Vùng biển Ninh Thuận có trên 500 loài cá, tôm,trong đó có nhiều loại có giá trị kinh tế cao như cá mú, hồng, thu, ngừ, tôm hùm,mực ống, mực nang… - Tài nguyên rừng Rừng của Ninh Thuận có
Trang 1Trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh Khoa Thương Mại-Du Lịch-Marketing
Lớp Du Lịch
Đề tài: Du lịch nghiên cứu văn hóa Chăm Pa tại Ninh Thuận Giáo viên hướng dẫn:
Trang 2I Đặc điểm vùng đất Ninh Thuận
Ninh Thuận là tỉnh nằm ở phía Nam của vùng Duyên hải Nam Trung
Bộ, nhưng do mối quan hệ phát triển kinh tế xã hội, những năm gần đây, tỉnhđược xếp vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ Tỉnh được biết đến như vùng đấtcủa văn hoá Chăm với kiến trúc tháp Chàm tiêu biểu, vùng đất của những đồicát nóng bỏng, những cánh đồng khô cằn, từng được mệnh danh là miền ViễnTây của Việt Nam Ninh Thuận cũng nổi tiếng với những thắng cảnh tuyệt đẹpnhư bãi biển Ninh Chử, đèo Ngoạn Mục,vịnh Vĩnh Hy Tỉnh cũng là địaphương sản xuất muối lớn nhất cả nước, sản lượng 130 nghìn tấn/năm với cácnhà máy sản xuất muối lớn như: Cà Ná, Phương Cựu
1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí
Về mặt địa lý, Ninh Thuận thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, lãnh thổ nằmtrong tọa độ từ 11° 18’ 14'' - 12° 09’ 15'' vĩ Bắc và 108° 09’ 08'' - 109°14’ 25''kinh Đông; Bắc giáp tỉnh Khánh Hoà, Nam giáp tỉnh Bình Thuận Tây giáp tỉnhLâm Đồng, Đông giáp biển Tỉnh có đường bờ biển dài 105 km và vùng lãnh hảirộng hàng chục nghìn km2
Tỉnh nằm giữa 3 trục đường giao thông chính là: quốc lộ 1A, quốc lộ 27 và đườngsắt Bắc Nam Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là đầu mối giao thông quantrọng trong khu vực, cách cảng Cam Ranh 50 km, cách thành phố Nha Trang 105
km về phía Bắc; cách thành phố Phan Thiết 150 km, cách thành phố Hồ ChíMinh 350 km về phía Nam; cách thành phố Đà Lạt 110 km về phía Tây
- Khí hậu
Ninh Thuận nằm trong vùng khô hạn nhất nước, có nền khí hậu nhiệt đới gió mùađiển hình với đặc trưng là khô nóng, gió nhiều Nhiệt độ trung bình năm là 27oC,
Trang 3trong năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 – 11, mùa khô từ tháng 12 nămtrước đến tháng 8 năm sau Lượng mưa trung bình từ 700 – 800 mm/năm ở PhanRang và tăng dần theo độ cao ở vùng núi Độ ẩm 75 – 77% Năng lượng bức xạlớn, khoảng 160 kcal/cm2/năm Tổng lượng nhiệt bình quân năm khoảng 9.500 –10.0000C.
Đặc điểm khí hậu Ninh Thuận gây ra nhiều khó khăn cho sinh hoạt và sản xuất,nhưng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho một số cây trồng vật nuôi đặc sản có giá trịkinh tế cao như: nho, mía, thuốc lá, hành, tỏi, bò, dê
2 Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên biển
Bờ biển Ninh Thuận dài 105 km với vùng lãnh hải rộng trên 18.000 km2, có 3cửa khẩu ra biển là Đông Hải, Cà Ná, Khánh Hải Vùng biển Ninh Thuận là mộttrong bốn ngư trường lớn nhất và giàu nguồn lợi nhất về các loài hải sản của cảnước, nhiều tiềm năng để phát triển du lịch và phát triển công nghiệp khai thácthủy sản và khoáng sản biển Vùng biển Ninh Thuận có trên 500 loài cá, tôm,trong đó có nhiều loại có giá trị kinh tế cao như cá mú, hồng, thu, ngừ, tôm hùm,mực ống, mực nang…
- Tài nguyên rừng
Rừng của Ninh Thuận có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển các ngànhkinh tế - xã hội và cải tạo môi trường sinh thái, là một thế mạnh cần khai tháctrong thời kỳ tới Trữ lượng gỗ của tỉnh gần 11 triệu m3 và có 2,5 triệu cây tre nứa.Rừng sản xuất có 58,5 nghìn ha, trữ lượng 4,5 triệu m3 gỗ, rừng phòng hộ đầunguồn có 98,9 nghìn ha, trữ lượng gỗ khoảng 5,5 triệu m3
- Khoáng sản
Khoáng sản ở Ninh Thuận tương đối phong phú về chủng loại: khoáng sản kimloại có wolfram, thiếc; khoáng sản phi kim loại có thạch anh tinh thể, cát thuỷ
