1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

văn NGHỆ dân GIAN của tộc NGƯỜI CHỨT tại HUYỆN MINH hóa, TỈNH QUẢNG BÌNH

34 324 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 527,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là một dân tộc đông anh em, gồm 54 tộc người khác nhau.Mỗi tộcngười lại mang đến những nét văn hóa khác nhau, cùng với bề dày văn hóatruyền thống của mình đã tạo nên những nét đ

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

MỞ ĐẦU

Văn hóa là sản phẩm sáng tạo của con người Nó được tạo ra và phát triển trongmối quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại là nềntảng tinh thần góp phần hoàn thiện và phát triển con người, duy trì sự bền vững

và trật tự xã hội.Văn hóa, thể hiện trình độ phát triển của con người và xã hộiđược biểu hiện trong các kiểu, hình thức tổ chức đời sống và hành động của conngười

Việt Nam là một dân tộc đông anh em, gồm 54 tộc người khác nhau.Mỗi tộcngười lại mang đến những nét văn hóa khác nhau, cùng với bề dày văn hóatruyền thống của mình đã tạo nên những nét đặc sắc cho dải đất hình chữ Snày.Những nét đặc sắc văn hóa ấy đi cùng với thời gian, không gian mà tồn tại.Trong kho tàng văn hóa có văn nghệ dân gian, đây là một bộ phận vô cùng quantrọng Nó là những gì gắn bó, gần gũi nhất đối với nhân dân lao động Bởi vănnghệ dân gian là kết quả do chính họ sáng tạo ra bao gồm: văn học dân gian, âmnhạc dân gian, ca hát, nhảy múa dân gian, mĩ thuật ứng dụng trang sức và tạohình dân gian Nó ra đời cũng là nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống văn hóa,văn nghệ của các địa phương đặc biệt miền núi, đồng bào dân tộc ít người.Bên cạnh đó, việc nghiên cứu, sưu tầm hay khai thác văn nghệ dân gian ở một

số nơi còn chưa được chú trọng.Nhiều sản phẩm văn nghệ dân gian dần đi vàolãng quên hoặc nhiều người còn chưa từng nghe thấy bao giờ

Quảng Bình là vùng đất văn vật, nhiều địa danh nổi tiếng Trong quá trình lịch

sử, đã hình thành nhiều làng văn hóa nổi tiếng và được truyền tụng từ đời nàysang đời khác Còn là nơi lưu giữ những nét văn hóa đặc sắc của các tộc ngườisinh sống nơi đây

Người Chứt - một dân tộc ít người sinh sống tại Việt Nam và Lào.Tuy vậy, lại

có những nét đặc sắc riêng trong kho tàng văn nghệ dân gian phong phú của họ.Những nét đặc sặc ấy nói riêng và văn nghệ dân gian nói chung cần phải đượclưu giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị mà nó mang lại Để truyền cho thế hệmai sau tìm hiểu, học hỏi và tự hào

Là sinh viên chuyên ngành quản lý văn hóa với niềm hứng thú muốn học hỏi,tìm hiểu những vẻ đẹp của đất nước, tôi cũng ý thức được mình cần phải làm gì

để giúp nền văn hóa nước nhà không bị mai một, chung tay bảo vệ, phát huynhững truyền thống quý báu của ông cha ta để lại

Qua quá trình được học tập cùng sự giúp đỡ tận tình của cô Th.s Trần ThịPhương Thúy trong học phần Văn hóa các dân tộc thiểu số, đã cho tôi nhiều

Trang 3

kiến thức mới mẻ về các tộc người trên đất nước ta Từ kinh tế, nhà ở, ẩm thực,trang phục cho đến tín ngưỡng, lễ hội, văn nghệ dân gian

Chính bởi những lý do ấy đã giúp tôi đi sâu vào nghiên cứu văn nghệ dângian của người Chứt để tìm hiểu làm sáng tỏ những giá trị tốt đẹp mà nó manglại để làm bài tiểu luận thi kết thúc học phần

Trang 4

Phần 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN MINH HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH VÀ

TỘC NGƯỜI CHỨT

1.1.Khái quát về huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình

Quảng Bình trong trí nhớ của mỗi người như bức tranh hoành tráng có rừng, cóbiển, thiên nhiên và con người hòa quyện Là một mảnh ghép của bức tranhthiên nhiên ấy, huyện Minh Hóa mang trong mình những nét đẹp riêng, tô điểmthêm cho bức tranh hoàn thiện

1.1.1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế

-Vị trí địa lý:Minh Hoá là huyện miền núi vùng cao nằm về phía Tây Bắc tỉnhQuảng Bình Phía Tây giáp nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào với 89 kmđường biên giới, phía Bắc giáp huyện Tuyên Hoá, phía Nam và Đông Nam giáphuyện Bố Trạch Toàn huyện có 15 xã và 1 thị trấn với diện tích tự nhiên là1.410 km2 Từ thành phố Đồng Hới, có thể đến huyện Minh Hóa bằng hai conđường: Con đường thứ nhất từ Đồng Hới chạy theo quốc lộ 1A về thị trấn BaĐồn huyện Quảng Trạch, sau đó chạy theo quốc lộ 12A lên Minh Hóa Conđường thứ hai chạy theo đường Hồ Chí Minh, xuất phát từ Cộn chạy hướng Bắckhoảng 120 km là tới nơi; con đường này hấp dẫn khác du lịch với các địa danhmột thời lững lẫy trong chiến tranh như đèo Đá Đẽo, ngầm Dinh, Khe Ve, đèo

