Là một sinh viên chuyên ngành quàn lý văn hóa, trong quá trình học tập,tìm hiểu về các dân tộc trong 54 dân tộc Việt Nam tôi thấy được những nét đẹpvăn hóa và cuộc sống sinh hoạt của các
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Nêu cảm nhận về môn học 2
NỘI DUNG 4
PHẦN 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ TỘC NGƯỜI HÀ NHÌ 4
1.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu tộc người Hà Nhì 4
1.2 Khái quát về tộc người Hà Nhì ở huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai 4
1.2.1 Địa bàn nghiên cứu, Tộc danh,ngôn ngữ, nguồn gốc lịch sử 4
1.2.2 Khái quát về đặc điểm văn hóa 6
PHẦN 2: KHÁI QUÁT NGHIÊN CỨU VỀ DÂN TỘC HÀ NHÌ 9
2.1 Một số loại hình văn hóa dân gian của người Hà Nhì 9
2.1.1 Truyền thuyết 9
2.1.2 Áng sử thi của người Hà Nhì 13
2.1.3 Dân ca 16
2.1.4 Điệu múa của người Hà Nhì 18
2.1.5 Âm nhạc, trò chơi dân gian của người Hà Nhì 19
2.2 Giá trị văn hóa dân gian của người Hà Nhì 23
2.2.1 Giá trị lịch sử 23
2.2.2 Giá trị nhân văn 24
2.2.3 Giá trị nghệ thuật 25
PHẦN 3: ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP ĐỂ QUẢN LÝ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ CỦA VĂN HÓA DÂN GIAN CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ 26
Trang 23.1 Đánh giá các giá trị văn hóa dân gian của người Hà Nhì 26
3.2 Các biện pháp bảo tồn giá trị văn hóa dân gian của người Hà Nhì 27
KẾT LUẬN 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
PHỤ LỤC 32
Trang 3Là một sinh viên chuyên ngành quàn lý văn hóa, trong quá trình học tập,tìm hiểu về các dân tộc trong 54 dân tộc Việt Nam tôi thấy được những nét đẹpvăn hóa và cuộc sống sinh hoạt của các dân tộc trong từng khu vực Qua tìmkiếm và được trang bị những kiến thức chuyên sâu, hiểu rõ về từng vấn đề củacác dân tộc thiểu số như: Kinh tế, trang phục, nhà cửa, lễ hội, văn hóa dângian Từ đó cho thấy mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại mang một nét văn hóađặc trưng riêng.Từ những lần tìm hiểu các dân tộc thiểu số tôi đã hiểu rõ đượchơn về đời sống cũng như văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc đó, cũng
là vốn nền tảng giúo tôi tìm hiểu cũng như đi nghiên cứu sâu hơn về giá trị vănhóa dân gian của người Hà Nhì
Là một dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở vùng núi cao phía Tây Bắc,đồng bào dân tộc Hà Nhì có nền văn hoá độc đáo, mang đậm bản sắc của dântộc mình.Dân tộc Hà Nhì hiện có hơn 21.700 người, cư trú chủ yếu ở các tỉnh
Trang 4Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai và một số tỉnh dọc biên giới Việt Nam - TrungQuốc, Việt Nam - Lào Người Hà Nhì hiện nay đã định cư, mỗi bản có khi đôngtới 60 hộ Đồng bào Hà Nhì thường chọn nơi cư trú ở những thung lũng lưngchừng núi, nơi có nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất Có lẽ bởi vậynhững bản làng của người Hà Nhì thường có phong cảnh đẹp Nhà nghiên cứuvăn hoá dân tộc Lâm Bá Nam cho biết: “Người Hà Nhì là tộc người ở phía Bắcchuyển xuống Việt Nam từ vài trăm năm nay Họ thường sống ở các miền núicao ở Việt Nam và là dân tộc có các sắc thái văn hoá rất độc đáo Trong đó cótrang phục Về lễ hội của người Hà Nhì thường gắn với rừng thể hiện sự thíchứng của đồng bào với thiên nhiên và môi trường.
