Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng biệt tạonên sự thống nhất, đa dạng và phong phú của văn hóa Việt Nam.Bản sắc văn hóa của các dân tộc được thể hiện rõ trong các hoạt độngkinh tế,
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
Phần 1.KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ TỘC NGƯỜI BRU- VÂN KIỀU3 1.1 Khái quát về tỉnh Quảng Trị 3
1.1.1.Về dân số 3
1.1.2 Về diện tích 4
1.1.3.Về văn hóa 4
1.2 Khái quát về tộc người Bru-Vân Kiều 5
1.2.1 Tên gọi ( tộc danh ), dân số, nguồn gốc lịch sử và phân bố dân cư 5
1.2.2 Đặc điểm văn hóa của dân tộc Bru-Vân Kiều 6
Phần 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA TỘC NGƯỜI BRU -VÂN KIỀU 10
2.1 Các hình thức văn nghệ dân gian của người Bru-Vân Kiều 10
2.1.1 Dân ca, hát giao duyên 10
2.1.2 Nhạc cụ dân gian 13
2.1.3 Truyện cổ 15
2.1.4 Âm nhạc 16
2.2 Giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc Bru-Vân Kiều 17
2.2.1 Giá trị lịch sử 17
2.2.2 Giá trị nhân văn 17
2.2.3 Giá trị nghệ thuật 20
2.2.4 Giá trị cố kết cộng đồng 21
Phần 3 ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỂ QUẢN LÝ, BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ CỦA VĂN NGHỆ DÂN GIAN TỘC NGƯỜI BRU- VÂN KIỀU 23
3.1 Đánh giá các giá trị văn nghệ dân gian của người Bru-Vân Kiều 23
3.1.1 Ưu điểm 23
3.1.2 Nhược điểm 23
3.2 Các giải pháp để quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị văn nghệ dân gian của tộc người Bru-Vân Kiều 25
KẾT LUẬN 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
PHỤ LỤC 33
Trang 3Dải đất hình chữ S này là nơi sinh sống của 54 dân tộc anh em ; trải quabao thế kỷ mặc dù sinh sống ở các khu vực khác nhau trên cả nước nhưngcộng đồng các dân tộc Việt Nam đã gắn bó, đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau, đấutranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ bờ cõi, giành độc lập tự do và xây dựngđất nước 54 dân tộc Việt Nam được xếp theo 3 ngữ hệ và 8 nhóm ngôn ngữ:Việt – Mường; Môn- Khơ me; Tày – Thái; Mông – Dao; Ka Đai; Tạng -Miến; Nam Đảo;Hoa- Hán Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng biệt tạonên sự thống nhất, đa dạng và phong phú của văn hóa Việt Nam.
Bản sắc văn hóa của các dân tộc được thể hiện rõ trong các hoạt độngkinh tế, xã hội và đặc biệt là hoạt động văn hóa văn nghệ dân gian Qua tìmhiểu văn hóa nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ me, tôi chọn dân tộc Bru- Vân Kiều-sinh sống chủ yếu ở khu vực Nam Trung Bộ nhưng có nền văn hóa văn nghệhết sức phong phú và đặc sắc để tìm hiểu
Hiện nay khi quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra rấtmạnh mẽ; văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa các dân tộc thiểu số ViệtNam nói riêng đang có nguy cơ bị mai một thậm chí là có nguy cơ mất dần đibản sắc đặc trưng vốn có của nó từ trước Chính vì vậy là sinh viên chuyênngành quản lý văn hóa, tôi nhận thấy mình cần có trách nhiệm nghiên cứu để
từ đó góp phần giữ gìn và bảo tồn nền văn hóa, văn nghệ dân gian của dân tộcBru- Vân Kiều nói riêng và Việt Nam nói chung nên tôi đã quyết định chọn đề
tài “ Tìm hiểu, mô tả, đánh giá và đề xuất bảo tồn những giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc Bru- Vân Kiều” làm bài tiểu luận kết thúc học phần Văn hóa
các dân tộc thiểu số Việt Nam
Trang 42 Cảm nhận khi học và nghiên cứu học phần văn hóa các dân tộc thiểu Việt Nam:
Ở học kỳ này, tôi được tìm hiểu về học phần Văn hóa các dân tộc thiểu
số Việt Nam do giảng viên Trần Thị Phương Thúy hướng dẫn và giảng dạy.Đây là một học phần chuyên ngành quản lý văn hóa của chúng tôi, học phầnnày nhắm đến mục đích hệ thống hóa và cung cấp cho sinh viên những kiếnthức về những vấn đề như: địa bàn cư trú, số dân,các hoạt động như: ăn, ở,các phong tục tập quán, tín ngưỡng, văn nghệ dân gian của các dân tộc thiểu
số sinh sống trên đất nước Việt Nam
Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam là một học phần rất hữu íchgiúp cho sinh viên văn hóa nói chung và tôi nói riêng có cái nhìn đúng đắn,bao quát và đầy đủ về các tộc người Khi học học phần này, tôi cảm thấy rấtthú vị và yêu thích bởi lẽ từ học phần này tôi có thêm những kiến thức rất bổích từ những lần tìm hiểu về đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán, trangphục, văn hóa văn nghệ dân gian của các dân tộc mà trước đây tôi chưađược biết Với tôi thì tôi thấy nó không quá phức tạp và trừu tượng như nhữngmôn đại cương, mà học phần Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam nàymang đến cho tôi cảm giác gần gũi, dễ hiểu, dễ tiếp cận Thông qua mỗi lầntìm hiểu về các tộc người tôi như được hòa mình vào cuộc sống của họ, đi tìmtòi khám phá những điều mới lạ mà mình chưa được khám phá bao giờ
Từ việc tìm hiểu về các tộc người như thế này để rồi từ đó đề ra cácgiải pháp để giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộcViệt Nam Đồng thời những kiến thức tìm hiểu được cũng giúp cho tôi cóthể áp dụng vào học tập cũng như công việc sau này.Và nếu có thể thì vớikiến thức đã tìm hiểu và học tập từ giảng viên tôi có thể giới thiệu đến cácbạn nước ngoài về văn hóa nước Việt Nam mình ra nước ngoài để mọi ngườibiết đến
Trang 5NỘI DUNG
Phần 1.KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ TỘC NGƯỜI BRU- VÂN KIỀU
1.1 Khái quát về tỉnh Quảng Trị
Quảng Trị là một tỉnh ven biển thuộc vùng cực Bắc Trung Bộ ViệtNam Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế,phía Tây giáp các tỉnh Savannakhet và Saravane của Cộng hòa Dân chủ Nhândân Lào, phía Đông giáp biển Đông Tỉnh lỵ của Quảng Trị là thànhphố Đông Hà nằm cách thủ đô Hà Nội 593 km về phía Bắc và cách Thànhphố Hồ Chí Minh 1.120 km về phía Nam theo đường Quốc lộ 1A
Đây là tỉnh có người dân tộc Bru-Vân Kiều tập chung sinh sống nhiềunhất của cả nước ( năm 2009 là 55.079 người )
1.1.1.Về dân số
Năm 2010 dân số trung bình của tỉnh là 601.672 người Toàn tỉnh có136.743 hộ gia đình, bình quân 4,4 nhân khẩu/hộ Dân số thành thị có170.073 người, chiếm 28,31% Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 1,05%năm 2007 và 1,12% năm 2010; dân số cơ học tăng không đáng kể Bình quânmỗi năm dân số trung bình toàn tỉnh tăng thêm khoảng 5.000-6.000 người
Trong cơ cấu dân số phân theo giới tính, nữ chiếm 50,3%, nam chiếm49,7%; phân theo độ tuổi, từ 0-59 tuổi chiếm khoảng 90,9%, chỉ tiêu này chothấy đây là cơ cấu dân số trẻ, riêng dân số dưới 15 tuổi chiếm 37,9%, đây làlực lượng lao động dự trữ dồi dào của tỉnh
Mật độ dân số toàn tỉnh là 126,7 người/km2,thuộc loại thấp so với cáctỉnh, thành khác trong cả nước Dân cư phân bố không đều giữa các vùng lãnhthổ, tập trung đông ở các thành phố, thị xã, các huyện đồng bằng như thị xãQuảng Trị: 308 người/km2, thị xã Đông Hà: 1.157 người/km2, trong khi đóhuyện Đakrông chỉ có 29 người trên km2, Hướng Hoá 64 người/km
Trang 6Quảng Trị có tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, đadạng Du lịch văn hóa lịch sửđược tạo bởi hệ thống di tích chiến tranh thờihiện đại hết sức đồ sộ và độc đáo với 436 di tích quan trọng, trong đó cónhững địa danh nổi tiếng đã đi vào lịch sử như: Đôi bờ Hiền Lương - BếnHải, Hàng rào điện tử Mc.Namara, địa đạo Vịnh Mốc, Thành cổ Quảng Trị,căn cứ Dốc Miếu, Đường 9 – Khe Sanh…; Du lịch sinh thái nghỉ dưỡngbiểnvới 75 km bờ biển tạo nên các bãi tắm đẹp, môi trường trong lành như:Cửa Tùng, Cửa Việt, đảo Cồn Cỏ, Mỹ Thủy, Triệu Lăng, Vĩnh Kim - VĩnhThái ; Du lịch sinh thái rừng, nghỉ dưỡng, chữa bệnhvới Khu bảo tồn thiênnhiên Đakrông, suối nước nóng Kalu, Khe Gió, thác Ồ Ồ, Rú Lịnh, Trằm TràLộc… Du lịch nghiên cứu văn hóa dân tộc, tâm linhvới Tổ đình Sắc Tứ TịnhQuang, Nhà thờ La Vang, hệ thống dẫn thủy cổ Gio An, văn hóa các dân tộcPakô, Vân Kiều.
