Việc tìm hiểu những truyền thuyết liên quan đến tháp Chăm trên quê hương Ninh Thuận, Bình Thuận là một hoạt động thiết thực giúp người viết có thêm những hiểu biết về văn hoá dân gian đị
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KIỀU THỊ SOPRI
TRUYỀN THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN THÁP
CHĂM TẠI VÙNG ĐẤT NINH THUẬN, BÌNH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KIỀU THỊ SOPRI
TRUYỀN THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN THÁP
CHĂM TẠI VÙNG ĐẤT NINH THUẬN, BÌNH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện luận văn, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi luôn
nh ận được sự giúp đỡ tận tình của thầy hướng dẫn khoa học: TS Hồ Quốc Hùng S ự giúp đỡ của các thầy cô phòng Sau Đại học, khoa Văn trường Đại
h ọc Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Sự giúp đỡ của Trung tâm nghiên cứu văn hóa Chăm tỉnh Ninh Thuận, Ban Quản lý di tích tháp Chăm ở tỉnh Ninh Thu ận và Bình Thuận
Nhân d ịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hồ
Qu ốc Hùng cùng toàn thể các thầy cô; Sự giúp đỡ của các thầy cô phòng Sau Đại học, khoa Văn trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Sự giúp đỡ của Trung tâm nghiên cứu văn hóa Chăm tỉnh Ninh Thuận, Ban Quản
lý di tích tháp Chăm ở tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận và các bạn đồng nghi ệp, người thân đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Ki ều Thị Sopri
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN DẪN NHẬP 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử vấn đề 5
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
5.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống 11
5.2 Phương pháp sưu tầm và thẩm định tư liệu 11
5.3 Phương pháp khảo sát, điều tra xã hội học 11
5.4 Phương pháp thống kê, miêu tả 12
5.5 Phương pháp phân tích, so sánh 12
5.6 Phương pháp phân loại, hệ thống hóa 12
6 Đóng góp mới của luận văn 12
7 Cấu trúc của luận văn 12
Chương 1 - THÁP CHĂM TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI CHĂM 14
1.1 Vài nét về người Chăm 14
1.2 Tháp Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận 16
1.2.1 Tháp Po Klaung Garai 17
1.2.2 Tháp Po Rome 18
1.2.3 Tháp Hòa Lai 19
1.2.4 Tháp Po Dam 20
1.2.5 Tháp Po Sah Inư 21
1.3 Vai trò của tháp trong đời sống cộng đồng người Chăm 22
1.3.1 Tháp Chăm là nơi gắn bó với đời sống nông – ngư nghiệp 22
1.3.2 Tháp Chăm là nơi cầu đảo thần linh 25
1.3.3 Tháp Chăm là trung tâm hành lễ tôn giáo 26
Trang 5Chương 2 - ĐẶC ĐIỂM, DIỆN MẠO TRUYỀN THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN
THÁP CHĂM NINH THUẬN, BÌNH THUẬN 29
2.1 Tư liệu truyền thuyết tháp Chăm 29
2.1.1 Tư liệu đã công bố 29
2.1.2 Tư liệu đi sưu tầm, điền dã 31
2.2 Phân loại truyền thuyết Tháp Chăm 32
2.2.1 Số lượng nhóm truyền thuyết 32
2.2.2 So sánh dị bản nhóm truyền thuyết 35
2.3 Đặc điểm nội dung truyền thuyết Tháp Chăm 44
2.3.1 Truyền thuyết tháp Chăm ca ngợi công đức các vị vua Chăm đối với nhân dân Chăm 44
2.3.2 Truyền thuyết tháp Chăm lý giải sự hình thành những địa danh, lễ nghi, tập tục gắn với cuộc đời và hành trạng của nhân vật 46
2.4 Đặc điểm nghệ thuật truyền thuyết Tháp Chăm 52
2.4.1 Nghệ thuật kết cấu 52
2.4.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 55
2.5 Các môtip trong truyền thuyết Tháp Chăm 56
2.5.1 Môtip thụ thai và sinh đẻ thần kỳ 3
2.5.2 Môtip hóa thần về trời 6
2.5.3 Môtip con rồng 7
2.5.4 Môtip thi tài 9
2.5.4.1 Môtip thi xây tháp 9
2.5.4.2 Môtip thi đào mương 11
2.5.5 Môtip con voi 12
2.5.6 Môtip cây 13
Chương 3 - TRUYỀN THUYẾT THÁP CHĂM VÀ LỄ HỘI ĐỀN THÁP TẠI VÙNG ĐẤT NINH THUẬN, BÌNH THUẬN 17
3.1 Truyền thuyết với hệ thống lễ hội ở các đền tháp tại vùng Ninh Thuận, Bình Thuận 17
Trang 63.1.1 Truyền thuyết với lễ mở cửa Tháp (Pơh Băng Yang) 19
3.1.2 Truyền thuyết với lễ cầu đảo (Yuơr -Yang) 20
3.1.3 Truyền thuyết với lễ tế thần chuột (Yang Tikuh) tại tháp Po Dam 23
3.1.4 Truyền thuyết với lễ hội Katê 25
3.2 Khảo sát tình hình lưu truyền, phổ biến của truyền thuyết tháp Chăm tại vùng Ninh Thuận, Bình Thuận 35
3.2.1 Tiếp nhận của người Chăm về truyền thuyết tháp Chăm 35
3.2.2 Một số kiến nghị đề xuất 44
KẾT LUẬN 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 7PHẦN DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc là chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn đổi mới và hội nhập Đảng và Nhà nước luôn khuyến khích việc tìm hiểu, nghiên cứu những giá trị văn hóa truyền thống để khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc Điều đó trở thành nội lực tạo nên sức mạnh để Việt Nam hòa nhập cùng thế giới Nghiên cứu truyền thuyết nói chung và truyền thuyết liên quan tới tháp Chăm ở vùng đất Ninh Thuận, Bình Thuận nói riêng là một hoạt động thiết thực để thực hiện chủ trương đường lối của Đảng về việc giữ gìn phát huy bản sắc dân tộc
Từ hàng nghìn năm nay đã và đang tồn tại một nền văn hoá Vịêt Nam thống nhất Nhưng bản sắc văn hoá Việt Nam lại được biểu hiện thông qua sự đa dạng của các tộc người trong cộng đồng người Việt Nam và sự phong phú của các vùng miền đất nước Nghiên cứu các trường hợp của Folklore cụ thể từng vùng văn hoá không phải là hướng đi mới, nhưng đối với Việt Nam là hướng đi rất cần thiết Nó có tác dụng bảo tồn văn hoá truyền thống; sự giao thoa văn hoá các tộc người Ninh thuận, Bình Thuận là một vùng văn hóa đặc sắc trong khu vực Nam Trung Bộ Nơi đây là một trong những trung tâm văn hóa của vương quốc Champa cổ đại ở khu vực phía Nam xưa Vương quốc này hiện không còn nữa nhưng những dấu ấn của nó vẫn còn đậm nét trong đời sống người dân Vì vậy, chúng tôi đi vào tìm hiểu những truyền thuyết liên quan tới tháp Chăm với mong muốn phần nào làm sáng tỏ những huyền
bí, linh thiêng của tháp Chăm trong tâm thức cộng đồng dân tộc Chăm thông qua tập tục sinh hoạt văn hóa
Các tháp Chăm còn lại ở nước ta suốt dải đất miền Trung và Tây Nguyên nói chung và khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận nói riêng là những di tích có giá trị đặc sắc về lịch sử, nghệ thuật, kĩ thuật xây dựng, văn hóa như tín ngưỡng, lễ hội, về ý
nghĩa triết lý và thờ tự Mặt khác, giữa truyền thuyết tháp Chăm và các lễ hội trên
các tháp Chăm vốn có mối quan hệ biện chứng với nhau Nhờ truyền thuyết, lễ hội
Trang 8bám chặt gốc rễ vào mảnh đất đời sống, trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tâm linh của con người Truyền thuyết là chiếc cầu nối giữa niềm tin, cảm xúc của cộng đồng với tín ngưỡng, phong tục, tập quán Niềm tin trong truyền thuyết được hiện thực hóa trong lễ hội Lễ hội giúp truyền thuyết được lưu giữ và có
sức lan tỏa rộng rãi Vì vậy, việc tìm hiểu đề tài này rất cần thiết
Thông qua việc khảo sát, phân tích các môtip, những đặc điểm nội dung và nghệ thuật cũng như mối quan hệ giữa truyền thuyết tháp Chăm với các lễ hội diễn
ra trên tháp Chăm cũng là một đóng góp cho hướng nghiên cứu, giảng dạy văn học dân gian theo tính nguyên hợp
Là một người con của quê hương Ninh Thuận, người viết mong muốn đóng góp một phần công sức vào việc giữ gìn và phát triển di sản văn hoá dân gian trên quê hương mình Việc tìm hiểu những truyền thuyết liên quan đến tháp Chăm trên quê hương Ninh Thuận, Bình Thuận là một hoạt động thiết thực giúp người viết có thêm những hiểu biết về văn hoá dân gian địa phương Từ đó, càng tự hào về vùng quê của mình Đặc biệt người viết lại là một giáo viên Ngữ văn, đây là nền tảng thuận lợi để người viết giúp học sinh hiểu biết về lịch sử và văn hoá địa phương Việc tìm hiểu chuỗi truyền thuyết liên quan đến tháp Chăm có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động dạy học văn học dân gian địa phương theo đặc trưng thể loại - gắn với môi trường diễn xướng Đồng thời, giáo dục học sinh lòng biết ơn, sự ngưỡng
mộ tôn kính người anh hùng có công đối với dân tộc