Có thể nói văn hóa Việt Nam là sự tổng hòa các giá trị văn hóa của 54 dântộc anh em, trong đó có những tộc người bản địa sống trên lãnh thổ Việt Nam,
có những dân tộc di cư từ nơi khác đến; có những dân tộc chỉ có số lượng vàitrăm người, có những dân tộc có hàng triệu người, nhưng các dân tộc luôn coinhau như anh em một nhà, thương yêu đùm bọc lẫn nhau chung sức xây dựngbảo vệ Tổ quốc
2 Nêu cảm nhận về môn học.
Sau khi được học và tiếp xúc với môn văn hóa dân tộc thiểu số do cô TrầnThị Phương Thúy giảng viên bộ môn trực tiếp hướng dẫ và giảng dạy tôi thấyđược sự cấp thiêt của môn học Qua môn văn hóa các dân tộc thiểu số không chỉtôi mà các bạn đã và đang học sẽ biết thêm nhiều hơn về các dân tộc ít ngườitrên đất nước, hiểu và biết về các phong tục tập quá, văn nghệ dân gian, lễ hội…của các dân tộc Môn học giúp chúng ta nhận thức đúng đắn hơn về đời sốngvăn hóa vật chất và tinh thần, giúp ta hiểu rõ và cần làm gì để phát huy và bảo
vệ những gì đã và đang mai một Là một sinh viên vẫn đang ngồi trên ghế nhàtrường, tôi nhận thấy rằng tìm hiểu về các dân tộc thiểu số là một việc làm hếtsức có ích Ta có thể hiểu rõ hơn về các dân tộc đấy, biết phong tục tập quán,ngôn ngữ cũng như đời sống sinh hoạt hằng ngày Đến với môn văn hóa dân tộcthiểu số những thắc mắc cũng như những câu hỏi về dân toọc mà ta muốn tìm
Trang 5lớp cũng cao hơn, người này giúp người kia tìm hiểu và giả đáp những thắc mắccho chúng ta, giúp ta hiểu hơn về dân tộc mà mình muốn tìm hiểu Qua môn họctôi rút ra được rất nhiều kinh nghiệm cũng như hiểu về dân tộc Hà Nhì mà tôiđang làm bài tiểu luận
Trang 6
NỘI DUNG PHẦN 1:
KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ TỘC NGƯỜI HÀ NHÌ
1.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu tộc người Hà Nhì
Dân số, phân bố dân cư
Theo số liệu năm 2009 người Hà Nhì ở Việt Nam có dân số 21.725 người
cư trú tại 32 trên tổng số 63 tỉnh thành phố Phân bố ở các tỉnh Lai Châu: 13.752người Hà Nhì( các xã Xín Thầu, Chung Chải, Mù Cả, Ka Đăng, Thu Lũm, xãBun Nơ, Tà Tổng, Kan Hồ, Hua Bum,…) chiếm 63,3% tổng số người Hà Nhì tạiViệt Nam Lào Cai có 4.026 người ( các xã Ý Tỵ, A Lù, Bát Xát) Điện Biên có3.786 người ( xã Mường Nhé huyện Mường Nhé Điện Biên) và ở xã Dào San,Phong Thổ Lai Châu
Đăc điểm kinh tế
Người Hà Nhì chủ yếu trồng lúa, có nơi làm ruộng, có nơi làm nương rẫy
Hà Nhì là một trong những dân tộc có truyền thống khai khẩn ruộng bậc thang
và đào mương đắp đập lấy nước, dùng trâu bò cày kéo và làm vườn cạnh nhà
Chăn nuôi là một nghề phát triển Các nghề thủ công như đan lát, dệt vảicũng rất phổ biến Phần đông người Hà Nhì tự túc được vải mặc
Nhìn chung người Hà Nhì ở Việt nam dù ở Miền núi hẻo lánh nhưng trình
độ phát triển về nhận thức, học vấn hơn các dân tộc khác
Đời sống văn hóa
Người Hà Nhì có kho tàng văn hóa dân gian phong phú (truyện thần kỳ,
cổ tích, trường ca, ca dao, thành ngữ ); Dân ca ,dân vũ với nhiều loại nhạc cụ(đàn môi , khèn lá, sáo dọc, trống) được mọi lứa tuổi ưa thích
1.2 Khái quát về tộc người Hà Nhì ở huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai.
1.2.1 Địa bàn nghiên cứu, Tộc danh,ngôn ngữ, nguồn gốc lịch sử.
