1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu, mô tả, đánh giá về đề xuất bảo tồn những giá trị văn nghệ dân gian của tộc người ê đê

40 516 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 251,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn nghệ dân gian truyền thống luôn luôn gắn liền với đời sống của cộng đồng các dân tộc, nó là hơi thở, là máu thịt, là niềm đam mê sáng tạo, hưởng thụ không bao giờ ngưng nghỉ, vơi cạn

Trang 1

M Đ U Ở ĐẦU ẦU

Nước ta gồm 54 dân tộc anh em đoàn kết, gắn bó với nhau trong suốt chiều

dài lịch sử bảo vệ, xây dựng đất nước Văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số là một bộ phận quan trọng tạo nên nền văn hóa Việt Nam đa dạng, phong phú trong thống nhất Trong đó văn nghệ dân gian có một vai trò, tầm ảnh hưởng đặcbiệt Văn nghệ dân gian bao gồm những sáng tác nghệ thuật dân gian, tức là gồm văn học dân gian và các ngành nghệ thuật dân gian khác như âm nhạc, hội họa, kiến trúc, điêu khắc dân gian

Văn nghệ dân gian truyền thống luôn luôn gắn liền với đời sống của cộng đồng các dân tộc, nó là hơi thở, là máu thịt, là niềm đam mê sáng tạo, hưởng thụ không bao giờ ngưng nghỉ, vơi cạn trong lòng người dân và trong dòng chảy chung của một nền văn hoá đa sắc màu trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trong nền văn hóa văn nghệ dân gian vốn phong phú đa dạng của dân tộc Việt Nam, không thể không nói đến sự góp mặt của văn nghệ dân gian của đồng bào Ê Đê Trải qua quá trình đấu tranh lâu dài chống lại thiên nhiên khắc nghiệt

và xã hội phong kiến bất công để tồn tại và phát triển, người Ê Đê đã sáng tạo nên những giá trị văn hóa truyền thống giàu bản sắc Đó là những sáng tác nghệ thuật của đồng bào truyền từ đời này qua đời khác nó nảy sinh và tồn tại như một bộ phận hợp thành của sinh hoạt nhân dân

Sau khi được học xong học phần: ‘‘Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam’’

đã cho tôi những kiến thức vững vàng, những tri thức đầy bổ ích về văn hóa các dân tộc Việt Nam Đặc biệt là văn nghệ dân gian của dân tộc Ê Đê đã đưa tôi đến với những làn điệu trữ tình sâu lắng, những điệu múa nhẹ nhàng nhưng cũng

có phần sôi động, những lời ca ngọt ngào và những truyện cổ đầy sự tích… Vì vậy, tôi chọn đề tài: ‘‘Tìm hiểu, mô tả, đánh giá về đề xuất bảo tồn những giá trị văn nghệ dân gian của tộc người Ê Đê” để cho mọi người khắp mọi miền đều được biết đến và hòa nhịp trong nền văn nghệ dân gian vốn phong phú của dân tộc Ê Đê

Trang 2

NỘI DUNG

1 Khái quát về địa bàn và tộc người Ê-Đê ở Đắk Lắk

1.1 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu

1.1.1 Dân số

Tính đến năm 2014, dân số toàn tỉnh Đắk Lắk đạt gần 1.834.800

người, mật độ dân số đạt 135 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 426.000 người, chiếm 27% dân số toàn tỉnh, dân số sống tại nông thôn đạt 1.345.800 người, chiếm 73% dân số Dân số nam đạt 894.200 người, trong khi

đó nữ đạt 877.600 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 12,9 ‰

Dân tộc: Tỉnh Đắk Lắk có 47 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống Trong đó dân tộc kinh chiếm đông nhất với 1.161.533 người, thứ hai là Người Ê

Đê có 298.534 người, thứ ba là Người Nùng có 71.461 người, thứ tư là Người Tày có 51.285 người Cùng các dân tộc ít người khác như M'nông có 40.344 người, Người Mông có 22.760 người, Người Thái có 17.135 người, Người Mường có 15.510 người

Đơn vị hành chính: Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính gồm: có 1 thành phố

là thành phố Buôn Ma Thuật, 1 thị xã là thị xã Buôn Hồ và 13 huyện là Ea H Leo, Krông Buk, Krông Năng, Ea Súp, Cư M gar, Krông Pắc, Ea Kar, M`Đrăk, Krông Ana, Krông Bông, Lăk, Buôn Đôn, Cư Kuin

Khu vực I: Là các xã có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội thuận lợi Chủ yếu là các xã ở vùng thấp, gần trung tâm các huyện, thành phố, giao thông

và các dịch vụ xã hội thuận lợi

Khu vực II: Là các xã có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội khó khăn, phần lớn các xã này nằm ở vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại còn tương đối khó khăn; các dịch vụ xã hội cơ bản đã được đáp ứng tương đối tốt

Trang 3

Khu vực III: Là các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, các

xã ở vùng sâu, vùng biên giới, xa các trung tâm huyện, thành phố, địa hình bị chia cắt mạnh, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn; các dịch vụ xã hội còn hạn chế

1.1.2 Diện tích

Diện tích tự nhiên: 13.062 km²

1.1.3 Lịch sử hình thành tỉnh Đắk Lắk

Đắk Lắk được thành lập theo nghị định ngày 22 tháng

11 năm 1904 của Toàn quyền Đông Dương và tách khỏi Lào, đặt dưới quyền cai trị của Khâm sứ Trung Kỳ Trước đó, vào cuối thế kỷ 19, Đắk Lắk thuộc địa phận đại lý hành

chính Kontum và bị Pháp nhập vào Lào Đến ngày 9 tháng

2 năm 1913 thì tỉnh này trở thành một đại lý hành chính trực thuộc tỉnh Kon Tum được thành lập cùng ngày Mãi đến ngày 2 tháng 7 năm 1923 tỉnh Đắk Lắk mới được thành lập lại.Lúc mới thành lập, Đắk Lắk chưa chia huyện, tổng mà chỉ có đơn vị làng (còn gọi là buôn hay bon), người Ê Đê có 151 làng, người Bih có 24 làng, người Gia Rai có 11 làng, người Krung có 28 làng, người M'dhur có 120 làng, người

