Từ đó cho thấy mỗi dân tộc mỗi vùng miền lại có một nét văn hóa đặc trưng riêng, giúp tôi hiểu được về đời sống vật chất cũng như văn hóa tinh thần của người đồng bào các dân tộc thiểu s
Trang 1MỞ ĐẦU
Việt Nam với 54 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc, mỗi
vùng miền đều mang trong mình một nét bản sắc văn hóa riêng Cũng nhưng
các dân tộc khác, dân tộc Lự cũng có một kho tàng văn nghệ dân gian khá phong phú góp phần xây dựng nền văn hóa việt nam đa màu sắc Trong nghị quyết trung ương khóa VIII nêu rõ “xây dựng và phát triển văn hóa Viêt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” cho thấy văn hóa chuyền thống là tích cấp bách cần được giữ gìn và bảo tồn
Là sinh viên chuyên ngành quản lý văn hóa, trong quá trình học tôi được trang bị kiến thức chuyên sâu và hiểu rõ về từng vấn đề của các dân tộcthiểu số như: Kinh tế, trang phục, nhà cửa, ẩn thực, hôn nhân, ma chay, tín ngưỡng, văn nghệ dân gian, lễ hội, thiết chế xã hội Từ đó cho thấy mỗi dân tộc mỗi vùng miền lại có một nét văn hóa đặc trưng riêng, giúp tôi hiểu được
về đời sống vật chất cũng như văn hóa tinh thần của người đồng bào các dân tộc thiểu số và đó cũng là vốn nền tảng kiến thức để tôi tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về giá trị văn hóa dân gian của dân tộc Lư
Trong bài tiểu luận của tôi tập trung vào nghiên cứu văn nghệ dân gian của người Lự ở tỉnh Lai Châu
Trang 2NỘI DUNG
I ĐÔI NÉT VỀ NGUỒN GỐC LỊCH SỬ, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NGƯỜI
LỰ Ở HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU
1.1 Khái quát về nguồn gốc lịch sử và phân bổ dân của của người Lự ở huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
1.1.1 Về nguồn gốc lịch sử
Về nguồn gốc người Lự theo các nhà Dân tộc học, Sử học, Ngôn ngữ học,….họ đã
cư tró ở Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên), từ trước thế kỷ thứ XVII Có nghĩa là cư dân đã cư trú ở Điện Biên Phủ, trước khi nhóm Thái Đen (Tày Đăm) xuất hiện ở
đó Liên quan đến vấn đề này, nhiều người cho rằng Sam Mứn (thành Tam Vạn/Ba Vạn/ nay là thảnh Bản Phủ ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên), chính là di sản của người Lự, Sam Mứn chính cố cấm thành của người Lự, tại đó đã có thời có tới ba vạn cối giã gạo để nuôi quân, nên được gọi là Sam Mứn vinh Tất nhiên những gỉa thiết này nay vẫn cần được làm sáng tỏ Tuy vậy, với những ten gọi Tháy Hùng, Tháy U, Tháy Sín,… và đức tin Phật giáo, có thể cho phép khẳng định: Trước khi tới Việt Nam, tổ tiên người Lự hiện đang cư trú tại Sìn Hồ, Phong Thổ (Lai Châu), chắc chắn đã từng có thời gian dài cư trú Vương quốc Lạn Xạng (Vương quốc Triệu Voi/ Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hiện nay) [1,Tr 111]
Trên thế giới, người Lự được đa số các học giả thừa nhận rằng, họ là cư dân bản địa
ở vùng Xíp soong Pản Na (Cực Tây-Nam tỉnh Vân Nam, Trung Quốc), chỉ cách Mường Thanh (Điện Biên Phủ) khoảng hơn 200km, tính theo đường chim bay Người Lự ở Lai Châu, Việt Nam có phải di duệ của những người Lự ở Xíp soong Pản Na hay không, điều đó chưa thể khẳng định được Bởi lẽ, ở Việt Nam đến nay ngay cả thuật ngữ Xíp Soong Pản Na cũng chưa được hiểu một cách thống nhất Người thì cho đó là khu vực có Mười hai thửa ruộng gốc, người lại cho rằng đó là khu vực có số ruộng có thể phải dùng tới Mười hai ngàn bó mạ mới cấy đủ, và có người lại cho rằng đó là vùng có Mười hai ngàn thửa ruộng…….(tất cả điều được hiểu theo tiếng Tày- Thái.)
Trang 31.1.2 Về phân bổ dân cư
Người Lự theo các kết quả nghiên cứu Dân tộc học, Lự là đên tự gọi của người Lự
Các dân tộc lân cận còn gọi bằng một số tên khác: Tháy Hùng, Tháy U, Tháy
Sín… Hoặc Nhuồn, Duồn,…là một dân tộc ít người sinh sống trong các quốc gia Thái Lan, Lào, Việt Nam và Trung Hoa Tiếng nói chính thức của họ là tiếng Lự thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái, tuy nhiên, tại các quốc gia họ sinh sống, họ có thể
sử dụng các ngôn ngữ chính thức tại mỗi quốc gia
Vào thế kỷ thứ XII, những nhóm người Lự đầu tiên đã tới Điện Biên Trải qua 19 đời chúa Lự thay nhau cát cứ vùng Mường Thanh (huyện Điện Biên), họ đã để lại
các di tích như thành Tam Vạn (xã Sam Mứn ngày nay), các địa danh như Nà
Lự (ruộng của người Lự).