Địa bàn nghiên cứu
Bát Xát là một huyện biên giới nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Lòa Cai PhíaTây Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Tung Quốc), phía Tây giáp huyện
Trang 7Đông Nam là thành phố Lào Cai Đay là địa bàn có vị trí quan trọng về pháttriển kinh tế xã hội và quốc phòng, an ninh của tỉnh Diện tích tự nhiên:106.189km2 tren 70% là đồi núi, gồm 14 dân tộc cùng chung sống Toàn huyện
có tổng số 14051 hộ với 71947 khẩu trong đó dân số của các dân tộc thiểu sốchiếm 82% Huyện có 22 xã và 1 thị trấn trong đó 10 xã và 31 bản giáp biên với
2 huyện Hà Khẩu và Kim Bình, Tỉnh Vân Nam
Người Hà Nhì ở huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai
Lào Cai là địa bàn cư trú của người Hà Nhì đen, tập trung tại các xã củahuyện Bát Xát như: Y Tý, Nậm Pung, Trinh Tường, A Lù, A Mú Sung, NgáiThầu Dân số người Hà Nhì ở huyện Bát Xát là 3996 người, chiếm 99,2% trongtổng số 4026 người Hà Nhì trong tỉnh Bộ phận người Hà Nhì ở Lào Cai đếnViệt Nam muộn hơn sao với bộ phận ở Lai Châu, cách đây khoảng 150 năm,xuất pháy từ Vân Nam ( Trung Quốc)
Căn cứ vào tiếng nói , y phục cộng đồng người Hà Nhì được phân ralàm 3 nhóm địa phương: (1) Hà Nhì cố chổ: cư trú ở các bản như NậmKhum( Mường Nhé, Điện Biên), Sang Sui(xã Bun Nơ), Xi Nế(xã Mù Cả), AMé( xã Tà Tống), Mân Hạ( xã Kan Hồ), Chang Pa Chải xã Hua Bum ( Mường
Tè Lai Châu) (2) Hà Nhì La Mí cư trú ở các xã Chung Chải( Mường Nhé,ĐiệnBiên), Xín Thầu, Ka Lăng, Thu Lũm và ở các bản Mù Cả, Ma Ký, Giờ Cứ(xã
Mù Cả) , Nâm Lọ(xã Kan Hồ) thuộc huyện Mường Nhé, Lai Châu (3) Hà NhìĐen cư trú ở các xã Ý Tỵ, A Lù( huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai) và ở bản U NiChải xã Dao San ( Phong Thổ Lai Châu)
Trang 8Tùy vào đặc điểm phân bố dân cư ở các vùng khác nhau, ngôn ngữ HàNhì cũng có sự thích nghi, mỗi vùng có đặc trưng ngôn ngữ riêng.
Về nguồn gốc lịch sử
Theo kết quả nghiên cứu đã công bố các tộc người nhóm ngôn ngữ Tạng Miến đều có nguồn gốc từ Trung Hoa, họ chỉ mới di cư sang khu vực giáp biên
-ở Tây Bắc và Đông Bắc, khoảng vài ba trăm năm nay Ngoại trừ dân tộc Lô Lô
và một số ít người Hà Nhì , Phù Lá còn lại đều cư trú tại huyện Mường Tè( Lai Châu) Nhóm Hà Nhì ở Lào Cai đến Việt Nam muộn hơn so với nhóm HàNhì ở Lai Châu Họ từ huyện Duệ Già tỉnh Vân Nam di cư sang xã A Lù ( huyệnBát Xát – Lào Cai) Từ A Lù họ di tới các xax Lao Chái, Nậm Pung, NgàiThầu ( Bát Xát- Lào Cai)
1.2.2 Khái quát về đặc điểm văn hóa.
Văn hóa vật chất
- Nhà ở
Nhà ở cổ truyền của người Hà Nhì là nhà đất Bộ khung nhà khá đơn giản
Vì kèo cơ bản là kiểu vì kèo ba cột Nhà có hiên rộng, người ta còn làm thêmmột cột hiên nên trở thành vì bốn cột Tường trình rất dày Nhà không có cửa sổ,của ra vào cũng ít, phổ biến là chỉ có một cửa ra vào mở ở mặt trước nhà và lệch
về một bên Mặt bằng sinh hoạt: nhà thường ba gian, ít nhà bốn gian Có hiênrộng ở mặt trước nhà Trong nhà chia theo chiều dọc: nữa nhà phía sau là cácphòng nhỏ Nửa nhà phía trước để trồng, một góc nhà có giường dành chokhách, ở đây còn có bếp phụ Cũng có trường hợp hiên được che kín như là mộthành lang hẹp thì cửa mở ở chính giữa Những trường hợp như thế này thuộc về
Trang 9gian chính giữa hoặc thêm một gian bên cạnh có sàn cao khoảng 40 cm để dànhcho khách, ở đây cũng có bếp phụ.