M'Nông có 117 làng, người Xiêm có 1 làng Năm 1931, trong cuộc cải cách hành chính toàn Đông Dương, tỉnh Đắk

Lắk được chia làm 5 quận, gồm có Buôn Mê Thuột, Buôn

Hồ, Đăk Song, Lăk và M'Đrăk, dưới có 440 làng

Trải qua những biến động thăng trầm của lịch sử, địa lý Đắk Lắk cũng có nhiều thay đổi Năm 2003, Quốc hội ra Nghị quyết số 22/2003/QH.11 chia tỉnh Đắk Lắk thành hai tỉnh mới là Đắk Lắk và Đắk Nông Từ đó, tỉnh Đắk Lắk có

15 đơn vị hành chính gồm thành phố Buôn Ma Thuột, 1 thị xã Buôn Hồ và 12

Trang 4

huyện: Buôn Đôn, Cư M'gar, Ea H'leo, Ea Kar, Ea Súp, Krông Ana, Krông Bông, Krông Búk, Krông Năng, Krông Pắk, Lắk, M'đrắk.

1.1.4 Kinh tế - văn hóa

Nằm ở vị trí địa lý gần như trung tâm của vùng cao nguyên Tây Nguyên, Đắk Lắk có những thuận lợi phát triển kinh tế xã hội Thuận lợi giao lưu kinh tế với các tỉnh trong khu vực

Với điều kiện tự nhiên rất thuận lợi, là một cao nguyên rộng lớn khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven các dòng sông chính Do đó Đắk Lắk rất phát triển ngành lâm nghiệp và nông nghiệp Đắk Lắk là tỉnh có diện

tích và sản phẩm cà phê xuất khẩu lớn nhất cả nước, với diện tích 182.343ha và sản lượng thu hoạch hàng năm đạt trên 400.000 tấn, chiếm 40% sản lượng cả nước[38] Tỉnh cũng là nơi trồng bông, cacao, cao su, điều lớn của Việt Nam Đồng thời, là nơi phát triển các loại cây ăn trái khác, như cây bơ, sầu

riêng, chôm chôm, xoài

Đắk Lắk có 47 tộc người cùng sinh sống, do vậy đây được coi là mảnh đất phong phú về bản sắc văn hóa, về truyền thống lịch sử và di sản văn hóa Đắk Lắk còn biết đến với những bản trường ca truyền miệng lâu đời Đam San, Xinh Nhã dài hàng nghìn câu, như các ngôn ngữ của người Ê Đê, người

M'Nông như các đàn đá, đàn T'rưng, đàn k'lông pút Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng hhông gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại

1.2 Khái quát chung về dân tộc Ê Đê ở Đắk Lắk

1.2.1 Nguồn gốc và ngôn ngữ

Trang 5

Dân tộc Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo (Malayô – Pôlynêdi) Đây là nhóm dân tộc có nguồn gốc từ nhóm tộc người nói tiếng Mã Lai từ các hải đảo Thái Bình Dương đã có mặt lâu đời ở Đông Dương.

1.2.2 Dân cư và vị trí địa lý

Tính đến năm 2014, dân số Ê Đê là 298.534 người Chiếm 16.3% dân số toàntỉnh Phân bố chủ yếu ở thành phố Buôn Ma Thuật, thị xã Buôn Hồ và các

1.2.3 Đặc điểm kinh tế

Người Ê Đê làm rẫy là chính, riêng nhóm Bíh làm ruộng nước theo lối cổ sơ,dùng trâu dẫm đất thay việc cày, cuốc đất Ngoài trồng trọt còn chăn nuôi, săn bắn, hái lượm, đánh cá, đan lát, dệt vải Trên nương rẫy, ngoài cây chính là lúa còn có ngô, khoai, bầu, thuốc lá, bí, hành, ớt, bông Đặc điểm làm rẫy của người

Ê Đê là chế độ luân khoảnh, tức là bên cạnh những khu đất đang canh tác còn cónhững khu đất để hoang để phục hồi sự màu mỡ Ngày nay người Ê Đê gắn mình với sản xuất nông sản cây công nghiệp: cà phê, cao su, hồ tiêu, ca cao, Nghề trồng trọt ở đây có nuôi trâu, bò, voi Người dân ở đây còn tự làm ra được

đồ đan lát, bát đồng, đồ gỗ, đồ trang sức, đồ gốm

1.2.4 Quan hệ cộng đồng của dân tộc Ê Đê

Gia đình Ê Ðê là gia đình mẫu hệ, hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con mang họ

mẹ, con gái út là người thừa kế nhà thờ cúng ông bà và có trách nhiệm nuôi dưỡng cha mẹ già, đàn ông kết hôn và sinh sống tại nhà vợ Xã hội Ê Ðê vận hành theo tập quán pháp truyền của tổ chức gia đình mẫu hệ Cả cộng đồng được chia làm hai hệ dòng để thực hiện hôn nhân trao đổi Làng gọi là buôn và

là đơn vị cư trú cơ bản, cũng là tổ chức xã hội duy nhất Người trong một buôn thuộc về nhiều chi họ của cả hai hệ dòng nhưng vẫn có một chi họ là hạt nhân Ðứng đầu mỗi làng có một người được gọi là chủ bến nước (Pô pin ca) thay mặt

vợ điều hành mọi hoạt động của cộng đồng

1.2.5 Phong tục tập quán

Trang 6

Nhà dài truyền thống thường được xây dựng bằng vật liệu gỗ, tre, nứa lợp mái tranh Nhà có kết cấu cột kèo bằng gỗ tốt có sức chịu đựng dãi dầu cùng năm tháng Các đà ngang, đòn dông luôn luôn bám nguyên tắc được đẽo hoàn toàn bằng tay, từ những cây gỗ nguyên vẹn dài có thể tới trên chục mét; đếm chúng, ta có thể biết nhà đã có thêm bao nhiêu lần được nối dài Những lần nối dài thường là khi trong nhà có một thành viên nữ xây dựng gia thất vì người Ê