Trong những năm qua, cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật được đầu tư xâydựng đồng bộ Các di tích văn hóa lịch sử được quan tâm đầu tư tôn tạo, cáckhu du lịch được quy hoạch xây dựng Tỉnh đã xây dựng xong khu Kinh tếThương mại đặc biệt Lao Bảo, hạ tầng dịch vụ Khu Cửa khẩu quốc tế LaoBảo gắn với thực hiện cải cách thủ tục xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, đẩymạnh hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch, đào tạo nguồn nhân lực, tích cực
Trang 7chủ động mở rộng quan hệ hợp tác Kinh tế - Thương mại - Dịch vụ với cácnước trong khu vực, đặc biệt là Lào và Thái Lan.
Hiện nay tỉnh đang từng bước kêu gọi đầu tư các dự án du lịch lớn, xâydựng các khu du lịch, các trung tâm vui chơi giải trí để phục vụ khách du lịchnhư: Dự án đường du lịch hai bờ sông từ cầu Hiền Lương dọc về Cửa Tùng;
Dự án khu du lịch biển Cửa Việt - Cửa Tùng gắn với du lịch đảo Cồn Cỏ; Dự
án công viên du lịch và khách sạn quốc tế Khu Kinh tế - Thương mại LaoBảo; Dự án du lịch đường Hồ Chí Minh huyền thoại gắn với khu bảo tồnthiên nhiên Đakrông; Dự án khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái Đakrông… Bêncạnh đó, tỉnh Quảng Trị cũng đang lập dự án phát triển các làng nghề truyềnthống gắn với du lịch, kết hợp các tour du lịch để giới thiệu văn hóa củaQuảng Trị đến với du khách và bạn bè quốc tế
1.2 Khái quát về tộc người Bru-Vân Kiều
1.2.1 Tên gọi ( tộc danh ), dân số, nguồn gốc lịch sử và phân bố dân cư
*Về tên gọi
Bru-Vân Kiều là tên gọi chính thức của dân tộc Bru-Vân Kiều Ngoài
ra họ còn nhiều tên gọi là Bru, Vân Kiều, Mang Coong, Trì, Khùa
* Về dân số
“Theo tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 1999, 2009 thì dân tộc này có khoảng 74.506 người, sống tập trung ở miền núi của Quảng Trị”[1,Tr.73].
* Về nguồn gốc lịch sử
Dân tộc Bru-Vân Kiều là cư dân bản địa cư trú lâu đời ở khu vực BắcTrường Sơn thuộc vùng đất miền Tây các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, ThừaThiên Huế Người Bru-Vân Kiều có các nhóm theo cách gọi của địa phương
là Vân Kiều, Trì, K hùa, Ma Coong Tiếng nói của người Bru-Vân Kiều thuộcnhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me thuộc ngữ hệ Nam Á gần gũi với tiếng nóicủa các dân tộc sống cận kề là Tà Ôi, Cờ Tu
Trang 8Về nguồn gốc lịch sử của người Bru-Vân Kiều xa xưa cư trú chủ yếu ởvùng Trung Lào, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ngày nay Do biếnđộng lịch sử một số ít đồng bào di cư theo hướng Tây Bắc định cư ở miềnĐông Bắc Thái Lan Một bộ phận lớn di cư theo hướng Đông vượt dãyTrường Sơn định cư ở miền Tây các tỉnh Quảng Bình,Quảng Trị, Thừa ThiênHuế như ngày nay Vùng đất này đã trở thành quê hương bản quán lâu đờicủa người Bru-Vân Kiều.