- Trang phục
Phụ nữ Hà nhì để tóc dài, kkhi có chồng họ vấn quanh đầu Y phục HàNhì ở Tây Bắc có màu sắc sặc sỡ, giống trang phục nữ La Hur Tuy vậy áongoài ngắn hơn, cài khuy bên nách phải đính tiền xa, khuy bạc, hạt cườm ở nửatrên thân phải trước Ở Lào cai trang phục nữ Hà Nhà đơn giản hơn cách maycắt quần áo cũng giống như Hà Nhì ở Tây Bắc nhưng may bang vải chàm,không trang trí, ngắn đến đầu gối nay phụ nữ Hà Nhì không ăn trầu, nhuộmrăng đen, nhưng xưa kia ( ở Tây Bắc) họ nhuộm răng bằng cánh kiến đỏ
- Đồ ăn
Người Hà Nhì dùng lương thực chính là gạo nếp nương và cả gạo tẻ.Trước đây, nguồn thức ăn chủ yếu do người dân tự khai thác trong tự nhiên, hiệnnay, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội thì ngoài rau, măng rừng thì đồng bào
Hà Nhì đã nuôi vật gà, lợn, trâu, bò, dê, cá, trồng rau để phát triển kinh tế giađình và cải thiện bữa ăn Món ăn ngày thường có nhiều điểm khác so với món
ăn ngày lễ tết, từ cách chọn lựa thực phẩm đến cách chế biến, trình bày món ăn.Những món ăn ngày thường vừa do cả nam và nữ giới chế biến, xong chủ yếuvẫn là nữ giới đảm nhiệm
Văn hóa tinh thần
Trong đời sống tinh thần, người Hà Nhì cũng có nhiều bài hát, nhiều điệumúa, nhiều loại nhạc cụ và nhiều tác phẩm văn học dân gian Hát có hát ru con,hát đối đáp, hát mời rượu, hát đưa ma, hát chào khách, hát mừng nhà mới.Người Hà Nhì cũng có kho tàng văn học phong phú với các câu truyện cổ tích,thần thoại, trường ca, ca dao, tục ngữ
Dân ca, dân vũ là những hình thức văn nghệ được mọi lứa tuổi ưa thích
Các loại nhạc cụ có trống, chiêng, đàn tính, đàn môi, sáo
Văn hóa xã hội
Các lễ hội của người Hà Nhì có sắc thái độc đáo, mang đậm tính cộngđồng và giàu tính nhân văn, tinh thần thượng võ Việc tổ chức, khôi phục lại các
Trang 10lễ hội truyền thống không chỉ tạo không khí phấn khởi trong đồng bào mà còngóp phần bảo tồn, phát huy lễ hội truyền thống, nâng cao mức hưởng thụ vănhóa và tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Qua đó nâng cao ý thứcbảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Hà Nhì Trong các lễ hội của đồng bào
Hà Nhì không thể không kể đến: Lễ tết tháng 2 “Gạ ma thú”; lễ cúng cầu mưa,cầu sấm, chớp đầu năm mới Lễ cơm mới; tết "Hồ sự chà"… Các lễ hội được bàcon tổ chức nhằm cầu mong một năm mới mọi việc suôn sẻ, mưa thuận gió hoà,mùa màng bội thu, bản làng được bảo vệ bình yên Ngoài ra, người Hà Nhì còn
có chùm Lễ hội cúng rừng đầu năm mới có ý nghĩa cộng đồng sâu sắc đó là vậnđộng bà con bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn tài nguyên, thiên nhiên quý báu đó sẽgiúp bà con có đủ nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt
Trang 11PHẦN 2:
KHÁI QUÁT NGHIÊN CỨU VỀ DÂN TỘC HÀ NHÌ
2.1 Một số loại hình văn hóa dân gian của người Hà Nhì.
Người Hà Nhì có kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian phát triển trong đó:vốn truyện thần thoại, truyện cổ, truyền thuyết,dân ca…của họ khá phong phú.Trong ca Hà Nhì Mí Chạ, Hà Nhì Đế La… là những áng thơ văn có giá trị lớn vềvăn học nghệ thuật và lịch sử truyện thơ của họ khá đồ sộ, đó là những tập thơ đámcưới và ghi lại các phong tục, tập quán Thanh niên Hà Nhì thích chơi đàn tính vàcác trò chơi dân gian ( đánh đu, chơi cầu bập bênh, đánh quay,…)