Tại Việt Nam, họ là một dân tộc được công nhận Cư trú chủ yếu tập trung ở hai huyện Phong Thổ và Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và một lượng đáng kể di cư vào tỉnh Lâm Đồng Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Lự ở Việt Nam códân số 5.601 người, cư trú tại 21 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Phần lớn người Lự
cư trú tập trung tại tỉnh Lai Châu (5.487 người, chiếm 98,0% tổng số người Lự tại Việt Nam), Thái Nguyên (75 người), các tỉnh còn lại có không quá 10 người [1,Tr 115]
1.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của người Lự ở huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Tam Đường nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Lai Châu, với tổng diện tích tự nhiên là: 68.736,97 ha, tọa độ địa lý từ 220 10’ đến 220 30’ độ vĩ bắc, 1030 18’ đến
1030 46’ độ kinh đông
- Phía Bắc giáp huyện Phong Thổ và huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai;
- Phía Tây giáp huyện Sìn Hồ và thị xã Lai Châu;
- Phía Đông giáp huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai;
- Phía Nam giáp huyện Sìn Hồ và huyện Than Uyên
Trang 4Với lợi thế nằm trên chuỗi đô thị biên giới vùng Tây Bắc (theo quy hoạch của Bộ Xây dựng) là (hạt nhân) phát triển của “Vùng kinh tế động lực quốc lộ 32; 4D” là một trong ba vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh, là cầu nối các tua du lịch Sa Pa – Lai Châu – Sìn Hồ, Sa Pa – Ma Lù Thàng, Sa Pa – Tam Đường - Điện Biên…Tam Đường là huyện có địa hình phức tạp, được cấu tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Phía Đông Bắc là dãy Hoàng Liên Sơn kéo dài hơn 80 km với đỉnh Phan Xi Phăng cao 3.143 m, Phía Đông Nam là dãy Pu Sam Cáp dài khoảng 60 km Xen kẽ giữa những dãy núi cao là các thung lũng và sông suối như:
- Thung lũng Tam Đường – Bản Giang: 3.500 ha, dốc thoải đều từ Bắc xuống Nam,
độ cao trung bình 900 m
- Thung lũng Tam Đường – Thèn Sin chạy dài theo suối Nậm So: 500 ha
- Thung lũng Bình Lư – Nà Tăm – Bản Bo: 1.800 ha, độ cao 600 – 800 m Đây là các vùng có tiềm năng phát triển nông nghiệp, vùng trọng điểm về cây lương thực, cây công nghiệp
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, được chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 – 9, tập trung chủ yếu vào các tháng 6, 7, 8 chiếm 75 – 80% tổng lượng mưa trong năm, trung bình từ 1.800 – 2.000 mm/năm, cao nhất 2.500 mm/năm, xuất hiện mưa đá, trung bình 1,6 lần/năm
Biên độ dao động nhiệt khá mạnh, trung bình khoảng 8 – 90C, vào mùa Đông lên tới 9 – 100C, có nơi 11- 120C Tuy nhiên, ở một số nơI có độ cao trên 1.000 m, trị
số biên độ ngày đêm giảm, trung bình khoảng 7 – 80C, vào mùa Đông nhiệt độ khoảng 8 – 90 Nhiệt độ trung bình năm từ 22 – 260C, nhiệt độ cao nhất 350C, nhiệt độ thấp nhất có thể xuống dưới 00C
- Chế độ nắng: Số giờ nắng trung bình năm từ 2.100 – 2.300 giờ/năm
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình là 83%, độ ẩm thấp nhất là 56%
- Hướng gió: hướng gió chính là hướng Đông Nam, tốc độ gió trung bình từ 1 – 2m/s, trong cơn giông có thể đạt từ 30 – 40m/s
Trang 5- Bốc hơi: lượng bốc hơi trung bình năm là 889,6 mm
- Giông thường xuất hiện nhiều nhất vào tháng 5 kèm theo gió xoáy
Hệ thống sông suối phân bổ tương đối đều với 2 hệ thống sông suối chính:
- Sông Nậm Mu: Chảy qua Nà Tăm, Bản Bo được hình thành từ 4 con suối chính: Suối Nậm Giê từ đỉnh SaPa, suối Nà Đa từ Hồ Thầu, suối Nậm Đích từ Khun Há, suối Nậm Mu từ Bản Hon, đây là các con suối đầu nguồn sông Đà, cung cấp nước chủ yếu cho thủy điện Bản Chát, thủy điện Huội Quảng và thủy điện Sơn La
- Suối Nậm So từ Tả Lèng qua xã San Thàng (thị xã Lai Châu), xã Thèn Sin hoà vào dòng Nậm Na Đây là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu cho khu vực đô thị thị xã Lai Châu và cho các xã lân cận Do địa hình huyện tương đối phức tạp, các con sông có độ dốc lớn nên có nhiều khả năng xây dựng các trạm thủy điện nhỏ
và vừa
1.2.2 Đặc điểm kinh tế
Người Lự sống chủ yếu dựa vào canh tác lúa nước, kết hợp làm nương, săn bắt, hái lượm, với các hoạt động hỗ trợ; thủ công gia đình, trao đổi và mùa bán sản phẩm nông nghiệp Cũng như người Thái, người Lào, từ xưa người Lự đã áp dụng nhiều biện pháp dẫn thủy nhập điền với kỹ thuật phát triển Hệ thống mướng phai, lá, lín,
….của họ không kém gì của người Thái Vài chục năm về trước hàng năm người
Lự chỉ canh tác vụ mùa, cấy vào tháng tư tháng năm, thu hoạch vào tháng chín Trướckhi chính thức bước vào vụ cấy, các bản các gia đình chọn ngày tốt làm lễ cúng bản (xên bản) và cúng gia tiên, xin phép mở mùa và cầu mong mưa thuận gió hòa, con người khỏe mạnh, cây cối tốt tươi,gia súc, gia cầm không bị dịch bệnh.Cùng với trồng lùa và hoa màu, các gia đình người Lự còn chăn nuôi trâu, dê, lợn, vịt, gà,ngan,… để lấy sức kéo làm ruộng, kéo gỗ, lấy phân bón ruộng,….cung cấp thực phẩm cho các nghi lễ và đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho các bữa ăn hàng ngày Một số gia đình còn nuôi cá, nuôi ong mật Tuy vậy, trong xã hội cũ chỉ có gia đình khá giả mới có trâu
Xưa kia, mục đích săn bắn của người Lự trước tiên là bảo vệ mùa màng, sau đó
Trang 6mới là bổ sung nguồn thực phẩm cho các bữa ăn hàng ngày Đối tượng săn bắt của
họ là các loại muông thú như hươu, nai,cầy, cáo, nhím, chuột, gà rừng,…Việc săn bắn của họ được thực hiện với hai hình thức: săn tập thể (săn vây) và săn cá nhân (săn rình) Vũ khí dùng trong săn bắn của họ, chủ yếu là súng kíp và nỏ Bên cạnh săn bắn, người ta còn đánh bẫy để bắt chim và thú rừng Họ có nhiều loại bẫy khác nhau: bẫy hầm, bẫy bàn, bẫy kép, bẫy thắt, bẫy lồng, bẫy dính làm từ nhựa cây,
….Cùng với săn bán, họ còn chú ý tới việc đánh bắt các loại thủy sản như cá, tôm, cua, ốc, hến, ba ba,… Cách thức đánh bắt các loài thủy sản như cá, tôm, cua, ốc, hến, ba ba thường đơn giản, phổ biến là việc sử dụng các loại chài, lưới, vó, vợt, rổ,đó,…đôi khi bằng tay Đối tượng hái lượm của người Lự phần lớn là rau, củ, quả, măng, nấm,…bên cạnh đố là các nguyên liệu đan lát, lâm thổ sản quý,dược liệu
Trong bói cảnh nền kinh tế tự cấp tự túc, dệt may trong các gia đình người Lự là hoạt động không thể thiếu Phụ nữ người Lự ai cũng biết dệt, biết may, nhiều ngườirất thành thạo đã trở thành nghệ nhân dệt thổ cẩm
Sống ở vùng hẻo lánh, trao đổi buôn bán kém phát triển, hệ thống chợ phiên xuất hiện muộn,…buôn bán, trao đổi người Lự cũng không phát triển Xưa kia sản phẩmtrao đổi của họ chỉ bao gồm các sản phẩm nông nghiệp dư thừa, lâm sản (rau, thuốcnam, mật ong rừng,….) việc trao đổi thường diễn ra ngay tại bản Cung cách trao đổi chỉ đơn giản là vật đổi vật, ít dùng tiền mặt (tiền mặt/bạc hoa xòe, chỉ xuất hiện khi người Pháp cai quản được Tây Bắc và Thượng Lào)
1.2.3 Đặc điểm về xã hội
Trong chế độ cũ, các bản của người Lự thường phụ thuộc các mường Thái Mường
là đơn vị hành chính trên bản và là đơn vị hành chính cao nhất, là cơ cấu thượng tầng xã hội truyền thống của các cư dân Tây Bắc Đó chính là hình ảnh các nhà nước sơ khai Bộ máy tự quản trong các bản người Lự do trưởng bản (Chầu bản,naibản,…) đứng đầu Chức vị này thường do phìa, tạo Thái chỉ định, được thế tập theocha truyền con nối, ít khi thay đổi Trưởng bản là người chăm lo mọi hoạt động, kể
Trang 7cả đời sống tâm linh cho cả bản Theo truyền thống xưa, bản làng của người Lự là đơn vị cư dân có nề nếp tổ chức mang sắc thái văn hóa tộc người Không những thế, bản còn là cộng đồng tín ngưỡng, mà người đứng đầu là mo bản, chẩu bản,.