Trang 4tinh, sét, muối khoáng thạch anh, sô đa; nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng cócát kết vôi, sét phụ gia, đá xây dựng…
Hiện nay chủ yếu mới khai thác đá, đất sét, cát làm vật liệu xây dựng; khai thácmuối khoáng để sản xuất muối công nghiệp, khai thác nước khoáng ở Tân Mỹ.Các khoáng sản làm nguyên liệu cho vật liệu xây dựng còn tiềm năng, có thể khaithác để sản xuất xi măng, làm gạch ngói, đá xây dựng
3 Du lịch
Thiên nhiên ưu đãi cho Ninh Thuận những lợi thế để phát triển ngành du lịch Tỉnh có nhiều thắng cảnh đẹp như bãi biển Ninh Chử, bãi biển Cà Ná, đèo Ngoạn Mục, vịnh Vĩnh Hy Bên cạnh thắng cảnh thiên nhiên, Ninh Thuận còn cónhững tháp Chàm cùng vô số các di tích lịch sử văn hóa và nhiều hiện vật quý giá
Ninh Thuận rất thích hợp trong việc xây dựng cảnh quan du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái được xem như là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm đẩymạnh phát triển du lịch trên quy mô rộng lớn và tạo điều kiện phát triển kinh tế xãhội cho các cộng đồng dân cư tại các vùng du lịch, đồng thời bảo vệ môi trường vàtài nguyên cho sự nghiệp phát triển lâu bền ở Ninh Thuận
Phan Rang - Đà Lạt - Nha Trang là một trong 7 vùng trọng điềm du lịch của
cả nước đến năm 2020 Chính phủ đồng ý chủ trương cho khôi phục tuyến đườngsắt Tháp Chàm - Đà Lạt Do đó định hướng phát triển du lịch của Ninh Thuậntrong những năm tới là phát huy các lợi thế về du lịch biển, du lịch sinh thái, lịch
sử và văn hoá, đưa du lịch thật sự là ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tếcủa tỉnh
Đến với Ninh Thuận du khách sẽ được tham gia nhiều loại hình du lịch hấpdẫn như tắm biển, nghỉ dưỡng, tắm suối nước nóng, du thuyền, leo núi, dự lễ hộicủa người Chăm Ninh Thuận là vùng đất của gió, nắng, của những đồi cát ngútngàn bụi tung mờ ảo, của những bãi biển xinh đẹp quanh năm sóng vỗ, của nhữngtruyền thuyết dân gian đầy bí ẩn
Trang 5Những điểm du lịch hấp dẫn của Ninh Thuận: Tháp Pôklông Garai, Bãibiển Ninh Chử, Khu du lịch Cà Ná, Đèo Ngoạn Mục, Vịnh Vĩnh Hy, ThápPôrômê, Tháp Hoà Lai, Cồn cát Nam Cương, Vườn quốc gia Núi Chúa, Hang ÔngPhật, Ghềnh Ông Nồng, Giếng Đục, Núi Bạc….
4 Lịch sử hình thành và phát triển
Ngày trước, tỉnh Ninh Thuận là vùng đất thuộc Chiêm Thành Đời chúa Nguyễn Phúc Tần, lấy sông Phan Rang làm ranh giới hai nước Năm 1692, vua Chiêm là Bà Tranh đem quân quấy nhiễu, chúa Nguyễn Phúc Chu đem quân đi đánh và bắt được Bà Tranh, bèn sát nhập đất Chiêm Thành vào nước ta và đặt tên
là trấn Thuận Thành Năm 1697, thành lập phủ Bình Thuận và dinh Bình Thuận cócác đạo Phan Thiết, Phan Lang, Maly và Phố Hài Đời Gia Long, dinh Bình Thuậnđổi thành trấn Đời Minh Mạng đạo Phan Lang đổi thành huyện An Phước Đến năm 1832, trấn Thuận Thành đổi thành tỉnh Bình Thuận, gồm hai phủ Ninh Thuận
và Hàm Thuận Năm 1888, phủ Ninh Thuận sát nhập vào Khánh Hoà
Ngày 20-05-1901, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnhPhan Rang, tỉnh lị cũng là Phan Rang Năm 1913, tỉnh Phan Rang bị xóa bỏ, phầnphía Bắc nhập vào tỉnh Khánh Hoà, còn phần phía Nam gọi là đại lý hành chính,thuộc tỉnh Bình Thuận
Ngày 05-07-1922, tỉnh Phan Rang, còn gọi là tỉnh Ninh Thuận, được táilập Tỉnh gồm phủ Ninh Thuận và huyện An Phước (nơi người Chăm cư trú), domột Công sứ Pháp cai trị Dưới Công sứ còn có một Quản đạo
Sau 30-04-1975, Ninh Thuận được sáp nhập với Bình Thuận, Tuyên Đức,Lâm Đồng thành tỉnh Thuận Lâm Tháng 02-1976, ba tỉnh Ninh Thuận, BìnhThuận và Bình Tuy hợp nhất thành tỉnh Thuận Hải Ngày 26-12-1991, Quốc hộiViệt Nam ra Nghị quyết về việc phân vạch lại địa giới hành chính một số tỉnh.Theo đó, chia tỉnh Thuận Hải thành 2 tỉnh, lấy tên là tỉnh Ninh Thuận và tỉnh BìnhThuận Tỉnh Ninh Thuận có 4 đơn vị hành chính gồm: thị xã Phan Rang - Tháp