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu các trường hợp của Folklore cụ thể từng vùng văn hoá không phải là hướng đi mới, nhưng đối với Việt Nam là hướng đi rất cần thiết Nó có tác dụng bảo tồn văn hoá truyền thống; sự giao thoa văn hoá các tộc người Do đó việc
nghiên cứu đề tài: “Truyền thuyết liên quan đến tháp Chăm tại vùng đất Ninh Thuận, Bình Thuận” theo hướng này rất có ý nghĩa Hiện nay chưa có công trình
cụ thể nào nghiên cứu các truyền thuyết liên quan đến tháp Chăm ở vùng Ninh
Trang 9Thuận, Bình Thuận Tuy nhiên, ở những góc độ khác nhau vẫn có một số công trình liên quan đến đề tài
Năm 1991, các tác giả Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp đã xuất bản công trình Văn hóa Chăm, Nxb Khoa học xã hội Đây là một công trình rất có giá
trị, tập hợp được nhiều tư liệu có được từ trước đến nay về văn hóa Chăm Ở phần viết về các phong tục tập quán, các tác giả cũng đã trình bày một số nghi lễ liên quan tới tháp Chăm Tuy nhiên, các tác giả cũng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát,
để phục vụ cho công trình có phạm vi rộng là “văn hóa Chăm” Đậy chưa phải là công trình chuyên sâu về mối quan hệ giữa truyền thuyết với các nghi lễ tháp Chăm
Năm 1994, cuốn sách Tháp cổ Chăm - sự thật và huyền thoại, Nxb Văn hóa
thông tin của tác giả Ngô Văn Doanh cũng đã khái quát được địa điểm, đặc điểm cấu tạo, lịch sử, tín ngưỡng thờ cúng và lễ hội trên các tháp Chăm suốt dải đất miền Trung Việt Nam Các văn bản truyền thuyết được khảo sát trong tài liệu được dẫn theo tài liệu của Nguyễn Đình Tư - Non nước Ninh Thuận (tài liệu này không ghi rõ
xuất xứ truyền thuyết) và tài liệu của Trần Việt Kỉnh- Nữ thần Pô Nagar (cuốn
sách này được sưu tầm ở Phú Khánh, truyền thuyết có ghi rõ xuất xứ) Tuy nhiên, tài liệu này chỉ dừng lại ở việc kể lại một cách rời rạc các truyền thuyết có liên quan đến các tháp Chăm suốt dải đất miền Trung, chưa tìm hiểu được mối quan hệ giữa truyền thuyết với các nghi lễ, lễ hội trên tháp Chăm
Năm 1995, tài liệu Truyền thuyết về các tháp Chăm trên miền đất cực Nam
Trung Bộ, Nxb Văn hóa dân tộc của tác giả Bố Xuân Hổ đã chỉ ra một cách cụ thể,
chân thực các nghi lễ, lễ hội gắn với tháp Chăm Đồng thời tác giả cũng đi vào trình bày một cách chi tiết nội dung, giá trị của một số truyền thuyết tháp Chăm tiêu biểu
ở vùng đất Ninh Thuận, Bình Thuận và Nha Trang như: tháp Po Klaung Garai, tháp
Po Rome, tháp Hòa Lai, tháp Po Dam, tháp Po Sah Inư, tháp Po Inưnagar Có thể nói, tài liệu này rất có giá trị với việc lưu truyền, bảo tồn vốn truyền thuyết tháp Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận Tuy nhiên, tài liệu chưa tìm hiểu được đặc điểm truyền thuyết tháp Chăm, các nghi lễ, lễ hội trên tháp Chăm
Trang 10Năm 2003, Nguyễn Đình Tư viết cuốn Non nước Ninh Thuận, Non nước
Bình Thuận, Nxb Thanh niên Đây là tập sách giới thiệu các lĩnh vực như lịch sử,
địa lý, khí hậu, dân cư, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng…của vùng đất Ninh Thuận, Bình Thuận Tài liệu dành một chương (chương II) viết về các di tích lịch sử, trong
đó có đề cập tới những truyền thuyết liên quan tới tháp Po Klaung Garai, tháp Po Rome, tháp Hòa Lai ở Ninh Thuận, tháp Po Dam, tháp Po SahInư ở Bình Thuận nhưng không ghi rõ xuất xứ Người Chăm thì có nhiều lễ tế, lễ hội gắn với các tháp nhưng cuốn sách này chỉ cung cấp lễ hội trên tháp Po Klaung Garai Tác giả cho rằng: “Tháp Po Klaung Garai là nơi thờ phụng của đồng bào Chăm, được bảo vệ chu đáo Mỗi năm có hai lễ lớn được tổ chức nơi đây: đó là lễ Păng Katê vào khoảng tháng 9 tháng 10 dương lịch và lễ Păng Chabul vào khoảng tháng 2, tháng 3 dương lịch”[91, tr 96] Như vậy, cuốn sách này chưa chú ý tới mối quan hệ giữa truyền thuyết với lễ hội trên tháp Chăm
Năm 2003, tác giả Sakaya (Văn Món) viết cuốn sách Lễ hội của người
Chăm, Nxb Văn hóa dân tộc Tài liệu này đã khái quát hơn 20 lễ hội Chăm khác
nhau, trong đó có đề cập đến bốn lễ hội gắn với đền tháp Chăm (bao gồm: lễ mở cửa tháp, lễ Cầu đảo, lễ tế thần Chuột và lễ hội Katê) Tài liệu được bố cục thành 3 phần, 10 chương như sau: Phần thứ nhất: chương I và chương II: Môi trường tự nhiên và xã hội, lịch sử để hình thành lễ hội Chăm Phần thứ hai: từ chương III đến chương VII, phần này, tác giả phân loại các hệ thống lễ hội Chăm và trình bày các loại lễ hội một cách cụ thể thiên về hướng miêu tả là chính Qua đó nêu lên các hệ thống, loại hình tiêu biểu nhất của lễ hội Chăm từ xưa đến nay Phần thứ ba: từ chương VIII đến chương X, Tác giả nêu lên những đặc trưng chính của lễ hội Chăm trên nhiều bình diện như: cơ cấu, tổ chức lễ hội Chăm; lễ hội Chăm với di sản văn hóa vật chất như di tích đền tháp, tượng thờ, trang phục, ẩm thực và nhạc cụ; lễ hội Chăm với di sản văn hóa tinh thần như tín ngưỡng, tôn giáo, văn chương và ca múa nhạc dân gian…Tài liệu đã giúp chúng tôi xác định ý nghĩa và giá trị của lễ hội Chăm nói chung, bốn nghi lễ, lễ hội trên tháp Chăm nói riêng, tạo điều kiện để khảo sát mối quan hệ giữa truyền thuyết tháp Chăm với hệ thống lễ hội trên tháp Chăm
Trang 11Năm 2005, tác giả Nguyễn Thị Thu Vân công bố luận án tiến sĩ “Khảo sát
truyện cổ dân tộc Chăm” Tác giả đã khái quát diện mạo truyện cổ Chăm (bao
gồm: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn) Trong đó, tác giả miêu tả 6 môtip chính trong truyền thuyết Chăm (môtip thụ thai và sinh đẻ thần kỳ, môtip cây, môtip trở về cõi vĩnh hằng trở thành thần, môtip thi xây tháp, môtip con voi, môtip con rồng) Các văn bản truyền thuyết được khảo sát trong luận án có một
số văn bản liên quan đến vua Po Klaung Garai và vua Po Rome Đây là hai vị vua lớn của dân tộc đã có nhiều công lao đối với nhân dân, được thờ phụng tại tháp mang tên hai ngài - tháp Po Klaung Garai (Ninh Thuận) và tháp Po Rome (Ninh Thuận) Một số văn bản truyền thuyết khác cũng liên quan đến tháp Po Sah Inư Tuy nhiên, luận án chỉ khảo sát đặc điểm truyện cổ Chăm (bao gồm thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn), chưa quan tâm đến truyền thuyết liên quan tới tháp Chăm, cũng như chưa khảo sát truyền thuyết trong môi trường diễn xướng dân gian cụ thể
Năm 2007, Trần Bá Việt (chủ biên) viết cuốn sách Đền tháp Champa - bí ẩn
xây dựng, Nxb Xây dựng, Hà nội Tài liệu này chủ yếu khảo sát về đặc điểm, cấu
tạo và kỹ thuật xây tháp, không có truyền thuyết về các tháp, chưa đề cập đến vấn
đề mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian với các lễ hội tháp Chăm Tuy nhiên, tài liệu này đã cung cấp ý nghĩa quan trọng của tháp Chăm trong đời sống tâm linh của người Chăm là nền tảng sản sinh các lễ hội Chăm phong phú, đa dạng Các tác giả cho rằng: “Tháp Chăm là trung tâm hành lễ tôn giáo trong vùng” [98, tr 45] Đây là một luận điểm quan trọng góp phần định hướng trong quá trình nghiên cứu đề tài
Để nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền thuyết với các nghi lễ, lễ hội, chúng tôi có tham khảo một số công trình nghiên cứu theo hướng này của các nhà khoa học đi trước Đáng chú ý là các công trình:
Cao Huy Đỉnh, (1969), Người anh hùng làng Dóng, Nxb Khoa học Xã hội
“Vùng truyền thuyết - diễn xướng Tản Viên” của Vũ Ngọc Khánh và
“Vùng truyền thuyết Lam sơn” của Tăng Kim Ngân (trích trong tài liệu: Ngô Đức
Trang 12Thịnh (chủ biên), (1993), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt nam, Nxb
Khoa học xã hội, Hà nội)
Luận án tiến sĩ “Mối quan hệ truyền thuyết người Việt và hội lễ các anh
hùng” của tác giả Lê Văn Kỳ, chuyên ngành: văn học dân gian, luận án Phó tiến sĩ khoa học Ngữ văn, Trường Đại học KHXH và nhân văn, được bảo vệ năm 1995 Đặc biệt nhất là một số gợi ý của tác giả Kiều Thu Hoạch và Nguyễn Khắc Xương
Năm 1971, trong bài viết “Truyền thuyết anh hùng trong thời kì phong
kiến”, tác giả Kiều Thu Hoạch đã nhận xét: “Một đặc điểm của truyền thuyết anh
hùng chống xâm lược của ta là thường gắn liền với các cuộc hội mùa và nghi lễ tế thần ở các đình, chùa, đền, miếu” [34, tr 187]
Năm 1973, Nguyễn Khắc Xương công bố bài: “Tìm hiểu quan hệ giữa thần
thoại, truyền thuyết và diễn xướng tín ngưỡng phong tục” Trong bài viết, tác giả