1.3 Đặc điểm đời sống văn hóa của người Lự ở huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
1.3.1 Văn hóa vật chất
* Nhà ở:
Kiến trúc nhà của người Lự là nhà sàn, căn nhà sàn của họ cũng giống như nhà sàncủa người dân tộc Thái Trắng (Táy khao).Ngôi nhà cổ truyền người Lự là loại cột chon, kết cấu theo kiểu vì cột (xau- khứ tháng/ cột- quá giang) các vì được liên kết bằng xà dọc (pe), các bộ phận được liên kết với nhau bằng ngoãm, hoặc buộc bằng dây mây, dây rừng
Song nhà có hai mái, mái phía sau ngắn hơn, còn mái phía trước kéo dài xuống che cả hàng hiên và chỉ có một cầu thang lên sàn, đặt ở chái bên phải, phía sau nhà, theo bà con thì để cầu thăng như vậy là để tránh những điều không may mắn cho gia đình Đặc biệt theo tín ngưỡng Lự nhà của hộ thường có số gian, bậc cầu thang và số song cửa sổ, lan can,… luôn là số lẻ Theo họ, đó là những cong số cầu mong sự phát triển ăn nên làm ra gia và tránh ốm đau bệnh tật Cửa ra vào của nhà chủ yếu mở theo hướng Bắc Gầm sàn sạch sẽ, hầu hết các gia đình dùng làm nơi để trữ củi khô, khung cửi và một số đồ dùng khác.Bên trong nhà sàn của người
Lự thường dành một gian giữa để thờ cúng và con dâu trong gia đình không được vào gian này Nhà bếp thì nối trực tiếp với căn nhà chính, do vậy khi bước chân vàonhà thì thấy ngay nhà ở và nhà bếp là một thể liên hoàn chứ không tách rời nhau.Ở phần sau nhà gian giáp cầu thang lên xuống là nơi ngủ của con gái chưa lập gia đình, tiếp theo là nơi ngủ của các con trai, kế đến là nơi ngủ của vợ chồng chủ nhà, không gian ngủ của các thành viên trong nhà được xách định bởi những vách đan bằng nứa, bằng thưng bằng gỗ tương đối kín đáo
Theo tập quán Lự, liên quan đến nhà ở, việc xem tuổi chủ nhà chọn ngày dựng xem
Trang 8bói chọn đấtlàm nền nhà, và thủ túc lên nhà mới (kin hươn mớ) và vai trò của ông cậu (lung ta),….được tuân thủ rất nghiêm ngặt theo tục lệ cổ truyền Trong đó, đặc biệt chú ý vai trò của ôg cậu trong lễ lên nhà mới Đối với người Lự ông cậu luôn được tôn trọng, có ý kiến quyết định trong cưới xin, ma chay, làm nhà mới….của
cá cháy Trong nghi lễ lên nhà mới ông cậu sẽ là người đặt bếp khai lửa cho cuộc sống gia đình (đốt lửa bếp) Theo phong tục Lự, nghiêm cấm để tắt lửa ở bếp trong suốt những năm gia đình chủa nhà sống trong ngôi nhà đó
* Trang phục:
Bộ nữ phục Lự truyền thống bao gồm: khan đội đầu, áo cánh, váy và các loại trang sức Khăn (khan hua) của phụ nữ Lự, làm bằng bang vải dài khoảng một sải tay (khoảng 170cm đến 180cm), chiều ngang tương đối hẹp, chỉ vào khoảng 15cm, nhuộm chàm đen Điều đặc biệt là ở chỗ một đầu khăn được trang trí các bang hoa văn ngang, với các hoại tiết kỷ hà (hình học), mầu trắng; đầu kia trang trí hoa văn hoa lá, hình học,… Với các màu sặc sỡ Thoạt nhìn, chiếc khăn này cũng có nhữngđiểm giống chiếc khăn piêu của phụ nữa Thái
Áo cánh (cóm/sư) của người phụ nữ Lự may bằng vải nhuộm chàm đen Đây
là loại áo được thiết kế hơi đặc biệt so với cóm của phụ nữ Thái Tay áo dài và bó, thân chỉ dài tới ngang eo, mở trước ngực nhưng không có khuy cài Khi mặc, người
ta khép vạt phải chồng lên vạt trái, buộc lại bằng dây vải mầu.Gấu áo ở thân phía trước, được thiết kế thành hình vòng cung, viền vải hoa.Chiếc áo cánh này được trang trí khá cầu kỳ Ngoài việc trang chí bằng những đồng xu, các đường viền trên
áo còn được thêu hoặc luồn chỉ màu
Váy (xín) của phụ nữ Lự là loại váy kín, may bằng vải màu chàm đen.Cung cách trang trí trên váy nữ của người Lự có phần tương đồng giống cách trang trí váy của người Lào Đó là việc trang trí các bang hoa văn ngang theo thân váy Từ ngang gối trở xuống, thân váy được thu hẹp một chút và được nhuộm chàm đen Từngang gối trở lên, thân váy rộng hơn một chút, và được trang trí các băng hoa văn
kỷ hà nằm ngang Váy này có phần gấu thêu hoa văn bằng chỉ mầu với các họa tiết
Trang 9hình học, hoa lá.