Trang 6Chàm và 3 huyện: Ninh Sơn, Ninh Hải, Ninh Phước, có diện tích tự nhiên 3.530,4
km2, với số dân 406.732 người Tỉnh lỵ là thị xã Phan Rang - Tháp Chàm
Ngày 06-11-2000, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số65/2000/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Ninh Sơn, để táilập huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận Theo đó, tái lập huyện Bác Ái trên cơ sở103.090,18 ha diện tích tự nhiên và 29.835 nhân khẩu của huyện Ninh Sơn HuyệnBác Ái gồm 9 đơn vị hành chính trực thuộc là các xã: Phước Bình, Phước Hoà,Phước Tân, Phước Đại, Phước Tiến, Phước Thắng, Phước Thành, Phước Trung vàPhước Chính
Ngày 10-06-2009, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số
26/NQ-CP, thành lập huyện Thuận Nam ở phía Nam tỉnh Ninh Thuận Huyện Thuận Namđược thành lập trên cơ sở điều chỉnh hơn 56 ngàn ha diện tích tự nhiên và gần 55ngàn nhân khẩu của 08 xã thuộc huyện Ninh Phước và hai xã mới là Phước Ninh
và Cà Ná Đến đây, tỉnh Ninh Thuận có 7 đơn vị hành chánh trực thuộc gồm:thành phố Phan Rang - Tháp Chàm và 6 huyện là: Ninh Phước, Ninh Sơn, NinhHải, Thuận Bắc, Bác Ái, Thuận Nam
Văn hoá
Ninh Thuận có nền văn hoá mang đậm màu sắc văn hoá của dân tộc Chăm.Nền văn hoá ấy được thể hiện qua chữ viết, trang phục dân tộc, nghệ thuật kiếntrúc, điêu khắc, nghề gốm, dệt thổ cẩm Tỉnh có hơn 20 làng người Chăm, trong đó
có những làng vẫn duy trì các tập quán của chế độ mẫu hệ Ninh Thuận là mộttrong những địa bàn sinh sống của người Việt Cổ Các nhà khảo cổ học đã pháthiện các mộ cổ chôn cùng với đồ đá, đồ sắt thuộc nền văn hoá Sa Huỳnh cách đâykhoảng 2.500 năm
Kinh tế
Trang 7Ninh Thuận là vùng đất nổi tiếng về các di tích văn hoá Chămpa và cáctiềm năng kinh tế phong phú khác Ngư trường Ninh Thuận là một trong bốn ngưtrường lớn của cả nước có nhiều loại hải sản quý và sản xuất được quanh năm Bờbiển dài có nhiều bãi tắm đẹp thuận lợi cho phát triển du lịch, vừa thuận lợi đểphát triển sản xuất muối công nghiệp quy mô lớn Bên cạnh đó, khoáng sản ở NinhThuận cũng khá phong phú và đa dạng, trong đó phải kể đến một số loại có trữlượng cao, chất lượng tốt thuận lợi cho khai thác công nghiệp như đá granít, cátsilic, nước khoáng
Giao thông
Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm nằm trên giao điểm của 3 trục giaothông chiến lược là đường sắt Bắc Nam; quốc lộ 1A; quốc lộ 27 Tỉnh có ba tuyếnđường 702, 703 đều đạt tiêu chuẩn cấp IV, láng nhựa với tổng chiều dài 53,9 kmnối trung tâm tỉnh lỵ với các huyện trong tỉnh Hầu hết hệ thồng đường huyện vàliên xã được nâng cấp và đảm bảo giao thông cơ giới thuận tiện quanh năm
II Đặc điểm người Chăm tại Ninh Thuận
1 Sơ lược về dân tộc chăm:
Người dân tộc thiểu số Chăm, còn gọi là người Chàm, người ChiêmThành, người Chiêm, người Hời Hiện nay người Chăm cư ngụ chủ yếu tạiCampuchia, Việt Nam, Malaysia, Thai Lan và Mỹ Dân số tại Việt Nam theo điềutra dân số năm 1999 là 132.873 người; theo tài liệu của Ủy ban Dân tộc Chính phủViệt Nam năm 2008 là khoảng hơn 145.000 người, xếp thứ 14 về số lượng trongcộng đồng các dân tộc Việt Nam
a Lịch sử hình thành
Trước thế kỷ thứ VII có Vương quốc Lâm Ấp từ năm Sơ Bình thứ 3 nhàHán (192) đến năm Đại Nghiệp thứ 1 nhà Tùy (605) Sau năm 605, tình hìnhnước ChămPa không rõ cho đến thế kỷ thứ VIII Các tên gọi khác nhau của Vương
