1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu, mô tả, đánh giá về đề xuất bảo tồn những giá trị văn nghệ dân gian của tộc người cống

39 296 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 572,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn nghệ dân gian truyền thống luôn luôn gắn liền với đời sống của cộngđồng các dân tộc, nó là hơi thở, là máu thịt, là niềm đam mê sáng tạo, hưởng thụkhông bao giờ ngưng nghỉ, vơi cạn t

Trang 1

Văn nghệ dân gian truyền thống luôn luôn gắn liền với đời sống của cộngđồng các dân tộc, nó là hơi thở, là máu thịt, là niềm đam mê sáng tạo, hưởng thụkhông bao giờ ngưng nghỉ, vơi cạn trong lòng người dân và trong dòng chảychung của một nền văn hoá đa sắc màu trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Trong nền văn hóa văn nghệ dân gian vốn phong phú đa dạng của dân tộcViệt Nam, không thể không nói đến sự góp mặt của văn nghệ dân gian của đồngbào Cống Trải qua quá trình đấu tranh lâu dài chống lại thiên nhiên khắc nghiệt

và xã hội phong kiến bất công để tồn tại và phát triển, người Cống đã sáng tạonên những giá trị văn hóa truyền thống giàu bản sắc Đó là những sáng tác nghệthuật của đồng bào truyền từ đời này qua đời khác nó nảy sinh và tồn tại như một

bộ phận hợp thành của sinh hoạt nhân dân

Sau khi được học xong học phần: ‘‘Văn hóa các dân tộc thiểu số ViệtNam’’ đã cho tôi những kiến thức vững vàng, những tri thức đầy bổ ích về vănhóa các dân tộc Việt Nam Đặc biệt là văn nghệ dân gian của dân tộc Cống đãđưa tôi đến với những làn điệu trữ tình sâu lắng, những điệu múa nhẹ nhàngnhưng cũng có phần sôi động, những lời ca ngọt ngào và những truyện cổ đầy sựtích… Vì vậy, tôi chọn đề tài: ‘‘Tìm hiểu, mô tả, đánh giá về đề xuất bảo tồnnhững giá trị văn nghệ dân gian của tộc người Cống” để cho mọi người khắpmọi miền đều được biết đến và hòa nhịp trong nền văn nghệ dân gian vốn phongphú của dân tộc Cống

Trang 2

NỘI DUNG

1 Khái quát về địa bàn và tộc người.

1.1 Khái quát về huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu.

1.1.1 Vị trí địa lý và dân cư.

* Vị trí địa lý:

Mường Tè là huyện vùng cao biên giới của tỉnh Lai Châu, nằm phía Tâybắc Việt Nam Huyện có tổng diện tích tự nhiên 267.934 ha, chiếm 29,6%diện tích của tỉnh Lai Châu, đứng đầu 8 huyện, thành phố của tỉnh về diệntích

Vị trí Tiếp giáp: Phía Bắc: giáp tỉnh Vân Nam, Trung Quốc

Phía Nam: giáp huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu Phía Đông: giáp huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu

Phía Tây: giáp huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

Huyện Mường Tè có 14 đơn vị hành chính gồm thị trấn Mường Tè và

13 xã (Bum Nưa, Bum Tở, Vàng San, Kan Hồ, Pa Vệ Sủ, Mường Tè, NậmKhao, Tà Tổng, Pa Ủ, Ka Lăng, Thu Lũm, Mù Cả, Tá Bạ) Trung tâm huyện

lỵ đặt tại thị trấn Mường Tè, cách tỉnh Lai Châu hơn 200 Km về phía TâyBắc theo đường bộ tỉnh lộ 127, quốc lộ 12, quốc lộ 4D; 120km theo đường PaTần - Mường Tè

Huyện Mường Tè có tổng chiều dài đường biên giới tiếp giáp vớiTrung Quốc dài 130,292 km đi qua 6 xã vùng biên (Pa Ủ, Ka Lăng, Thu Lũm,

Mù Cả, Tá Bạ, Pa Vệ Sủ) nên Mường Tè có vị trí đặc biệt quan trọng về anninh quốc phòng và bảo vệ chủ quyền biên giới Quốc gia

* Dân cư:

Tính đến tháng 12 năm 2016, huyện Mường Tè có dân số khoảng43.576 nghìn người; gồm 10 dân tộc anh em và một số dân tộc khác cùng sinhsống, trong đó: Dân tộc Kinh 3026 người (6.944%); dân tộc Thái 10126

Trang 3

người (23.24%); dân tộc Mông 6406 người (14.7%); dân tộc Dao 283 người(0.649%); dân tộc Giáy 920 người chiếm (2.111%); dân tộc La Hủ 11.161người (25,61%); Hà Nhì 8724 người (20,02%); dân tộc Mảng 1.172 người(2,69%); dân tộc Cống 935 người (2,146%); dân tộc Si La 582 người(1,38%); dân tộc Hoa 12 người (0.028%); dân tộc Cao Lan 6 người (0,014%);Dân tộc Mường 152 người (0,349%); dân tộc Tày 57 người (0.131%); dân tộcNùng 11 người (0.025%); dân tộc Sán Dìu 3 người (0.007%) Phần lớn cácdân tộc thiểu số trình độ dân trí chưa cao, không đồng đều, đời sống còn khókhăn.

1.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên.