Ngoài khăn, áo, váy, một số phụ nữ còn mặc yếm, đeo tạp dề, quần xà cạp,…Đặc biệt, phụ nữ Lự thường đeo các loại vòng tay bằng đồng, vòng cổ băng bạc (ven ngân), có gắn dây bạc kiểu xà tích Phụ nữ trong gia đình khá giả còn đeo xà tích bạc , khuyên tai bạc,…
Trước kia, đàn ông Lự có tục để tóc dài, xăm mình, xâu tai và nhuộm răng những tập tục này giờ đây đã dần mai một Chiếc quần đen của nam giới rất giống với quần của nam giới người Thái, người lào nhưng từ đầu gối trở xuống hẹp hơn
và có thêu nhiều hoa văn Đặc biệt phải kể tới chiếc áo của nam giới thường ngày (dệt bằng vải thô), mặc ngày hội (dệt bằng tơ lụa) Đây là loại áo xẻ ngực, chỉ ngắn ngang thắt lưng Với những kiểu chắp nối, áo cắt may khi trải ra tạo thành hình bán nguyệt Khi mặc, thân phải lót vào trong, còn thân trái bắt chéo sang phải buộc bằng những sợi vải tết thành tua nhiều màu Đàn ông Lự còn đội khăn đen, gấp nếpcuốn nhiều vòng, thích nhuộm răng đen và thường đeo gươm không chỉ để để tự vệ
mà còn là tập quán trang trí của người Lự
* Ẩm thực:
Xưa kia, người Lự ăn cơm nếp đồ là chủ yếu Từ gạo nếp, họ chế biến thành các loại xôi (khảu nưng): xôi trắng, xôi đỗ, xôi ngô, xôi sắn, xôi cẩm, xôi gấc, xôi nướng,….Ngoài đồ , họ còn làm cơm lam, các loại bánh ( bánh trưng, bánh ít,…)
để thờ cúng, tiếp khách, mừng nhà mới,… Cổ truyền người Lự dùng tay lấy xôi trong ép, sau đó vê thành viên, chấm với chéo Hàng ngày, họ đồ xôi ăn bữa sáng, sau đó cho vào giỏ (ếp khảu/cóm khảu), mang đi nương đi ruộng ăn cả ngày Ngoài xôi, cơm,… người Lự còn ăn cháo nấu bằng ngô, làm bánh ngô…
Trong các loại đồ ăn chế biến từ động vật của người Lự, tiêu biểu nhất vẫn là các món cá Trong đó cá nướng nhồi gia vị (pa pỉng tộp) là đặc biệt Cá đồ, cá vùi tro bếp, cá lam, cá mối (pa mốc/ pa đẹc) cá sấy khô (pa giảng) và gọi cá (cỏi pa),….là những món ưa thích của họ Ngoài cá, các loại món ăn chế biến từ các loại thịt: gà, lợn, vịt, trâu, bò, dê, chim, sóc, gà rừng, hươu, nai,… xưa kia cũng phổ biến trong
Trang 10các bữa ăn người Lự Ngoài những món ăn chế biến từ cá thịt trên người Lự còn làm nhiều món ăn chế biến từ cua, ốc, tôm, nhộng ong, trứng kiến (một hay), bọ xít, châu chấu, dế, ve sầu,….Vài chục năm lại đây, trong các bữa ăn hàng ngày của người Lự cũng thường xuyên có món đậu phụ (thúa phù) rán, đậu phụ sốt cà chua hoặc kho lẫn với thịt lợn thịt gà.
Pịa, món nước chấm nấu bằng bột trong ruột non của các con vật nhai lại, với các loại gia vị, muối,….là món ăn đặc biệt tượng trưng cho phong cách ăn uống của người Lự và dân cư Tây Bắc Xưa kia, khi mổ trâu, bò, dê, hoẵng,….mà không có pịa sẽ bị dư luận chê trách, thậm trí nếu mang biếu tạo thịt mà ko có pịa, buộc phải
mổ con khác để làm pịa biếu tạo Ngoài pịa, chéo cũng là một loại đồ chấm đặc biệtcủa người Lự và các tộc người ở Tây Bắc Chéo được làm bằng ruột cá, trộn lẫn gia
vị, gói trong lá chuối tươi, vùi vào trong tro nóng, hoặc cho vào nồi đun chín Cũng
có khi chéo chỉ là muối giã lẫn với ớt tươi
Ngoài các đồ ăn chế biến từ thịt cá,…người Lự còn có các món ăn chế biến từ các loại rau, măng, mộc nhĩ,….Loại rau mà họ ưa thích nhất gồm (phắc ven), rau rang lược (phắc phứm), rau dớn nước (phắc cút nặm), xốp pọn, xốp cốp, cọ khạm, xốp nôm, phắc đứa, phắc hắc, phắc ơ nớt, phắc tanh (rau đắng), phắc tốt mạ (mơ long), măng đắng (nó khộm), măng vầu, măng sặt; măng tre;măng giang;măng nứa,……các loại rau thường được luộc, đồ, hay nấu canh; các loại măng thường được làm chua, nướng hoắc nấu với cá thịt,…Riêng lá đu đủ non ( phắc hống) họ thường đồ hoặc xào, lá sung non (phắc đứa) họ thường dùng nấu canh Cũng như người Thái người Lự thích ăn món rêu ở đá suối, rửa sạch rồi đồ hoặc trộn gia vị gói vào lá chuối rồi vùi vào than nóng Tiết canh (keng lượt) là món ăn sống khá phổ biến trong các tộc người ở Tây Bắc, trong đó có người Lự Khi mổ gà, vịt, ngan, lợn, chó, bò, dê,….họ đều làm món này Đặc biệt khi thiết đãi khách quý, đối với người
Lự, bắt buộc phải có món tiết canh Cung cách dùng và chế biến gia vị của người
Lự tương đối đơn giản, nhìn chung họ ít hung gia vị khi chế biến đồ ăn Loại gia vị phổ biến nhất cũng chả là ớt ( mác phết), xả ( khịnh chơ), gừng tươi (khinh cứng)
Trang 11… Bẻ cả cành ớt mang về treo trên gác bếp hoặc vách gần bếp cho khô lại, khi dùng họ lấy những quả ớt khô cho vào bát, bỏ vào đó vài ba cục than nóng, đảo đềuđến khi ớt chín có mùi thơm đem giã lẫn với muối choặc cho vào chéo.