* Về phân bố dân cư
Tộc người Bru-Vân Kiều phân bố và tập chung đông nhất ở tỉnh QuảngTrị ( các huyện : Hướng Hóa, Do Linh, Cam Lộ): 55.079 người; QuảngBình( các huyện: Minh Hóa, Bố Trạch, Lệ Thủy): 14.613người; Đăk Lắk:3.348 người; Thừa Thiên Huế: 1.114 người; Thành Phố Hồ Chí Minh: 26người; Kon Tum: 21 người theo số liệu thống kê năm 2009
1.2.2 Đặc điểm văn hóa của dân tộc Bru-Vân Kiều
* Văn hóa vật chất: bao gồm trang phục, ẩm thực, nhà ở, phương tiện đilại cưới, ông mối là người giảng hòa nếu đôi vợ chồng có xích mích Nhiệm
vụ giám sát của ông mối kéo dài cho đến khi ông mối hoặc hai vợ chồng đóqua đời
-Trang phục
Tập quán cổ truyền xưa kia của người Bru-Vân Kiều dù đàn ông hayđàn bà, đều búi tóc, chỉ quy định riêng cho con gái trẻ chưa chồng thì búi tócbên trái, khi có chồng được qui định búi trên đỉnh đầu Về sau, phụ nữ thuộcnhóm Vân Kiều thường hay đội khăn vuông trắng, hai đầu khăn thít lại, đãvểnh lên như hai cái - tai (nhóm Khua)
Người Bru-Vân Kiều sinh sống bằng cách săn bắn và trồng trọt nêntrang phục của người Nam thường ở trần và đóng khố để phù hợp với nhữngsinh hoạt hằng ngày Trong khi đó, phụ nữ Bru- Vân Kiều thường mặc váydài qua gối từ 20-25 cm Có nhóm mặc áo chui đầu, không tay, cổ khoét hìnhtròn hoặc vuông Có nhóm nữ đội khăn bằng vải quấn thành nhiều vòng trên
Trang 9đầu rồi thả sau gáy, cổ đeo hạt cườm, mặc áo cánh xẻ ngực, dài tay màu chàm
cổ và hai nẹp trước áo có đính các 'đồng tiền' bạc nhỏ màu sáng, nổi bật trênnền chàm đen tạo nên một cá tính về phong cách thẩm mỹ riêng trong diệnmạo trang phục các dân tộc Việt Nam
Nói đến trang phục của người dân Bru-Vân Kiều, người ta khôngkhỏi nhắc đến một số “tài sản” vô giá như Xân, áo “Ada”, chiếc khăn Đamnối tiếng Chiếc khăn đam dùng quấn thành nhiều vòng trên đầu rồi thả saugáy, là trang phục truyền thống của đồng bào Khăn được dệt bằng vải có dảingang, hai đầu có xúc tua, dài khoảng gần 1 mét, thường có màu sắc sặcsỡ.Người dân Bru-Vân Kiều sử dụng Xân, Ada, khăn Đam trong ngày lễ tết,
ma chay, cưới xin và trong cả đời sống sinh hoạt hằng ngày
Cho đến nay, trang phục cùng với các trang sức truyền thống đã tônthêm vẻ đẹp rực rỡ của những sơn nữ Bru-Vân Kiều giữa màu xanh vô tậncủa núi rừng Các vòng hạt cườm đeo cổ làm từ chất liệu đá quý được xâuthành chuỗi, có màu tím hồng, ghè theo hình ô van Những chuỗi cườm là đồtrang sức mang trong cuộc sống đời thường, đặc biệt không thể thiếu trongcác sự kiện quan trọng của gia đình, làng bản Thêm nữa là những vòng đeotay, khuyên tai, vòng cổ làm từ một số kim loại sáng màu, không gỉ, đa phầnbằng bạc
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đồng bào dân tộc Bru-VânKiều đời sống người dân đang có những điểm mới khởi sắc hơn, điều nàyđược thể hiện qua sự thay đổi phong cách trang phục Đàn ông Bru-Vân Kiềuhiện nay được mặc những bộ trang phục như người miền xuôi, ngược lại, phụ
nữ mặc những chiếc váy trang trí tinh xảo và cầu kỳ hơn, những người cóđiều kiện kinh tế khá giả còn đính kim loại bạc tròn ở mép cổ và hai bên nẹpáo
- Ẩm thực
Người Bru-Vân Kiều thích các món nướng Canh thường nấu lẫn rauvới gạo và cá hoặc ếch nhái Họ ăn cơm tẻ thường ngày; khi lễ hội, cơm nếp
Trang 10nấu trong ống tre tươi; quen ăn bốc, uống nước lã, rượu cần (nay rượu cất làthông dụng) Nam nữ đều hút thuốc lá, tẩu bằng đất nung hoặc làm từ cây le.[A1;Tr33]
- Nhà ở
Người Bru-Vân Kiều sống ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên thuộcmiền tây các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, Quảng Bình Mỗi làng là mộtđiểm cư trú quần tụ Mỗi gia đình có nhà riêng, ở nhà sàn, bếp lửa bố trí ngaytrên sàn nhà, kiêng nằm ngang sàn Nhóm Trì, Khùa, Ma Coong nhà thườngngăn thành buồng làm chỗ ngủ riêng cho vợ chồng gia chủ, cho bố mẹ già(nếu có), cho con đã lớn
- Phương tiện đi lại
Người Bru-Vân Kiều dùng các loại gùi, đeo gùi sau lưng, 2 quai gùiquàng vào đôi vai Chiếc gùi gắn bó khăng khít với mỗi người như hình vớibóng, là vật dụng vận tải đa năng
* Văn hóa tinh thần bao gồm: thờ cúng, văn nghệ, tín ngưỡng
- Thờ cúng
Người Bru-Vân Kiều chú trọng thờ cúng tổ tiên Theo họ, hiện thân của
"linh hồn" các thân nhân quá cố là những mảnh nồi, mảnh bát v.v đặt trongchòi nhỏ dựng riêng Có nơi thờ cúng cả thần bản mệnh: mỗi người trong giađình có một chiếc bát đặt chung trên bàn thờ tại nhà Người ta rất tin và các
"thần linh" (Yang): thần lúa, thần bếp lửa, thần núi, thần đất, thần sông nước v.v Ma gia đình đằng vợ (Yang cu gia) cũng được con rể thờ cúng.