* Đặc điểm địa hình:

Huyện Mường tè do chịu ảnh hưởng lớn của hoạt động kiến tạo địa chấtnên có địa hình rất phức tạp, mức độ chia cắt sâu và ngang rất mạnh bởi cácdãy núi cao chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, phổ biến là kiểu địahình núi cao và núi trung bình xen lẫn thung lũng Độ cao trung bình từ 900 -1.500m so với mặt nước biển Nhiều đỉnh có độ cao trên 2000m: đỉnh Phu XiLung (3.076m), Pu Tà Tổng (2.109m) Độ dốc trung bình từ 250 - 300 có nơilên tới 450

Nhìn tổng quát huyện Mường Tè được chia thành 2 vùng địa hình khácnhau:

Vùng núi cao: Gồm các xã Pa Vệ Sủ, Pa Ủ, Bum Tở, Tá Bạ, Ka Lăng,Thu Lũm, Mù Cả và Tà Tổng với độ cao trung bình từ 1000 - 2000m so vớimặt nước biển thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi đại gia súc, phát triểnkinh tế rừng và trồng các loại cây vùng ôn đới

Vùng đồi núi thấp: Gồm các xã Bum Nưa, Vàng San, thị trấn Mường Tè,Nậm Khao, Mường Tè, Kan Hồ với độ cao trung bình từ 400 - 1000m, thuận

Trang 4

lợi cho việc phát triển cây công nghiệp như cao su, quế, các cây ăn quả có giátrị kinh tế cao và nuôi trồng thủy sản.

* Đặc điểm khí hậu:

Khí hậu Mường Tè mang đặc điểm của vùng nhiệt đới núi cao Tây Bắc,

ít chịu ảnh hưởng của bão, thời tiết quanh năm chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùađông lạnh, mưa ít, mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều

Chế độ mưa: Hàng năm mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 4 và kết thúc vàotháng 10 trùng với kỳ thịnh hành của gió Tây Nam: vùng cao lượng mưa lêntới 3000mm/năm, vùng núi trung bình có biến động từ 2000 – 2500 mm.Vùng núi thấp và thung lũng từ 1500 – 1800 mm Mùa khô bắt đầu từ tháng

11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa ít (316,4mm), trong thời gian này thường

có sương mù và suất hiện sương muối vào một số ngày trong tháng 1 và tháng

2 Lượng mưa trung bình năm là 2.531mm, tháng 7 chiếm 87,5% lượng mưa

Chế độ gió: Từ tháng 3 - tháng 7 thường có gió mùa Tây Nam, gió mùaĐông Nam thổi mạnh từ tháng 4 - tháng 10, gió mùa Đông Bắc xuất hiện từtháng 11 - tháng 3

* Các nguồn tài nguyên thiên nhiên:

Tài Nguyên nước: Huyện Mường Tè có mạng lưới sông, suối khá dày

đặc, trong huyện có 1 sông chính là sông Đà, ngoài ra còn có 4 con suối có trữlượng nước lớn: Nậm Ngà, Nậm Na, Nậm Củm, Nậm Sì Lường Đặc biệt,

Trang 5

huyện là khu vực đầu nguồn xung yếu và cực kỳ quan trọng của Sông Đà, consông có giá trị lớn về thuỷ điện và cung cấp nước cho vùng đồng bằng Bắc

bộ, nên Mường Tè có vị trí quan trọng về phát triển kinh tế của đất nước Tuynhiên, vào mùa khô sông suối thường khô cạn, thiếu nước cho sinh hoạt vàsản xuất; mùa mưa có lũ lụt, lũ quét, sạt lở gây ảnh hưởng đến tính mạng vàtài sản con người, gây sói mòn mạnh, khả năng sử dụng nước vào sản xuấtcòn nhiều hạn chế

Tài nguyên Khoáng sản: Trên địa bàn có nhiều loại khoáng sản có giá trị

kinh tế cao: vàng, sắt, đồng chì Tuy nhiên trữ lượng vừa và nhỏ, phân bốkhông đều, khó khai thác và sử dụng

Tài nguyên rừng: Huyện Mường Tè có tổng diện tích rừng khá lớn Năm

2015 diện tích rừng của huyện có khoảng 162.842,98ha, bảo vệ rừng trên200.000 lượt ha, khoanh nuôi tái sinh 65.760,2 lượt ha Diện tích được chi trảdịch vụ môi trường rừng từ năm 2012 đến năm 2015 là 614.884,3ha RừngMường Tè có hệ động thực vật đa dạng, phong phú với nhiều loại gỗ quý như:giổi, lát, gù hương; nhiều cây dược liệu quý hiếm, nhiều sản vật rừng nổitiếng như: mật ong rừng, tam thất, nấm hương, thảo quả Năm 2015 tỷ lệche phủ rừng của huyện đạt 61,5% Diện tích rừng phân bố ở tất cả các xãtrong huyện, nhờ quan tâm phát triển kinh tế đồi rừng, kinh tế trang trại rừng

đã góp phần đem lại thu nhập cao cho người dân và góp phần bảo vệ môitrường sinh thái, giữ nước đầu nguồn, cải thiện cảnh quan khu vực

Tài nguyên Văn hóa - Du lịch:

Có thể thấy, điều kiện khí hậu, thủy văn, sông ngòi đã tạo cho huyệnMường Tè những thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng ở một

số xã vùng cao có khí hậu khá mát mẻ gần như quanh năm như các xã Mù Cả,

Tà Tổng, Ka Lăng, Thu Lũm, Tá Bạ

Trang 6

Mường Tè có nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử, hangđộng, suối khoáng, núi đá tự nhiên nổi tiếng: Hòn đá trắng, Ruộng bậc thang,Nhà lưu niệm cố luật sư Nguyễn Hữu thọ, di tích 2 đồn Pháp ở bản Nậm Củm

- xã Mường Tè và bản Bum - xã Bum nưa Huyện Mường Tè gần Nhà máythủy điện Lai Châu thuộc huyện Nậm Nhùn, song chiếm gần như trọn lòng hồcủa thủy điện…đây là những tiềm năng để phát triển những tour du lịch danhlam thắng cảnh lòng hồ sông Đà, kết hợp với nghỉ dưỡng

Trên địa bàn huyện có nhiều dân tộc sinh sống như dân tộc Thái, Hà Nhì,

La Hủ, Si La …với bản sắc văn hoá riêng, có những lời ca, tiếng hát, say sưatrong điệu xòe của người Thái, Hà Nhi và kiến trúc xây dựng nhà sàn mangđậm sắc thái

Mường Tè còn là nơi nổi tiểng nhiều món ăn ngon được làm cầu kỳ,công phu của người Thái, Hà Nhì, Mông như: rêu đá cộng với lá cây rừng,món cá nướng “Pỉnh tộp”, lạp thịt, gỏi cá đượm vị cay của ớt, thơm nồng của

“mắc khén”, hạt tiêu rừng, xả, gừng vị chua của nước măng chua , quả me…

sẽ không thể quên sự tài hoa, khéo léo của phụ nữ của vùng Tây bắc và sẽthấy trong mỗi món ngon còn thấm đậm chữ tình Phụ nữ Tây bắc luôn quanniệm, người đàn ông là trụ cột gia đình, gánh vác phần việc nặng nhọc bằngtình yêu thương họ sẽ nấu những món ăn ngon, bồi bổ sức khỏe, bù đắp lạicông sức lao động của cánh đàn ông Do đó các món ăn của người tây bắcthường rất cầu kỳ, nhiều gia vị kích thích vị giác

1.2 Khái quát về tộc người Cống.

1.2.1 Dân số, nguồn gốc lịch sử, phân bố dân cư.

Người Cống có tên gọi chính thức là dân tộc Cống Thực tiễn họ có cáctên gọi: Xá, Xá Cống, Cống Tác Ngả, Cống Bó Khăm Tiếng nói thuộc nhómngôn ngữ Tạng - Miến (ngữ hệ Hán - Tạng)

Trang 7

Nguồn gốc lịch sử: Là cư dân có nguồn gốc vùng Điền Cổ, dân tộcCống từ vùng cực Bắc Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào, di cư sang ViệtNam.

Dân tộc Cống hiện nay có tổng số dân là 2.029 người Phân bố chủ yếu

ở Mường Tè, Lai Châu (1.134 người), Điện Biên: 871 người, Người Cống

cư trú tập trung ở các bản giáp biên giới Việt – Lào và Việt –Trung: Bó Lếch

xã Can Hồ, bản Nậm Khao, Nậm Pục xã Nậm Khao, bản Tác Ngá xã MườngMô.bản Nậm Kè xã Mường Tong (huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu)

1.2.2 Khái quát về đặc điểm văn hóa.

* Đời sống kinh tế

Dân tộc Cống có dân số ít, cư trú ở vùng sâu, vùng xa, giáp biên…Vìthế đời sống kinh tế của họ gặp rất nhiều khó khăn và thách thức Tộc ngườinày cư trú ở khu vực núi đất, giáp biên giới thuộc các huyện Mường Nhé(Điện Biên), Mường Tè (Lai Châu)

Họ canh tác lúa và rau màu trên nương rẫy và một ít ở ruộng bậc thang.Nhìn chung, dân tộc Cống đều là cư dân sống bằng trồng trọt cây lương thực

là chính Hõ trợ cho hoạt động mưu sinh chủ đạo này là thủ công gia đình,chăn nuôi gia súc, gia cầm., săn bắn, hái lượm và trao đổi nông sản,…Họ sảnxuất ra chỉ để đáp ứng nhu cầu đảm bảo đời sống, sản xuất hàng hóa hoàntoàn chưa xuất hiện Nền kinh tế của tộc người này là nền kinh tế tự cung tựtúc Nó thuộc loại hình kinh tế tiền công nghiệp

Các loại cây trồng của tộc người này bao gồm: Lúa, ngô, sắn, khoai,các loại, rau đậu bầu bí Kỹ thuật canh tác của họ chưa phát triển Số ít làmruộng nước đã có dấu hiệu thâm canh, còn lại hầu hết là quảng canh Gắn liềnvới quảng canh là du canh, du cư Vì thế, xưa kia, họ được gọi là Xá Lá Vàng(Xá Toong Lương) Dân tộc Cống chỉ mới định cư ổn định cách đây vài bachục năm Kỹ thuật chưa phát triển, nông cụ thô sơ, dựa vào tự nhiên là

