđồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở.
- Bốn là, Về giải pháp đổi mới chính quyền địa phương; Kết luận Hội nghị lần thứ 7 BCH TW (khóa XI) “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn
thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở" cũng đã chỉ rõ: “Sớm hoànthành quy hoạch để bảo đảm cơ bản giữ ổn định số lượng đơn vị hành chínhcấp tỉnh, huyện, xã Hoàn thiện tổ chức bộ máy chính quyền cấp tỉnh, cấphuyện theo hướng quy định khung các cơ quan chuyên môn giúp việc cho Ủyban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện; căn cứ điều kiện cụ thể, tiêu chí và quyđịnh khung của Chính phủ, địa phương có thể lập (hoặc không lập) cơ quan,
tổ chức đặc thù sau khi được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền Rà soát, điềuchỉnh, khắc phục những chồng chéo, không rõ về chức năng, nhiệm vụ giữacác cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, giữa Ủyban nhân dân cấp huyện với các sở, ngành cấp tỉnh Nghiên cứu về tổ chứcchínhquyền địa phương (có phân biệt tổ chức chính quyền đô thị và chínhquyền nông thôn), giao Bộ Chính trị chỉ đạo thực hiện thí điểm mô hình chínhquyền đô thị Hướng dẫn tổ chức đảng và chính quyền phù hợp với các địaphương có tính đặc thù, như đặc khu kinh tế, hải đảo Sớm tổng kết việc thựchiện thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, quận, phường để cóchủ trương thực hiện trong thời gian tới Thực hiện mô hình bí thư cấp ủyđồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân các cấp; bí thư cấp ủy đồng thời
là Chủ tịch Ủy ban nhân dân ở cấp xã, cấp huyện đối với những nơi có đủđiều kiện Thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh cán bộ chủ chốtkhông phải là người địa phương Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ Hội đồngnhân dân, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn phù hợp với tình hình thựctiễn và yêu cầu, nhiệm vụ mới Quy định dưới xã, phường, thị trấn là thôn, tổdân phố và tương đương (có quy mô phù hợp với địa bàn đô thị, nông thôn,miền núi), chủ yếu hoạt động theo hình thức tự quản của cộng đồng dân cư,hạn chế tối đa việc sử dụng kinh phí từ ngân sách Thực hiện khoán kinh phíhoạt động cho các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã, thôn, tổ dân phố vàtương đương bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế của địa phương” [3]
1.3.2 Thực trạng chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn của tỉnh Long An
Trang 181.3.2.1 Tổng quan về tỉnh Long An
Long An là một trong 5 tỉnh thuộc vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung,
có toạ độ địa lý 16 - 16,80 vĩ độ bắc và 107,8 - 108,20 kinh độ đông Địa hìnhcủa tỉnh Long An đa dạng bao gồm rừng núi, gò đồi đồng bằng duyên hải vàđầm phá Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵngtỉnh Quảng Nam, phía Tây giáp nước CHDCND Lào, phía Đông được giớihạn bởi Biển Đông Diện tích tự nhiên 5.033,2 km2, dân số năm 2013 là1.123.800 người, chiếm 1,52% về diện tích và 1,25% về dân số so với cảnước Về tổ chức hành chính, tỉnh Long An có 6 huyện, 02 thị xã và thành phốHuế, trong đó có 2 huyện miền núi Nam Đông và A Lưới; gồm 152 xã, phường,thị trấn
Đảng bộ Long An có 17 đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy (9 đảng bộ huyện, thị xã, thành phố; 7 đảng bộ cấp trên cơ sở và 01 đảng bộ cơ sở trực thuộc).