quan niệm diễn xướng như là một bộ phận của hội làng Các diễn xướng tín ngưỡng phong tục tái hiện sự tích thần linh có nguồn gốc từ thần thoại và truyền thuyết Theo tác giả: “Thần thoại và truyền thuyết lưu truyền bằng miệng trong dân gian đã được tái hiện cụ thể và sinh động trước nhân dân qua nghệ thuật diễn xướng hỗn hợp” [112, tr 77] Một mặt, tác giả chỉ ra “mối quan hệ giữa thần thoại, truyền thuyết và diễn xướng tín ngưỡng phong tục là quan hệ giữa tích và trò”; mặt khác tác giả cũng nêu rõ diễn xướng ấy “không tái hiện toàn bộ thần tích hay truyền thuyết mà chỉ tái hiện một tình tiết nào đó” [112, tr 77]
Những ý kiến này của tác giả Nguyễn Khắc Xương là tiền đề thuận lợi giúp chúng tôi thực hiện nghiên cứu này
Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo một số công trình nghiên cứu lẻ tẻ về
các lễ hội trên tháp Chăm cũng liên quan đến đề tài như: Trần Long, “Những bí ẩn tháp Chăm” [64] ; Sử Văn Ngọc, “Sinh hoạt của người Chăm Ninh Thuận trong bối cảnh các di tích” [70] ; Sakaya, “Sự biến đổi của Lễ hội Katé: xưa và nay”[85] ; Lý Tùng Hiếu, Đổng Lấn, “Lễ hội Katê truyền thống của người
Trang 13Chăm”, [37, tr 78-80]; Phan Quốc Anh, “Lễ hội Katê của người Chăm ở Ninh Thuận”, [5, tr 60-62],…
Tóm lại, những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài này từ trước tới nay đa phần chỉ tập trung vào nghiên cứu lịch sử và những di tích đền tháp, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc trên tháp Chăm, mô tả những nghi thức tế lễ, lễ hội của người Chăm Những công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa truyền thuyết với lễ hội trên tháp Chăm vẫn còn hạn chế
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Nói về các truyền thuyết liên quan tới tháp Chăm là nói về truyền thuyết của người Chăm kể về kĩ thuật xây dựng tháp, về quá trình chuẩn bị vật liệu gạch, đá,
gỗ để xây tháp như thế nào? Ai là người xây dựng tháp? Cách người Chăm tổ chức, thi công tháp Chăm như thế nào? Các vua thần Chăm được thờ phụng…Chúng tôi chỉ dừng lại ở các truyền thuyết về các vua thần Chăm được thờ phụng tại tháp Chăm ở khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận Mặt khác, sở dĩ chúng tôi chỉ chọn những truyền thuyết liên quan tới tháp Chăm ở hai khu vực Ninh Thuận và Bình Thuận là vì vùng đất này đã từng chọn làm kinh đô thuộc phía nam vương quốc Champa xưa Vương quốc Nam Champa này đã từng giữ vai trò trọng yếu trong tiến trình phát triển của lịch sử Đông Nam Á Do biến cố lịch sử thường xuyên xảy
ra đối với quá trình hình thành và phát triển tộc người, ngày nay địa bàn cư trú của dân tộc Chăm có khuynh hướng phân tán thành nhiều khu vực khác nhau Chính vì thế, nơi đây còn lưu giữ một di sản văn hóa Chăm phong phú và đồ sộ trên cả hai
bình diện: văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể hơn so với các khu vực khác
Phạm vi nghiên cứu là nhóm truyền thuyết liên quan tới 3 tháp Chăm ở Ninh
Thuận và 2 tháp Chăm ở Bình Thuận
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nhằm hệ thống, phân loại, miêu tả kết cấu của nhóm truyền thuyết tháp Chăm và tìm hiểu mối quan hệ giữa truyền thuyết với tín ngưỡng, lễ hội trên
Trang 14tháp Chăm Từ đó thấy được sức sống, sự vận động của những truyền thuyết này trong đời sống tinh thần của đồng bào Chăm ở khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận Nhiệm vụ
- Thứ nhất là tổng hợp các tư liệu đã công bố bằng văn bản Chúng tôi còn tiến hành đi điền dã, sưu tầm, bổ sung và đối chiếu so sánh tư liệu người
đi trước
- Thứ hai là cố gắng tìm hiểu đời sống thực tế của nhóm truyền thuyết này
- Thứ ba là hệ thống, phân loại và lược đồ kết cấu nhóm truyền thuyết
- Thứ tư là tìm hiểu mối quan hệ giữa truyền thuyết liên quan tới tháp Chăm với tín ngưỡng, lễ hội diễn ra trên tháp Chăm ở vùng Ninh Thuận, Bình Thuận
5 Phương pháp nghiên cứu
5.3 Phương pháp khảo sát, điều tra xã hội học
Phương pháp này giúp chúng tôi thu thập thông tin, sưu tầm, khảo sát những
tư liệu truyền thuyết hiện tồn trong đời sống văn hóa của vùng đồng bào Chăm đang
sinh sống tại Ninh Thuận, Bình Thuận
Trang 155.4 Phương pháp thống kê, miêu tả
Sử dụng số liệu thống kê để phát hiện những môtip trong hệ thống truyền thuyết tháp Chăm
Miêu tả kết cấu, đặc điểm nội dung từng mảng, nhóm truyền thuyết; miêu tả những yếu tố lịch sử hóa, địa phương hóa trong hệ thống truyền thuyết tháp Chăm
5.5 Phương pháp phân tích, so sánh
Phân tích kết cấu tác phẩm, chi tiết nghệ thuật, những dấu vết truyền thống
và sáng tạo mới của người Chăm
So sánh truyền thuyết đã công bố với tư liệu đi sưu tầm điền dã, từ đó thấy được bản kể nào phổ biến nhất trong đời sống thực tế Hoặc từ nhiều cách kể khác nhau, chúng tôi có thể khái quát thành mô hình chung, từ đó tìm hiểu được những
yếu tố địa phương, yếu tố lịch sử hóa trong truyền thuyết
5.6 Phương pháp phân loại, hệ thống hóa
Phân loại những tác phẩm sưu tầm được, chọn hoặc loại bỏ chúng (dựa vào tiêu chí thể loại, giới hạn nghiên cứu và đối tượng khảo sát)
Hệ thống hóa văn bản rời rạc, đưa chúng vào từng mảng nhóm truyện, khảo
sát từng môtip qua việc đặt chúng trong từng môtip cụ thể
6 Đóng góp mới của luận văn
Khảo sát mối quan hệ truyền thuyết, hoạt động tín ngưỡng, nghi lễ gắn với không gian thiêng của các tháp Chăm
7 Cấu trúc của luận văn
Luận văn có tất cả là 120 trang (chưa kể phần phụ lục) Ngoài phần dẫn nhập, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo chính, nội dung luận văn được triển khai trong 3 chương sau
Trang 16Chương 1 - THÁP CHĂM TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI CHĂM
1.1 Vài nét về người Chăm
1.2 Vai trò của tháp Chăm trong đời sống cộng đồng của người Chăm
Chương 2 - ĐẶC ĐIỂM, DIỆN MẠO TRUYỀN THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN THÁP CHĂM VÙNG NINH THUẬN, BÌNH THUẬN
2.1 Tư liệu truyền thuyết tháp Chăm
2.2 Phân loại truyền thuyết tháp Chăm
2.3 Đặc điểm nội dung truyền thuyết tháp Chăm
2.4 Đặc điểm nghệ thuật truyền thuyết tháp Chăm
2.5 Các môtip trong truyền thuyết tháp Chăm
Chương 3 - TRUYỀN THUYẾT THÁP CHĂM VÀ LỄ HỘI ĐỀN THÁP TẠI VÙNG ĐẤT NINH THUẬN, BÌNH THUẬN
3.1 Truyền thuyết với hệ thống lễ hội ở các đền tháp tại vùng Ninh Thuận, Bình Thuận
3.2 Khảo sát tình hình lưu truyền, phổ biến của truyền thuyết tháp Chăm tại vùng Ninh Thuận, Bình Thuận
Sau cùng là phần phụ lục (tóm tắt 37 truyền thuyết được chọn khảo sát, 2 văn bản Chăm do chúng tôi sưu tầm) và một số bảng biểu, các tranh ảnh điền dã lễ hội trên tháp Chăm ngày 07 tháng 10 năm 2010 và ngày 27 tháng 09 năm 2011
Trang 17Chương 1 - THÁP CHĂM TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI CHĂM
1.1 Vài nét về người Chăm
Người Chăm là một trong số 54 dân tộc anh em cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam với số dân khoảng 132.800 người sống rải rác khắp các tỉnh dọc ven biển miền Trung từ Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận đến các tỉnh Nam
Bộ như: Bình Phước, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, An Giang và Tây Ninh Trong số đó, người Chăm ở Ninh Thuận có số dân đông nhất vào khoảng trên 58.700 người chiếm gần 50% trong tổng số người Chăm ở Việt Nam
Theo nhiều nguồn sử liệu, người Chăm là một dân tộc có một quá trình hình thành và phát triển lâu đời Vào khoảng cuối thế kỷ II cho đến đầu thế kỷ XIX, trên dải đất dài rộng từ Nam Đèo Ngang đến Tây Nguyên và Nam Bình Thuận đã tồn tại một quốc gia gồm nhiều tiểu vương quốc thuộc hai bộ tộc lớn Cau và Dừa liên hợp lại thành vương quốc Champa với những tên gọi khác nhau qua từng thời kỳ: Lâm
Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành trên 5 khu vực hành chánh khác nhau từ Bắc tới Nam: Ulik - Indrapura (Bình Trị Thiên), Amavarati (Quảng Nam, Quảng Ngãi), Vijaya (Bình Định), Aryaru-Kauthara (Phú Yên, Khánh Hòa) và Panduranga (Ninh Thuận - Bình Thuận) Người Chăm thuộc chủng tộc Nam Á, tiếng nói của họ rất gần gũi với các dân tộc Raglai, Churu, Garai, Êđê thuộc ngôn ngữ Mã Lai- Đa Đảo Vương quốc Champa cổ từng có nhiều tôn giáo, tín ngưỡng Họ tôn thờ Nữ Thần