Trang 8quốc này theo văn bia tiếng Phạn và tiếng Chăm cổ là Campanagara, NagaraCampa, Nagar Cam Còn sử sách Trung Quốc gọi là Lâm Ấp Quốc, phiên âm theotiếng Bắc Kinh hiện nay là Lin-yi-guo, Chiêm Bà Quốc, Hoàn Vương Quốc vàChiêm Thành Quốc Vương quốc này bắt đầu suy tàn từ đầu thế kỷ XV sau cuộccan thiệp do quân đội nhà Minh dưới sự chỉ huy của vua Vĩnh Lạc Đế đối với batriều đại: nhà Hậu Trần (Đại Việt), nhà Hồ (Đại Ngu) và triều đại Vijaya (ChămPa) Sau khi quân đội nhà Minh rút về, Vương quốc Chăm Pa được phục hồinhưng chia thành 2 tiểu vương quốc: Tiểu vương quốc Vijaya (Đồ Bàn: 1428-1471) và Tiểu vương quốc Panduranga (Phan Rang: 1433-1832) Tiểu Vươngquốc Vijaya bị quân đội Đại Việttiêu diệt dưới sự chỉ huy của vua Lê Thánh Tông
để thôn tính đất đai vào năm Hồng Đức thứ 2 nhà Lê tức năm 1471 Năm đó, TiểuVương quốc Panduranga cũng trở thành chư hầu của Đại Việt Năm Hiển Tôngthứ 2 chúa Nguyễn, năm Chính Hòa thứ 14 nhà Lê tức năm 1693, Nguyễn HữuCảnh đã một lần chinh phục Tiểu Vương quốc Panduranga, đổi tên Chiêm Thànhquốc thành Thuận Thành trấn, rồi đổi Thuận Thành trấn thành Bình Thuận phủ.Nhưng đến năm 1694, trong khi Nguyễn Hữu Cảnh tây chinh đánh Campuchia,tướng người Chăm tên Ốc Nha Đạt và tướng người Thanh tên A Ban đã tập hợpđược đông đảo lực lượng người Chăm Pa, nổi dậy và tiêu diệt toàn bộ lực lượngchúa Nguyễn tại đây Chúa Nguyễn, vua Nguyễn Hiển Tông tức Nguyễn PhúcChu đã bất đắc dĩ cầu hòa với người Chăm Pa và cho phép người Chăm Pa phụchồi Thuận Thành trấn (Khu Tự trị Chăm Pa) Hòa ước giữa chúa Nguyễn và chúaChăm Pa được ghi rõ trong Nghị Định Ngũ Điều vào năm Hiển Tông thứ 21, nămVĩnh Thạnh thứ 8 nhà Lê tức năm 1712 và được duy trì cho đến năm Minh Mạngthứ 13 (1832)
Lãnh thổ của Chăm Pa ngày nay thuộc thành phố Đà Nẵng và các tỉnhQuảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định,Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và một số vùng Tây Nguyên Lâm
Ấp chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa và tôn giáo Trung Quốc nhưng sau các cuộc
Trang 9chiến với quốc gia láng giềng Phù Nam, cũng như sự thôn tính lãnh thổ của quốcgia này vào thế kỷ IV, đã hòa trộn văn hóa Ấn Độ
Lịch sử của vương quốc Chăm Pa là các cuộc xung đột với Trung Quốc,Đại Việt, Khmer và Mông Cổ, cũng như xung đột nội bộ Chính do các cuộc xungđột này mà Chăm Pa mất dần lãnh thổ vào tay Đại Việt, một quốc gia có tổ chứcchính quyền và quân sự hoàn hảo hơn Chăm Pa trong quá khứ là một nước chưhầu của các triều đại phong kiến Trung Quốc và Đại Việt nhưng vẫn giữ được bảnsắc văn hóa và sự toàn vẹn lãnh thổ Người Chăm Pa là những chiến binh giỏi đã
sử dụng địa hình đồi núi để chiếm ưu thế Năm Hồng Đức thứ 2 nhà Lê (1471),Tiểu Vương quốc Vijaya chịu tổn thất nặng nề trong cuộc chiến với Đại Việt dướitriều đại vua Lê Thánh Tông Khoảng 60.000 quân Chăm Pa bị giết và 30.000 bịbắt làm tù binh Ngược lại, Tiểu Vương quốc Panduranga tiếp tục phát triển dưới
sự bảo trợ của chúa Nguyễn và vua Gia Long (Nguyễn Thế Tổ) trong các vùngthung lũng Phan Rang, Phan Rí và Phan Thiết
b Về ngôn ngữ, dân số và địa bàn cư trú
Tiếng Chăm thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai-Đa Đảo (Malayo-Polynesian)của hệ ngôn ngữ Nam Đảo (Autronesian)
Người Chăm được xác định là cư dân bản địa ở khu vực duyên hải NamTrung Bộ của Việt Nam và đã có quá trình định cư lâu đời ở khu vực này Trải quahàng ngàn năm, dưới những biến cố lịch sử, xã hội, chủ yếu là do chiến tranh vàmâu thuẫn nội bộ, người Chăm không còn cư trú tập trung ở khu vực duyên hảiNam Trung Bộ mà phân bố rộng rãi ở khắp các tỉnh phía Nam Việt Nam và một sốcác quốc gia khác
Hiện nay tổng số người Chăm trên thế giới khoảng 400.000 người, phân
bố chủ yếu ở Campuchia, Việt nam, Malaysia, Thái Lan và Mỹ Cộng đồng Chămlớn nhất thế giới vào khoảng trên 270.000 người tại Campuchia, được gọi là
Trang 10Khmer Islam; kế đến là Việt Nam 145.000 người; Thái Lan trên 15.000 người;Malaysia trên 10.000 người và Mỹ khoảng trên 200 người.