Mụ Giạ,

-Điều kiện tự nhiên:khắc nghiệt nên cơ sở vật chất hạ tầng kinh tế - xã hội cũngnhư đời sống của nhân dân còn rất nhiều thiếu thốn khó khăn Tuy vậy ngườiMinh Hoá không chỉ nhận biết cái khó, dám đối mặt với những gian nan vất vả

mà còn có tầm nhìn xa, tin tưởng vào những lợi thế của huyện để vươn lên.Minh Hoá là huyện có nhiều tiềm năng và thế mạnh Huyện có cửa khẩu quốc

tế Chalo - Nà Phàu các đầu mối và tuyến giao thông quan trọng đi qua nhưđường Hồ Chí Minh chạy suốt chiều dài của huyện, đường 12C là tuyến đườngngắn nhất nối các tỉnh vùng Đông Bắc Thái Lan qua Lào, về Quốc lộ 1A, đếncảng biển Hòn La (Quảng Bình), cảng Vũng Áng (Hà Tĩnh) Bên cạnh đó, MinhHoá còn có nhiều di tích lịch sử như đèo Đá Đẽo, Mụ Dạ, Ngầm Rinh, Khe Ve,Chalo, Cổng Trời…, các khu rừng tự nhiên, sơn thuỷ hữu tình có thể xây dựngthành khu du lịch sinh thái như hang động Tú Làn ở Tân Hóa, Thác Mơ ở HoáHợp, Nước Rụng ở Dân Hoá, phía Bắc đèo Đá Đẽo và các hang động ở ThượngHoá, Hoá Tiến, Hoá Thanh Đây là điều kiện thuận lợi phát triển sản xuất hànghoá, thương mại, dịch vụ xuất nhập khẩu, thúc đẩy quan hệ hợp tác, giao lưu

Trang 5

Phát huy thế mạnh đó, trong những năm qua, Minh Hoá đã từng bước "thay da,đổi thịt", mang trong mình nguồn sức sống mới, sinh lực mới.

-Kinh tế:

Tình hình kinh tế - xã hội của huyện giữ được tốc độ tăng trưởng khả quan hàngnăm Kinh tế tăng trưởng bình quân đạt 9%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịchtheo hướng tích cực (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng chiếm27,2%; nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 33,7%; thương mại, dịch vụ chiếm 39,1%trong tổng giá trị sản xuất) Năm 2011, sản xuất nông nghiệp phát triển tươngđối ổn định.Tổng giá trị sản xuất tăng 14.4% so với năm 2010 Trong đó, giá trịsản xuất nông - lâm - thủy sản tăng 11,5%, Thương mại, dịch vụ dần đáp ứngnhu cầu đời sống của người dân, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 19,3%, Côngnghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng tăng 11,3% so với năm 2010 Trungtâm thương mại cửa khẩu quốc tế Cha Lo hình thành và đi vào hoạt động cóhiệu quả, trở thành đầu mối quan trọng cho việc giao lưu hàng hóa với các nướcLào, Thái Lan Hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, miền núi (như hệ thốnggiao thông, hệ thống lưới điện, thủy lợi, bưu chính - viễn thông, truyền thanh -truyền hình) được đầu tư xây dựng khá nhiều, thông qua lồng ghép giữa thựchiện Nghị quyết của Tỉnh ủy với các Chương trình 135, 134, Chương trình kiên

cố hóa trường học, Nghị quyết 30a của Chính phủ

1.1.2.Lịch sử hình thành

Vùng đất huyện Minh Hóa thời cổ có lẽ thuộc châu Quy Hợp phủ Lâm An xứNghệ An từ thời nhà Hậu Lê, (phủ Lâm An trước năm 1448 niên hiệu TháiHòa thứ 5 đời vua Lê Nhân Tông là đất của vương quốc Bồn Man, sau đó thuộcnhà Lê, nằm ở tận cùng phía Tây xứ Nghệ, đến năm Minh Mạng thứ 9(1828) nhà Nguyễn đổi tên thành phủ Trấn Tĩnh)

Năm 1826, Minh Mạng thứ 7, nhà Nguyễn cho lấy 3 dũng là: dũng Lan, dũng

Đỏ và dũng Châu của mán Lèo thuộc châu Quy Hợp phủ Lâm An trấn Nghệ

An, do ở giáp ranh với phía Tây Quảng Bình (khi đó gọi là dinh Quảng Bình),chuyển sang thuộc vào dinh Quảng Bình (năm 1828 dinh Quảng Bình đổi thànhtrấn Quảng Bình)[1] Phần đất này ngày nay thuộc huyện Minh Hóa và phía tâyhuyện Tuyên Hóa Quảng Bình Minh Hóa là "kinh đô" kháng chiến của phongtrào Cần Vương do vua Hàm Nghi lãnh đạo chống thực dân Pháp (từ tháng 10-

1885 đến tháng 11-1888)

Trang 6

Sau năm 1975, huyện Minh Hóa có 14 xã: Dân Hóa, Hóa Hợp, Hóa Phúc, HóaSơn, Hóa Thanh, Hóa Tiến, Hồng Hóa, Minh Hóa, Quy Hóa, Tân Hóa, ThượngHóa, Trung Hóa, Xuân Hóa, Yên Hóa.