Mẹ của vương quốc là Po Inư Nagar theo truyền thống tín ngưỡng Mẫu hệ lâu đời của cư dân Đông Nam Á Tín ngưỡng này còn tồn tại khá đậm nét trong xã hội người Chăm hiện nay Từ khi tiếp nhận những ảnh hưởng của văn hóa - văn minh
Ấn Độ người Chăm cổ theo Ấn Độ giáo, quốc vương là người quyết định tôn giáo chính thống của vương quốc Tôn giáo chính của người Chăm là Ấn Độ giáo, thờ một hay cả ba vị Thần của Tam vị nhất thể là Brahma - Visnu - Siva Tuy nhiên người Chăm cổ tôn sùng thần Siva hơn cả Các văn bia cổ bằng chữ Phạn (Sanskrit)
Trang 18trong khu Mỹ Sơn đã tôn Siva là Chúa tể của muôn loài, là cội rễ của nước Champa Thần Siva thường được thờ bằng ngẫu tượng sinh thực khí nam giới Ngoài ra
người Chăm cổ còn theo cả Phật giáo với trung tâm Đồng Dương (Quảng Nam) phát triển cực thịnh hồi thế kỷ IX - X Bên cạnh việc tiếp nhận tôn giáo Ấn Độ, người Chăm cổ đã tiếp thu cả mô hình tổ chức chính quyền nhà nước mà nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra đặc trưng chủ yếu là vương quyền kết hợp với thần quyền, các quốc vương Champa thường được đồng nhất với thần Siva
Người Chăm là một dân tộc có thành phần cấu trúc tộc người rất đa dạng, bao gồm nhiều nhóm, nhiều bộ phận khác nhau lại cư trú trên những địa bàn khá xa nhau Đó là một trong những nguyên nhân tạo nên sự đa dạng trong văn hóa Chăm Địa bàn cư trú của người Chăm chủ yếu là vùng đồng bằng ven biển, địa hình bị chia cắt bởi những con sông lớn và các dãy núi chạy từ đất liền ra biển Trong quá trình khai thác vùng đồng bằng ven biển và các thung lũng sát chân núi đã đồng hành với quá trình bản địa hóa của văn hóa Chăm Cũng như các dân tộc khác ở Đông Nam Á, cuộc sống của người Chăm ở đồng bằng ven biển chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp trồng lúa nước và nghề chài lưới
Vùng đất Ninh Thuận, Bình Thuận thông qua sử sách, di tích còn lại cho thấy người Chăm đã có lịch sử sinh sống ở đây lâu đời Vào thời kì vương triều Lâm ấp của vương quốc Champa cổ, vùng đất Ninh Thuận, Bình Thuận có tên Panduranga là một quốc gia độc lập với tên gọi là vương quốc Tây Đồ Di bị phụ thuộc vào Champa Vào thời kì Hoàn Vương, xứ Panduranga hợp nhất vào Lâm ấp
và suốt một thế kỉ sau đó, là giai đoạn khá quan trọng trong lịch sử vương quốc Champa Đó là thời kì bá quyền của miền Nam Champa (tức vùng Panduranga), khi
mà vương quốc Champa được củng cố, phát triển và do các vị vua chúa có nguồn gốc từ vùng đất Panduranga trị vì Thời kì vương triều Indrapura, Panduranga chỉ là một châu của vương quốc Champa song luôn có xu hướng tách ra độc lập Đây cũng là thời kì mà vương quốc Champa có những vị vua anh minh có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế - chính trị - văn hóa của đất nước như vua Po Klaung
Trang 19Garai mà cho tới nay vẫn còn những di tích tháp Chăm kỉ niệm ghi công đức của ngài
1.2 Tháp Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận
Ở Ninh Thuận, Bình Thuận, tất cả các công trình kiến trúc của dân tộc Chăm chủ yếu và tiêu biểu là tháp Mỗi tháp đều có những ý nghĩa khác nhau, gắn liền với sự kiện và nhân vật lịch sử từng thời kỳ Thường mỗi tháp thờ một vua nên
có những tên cụ thể như tháp Po Klaung Garai (thờ vua Po Klaung Garai), tháp Po Rome (thờ vua Po Rome), tháp Po Dam (thờ vua Po Dam), tháp Po Sah Inư (thờ công chúa Po Sah Inư) Riêng tháp Hoà Lai thì không thấy người Chăm thờ vị vua
cụ thể nào Những đền tháp Chăm đều có đặc điểm chung là một cụm kiến trúc bao gồm một tháp trung tâm hình vuông, mái thon nhọn “tượng trưng cho ngọn núi Mêru - Ấn Độ, trung tâm vũ trụ nơi ngự trị của các thánh thần” Xung quanh tháp chính là những tháp nhỏ nằm theo vị trí 4 hướng tượng trưng cho các lục địa và ngoài cùng là các hào rãnh, biểu tượng của đại dương Sơ đồ kiến trúc đó được xây theo khái niệm vũ trụ luận của Ấn Độ
Tháp còn có một đặc điểm chung là xây bằng gạch, có 4 mặt hình vuông đối
xứng nhau Mặt trước hướng về phía đông có cửa ra vào, còn 3 mặt còn lại ở 3 hướng (tây, nam, bắc) có ba cửa giả Tháp Chăm thường có 3 tầng được cấu trúc như nhau, mỗi tầng càng lên cao càng thu nhỏ dần và kết thúc bằng một Linga bằng
đá trên nóc tháp
Hiện nay người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận còn tồn tại 5 ngôi tháp chính mang 5 phong cách và niên đại khác nhau:
Tháp Po Klaung Garai(1) nằm trên ngọn đồi trầu (Cơk Hala) thuộc phường
Đô Vinh, Thành Phố Phan Rang - Tháp Chàm, Ninh Thuận
(1)Phiên âm theo chữ Latinh là tháp Po Klaung Garai, tháp Po Rome, tháp Po Dam, tháp Po Sah Inư Một số phiên âm khác chúng tôi tuân theo văn bản trích dẫn
Trang 20Tháp Po Rome nằm trên ngọn đồi “Bôn acho” thuộc thôn Hậu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
Tháp Hòa Lai thuộc làng Ba Tháp, xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận
Tháp Po Dam nằm trên ngọn đồi Ông Xiêm thuộc làng Tuy Tịnh, xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận
Tháp Po Sah Inư nằm trên đồi Bà Nài, Lầu Ông Hoàng, phường Phú Hài, Thành Phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận
1.2.1 Tháp Po Klaung Garai
Tháp Po Klaung Garai được xem là trung tâm điểm rực rỡ nhất của nền văn minh Chăm, do vua Chế Mân chỉ đạo xây dựng từ cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV đạt đỉnh cao trong kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc của dân tộc Chăm Tháp thờ vua
Po Klaung Garai (1151-1205), người đã có nhiều công lao to lớn đối với dân tộc Chăm nên vùng đất phía nam mới được khai khẩn, nhất là trên lĩnh vực thủy lợi (như đập Nha Trinh, đập Sông Cẩm ở phía tây Phan Rang) Hơn thế nữa dưới thời vua Po Klaung Garai trị vì, đất nước Chăm được hưng thịnh, nhân dân được ấm no
Ở mỗi cạnh, mỗi tầng và mỗi mặt của từng tháp được trang trí bằng các họa tiết gốm, đá với đủ loại hình người, hình đuôi rồng, hình lá, hình bò thần…Tháp Po Klaung Garai còn lại tương đối nguyên vẹn, quý và hiếm trên đất nước ta và trên thế
giới về loại hình kiến trúc này và đã được Bộ Văn hoá công nhận di tích năm 1979
Đây là một tổng thể kiến trúc nghệ thuật gồm 3 ngôi tháp: tháp chính (Kalan Po) cao 20,5m; tháp cổng (Kalan Pabah Mbang) cao khoảng 8,56m; tháp lửa (Sang Cuh Yang Apuei) cao 9,31m Tháp chính còn có nhiều tượng như tượng vua Po Klaung Garai, tượng thần Siva và các vị hộ pháp Ngoài ra ở phía sau tháp chính còn có một ngôi miếu nhỏ thờ một phiến đá Phía trước tháp còn có nhiều bia đá, Linga ghi lại nhiều cuộc dâng cúng, sự kiện lịch sử cũng như sự đấu tranh của người Chăm vùng Panduranga Xung quanh tháp được bao quanh bằng một vòng thành và mở hướng ra vào cho tín đồ dâng cúng ở phía nam Toàn bộ kiến trúc tháp
Trang 21được nằm trên ngọn đồi Trầu (cek hala) Bằng kĩ thuật xây dựng và chất kết dính độc đáo, bí truyền, đến nay tháp Chăm vẫn còn mang trên mình nó nhiều điều bí ẩn Đây là một cụm tháp hoàn mỹ, đã đạt đến đỉnh cao trong nền nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Champa một thời vàng son ở vùng Đông Nam Á
tư thế ngồi, khuôn mặt các vị thần mang đậm nét bản địa Tháp có 3 tầng, tuân theo mẫu cổ, mỗi tầng có 4 tháp góc Trong mỗi hốc giả là hình ảnh một vị thần đang chắp tay trong tư thế cầu nguyện Bên trong tháp chính có thờ hình tượng vua Po Rome được tạo từ một Linga có 8 tay Bên góc lối đi vào tháp có tượng thần bò Nadin được tạc từ một phiến đá xanh đen Công trình phụ ở phía sau tháp, là nơi thờ hoàng hậu Khu mộ táng của vua Po Rome rất gần với công trình phụ này Đây là nơi chôn cất do chính vua Po Rome chọn Năm 1992, tháp Po Rome đã được Bộ Văn hoá công nhận di tích
Cũng như bao tháp Chăm khác, tháp Po Rome được xây theo kiến trúc chung