Một số người Chăm di cư sang các nước khác như tộc Utsul ở đảo HảiNam đến bang Terengganu của Malaysia hay vùng Hạ Lào Trong thế kỷ XX,nhiều người Chăm hoặc gốc Chăm di cư sang Mỹ và các nước phương Tây khác
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân tộc Chăm ở Việt Nam
có 161.729 người, cư trú tại 56 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Chăm cư trútập trung tại các tỉnh như Ninh Thuận 67.247 người, chiếm tỷ lệ 41,6% tổng sốngười Chăm tại Việt nam; Bình Thuận 34.690 người, chiếm tỷ lệ 21,4% tổng sốngười Chăm tại Việt Nam; Phú Yên 19.945 người, An Giang 14.209 người, Thànhphố Hồ Chí Minh 7.819 người, Bình Định 5.336 người, Đồng Nai 3.887 người,Tây Ninh 3.250 người
c Về tín ngưỡng và tôn giáo
Người Chăm theo Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Phật giáo Tôn giáo chính thờiVương quốc Chăm Pa cổ là Ấn Độ giáo và văn hóa chịu ảnh hưởng sâu sắc của
Ấn Độ Tuy nhiên, đạo Bà La Môn (tức là tục Bachăm) ngày nay hoàn toàn khôngliên quan với Ấn Độ giáo này Ngày nay, hầu hết người Chăm theo Hồi giáo Hồigiáo của người Chăm có 2 loại: Một là tục Bani và tục Bachăm Hai là Hồi giáoSunni (thuộc giáo phái Hanafi) Tục Bani và Bachăm là một tôn giáo chịu ảnhhưởng của Hồi giáo Shi'a (Ba Tư, Iran), họ rất tôn trọng Ali như Muhammad CònHồi giáo Sunni thì không chấp nhận tôn trọng Ali như Muhammad Theo Biênniên sử Mã Lai (1614), Hồi giáo đầu tiên ở thế giới Mã Lai cũng phát nguồn từIran, nhưng sau này, người Ả Rập từ vùng Hadramaut (gọi là Hadrami) sang MãLai tuyên truyền, xuyên tạc Hồi giáo Shi'a là tà giáo, buộc người Mã Lai theo Hồigiáo Sunni cực đoan vào cuối thế kỷ thứ XVIII, đầu thế kỷ thứ XIX Tục Bani làmột hồi giáo bản địa hóa hiền lành, khoan dung, không cực đoan Tục Bani giốnggiáo phái Alewi, một giáo phái Hồi giáo Shi'a ở Cộng hòa Suri ngày nay Con
Trang 11đường tục Bani từ Iran chuyển bá chưa được làm rõ nhưng nhiều tài liệu Mã Lai,Java cho rằng chính Chăm Pa là trung tâm tuyên giáo Hồi giáo đầu tiên tại khuvực Đông Nam Á.
Người Chăm sống ở Myanmar rất nhiều, là một trong bốn dân tộc lớn nhấtMyanmar Hầu hết mang họ Aung cùng họ với họ Ung của người Chăm ở ViệtNam đã bị Việt hoá
d Về hôn nhân gia đình và nhà cửa
Chế độ mẫu hệ và tín ngưỡng nữ thần vẫn tồn tại ở người Chăm Đàn ông
lo việc ngoài nhà, đàn bà lo việc trong gia đình và gia phả Phong tục Chăm quyđịnh con theo họ mẹ, họ bên mẹ được xem là gần họ nội Nhà gái cưới chồng chocon Con trai ở rể nhà vợ, đến khi chết đi nhà vợ có trách nhiệm thờ cúng đến hếttang, sau đó mang hài cốt về trả lại cho dòng họ nhà trai tiếp tục thờ Chỉ con gáiđược thừa kế tài sản, người con gái út được thừa kế nhà tự để thờ cúng ông bà vàphải nuôi dưỡng cha mẹ già
Về nhà cửa, nhà ở của người Chăm là một quần thể nhà trong một khuônviên, bây giờ do việc quy họach phân lô đất theo kiểu nhà liên kế hẹp nên việcphát triển nhà theo quần thể trong một khuôn viên dần không còn nữa Mối quan
hệ của các nhà trong quần thể này đã thể hiện quá trình tan vỡ của hình thái giađình lớn mẫu hệ để trở thành các gia đình nhỏ
e Về trang phục Trang phục người Chăm của những nhóm dân địa phương khác nhau với
lối tạo dáng và trang trí riêng khó lẫn lộn với các tộc người trong nhóm ngôn ngữhoặc khu vực
- Trang phục nam
Trang 12Trang phục cổ truyền của đàn ông lớn tuổi thường để tóc dài, quấn khăn.