“Ngày 11-8-2000, thành lập thị trấn Quy Đạt - thị trấn huyện lỵ huyện MinhHóa - trên cơ sở 722 ha diện tích tự nhiên và 4.763 nhân khẩu của xã Quy Hóa,15,8 ha diện tích tự nhiên và 137 nhân khẩu của xã Yên Hóa; 20,15 ha diện tích

tự nhiên và 226 nhân khẩu của xã Xuân Hóa.Ngày 21-4-2003, thành lập xãTrọng Hóa trên cơ sở 18.712 ha diện tích tự nhiên và 2.492 nhân khẩu của xãDân Hóa”[2, tr.242]

1.2 Khái quát về tộc người Chứt

1.2.1.Dân số, phân bố dân cư và nguồn gốc lịch sử

Việt Nam - quốc gia đông dân tộc anh em, phân bố rộng khắp cả nước Mỗi tộcngười lại tìm cho mình nơi sinh sống phù hợp, lâu đời Trong đó, dân tộc thiểu

số lại chiếm vị trí lớn khi phân bố ở các vùng miền núi hay vùng biên giới hảiđảo, những vị trí mang ý nghĩa quan trọng của lãnh thổ quốc gia về chính trị,kinh tế và an ninh quốc phòng

-Dân số và phân bố dân cư:

Là một trong những dân tộc ít người sinh sống tại Việt Nam và Lào

“Tên gọi chính thức của tộc người này là Chứt Bao gồm các nhóm địa phương:Mày, Rục, Sách, A Rem, Mã Liềng, Trong thực tiễn họ còn được gọi bằng cáitên gọi khác: Tu vang, Pa leng, Tơ Hung, Keo, Xơ Lang, Chà Cũi, Tác Củi, Umo, Trong số các tên gọi đó, đa số đều ám chỉ nơi sinh sống: Chứt (lèn đá),Rục (nơi có suối nước nguồn), Tơ Hung (mái đá), ” [1, tr.34]

-Tại Việt Nam:

Theo số liệu tổng điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 1999 thì dân tộcnày có dân số khoảng 3.289 người Sống chủ yếu tại Minh Hóa, Tuyên Hóa, BốTrạch (Quảng Bình); một số ở Hương Khê ( Hà Tĩnh) và tại Đắc Lăk

Thực tế, 7 tên gọi Sách, Mày, Rục, Mã Liềng, Arem, Xơ-lang, Umodùng để chỉ 7 nhóm trong tộc người này Nhóm người Rục được phát hiệnmuộn nhất vào năm 1959 ở xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa và đến năm 2004

có 85 hộ với 428 nhân khẩu Nhưng theo ước tính của Tổng cục Thống kê ngày

1 tháng 7 năm 2003 thì dân số người Chứt giảm xuống còn 3.787 người

Đến năm 2009, theo Tổng điều tra dân số và nhà ở, người Chứt ở Việt Nam códân số 6.022 người, cư trú tại 23 trên 63 tỉnh, thành phố Người Chứt cư trú tập

Trang 7

Quảng Bình: 5.095 người, chiếm 84,6% tổng số người Chứt tại ViệtNam.

-Ngôn ngữ: Người Chứt là tộc người sử dụng ngôn ngữ cùng ngữ hệvới tiếng Việt Tiếng Chứt được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm vì gần gũivới tiếng Kinh nguyên thủy Thời điểm tiếng Chứt tách ra khỏi nhóm tiếng Việt-Mường vẫn còn đang tranh cãi:

Theo Phạm Văn Cường thì vào khoảng thế kỉ V - VI, sau đó khá lâu,vào khoảng thế kỉ X – XI tiếng Mường mới tách ra

Còn theo Bùi Xuân Dinh thời điểm phân tách của nhóm Viêt Mường và hai nhóm Chứt – Poong diễn ra từ khoảng thiên niên kỷ thứ I TCNđến thế kỷ thứ II sau CN Và nhóm Việt Mường phân tách khoảng từ khoảngthế kỷ thứ VII -VIII

Giáo sư Trần Trí Dõi đã nhận xét tiếng Chứt như: “bảo tàng lưu giữcác giai đoạn phát triển của tiếng Việt” Văn hóa của người Chứt cũng cho phéptìm lại lịch sử phát triển của người Việt cổ

-Nguồn gốc lịch sử:

Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường được giới khoa học thốngnhất thừa nhận là các cộng đồng bản địa ở Việt Nam Trong đó, Kinh (Việt) vàMường tách thành hai tộc người vào khoảng thế kỉ thứ X, Thổ tách khỏi Kinh(Việt), để hình thành tộc người riêng vào khoảng thế kỉ thứ XV - XVI (thời HậuLê)

Nói về tộc người Chứt:

Trước đây, người dân tộc Chứt sống di cư, chủ yếu sống ở vùng rừng núi tỉnhQuảng Bình và Hà Tĩnh trong điều kiện sống lạc hậu Theo A Cheon và Th.Guignard, hai nhà nghiên cứu người Pháp đã mô tả người Chứt “hết sức nhútnhát, hễ thấy người lạ thì lập tức lẩn trốn Họ không có quần áo, nam nữ đềuche mình bằng vỏ cây sui, ngủ chung lẫn lộn trong hang hoặc lều Họ ăn bột câynhúc và săn bắt tôm, cá, thú nhỏ trong rừng Cả nam và nữ đều búi tóc đằngsau”

Có nguồn thông tin cho biết nhóm người Rục thời trước có nguồn thức ăn quantrọng là bột cây báng và thịt khỉ

Trang 8

Dưới thời thực dân Pháp, người dân tộc Chứt bị miệt thị là “Xá Lá Vàng” “Xá”chỉ những tộc người lạc hậu, “Lá Vàng” chỉ cuộc sống di cư Người dân tộcChứt thường chỉ sống tại một địa điểm trong những túp lều lợp bằng lá câykhoảng vài ngày cho đến khi lá chuyển sang màu vàng thì bỏ đi nơi khác Bảnthân chữ “Chứt” cũng được hiểu là hang đá, nơi trú ngụ của người Chứt Vớitrình độ sản xuất thấp, người Chứt không biết dệt vải Vào mùa hè, nam giớingười Chứt thường đóng khố và cởi trần, còn phụ nữ Chứt mặc váy Vào mùađông, họ mặc áo làm bàng vỏ cây.