hát ru trẻ con Trong đám ma và lễ hội đâm trâu thường có múa kết hợp với
Trang 11hát Nhạc cụ phổ biến là: cồng, chiêng, đàn Achung,Plư,Ta-lư, kèn ral, khèn Pi, nhị, đàn môi, trống, sáo
Amam,Ta Tín ngưỡng
Chú trọng thờ cúng tổ tiên và thờ đa thần (Yang, thần lúa, thần bếplửa, thần núi, thần đất, thần sông nước v.v
* Văn hóa xã hội
Quan hệ xã hội: Dân làng thuộc các dòng họ khác nhau, cùng sinh sốngtrên một địa vực, trong đó đất trồng trọt thuộc về từng gia đình, kể cả khi bỏhoá Người "già làng" có vai trò quan trọng đối với đời sống của làng Sựgiàu-nghèo hình thành, nhưng hầu hết các hộ trong làng tương đối khác biệtnhau Tài sản được xác định bằng chiêng, cồng, ché, nồi đồng, trâu v.v Hiện tượng người bóc lột người không phổ biến
Trang 12Phần 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ VĂN NGHỆ DÂN GIAN
CỦA TỘC NGƯỜI BRU -VÂN KIỀU
2.1 Các hình thức văn nghệ dân gian của người Bru-Vân Kiều
Trong đời sống của người dân tộc thiểu số Bru-Vân Kiều ở Quảng Trịthì các làn điệu dân ca, cùng với các loại nhạc cụ dân tộc đóng một vai trò hếtsức quan trọng, là món ăn tinh thần không thể thiếu trong sinh hoạt văn hóacộng đồng của mỗi người dân Với hàng ngàn năm sinh sống trong các thunglũng, trên những lèn núi đá, họ đã tạo ra nhiều loại nhạc cụ, nhiều điệu hát,điệu múa mang giá trị văn hoá rất đặc trưng của cộng đồng dân tộc mình nhưcác điệu múa mừng lúa mới, múa đám chay, hát giao duyên, hay các nhạc cụtruyền thống như kèn, sáo, đàn và các dụng cụ hằng ngày sử dụng lên nươngrẫy như A rừa, A chói…
2.1.1 Dân ca, hát giao duyên
Đối với người Bru-Vân Kiều, dân ca không chỉ thông thường là hìnhthức giải trí mà đã trở thành bản sắc gắn với tín ngưỡng và truyền thống củadân tộc mình Dù lên nương hay lên rẫy, dù sinh hoạt lễ hội hay trong laođộng sản xuất thì những câu dân ca vẫn gần gũi, đằm thắm, mộc mạc vút baygiữa núi rừng Trường Sơn Bên ánh lửa bập bùng của những mùa lễ hội, âmthanh tiếng khèn vang vọng núi rừng của những đêm đi “Sim”, của mỗi đêmtrăng trong bản là lúc khơi dậy niềm đam mê dân ca của nhiều thế hệ già trẻ,gái trai Họ hát để thể hiện sự đủ đầy sau những vụ mùa bội thu, hát để thểhiện niềm vui sướng khi được về làng mới…
Dân ca của dân tộc này có nhiều làn điệu như:
“Chà chấp” – lối vừa hát vừa kể rất phổ biến.