và mang đậm tư tưởng tôn giáo Ấn Độ Tháp được xây trên mô hình tháp Ấn Độ, nhưng nhỏ bé hơn và mang đặc thù địa phương Tháp Po Rome là một tổng thể kiến trúc gồm có ba ngôi tháp: Tháp chính, Tháp cổng và Tháp lửa Nhưng hiện tại chỉ còn lại một ngôi Tháp chính cao 19 mét bên trong có thờ một tượng vua Po Rome bằng đá dưới hình thể Mukhalinga Trên đầu vua có ba đầu cùng chồng lên nhau, một đầu ở bên trái, một đầu ở bên phải và có hai đầu nữa, bên trái một, bên phải một, có bốn tay mỗi bên, tay trái trên cầm lược, một tay cầm búp sen, một tay cầm
Trang 22dao Bên phải tay trên cùng cầm cốc rượu thờ, tay cầm kiếm và tay cầm xiên Hai tay chính đặt trước bụng, phía sau phù điêu chạm phồng hình đầu của đức vua Mặt trước viên xung quanh biểu tượng cho trí tuệ của vua Có hai con bò Nadin bằng đá nhỏ chầu hai bên Toàn bộ được đặt trên bệ - phù điêu đá được làm bằng sa thạch
Rõ ràng có thể nhận thấy những dấu hiệu thần Siva trên bức tượng vua Po Rome sau khi chết đã được hóa thần Tuy được tạc theo chuẩn mực của thần Siva, nhưng tượng Po Rome vẫn có những nét đặc biệt: hình tượng của 5 đầu phụ Theo giải thích của người Chăm quanh vùng thì các đầu phụ này thể hiện các đại thần quay quần quanh vua Trên cánh cửa đã bị đốt cháy còn có hình Po Ga mơr Mantri - vị chiêm tinh lớn của nhà vua Phía bên tay trái của vua có một tượng thờ hoàng hậu Bia Thơn Cơn bằng đá - người Ê Đê Cửa tháp hai cánh cổng bằng gỗ, thường được đóng, chỉ khi nào có làm lễ hoặc có khách tham quan mới mở Phía sau tháp chính còn có một ngôi miếu nhỏ thờ tượng hoàng hậu Bia Thơn Cih bằng đá - người
Chăm Còn hai ngôi tháp: Tháp cổng và Tháp lửa đã sụp đổ
Tháp Po Rome không cao to bề thế như Tháp Po Klaung Garai nhưng tháp
có một phong cách nghệ thuật riêng biệt - phong cách Po Rome Tháp Po Rome được xem là ngôi tháp cuối cùng trong lịch sử nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc đền tháp của người Chăm ở Việt Nam
1.2.3 Tháp Hòa Lai
Cụm tháp Hoà Lai thuộc thôn Ba Tháp, xã Tân Hải, Huyện Ninh Hải, Tỉnh Ninh Thuận; cách thị xã Phan Rang - Tháp Chàm 14 km về hướng bắc, dọc quốc lộ 1A Tháp được xây dựng vào những năm đầu thế kỷ XIX Trước đây gồm có 3 tháp nhưng do thời gian dài bỏ phế, nay tháp trung tâm đã sụp đổ hoàn toàn nên còn 2 tháp là tháp Bắc và tháp Nam Tháp Bắc có 4 trụ bổ tường, mỗi trụ được trang trí rất đẹp, phía dưới các trụ còn thể hiện các mảnh điêu khắc đẹp và hình tượng chim Garuda giang rộng cánh Trên mỗi đầu các trụ bỏ của cắc mái chìa có các diềm mũ
để trang hoàng Các cửa giả được trang trí với những vòng cung và những hình người được thể hiện trong tư thế ngồi Hình thức trang trí ở tháp Nam đơn giản hơn,
Trang 23cũng có 4 trụ bổ tường với những đường nét bên dưới và những diềm mũ với các vòng hoa trang trí ở mái chìa, các cửa giả được trang trí vòng cung lớn nhưng không tỷ mỉ như tháp Bắc Tháp có 3 tầng mái, mỗi tầng có một hốc giả trang trí bởi các vòng cung Các tháp này sau một thời gian dài bỏ phế người Chăm đã không cúng bái, nay tháp đang được trùng tu và bảo quản
1.2.4 Tháp Po Dam
Nhóm đền tháp Chăm Po Dam (Pô Tằm) có niên đại nửa cuối thể kỷ VIII đầu thế kỷ IX thuộc phong cách kiến trúc nghệ thuật Hòa Lai, một phong cách kiến trúc cổ trong lịch sử kiến trúc của Vương quốc Champa Nhóm đền tháp Po Dam bao gồm 6 tháp, hiện nay chỉ còn lại 3 tháp tương đối nguyên vẹn hình dạng, còn 3 tháp khác bị sụp đổ và chỉ còn lại phần đế Các tháp trong nhóm chia thành hai khu riêng biệt mỗi khu 3 tháp theo hai trục song song Trong đó nhóm phía Bắc là nhóm có niên đại từ thế kỷ VIII - IX và nhóm Nam có niên đại muộn hơn (thế kỷ XV) Nhóm tháp Bắc còn lưu giữ bệ thờ Linga - Yoni bằng đá xanh tượng trưng cho Thần Siva, với hình dáng và kết cấu giống như ở Po Sah Inư nhưng nhỏ hơn nhiều Nhóm tháp Nam gồm 3 tháp khác với nhóm Bắc từ kỹ thuật xây dựng, trang trí nghệ thuật và nội dung thờ phụng (ở đây thờ 7 viên đá tượng trưng cho Kút)
Theo các nhà nghiên cứu khoa học ở Bảo tàng Bình Thuận thì nhóm Bắc được xây dựng giữa thế kỷ XV để thờ Vua Po Dam (Pô Tằm) vị Vua Trị vì Vương quốc Champa từ 1433 - 1460 Vị Vua này có tên là Po KaThít, người Việt gọi là Trà Duyệt Vị Vua này đã có công giúp dân làm các hệ thống thủy lợi nổi tiếng trong vùng, hiện nay còn phát huy tác dụng ở vùng Tuy Phong, Bắc Bình
Tháp Po Dam có kỹ thuật xây dựng và nghệ thuật trang trí tập trung chủ yếu
ở tháp Chính (tháp C nhóm Bắc) Phần đỉnh của tháp đã bị hư nhưng thân tháp vẫn còn nguyên vẹn những hình tượng, nghệ thuật trang trí đều và dày đặc trên thân, vòm cuốn, trụ áp tường Những hình thù kỳ quái, những bông hoa xoắn xít nhau, hình tượng Makara - vị Thần canh giữ đền tháp là nét đặc trưng của phong cách Hòa Lai cổ Theo người Chăm hiện nay, các tháp ở Po Dam được coi là khu mộ của
Trang 24vị vua có tên là Po Dam Ngoài Po Dam, họ hàng và những người thân cận của vua cũng được mai táng và thờ tự tại đây Hiện nay, người Chăm ở Bình Thuận vẫn cho rằng, tháp Tây Bắc là mộ của mẹ vua - bà Po Bia Dhan, tháp trung tâm và tháp Đông Bắc là các mộ những người họ hàng của vua Ngoài ra, ở gần tháp Nam còn
có một đá mộ của Po Ganuơr Mantri - vị quan phụ trách thiên văn của vua
Như vậy, khu tháp Po Dam đã tạo ra cả một quần thể kiến trúc tháp cổ tại vùng đất cực nam của vương quốc Champa
1.2.5 Tháp Po Sah Inư
Nhóm di tích tháp cổ Po Sah Inư hay còn gọi là tháp Phú Hài, thuộc phường Thanh Hải, TP Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận Nhóm di tích tháp cổ Po Sah Inư là cả một tổng thể kiến trúc đền tháp của người Chăm Người Chăm hiện nay thường gọi khu tháp này là tháp Po Sah Inư (Po Cah Anaih) tức nàng Sạ (Cah) bé, con gái của
nữ thần mẹ Po Nagar Một số khác lại cho rằng tháp này thờ công chúa Po Sah Inư - người có nhiều công trạng đối với dân Chăm
Nhóm tháp này gồm 3 tháp và nhiều tháp bị đổ khác nay chỉ còn lại phế tích
và nền móng Ba ngôi tháp hiện còn phân bổ trên 2 tầng đất, quay mặt về hướng đông Cả ba ngôi tháp đều là tháp vuông nhiều tầng, có niên đại thế kỷ VIII, ở phong cách Mỹ Sơn E1 (phong cách kiến trúc Chăm cổ) Có một số yếu tố kiến trúc như cột trụ tròn ở các cửa giả, mi cửa tương tự như ở các đền tháp Khmer
Nhóm tháp Chăm Po Sah Inư toạ lạc trên một ngọn đồi có tên "Lầu Ông Hoàng", cách thành phố Phan Thiết 6 km về phía đông bắc Quả đồi này chạy dài theo hướng Bắc - nam và kéo dài ra biển Chắc hẳn xưa kia ở Phú Hài có nhiều kiến trúc khác nhau, vì ngoài ba ngôi tháp còn có thể thấy nhiều phế tích đổ nát khác Ba ngôi tháp hiện còn được phân bố trên hai tầng đất và đều quay mặt về hướng đông Ngôi tháp quan trọng nhất đứng trên một thềm cao hình chữ nhật có tường thấp bằng đá bao quanh Cách ngôi tháp chính chừng vài chục mét, về phía đông bắc có
Trang 25một ngôi tháp nhỏ bị hủy hoại nặng nề Ở phía bắc trên tầng nền thấp hơn là ngôi tháp thứ ba, còn khá nguyên vẹn
Tuy kích thước khác nhau và nằm ở những vị trí khác nhau, cả ba ngôi tháp được làm theo kiểu thống nhất: tháp vuông nhiều tầng, không có các tháp trang trí góc các tầng, không có các phiến đá điêu khắc nhô lên ở phía trên các góc tường, không có các hình trang trí áp chân các cột ốp, không có hệ thống vòm của các cửa
ra vào và cửa giả Vì thế, các tháp ở Phú Hài có hình dáng gần giống với loại hình tháp Khơme thời Chân Lạp Điều này chứng tỏ nghệ thuật kiến trúc của Chân Lạp
đã có ảnh hưởng nhất định tới Phú Hài, cụm tháp gần khu vực tiếp giáp giữa Champa và Chân Lạp xưa
1.3 V ai trò của tháp trong đời sống cộng đồng người Chăm
Tháp Chăm gắn liền với đời sống tâm linh của người Chăm và từ đây hình thành các nghi thức, lễ tế gắn với tháp
1.3.1 Tháp Chăm là nơi gắn bó với đời sống nông – ngư nghiệp
Như trên đã trình bày, người Chăm sống chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp trồng lúa và nghề chài lưới Với nghề nông, người Chăm đã có một kỹ thuật nông nghiệp và thủy lợi khá phát triển Điều này được minh chứng bằng hệ thống “dẫn thủy nhập điền” nổi tiếng được sử sách Trung Hoa ca ngợi Hiện nay ở nhiều nơi có người Chăm sinh sống như Ninh Thuận, Bình Thuận, An Giang vẫn còn tồn tại nhiều nghi lễ liên quan đến nông nghiệp và trong xã hội vẫn còn tồn tại nhiều chức sắc liên quan đến nghề nông như Cai Mương, Cai Đập