Đê theo chế độ mẫu hệ, người con trai khi lấy vợ sẽ đến ở nhà vợ và không có quyền hành gì

Nhà được thưng vách và lót sàn bằng các phên nứa đập nát; mái lợp cỏ tranh đánh rất dày, trên 20 cm, thường chỉ làm một lần và sử dụng vĩnh viễn không phải lợp lại Đỉnh mái cách sàn nhà chừng 4–5 m Gầm sàn cao khoảng hơn 1m trước đây luôn được dùng làm nơi nuôi nhốt trâu, bò, lợn, gà nên rất mất vệ sinh, sau này đã bỏ dần tuy nhiên có một số nơi vẫn theo phong tục cũ này Khi làm nhà mới, người Ê Đê rất kiêng không bao giờ dùng lại gỗ nhà cũ

mà thường đốt bỏ, tuy nhiên ngày nay phong tục này chỉ còn tồn tại ở các vùng sâu gần rừng nơi còn dễ kiếm gỗ làm nhà

Những đặc trưng của nhà Ê Đê là: hình thức của thang, cột sàn và cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt Đặc biệt là ở hai phần Nửa đằng cửa chính gọi

là Gah là nơi tiếp khách, sinh hoạt chung của cả nhà dài là nơi chứa các vật dụng như bếp chủ, ghế khách, ghế chủ, ghế dài (Kpan) có thể dài tới 20m được đẽo từ những thân cây rừng nguyên vẹn kể cả chân, trên vách có treo cồng chiêng nửa còn lại gọi là Ôk là bếp đặt chỗ nấu ăn chung và là chỗ ở của các

Trang 7

đôi vợ chồng, chia đôi theo chiều dọc, phần về bên trái được coi là "trên" chia thành nhiều gian nhỏ Phần về bên phải là hàng lang để đi lại, về phía cuối là nơi đặt bếp lửa Nguyên bản trước đây bếp lửa của người Ê Đê thường được đặt trực tiếp trên sàn, họ đóng một khung vuông bằng gỗ cao khoảng 10 cm,

đổ đất nện, sau đó đốt lửa trên đó cả ngày với mục đích giữ lửa và để

chống muỗi và các loại côn trùng khác

Mái nhà bằng cỏ tranh, vách bằng tre nứa, và Kpan

Người Ê Đê có tập quán là khi đi ngủ thì đầu quay về hướng Đông và chân

quay về hướng Tây Do đó nhà dài theo hướng Bắc Nam Chỗ ngủ được ngăn đơn giản bằng những thành tre làm nhiều ngăn Ngăn đầu tiên là ngăn của vợ chồng chủ nhà, tiếp theo là ngăn người con gái chưa lấy chồng, sau đó đến các ngăn của vợ chống những người con gái đã lấy chồng, cuối cùng là ngăn dành cho khách

Mỗi đầu nhà có một sân sàn Sân sàn ở phía cửa chính được gọi là sân khách.Muốn vào nhà phải qua sân sàn Nhà càng khá giả thì sân khách càng rộng, khang trang

Cầu thang nhà của người Ê Đê luôn được đẽo bằng tay và thường được trangtrí bằng hình hai nhũ hoa (trông thể hiện tín ngưỡng phồn thực rõ rệt của người

Ê Đê) và hình trăng khuyết

Các cột, kèo thường đẽo gọt, trang trí bằng hình ảnh các con vật như voi, ba

ba, kì đà Cũng như cầu thang, các vật trang trí này luôn được đẽo bằng tay vớicây rìu truyền thống

1.2.5.2 Trang phục truyền thống

Theo truyền thống, trang phục của người dân Êđê là màu đen hoặc màu chàm, trên đó có những họa tiết hoa văn sặc sỡ Phần lớn, đàn bà đều mặc váy, quấn váy (tiếng địa phương gọi là Ieng), đàn ông thì đóng khố (Kpin), mặc áo Đồng bào dân tộc Êđê còn rất thích dùng các đồ trang sức bằng bạc, đồng hay

Trang 8

hạt cườm, họ cũng mang hoa tai và vòng cổ khi ra khỏi nhà thường đeo bên mình gùi và ngậm tấu.

Về trang phục Nam: ngày xưa, đàn ông Êđê thường để tóc dài rồi búi tó sau gáy, nay thì họ đã cắt tóc ngắn, gọn gàng giống như người Kinh hiện đại Tuy nhiên, tầng lớp trung niên ở Êđê vẫn còn chuộng việc chít khăn vải chàm hay khăn vàng nhạt khi đi ra đường hoặc trong ngày lễ tết

Trang phục truyền thống Nam của dân tộc Êđê bao gồm hai yếu tố là áo và khố Áo của người Nam có hai loại, áo dài trùm mông và áo dài quá gối Áo dài trùm mông được thiết kế tay áo và thân áo dài, có xẻ tả và khoét cổ chui đầu Trên nền chàm của thân và ống tay áo ở ngực, hai bên bả vai, cửa tay, các đường viền cổ, nơi xẻ tà gấu áo được trang trí và viền vải đỏ, trắng Đặc biệt là khu giữa ngực áo có mảng sọc ngang trong bố cục hình chữ nhật tạo vẻ đẹp và khỏe Dọc đường xẻ cổ ngực, có dính thêm nhiều khuy đồng, là những đoạn sợi chỉ đỏ đan sít vào nhau thành mảng hình thang cân lộn ngược Trong khi đó, áodài quá gối có khoét cổ, ống tay bình thường không trang trí như loại áo dài trùm mông nói trên