Năm 1991, khi bộ đội biên phòng Hà Tĩnh phát hiện người Chứt chỉ cókhoảng 20 người đang sống trong hang sâu trên dãy Trường Sơn thuộc biên giớiViệt-Lào.Sau gần 30 năm, đến nay người Chứt đã hồi sinh có 41 hộ với hơn 140nhân khẩu sinh sống ở bản Rào Tre, thuộc xã Hương Liên, huyện Hương Khê,

Hà Tĩnh Để có một bản Rào Tre như hôm nay, trong gần 30 năm qua, các thế

hệ cán bộ, chiến sỹ lực lượng bộ đội biên phòng Hà Tĩnh và chính quyền địaphương đã thực sự sát cánh cùng người Chứt để “vượt cạn” bỏ hang, bỏ suối vềnhà Đêm, khi cán bộ địa phương ngủ là người Chứt tìm cách tháo chạy vôrừng Ông Đặng Duy Báu-Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh lúc bấy giờ cùng với ông VõTrọng Việt-Chỉ huy trưởng bộ đội biên phòng Hà Tĩnh (nay là Thượng tướng,Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) nhiều đêm liền ngồi với nhau bàn cách cứu tộcngười này.Tổ công tác khác được phân công xuyên rừng đi chọn địa điểm phùhợp để tính đến phương án dựng bản cho người Chứt Mưa lâu thấm dần, mộtvài năm sau khi người Chứt đã quen mắt với màu áo bộ đội biên phòng, thấynhớ khi bộ đội biên phòng vắng mặt, khi đau bụng, sinh con, khi cúng Giàng,thần linh cũng gọi bộ đội biên phòng tham gia Những ngôi nhà sàn được dựnglên bằng cây rừng, kiến trúc theo kiểu hang dần dần cũng được bà con ngườiChứt đến ở Tiếp đó, những ngôi nhà sàn lại được thay thế, cách tân kiểu mới,những lớp học được mở ra, trạm xá được dựng lên…Gần 30 năm để có một bảnlàng, nhiều cán bộ, chiến sỹ bộ đội biên phòng đã gắn bỏ hết cả cuộc đời binhnghiệp của mình để dạy chữ, để ăn ở sinh hoạt, giữ đường biên giới cùng bà connơi đây

Theo như cuốn Việt Nam văn hóa và du lịch có nói: “Người Chứt sinh sốngbằng nương rẫy du canh du cư, săn bắn và hái lượm Cây trồng chính là ngô,sắn, đỗ, lúa Công cụ sản xuất rất thô sơ: rìu, rựa, gậy chọc lỗ vận chuyển hànghóa chủ yếu là gùi đeo vai Lương thực ăn hàng ngày chủ yếu là ngô,sắn Những năm mất mùa họ phải ăn bột báng ”[3,tr.91]

Trang 9

Ngày nay khi được chính quyền Việt Nam vận động về sống định cư như vậy,

họ hòa đồng hơn vào các tộc người khác.Họ sống định canh, định cư nhưng cáclàng của người Chứt gọi là Cà Vên thường tản mạn và nhà cửa không bềnvững.Họ sống nhờ trồng trọt (nhóm Sách làm ruộng, còn nhóm Rục và A rem làlàm rẫy), canh tác lúa, đậu, lạc, trầu không Khi đến mùa thu hoạch, họ vẫn lên

ở các hang núi gần nương rẫy, chỉ trở lại bản làng khi mùa màng xong xuôi.Người Chứt cũng hái lượm, săn bắn, đánh cá, chăn nuôi Nghề mộc và đanlát khá phổ biến trong các tộc người Chứt Các đồ dùng bằng kim loại và vảivóc, y phục phải mua hoặc trao do người Chứt không trồng bông dệt vải haychế tạo đồ kim loại

Người Chứt ngày nay thường nhận mình là họ Cao, họ Đinh Mỗi dòng họ đều

có người tộc trưởng, có bàn thờ tổ tiên chung Trong làng người Chứt, tộctrưởng nào có uy tín lớn hơn thì được suy tôn làm trưởng làng

1.2.2.Khái quát về đặc điểm văn hóa của tộc người Chứt

-Trang phục:

“Xưa kia, người Chứt không biết trồng bông dệt vải Muốn có vải để may mặc

họ phải mua hoặc mang nông, lâm sản đổi cho người Kinh, hay người Lào lâncận, để lấy y phục Vì vậy y phục của họ khá đơn sơ: đóng khố đối với đàn ông,phụ nữ chỉ mặc váy (puồng), vào mùa đông họ tự khâu áo để mặc Hiện nay họmặc giống kiểu y phục của người Kinh” [1, tr.60]

-Đồ ăn, uống, hút của người Chứt:

Trang 10

Sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy, hái lượm và săn bắt, nên nguồnlương thực chủ yếu cua người Chứt là ngô, sắn, và các loại bột báng, củ mài, củpẩu, của nâu, ;nguồn thực phẩm chủ yếu của họ là các loại măng, rau lấy trongrừng, và chim muông, cua ốc săn bắt được Với nguồn nguyên liệu ấy cách chếbiên chủ yếu của họ đồ, nướng, hoặc luộc Từ sau khi định canh, định cư, cuộcsống của các nhóm địa phương thuộc dân tộc Chứt, ngày càng ổn định và khádần Nay tuy còn vô vàn khó khăn, nhưng việc ăn uống của họ đã được cải thiệnnhiều Các món ăn của họ đã chịu nhiều ảnh hưởng từ ăn uống của người Kinhlân cận.