Trang 8

chính Năng suất và sản lượng cây lương thực khá thấp, mất mùa, đói kém,liên miên Cho đến những năm cuối thế kỷ XX, hàng năm dân tộc Cốngthường thiếu lương thực ăn khoảng vài ba tháng Khi đó họ phải vào rừng đào

củ mài, củ pấu, củ nâu, để chống đói

Chăn nuôi trong các gia đình là hoạt động kinh tế không thể thiếu củadân tộc này.Tuy thế, nó chưa phát triển, chỉ là hoạt động hỗ trợ Các loại giasúc (trâu, ngựa, bò ) họ nuôi để đáp ứng sức kéo trong việc làm đất trồng Gia cầm, họ nuôi chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu lễ vật cho cúng tễ, ma chay,cưới xin,

Thủ công gia đình dân tộc Cống có từ lâu đời, nhưng đến nay nó vẫnchỉ dừng ở hoạt động hỗ trợ Đáng kể nhất là các nghề : dệt vải, may mặc, đanlát, rèn, Ngoài việc đảm bảo cho nhu cầu sử dụng trong các gia đình, sảnphẩm thủ công của các tộc người này cũng chỉ cung cấp thêm dụng cụ, nông

cụ cho nhu cầu trong các bản Trong cơ chế thị trường hiện nay, nhiều nghềthủ công gia đình của họ đang có nguy cơ mai một nhanh (dệt, đan lát )

* Trang phục Cống

Khi đi lấy chồng, phụ nữ Cống búi tóc ngược lên đỉnh đầu, đội khăndài (như piêu Thái) mùa chàm đen, hoặc khăn vuông đen Họ mặc áo ngắn,giống hệt như cóm của người Thái Đen (cổ cao và tròn, thân bó sát người,ống tay dài, mở trước ngực, có hai hàng pém bằng bạc, ) Một số mặc áongắn, mở bên nách phải, buộc bằng dây Váy của họ thuộc loại váy kín, mầuchàm đen Xưa kia họ may thân váy bằng vải hoa, cạp nhỏ không trang trí,gấu nhỏ Nay họ không dùng vải hoa, mà dùng vải láng đen may váy

Trang phục cổ truyền của người đàn ông người Cống gồm : Khăn màuchàm, áo ba túi, mở trước ngực, cài khuy vải, Hiện nay, đa số nam giới dântộc Cống mặc quần áo, kiểu cách như người Kinh (Việt)

* Làng bản

Trang 9

Làng bản của dân tộc Cống là đơn vị hành chính cấp cao nhất của họ.Làng bản vùng cao đã định cư tương đối ổn định, quy mô vài ba chục hộ Dântộc Cống gọi làng bản của họ bằng tiếng Thái.

Các bản đều có bộ máy tự quản gồm : Trưởng bản và những người giúpviệc Chức dịch được hưởng một phần số tiền, số hiện vật do xử phạt người viphạm lệ tục mà có, của biếu xén, lao dịch Ngoài các chức dịch, bản còn cóhội đồng người già, các thầy mo, là những thành phần có uy tín, được mọithành viên tin tưởng Công cụ quản lý và điều hành các hoạt động trong bản là

lệ tục, dư luận cộng đồng Ai làm trái lệ, bị phạt và cộng đồng lên án Đất đai,sông suối, rừng núi trong phạm vi bản, do trưởng bản quản lý, mọi gia đìnhđều có quyền khai thác

* Dòng họ

Dòng họ của các dân tộc Cống, là tổ chức của những người đàn ông,

có cùng một ông tổ 5 đời, 4 đời hay 3 đơi Đứng đầu là ông trưởng tộc họ.Trong họ có các chi, gồm các thành viên trong môt gia tộc lớn Trưởng tộc

họ, cũng như dòng họ, là chỗ dựa tinh thần của các thành viên Thường thì,việc cũng tế, cưới xin, ma chay, dựng nhà mới, các thành viên trong dòng

họ tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau Chức năng sản xuất, kinh tế của dòng họ dântộc Cống khá mờ nhạt

* Cưới xin:

Theo tục lệ của người Cống, khi đã chọn được nàng dâu ưng ý, nhà trailàm lễ ăn hỏi (Hù mền tì xé), và cũng là lễ đi ở rể cho con trai Chọn buổi tốingày đẹp, trưởng tộc họ, anh em và chú rể, sang nhà bố mẹ cô dâu, làm nghithức này Khi đi họ mang theo gói muối, gói chè, một đồng cân thuốc phiện,một hũ rượu cần, một cuộn dây gai, để xin bố mẹ cô dâu cho chàng trai đến

ở rể Ngay ngày hôm sau, chàng trai sẽ bắt đầu sang nhà gái ở rể,cô dâu sẽlàm lễ cẩu tóc Một vài tháng trước khi hết hạn ở rể, nhà rai cử mối sang nhà

Trang 10

gái xin cưới (tà nó tì xê na pha ê) Người Cống thường tổ chức đám cưới vàocuối năm Đi đón dâu ( ăng mì ló nê ) gồm: bố mẹ, cô dì, chú bác, anh em họhàng chú rể Khi về nhà chồng, cô dâu mặc y phục Cống cổ truyền ( thườngngày họ mặc y phục Thái ) Đến cửa nhà gái, họ nhà trai phải hát đối đáp,uống rượu nhắm với nộm hoa chuối, sau đó mới được vào nhà Khi rời nhà bố

mẹ đẻ theo chồng, cô dâu được bà dì của chú rể cõng ra khỏi cửa Trước khiđưa, đón dâu đi, hai họ vẫy nước, tung bã rượu vào nhau Về tới nhà chồng,dâu rể làm lễ lễ gia tiền nhà trai Sau đó tiệc cưới được được tổ chức ba ngàyliên tục Đáng chú ý trong tiệc cưới Cống : các cô em chồng trong trang phục

cổ truyền Cống, mỗi người cầm một con gái, con sóc, hoặc con cá khô, mởmàn cho các điệu múa tập thể Họ vừa nhảy múa, vừa giơ cao gà, sóc, cákhô, Sau một vài ngày, họ làm lễ lại mặt, tạ ơn nhà gái