Đó là loại khăn màu trắng có dệt thêu hoa văn nhạt màu vàng hoặc bạc, ở hai đầukhăn có các tua vải Khăn đội theo lối chữ nhân Những vị có chức sắc tôn giáo,hai đầu khăn có hoa văn màu vàng, tua vải màu đỏ, quấn thả ra hai mang tai Nammặc áo có cánh xếp chéo và cài dây phía bên hông thắt lưng, thường là áo màutrắng, trong là quần soọc, ngoài quấn váy xếp
- Trang phục nữ
Về cơ bản, phụ nữ các nhóm người Chăm thường đội khăn Khăn đượcphủ trên mái tóc hoặc quấn gọn trên đầu, quấn theo lối chữ nhân hay dùng loạikhăn to quàng từ đầu rồi phủ kín vai Khăn đội đầu chủ yếu là màu trắng, có loạiđược trang trí hoa văn theo lối viền các mép khăn đối với khăn to Nhóm ChămHroi thì đội khăn màu chàm Lễ phục thường có chiếc khăn vắt vai ngoài chiếc áodài màu trắng Đó là chiếc khăn dài tới 23 m vắt qua vai chéo xuống hông, đượcdệt thêu hoa văn cẩn thận với các màu đỏ, trắng, vàng của các trang trí trong bốcục của dải băng
Nữ mặc áo cổ tròn cài nút phía trước ngực xuống đến bụng, quấn váy xếpkhi làm lễ hoặc mặc váy ống thông thường, đầu quấn khăn không ràng buộc vềmàu sắc
Phụ nữ nhóm người Chăm Khánh Hoà và ở một số nơi mặc quần bêntrong áo dài Nhóm Chăm Hroi mặc váy quấn hở có miếng đáp sau váy
Nhóm người Chăm Quảng Ngãi mặc áo cánh xẻ ngực, cổ đeo vòng và cácchuỗi hạt cườm
Trang phục của người Chăm do có nhóm cơ bản theo Hồi giáo nên cả nam
và nữ có lễ phục thiên về màu trắng Có thể thấy đặc điểm trang phục lối tạo hình
áo khá điển hình là lối khoét cổ và can thân, nách từ một miếng vải khổ hẹp hoặccan với áo dài thẳng ở giữa làm trung tâm áo cho cả áo ngắn và áo dài Mặt khác
Trang 13có thể thấy ở đây duy nhất còn tộc người Chăm có nam giới mặc váy ở nước ta vớilối mang trang phục và phong cách thẩm mỹ riêng.
2 Người chăm ở Ninh Thuận
Người Chăm ở Ninh Thuận có dân số đông nhất so với các tỉnh thành khác
ở Việt Nam Dân số toàn tỉnh có 556.768 người, trong đó vùng tộc người thiểu sốsinh sống ở 115 thôn thuộc 36 xã với 26 dân tộc, có dân số 21.208 hộ, 130.641người, chiếm 23,5% dân số toàn tỉnh Trong đó, dân tộc Chăm sinh sống ở 27thôn, thuộc 12 xã, dân số 11.279 hộ, 73.277 người, chiếm 13,16% dân số toàntỉnh, chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng và sống xen kẽ với các dân tộc khác Địabàn người Chăm sinh sống đông nhất là huyện Ninh Phước có tới 60.102 người,chiếm tỷ lệ 82,02% người Chăm toàn tỉnh (UBND tỉnh Ninh Thuận, 2000)
Trong các xã có người Chăm sinh sống, họ thường cư trú tập trung thànhthôn riêng của mình Người Việt cũng có sống xen kẽ trong các thôn Chăm nhưng
số lượng không bao nhiêu (như ở thôn Vĩnh Thuận, Phước Đồng, Hiếu Lễ, ChấtThường) Huyện Ninh Phước có tới 8 xã có từ 2 thôn Chăm trở lên, riêng xãPhước Nam có tới 5 thôn Chăm Xã có nhiều thôn Chăm nhất là Phước Nam (5thôn), xã chỉ có một thôn Chăm là An Hải, và Phước Thuận Các xã có nhiềungười Chăm được xếp theo thứ tự là : Phước Nam, Phước Hậu, Phước Hữu, PhướcHải, Phước Thái, Phước Dân, Phước Thuận và An Hải Dân số của từng thônChăm cũng rất chênh lệch, thôn đông nhất có thể gấp 7-8 lần thôn ít dân Chẳnghạn, Hữu Đức (tới hơn 3.700 người, Văn Lâm (hơn 3.400 người), trong khi đó ởHiếu Thiện và Nho Lâm chỉ hơn 400-500 người Bình quân mỗi thôn Chăm tronghuyện khoảng trên 1.500 người Quy mô gia đình ở các thôn Chăm cũng khôngđồng đều Trong khi ở Thành Tín, bình quân số người trong hộ là 5 và HoàiTrung, Như Bình là 5,4 thì ở Tuấn Tú lên tới 7,7 và Chung Mỹ có bình quân 7,4người một hộ Như vậy, số người trong hộ giữa các thôn Chăm có mức độ chênh