- Tín ngưỡng, thờ cúng của người Chứt:

“Đối với các nhóm Mày, Sách, Arem, Mã Liềng, Rục, thuộc cộng đồng ngườiChứt, tín ngưỡng vạn vật thiêng liêng khá phổ biến Với họ, ngoài rừng có marừng, ma suối (cù muých rú đác), trong không trung có cù muých linh l’váng(ma lơ lửng giữa không trung), ở bốn phương và giữa trời có năm ông thổ công(đăm ôông tồ côông; được coi là chủ đất của cavên), trong nhà có thổ công, haiôông t’pua, pà pua pếp (hai ông vua, bà vua bếp), dưới đất có ma đất (múa ôôngbản thổ: mụ ông bàn thổ), Vì thần bảo hộ các làng (trông coi và bảo vệ đấtrừng, người và vật của cavên), của họ là cu muých yàng Với họ, đây là vị thầnquan trọng nhất

Tuy săn bắn và hái lượm còn đống vai trò quan trọng, nhưng ở ngườiChứt ít thấy những lễ nghi, tín ngưỡng và ma thuật săn bắn Nhóm Mã Liềng cótục cúng ma ná (ma nó) trước và sau khi săn được thú Khi săn hay bẫy đượcthủ to (lợn, mang, tác, ), họ cúng tổ tiên và ma bếp Bên cạnh những nghi lễtiên quan đến săn bắt, ở các nhóm Sách, Mày và Rục có tục làm lễ xuống giống(pàchôông K’lôống), cúng khi tra lúa trên nương, cúng hồn lúa, cúng cơm mới(ch’leng)”, [1, tr.66]

Văn hóa nguyên thủy đa sắc ra đời trên nền tảng lao động miệt mài của loàingười, mang lại ánh sáng tri thức mà con người hiện đại đang thừa hưởng Ởgóc độ văn hóa, người Chứt cũng đang gìn giữ và làm mới một số dấu ấn vănhóa nguyên thủy độc đáo, song song với việc định canh định cư, nâng cao dântrí, bồi dưỡng thể chất, xóa bỏ những tập tục canh tác lạc hậu, mê tín dị đoan vàtừng bước giảm nghèo bền vững

Trang 11

1.2.3 Tộc người Chứt tại huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình

Dân tộc Chứt ở Quảng Bình có 5 nhóm địa phương, còn gọi là 5 tộcngười: Sách, Mày, Rục, A rem, Mã Liềng với 1.591 hộ với 6.417 khẩu (chiếm26% dân số dân tộc thiểu số, tính đến tháng 31-12-2016) Địa bàn cư trú củadân tộc Chứt phân bố ở 29 bản, 9 xã, thuộc 3 huyện: Minh Hoá, Tuyên Hoá và

Bố Trạch thuộc các xã miền núi, vùng cao, biên giới, nơi có địa hình chia cắt,hiểm trở Đây cũng là nơi có thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, ngập lụt về mùamưa, hạn hán, thiếu nước về mùa khô

Trong đó, tại huyện Minh Hóa thuộc tỉnh Quảng Bình: tộc người Sách cưtrú tập trung theo cộng đồng ở các xã Thượng Hóa (bản Phú Minh, Yên Hợp),Hóa Sơn (bản Hóa Lương, Lương Năng), ngoài ra người Sách sống xen ghépvới dân tộc Kinh ở các xã: Hóa Tiến, Hóa Hợp, Hóa Thanh, Dân Hóa, TrungHóa, Hồng Hóa, Xuân Hóa, Thị trấn Quy Đạt Tộc người Rục cư trú theo cộngđồng, chủ yếu ở xã Thượng Hóa Tộc người Màycư trú ở 11 thôn bản thuộc các

xã Dân Hoá, Hoá Tiến, Hoá Thanh, Thượng Hoá.Tộc người Mã Liềng cư trútheo cộng đồng ở 6 bản trong đó có xã Trọng Hoá

Ngôn ngữ Chứt mà đồng bào bản ngữ đang sử dụng, theo các nhà ngônngữ học thuộc nhóm Việt-Mường, nhánh các ngôn ngữ Môn-Khơ me (TiếngViệt, Mường, Thổ Chứt), hệ ngữ Nam Á Trong danh mục thành phần các dântộc công bố năm 1979, tiếng Chứt của dân tộc Chứt bao gồm những nhóm ngônngữ địa phương khác nhau: Mày, Rục, Sách, Mã Liềng và Arem Cả năm nhómnày được coi là thành viên địa phương của tiếng Chứt Hệ ngữ Nam Á gồmnhiều ngôn ngữ khác nhau, phân bổ khắp vùng Nam Á

Khoảng những năm 1958-1959, công an vũ trang (nay là biên phòng)phát hiện nhóm người nguyên thủy sống giữa rừng ở khu vực biên giới QuảngBình Đầu năm 1960, người Rục được vận động ra sinh sống tập trung, lúc ấychỉ có 34 người Đến năm 2012, lần đầu tiên, Đồn biên phòng Cà Xèng giúpngười Rục làm lúa nước, tự đảm bảo được một phần lương thực