* Tang ma

Khi có người chết, người Cống, dỡ phên thưng vách ngăn buồng ngủnơi thờ man nhà, trải xuống sàn, đặt người vưa chết lên đó Sau khi khâmliệm, nhập quan, con rể, con gái đã có chồng, tổ chức nhảy múa vào cácbuổi tối Khi múa họ mặc trang phục cổ truyền , cầm bầu, thổi sáo, Thầycúng là người chủ trì tế (mo) dẫn hồn người chết

Sau khi mai táng, họ đắp mồ cho ngừi chết không cao quá 15 cm Giữa

mồ đặp một ụ tròn Sau đó trải lên trên mồ một lớp tro bếp, làm nhà mồ chemưa nắng cho mồ người chết Sát cạnh mồ họ dựng cây cao phạ (giống nhưngười Thái), đưa ma người chết lên trời Ở gốc cao phạ, họ treo sừng trâu, sợlợn; từ ngọn cao phạ, có một sợi nối với mái nhà mồ Ngay bên cạnh mồ, họlàm một nhà cao rộng, xung quanh có hàng rào mắt cao quây kín Bên trongngôi nhà này, họ để đồ đạc chỉ cho người chết, và những khúc gỗ có trang tríhình xương cá Khi làm ma bố mẹ, con trai phải cạo trọc đầu, đội khăn trắng,cho tới cúng cơm mới (vào tháng Chín hàng năm) sau đó mới mãn tang

Trang 11

2 Kết quả nghiên cứu về giá trị văn nghệ dân gian của tộc người Cống 2.1 Truyện cổ.

2.1.1 Truyện cổ giải thích sự vật hiện tượng tự nhiên.

Lý giải sự không có chữ của dân tộc mình bà con kể: ngày xưa Cống đihọc cùng các dân tộc anh em khác, ai học cũng giỏi, ngày chia tay thầy chomỗi người một quyển sách, người Cống mang sách về giắt lên mái gianh nhà,không may nhà cháy, sách cũng cháy nên người Cống không còn biết chữ.Hoặc giải thích về nguồn các cảnh quan thiên nhiên như : Tại sao sông Đàlắm sỏi đá (Chuyện chàng Khun), tại sao suối tên là Nậm Khao (chuyện nàngNhư Lống), Tại sao lại có sét và sấm (Chuyện anh em mừng Trề Trế TrềChố), tại sao lại có bầu trời đầy sao (Chuyện đánh rơi lửa), tại sao nhà ngườiCống vừa có nhà sàn vừa có nhà đất Chẳng hạn như việc làm nhà đất giốngnhư hang đá, có lối vào nhưng không có lối ra, nhà thường thấp và tối, máinhà nhọn là do ông thần núi thương tổ tiên người Cống không có chỗ trú chânngày nắng, ngày mưa mới dẫn đến hang cho ở nhờ và dạy co cách làm nhàbằng cách nhồi đất thật dày, để một cửa ra, mái nhọn như mái núi, vừa tránhđược thú dữ, vừa tránh được gió bão, mưa dông (Chuyện ông Sứ Thề) Lýgiải về việc ra đời sông suối (Chuyện Hồng Mư) Qua những câu chuyện cổnày cho ta thấy sự phát triển tư duy nhận thức của người Cống xưa mang dấu

ấn của quá trình phát triển lịch sử của dân tộc Cống Con người từ chỗ sống ởcác hang động đã vươn ra chiếm lĩnh các không gian và tạo dựng cuộc sốngcho mình Tất cả các chuyện liên quan đến các sự tích thiên nhiên đều phảnánh một quá trình chinh phục môi trường xung quanh đầy gian khổ của ngườiCống ở vùng núi hiểm trở

2.1.2 Truyện cổ về sự tích các loài vật.

Trang 12

Là những chuyện nói về sự xuất hiện của chúng và những nét riêng biệt

mà tạo hóa sinh ra chúng : Cỏ con trâu là do anh chàng lười không chịu làm

gì, lớn tuổi mẹ vẫn phải chăm, bức qua bà mẹ rủa: ‘‘Không muốn làm, chỉmuốn ăn thì chỉ có đi ăn cỏ’’(Chuyện Pằng Ná), hoặc do có công dẫn ngườiCống đến vùng đất trù phú, giàu có mà chim được người thưởng cho việc ănthóc (chuyện Si Là) Vì saomafo gà trống đỏ và được gọi là mặt trời (ChuyệnKha Pà) Trước những hiện tượng thiên nhiên khó hiểu, do trình độ tư duycòn chưa cao, người Cống có cách giải thích riêng của mình Những cách giảithích đó một mặt cho thấy sự ngây thơ, hồn nhiên đến đáng yêu của họ, mặtkhác cũng cho thấy tâm hồn lãng mạn, trí tưởng tượng của dân gian Đồngthời, những truyện cổ ấy cũng phản ánh sự quan sát của người Cống đối vớithiên nhiên xung quanh Thiên nhiên đối với họ vừa hãi hùng vừa bí hiểm,song cũng thật thân thuộc và gần gũi Chỉ khi con người có thái độ xấu, ác ý,phá hủy thiên nhiên thì mới bị trừng phạt , còn nếu con người có sự ân cần,

có tình yêu tha thiết với thiên nhiên thì sẽ được thiên nhiên đền đáp một cáchthỏa đáng