Cũng như các tộc người khác, người Lự có truyền thống làm rượu và uống rượu trong lễ tế, tiệc tùng Ngoài rượu nấu bằng gạo người Lự còn biết nấu rượu bằng các loại Ngô Thường ngày họ uống bằng các loại nước nấu từ cây lá lấy trong rừng Tùy từng mùa, từng gia đình, mà nước uống nấu bằng các loại cây bổ máu, làm mát, hoặc làm ấm cơ thể,…Đặc biệt khi có tiệc tùng, cỗ bàn,….theo tục lệ người Lự đều phải trải lá chuối tươi rồi bày biệm đồ ăn lên trên (kể cả khi dùng mâm mây) Theo họ, đó là cách hèm (yểm bùa) để ma quỷ ác không dám tới ăn, người ăn vào không đau bụng hoặc sinh bệnh
1.3.2 Văn hóa tinh thần
*Hôn nhân
Gia đình người Lự thuộc gia đình phụ quyền Trong đó vai trò của người đàn ông, chủ gia đình được đặc biệt đề cao; xã hội thừa nhận quyền huynh thế phụ, nên trong gia đình vai trò của con trưởng cũng rất quan trọng Cách đây vài chục năm ởvùng Lự còn tồn tại tương đối nhiều đại gia đình phụ quyền Trong đó bao gồm vài
ba chục thành viên, dăm ba gia đình hạt nhân thuộc vài ba thế hệ, cùng sống trong một mái nhà, cùng ăn chung,làm chung và mọi sinh hoạt tôn giáo chung Đóthường
là một gia tộc lớn, gồm ông bà, bố mẹ, các cặp vợ chồng của những người con trai nhiều khi là các cặp vợ chồng của cháu trai Thực ra đó là một gia tộc, trong đó baogồm các thành viên nam cùng dòng máu tính theo cha, và vợ con của họ Đến nay thay thế các đại gia đình đó là hâu hết các tiểu gia đình phụ quyền Bao gồm vợ chồng và các con cái của họ chưa lập gia đình
Theo phong tục cổ truyền, hôn nhân người Lự phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc: Cấm những người cùng dòng máu trực hệ trong vòng năm đời kết hôn với nhau; con trai cô được phép kết hôn với con gái cậu nhưng cấm con gái cô lấy con trai cậu; Thực ra kết hôn theo kiểu anh đẻ em lấy ( em gái cưới con gái anh trai về
Trang 12làm dâu của mình ), được hầu hết các anh dân tộc thiểu số ở Tây Bắc ưa thích Bởi
lẽ kết hôn như thế về nguyên tắc ngoại hôn dòng họ vẫn được tuân thủ, cháu gái về làm dâu cô ruột sẽ thân thích, quan hệ mẹ chông nàng dâu sẽ tốt đẹp; anh trai gả con gái cho con trai của em gái sẽ thách cưới ít, bởi thương người em gái của mình.Theo tục lệ Lự cưới xin của họ gồm các nghi thức:
+ Dạm ngõ (pay tham pợ): để đánh tiếng chưa thật cần phải có mối ( pó sư me lam)+ Ăn hỏi: (pay dạm pợ): Vai trò của mối bên nhà trai và nhà gái đã quan trọng hơn Nhiều khi lễ ăn hỏi được tổ chức to như lễ cưới Ngoài lợn, gạo, rượu,….Nhà trai phải tặng cho cô dâu tương lai một đôi vòng tay bằng bạc, để đánh dấu con dâu (mai pợ) và đôi vòng bạc tặng mẹ cô dâu Sau lễ ăn hỏi chàng rể sẽ sang nhà cô dâungủ quản (du khươi/đi ở rể) Sau lễ ăn hỏi nhà gái chủ động làm lễ cho cô dâu về thăm nhà chồng ( nhăm tạt hướn) Sau đó là nghi thức ghép chăn (xú phạ) cho đôi uyên ương tại nhà gái Thông thường, sau thời gian ở rể các cặp vợ chồng trẻ Lự đều đã có một hoặc hai đứa con
+ Lễ cưới (kin đoong, kin pa, kin luông, kin khéc,… )
Hoàn thành việc ở rể, nhà trai chủ động làm lẽ cưới, đón dâu Ông, bà mối chàng rể
và bạn bè chú rể,….mang đồ dẫn cưới sang nhà gái làm cỗ cưới thiết họ hàng nhà gái, trong số đồ ẫn cưới buộc phải có các giỏ các sấy và các ống cá chua đề biếu cô
gì chú bác nhà gái Các báo xứ phải thay mặt nhà trai làm cỗ phục dịch việc tiệc tùng của cả họ nhà gái và tham gia đón dâu về nhà trai Khi họ nhà trai đến để đón dâu, nhà gái thường trêu chọc, đùa vui để chào đón Họ lấy nhọ nồi bôi lên quần áo,mặt mũi, ném củ giáy, đổ nước gạo vào những người đón dâu Khi dâu bắt đầu về nhà chồng, hai họ thường giằng co đùa vui trước khi rời nhà cô dâu Dâu về đến nhà trai, bố mẹ chồng thường tránh mặt dâu mới, chị gái chú rể giội nước rửa chân cho cô dâu trước khi bước lên thang vào nhà Sau ngày đón dâu nhà trai làm cố đãi người thân trong họ và các phù rể Ngày sau nữa, đôi cô dâu chú rể, ông bà mối, đạidiện họ nhà trai, làm lễ lại mặt (tảo hói tin) [3, Tr 126]
* Tang ma
Trang 13Đối với người Lự, đám ma có nghi thức tương đối đơn giản, không dùng kèn trống,không thầy mo, mà con cháu người quá cố tự thực hiện các thủ tục ma chay cho ông bà, cha mẹ Trong xã hội cũ do nghèo đói, du canh du cư,…cũng như một số tộc người khác ( Xinh Mun, La Ha, Kháng,… ) người Lự thường dùng phên tre, phên nứa bó người chết rồi mang ra rừng ma (pá heo) chôn cất, không dùng quan tài bằng gỗ
Sau khi tắm rửa mặc quần áo mới cho người quá cố, theo tập quán người Lự
thường bỏ vào mồm người chết một hai đồng xu (xưa là bạc trắng hoa xòe) Đây chính là việc yểm bùa, bảo vệ ma mới chết trước sự tấn công của các loại ma quỷ
ác (ma quỷ thường rất sợ kim loại) Sau đó họ buộc tay chân người chết bằng các sợi vải mộc, nhập quan, phủ lên thi hài một tấm vải mộc Cuối cùng họ bỏ vào áo quan quần áo và một số đồ dùng hàng ngày của người quá cố, trước khi đóng nắp quan tài Khâm liệm xong họ quàn thi hài tại nơi ngủ khi sống của người quá cố, đốt nến sáp ong trên nắp quan tài Đề ngăn ma quỷ dữ tới bắt ma người quá cố, họ dùng chài, vó,….(các đồ đan mắt cáo) phủ kín quan tài Với người Lự, chài, vó cũ được dùng để ngăn tà mà quỷ dữ nó có tác dụng như ta leo
Bình thường họ thường vắt một mảnh chài, hoặc vó cũ lên lan can ngay đầu cầu thang lên nhà, khi vào nhà mới, chân chài ( cùng thanh kiếm dòng họ và ninh đồ xôi) là vật được mang vào nhà đầu tiên Thực hiện xong các thủ tục trên họ dùng trứng gà bỏ vào máng nước đặt cạnh quan tài để những người đến viếng rửa tay làm phép Khi trong bản có người chết, người Lự chon ở các ngà đường vào bản, những chiếc ta leo làm bằng dây vải mộc buộc lên đầu ngọn tre Cách nay khoảng vài ba chục năm người Lự thường quàn thi hài trong nhà khoảng ba ngày Trong những ngày đó đến bữa ăn họ thường cúng cơm cho người chết Các trường hợp chết vào ngày cuối tháng họ thường tổ chức chon cất ngay, không để sang đầu tháng sau Khi làm ma họ mổ trâu để hiến tế Cũng như các tộc người ở Tây Bắc trước khi giết trâu, người Lự dùng dây bằng vải trắng buộc nối từ quan tài tới sừng trâu Theo họ làm như vậy để ma người chết theo sợi dây bằng vải mộc tới để nhận
Trang 14trâu do con cháu hiến tế cho họ.