Cũng giống như ở các nơi khác, người Chứt ở đây cũng sống nằng nôngnghiệp nương rẫy, du canh và săn bắt hái lượm Trừ nhóm Sách sống chủ yếubằng nông nghiệp còn các nhóm khác hái lượm và săn bắn chiếm vị trí quantrọng, thậm chí là nguồn sống chính trong những năm mất mùa Công cụ sảnxuất gồm: rìu, rựa, gậy chọc lỗ, nơi làm ruộng có thêm cày, bừa Từ khi định cưngười Chứt đã nuôi trâu bò để phục vụ cày bừa, làm sức kéo Đan lát chủ yếu

do nhu cầu tiêu dùng trong gia đình Đôi nơi họ biết thêm nghề rèn dao và rìu

Trang 12

Gần 60 năm trôi qua kể từ khi tộc người Rục được phát hiện, đưa ra khỏi hang

đá, nay họ định cư giữa những thung lũng bằng phẳng ở xã Thượng Hóa (MinhHóa, Quảng Bình), không còn “sáng ra khỏi hang, tối vào lại” như trước đây

Ký ức về cuộc sống “săn bắt hái lượm” vẫn còn in đậm trong tâm trí nhiềungười Rục Một số cụ ông, cụ bà “không nhớ nổi tuổi” đôi khi thèm khát cuộcsống hang đá, đã quay lại hang ở đôi ba ngày

Nhìn chung, ngày nay cùng với những thay đổi lớn lao của đất nước vàđiều kiện sinh động, cũng như các dân tộc thiểu số khác, dân tộc Chứt có rấtnhiều sự biến đổi Chẳng những cung cách kiếm sống thay đổi, văn hóa ăn,mặc, ở đã khác xưa nhiều, mà tâm lý, tín ngưỡng, nếp sống của họ cũng thayđổi không ngừng Nếu xưa kia sống bằng nghề làm ruộng, săn bắt và hái lượm

là chính, thì nay các hoạt động kinh tế của họ đã đa dạng, chuyên ngành,chuyên môn hóa đã xuất hiệ, thương mại được chú trọng và quan trọng là sảnxuất hàng hóa đã bắt đầu hiện diện Đời sống kinh tế hàng ngày được cải thiện,

hạ tầng điện, đường, trường trạm đã ổn định và phát huy tác dụng, đói nghèogần như được đẩy lùi, dân trí được nâng lên không ngừng, mạng lưới y tế pháttriển, việc chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng tốt hơn

Phần 2 MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ

TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA TỘC NGƯỜI CHỨT

2.1.Một số loại hình văn nghệ dân gian của tộc người Chứt

Mỗi tộc người lại có kho tàng văn nghệ dân gian đặc sắc riêng Nhưng chúngđều có đặc điểm chung đó là:

Thứ nhất: nội dung, hình thức nghệ thuật, kĩ thuật sáng tác đều gắn liền vớimột nghề nghiệp hoặc với đời sống của nhân dân ở một địa phương nào đó Thứ hai: sáng tác có tính chất tập thể, đậm màu sắc dân tộc

Thứ ba: không có trường dạy, người trong gia đình hoăc người cùng làmmột nghề truyền thụ cho nhau

Trong xã hội mới văn nghệ dân gian được sưu tầm, chỉnh lý, nâng cao đểphục vụ cho toàn dân tộc

Trang 13

Là một bộ phận của cộng đồng dân tộc anh em, tộc người Chứt cũng có chomình kho tàng văn nghệ dân gian tuy không thật phong phú nhưng cũng khôngquá nghèo nàn.

là đàn nứa Khi chơi loại đàn này có thể kéo (như kéo nhị của người Kinh),hoặc gảy như đàn tranh Tiếng đàn này phát ra âm thanh hơi “phô” nhưng cũngkhá dìu dặt, nghe gần giống tiết tấu đàn accordean.Mỗi lần nghệ nhân đánh đànTrơ bon, âm thanh phát ra như muốn gửi cả tâm tình của đại ngàn Trường Sơnđến người nghe

Trước đây, mỗi dịp hội hè, tiếng nhạc làm cho bản thêm rộn ràng, sôi nổi.

Và cũng nhờ tiếng sáo, tiếng đàn và con trai, con gái của bản tìm đến và ăn đời

ở kiếp với nhau.Đáp lại tiếng đàn trơ bon réo rắt của cô gái, tiếng kèn môi là lờithủ thỉ tâm tình của chàng trai Sống bao đời trên những đỉnh núi cao, cách xacác dân tộc khác, người Chứt làm bạn với tiếng đàn, tiếng kèn, tiếng sáo.Những âm thanh rủ rỉ như vọng về từ một miền kí ức xa thẳm, như tiếng nướcchảy róc rách trên những rục nước, tiếng gió thì thào xuyên những tán rừng

Đó là tiếng đàn tình yêu, tiếng đàn khiến những chàng trai ưng cái bụng,nghe bùi Tiếng nhạc vang khắp núi rừng, khiến người đi qua không kiềm lòngđược mà ghé thăm, dừng chân lại.Đêm đêm, dưới ánh trăng mờ tỏ, những chàngtrai dùng thứ âm thanh mộc mạc của cây đàn Trơ bon để gọi bạn gái Những âmthanh đó ngân vang dưới chân núi Ka Đay khiến đại ngàn Trường Sơn vốn trầmmặc trở nên huyền diệu

Thiếu tá Dương Thanh Tịnh - Đội trưởng Tổ công tác thuộc Đồn BiênPhòng 575 cho biết: “Trong nét văn hóa của tộc người Chứt trước đây, có sáo

Pi, đàn Muôi (đàn môi), đàn Trơ bon (đàn nứa), từ con trai đến con gái đều biếtcách làm và sử dụng Nhất là đối với những đôi trai gái yêu nhau dùng sáo, đànthay cho lời nói để hiểu nhau và trở thành vợ chồng Bên cạnh đó đàn, sáo đượcdùng trong lễ hội như đám cưới, lễ hội xuống giông, lễ cúng hồn lúa ”

Bà Hồ Thị Sen ở bản Rào Tre (xã Hương Liên, huyện Hương Khê, HàTĩnh) không nhớ năm nay mình bao nhiêu tuổi, cũng không nhớ mình biết kéođàn Trơ bon từ bao giờ Bà chỉ nhớ rằng, từ khi chưa có người yêu, bà đã kéo

Trang 14

đàn Trơ bon thâu những đêm hội: “Chưa có chồng, mình làm cái đàn này thổichơi Tôi với ông chồng cũng nên duyên từ tiếng đàn này, từ tiếng kèn môi kia.Ông ấy không dám hỏi, thổi sáo thay cho lời tình yêu Tôi cũng thích nhưngngại không nói, kéo đàn trả lời”.