Thiên nhiên luôn bên cạnh, bao dung, che chở và nuôi sống con ngườinếu con người biết sử dung nó vì mục đích đúng đắn Những nhỡ nhàng, sailầm, thiếu thận trọng trong hành động đối với thiên nhiên ắt sẽ dẫn đến nhữnghậu quả đáng tiếc như chuyện Chàng Khun vì muốn lấp sông Đà nên đã nhặthết đá sỏi mọi nơi dồn về đổ vào sông Đà, bao nhiêu đá, sỏi chàng đổ vào đều

bị sông Đà lấy hết vì sông Đà khỏe hoưn chàng nên chàng chẳng lấp đượcsông mà chỉ có thể để lại nhiều bãi đá sỏi bên bờ cũng như lòng sông Và cuốicùng chàng bị sông Đà biến thành một vách đá sừng sững, thẳng đứng cònđến ngày nay (Chuyện chàng Khun)

2.1.3 Truyện cổ tích thế sự.

Trang 13

Là loại truyện liên quan đến đời sống hàng ngày của con người, nhưtình cảm gia đình, tình vợ chồng, con cái, tình yêu nam nữ Những câuchuyện mộc mạc, chân thật mà chứa chan tình cảm như chuyện nàng HóLúm Là tiên nữ trên trời thương chàng Thủi nhà nghèo, lại bị người giàu hắthủi, đã xin cha cho về sống ở trần gian, nàng còn dạy những người dân làmcách làm vải, thêu váy áo cho đàn ông, đàn bà, những hình hoa văn trên trangphục Cống là do các bà các chị học được , truyền đến ngày nay Thời hạn ởtrần của nàng là ba mươi ngày (ba mươi ngày trên trời bằng ba mươi nămdưới mặt đất) Hết hạn cha trời gọi nàng về Giận con ông biến nàng thànhloại cây có hương thơm Người Cống gọi là Hó Lúm Khát vọng tình yêuchân chính và gia đình bền vững thể hiện rõ trong câu chuyện cảm động nàycho thấy đời sống tinh thần vừa nhân bản vừa phong phú của người Cống.Tính nhân văn của truyện cổ còn được thể hiện ở truyện (Chị em Me É) Haichị em Me É, sinh ra một thời gian thì bố mẹ chúng đi nương bị hổ tinh ănthịt Mất cha, mất mẹ, hai chị em được một bà góa đem về nuôi, sống nhờ vàobát cơm, củ khoai, bột báng của các mẹ, các chị trong bản Lúc nào chúngcũng bị đói nên người ta đặt tên cho chúng là Me É Sau bao nỗi vất vả nghèođói, tình cờ hai chị em mồ côi có một gia tài lớn, giàu sang, nhưng vẫn nhớ ơn

bà con trong bản nên hai chị em đã lấy vàng bạc chia cho bà con trong bản.Câu chuyện là sự gửi gắm ước vọng vươn tơi cuộc sống tươi đẹp, ấm no, hạnhphúc của người Cống và ca ngợi lòng biết ơn, tình nghĩa bản làng

2.2 Ca dao, dân ca Cống.

Trước đây, cùng với thuật ngữ ca dao, giới nghiên cứu khi nói vềnhững câu (bài) hát dân gian thường dùng thuật ngữ Phong dao (những câuhát dân gian có ý nghĩa giáo huấn đạo lý hoặc có liên quan đến phong tục tậpquán truyền thống, tập quán của người dân quê) Đến đầu những năm 50 của

Trang 14

thế kỷ XX, với sự ra đời của công trình Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của

Vũ Ngọc Phan (in lần đầu năm 1956), song song với thuật ngữ ca dao có thêmthuật ngữ Dân ca

Ca dao, dân ca là hai thuật ngữ được dùng để chỉ những câu hát (bàihát) dân gian Thật ra hai khái niệm này có ý nghĩa tương đương với nhau,đều dùng để chỉ những câu hát dân gian Chỗ khác nhau là khi nghiên cứu,giới thiệu những câu hát dân gian một cách toàn vẹn hoặc chỉ riêng về phầnnhạc thì gọi là dân ca còn khi nghiên cứu, giới thiệu riêng phần lời của nhữngcâu hát dân gian thì gọi là ca dao

Theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu văn hóa dân gian thuộcKhoa Ngữ văn Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội trong bộ giáo trình Văn họcdân gian thì: ‘‘Dân ca là những bài hát có hoặc không có chương khúc donhân dân sáng tác lưu truyền trong dân gian ở từng vùng hoặc phổ biến nhiềuvùng có nội dung trữ tình và có nội dung trữ tình về nhạc”