Một trong số các yếu tố quyết định của nông nghiệp là nước, người Chăm canh tác nông nghiệp cũng dựa vào những con sông lớn trên địa bàn cư trú của họ như: sông Thu Bồn (Quảng Nam), sông Côn (Bình Định) Ở đây, yếu tố sông nước còn là huyết mạch giao thông Trong những ngày lễ hay hành hương về thánh địa của người Chăm thì đường sông được sử dụng phổ biến Đây chính là điều kiện địa hình tạo nên một phần của quá trình bản địa hóa của văn hóa Chăm Nó cũng tạo nên một đặc điểm về vị trí xây dựng các đền tháp, gần sông để thuận lợi cho việc
Trang 26hành lễ, kể cả việc vận chuyển vật liệu xây dựng từ nơi khác đến Từ Bắc vào Nam, theo địa bàn cư trú của người Chăm, chúng ta có thể thấy nhiều đền tháp nằm ở gần sông như: tháp Bằng An (gần sông Vĩnh Điện), khu tháp Khương Mỹ (gần sông Tam Kỳ), thánh địa Mỹ Sơn (gần sông Thu Bồn) thuộc tỉnh Quảng Nam; các tháp Thủ Thiện, Dương Long (gần sông Kôn) thuộc tỉnh Bình Định; tháp Nhạn (gần sông Đà Rằng) thuộc tỉnh Phú Yên,… Trong tháp Chăm, chúng ta thường thấy vật thờ phổ biến nhất là Linga – sinh thực khí nam Thờ sinh thực khí là tín ngưỡng của
cư dân nông nghiệp Càng nông nghiệp điển hình bao nhiêu thì tín ngưỡng này càng mạnh bấy nhiêu Người du mục không có truyền thống thờ sinh thực khí Người Chăm thuộc khu vực nông nghiệp, nghĩa là trước khi Bàlamôn giáo xâm nhập, đã có tục thờ sinh thực khí rồi Miền Trung là vùng mang tính cách thiên về dương tính, cho nên điều dễ hiểu là tục thờ sinh thực khí nam càng phổ biến hơn Khắp nơi trong địa bàn cư trú của người Chăm, ta đều có thể gặp Linga ở trên bệ thờ trong tháp, ở những vị trí có tính cách trang trí, một số có cả trên đỉnh tháp (tháp Bà – Nha Trang) Tháp Chăm là nơi truyền tải đời sống tâm linh của một cư dân nông nghiệp Trên tháp không chỉ thờ Linga (biểu tượng của cư dân nông nghiệp) mà còn
là nơi hành lễ nông nghiệp của một dân tộc nặng về tâm linh Hàng năm người Chăm lên tháp để cầu đến thế lực thần linh, thần thánh vừa tạ, vừa cầu cho mưa thuận, gió hoà để canh tác lúa nước đạt kết quả cao Với một điều kiện địa lý khí hậu khắc nghiệt, nghề trồng lúa nước phụ thuộc vào các hiện tượng tự nhiên và là điểm xuất phát của tín ngưỡng nông nghiệp với hệ thống nghi lễ dày đặc Đó là các nghi lễ cầu mưa, lễ khai mương đắp đập và các nghi thức cúng tế các vị thần tự nhiên (nhiên thần) Trong các nghi lễ như hệ thống lễ Rija như Rija Nưgar, Rija Pruang, Rija Harei, Rija jơw và nhiều nghi lễ khác có những điệu múa phồn thực của On Kaing và Muh Rija, làm những động tác tính giao để cho âm dương giao hoà sinh ra nước và cho muôn loài sinh sôi nảy nở Biểu tượng Shiva với bộ Linga – Yoni là một biểu tượng âm dương có tính khái quát cao trong quan niệm nhân sinh quan, vũ trụ quan của người Chăm Ngoài lễ thức phồn thực, trong lễ Rija Nưgar đầu năm của người Chăm còn có lễ thức đạp lửa với ý nghĩa tống ôn, tống đi cái
Trang 27nóng bức, những rác rưởi, những gì không may mắn của năm cũ Cũng bởi cư trú và sản xuất nông nghiệp trên một vùng đất khô hạn, nắng nóng đến khắc nghiệt, nên người Chăm có hàng loạt các nghi lễ liên quan đến cầu đảo, cầu mưa Tất cả các nghi lễ nông nghiệp này đều được tiến hành ở các đền tháp Chăm và các cửa biển Như vậy, tháp Chăm có vị trí quan trọng trong đời sống nông nghiệp của đồng bào Chăm khắp mọi miền đất nước
Nguời Chăm còn rất quen thuộc với nghề đi biển Họ vốn là dân đi biển, nên thường hướng về những mỏm núi cao trong đất liền, đó là những mốc chuẩn để định
vị được cự ly, quãng cách khi dong buồm ven bờ hay nơi chốn để cập bến Cho nên
ta thường thấy tháp Chăm thường được xây dựng trên gò, đồi cao cũng vì mục đích định hướng cho ngư dân Chăm trong công việc của họ Đối với họ, núi cao có tính thiêng nên những đền, tháp thường được xây trên núi cao và phải gần những con sông Ngoài những ảnh hưỏng về giáo lý Bàlamôn coi đỉnh Mêru là núi vũ trụ thì ở đây có sự hoà hợp giữa phương thức sống và tín ngưỡng Núi thiêng vốn đã ở trong tâm thức của người Chăm, khi tiếp nhận Ấn Độ giáo với hình tượng núi Mêru là trung tâm của vũ trụ thì có sự kết hợp và hoà hợp giữa tín ngưỡng Ấn Độ giáo với tín ngưỡng bản địa Điều này có ý nghĩa quyết định đến đến sự hình thành đặc điểm
về vị trí xây dựng các đền tháp Chăm Như vậy, ở ven biển cũng như trong đất liền, chúng ta thường thấy những đền tháp hoặc những di tích thờ phụng của người Chăm được xây dựng trên núi cao, gò, đồi cao hoặc một địa điểm cao hơn xung quanh Trải qua quá trình phát triển lịch sử, trên mỗi vùng đất sinh sống, người Chăm đã để lại nhiều dấu ấn văn hóa đậm nhạt khác nhau Trong đó có các đền tháp mang bản sắc văn hóa riêng Đó là bằng chứng về vật chất, về tư tưởng của người Chăm một thời phát triển Và các nghi lễ quan trọng liên quan đến nghề chài lưới cũng được tổ chức long trọng trên tháp như lễ tế tạ ơn thần cá biển, lễ cầu ngư, nhằm cầu mưa thuận gió hòa, ra khơi thuận lợi Như vậy, tháp Chăm cũng có nhiều vai trò quan trọng đối với đời sống ngư nghiệp của người Chăm
Trang 281.3.2 Tháp Chăm là nơi cầu đảo thần linh
Người Chăm là dân tộc mang nhiều ý niệm tâm linh Do đó tất cả các khái niệm trong tư duy của họ đều quy về thần (y/ - yang) Họ quan niệm tất cả những
sự vật kể cả hữu thể và vô thể đều do thần sinh ra Vì vậy tất cả của cải, vật chất, con người, ngay cả tên đất, tên vùng của họ đều mang tên thần thánh và ngay cả biên giới của họ đều quan niệm là biên giới tâm linh - biên giới của thần Họ thường nói xứ sở thần linh (n;gR y/ - Nưgar yang) hoặc đất thánh (tanâh yang) là như vậy Nhưng nơi ngự trị cao nhất của thần Yang họ không phải là đất, rừng mà là đền tháp Do đó tất cả mọi nơi sinh sống, người Chăm đều xây dựng đền tháp để thần linh trú ngụ che chở cho muôn loài Vì vậy, dễ nhận thấy nơi những người Chăm sinh sống đều xây dựng đền, tháp Chăm như: ở vùng Inrapura (Huế ngày nay) có tháp Phong Điền; vùng Amavati (Đà Nẵng - Quảng Nam) có thánh địa Mỹ Sơn; vùng Vijaya (Bình Định) có tháp Đồng Dương, Chiêng Đàn; vùng Khauthara (Nha Trang) có tháp Bà Po Naga; vùng Panduranga (Ninh - Bình Thuận) có tháp Po Klaung Garai, Po Rome, Po Dam, Hòa Lai, Po Sah Inư, vùng bắc Tây Nguyên (Gia Lai - Kon Tum) có tháp Yang Praong và “khi vua chúa được đăng quang, tiến chức, thắng trận, nhân dân được mùa và người dân làm ăn giàu có cũng phải cúng tế thần linh” [86, tr 47] Họ phải xây dựng đền, tháp để dâng cúng, cầu nguyện thần linh phù hộ Họ cho rằng nếu không có chỗ để thần linh trú ngụ thì mọi tai họa, dịch bệnh, mất mùa sẽ ập đến xóm làng Những quan niệm này đã ăn sâu vào tiềm thức người Chăm bao đời Và tháp Chăm của họ là nơi trú ngụ thiêng liêng cho các vị thần linh Nó là trung tâm điểm rực rỡ nhất cho mọi sinh hoạt của một vùng, một tiểu ban của vương quốc xưa
Bên cạnh việc xây tháp cầu đảo thần linh, người Chăm còn xây tháp để tôn thờ nhân vật anh hùng của họ - những người có công với nhân dân, đã đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân Người Chăm gọi các tháp Chăm là Kalăn (kl#), có nghĩa
là đền lăng, và những cụm tháp thờ thần linh được kết hợp với lăng mộ thờ vua chúa Chẳng hạn: Tháp Po Dam (Pô Tầm) ở Phan Rí (Bình Thuận) thờ vua Pô Tầm,
Trang 29tháp Po Rome và tháp Po Klaung Garai ở Ninh Thuận thờ vua Po Rome và vua Po Klaung Garai Các tháp Chăm không chỉ là nơi cầu đảo, thờ thần linh mà kèm theo thờ phụng vua chúa, hay nói rộng ra là thờ cúng tổ tiên Họ thờ thần linh qua tục thờ Linga Linga là biểu tượng của thần Siva Trong lòng mỗi ngôi Tháp có bệ thờ Linga bên cạnh tượng vua chúa Chăm, một số tượng mặt vua như Po Klaung Garai,
Po Rome được gắn vào cây Linga (gọi là Mukhalinga) Từ đây hình thành nên tín ngưỡng thờ cúng vua - thần gắn với thờ biểu tượng Siva giáo trên các tháp Chăm Tất cả tạo nên một sắc thái văn hóa Chăm phong phú, đa dạng trong sự thống nhất được thể hiện rõ trên kiến trúc đền tháp góp phần tô điểm văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc
1.3.3 Tháp Chăm là trung tâm hành lễ tôn giáo