hay:
“Sim” – hình thức hát nam nữ
Theo truyền thống của người Bru-Vân Kiều, khi người con trai con gáiBru-Vân Kiều đến tuổi hẹn hò thì họ đi sim để tìm hiểu nhau, điệu hát tà-oải
Trang 13trở thành cầu nối cho người con trai con gái đến gần nhau hơn Trong hát oải, người con trai sử dụng đàn Tính-tùng làm nhạc đệm, người con gái sửdụng kèn A-mam để đáp trả tâm tình Cùng với tiếng hát thiết tha chân tìnhthì việc sử dụng khéo léo các nhạc cụ cũng góp phần giúp những chàng trai côgái Vân Kiều “ghi điểm” trong mắt nhau Kèn A-mam có thể dùng để độc tấuhoặc cả hai người cùng thổi, thông thường là một người nam và một người
tà-nữ, được sử dụng trong hát tà-oải để giao duyên, hẹn hò hay ngâm thơ đốiđáp
Trong lễ hội đi sim, người dân tộc Vân Kiều vẫn lưu truyền hình thứchát đối đáp- một nét đẹp trong văn hóa ứng xử đầy trữ tình, đằm thắm, tônvinh vẻ đẹp văn hóa truyền thống, đặc sắc của dân tộc mình Đó là hát giaoduyên với ba làn điệu chính: cha chấp, oát, xanớt.[A2;Tr33]
Cha chấp là loại hình đối đáp dành cho thanh niên nam nữ trong nhữngbuổi đầu hẹn hò Với nhạc điệu ấm áp và ca từ trữ tình, họ hát không phải đểthử tài mà chỉ để bày tỏ nỗi lòng, thông tin cho nhau thân phận, hoàn cảnh vàcảm nhận của mình về đối tượng
Bước qua giai đoạn đầu bỡ ngỡ còn nhiều nghi ngại, họ dần trở nênthân thuộc Làn điệu oát giúp đôi bạn trẻ xích lại gần nhau hơn Tình yêu của
họ lớn dần lên qua những lời ca, điệu hát Những câu hát oát như trở thànhngười mai mối dẫn dắt họ tìm đến bên nhau
Xà nớt là làn điệu dân ca để bày tỏ mong ước kết đôi của hai người yêunhau Đó tự thấy được niềm khát khao yêu đương của lòng mình, thấy khôngthể thiếu được người mình yêu dấu trong đời
Tục đi sim thường diễn ra vào các mùa trăng, nhất là những đêm trăngsáng Vì thế mùa trăng được xem là thời điểm lý tưởng nhất cho những buổi
đi sim, là thời điểm mà các chàng trai, cô gái Vân Kiều trông ngóng, đợi chờ.Dưới ánh trăng sao vằng vặc, các chàng trai gửi gắm, thăm dò tình cảm đếncác cô gái qua làn điệu oát:
Trang 14Bóng em thấp thoáng như sao mới mọc Dáng em lấp lánh như vầng trăng đêm mười sáu
Ta đi tìm em, em ơi Tình em vời vợi như trăng đêm mười bảy
Ta đang lần tìm đến người, người ơi!
Để đáp lại và cũng để thổ lộ nỗi lòng của mình, giọng hát của ngườicon gái cũng cất lên nghe tình tứ, e ấp nhưng không kém phần cháy bỏng:
Nàng (tên một vì sao) ra đi đã tới gần chòm núi Anh ơi sao anh vẫn chưa ngủ
Anh cứ Oát hoài Trên các chòi lúa rẫy Anh có biết không?
Em ở chòi bên này chưa ngủ đợi anh Muốn thổi kèn Aman nhưng lại thiếu một người Kèn Aman không thổi một người
Em biết thương ai bây giờ ngoài anh
Núi rừng, sông suối cũng là nơi hò hẹn lý tưởng của các nam thanh nữ
tú, là bạn đồng hành thân thiết của những đêm tình yêu, là nhân chứng chobao mối tình nên duyên vợ chồng Lối hát giao duyên thể hiện tình cảm mộtcách tình tứ, ý nhị và sâu sắc:
Nghe tin anh đến lòng em mãi đợi Nghe tin anh đến tình em mong chờ Thuốc hút ngon, trầu cau để sẵn Đón anh tối nay
Em đón đầu đường
Em chờ đầu ngõ Anh đến mừng khôn xiết Bối rối muốn ôm anh
Trang 15Đáp lại lời ca mời chào của các cô gái, các chàng trai cũng thận trọngthăm dò:
Lời nói đưa đừng để lòng anh xao xuyến Tình thoảng qua đừng để nỗi nhớ trong anh Anh chỉ như người mất hồn
Anh chỉ như người cuồng điên Như một trăm năn gặp một lần Như mười năm gặp một dịp
Ta hãy chung vui trong phút chốc Cái siêng năng của em hãy gác lại Cái lười biếng của em hãy cất đi
Ta cùng thức theo vầng trăng sáng đêm nay
Ta cùng vui theo năm tháng trọn đầy.