Toàn tỉnh có 687 tổ chức cơ sở đảng (339 đảng bộ, 348 chi bộ); 16 đảng bộ
bộ phận và 3.499 chi bộ trực thuộc với 45.302 đảng viên Trong đó, có 152 tổchức cơ sở đảng cấp xã với 26.350 đảng viên
Về kinh tế xã hội: kinh tế xã hội tỉnh Long An trong những năm qua đã
có sự chuyển biến mạnh mẽ cả về chất và lượng trên tất cả các lĩnh vực Tốc
độ tăng trưởng kinh tế liên tục đạt mức khá (bình quân 9,1%/năm), cơ cấukinh tế chuyển dịch đúng hướng (cơ cấu kinh tế năm 2014: dịch vụ: 55,7%;công nghiệp – xây dựng: 34,7; nông, lâm, ngư nghiệp: 9,6%) Tốc độ tăngtrưởng kinh tế của tỉnh năm 2014 đạt 8,3%, GDP bình quân đầu người 1.750USD, kim ngạch xuất khẩu năm 2014 đạt 660 triệu USD Lĩnh vực văn hóa –
xã hội có nhiều tiến bộ; về y tế, đã đạt được những thành tựu quan trọng trongcấy tim nhân tạo lần đầu tiên ở Việt Nam, ứng dụng tế bào gốc tạo máu đểđiều trị ung thư vú, ung thư buồng trứng, mở ra triển vọng mới trong việc ápdụng cho nhiều bệnh nhân ung thư vú và ung thư buồng trứng giai đoạn cuối
An sinh xã hội, đời sống của nhân dân ổn định An ninh, trật tự, an toàn xãhội được giữ vững
1.3.2.2 Tình hình và kết quả thực hiện đổi mới và nâng cao chất lượng
hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn của tỉnh Long An
Thực hiện Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 18/3/2002 của Hội nghị lầnthứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về việc đổi mới và nâng
Trang 19cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn, Tỉnh ủy Long
An đã ban hành chương trình hành động số 18-NQ/TU, ngày 23/5/2003 Cáccấp ủy từ tỉnh đến cơ sở đã xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể
ở cấp mình nhằm triển khai, hướng dẫn cơ sở tổ chức thực hiện Chương trìnhhành động có hiệu quả Sau hơn 10 năm thực hiện Chương trình hành động số18-NQ/TU thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) về “Đổi mới vànâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, chấtlượng hoạt động hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn đã có nhiềuchuyển biến tích cực, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội,giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội trên địa bàn
a Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ sở
Các tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) xã, phường, thị trấn đã thực hiện đúngchức năng, nhiệm vụ theo Quy định 94 và 95-QĐ/TW, ngày 03/3/2004 củaBan Bí thư; giữ vững vai trò hạt nhân chính trị và sự lãnh đạo toàn diện ở cơsở; nắm vững nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là thenchốt, chăm lo xây dựng chính quyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân Cáccấp ủy đảng đã tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu giốngcây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầngnông thôn, phát triển nhanh giao thông nông thôn và chương trình kiên cố hoákênh mương; dồn điền đổi thửa , đời sống vật chất và tinh thần của nhân dânkhông ngừng được nâng lên, tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xãhội được giữ vững, hệ thống chính trị được củng cố và kiện toàn, chất lượnghoạt động của bộ máy chính quyền được nâng cao, chất lượng đội ngũ cán bộngày một nâng lên; công tác xây dựng các chi bộ trực thuộc, đảng bộ xã đạttrong sạch vững mạnh đạt kết quả đáng kể; uy tín của đồng chí bí thư đảng ủyđồng thời là chủ tịch UBND xã ngày càng được khẳng định Sự phối hợpcông tác giữa đảng ủy, HĐND, UBND và UBMTTQVN, các đoàn thể nhịpnhàng, đồng bộ, hiệu quả hơn, nhất là trong phối hợp chỉ đạo các nhiệm vụtrọng tâm, chương trình trọng điểm, các vụ việc nảy sinh phức tạp xảy ra trênđịa bàn cơ sở được triển khai giải quyết kịp thời và có hiệu quả
Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ sở đã có nhiều tiến
bộ Hầu hết các cấp ủy đều xây dựng, bổ sung quy chế làm việc, xây dựngchương trình công tác toàn khoá, chương trình công tác tháng, quý, năm Xác
Trang 20định rõ được trách nhiệm, mối quan hệ công tác của các tổ chức và ngườiđứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị, khắc phục tình trạng chồngchéo, trách nhiệm không rõ ràng, cụ thể Nhờ vậy, trong lãnh đạo, chỉ đạoluôn giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện đúng nguyên tắc Đảnglãnh đạo, Nhà nước quản lý điều hành, nhân dân làm chủ thông qua các tổchức đoàn thể chính trị - xã hội Phương thức lãnh đạo của các cấp ủy ngày càngsâu sát, toàn diện hơn, giải quyết kịp thời những công việc quan trọng và bứcxúc trên địa bàn
Công tác xây dựng đội ngũ đảng viên được quan tâm thường xuyên, cáccấp ủy cơ sở tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tổ chức triển
khai sâu rộng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm thông qua việc quản lý
và phân công nhiệm vụ và kiểm tra thực hiện nhiệm vụ của người đảng viênkhá chặt chẽ Đặc biệt, các TCCSĐ đã nghiêm túc tổ chức kiểm điểm tự phê
bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” Qua kiểm điểm, đa số các cấp
ủy, cán bộ đảng viên, nhất là người đứng đầu đã thực sự thấm nhuần tinh thần
tự phê bình và phê bình, tự giác, chân thành và tự khép mình vào kỷ luật, kỷcương của Đảng; không những củng cố, tăng cường nhận thức, mà còn tạo ranhận thức mới cho công tác lãnh đạo, quản lý, nâng cao trình độ lãnh đạocông tác xây dựng Đảng; nâng cao được tinh thần đoàn kết và giúp nhau cùngtiến bộ; đồng thời, đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết những tồn tại, yếukém, nhất là xác định rõ những vấn đề bức xúc nổi lên để chỉ đạo giải quyếttrước và có kế hoạch, lộ trình, thời gian khắc phục những vấn đề vướng mắccòn tồn tại
Nhìn chung, đa số đảng viên tiên phong gương mẫu, hoàn thành và hoànthành tốt nhiệm vụ được giao; có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lốisống trong sáng, lành mạnh, phát huy được tinh thần trách nhiệm, hoàn thànhchức trách nhiệm vụ được giao Niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo củaĐảng, công cuộc đổi mới của đất nước được củng cố, tạo được sự đoàn kếtthống nhất trong nội bộ Đảng và sự đồng thuận trong toàn xã hội Qua đánhgiá chất lượng đảng viên năm 2014, số đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ là 5.140, đạt tỷ lệ 12,29% (giảm 0.07% so với năm 2013); số đảng viên
Trang 21hoàn thành tốt nhiệm vụ là 32.103, đạt tỷ lệ 76,75% (giảm 0,21% so với năm2013); số đảng viên hoàn thành nhiệm vụ là 4.415, đạt tỷ lệ 10,55% (tăng0,45% so với năm 2013); số đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ là 172,chiếm tỷ lệ 0,41% (giảm 0,17% so với năm 2013)