Trên những tấm áo này, những đường chỉ màu trang trí thường tập trung ở những chi tiết như nách áo, gấu áo, vai, cổ và tay áo Người Êđê vẫn thường khen ngợi chiếc áo đẹp nhất là áo kteh hay còn gọi là đếch kvưh grư, trước ngực

áo có mảng hoa văn được gọi là “đại bàng dang cánh” Gấu áo phía sau viền đường chỉ màu, gài thêm những hạt cườm trắng và tua chỉ màu dài tới 12cm Mảng trang trí trước ngực được mệnh danh là cánh đại bàng Dọc đường xẻ cổ ngực, có dính thêm nhiều khuy đồng, là những đoạn sợi chỉ đỏ đan sít vào nhau thành mảng hình thang cân lộn ngược

Khố (Kpin) được dệt sẵn trên khung dệt Chất liệu vải, trang trí hoa văn và

độ dài ngắn có khác nhau Màu nền của khố là màu chàm sẫm, trang trí hoa văn dọc rìa khố, hai đầu vạt khố Loại khố sang và đẹp nhất của đàn ông Ê đê là khốkteh và đrai, dệt bằng sợi vải đẹp, dài, hai đầu khố có trang trí hoa văn và đính thêm tua khố dài tới 25cm Đây là loại khố dùng trong ngày hội của những

Trang 9

người có vị trí cao trong buôn làng Khi mặc, hai đầu khố rủ dài phía trước và sau đùi Loại khố pirêk trang trí hoa văn trên hai vạt khố, nhưng không có tua màu Hai loại khố dùng thường ngày tring nhà hay đi nương là khố bơng và mlang, dùng loại này ngắn, ít hoa văn trang trí, không có tua màu.

Về mùa lạnh, đàn ông Êđê thường khoác tầm mềm Abăn dệt bằng sợi bông, nhuộm chàm, trên đó trang trí những đường hoa văn

Hình ảnh này tạo đã góp phần tạo nên hình tượng người con trai mạnh mẽ và hùng dũng giữa núi rừng đại ngàn Tây Nguyên

Về trang phục nữ: Phụ nữ Êđê mặc loại áo cánh ngắn, may kiểu chui đầu Không giống như áo chui đầu của nam giới, áo chui đầu của phụ nữ khoét cổ cao hơn, mở rộng cổ để chui đầu ở phía vai, có đơm thêm vài hàng khuy để cài

Bàn tay khéo léo của phụ nữ Êđê được thể hiện qua những đường may sợi chỉ, họ đã kết hợp những đường viền và các dải hoa văn nhỏ bằng sợi chỉ màu

đỏ, trắng hoặc vàng Loại áo sang và đẹp gọi là áo đếch theo tên của dải hoa vănnơi gấu áo Trang trí trên áo thường ở đường bờ vai, nách bả vai, cửa tay,

thân áo dài đến mông để khi mặc cho ra ngoài váy, trong khi đó, tay áo thường ngắn và hẹp, gấu áo chỉ chấm thắt lưng nên khi mặc làm nổi những đường nét khỏe khoắn của cơ thể phụ nữ

Trang phục truyền thống của người phụ nữ Êđê độc đáo và khá lạ so vớinhiều vùng miền khác ở chỗ phong cách trang trí là không có đường ở giữa thân

áo Đếch là tên gọi mảng hoa văn chính ở gấu áo Ngoài ra phụ nữ còn có áo lótcộc tay (áo yếm)

Trang 10

Hàng ngày, đồng bào dân tộc Êđê thường mặc loại áo băl Loại áo này khôngtrang trí hoa văn Những người già lão ở đây còn ưa mặc một loại áo lót tronggọi là ao yên, chỉ có phần vải che ngực.

Phụ nữ Êđê diện nhiều loại váy khác nhau Váy loại tốt là myêng đếch, rồiđến myêng đrai, myêng piêck Loại váy này mặc trong những dịp hội hè longtrọng, trong cưới xin, nhất là của những gia đình khá giả Váy kdruêch piêckcũng là loại váy sang, nhưng không đẹp bằng hai loại váy kể trên Còn váy bơngthì may bằng vải thô, không trang trí gì, thường mặc khi đi làm Những bà giànghèo khó vẫn mặc loại váy này vì họ không có điều kiện mua sắm vải đắt tiền Nguyên liệu làm váy chủ yếu bằng vải bông màu chàm hoặc đen, tùy từngloại váy mà trang trí nhiều hay ít đường nét hoa văn Ngày nay, váy được maybằng vải công nghiệp, chất lượng tốt hơn và cũng đẹp hơn, thậm chí trên nền vảicòn trang trí những đường nét thêu thùa bắt mắt

Cách mặc váy cũng khá độc đáo, họ đặt mép váy ở sườn bên trái, quấn mộtvòng quanh người từ eo bụng trở xuống, dắt mép váy ngoài về phía sườn bênphải Để cho chặt có thể dùng thêm thắt lưng bằng vải hay bằng kim loại

Phụ nữ Êđê còn trang sức bằng những loại vòng tay, vòng chân, nhẫn, dâychuyền bằng đồng hay bằng hạt cườm Cách đây chưa lâu phụ nữ còn đội thứnón đan, có quai giữ ở cằm, gọi là duôn bai Thời trước, vòng tay thường đeothành bộ kép nghe tiếng va chạm của chúng vào nhau họ có thể nhận ra ngườiquen, thân

Một loại phụ kiện không thể thiếu của người phụ nữ Êđê là chiếc khăn.Khăn được nhuộm chàm dùng để quấn tóc trên đầu Khăn quấn quấn hình chữ

“nhân” trước trán rồi buộc thành mối ra sau gáy và bịt khăn kín cả trán và đầu,mối vòng ra sau gáy phủ lên độn tóc