Lời hát không chỉ để bày tỏ tình cảm mà qua đó các nam nữ thanh niêncòn bày tỏ khao khát tìm được một người yêu lý tưởng
Vắng nơi ăn uống Lại thường có mặt nơi việc chung của làng
Xa nhà chàng xếp đầy xương các to
Đò sắt chàng rèn, rựa như có mũi Móng tay chàng mòn vì đan những chiếc gùi cho em 2.1.2 Nhạc cụ dân gian
Lịch sử mưu sinh của đồng bào dân tộc Bru-Vân Kiều gắn liền với núirừng Cuộc sống quanh năm gắn bó với con sông, con suối với cảnh nươngrẫy, núi non trùng điệp đã tác động rất lớn đến sự hình thành nhân cách cũngnhư lối sống sinh hoạt đặc trưng của con nguời nơi đây Và nhạc cụ truyềnthống của họ cũng được hình thành theo lối sống sinh hoạt lao động đó Bằngnhững nguyên liệu có từ thiên nhiên như tre, nứa, lá cây và một số loại câyrừng khác họ có thể chế tạo ra những loại nhạc cụ độc đáo thông qua đôi bàntay lao động khéo léo và đầu óc cảm nhận âm thanh tuyệt mỹ Nhạc cụ của họ
Trang 16là những sản phẩm thủ công nên mang tính thuần túy riêng biệt Sáng tạonhạc cụ từ cuộc sống sinh hoạt hằng ngày nên việc sử dụng nó cũng gắn liềnvới những sự kiện của đời sống Vào các ngày lễ hội hay cưới hỏi chúng ta dễdàng bắt gặp những nhạc cụ này Tùy từng sự kiện khác nhau mà người dânnơi đây sẽ sử dụng loại nhạc cụ phù hợp.
Nhạc cụ truyền thống của người Bru-Vân Kiều tương đối nhiều Tuynhiên, hiện nay người ta chỉ sưu tầm và lưu giữ được một số loại tiêu biểunhư: Sáo, khèn bè, Pluoaq, đàn ta lư, thanh la, chiêng, kèn Trong số các loạinhạc cụ này, loại nhạc cụ phổ biến nhất phải kể đến là sáo Sáo của ngườiBru-Vân Kiều có rất nhiều loại như Pi là loại sáo dùng để thổi trong lễ cúng
tế, đặc biệt là lễ cúng cầu hồn, nó thể hiện sự trang trọng linh thiêng của cácthấy mo Nếu không cách điệu thì sáo Pi có thể nói là một nét văn hóa tínngưỡng đặc sắc trong cúng tế của người Bru-Vân Kiều
Sáo Khui là loại sáo phổ nhạc hát đệm làn điệu Xà nớt, thường để diễn
tả, biểu đạt nhân tình thế thái về quan hệ xã hội, dòng tộc, làng bản Qua sáoKhui người ta giải bày nhiều điều thầm kín trong lòng mà chỉ có cuộc giaolưu đó mới biểu đạt được một cách thấu đáo cái lý và cái tình Sáo Teril làmột loại nhạc cụ dùng cho thanh niên hát giao duyên bằng làn điệu Oát.Ngoài ra người Bru-Vân Kiều có Khèn môi là loại nhạc cụ dùng cho nam và
nữ thổi trong lúc hát giao duyên, tâm tình tự sự Pluaq là loại nhạc cụ đượclàm bằng ống nứa và có dây tơ rừng, nhìn kiểu như đàn nhị.[A3;Tr34]
Đàn Ta lư hay còn gọi là Măngđôlin có 2 dây, được làm bằng gỗ mực,
có thùng đàn rỗng Loại nhạc cụ này phục vụ cho các đôi nam nữ vừa hát dân
ca kết hợp với các bài hát đương đại, đặc biệt nó được dùng trong các lễ hộivui tươi, nhộn nhịp, tự nhiên và nó không bao giờ phục vụ trong đám đình.Khèn là loại nhạc cụ được người Bru-Vân Kiều sử dụng phổ biến trong các lễhội tươi vui Thanh la và Chiêng được làm bằng đồng Chiêng là loại nhạc cụthường sử dụng trong các lễ hội truyền thống như Mừng lúa mới, lễ Khơi, Lễ
Trang 17hội đâm trâu còn Thanh la là loại nhạc cụ truyền thống mà người Bru VânKiều dùng để hòa giải và thể hiện sự phẫn nộ của mình
Ngoài sáo là loại nhạc cụ đặc biệt ra thì còn có Kèn A- Mam , cũng làmột nhạc cụ dân gian độc đáo và đặc sắc của người Bru-Vân Kiều ở xãTrường Sơn