Công tác kết nạp đảng viên mới có những chuyển biến tích cực, cùng vớiviệc quan tâm nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, các cấp ủy đảng, tăngcường chỉ đạo công tác kết nạp đảng viên, chủ động xây dựng kế hoạch tạonguồn, phân công đảng viên theo dõi, giúp đỡ quần chúng phấn đấu vàoĐảng, chú trọng các thôn, bản, tổ dân phố chưa có tổ chức đảng, đảng viên
Từ đầu năm 2003 đến cuối năm 2014, toàn tỉnh đã kết nạp được hơn 22 nghìnđảng viên; trong đó xã, phường, thị trấn kết nạp hơn 12,4 nghìn đảng viên,nâng tổng số đảng viên khối phường, xã, thị trấn toàn tỉnh lên 26.350 đồng
chí Cơ cấu và chất lượng đảng viên có sự thay đổi tiến bộ, tỷ lệ kết nạp đảng
của từng đối tượng tăng lên theo từng năm, nhất là đảng viên trẻ, nữ, đồngbào dân tộc thiểu số; trình độ học vấn và trình độ chuyên môn tăng đáng kể.Nhờ vậy, đã tăng cường sức trẻ cho Đảng và góp phần cơ bản hoàn thành mục
tiêu xoá địa bàn, cơ sở “trắng” đảng viên và địa bàn, cơ sở “trắng” tổ chức
đảng
Các cuộc kiểm tra, giám sát được tổ chức chủ động theo chương trình, kếhoạch; số lượng, chất lượng các cuộc kiểm tra, giám sát do cơ sở thực hiệntăng lên Do vậy, đã phát hiện và xử lý được nhiều sai phạm từ cơ sở, hạn chếđơn, thư và người khiếu kiện vượt cấp
Công tác xây dựng ban hành và tổ chức thực hiện Nghị quyết của nhiều
cơ sở đã có những đổi mới, thể hiện được tính khoa học, chủ động phù hợpvới chủ trương chung về đòi hỏi thực tiễn địa phương, cơ sở từng bước khắcphục tình trạng lãnh đạo chung chung, bị động, chạy theo sự vụ Nhiều nghịquyết, chương trình, kế hoạch được các cấp ủy cơ sở đề ra thực hiện có hiệuquả như Nghị quyết về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng giaothông nông thôn, kiên cố hoá kênh mương, Nghị quyết về xây dựng tổ chứcĐảng ở những nơi chưa chi bộ đảng, chưa có hoặc có ít đảng viên tạo bướcchuyển biến rõ nét trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, xâydựng Đảng
Trang 22Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở được quan tâm, chú ý hơn Độingũ cấp ủy và cán bộ ở cơ sở được tăng thêm về số lượng và chất lượng; trình
độ kiến thức các mặt được nâng lên Thường xuyên mở các lớp đào tạo, bồidưỡng dài hạn, ngắn hạn về chính trị, quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, côngtác đảng, công tác đoàn thể, ngoại ngữ, tin học cho hàng nghìn lượt cán bộ cơ
sở xã phường, thị trấn tham gia Từ năm 2003 đến cuối năm 2014, tỉnh Long
An đã mở các lớp để đào tạo cán bộ cho cơ sở: trung cấp chính trị - hànhchính: 2.645 đ/c; các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Đảng, đoàn thể: 2.938 đ/c; bồidưỡng cán bộ chính quyền cơ sở: 539 đ/c; bồi dưỡng chức danh bí thư chi,đảng bộ xã, phường, thị trấn: 301 và bồi dưỡng khác: 957 đ/c; phối hợp vớiHọc viện Chính trị, Học viện Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã mở các lớpĐại học chính trị với hơn 312 người để tạo nguồn cán bộ cho xã, phường, thịtrấn; phối hợp các trường thành viên thuộc Đại học Huế đào tạo cử nhân Kinh
tế nông nghiệp và phát triển nông thôn, cử nhân Luật tại 6 huyện và 2 thị xãcủa tỉnh cho hơn 1.135 cán bộ cơ sở tham gia