Ngày nay, trang phục phụ nữ Êđê đã bị cách tân khá nhiều do ảnh hưởngquá trình phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa từ các vùng miền khác, tuynhiên, người dân Êđê vẫn luôn tự hào về nghệ thuật trang trí hoa văn trên nền

Trang 11

vải với màu sắc, hình khối, đường nét và bố cục riêng được thế hiện rõ nhấttrong quá trình hình thành áo, váy, khố, túi, địu

1.2.5.3 Hôn nhân

Lễ cưới Êđê là một nghi lễ của dân tộc Êđê, Tây Nguyên, Việt Nam Lễ hỏi

- cưới theo chế độ mẫu hệ Theo truyền thống đó, người con gái đi hỏi và cướichồng, chủ động hoàn toàn về mọi phí tổn trong hôn nhân, con trai đi làm rể bênnhà vợ

Để đảm bảo duy trì hôn nhân hạnh phúc cho mọi gia đình, nếu có trường hợp vi phạm chế độ một vợ một chồng thì bị phạt rất nặng như phạt trâu, bò, chiêng, ché tùy theo mức độ vi phạm và khả năng đáp ứng hình phạt của người vi phạm mà thường do già làng quyết định

Trai gái tìm hiểu nhau, quyết định đi đến thành hôn thì trước tiên phải thông qua đám hỏi Nhà gái chuẩn bị lễ hỏi gồm một chén rượu và một vòng đồng để cúng thần, sau đó cô gái cùng ông mối đến nhà trai Nếu ở khác buôn thì những người đi hỏi mang theo cơm nếp với ý nghĩa để đôi trai gái gắn bó với nhau nhưcơm nếp ĐămĐêi (anh, em trai bên mẹ) cầm chiếc vòng đã được cúng thần để hỏi chàng trai, nếu chàng trai ưng thuận thì họ làm lễ trao vòng: Cô gái và chàng trai chạm tay vào chiếc vòng (đây là lời giao ước hôn thú) Từ đó coi nhưhai gia đình trở thành thông gia, mỗi gia đình cử ra Miết Ava (người đỡ đầu) của mình đại diện cho hai gia đình giúp đôi trai gái nên vợ nên chồng cũng như tham gia khuyên răn và hòa giải những bất hòa giữa hai gia đình

Nếu trong trường hợp người con trai không đồng ý thì nhà trai làm một nghi

lễ nhỏ mời nhà gái đến dự để tỏ lòng tôn trọng và duy trì sự hòa thuận với nhau.Theo quan niệm của người Êđê việc từ chối hôn lễ là từ chối hôn nhân của một dòng họ, ảnh hưởng và gây tổn thương rất lớn đến lòng tự trọng của không

Trang 12

những một gia đình mà còn cả một dòng họ Do đó cần thiết phải có sự thể hiện gắn bó đoàn kết của một cộng đồng dân tộc Đây là một trong những nét đẹp văn hóa truyền thống của người Êđê.

Khi đã đủ đồ thách cưới, nhà gái sẽ trao cho nhà trai và xin cưới, tức là làm

lễ gọi chồng Ngoài đồ thách cưới, nhà gái còn mang sang nhà trai ba lễ vật bắt buộc để trả công cho mẹ chồng:

nhỏ bằng thau đồng

người trước khi lập gia đình

Ngoài ba lễ vật trên còn có nhiều vòng đồng để phát cho các thành viên của gia đình cồng

Trang 13

Nhà trai tiễn con bằng một ché rượu và một con heo Trên đường về nhà gái,chú rể được tặng nhiều vòng đồng - coi đó là lời cam kết thủy chung và lời chúctụng hạnh phúc (thường thường, trong khi rước rể, một tốp thanh niên tinh nghịch sẽ đón đường té nước vào chú rể để thay lời chúc phúc cho đôi bạn trẻ) Trong nghi lễ, khi chủ nhà và khách đã yên vị, mọi người tiến hành lễ cúng cho

mẹ chồng 01 ché rượu, 01 con heo Sau đó là lễ cúng tổ tiên gồm 05 ché rượu

và 01 con heo Một Đăm Đêi lấy máu con vật hiến sinh bôi lên chân đôi vợ chồng mới cưới, chúc cho hai người 2 miếng cơm với 3 sừng rượu Vị trưởng

họ nhà gái đại diện hai bên trao vòng đồng cho đôi vợ chồng trẻ chạm tay và nhắc nhở lòng chung thủy ở mỗi người Khách dự lần lượt đi qua mặt hai vợ chồng chúc tụng và tặng quà

1.2.5.4 Ma chay

Khi trong gia đình có người chết, tang gia đánh một hồi trống báo cho dân làng biết Nghe tiếng trống cả làng kéo đến giúp tang gia lo liệu ma chay Mọi người trong làng mang đến gói cơm, quả trúng “làm quà tặng cho người chết” Người ta còn mang đến tang chủ những đồ cúng biếu như: gạo, rượu, gà có khi

cả heo, trâu… những người không có thì đến giúp việc cho gia chủ Nhân dịp này các gia đình có nguời chết trước còn giữ mã (Djă msát) mang đồ ăn thức uông để giử người vừa tắt thở mang cho người thân về thế giưới bên kia Người vừa chết được coi là sợi dây liên lạc giữa thế giới người sống và người chết và cũng chỉ trong dịp này thân chủ thân chủ lại keo nhau đến mộ khóc gọi vong hồn người đã khuất

Trong những ngày trong tang, dân làng đều ngừng sản xuất, không mua bán trao đổi, không đi xa làng… Họ tập trung vào việc tang lễ Thi thể được các thành viên gia đình lau chùi sạch sẽ, mặc quần áo ngày lễ và đeo đồ trang sức quý giá Thi hài được lượm và phủ chăn kín ở phòng cuối nhà sát góc phỉa Đông, đầu đặt về hướng Đông (những người chết giữ đầu quay về hướng Tây)