Tháp Chăm ăn sâu trong đời sống tâm linh của người Chăm và hiện diện trong đời sống sinh hoạt xã hội Chăm qua các nghi lễ, lễ hội Tháp Chăm là chốn linh thiêng; là nơi cầu đảo thần linh và là trung tâm các nghi thức, tế lễ tôn giáo của
cư dân Chăm trong vùng Người Chăm chịu ảnh hưởng kiến trúc tôn giáo của Ấn
Độ, tháp Chăm là sản phẩm tôn giáo rõ nét nhất Theo quan niệm của Ấn Ðộ giáo, Tháp (Kalan) có 3 phần: Ðế tháp gọi là Bhurloka tượng trưng cho thế giới trần tục Thân tháp gọi là Bhuwarloka tượng trưng cho thế giới tâm linh, nơi con người tự
thanh tịnh chính mình để có thể tiếp xúc với tổ tiên để hòa nhập với thần linh Mái tháp gọi là Swarloka tượng trưng cho thế giới thần linh, nơi chư thần tụ tập Sắc thái
văn hóa Ấn Độ được biểu trưng qua các đền tháp mang tư tưởng và tinh thần của Bàlamôn giáo Bàlamôn giáo giữ vai trò đặc biệt trong đời sống tâm linh của người Chăm Bàlamôn giáo đi tìm chân lý đưa đến sự giải thoát Chân lý đó là sự gặp gỡ giữa linh hồn cá thể (Atma) với linh hồn vũ trụ (Brahma) Linh hồn vũ trụ (Brahma) còn có nghĩa là Đại Hồn, là nguồn gốc của vũ trụ, là chúa tể của các vị thần, là đấng Tuyệt Đối Brahma có quyền năng tối cao, hiện thân trong một thể gồm 3 ngôi: Thần Sáng Tạo (Brahma), Thần Bảo Tồn (Visnu), Thần Phá Hủy (Siva) Con người
Trang 30được giải thoát khi linh hồn cá thể tìm gặp được Đại Hồn, tức là đã nhập thân vào linh hồn vũ trụ
Các tháp Chăm dọc miền Trung tọa lạc trên những đỉnh đồi cao, chung quanh có phong cảnh đẹp đẽ Toàn cảnh tháp Chăm toát lên vẻ đẹp thanh thoát, tĩnh lặng Tháp vừa là lăng mộ vừa là đền thờ thần, và là nơi tiến hành các nghi lễ thần thánh như lễ tế thần Chuột tại tháp Po Dam, lễ tế thần cá, thần biển tại tháp Po Rome, lễ Cầu đảo tại các Tháp, lớn nhất là lễ hội Katê được diễn ra tại các Tháp Việc tế lễ hàng năm tại các tháp đều được diễn ra bên trong lòng tháp Vì là không gian thiêng - nơi ngự trị thần thánh nên chỉ có các vị chức sắc Bà la môn đã được thụ pháp mới được vào tế lễ Mọi hoạt động khác (thờ cúng, dâng lễ vật) chỉ được diễn ra bên ngoài tháp Tất cả những yếu tố đó cho thấy tháp không chỉ là công trình kiến trúc tôn giáo nghệ thuật mà còn là hiện thân của triết lý giải thoát Tháp là cầu nối giữa cuộc sống trần thế với đấng toàn năng Brahma Tháp là nơi chuyển tiếp để linh hồn cá thể hoá thân vào linh hồn vũ trụ Đó là “không gian thiêng” để con người từ biệt cõi trần, đi vào thế giới của đấng toàn năng Hiện nay các cụm đền tháp Chăm tại vùng có đồng bào Chăm sinh sống (chủ yếu là vùng Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay) vẫn duy trì các lễ hội truyền thống Điển hình là các tháp Chăm: Po Klaung Garai, Po Rome, Po Dam, Po Sah Inư vẫn là nơi tổ chức lễ hội Katê truyền thống của đồng bào Chăm Những ngôi tháp này hiện vẫn đang sống trong nền văn hóa đã sinh ra nó tuy rằng văn hóa nguyên thể đã có những biến đổi nhất định
Trang 31Tiểu kết chương một
Người Chăm là một dân tộc nặng về yếu tố tâm linh Ở mỗi vùng người Chăm sinh sống, họ đều xây tháp tạc tượng thờ các vị thần linh và các nhân vật có công với dân tộc Trong vòng 8 thế kỷ, người Chăm đã xây đựng rất nhiều đền Tháp với những phong cách khác nhau, tháp và những phế tích tháp còn lại hôm nay là rất ít ỏi so với những gì đã có nhưng vẫn là những viên ngọc quí của nền kiến trúc
cổ Việt Nam và Đông Nam Á
Các đền tháp Chăm phản ánh đầy đủ và chân thực hoàn cảnh văn hóa Champa từ những giai đoạn thích nghi, tiếp biến và trỗi dậy mạnh mẽ tính bản địa
và sự giao lưu thường xuyên về mặt văn hóa bên cạnh các mặt kinh tế - chính trị với các dân tộc liền kề Tháp Chăm gắn với đời sống nông, ngư nghiệp và đời sống tâm linh của người Chăm Tháp Chăm là nơi gắn kết cộng đồng Chăm với thần linh, nơi
tổ chức những sự kiện quan trọng của dân tộc như: các dịp tế lễ, thăng quan tiến chức của người Chăm xưa Ngày nay, tháp Chăm là nơi hội tụ những giá trị tinh hoa văn hóa Chăm qua các lễ hội, lớn nhất là lễ hội Katê (sẽ trình bày ở mục 3.1.4) Tháp Chăm đối với người Chăm hiện nay vẫn còn nguyên giá trị, có thể mượn câu nói của học giả nước ngoài để khẳng định giá trị quan trọng của tháp Chăm trong đời sống văn hóa Chăm: “Những dấu tích văn hóa nghệ thuật của một thời đại xa xưa của một tộc người là hiện thân một phần dĩ vãng của dân tộc đó, một phần dĩ vãng của nhân loại ” Chúng ta và thế hệ mai sau luôn cần những dĩ vãng đó Nó là tấm gương giúp mọi người nhìn lại quá khứ để tôn vinh các giá trị nhân vân của nền văn hóa nghệ thuật mà con người dù thời đại nào, nền văn hóa nào cũng mến mộ huống chi đây là một phần trong số các kiệt tác của nghệ thuật cổ truyền có một không hai đã làm nên nền văn hóa cổ truyền Việt nam
Trang 32Chương 2 - ĐẶC ĐIỂM, DIỆN MẠO TRUYỀN THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN
THÁP CHĂM NINH THUẬN, BÌNH THUẬN
Đặc điểm, diện mạo truyền thuyết liên quan đến các tháp Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận được thể hiện trước hết thông qua nội dung mà các câu chuyện
đó chuyển tải và qua hình thức thể hiện
2.1 Tư liệu truyền thuyết tháp Chăm
2.1.1 Tư liệu đã công bố
Các tư liệu nghiên cứu truyền thuyết Chăm thì có rất nhiều, chúng tôi chỉ chú
ý tới những tài liệu ghi chép truyền thuyết liên quan tới 5 tháp Chăm hiện tồn trên đất Ninh Thuận, Bình Thuận bao gồm:
Đỗ Kim Ngư (1982), Truyện cổ dân tộc Thuận Hải, Nxb Thuận Hải - Công
ty văn hóa và thông tin Thuận Hải có 1 truyện: Sự tích lễ tế trâu ở núi Ong (liên quan tới tháp Po Sah Inư - Bình Thuận)
Đỗ Kim Ngư, Hồ Phú Diên (1987), Nàng bàn tay - Truyện cổ các dân tộc
Thuận Hải, Hội văn nghệ Thuận Hải có 5 truyện: Sự tích chay Da-Lim, Ông vua Lác, Thi tài, Chàng Ta vắc (liên quan tới tháp Po Klaung Garai - Ninh Thuận), Po Rome (liên quan tới tháp Po Rome - Ninh Thuận)
Đinh Văn Thành, Đỗ Thiện, Ngọc Anh (sưu tầm, biên soạn) (1961), Truyện
cổ Tây Nguyên, Nxb Văn học có 2 truyện: vua Pô Rô Mê (liên quan tới tháp Po
Rome - Ninh Thuận), công chúa Sa Inô (liên quan tới tháp Po Sah Inư - Bình Thuận)
Trần Việt Kỉnh (1989), Nữ thần Pô Nưgar, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà nội có
3 truyện: Sự tích tháp Po Klaung Garai (liên quan tới tháp Po Klaung Garai - Ninh Thuận), Sự tích tháp Pô rô mê (liên quan tới tháp Po Rome - Ninh Thuận), công chúa SahInư (liên quan tới tháp Po Sah Inư - Bình Thuận)
Bố Xuân Hổ (1995), Truyền thuyết về các tháp Chăm trên miền đất cực Nam
Trung Bộ, Nxb Văn hóa dân tộc có 5 truyện: Tháp Po Klaung Garai, tháp Po Rome,
Trang 33tháp Hòa Lai, tháp Po Dam, tháp Po Sah Inư đều liên quan tới 5 tháp Chăm được khảo sát
Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt nam, quyển 1, Nxb
Giáo dục có 2 truyện Sự tích vua Pô Klaung Garai, Sự tích vua Pô Klaung Garai thi xây tháp (liên quan tới tháp Po Klaung Garai - Ninh Thuận)
Nguyễn Đình Tư (2003), Non nước Ninh Thuận, Nxb Thanh niên có 1 truyện
liên quan tới tháp Po Klaung Garai - Ninh Thuận, 1 truyện liên quan tới tháp Po Rome - Ninh Thuận
Ngô Văn Doanh (1994), Tháp cổ Chăm - sự thật và huyền thoại, Nxb Văn
hóa thông tin có 1 truyện liên quan tới tháp Po Dam - Ninh Thuận
Inrasara (1993), Văn học Chăm - Khái luận, văn tuyển, T1, Nxb văn hóa dân
tộc có 1 truyện liên quan tới tháp Po Rome - Ninh Thuận
D Dorohiêm, D Dohamide (1965), Dân tộc Chàm lược sử, Sài Gòn có 1
truyện liên quan tới tháp Po Rome - Ninh Thuận
Nhiều tác giả, Phan Thiết - thành phố anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân, Nxb Thành ủy - HĐND - UBND - UBMTTQVN Thành phố Phan Thiết có 1 truyện liên quan tới tháp Po Sah Inư - Bình Thuận
BEFEO (1905), Tạp chí Trường Viễn Đông Bác cổ - Tháp có 1 truyện liên quan tới tháp Po Sah Inư - Bình Thuận (Bản dịch tiếng Việt của PGS.TS Ngô Văn Doanh )
Hoa Đình Sổi, “Tiểu truyện về Pô Brah và nàng công nương, con Poâ Ieâu Nol Rak”, Tạp chí Vijaja, số 3 dẫn theo www.diendanvijaja.com có 1 truyện liên
quan tới tháp Po Sah Inư - Bình Thuận
Nguyễn Khắc Ngữ (1960), “Bà Xá Ynư” (Bà Tranh), Văn hóa nguyệt san