Công tác quy hoạch cán bộ ở cơ sở đã đi vào ổn định, đảm đúng quytrình và chất lượng theo hướng “vừa động, vừa mở” Cấp ủy các cấp đã ràsoát, điều chỉnh bổ sung, quy hoạch cán bộ lãnh đạo và quản lý trong hệthống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn, xây dựng kế hoạch luân chuyểncán bộ Đã luân chuyển hơn 50 đồng chí cán bộ, quản lý cấp phòng, ban củathành phố, thị xã và huyện được cử về giữ các chức vụ chủ chốt của các xã,phường, thị trấn, được rèn luyện và có bước trưởng thành vượt bậc; làm tăngthêm năng lực lãnh đạo quản lý của cấp ủy và chính quyền cơ sở Nhờ làm tốtcông tác quy hoạch cán bộ cho nên đã tạo được sự chủ động trong công tácchuẩn bị nhân sự phục vụ đại hội đảng, nhất là nhiệm kỳ 2010 - 2015 Cấp ủycấp xã có 2.110 đ/c, trong đó: cán bộ nữ 368 đ/c (17,44%), cán bộ dân tộcthiểu số 408 đ/c (19,34%); trình độ học vấn THCS: 257 đ/c (12,18%); THPT:1.841 đ/c (87,25%); trình độ chuyên môn trung cấp 637 đ/c (30,19%); trình
độ cao đẳng, đại học, thạc sỹ 763 đ/c (34,52%); trình độ lý luận chính trị sơcấp 645 đ/c (30,57%), trung cấp 1373 đ/c (65,07%), cao cấp, cử nhân 92 đ/c(4,36%) So với nhiệm kỳ trước, cấp ủy xã tăng 464 đ/c, trong đó cán bộ nữtăng 113 đ/c, cán bộ từ 35 tuổi trở xuống tăng 378 đ/c, cán bộ dân tộc thiểu sốtăng 75 đ/c; trình độ học vấn THPT tăng 676 đ/c; trình độ chuyên môn trung
Trang 23cấp trở lên tăng 337 đ/c; trình độ lý luận chính trị trung cấp trở lên tăng 520 đ/
c
b Về đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý của chính quyền cơ sở
Hoạt động của chính quyền cơ sở có nhiều tiến bộ cả về hiệu quả công tác
và chất lượng bộ máy HĐND, UBND các xã, phường, thị trấn đã xác định rõhơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, chức trách của từngthành viên trong bộ máy Nhiều xã, phường, thị trấn đã xây dựng, bổ sung đượcquy chế hoạt động, quy chế phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị;cải tiến lề lối làm việc, tăng cường trách nhiệm cá nhân, nâng cao hiệu quả vàhiệu lực hoạt động của chính quyền cơ sở
HĐND cơ sở xã, phường, thị trấn không ngừng được củng cố, kiện toàn,
cơ cấu đại biểu mỗi nhiệm kỳ được mở rộng, chất lượng đại biểu nhiệm kỳsau cao hơn nhiệm kỳ trước Toàn tỉnh có 3.835 đại biểu hội đồng nhân dâncấp xã, trong đó: cán bộ nữ 735 đại biểu (19,17%), cán bộ trẻ 1.005 đại biểu(26,20%), cán bộ dân tộc thiểu số 519 đại biểu (13,53%); trình độ văn hoátrung học phổ thông có 2.761 đại biểu (71,99%), trình độ chuyên môn: trungcấp 1.157 đại biểu (30,17%), cao đẳng, đại học 820 đại biểu (21,38%), sau đạihọc 03 đại biểu (0,08%); trình độ lý luận chính trị trung cấp 1.440 đại biểu(37,55%), cao cấp và cử nhân 99 đại biểu (2,58%) Tăng 720 đại biểu, trong
đó cán bộ dân tộc thiểu số tăng 32 đại biểu, cán bộ trẻ tăng 189 đại biểu sovới nhiệm kỳ trước
Hoạt động của HĐND cấp xã từng bước được đổi mới, thực hiện tốt hơn
về chức năng, nhiệm vụ theo luật định; đã phát huy vai trò là người đại diệncho ý chí và nguyện vọng của nhân dân Tại các kỳ họp, nội dung, phươngthức được đổi mới, phát huy dân chủ, thẳng thắn thảo luận, thực hiện chất vấn
và trả lời chất vấn, trở thành hình thức giám sát quan trọng, có hiệu quả củaHĐND ở cơ sở Do đó, các nghị quyết được ban hành có tính khả thi, địnhhướng đúng xu thế phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh cũng nhưnhu cầu phúc lợi xã hội của nhân dân địa phương Chức năng giám sát theoluật của từng đại biểu và thường trực HĐND xã, phường, thị trấn được chútrọng; qua giám sát, đã kịp thời nhắc nhở các ngành chức năng giải quyết kịpthời các vấn đề nảy sinh, được cử tri và đông đảo nhân dân quan tâm