Trang 14

Một quả trứng luộc, bát gạo, bát cơm, được bài lên mâm cúng Thịt gà moi lòng

bỏ ruột rồi kẹp cả con nướng dựa vào bên vách phía để thi hài

1.2.5.5 Lễ hội

Khi xuân về nhiều lễ hội của người Ê Đê được tổ chức tưng bừng Do có bộchữ viết riềng nên vốn văn hóa dân tộc vừa được tồn giữ qua truyền miệng và qua chữ viết, hết sức phong phú Đó là những ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, đặc biệt là những sử thi nổi tiếng Đăm Săn, Khan đăm Ktêh Mlan mà người ê

đê gọi là Khan Trong lễ hội của người Tây Nguyên không thể thiếu tiếng cồng chiêng, tiếng trống to, trống nhỏ Đinh Năm là loại nhạc cụ phổ biến của dân tộc Cùng với đàn klongput, đàn t’rưng, sáo tạo nên sự phong phú, đa thanh sắc trong lễ hội, trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng Đàn đá là loại nhạc cụ cổ nhất

Càng đi sâu vào lễ hội của dân tộc càng thấy rõ tính văn hóa lễ hội quyện vào trong cuộc sống hàng ngày: Văn hóa cồng chiêng, văn hóa sử thi, văn hóa gia tộc, văn hóa lễ hội, sinh hoạt cộng đồng Tiêu biểu là lễ hội Cúng Bến nước

Có thể nói nghi lễ và lễ hội của dân tộc Ê Đê là rào chắn tốt nhất để bảo vệ bản sắc văn hóa, gìn giữ phong tục tập quán và nếp sống tốt đẹp của cộng đồng Thực tế chó thấy, ở những nơi hẻo lánh, xa xôi, nghi lễ - lễ hội được gìn giữ và thể hiện ở dạng nguyên sơ hơn vùng trung tâm thị trấn, thị tứ Các nghi lễ - lễ hội dân gian ở đây thương được phân theo hai hệ thống: lễ nông nghiệp vè lễ dòng đời người

Lễ nông nghiệp thường được tổ chức trước và trong mùa rẫy (mùa mưa) Các lễ vòng đời thường tổ chức sau mùa rẫy (vào mùa khô và dịp đầu xuân) Tùy theo từng lễ, có thể tổ chức theo từng gia đình riêng lẻ, rộng ra nữa là dòng

hộ, hoặc trong buôn làng Tất nhiên lễ nào cùng phải thể hiện đủ ba yếu tố: thời gian, địa điểm, quy mô Nghi lễ - lễ hội dân gian người Ê Đê không mang tính tôn giáo mà mang tính chất tâm ling đa thần Hình thức của của lễ thường gắn với việc cúng thần và lễ vật hiến thần Lễ vật hiến thần nhỏ nhất là con gà, chén rượu, cao hơn là hiến heo, bò trâu cùng hàng chục chén rượu Lễ nhỏ thường tổ

Trang 15

chức trong một ngày, lễ lớn từ ba đến bảy ngày Tùy theo từng loại lễ mà thu hút cả dòng họ, cả buôn, hoặc nhiều buôn tham gia

Lễ hội mùa xuân là lễ hội tiêu biểu nhất của người Ê Đê Lễ hội được tổ chức sau mùa gặt hái, đón năm mới Theo phong tục của các dân tộc Ê Đê, hàngnăm vào dịp kết thúc một mùa rẫy là các dân tộc nơi đây cùng tổ chức lễ hội đón năm mới (gọi là mùa ăn năm, uống tháng) Sau lễ ăn cơm mới, các buôn làng tổ chức lễ cúng bến nước, để cầu mong mưa thuận, gió hòa, nguồn nước dồi dào, trong lành, mọi người khỏe mạnh, nhà nhà nhiều lúa, bắp, trâu, bò, heo,

gà Là một lễ lớn của mọi buôn làng, nhằm góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn sống của cộng đồng, đồng thời nhắc nhở mọi người phải có ýthức bảo vệ rừng, đất đai, nguồn nước… vì đó là tài sản quý giá nhất từ bao đời của ông cha để lại

Có các lễ khác:

hầu hết các dân tộc đều tổ chức rất chu đáo

thành viên trong cộng đồng

hòn đá cổng buôn làng (vì thần đã gìn giữ buôn làng một năm yên ổn, không

có ai đói nghèo, bệnh tật) và cúng sức khỏe cho những con vật nuôi trong gia đình (như voi, trâu, bò, heo, chó, mèo, dê, gà…) vì những con vật này là người bạn của con người, thiếu nó con người sẽ cảm thấy cô đơn, bé nhỏ trước thiên nhiên vũ trụ

phát đạt, nhà nhà no ấm, hạnh phúc

2 Những giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc Ê Đê

2.1 Truyện cổ

Trang 16

Truyện cổ Ê Đê chiếm một vị trí đáng kể trong kho tàng phônclo của dân tộc này Là thể loại tự sự, nó phản ánh khá rộng hiện thực cuộc sống và những nhận thức của người Ê Đê về tự nhiên, xã hội cũng như những mong muốn của

họ về một cuộc sống hạnh phúc và tốt đẹp hơn

Người Ê Đê gọi các câu chuyện xưa kia của mình là klei đưm Trong vốn từ vựng Ê Đê, klei nghĩa là lời, đưm nghĩa là xa xưa Klei đưm chỉ được truyền bằng miệng từ đời này sang đời khác, từ vùng này qua vùng khác Trong quá trình sáng tác và lưu truyền, nó mang sắc thái từng địa phương và biến đổi trongđiều kiện không gian, thời gian mà nó tồn tại