2.1.1 Truyền thuyết.
Theo lời truyền miệng của người Hà Nhì thì họ có nguồn gốc từ người Di,tách thành bộ tộc riêng biệt 50 đời về trước Đồng bào Hà Nhì thường kể về quêhương cũ của mình Vùng đất đó đã đi vào tâm thức dân gian và trở thành bài ca
"Hà Nhì Mí Chạ", ca ngợi vùng đất tổ
Tương truyền, cách đây hơn 500 năm, vùng Hát Xa có con sông chảygiữa, tạo nên những cánh đồng rộng lớn, giàu có, trù phú Nhưng một thời giansau, mảnh đất ven sông Hát Xa bị hạn hán khiến ruộng đồng trở nên cằn cỗi.Dân bản sống dưới chân núi khổ sở vì những cơn giận dữ của thiên nhiên Họquyết định lần theo sông, men theo rừng đến một nơi cao nhất để nhìn về 4phương 8 hướng, tìm miền đất mới để sinh nhai
Nhà thơ dân tộc Hà Nhì Chu Thùy Liên, Phó Ban Dân tộc tỉnh Điện Biên,
cho biết: Ngày xưa, người Hà Nhì thiên di theo 2 dòng sông, là sông Hồng và sông
Đáy, người Hà Nhì gọi là sông La Sa và Lô Pả La Sa lại bắt nguồn từ trên vùngTây Tạng, và người ta vẫn thường nói tổ tiên người Hà Nhì ở vùng Tây Tạng xaxôi đó, và họ thiên di dần xuống phương Nam, trải qua rất nhiều biến cố
Vậy là người Di ở Tây Tạng bắt đầu chuyến viễn du về phương Nam vàkết thúc khi đến vùng đất đầu nguồn Khó Ma, ngày nay thuộc địa phận xã Pa Ủ,huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Sử thi “Phùy ca Na ca” của người Hà Nhì cóđoạn miêu tả: Khó Ma là “nơi có nhiều sản vật” và “uống rượu ngọt không cầnphải trộn men, hạt cơm ăn cũng chẳng dùng chày giã”
Trang 12Dân tộc duy nhất có truyền thuyết đá vọng thê
Một trong những nơi người Hà Nhì tìm đến nữa, là vùng núi thuộc xã Y
Tý và xã A Mú Sung (Bát Xát) Người Hà Nhì ở Y Tý có 12 dòng họ đều chungmột ông tổ Ly Ngô, đó là các dòng họ Sào, họ Cáo, họ Sần, họ Tráng, họ Chu,
họ Vũ, họ Dồ, họ Sáng, họ Có, họ Khoàng
Cũng có truyền thuyết kể lại rằng, sau cuộc đấu tranh chống lại sự xâmlược của nhà Hán, người Hà Nhì mất đất, nên đã bỏ lại tất cả để đi tìm vùng đấtmới sinh sống Trong quá trình này lưu truyền một câu chuyện cảm động về tìnhyêu của đôi vợ chồng phải chia xa Nam-Bắc
Bà Liên tự hào khi chỉ duy nhất người Hà Nhì có truyền thuyết về "đávọng thê", chứ không phải là "đá vọng phu" như nhiều dân tộc khác: Cách bản
Pa Thắng 14 km về phía bên Trung Quốc có một hòn đá, mang dáng hình người
vợ nhìn về phía Việt Nam, là đá vọng phu, còn ở bên này là tượng người chồngngóng vợ mà hóa đá, gọi là đá vọng thê Họ mất nhau trên đường chạy loạn
Ngày nay, người Hà Nhì ở Việt Nam có khoảng 26.000 người, quần cưchủ yếu ở Lai Châu, Lào Cai và Điện Biên Tiếng nói của người Hà Nhì thuộcnhánh ngôn ngữ Di, nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến, ngữ hệ Hán-Tạng Ở ĐiệnBiên, huyện Mường Nhé là địa bàn cư trú chính của hơn 4.500 người Hà Nhì
Căn cứ vào ngôn ngữ và đặc điểm cư trú, các nhà nghiên cứu dân tộc học
đã chia người Hà Nhì ở Mường Nhé thành 2 nhóm, là người Hà Nhì Cồ Chồ vàngười Hà Nhì Lạ Mí, trong đó người Hà Nhì Cồ Chồ tập trung sinh sống tại xãChung Chải, còn người Hà Nhì Lạ Mí sinh sống chủ yếu ở xã Sín Thầu, Leng
Su Sìn và Sen Thượng, là vùng đất cư ngụ lâu đời, đồng thời cũng là vùng đấtlõi để người Hà Nhì tỏa đi sinh sống ở các địa bàn khác
Dựa theo đặc điểm trang phục, các nhà nghiên cứu chia làm hai ngànhchính: Hà Nhì hoa và Hà Nhì đen Người Hà Nhì đen có khoảng 10.000 người
cư trú rải rác ở tỉnh Lào Cai và 2 huyện Sìn Hồ, Phong Thổ của Lai Châu Cònnơi sinh sống chính của người Hà Nhì Hoa là huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
và huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu
Trang 13Người Hà Nhì hoa còn phân làm hai nhóm: nhóm Hà Nhì Cồ Chồ (tứcngười Hà Nhì ở vùng thấp); nhóm Hà Nhì La Mí (là người Hà Nhì ở vùng cao,vùng thượng nguồn) Trang phục khác nhau cũng từ quá trình thiên di của người
Hà Nhì, kéo theo nghề trồng bông dệt vải, trồng chàm và nhuộm chàm
Nhà thơ Chu Thùy Liên giải thích: Có những truyền thuyết liên quan đến
việc tại sao người Hà Nhì Bát Xát chỉ mặc áo màu xanh thôi Ngày xưa người
Hà Nhì thiên di từ phương Bắc xuống thì nhóm Hà Nhì đi đầu đã mang hếtnhững bí quyết về nhuộm màu Người Hà Nhì vùng Mường Nhé và Mường Tèthuộc nhóm này, nên bộ trang phục rất rực rỡ Còn lại 2 màu xanh và đen thuộc
về nhóm Hà Nhì đi sau
Lịch sử phát triển đã chứng minh: Hà Nhì là một dân tộc cởi mở, biết đổimới, tiếp thu sáng tạo nên bản sắc văn hóa của riêng họ Điều này được khẳngđịnh qua quá trình thiên di Ngay từ khi đến vùng đất mới lập bản, người Hà Nhì
đã tạo dấu ấn đậm nét từ tín ngưỡng, phương thức sinh hoạt, những tác phẩmvăn nghệ dân gian, trang phục, nghề truyền thống…
Ngày đầu tiên chọn nơi cư trú, người Hà Nhì đã chú trọng 4 yếu tố: đấtdựng nhà, nước, lửa và rừng Khi chọn đất để lập bản mới, cả cộng đồng thựchiện nhiều nghi lễ long trọng, tỉ mỉ Bởi theo người Hà Nhì, đó là yếu tố quyếtđịnh đến toàn bộ sự thịnh vượng của bản sau này
Đầu tiên, người Hà Nhì sẽ chọn nơi cư trú ở thung lũng lưng chừng núi, nơi
có nguồn nước cho sinh hoạt và tưới tiêu, vừa tận dụng sức nước để đặt các cối giã
gạo, phục vụ sản xuất Đồng bào chủ yếu trồng lúa, có nơi làm ruộng bậc thang, có
nơi làm nương rẫy nhưng đều có truyền thống khai khẩn ruộng bậc thang và kinhnghiệm đào mương, đắp đập, bắc máng lấy nước, dùng trâu bò cày kéo và làmvườn cạnh nhà Nhiều bản có tuổi trên 100 năm, đông tới 50, 60 hộ
Người Hà Nhì còn được biết đến như một tộc người điển hình về quản lýrừng Việc lựa chọn ở những vùng đất cao âm u, còn nhiều rừng nguyên sinh, rừnggià bắt nguồn từ nguồn gốc hình thành dân tộc, quá trình đấu tranh giữ đất của họ.Điều này thể hiện khá rõ nét tại các khu vực cư trú hiện nay của người Hà Nhì ở xã
Y Tý, Nậm Pung, A Lù, A Mú Sung của huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
Trang 14Rừng là nơi cư trú của các vị thần bảo vệ thôn bản, người Hà Nhì gọi làrừng tâm linh, gồm 4 khu rừng thiêng: gạ ma do, rừng thủ tý, khu rừng a gơ lạ
do, khu rừng cúng tháng 3 mu thu do Ngoài ra rừng còn được chia ra các loại:Rừng đầu nguồn, rừng khai thác củi đốt, rừng chăn thả gia súc…, để nếu sửdụng không đúng, bản sẽ phạt
Bởi coi rừng là nguồn sống nên những nghề truyền thống của người HàNhì cũng xuất phát từ rừng Ở Điện Biên và Lai Châu lan truyền câu ca: “GáiMường Nhé, chè Ka Lăng” - gái Mường Nhé nổi tiếng xinh đẹp, trà Ka Lăngnổi tiếng ngon, trở thành một thương hiệu được cả nước biết đến Và nghề trồngchè cũng được tôn vinh trong tập quán của người Hà Nhì
Trên mâm cơm của người Hà Nhì ngày mùng 1 tết cho đến ngày cuối tết
sẽ có một bát nước trà gừng, thể hiện tổ tiên người Hà Nhì đã am hiểu về chè.Người Hà Nhì còn có phong tục làm chè lam, lấy lá chè nhét vào ống nứa, giãrồi đóng thành bánh, khi có khách người ta gỡ dần cái bánh đó ra rồi pha uống
Cùng với đất, nước và rừng, người Hà Nhì cũng vô cùng coi trọng lửa,bởi họ đã gặp nhiều khó khăn trong quá trình thiên di tìm lửa Sau này, họ có cảmột lễ cúng thần lửa Và người Hà Nhì coi lửa là cội nguồn của mọi thứ có thể