Các tác giả Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ trong sáchVăn học dân gian Việt Nam đã phân loại dân ca thành ba loại: Dân ca gắn liềnvới nghi lễ phong tục, dân ca gắn liền với hoạt động lao động sản xuất và dân

ca trữ tình sinh hoạt Như vậy, về lý thuyết có thể nói rằng ca dao và dân ca làmột, nhưng trong thực hành thì cần phải thừa nhận sự tồn tại song song haithuật ngữ Nội dung chính của dân ca là phản ánh đời sống nội tâm, tư tưởng,tình cảm của người dân Ca dao, dân ca Cống phản ánh nhiều lĩnh vực củacuộc sống, gồm nhiều hình thức: Hát giao duyên, hát răn dạy, hát ru, hát vuichơi…Nội dung nổi bật nhất trong thơ ca của dân tộc Cống là đề cao laođộng, ca ngợi thiên nhiên, tình yêu nam nữ và tình cảm gia đình

* Hát tự phát: là hình thức hát của một nam, một nữ hoặc một tốp nam

nữ tình cờ gặp nhau ở chợ, ở nương rẫy, trên đường đi chơi tự cất tiếng hát

Trang 15

với nhau Nội dung những bài hát này do hoàn cảnh ứng tác và người hát tựquyết định Thông thường trai gái người Cống hễ thấy mặt nhau lần đầu, dù là

ở ngoài đường, ngoài chợ hay chỉ nhìn thấy bong dáng nhau đi trong bản, trênnương hoặc ngoài đồng ruộng, họ đều chào hỏi nhau bằng những câu hát Đây

là hình thức giao lưu thăm hỏi của hầu hết các dân tộc miền núi Khi hát tựphát đơn lẻ không phụ thuộc vào thời gian, không gian và người hát không có

ý nghĩ rằng mình đang làm văn nghệ Đây là lối hát tự phát Không gian thíchhợp cho lối hát tốp là vào những ngày hội, ngày chợ phiên, ngày tết và vàodịp làng bản có tiệc vui như sau nghi lễ đám cưới, sau lễ mừng nhà mới hayvào những lúc công việc ngày mùa đã nhàn rỗi Lối hát này không quy địnhnam hát trước hay nữ hát trước, mà phụ thuộc vào tốp nào nhìn thấy trước,nhiều khi chỉ cần nghe phong thanh có tốp nào đó vào bản hay đang ngồi đâu

đó, chưa cần nhìn thấy mặt là tốp kia đã cất tiếng hát giao duyên Mới đầu lànhững câu ướm hỏi gọi mời tốp kia hát lại, nếu hát một lần chưa thấy bên kiađáp lại thì hát lần thứ hai, thứ ba… Nếu tốp kia vẫn chưa hát đáp lại thì tốptrước phải trổ tài trêu chọc, mỉa mai cho đến khi đối phương hát đáp, lúc đócuộc hát mới chính thức bắt đầu Cuộc hát có thể chỉ là một lúc, cũng có thểkéo dài suốt đêm, suốt ngày với nội dung với nội dung ứng tác của nhữngngười tham gia hát Có khi bắt đầu là những cảm xúc của đám trai bản vớimột tốp nữ bản bên

Đám trai bản cất lời hát ướm:

Bao cô gái xinh đẹp

Ở nơi nào đến đâyThăm ông bà cha mẹHay thăm nhà người yêuĐáp lại, một cô trong tốp nữ ấy hát:

Em từ bản xa đến đây

Trang 16

Không thăm cha thăm mẹMuốn tìm người trai tàiDẫn về thăm cha mẹ của emBên trai lại hát:

Ta hát thì không hayNhưng lo lắng quá

Em có dẫn ta vềNhư lời em đã ngỏ

Nữ đáp lại:

Lòng anh em đã biếtNhư câu hát anh traoNgày vui ta xin hẹnVào ngày này năm sau

Và như đã hiểu ý nhau, nhiều đôi nam nữ trong tốp hát ấy dân dần từtách riêng để tìm hiểu và trao duyên

* Hát từng đôi:

Hát đôi cũng là hình thức hát tự phát, nội dung lời hát cũng do đôi traigái ứng tác mà nên Sau những cuộc hát tốp, nhiều đôi nam nữ nhận đượcnhững “ tín hiệu riêng” và họ tách ra hát từng đôi để tìm hiểu, giao duyên vớinhau Các cuộc hát đôi thường gần gũi, sâu sắc, tình tứ Dưới các lùm cây,ven bờ suối hay một góc chợ… Họ trao nhau những lời ca mộc mạc, chânthành thật duyên dáng ý nhị Sau đó họ trao nhau quà kỷ niệm, thường lànhẫn, khăn, vòng Nhiều đôi chỉ qua các cuộc hát vui mà sau này thành vợthành chồng

* Hát có tổ chức, lề lối:

Là hình thức hát được hai bên chuẩn bị trước, đồng thời cũng đượcthống nhất tổ chức theo những nghi thức khá chặt chẽ nội dung thường bao

Trang 17

gồm cả phần nghi thức và giao duyên với các chặng hát: hát chào, hát đónkhách, hát cảm ơn, hát tiễn đưa Hát có tổ chức thường vào các thời điểm: lênnhà mới, đám cưới, đám tang.