Ngày trước, những đêm mùa xuân, nam nữ hẹn hò bên bờ suối Các cô gáikéo đàn Trơ bon, các chàng trai gẩy kèn môi, đệm nhạc cho những bài dân caChứt Trước khi kéo đàn Trơ bon, người ta phải làm ướt cật nứa Nếu cật nứakhông đủ ẩm thì đàn sẽ không kêu

Ông Hồ Phượng là người khéo tay có tiếng ở bản Rào Tre Hầu hết nhữngcây đàn Trơ bon, kèn môi ở bản Rào Tre đều do ông làm; nhiều người biết kéođàn, thổi kèn là do ông dạy: “Đàn với kèn là trêu nhau, lời mình hỏi nhau Ví

dụ, hỏi: đằng em có yêu anh không? Đằng vợ đánh đàn Trơ bon có nghĩa là : emyêu anh”

Theo ông Hồ Phượng, trước đây người Chứt ở bản Rào Tre còn có khèn

bè, nhưng từ lâu không còn ai biết làm, không ai nhớ cách dùng Người biếtđánh đàn Trơ bon, biết thổi kèn môi giờ cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay

Những âm thanh mộc mạc của núi rừng đã mai một theo thời gian, thayvào đó là tiếng trống, tiếng nhạc được phát ra từ dàn âm thanh rất hiện đại Hiệnnay, trong bản chỉ còn 4 người biết đánh đàn, thổi sáo hay Trưởng bản Hồ Kínhbuồn bã: “Thanh niên giờ chỉ thích nghe nhạc hiện đại thôi, không ai biết làm,biết đánh đàn nứa, đàn Muôi nữa đâu Đàn dễ làm lắm nhưng có lẽ vì thế màcũng dần lãng quên.”

Theo nhạc sỹ Trịnh Ngọc Châu, nhạc cụ của người Chứt không phong phú, đadạng như các dân tộc khác, âm lượng nhỏ, với các cung bậc đơn giản Nhạc cụphản ánh trình độ phát triển của chủ nhân chúng - một dân tộc nhỏ bé giữa đạingàn Trường Sơn: “Đàn của người Chứt, kể cả âm thanh và các cung bậc rấtđơn giản Để làm sáo trúc, nghệ nhân phải luộc nước muối, ngâm; cây trúc phảigià, các đốt khác nhau Đây, người Chứt dùng nứa non, cộng hưởng với ốngcũng kém Dây cước, dây tơ thì âm thanh có vẻ mềm hơn nhưng không thể lớnnhư dây kim khí, kim loại được” Tuy vậy, đối với họ đó cũng là niềm tự hàokhôn xiết về dân tộc mình

-Đàn môi:

Đàn môi là từ tiếng Việt để chỉ một loại nhạc cụ dân tộc làm bằng tre, phổ biến hầu hết trong các cộng đồng dân tộc ở Việt Nam với nhiều tên gọi khác nhau.Gọi đàn môi là do thói quen gọi lâu ngày ở Việt Nam Thật ra nhạc cụ chưa hẳn

là đàn, bởi vì các nhà nghiên cứu phân tích nó theo nhiều cách khác nhau Có

Trang 15

người cho rằng đàn môi là nhạc cụ dây vì có lưỡi là dây rung, khoang miệng là

bộ phận tăng âm Người khác bảo đàn môi là nhạc cụ hơi vì chiếc lưỡi làm nhiệm vụ lưỡi gà như trong khèn Quan điểm thứ 3 cho rằng nó là nhạc cụ tự thân vang, nguồn âm thanh xuất phát từ chiếc lưỡi rung toàn thân

Đàn môi thường làm bằng 1 miếng đồng dát mỏng hay mảnh tre vótmỏng tạo dáng chiếc lá tre Người ta cắt một chiếc lưỡi dài theo chiều thân đàn,phần đầu lưỡi rời ra chỉ còn phần gốc dính vào thân đàn Chiếc lưỡi này là bộphận rung của nhạc cụ Phần cuối thân đàn có buộc 1 sợi dây hay có 1 tay cầm.Khi thổi người ta giữ sợi dây hay tay cầm bằng tay trái, đặt đàn cáchđôi môi một chút, đủ để không chạm vào răng Ngón cái của tay phải bật vàođầu đàn khiến lưỡi rung lên, chuyển chấn động đến khoang miệng và vang lêntrong khoang miệng Khi thay đổi khẩu hình âm thanh sẽ phát ra khác nhau, tuynhiên số lượng âm không nhiều, cao độ không chuẩn, hơi nhòe và nghe nhỏ

Dân ca gắn bó một cách tự nhiên với sinh hoạt hàng ngày của đồng bào Nộidung bài hát có thể sáng tác tùy hứng theo điệu Kà tơm - tà lênh rất được đồngbào ưa thích Làn điệu kà tơm - tà lênh nghĩa là con trâu đi cày (kà tơm là contrâu, tà lênh là cày đất).Điệu này bắt đầu bằng điệp khúc là “kà tơm - tà lênh”hai lần và sau đó là nội dung bài hát Làn điệu này thường dùng để hát đối nam

nữ trong lao động sản xuất, trong vui chơi (cũng có thể hát một mình hoặc háthai nam, hai nữ)