sinh sôi Theo truyền thuyết “Sự tích À Chà” thì lửa là tự thân, do sự dũng cảm
của người Hà Nhì mà sinh ra Ngày đầu tiên khi dựng nhà mới có lễ cúng thầnlửa, để các vị ấy phù trợ cho gia đình đó làm ăn may mắn, mời vị thần lửa chứngkiến tất cả các buồn vui của gia đình trong các thế hệ tiếp theo
Những giá trị văn hóa phi vật thể cũng luôn được các thế hệ người Hà Nhì
tự hào, gìn giữ Nổi bật trong số đó là truyền thống nhắc nhớ về lịch sử nguồncội, tổ tiên Khi làm lý xin phép tổ tiên và các vị thần về ăn Tết, người Hà Nhì sẽmượn lời sử thi của dân tộc, hát kể lại quá trình thiên di, lập làng lập bản Nhữngcâu hát trích trong bộ Há pà- truyên thơ dài “Phùy ca Na ca”, được xem là sử thi
“Khai thiên lập địa ca” của người Hà Nhì
Có dòng họ nhớ được tới 40 đời
Giờ đây khi đã định cư, mỗi bản có tới 50- 60 hộ sinh sống Nhưng người
Trang 15tên” dịp tết Thạc sĩ Lê Ngân - ĐH Tây Bắc, cho biết: Hàng năm vào tối 30 tết,
một nghi lễ rất quan trọng trong gia đình được thực hiện Ðó là lễ tưởng nhớ tổtiên, đọc tên từng dòng họ, đồng thời tất cả cùng nhắc lại tên các vị tổ tiên trongphả hệ Tên từng người được gọi theo cách gọi phụ tử liên danh, tên cha nối vớitên con, hoặc tên con vật ứng với ngày sinh của người ấy làm tên đệm, nên cóvần điệu dễ nhớ Có dòng họ nhớ được về xưa tới 40 đời, nhắc tới 71 tên gọitrong buổi lễ này
Người Hà Nhì có nhiều họ khác nhau, mỗi họ gồm nhiều chi Tên chi gọitheo tên ông tổ Không chỉ nhắc tên, mà sau đó cả dòng họ còn quây quần, tậptrung nghe người già kể về việc sinh ra con người, kể về tộc phả của họ mình
Tục này được gọi là “lễ chựng cư”: Sáng mùng 1, người Hà Nhì quây quần bên
nhau chựng cư: người đại diện cao nhất của gia đình ấy sẽ hát truyền để concháu biết dòng họ mình truyền từ đời nào đến đời nào, đến đời này là đời thứbao nhiêu
2.1.2 Áng sử thi của người Hà Nhì.
Mặc dù không mang tầm cỡ là “bách khoa thư” hay là “từ điển sống” nhưcác bộ sử thi nổi tiếng khác, Phùy Ca Na Ca đã phản ánh rõ nét đời sống lịch sử,
xã hội Hà Nhì Hoa cũng như những biến chuyển của nó
Sử thi chép lại cuộc thiên di của người Hà Nhì
Sử thi Phuỳ Ca Na Ca không dài, chỉ gồm 932 câu với hơn 28.000 từ (tínhtheo bản phiên âm gốc), nhưng qua tác phẩm, lịch sử tộc người, đặc trưng vănhóa của người Hà Nhì thể hiện rất rõ:
Trước đây, người Hà Nhì đã có một quốc gia tên là Na Trô Trô Ứ, với thủphủ là Sùy Phuy à Khòng Họ chỉ có ngôn ngữ, không có chữ viết nên dân tộc
Hà Nhì bảo lưu văn hóa của mình bằng hình thức truyền miệng Nhưng sau đó,người Hà Nhì, một mặt bị thiên tai, dịch bệnh, mặc khác bị các thế lực phongkiến khác mạnh hơn thôn tính Mất nước, người Hà Nhì phải thiên di xuốngphương Nam
Cuộc thiên di ấy diễn ra hàng ngàn năm, tạo cho người Hà Nhì một địabàn định cư rộng lớn, ở nơi này không được lại phải đến nơi kia Đến nơi nào họ
Trang 16cũng tụ cư thành vùng trong khu vực cư trú riêng biệt: có một môi trường thiênnhiên rộng lớn, có đủ đất đai cho cư dân Hà Nhì canh tác và thực hiện các nghi
lễ tôn giáo linh thiêng, theo truyền thống của dân tộc mình
Trong sử thi Phùy Ca Na Ca, người Hà Nhì hình dung về nơi ở của tổ tiênrất yên bình bên dòng sông Na Ha:
Nà Ma đầu nguồn
Nơi Hà Nhì sinh sống là Nà Ma đầu nguồn
Nơi bản Hà Nhì ở là Sùy P’hùy À Cò
Nơi bàn luận quyết định là Lé Lu À Khó
Nơi học hỏi lý lẽ là Sùy P’hùy À Cò
Ha Xa rộng to nước tưới bằng mười hai nhánh mương
Ở giữ bản Hà Nhì bảy nghìn hộ
Na Tro Tro Ứ bình yên đó
Là đất của tổ tiên người Hà Nhì ở đó.