Trang 14lệch cao hơn người Kinh (ở người Kinh thường chỉ có từ 5 đến 6 người một hộ) và
số người trong mỗi hộ nói chung cũng đông hơn (Phan Xuân Biên, 1989, tr.85)
Người Chăm ở Ninh Thuận là cư dân bản địa có nền văn hoá riêng, đanggiữ vai trò quan trọng trong việc đoàn kết dân tộc, xây dựng và phát triển kinh tế-
xã hội cùng cả nước xây dựng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các tộc ngườithiểu số trong tỉnh Ninh Thuận đã đóng góp sức người sức của, nhiều cơ sở cáchmạng đã hình thành và phát triển ở các thôn, xóm, có nhiều anh hùng liệt sỹ, giađình có công với cách mạng
a Đời sống kinh tế:
Người Chăm định cư trên dải đất miền Trung với đặc điểm địa hình là miềnđất hẹp, kéo dài và được cấu tạo bởi ba vùng: Núi - Đồng bằng - Biển cả Khí hậunơi đây khắc nghiệt, khô ẩm, nhiều nắng, ít mưa Điều kiện tự nhiên, địa lí môisinh đó đã hình thành nên nền kinh tế của người Chăm
Kinh tế truyền thống của người Chăm bao gồm cả nghề nông, nghề đi biển
và khai thác rừng Ba hình thái kinh tế đó đã góp phần làm cho đời sống kinh tếChăm phát triển phồn thịnh và hiện nay còn in dấu ấn đậm nét trong lễ hội Chăm.Tuy nhiên ngày nay, một số ngành kinh tế truyền thống đã bị mất đi Hiện nayngười Chăm không còn làm nghề biển Tuy một số làng Chăm ở Ninh Thuận nhưBỉnh Nghĩa, Tuấn Tú vẫn còn sống gần biển nhưng họ không làm nghề biển mà lạiquay lưng với biển Đa số (khoảng 95%) người Chăm Ninh Thuận ngày này sốngbằng nghề nông, và một số ít làm nghề chăn nuôi và khai thác rừng Đến nay họvẫn còn phát huy truyền thống làm lúa nước và chăn nuôi gia súc, gia cầm Hoạtđộng nông nghiệp vẫn là nền kinh tế chủ đạo trong đời sống kinh tế chủ đạo trongđời sống kinh tế của người Chăm hiện nay
Trang 15b Đời sống văn hóa
Từ khi người Chăm thoát khỏi ách đô hộ của Trung Hoa và lập quốc vàothế kỷ thứ II, liên hệ với Trung Hoa cũng hầu như không còn Thay vào đó là sựtiếp xúc với văn hoá Ấn Độ và, do văn hoá Ấn Độ không mang theo chiến tranh,nên nó được người Chăm tiếp nhận Ảnh hưởng của Ấn Độ đối với văn hoá Chămphát huy mạnh mẽ trong khoảng thế kỷ VII đến hết thế kỷ XV Trong từng ấy thế
kỷ, ảnh hưởng này để lại lớn đến mức nhiều người chỉ nhìn thấy những yếu tố Ấn
Độ trong văn hoá Chăm Nói đến ảnh hưởng của Ấn Độ đối với văn hoá Chăm thìBàlamôn giáo là yếu tố quan trọng nhất (Trần Ngọc Thêm, 1999, tr.227)
c Đời sống giáo dục
Cho đến bây giờ chưa có nghiên cứu nào đề cập đến, trong lịch sử ngườiChăm đã có Trường Đại học chưa? Môi trường giáo dục người Chăm như thế nào?Hiện nay, chỉ biết rằng, người Chăm chủ yếu đi học để làm chức sắc hay tu sĩ
trong tôn giáo Cụ thể là, đối với người Chăm Ahiêr (người Chăm ảnh hưởng
Bàlamôn giáo) khi muốn kế nghiệp truyền thống gia đình để làm chức sắc thì đitìm một người trong hàng ngũ chức sắc dạy cho chữ Chăm và cách thức hành lễtrong tôn giáo Sau một quá trình học việc thành thạo thì được công nhận và phong
chức đứng trong hàng ngũ chức sắc Còn đối với người Chăm Awal (người Chăm
ảnh hưởng Islam giáo) cũng diễn ra tương tự như vậy, người học trò sẽ được sựhướng dẫn của Po Gru, Acar tập thực hành nghi lễ, học kinh thánh Như vậy,người Chăm chỉ học để trở thành chức sắc tôn giáo nên môi trường học tập khôngđược tổ chức chính quy thành trường, lớp Hình thức học tập này tạm gọi là nềngiáo dục truyền thống
Trước năm 1945, người Chăm chưa biết đến nền giáo dục Quốc ngữ (họctiếng phổ thông) mà chỉ học chữ Chăm Một số gia đình giàu có thì cho con họcchữ Hán để ra làm quan Huyện, quan Tổng (Nguyễn Văn Tỷ, 2010, tr.57) Ngày2-9-1945, Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngộc Độc lập” khai sinh ra nước ViệtNam Dân chủ Cộng hoà Ngay sau đó, Hồ Chí Minh đã đề nghị thực hiện sáu biện