Tập quán Lự cũng gần giống người Thái, người Lào,….ở chỗ họ đều tung trứng gà
ở rừng ma để chọn nơi đào huyệt chon cất người quá cố Trước khi con cháu đi chọn đất và đào huyệt, họ khẩn thảnh báo để người quá cố biết Xong việc, những người đào huyệt phải trốn về nhà, tránh gặp phải đám đưa ma [3,Tr 142]
Khi đưa ma xuống sàn, người Lự kiêng ra lối cửa ra vào hàng ngày, họ phải phá vách làm cầu thang tạm để đưa ma xuống Khi đưa ma đi phía đầu quan tài phải hướng về nhà ở Làm như vậy theo họ là để ma không biết đường về nhà Chỉ khi nào con cháu làm lễ mời ma về làm ma nhà, ma người vừa chết mới được về Trướckhi hạ huyệt theo lệ cổ người Lự có tục dùng cành gai đuổi ma dữ và vía người sống ra khỏi huyệt Hạ huyệt xong, họ đặt gói quả trứng vỡ đã dùng để bói tìm nơi đào huyệt trên nắp quan tài, sau đó lấp đất Nấm mồ được đặp cao khoảng vài ba chục centimet, bên trên nấm mồ họ chôn một hòn đá hoặc trồng một cây cỏ làm dấu
Người Lự có tục đưa ma vào buổi sáng, đến chiều cùng ngày họ làm lễ cúng người quá cố ở nơi thờ gia tiên (lễ vật: gà luộc, thịt trâu, rượu, nế, sáp ong,…) Sáng hôm sau họ mang lễ vật như chiều hôm trươc ra cúng tại mả (cúng cho ăn) Hôm sau nữa họ gọi thức ăn vào lá chuối, mang theo trên cây ở trên đường đưa ma khấn mờingười quá cố ăn Một số nơi người Lự theo phật giáo sau khi làm ma một hai tháng,
họ làm nhà táng (coong lan), vải, gối, đệm,….làm lễ đưa ma người chết lên chùa Đối với người Lự, khi bố mẹ, ông bà, con cháu và những người an hem trong họ phải thắt khăn bằng vải mộc trên đầu, để tang ba ngày trong khi làm ma [3, Tr 144]
Trang 15ở lại, điều dữ mang đi.
Ở Lai Châu đồng bào Lự chiếm gần 2% dân số thuộc nhóm người Lự trắng sống chủ yếu ở huyện Sìn Hồ và huyện Tam Đường Đồng bào Lự cư trú dọc theo các dòng sông, khe suối và tên bản làng thường được gắn liền với đặc thù của miền đất
họ sinh sống Từ trước đến nay, với đời sống định canh định cư, người Lự đã biết canh tác lúa nước từ rất sớm, nên đời sống vật chất của họ tương đối ổn định Chính vì vậy mà vốn văn hoá tinh thần cũng phong phú đa dạng với nhiều loại hìnhvăn hoá dân gian mang đậm bản sắc của người Lự
Lễ Căm Mường là lễ để bà con dân bản thể hiện lòng thành kính dâng tế lễ vật lên các vị thần Từ xưa đến nay lễ Căm Mường bao giờ cũng được làm rất trang trọng Mỗi gia đình sẽ cử ra một người đại diện là nam giới đi tham gia phần phụ lễ, khi
về sẽ có “lộc” dành cho những người ở nhà
Mở đầu cuộc lễ, thầy cả đọc lời tuyên bố lý dó buổi lễ Trong lời tuyên bố lý do buổi lễ của thầy cả đề cập tới lịch sử của người Lự, lịch sử bản mường, cái lý của việc làm lễ Căm Mường và những người sẽ được “thụ lễ” lần này
Khi cuộc lễ bắt đầu "say" các thầy lạy một lạy rồi bắt đầu đọc lời khấn Trong phần
lễ này không có khèn, sáo, trống hay bất kì một loại nhạc cụ nào để làm âm vang Theo quan niệm của người Lự thì như thế sẽ làm ảnh hưởng tới các linh hồn riêng,
mà cái linh hồn ở đây chính là sự thần bí, linh thiêng ẩn hiện trong những lời khẩn cầu của thầy cúng:
“Núi rừng mang hồn nước
Khe suối lượn hình song
Thần rồng bay lượn múa
Phun nước tưới ruộng đồng
Cho ngô lúa trổ bông
Cho mùa vàng trĩu quả.”
Người Lự ví lễ Căm Mường là dịp để thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần được thể hiện bằng các lễ vật dâng tế trong buổi lễ Những lễ vật này do dân bản tự
Trang 16nguyện đóng góp, và thầy cúng sẽ khẩn cầu lên vị thần thấu hiểu lòng thành kính của dân bản, mong được mùa bội thu, thóc lúa đầy bồ, già trẻ gái trai trong bản được vui vẻ sum vầy hạnh phúc.