Hay sự xung đột giữa người Hà Nhì và người Hán được lặp đi lặp lại nhưmuốn nhấn mạnh đến một vấn đề cốt tử của người Hà Nhì khi ấy: giữ đất Đó làhình ảnh của một làng chiến đấu với hệ thống phòng thủ khá nghiêm ngặt:
Có hàng rào đan bằng dây thép
Bao bọc bảo vệ khắp xung quanh
Bản ở giữa cũng bao hàng rào thép.Bảy mươi đôi cọc cắm đều nhau…
Anh Nguyễn Trọng Hiến, Phó Giám đốc bảo tàng tỉnh Lai Châu, cho hay
sử thi của người Hà Nhì Hoa rất khác so với các bộ sử thi lớn ở Tây Nguyên Sửthi Tây Nguyên thường khắc họa nhân vật điển hình với những hành động, việclàm điển hình, đại diện cho ước mơ, khát vọng của tộc người Nhưng sử thi củangười Hà Nhì Hoa lại khác
“Toàn bộ chỉ nói chung về cộng đồng, không nhắc đến tên con người củabất kỳ một cá nhân nào Họ chỉ sống cộng đồng, chỉ nói là người Hà Nhì, chứngười ta không nói tên là gì, không có nhân vật cá nhân Nhân vật, nếu nhưđược nhắc đến, chỉ là những vị thần” - theo anh Hiến Bên cạnh giá trị lịch sử,
Trang 17người Hà Nhì Người Hà Nhì ở giữa ăn tết mùa mưa thì Người Hà Nhì ăn bằngcon gà con mắt còn đỏ…
Hay:
Hôm nay lấy xương đùi gà đi làm lý chọn nền nhà
Cuốc ba nhát bỏ lấy đất trên, gót chân dẫm cho đất nén lại
Đi chọn một chỗ ở cuối bản thử xem
Nếu một nhà đầm ấm cho đủ ba lớp người thì
Một năm cho đủ ba lứa thóc thì
Một năm cho đủ ba lứa vật nuôi thì
Trong nhà không ốm đau, bệnh tật thì
Xương đùi gà biểu hiện cho năm lỗ…
Người Hà Nhìn hát, ngâm kể sử thi theo lối tự sự
Hình thức diễn xướng của sử thi Phùy Ca Na Ca là hát kể, ngâm kể theo lối tự
sự bằng những lời ca, lời nói vần đầy tính hào hùng, bi tráng Theo anh Hiến:
"Tùy vào nội dung, cùng một nội dung, có người hát 5 câu là thể hiệnđược nội dung Nhưng cũng nội dung đấy có người hát 15 câu Trong một câulại có tiết tấu khác nhau Nếu như tôi cảm thấy dài hơi, thì tôi ngâm vào câu sau,tôi ngắn hơi thì tôi ngâm câu trước Tùy vào từng người, cho nên cái quy luật về
âm nhạc nó không bị ràng buộc Nó tùy thuộc vào người thể hiện khác nhaunhưng vẫn giữ được loại hình
Ngâm kể" Không kén chọn không gian thể hiện, chỉ cần có người biếthát, thuộc lời hát, người Hà Nhì có thể hát bất cứ nơi đâu có cộng đồng Có thể
là bên mâm cơm, trên nương, ngày lễ tết hay trong đám cưới mà không phảithực hiện bất cứ kiêng kỵ nào
“Hiện giờ, trên địa bàn tỉnh Lai Châu chỉ còn một nghệ nhân duy nhất hátngâm, hát kể được hai tác phẩm này Tuy nhiên, nó cũng không còn đầy đủ.Nghệ nhân đấy là Pờ Lóng Tơ Khi nghệ nhân cung cấp hai tác phẩm này cũngnói rằng tôi chỉ còn biết được đến 1 – 2/10 nội dung mà bố của ông ấy biết.Ngày xưa tất cả mọi người đều có thể hát, tất cả mọi người đều có thể nghe Và