Truyện kể Ê Đê được lưu hành dưới hình thức văn xuôi, đôi khi xen vào một vàicâu duê (văn vần), làm cho truyện kể thêm hấp dẫn, gợi cảm Truyện khá phongphú về tình tiết nhưng cốt truyện thường đơn giản, ngắn gọn

Căn cứ vào nội dung phản ánh và hình thức thể hiện, chia truyện cổ Ê Đê thành:thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn

2.1.1 Truyền thuyết

Truyền thuyết Ê Đê và quan niệm hiện thời của đồng bào vẫn cho rằng họ từ

“thế giới khác” chui qua hang Ađrênh đến sinh sống ở thế giới chúng ta Quan niệm phi thực tế và mơ hồ này chừng mực nào đó vẫn phản ánh quá trình sinh sống, làm ăn và sự hình thành buôn làng người Ê Đê trên vùng đất Tây nguyên

Sự hình thành các dòng sông, ngọn núi đều gắn với sức lao động bền bỉ của các chàng trai Ê Đê cần cù, thông minh, tình nghĩa (sự tích núi Yang Mao, sự tích dòng sông Pach)

Truyền thuyết về Dòng Krông Buc (sông tóc) rất quen thuộc với người Ê Đê

Đó là thiên tình ca thấm đậm chất thơ và ám ảnh lòng người Truyện kể rằng: ở một buôn nọ, có chị em H’Ring và H’Rao rất xinh đẹp Một hôm, hai người rủ nhau đi hái rau, bắt cá Khi đến một bến nước la, họ gặp một chàng trai tuấn tú

Cả hai chị em đều đem lòng yêu chàng trai, và chàng trai cũng mang lòng

thương nhớ hai người con gái kia Họ muốn thành vợ thành chồng, nhưng chàngtrai là con thần Nước nên không sống được trên cạn Khi buộc phải trở về với

Trang 17

dòng sông, chàng trai mang theo hai nửa búi tóc của H’Ring và H’Rao làm kỷ vật Từ đó, vì thương nhớ người yêu, hai người con gái ấy không yêu ai và cũngkhông chịu lấy chồng Khi chết, linh hồn họ hóa thành một loài hoa nở trên mặt nước để được vĩnh viễn sống cạnh người họ yêu thương.

Tuyện Hơ Kung Y Du cũng là một truyện tình cảm động, rằng có hai anh emyêu nhau, nhưng mỗi người mỗi ngả (Hơ Kung ở mặt trời, Y Du ở mặt trăng) Chỉ khi nào nguyệt thực thì họ mới nhìn thấy mặt nhau Truyện này cũng giải thích một phong tục về hôn nhân của người Ê Đê

Truyền thuyết – huyền thoại Cây tông lông nói về một loại cây thần Đây là

truyền thuyết có nhiều lớp lịch sử chồng lên nhau Qua truyền thuyết này, người

ta còn nhìn thấy bóng dáng của người Chăm khi họ đặt chân lên Tây Nguyên Cùng với nhiều cư dân khác sinh sống trên địa bàn Tây Nguyên, người Ê Đê lưu hành truyền thuyết về tù trưởng Nước (Mtao Êa) và tù trưởng Lửa (Mtao Pui)

Truyện kể rằng, tù trưởng Lửa cai quản vùng trên, còn tù trưởng Nước cai quản vùng dưới Tù trưởng Lửa hùng mạnh, giàu có là do của cải tích lũy được trong chiến tranh Còn tù trưởng Nước hùng mạnh, giàu có là do tài điều khiển dân trong lãnh địa, làm nương rẫy giỏi Tù trưởng Lửa và tù trưởng Nước đều

mang phép thần thông của yang (thần linh) nên mỗi khi họ đi ra ngoài, nếu dân

không cung kính thì dễ xảy ra các tai họa lớn Nếu cháy nhà, chết voi, bệnh dịchxuất hiên ở các vùng, người ta cho rằng đấy là do tù trưởng Lửa và tù trưởng Nước gây ra

Truyện tù trưởng Lửa và tù trưởng Nước, nếu bỏ đi màn sương thần linh, thì đó

là hình ảnh của các tù trưởng hùng mạnh ở vùng Tây Nguyên

Khi sáng tạo các truyền thuyết, các nghệ nhân Ê Đê thường có xu hướng lấy một vât thể (dòng sông, mặt trời, mặt trăng, suối, ) trong vũ trụ, trong địa vực mình cư chú để gắn tên nhân vật hoặc chi tiết điển hình nhất của nhân vật cho các vật thể đó Trong truyền thuyết về Dòng Krông Buc, nghệ nhân đã lấy chi tiết “tóc” của hai người con gái để đặt tên cho dòng sông (krông buc, tức là tóc)

Trang 18

Vì thế, dù truyền thuyết có chứa đựng nhiều yếu tố hoang đường đi nữa, nhưng người ta vẫn tin rằng điều truyền thuyết kể là có thật

2.1.2 Truyện cổ tích

Truyện cổ tích Ê Đê giải thích một số phong tục tập quán của họ Truyện

Sự tích Kèn đinh năm (sáu ống) đã nói đến một trong những phong tục của

người Ê Đê Truyện kể rằng, ngày xưa có hai vợ chồng nọ ăn ở với nhau đã lâu

mà vẫn không có con Nay nhờ vào sự linh dị siêu nhiên mà người vợ sinh mộtlúc sáu đứa con (ba trai, ba gái) Người cha lên rừng chặt về sáu ống nứa dài ngắn cho các con và dự định rằng, đứa nào lấy ống dài hơn sẽ là chị, là anh

Người con trai út lấy ống nứa đó cắm vào một quả bầu khô thành kèn đinh năm,

thổi thật buồn thương, sầu não Ngày cha mất, người con út đem kèn ra thổi, những người dự đám tang, người thì khóc, người thì hát theo tiếng ken Từ đó, mỗi khi trong buôn làng có người chết, người con trai út kia lại lấy kèn ra thổi