Sau khi kết thúc phần lễ sẽ đến phần hội, các chàng trai thổi sáo để các cô gái hát những bài ca của dân tộc mình Những lời hát mộc mạc, giản dị, nhưng ẩn sâu trong đó ý nghĩa nhân văn cao cả, đó cũng là lời gửi gắm, nhắn nhủ của thế hệ đi trước dành cho lớp trẻ hôm nay phải biết chung tay xây dựng bản mường ngày càng ấm no hạnh phúc Cùng với các trò chơi dân gian không thể thiếu trong lễ hội này
1.3.3 Văn hóa xã hội
Người Lự cư trú thành nhiều bản nhỏ, có những bản chỉ có người Lự nhưng cũng
có bản sống xen kẽ với dân tộc Thái, Lào Bản người Lự thường được lập ở những nơi tương đối bằng phẳng, trong các thung lung, chân núi Địa bàn thuận tiện cho việc sản xuất, sinh hoạt thuận tiện đi giao tiếp anh em họ hàng Mỗi bản người Lự thường có một hai chục nóc nhà, các nhà trong bản thường là anh em họ hàng với nhau Một bản có vài dòng họ cùng sinh sống trong đó một họ có uy thế lớn thườngđược coi là trưởng bản Trưởng bản thường đại diện xử lý những vấn đề chung của
cả bản, liên quan đến nhiều dòng họ khác nhau
II MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI LỰ.
2.1 Một số loại hình văn nghệ dân gian
2.1.1 Nhạc cụ dân gian
Người Lự dùng các nhạc cụ dân gian truyền thống Đó là các loại kèn (sáo)nổi tiếng với bộ nhạc cụ sáo mẹ sáo con.Gồm 2 ống sáo 1 ngắn 1 dài Làm bằng nứa hoặc trúc, được họ gọi là Pí me ( sáo mẹ, khèn mẹ) giọng trầm và pí luk (sáo con, kèn con) giọng thanh Có mặt hầu hết trong diễn xướng dân gian của người Lự là Pí
me Lự Dùng để đệm hát giữ nam và nữ hoặc đệm cho nữ hát thì sử dụng cả sáo mẹ
và sáo con Khi đệm cho nam hát thì chỉ dùng sáo con để đệm Chỉ khi cả 2 cùng
Trang 17thổi thì mới có giai điệu hay.
Pí Me hoặc Pí Lự là tên gọi một nhạc cụ họ hơi, chi lưỡi gà của dân tộc Lự ởLai Châu – Sơn La thuộc vùng núi phía Bắc Việt Nam
Pí Me/Pí Lự được làm từ một ống nứa, hoặc trúc có chiều dài khoảng 50 –
70 cm, đường kính 1,5 cm, một đầu có mấu kín Ngay chỗ mấu người ta trổ thủng 1
lỗ hình chữ nhật có kích thước 1cm x 2,5 cm để đặt lưỡi gà đồng (lưỡi gà hình tam giác cân được cắt rời hai cạnh bên để dính lại phần đồng ở cạnh đáy) Trên thân ống
có khoét 7 lỗ bấm, lỗ thứ nhất ở mặt sau thân ống cách lưỡi gà 29 cm, lỗ thứ 2 ở mặt trước cách lỗ thứ nhất 2 cm, 5 lỗ còn lại nằm thẳng hàng với lỗ thứ 2 và cách đều nhau (3 cm), riêng lỗ 4 và 5 cách nhau 6 cm Pí Me/Pí Lự có hàng âm như sau:
Do1, Re1, Mi1, Fa1, Sol1, La1, Si1.
Nghệ nhân thổi Pí Me/Pí Lự bằng cách đặt dọc thân Pí xuống, miệng ngậm kín phần ống có gắn lưỡi gà ngập trong miệng, rồi thổi truyền hơi ra liên tục làm sao cho tiếng Pí không ngắt khi thổi
Âm thanh của Pí Me/Pí Lự giòn, rè có pha chất bồi âm, tiếng trong trữ tình phù hợpvới các bài có tình cảm sâu lắng, êm dịu.Pí Me/Pí Lự là nhạc cụ dùng để độc tấu, hòa tấu, do nam giới sử dụng trong sinh hoạt giao duyên Ngoài việc diễn tấu Pí Mecòn là phương tiện để các chàng trai nói thay lời mình với các cô gái
Pí luk: (Sáo con) cũng giống như sáo mẹ nhưng ngắm hơn 20cm hai sáo này đồng âm với nhau một quãng tám Khi cùng đệm cho hát sáo mẹ làm nền cho sáo con Sáo con chỉ thổi từng đoạn giai điệu chủ đạo Những chỗ hòa âm này âm thanhquyện vào với nhau thành một bè Người thôi Pí Me/ Pí Lự bằng cách đặt dọc thân
Pí xuống miệng ngậm kín phần ống có gắn lưỡi gà trong miệng rồi thổi hơi ra liên tục làm sao cho tiếng Pí không ngắt thì thôi Tiếng Pí của người Lự đậm chất trữ tình sâu lắng, dịu êm
2.1.2 Hát dân gian
Nếu nười Thái có tới hàng ngàn bài hát dân ca, có hàng chục kiểu khắp Thì người
Lự cũng có các làn điệu dân ca có lối hát và hình thức thể hiện khác biệt Trong
Trang 18tiếng Lự thường là Pấu pí khắp, pấu pí nghĩa là sao khắp tức là hát dân ca Lự phải
có sáo mới hát được Người Lự là cộng đồng có kho vốn văn nghệ dân gian tương đối phong phú Điển hình là các làn điệu khắp: khắp hệt na, khắp hệt nương, khắp hạn khuống, khắp báo xao, khắp u luk… Các điệu khắp hệt na, khắp hệt nương nộidung chủ yêu là chúc nhau mùa màng bội thu, con cháu ấm no hạnh phúc, thóc ngôđầy nhà, lợn gà đầy sân, trâu bò đầy rừng,……Mưa thuận gió hòa
Nhưng đáng chú ý nhất trong các điệu khắp của người Lự phải kể đến hát đối đáp nam nữ hay còn là hát giao duyên
Lâu nay, nói đến các điệu khắp (hát) ở Tây Bắc, người ta thường nghĩ tới các điệu khắp mượt mà, sâu lắng của người Thái mà ít ai biết đến các điệu khắp khỏe khoắn
mà không kém phần trữ tình, đằm thắm của người Lự Đáng chú ý nhất trong các điệu khắp của người Lự là khắp báo sao (hát nam nữ) thường được tổ chức thành phe nhóm giữa nam với nữ, giữa bản này với bản khác…