2.2.3 Một số loại hình ca dao, dân ca Cống.

Ca hát là một trong những sinh hoạt nghệ thuật truyền thống độc đáocũng là nhu cầu sinh hoạt văn nghệ phổ biến của đồng bào người Cống.Người Cống từ trẻ đến già hầu hết đều biết hát và sáng tác thơ ca Họ có thểhát vào bất kỳ thời gian nào như nhân dịp trai gái đến chơi làng, hát sau nghi

lễ cưới, vào nhà mới, trong ngày hội hay ngày chợ phiên… Kho tàng dân caCống là một di sản văn hóa quý báu mang đậm bản sắc dân tộc mà chúng tachưa thể nắm bắt hết được cả về số lượng và nội dung Dựa vào nội dung cácbài ca dao, dân ca, dân ca Cống bao gồm: dân ca lao động, dân ca nghi lễphong tục, dân ca sinh hoạt

* Dân ca về lao động sản xuất

Người Cống vốn cần cù cày cấy, tằn tiện, tiết kiệm Cuộc sống của họ

đã gắn chặn với núi rừng, ruộng nương Đến với bản người Cống, ta sẽ nhậnthấy suốt ngày họ chỉ cặm cụi trên nương rẫy bên cái mênh mông của đất trời,trập trùng quanh co của đồi núi Họ lao động quần quật cả năm, chỉ lúc lễ, tếtdân tộc, hay lúc bản có công to việc lớn mới dừng tay tahm gia việc của làng,bản Bởi vậy, truyền thống văn hóa nông nghiệp luôn in đậm trong đời sốngtinh thần họ Họ luôn đề cao lao động và lấy lao động làm thước đo conngười Điều này được phản ánh đậm nét trong văn học dân gian Cống trong

ca dao, dân ca có những lời ca thể hiện tâm tình của chàng trai với người congái chăm chỉ lao động:

‘‘Mờ sương em lên nương làm cỏ

Gà lên chuồng em từ ruộng vềTrên lưng thêm địu củi

Trang 18

Áo em thẫm màu, anh thương’’.

Trong những câu hát giao duyên, trai gái Cống thể hiện sự gắn bó, hòaquyện giữa tình yêu đôi lứa với tình yêu lao động:

‘‘Vào mùa nương anh cùng em đốt nươngChúng mình cùng nhau đi tra hạt

Đến ngày lúa chin chĩu bôngAnh cùng em đi gặt hái’’

Những câu hát ấy trước hết thể hiện niềm vui, sự đoàn kết trong laođộng Nhưng đằng sau đó là cả một quan niệm về tình yêu của đồng bàongười Cống Trong lao động, những đôi lứa yêu nhau sẽ luôn bên nhau, vuilao động, không chỉ mong sản phẩm lao động chĩu bông mà ẩn trong đó làkhát vọng tình yêu đơm hoa kết trái

Trong cuộc hát, trong niềm vui gặp gỡ tràn đầy, chàng trai, cô gáingười Cống mong ước được thành đôi lứa, khát khao nên duyên chồng vợkhông chỉ đơn thuần là khao khát hạnh phúc lứa dôi mà mong thành lứa đôi

để cùng chung tay lao động, lao động để bồi đắp cho tình yêu bền vững:

“Nếu lời ghi lời mà nhớNgày thêm ngày không quênĐến ngày lúa nương chin

Em nhờ anh về gặt đỡ em’’

Công việc lao động của người Cống rất vất vả bởi ruộng ít, chủ yếuphải làm nương rẫy, kiểu thổ canh hốc đá rất vất vả, năng suất lại không cao,thiên nhiên khắc nghiệt…thế nhưng đồng bào vẫn tin vào sức lực của mình,tin vào đôi bàn tay và có khát vọng lao động để xây một gia đình ấm no, hạnhphúc cũng là góp phần xây dựng làng bản thêm giàu mạnh:

“Anh có đôi tay cứng rắn

Em có đôi tay mềm mại

Trang 19

Tay cứng anh quăng chài, kéo lướiTay mềm em nấu nướng cho cả nhàKhông có tay em không nên bếp ấmKhông có tay anh không thành cửa nhàMong trời nắng, mưa thuận

Lúa ruộng, nương bội thuVật nuôi sinh sôi nhiềuCho lòng người vui vẻ.”

Hôn nhân, tình yêu gắn liền với vấn đề lao động, xây dựng gia đìnhhạnh phúc ấm no, bản làng giàu có thực chất là quan niệm thẩm mỹ của đồngbào Cống đó là: sinh ra là con người phải biết yêu thương, biết lao động mới

có thể đem lại hạnh phúc cho mình Đó là những phẩm chất đáng quý, rất cầnđối với những con người sống ở nơi khó khăn và hẻo lánh nhất này

* Dân ca nghi lễ, phong tục

Người Cống quan niệm chu kỳ đời người trai qua sinh ra, lấy chồng,cưới vợ, làm nhà, lên lão Trong cuộc đời con người ứng với mỗi giai đoạncủa cuộc đời lại có nhiều nghi lễ phong tục khác nhau Trong các nghi lễ ấyđều có dấu ấn của thơ ca, đặc biệt là dân ca như: hát cúng bản, hát kể sự tíchcác thần, hát phù phép…

Dân ca trong lễ cúng trẻ sơ sinh: Khi đứa trẻ sinh ra được ba ngày Vớingười Cống chọn ngày tốt mời thầy cúng hoặc ông bà đến cảm ơn bà mụ đãcho gia đình đứa bé Trong nghi lễ ấy, người cha đứa bé phải vái lạy bàn thờ

tổ tiên hát ý:

“ Bà mụ cho gia đình đứa con,

Đủ chân tay mặt mũi, nhưng còn bé bỏng,

Xin tổ tiên đón nhận, phù hộ cho cháu bé,

Che chở cho cháu bé.”

Ngày đăng: 11/04/2018, 11:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w