Điệu hát này bắt nguồn từ tiếng gọi nhau đi làm lúc sáng sớm, hoặc theo đồngbào trước đây còn có điệu “kà răng - tà nên” nghĩa là chiều về trên đỉnh núi, làtiếng gọi nhau đi về lúc trời đã chiều Điệu dân ca này không chỉ tạo nên khôngkhí vui nhộn, hăng say trong lao động sản xuất, mà thông qua đó các chàng trai,

cô gái còn gửi gắm tâm tình cho nhau:

Trang 16

“Kà tơm - tà lênh, kà tơm - tà lênh, bởi chỉ mới chiềng chiêng kdang, kói, tihalktoi, bới chị mới, kà tơm- tà lênh, kà tơm-tà lênh che phướng l nơ, phi co chô,che hel vấng tược…”

Tạm dịch là (kà tơm-tà lênh, kà tơm - tà lềnh) O nàng ơi, mang kdâng, mangkói đi hái trầu, O có đi không, O này ơi (Kà tơm-tà lênh, kà tơm - tà lềnh) emcũng muốn đi, mà trầu có chỗ, em sợ, em hái không được”

Điệu Kà tơm - tà lênh còn là điều nhắn nhủ, trao đổi kinh nghiệm cho nhautrong lao động sản xuất:“Kà tơm-tà lênh, Kà tơm-tà lênh, Kon a thi un aten kơchông bi ai a chịt” Tạm dịch là “con chim đen ăn giống cây, hãy bắn chết nó”

Không chỉ trong lao động sản xuất, điệu kà tơm - tà lênh còn được hát trong cácdịp cưới, lễ tết và nó còn là tiếng ru con cửa các bà mẹ Nội dung bài hát có thểsáng tác tùy hứng thường là những câu hát trao duyên kín đáo, tình tứ hoặc lànhững câu trêu ghẹo nhau nghịch ngợm, hóm hỉnh và có khi là những lời răndạy con người Ở đây điệu kà tơm - tà lênh có vần điệu rất thô sơ giống nhưnhững điệu cổ sơ của các điệu hát ví và hát dặm nghệ tĩnh

Điệu hát kà tơm - tà lênh là kết quả của quá trình tư duy của đồng bào xuất phát

từ thực tiễn sinh động của cuộc đấu tranh với thiên nhiên, với sự vận động vàphát triển của xã hội Nhưng rất tiếc ngày nay do cuộc sống của đồng bào cónhiều thay đổi, cho nên các làn điệu dân ca đang bị mất mát dần và chưa cóbiện pháp nào để khai thác và lưu giữ trong đời sống văn nghệ ngày hôm nay -Ca dao cơm Pồi:

1 Trời mưa dác chẳn queng hồi.

Eng khôông lế cấy, ai tâm Pồi cho eng ăn.

Nghĩa là:

Trời mưa nước chảy quanh hồi.

Anh không lấy vợ, ai giã bồi cho anh ăn.

2 Trôông cho mau tếng mùa Pồi

Nhớ con ôốc tực tang ngồi trên vâm.

Nghĩa là:

Trang 17

Trông cho mau đến mùa Pồi

Nhớ con ốc vặn đang ngồi trên mâm

Và:

3.Mặt trời tá các tôộng ngồi

Ti nô cúng nhớ cơm Pồi, thâu lang.

Nghĩa là:

Mặt trời đã gác động ngồi

Đi đâu cũng nhó cơm Pồi, rau khoai.

Trong cuộc sống sinh tồn và phát triển của bất cứ cộng đồng dân tộc nào, vănhóa ẩm thực đóng một vai trò rất quan trọng, nó không chỉ bảo đảm cho conngười về mặt vật chất mà còn thể hiện những giá trị văn hóa độc đáo của dântộc đó Cũng như các dân tộc khác trong vùng, lương thực chủ yếu của đồngbào dân tộc Chứt là ngô, sắn, lúa nương và các loại củ quả (chất có bột) đượchái lượm ở rừng

Các món ăn của đồng bào sau khi được chế biến chủ yếu là luộc, nướng, cónhững món ăn được chế biến hết sức đơn giản, nhưng đối với món cơm Pồi,việc chế biến được trải qua nhiều công đoạn hết sức công phu

Nguyên liệu để làm món cơm Pồi gồm: ngô hạt, lúa nếp nương, sắn củ Sau khi

đã chuẩn bị xong nguyên liệu, ngô hạt được ngâm trong nước độ nửa ngày, vớt

ra để ráo, cho vào cối giã mịn; lúa nếp nương cho vào cối giã dập, loại bỏ vỏtrấu và giã đến khi thành bột; sắn củ ngâm nước, bóc vỏ, thái mỏng và cho vàobàn dập ép kiệt nước Bột ngô, bột nếp, sắn thái mỏng được trộn đều với một ítmuối, nước lã, tạo thành một thứ hỗn hợp kết dính, sền sệt

Có các cách nấu cơm Pồi khác nhau Cách nấu thứ nhất là cho các thứ đã trộnđều vào ống tre, lấy lá chuối rừng nút chặt phần miệng để giữ nhiệt làm chocơm mau chín và chín đều Để cho ống tre khỏi nứt khi nướng trên bếp than,đồng bào dùng dao tước bỏ phần vỏ cứng bên ngoài của ống tre; đến lúc có mùithơm tỏa ra là cơm pồi đã chín Cách nấu này giống với cách nấu cơm lam củamột số dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Bắc

Ngày đăng: 11/04/2018, 01:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w