Cuộc hát giao duyên ở hạn khuống (sàn chơi) hay dú khuống (sân chơi) dành cho những đôi nam nữ mới gặp lần đầu thường được mở màn bằng những lời tán tỉnh
của chàng trai: “Trăng tỏ chạy theo cát Trăng sáng chạy theo suối Thấy suối sâu
vực thẳm muốn lặn dò Thấy suối sâu nước xanh muốn xuống uống Gặp cô gái xinh đẹp muốn chuyện trò…” Đáp lời chàng trai, cô gái thường bộc lộ những lời than thở về cảnh sống nghèo khổ: “Anh ơi! Em vốn khổ nghèo Nghèo xơ xác như
vỏ mận vỏ cam Em nghèo quá nên chẳng ai thương Chẳng ai dại yêu em mà mang
nợ vào thân…” Trường hợp này, bài hát thường được đệm nhạc bằng sáo đôi: pí
me, pí lụ – sáo mẹ, sáo con (dành cho nữ) hay chỉ riêng pí lụ (dánh cho nam)
Với những đôi trai gái đang kỳ hẹn hò, cuộc hát thường gắn với tục chọc sàn
Chàng trai nhẹ nhàng tới nhà cô gái, mang theo pí lụ(sáo con) đứng dưới gầm dùng cây sáo chọc lên sàn chỗ cô gái nằm nghỉ và cất lời hát: “Em ơi! Dậy mau đi Dậy nhai trầu chung cơi Dậy hút thuốc chung điếu Bông hoa ban, hoa mạ của anh Dậy hát cùng chài cùng cá Hát cùng lúa cùng rau Hát cùng trăng cùng sao Hát cùng suối cùng thác Hát với núi với rừng Hát với trời với đất Hát cho thấu lòng
Trang 19nhau…” Trường hợp này, lời hát thường được cất lên giữa khung cảnh tĩnh mịch
một cách nguyên sơ, khe khẽ, không nhạc đệm Tình yêu của trai gái Lự lớn dần cùng những lời ca trữ tình ấy
Ngoài ra trong các ngày lễ hội trong phần hộicác chàng trai thổi sáo để các cô gái hát những bài ca của dân tộc mình Những lời hát mộc mạc, giản dị, nhưng ẩn sâu trong đó ý nghĩa nhân văn cao cả, đó cũng là lời gửi gắm, nhắn nhủ của thế hệ đi trước dành cho lớp trẻ hôm nay phải biết chung tay xây dựng bản mường ngày càng ấm no hạnh phúc
“Hôm nay là ngày vui
Hôm nay là ngày hội
Dân bản được vui chơi
Được cùng nhau múa hát
Được thoả ước mong chờ
Cùng chung chén rượu ngọt
Cùng ôn chuyện ngày xưa
Những ngày còn đói khổ.
Hôm nay đã khác rồi
Cuộc sống mãi xanh tươi
Nhà nhà được no ấm
Bản mường vui mở hội…"
Hầu hết các điệu khắp đều được truyền lại từ thời xưa, có truyện kể lại rằng: Hồi đó
có một đôi yêu nhau nhưng không đến được với nhau họ chỉ còn cách thể hiện tình cảm của mình qua lời hát và tiếng sáo Ý nghĩa của hát khắp thường là để giao duyên hay ca ngợi tinh thần lao động của người nông dân Được sự dụng khá phổ biến vào những ngày lễ tết, hay đi giao lưu gặp mặt, thậm chí những lúc vui, lúc buồn, nông nhàn người Lự cũng có thể khắp cùng nhau để vơi bớt nhọc nhằn cảm thấy them yêu đời yêu cuộc sống
2.1.3 Múa dân gian
Trang 20Bên cạnh hát khắp người Lự còn say mê với những điệu múa, các điệu múa của người Lự cũng phong phú với các điệu múa xòe rộn rã: múa khăn (xòe khăn), múa quạt (xòe vi), múa nón (xòe cúp), múa quét là héo (quát bó heo), múa vòng (xòe vòng) Các điệu múa cũng có nét tương đồng với các dân tộc vùng núi tây bắc như Thái, Lào Xòe của người Lự vừa mang đậm bản sắc vừa mang đậm tính nghệ thuậtcao trong từng bước nhảy, trong đó còn ẩn chứa tâm hồn tình cảm và cả cốt cách hồn hậu trìu mến của người dân tây bắc
- Khi múa Xòe vòng, người chơi đặc biệt chú ý tới đội hình, động tác và âm nhạc.Người chơi nắm tay nhau xếp đội hình múa thành vòng tròn, vòng xòe ban đầu hẹp
và dần được mở rộng Không hạn chế số người càng đông thì càng vui, nam nữ đứng xen kẽ nhau để xòe, các vòng tròn chuyển động ngược chiều nhau
Động tác của Xòe vòng gồm 02 bước chính và 02 bước phụ Bước thứ nhất tiến, chân sau bước lên ngang với bàn chân trước dậm nhẹ rồi lùi chân sau, chân trước rút về ngang với bàn chân sau dậm tiếp theo nhịp Cùng với nhịp chân, cánh tay được nắm chặt vào nhau rồi nâng lên hạ xuống tiến hành đồng thời phụ họa với bước chân dậm nhẹ, lúc tiến, lúc lùi theo nhịp của trống, của nhạc Các động tác cứ như vậy được lặp đi lặp lại nhiều lần và vòng xòe dần dần được mở rộng bởi mỗi lúc mọi người đến xòe một đông
Khi vòng xòe được chuyển động từ trái sang phải thì bước chân phải trước, dậm chân trái theo rồi lùi chân trái về, chân phải trở về dậm nhịp tại vị trí bên trái Và ngược lại, nếu vòng xòe đi từ phải sang trái thì bước chân trái trước, dậm chân phảitheo rồi lùi chân phải về, chân trái trở về dậm nhịp tại vị trí bên phải Những bước chân không bước rộng mà được bước lên bước xuống nhẹ nhàng; bước nhẹ êm (có khi như lướt) và nhún nhẹ nhàng; kết hợp với bước chân như vậy là động tác vung tay đưa lên đưa xuống không hết đà (chỉ ở ngang người)…Nếu xòe Thái là bước nhảy thì xòe người Lự bước vào vòng nhấn một nhịp sau đó bước ra và chuyển bước tiếp theo Đội hình vòng tròn cũng có thể xoay ngược ra phía ngoài
Khi múa xòe người ta cầm tay nhau múa du dương nên xòe vòng Lúc trong bản có