để bày tỏ lòng nhớ cha, nhớ người đã khuất

Truyện cổ tích Ê Đê là tấm gương phản chiếu khá phong phú và chân thực đời sống của người Ê Đê Một bức tranh đại thể về đời sống xã hội Ê Đê: từ váy, khố, bầu nước, bến nước, nhà dài, nương rẫy, từ những nhạc cụ tự tạo như

đinh năm, tù và cho đến những đồ vật quý như chiêng ché; từ giấc mơ, cầu khấn

đến nghi lễ, tín ngưỡng mà bây giờ vẫn còn lưu hành Đời sống xã hội Ê Đê,

dù ít nhiều, gián tiếp hoặc trực tiếp, chúng ta đều có tìm hiều qua truyện cổ tích của họ

2.1.3 Truyện ngụ ngôn

Người Ê Đê cư trú xen các thung lũng bằng phẳng với những đồng cỏ rộng lớn như ở Buôn Ba (Madrăc) trên những đồi cao, cạnh những cánh rừng ngút ngàn như Chư Pơng, Krông Năng, hay các vùng sình lầy như Krông Ana, hoặc rải rác ven hồ Lắc, tỉnh Đắk Lắk Đó là những nơi quần tụ của nhiều loại chim chóc, thú rừng và nhiều động vật quý hiếm sống dưới nước

Sống trong môi trường như vậy, lại chịu tác động to lớn của môi trường, người Ê Đê chăm chú quan sát hình dạng, màu sắc, âm thanh của từng loại con

Trang 19

vật phát ra cũng như thói quen của chúng để có thể săn bắt, hoặc tự về trước sự tấn công của chúng Họ tưởng tượng ra các truyện về loài vật và gắn một số tínhcách của con người cho nó

Thế giới loài vật trong truyện ngụ ngôn Ê Đê rất phong phú, sống động Loài vật nhìn chung được chia làm hai loại: những con vật hiền lành có ích cho con người như voi, trâu, nai; những con vật hay gây tai họa cho con người như cọp, trăn, rắn Khi kết thúc truyện kể, bao giờ cũng hướng theo quan niêm Thiện– Ác của mình Loài vật ác bao giờ cũng bị tiêu diệt Trong các truyện về thế giới loài vật, người ta không chỉ giải thích về hình dáng, đặc điểm của các con vật mà đằng sau đó, chúng ta còn thấy lời khuyên của trí tuệ dân gian: sự ngay thẳng, cần cù, chịu khó sẽ mạnh hơn tất cả chiến thắng tất cả (gà và quả, bác thợrèn phạt khỉ, rùa chịu sự trừng trị của lão trồng bí) Truyện ngụ ngôn Ê Đê đã gắn cho một số loài vật thuộc tính của con người Chúng cũng “trồng cây bắp, tra hạt lúa để sinh sống” Và chúng cũng lười biếng, gian ngoan, phỉnh lừa, như bản tính thứ hai của con người

Tóm lại, truyện ngụ ngôn Ê Đê phản ánh kinh nghiệm và trí tuệ của người Ê

Đê Kinh nghiệm và trí tuệ ấy tuy chưa vươn lên thành ý niệm triết học phổ quát, nhưng đó là những bài học nhân sinh của cộng đồng Ê Đê

2.2 Sử thi

Người Ê Đê có tập sử thi rất phong phú, gần 80 sử thi, nổi bật là các sử thi như Đam San, Đăm Di, Khinh Dú, Đăm Đơ Roăn, Y Prao, Mhiêng, Đăm Di đi săn, Đăm Tiông, Đăm Trao – Đăm Rao… Người Êđê gọi sử thi là klei khan Klei nghĩa là lời, bài; khan nghĩa là hát kể Hát kể klei khan không phải là hát

kể thông thường mà bao gồm ý nghĩa ngợi ca Thực chất đây là một hình thức

kể chuyện tổng hợp được thông qua hát kể Hát kể sử thi là loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian đã có từ lâu đời của cộng đồng người Ê đê, được tồn tại bằng hình thức truyền miệng từ đời này qua đời khác

2.2.1 Nội dung

Trang 20

Nội dung cơ bản của sử thi Êđê chủ yếu ca ngợi, tôn vinh những người có công với cộng đồng buôn làng; đề cao sự sáng tạo, sự mưu trí tài giỏi, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau lúc khó khăn hoạn nạn, đề cao chính nghĩa, phản kháng những điều trái với đạo lý, luật tục; đề cao cái đẹp về sức mạnh hình thể lẫn sức mạnh tâm hồn Sử thi còn ca ngợi tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình, chế độ nô lệ sơ khai, mong muốn chinh phục thiên nhiên để cuộc sống tốt đẹp hơn Ngoài ra, sử thi còn miêu tả cuộc sống sinh hoạt, lao động bình thường giản dị của buôn làng; thể hiện những nguyện vọng, ước mơ chính đáng của con người về một thế giới tốt đẹp hơn giữa người với người, giữa con người với thế giới tự nhiên và giữa con người với các đấng thần linh

Trong các cốt truyên khan sử thi, mỗi sự kiên, mỗi chuỗi hành động được thể hiện tương đối hoàn chỉnh trong một phần nào đó của tác phẩm Theo thời gian (tính theo cuộc đời của các nhân vật chính), nhân vật chính được đặt vào những hoàn cảnh, những mâu thuẫn (phần nhiều là giống nhau), và theo đó là các hành động tương ứng của nhân vật, các biến cố và dẫn đến kết thúc truyện

kể

2.2.3 Ngôn ngữ diễn xướng

Ngôn ngữ diễn xướng của sử thi Êđê là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lời vànhạc Về phần lời, sử thi Ê đê đều thể hiện một hình thức ngôn ngữ đặc biệt là lời nói vần (klei duê) Trong khi diễn xướng người nghệ nhân còn vận dụng các

Ngày đăng: 11/04/2018, 11:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w