Nhìn bên ngoài thì kèn A-mam rất đơn giản, chỉ dài chừng 40cm, tobằng chiếc đũa nhưng để làm cho A-mam trở thành một nhạc cụ thì khôngđơn giản chút nào Kèn A-mam được làm bằng cây đương hay còn gọi là câygiàng (theo cách gọi của bà con) lấy ở trong rừng Loại cây này vừa dẻo dai,vừa có độ chắc, không bị héo, khi chọn phải chọn những nhánh nhỏ nhưngphải già, cứng, to bằng chiếc đũa, dài khoảng 30-40cm, không chọn nhữngnhánh còn non vì dễ bị xốp và héo, khi lấy về thì bị khô hai đầu không thổiđược
Sau khi đã chọn được vật liệu thì tiến hành chế tác nhạc cụ, có thể đểtươi hay phơi khô rồi dùng dao nhọn khéo léo đục hai lỗ nhỏ, một lỗ phía trên
và một lỗ phía dưới Vì nhánh cây rất nhỏ nên khi đục lỗ phải rất cẩn thận, lỗkhông được quá nhỏ, cũng không quá to, vị trí của hai lỗ phải phù hợp và cânxứng với chiều dài của đoạn cây để khi thổi thì phát ra được nhiều âm thanhkhác nhau tùy theo sự tinh tế của người sử dụng.[A4;Tr34]
Việc sử dụng hơi để thổi kèn một cách khéo léo tạo ra những âm thanhthanh thoát, lúc sâu lắng, lúc trầm bổng và dìu dặt thể hiện tâm trạng củangười thổi kèn Người thổi A-mam vừa thổi vừa hát tà-oải hoặc ngâm thơ.Nếu như hai người cùng thổi, một người thổi, một người hát thì cần có sựđồng điệu trong tâm hồn và thấu hiểu lẫn nhau thì mới có thể tạo nên nhữnggiai điệu đi sâu vào lòng người
2.1.3 Truyện cổ
Truyện cổ có tần số xuất hiện nhiều và đóng vai trò chủ đạo; thể hiệnquan niệm của con người về vũ trụ, tự nhiên, cuộc đấu tranh chống chọi vớithiên nhiên, phản ánh xã hội, tâm tư khát vọng của đồng bào vươn đến cuộc
Trang 18sống ấm no, hạnh phúc Bên cạnh đó, truyện cổ dân tộc thiểu số Quảng Trịcòn có các nội dung nhân bản khác là răn dạy đạo đức, biểu dương tính nhânđạo, khuyến khích con người sống lương thiện, chung thuỷ, biết thương yêu
kẻ yếu, người nghèo, đấu tranh với bất công tàn ác của tầng lớp thống trị,hoặc các thói hư tật xấu của con người
Mở đầu các câu truyện cổ thường là: Pơblời Bớn (Trời đất) sinh ra chưa
có người mà chỉ có cây cối và muôn loài thú vật; “Thuở ấy, người và hoangthú đều ở chung trong một bản rừng” (Truyện Pí trỏ, pí cula - dân tộc Bru-Vân Kiều)
Tuy nhiên, các hiện tượng tự nhiên khác, được đồng bào giải thích mộtcách độc đáo trong nhiều truyện cổ tích thần kỳ Đối với họ, các địa danh, cácdấu vết quen thuộc trong làng bản đều có một lý do sinh thành rất cụ thể Địadanh Eo Ông Đùng hình thành nên từ một cuộc chiến giữa một người khổng
lồ (ông Đùng) với thằng Sắt (Truyện Eo ông Đùng) Núi Cu Lôông sở dĩ linhthiêng là do đã trợ giúp con người thoát hiểm trước một trận đại hồng thuỷ(Truyện Sự tích núi Cu Lôông)
Trong vốn truyện cổ có nhiều truyện kể về các loại động vật, từ các convật hiền lành thân thuộc (con heo đực, con mèo, con chó, con tắc kè, conmang, con đađa), đến các loài thú dữ hoang dã (con hổ, con báo, con rắn độc,con bò tót, mụ cá chằn) Các truyện này có nội dung phản ánh đặc điểm cácloại vật, giải thích các nghi lễ, tín ngưỡng liên quan tới con vật, thông qua cáctình huống kiện cáo trời, hại người, cứu người và nhiều tình huống phong phúkhác trong đời sống thường nhật đầy cam go của đồng bào
2.1.4 Âm nhạc
Ngày nay, người Bru-Vân Kiều ở tỉnh Quảng Trị vẫn còn lưu giữ khotàng âm nhạc dân gian đặc sắc và phong phú Âm nhạc dân gian giữ một vaitrò hết sức quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của con người, đặcbiệt là đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số như Bru-Vân Kiều