Trang 16pháp cấp bách trong đó có phong trào chống nạn mù chữ trong dân chúng Từ đó,phong trào “Bình dân học vụ” được phát động đã lôi cuốn hàng triệu người hiếuhọc muốn thoát khỏi nạn mù chữ, mùa khai trường đầu tiên của tuổi trẻ nước ViệtNam được tổ chức ngay sau ngày mừng độc lập, tiếng Việt được quy định sử dụnglàm ngôn ngữ chính thức trong giảng dạy, học tập và trong các hoạt động chính trị
xã hội, cuộc vận động xây dựng nếp sống mới, đời sống văn hoá mới đã dấy lên ở
cả thành thị và nông thôn (Hà Minh Hồng, 2005, tr.139)
Kết luận:
Người Chăm ở Ninh Thuận là tộc người bản địa có lịch sử phát triển liêntục, đang kế thừa những di sản của nền văn minh Champa để lại, tạo được một nétvăn hoá riêng biệt không thể lẫn lộn với bất kỳ một tộc người khác trong khu vực.Hiện nay, người Chăm có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách Đạiđoàn kết dân tộc Hơn thế nữa, nói tới tộc người thiểu số ở miền Trung thì khôngthể không đề cập đến người Chăm Bởi vì, không gian văn hoá Chăm được trải dàitheo suốt dọc miền đất nước từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây Bằng chứng
là hàng năm vào dịp lễ hội Katê, người Chăm cùng tộc người Raglai và một số tộcngười khác cùng nhau phối hợp thực hành nghi lễ chung ở đền tháp Champa
Trong lịch sử đấu tranh giành lại chủ quyền và bảo vệ nền độc lập của ViệtNam, đã xuất hiện nhiều tấm gương hy sinh oanh liệt của chiến sĩ người Chămnhư Phú Như Lập, Đổng Dậu… Như vậy, người Chăm đã thực sự hoà nhập vàocộng đồng đa tộc người ở Việt Nam, quá trình phát triển tộc người Chăm đã cấuthành lịch sử Việt Nam Mặc dù, địa bàn cư trú xa trung tâm hành chính, co cụmthành từng làng riêng biệt nên người Chăm còn chịu nhiều thiệt thòi, khó khăn đểphát triển Nhưng lực lượng lao động chất xám tại chỗ của người Chăm khá đôngđảo đang nắm vai trò quan trọng ở các cơ quan hành chính sự nghiệp của Nhànước Đặc biệt, là các cơ quan giáo dục và y tế Trái lại, trong việc đề cử côngchức cao cấp, chưa có một người Chăm nào ở tỉnh Ninh Thuận làm tới chức Bí thư
Trang 17hay Chủ tịch tỉnh, huyện (Trừ huyện Ninh Phước có ông Châu Thăng Long làmchủ tịch huyện qua 2 nhiệm kỳ) Điều này càng hiếm hơn đối với lao động nữngười Chăm.
Văn hoá Chăm góp phần rất lớn làm cho văn hoá Việt Nam thêm đa dạngtrong thống nhất Tuy nhiên, nhiều giá trị văn hoá Chăm có nguy cơ bị biến mất,chỉ riêng trong lĩnh vực văn học và âm nhạc đang bộc lộ khá rằng rõ ràng Bộ phậnyêu thích văn chương và sáng tác bằng chữ Chăm Akhar Thrah giảm đi rất nhiều.Thay vào đó, xu hướng sử dụng tiếng phổ thông trong giao tiếp, thư từ, sáng tácvăn học là chủ yếu Những làn điệu dân ca Chăm ít được phổ biến, đang chịu sức
ép về sự cạnh tranh với dòng trào lưu âm nhạc mới Một phần do công tác nghiêncứu, sưu tầm chưa làm được, phần khác do lực lượng sáng tác bằng tiếng Chăm
quá ít, chưa nói tới chất lượng của tác phẩm Chữ Chăm-Akhar Thrah-không được
giáo dục trong trường lớp chính quy do lịch sử để lại, làm mất đi tính thống nhấttrong cộng đồng Chăm Mặt khác, những lần cải cách ngôn ngữ chưa có được sựđồng thuận của đông đảo tầng lớp, nhân sĩ, chức sắc làm cho ngôn ngữ Chăm cónhiều bất cập và vướng mắc mà những nhà khoa học đã lên tiếng cảnh báo
III Tháp Chăm
Trên xứ sở Panduranga này còn lại ba cụm tháp tiêu biểu cho nghệ thuậtkiến trúc Chămpa, ẩn chứa những giá trị văn hóa, tín ngưỡng rất lớn và được coi