(51) có 1 truyện liên quan tới tháp Po Sah Inư - Bình Thuận
Vũ Lang (1970), “Quận Chúa Ngọc Khoa”, Trình bày, Sài gòn có 1 truyện
liên quan tới tháp Po Rome - Ninh Thuận
Trang 342.1.2 Tư liệu đi sưu tầm, điền dã
Để đảm bảo tính khách quan của tư liệu, chúng tôi còn tiến hành sưu khảo lại truyền thuyết ở vùng này và đối chiếu với nguồn tư liệu có trước Các tư liệu sưu tầm được chúng tôi ghi lại thành văn bản tiếng Việt từ lời kể tiếng Chăm Cụ thể:
Lời kể của cụ Bá Kiểu (106t) ở thôn Văn Lâm II, xã Phước Nam, Huyện Thuận Nam, Tỉnh Ninh Thuận có 1 truyện liên quan tới tháp Po Klaung Garai - Ninh Thuận
Lời kể của cụ Thiên Thiện (90t) ở thôn Nho Lâm, Xã Phước Nam, Huyện Thuận Nam, Tỉnh Ninh Thuận có 1 truyện liên quan tới tháp Po Rome - Ninh Thuận, 1 truyện liên quan tới tháp Po Klaung Garai - Ninh Thuận
Lời kể làng Klanh (thôn Mỹ Nghiệp, thị trấn Phước Dân, Huyện Ninh Phước, Tỉnh Ninh Thuận) có 1 truyện liên quan tới tháp Po Klaung Garai - Ninh Thuận
Lời kể của ông Châu Văn Kên (78t) ở thôn Văn Lâm I, xã Phước Nam, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận có 1 truyện liên quan tới tháp Po Rome - Ninh Thuận
Ngoài ra, chúng tôi có tham khảo 2 bản dịch của bác Sử Văn Ngọc – hiện đang công tác tại trung tâm nghiên cứu văn hóa Chăm Ninh Thuận từ tư liệu viết tay bằng chữ Chăm (akhar thrah) của cụ Nại Thành Bô (có 1 truyện liên quan tới tháp Po Klaung Garai - Ninh Thuận); Tư liệu viết tay bằng chữ Chăm (akhar thrah) của cụ Thiên Sanh Cảnh (có 1 truyện liên quan tới tháp Po Klaung Garai - Ninh Thuận) Chúng tôi cũng tham khảo bản dịch tiếng Chăm của tác giả Nguyễn Thị Thu Vân (có 1 truyện liên quan tới tháp Po Klaung Garai từ văn bản viết tay bằng chữ Chăm của ông Kim Xuân Kết, làng Hậu Quách, xã Phan Hòa, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận)
Chúng tôi cũng sưu tầm hai văn bản viết tay bằng chữ Chăm của cụ Thiên Thiện (90t) ở thôn Nho Lâm, Xã Phước Nam, Huyện Thuận Nam, Tỉnh Ninh Thuận
có 1 truyện liên quan tới tháp Po Rome - Ninh Thuận, 1 truyện liên quan tới tháp Po Klaung Garai - Ninh Thuận
Trang 352.2 Phân loại truyền thuyết Tháp Chăm
2.2.1 Số lượng nhóm truyền thuyết
Hầu hết các nguồn tư liệu được ghi chép chủ yếu bằng tiếng Việt từ các lời
kể của người Chăm trong vùng Thuận Hải (nay là hai vùng Ninh Thuận, Bình Thuận) Các tài liệu này dường như chưa phân loại cụ thể những nhóm truyền thuyết nào có liên quan tới tháp Chăm cũng như các nhân vật được phụng thờ trên tháp Các nhóm truyền thuyết tháp Chăm thường được viết chung với các thể loại khác (thần thoại, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn,…), một số được sưu tầm và phân loại theo vùng (Phú Khánh, Tây Nguyên, Thuận Hải), một số được viết chung trong tài liệu tham khảo du lịch (Non nước Ninh Thuận, Non nước Bình Thuận của tác giả Nguyễn Đình Tư), một số được viết chung trong tài liệu văn hóa (Tháp Cổ Chăm - sự thật và huyền thoại của tác giả Ngô Văn Doanh), một số được viết chung trong tài liệu lịch sử (Dân tộc Chàm lược sử của tác giả D Dorohiêm và D Dohamide) Chúng tôi đã chọn lọc lại và phân loại theo các nhóm truyền thuyết liên quan tới các tháp Chăm Theo quan điểm của chúng tôi, truyền thuyết về vua – thần nào được thờ phụng tại tháp Chăm mang tên vua – thần đó sẽ được tập hợp lại thành một nhóm đơn vị tác phẩm Cụ thể chúng tôi chỉ khảo sát truyền thuyết liên quan đến 5 tháp Chăm ứng với 5 nhóm truyền thuyết tại vùng Ninh Thuận, Bình Thuận như sau:
Bảng 2.1 Phân loại nhóm truyền thuyết tháp Chăm
Stt Nhóm truyền thuyết Tên truyền thuyết
Kí hiệu tác phẩm
1 Về tháp Po Klaung Garai
Trang 36- Sự tích tháp Pô Klong Garai
- Tháp Pô Klaung Garai
- Sự tích vua Pô Klong Garai
- Sự tích vua Pô Klong Garai thi xây tháp
- Di tích tháp Pô Klong Garai
- Vua Po Klaung Garai (theo lời kể của cụ
Bá Kiểu)
- Vua Po Klong (theo lời kể của cụ Thiên Thiện)
- Chàng Ja Kaih (theo lời kể làng Klanh)
- Chàng Ja Eh Kai (theo tư liệu viết tay của cụ Nại Thành Bô)
- Po Klaung Garai (theo tư liệu viết tay của cụ Thiên Sanh Cảnh)
- Truyện cổ Po Klaung Garai (theo tư liệu viết tay của cụ Kim Xuân Kết)
1.5 1.6 1.7 1.8 1.9 1.10
1.11
1.12 1.13
1.14
1.15
2 Về tháp Po Rome
- Pô rô mê
- Vua Pô Ra Mê
- Sự tích tháp Pô rô mê
- Tháp Pô rô mê
- Di tích tháp Pô rô mê
- Truyền thuyết cây Kraik
- Vua Pôrômê
- Quận chúa Ngọc Khoa
- Vua Po Rome (theo lời kể của cụ Thiên Thiện)
- Po Rome (theo lời kể của ông Chân Văn Kên)
- Tháp Po Rome (theo tư liệu viết tay của
2.1 2.2 2.3 2.4 2.5 2.6 2.7 2.8 2.9
2.10
2.11
Trang 37Bảng 2.2 Số lượng tác phẩm và tỉ lệ phần trăm từng đơn vị tác phẩm trong
nhóm truyền thuyết tháp Chăm
cụ Kim Xuân Kết)
3 Về tháp Hòa Lai
4 Về tháp Po Dam
- Tháp Pô Dam
- Sự tích tháp Pô Dam
4.1 4.2
5 Về tháp Po Sah INư
- Sự tích lễ tế trâu ở núi Ong
- Công chúa Sa Inô
- Công chúa Xa Nơ
- Tháp Pô Sah Inư
- Pô Sah Inư
- Câu chuyện về Pô Shanư
- Tiểu truyện về Pô Brah và nàng công nương, con Poâ Ieâu Nol Rak
- Bà Xá Ynư
5.1 5.2 5.3 5.4 5.5 5.6 5.7
Trang 382.2.2 So sánh dị bản nhóm truyền thuyết
Nhóm truyền thuyết về tháp Po Klaung Garai
Có khá nhiều bản kể khác nhau về vua Po Klaung Garai ngự trị trên tháp mang tên Ngài Chúng tôi có tất cả 15 bản kể Trong 15 bản kể này có tới 13/15 truyện có nội dung chính khá thống nhất, chỉ có bản kể 1.1 và bản kể 1.4 có nội dung hoàn toàn khác với các bản kể còn lại
Về nguồn gốc mẹ của vua Po Klaung Garai, có 8/15 bản kể rằng mẹ Po
Klaung Garai được hai ông bà già nghèo, không có con nhặt về từ trong đám bọt nước Bản 1.2 kể: hai ông bà thường vào rừng chặt cây đốn củi mang về đổi gạo, nghe tiếng khóc của đứa trẻ ngoài sông Bản kể 1.6, 1.10, 1.11, 1.12, 1.15 nói rõ tên tuổi, quê quán của hai vợ chồng già: hai ông bà tên là Ôn Paxa và Muk Chakling ở Play Chakling tức thôn Mỹ Nghiệp, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận ngày nay Hai ông bà thường lần theo chân biển mò cua bắt ốc về đổi gạo, bỗng nghe tiếng khóc của đứa trẻ ngoài biển Bản kể 1.5, 1.6, 1.10, 1.11, 1.15 kể rằng đứa trẻ nhặt về nằm trong cái bọc trôi lềnh bềnh trong đám bọt biển Bản kể 1.12 có chi tiết khác là đứa trẻ nhặt về nằm trong cái máng cỏ trôi lềnh bềnh trong đám bọt biển Bản 1.9 kể: hai ông bà đi qua bến Dâu phía trên đập Nha Trinh và nhặt được đứa trẻ từ cái bọc trôi lềnh bềnh giữa sông
Về nguồn gốc của vua Po Klaung Garai, chúng tôi thấy có 8/15 bản kể đề
cập tới Trong đó, 7/15 bản kể cho rằng mẹ Po Klaung Garai uống phải nước đọng lại ở tảng đá bàn mà thụ thai sinh được cậu bé mình mẩy đầy ghẻ lở Chỉ có bản kể 1.11 thì cho rằng người mẹ uống nước trong giếng cạnh đá bàn Bản kể 1.1 kể rằng người mẹ do ăn phải trái lựu mà thụ thai sinh ra đứa trẻ mình mẩy đầy lông lá Căn
cứ theo 8 lời kể trên, chúng tôi nhận thấy nguồn gốc xuất thân của Po Klaung rất rõ ràng, do người mẹ uống phải nước thiêng mà thụ thai
Về nguyên nhân khiến người mẹ bỏ đi, có hai bản kể (bản kể 1.6, 1.15)
cho rằng người mẹ bỏ đi do không chịu nổi những dị nghị, đàm tiếu của người dân trong làng Hai bản kể (1.10, 1.11) không nói rõ lí do gì Bản 1.10 kể rằng đứa bé lớn lên thì người mẹ tự nhiên bỏ đi, bản 1.11 kể rằng sau khi sinh đứa trẻ được 3
Trang 39ngày, người mẹ bỏ đi Bản kể 1.12 kể rằng người mẹ sau khi sinh bị kiệt sức lìa đời trong tủi nhục cô đơn
Về những người nuôi cậu bé, bản kể 1.2, 1.11, 1.15, 1.16 kể rằng người mẹ
sau khi sinh cậu bé đã bỏ đi mất tích để lại cậu bé cho ông bà già nuôi trong cảnh nghèo khổ thiếu thốn Riêng bản kể 1.12 kể rằng cậu bé mới sinh ra người mẹ đã mất do yếu sức, ông bà già nuôi mẹ cậu bé cũng đã mất trước đó, cậu bé được cô bác láng giềng cưu mang cho bú nhờ nuôi cơm qua ngày tháng
Về cái sọt có phép lạ, bản kể 1.7 kể rằng vua Ko Klong lúc còn hàn vi cùng
bạn lên Tây-nguyên đi buôn trầu Ông có hai cái sọt có phép lạ làm cho người bán hái trầu trồng trên ba đám ruộng bỏ vào bao nhiêu cũng không đầy Người bạn đồng hành thấy vậy sợ quá, không dám cùng ăn cùng uống Để hắn ta cùng ăn với mình, Kơ-long Ga-rai lấy tay rẽ đôi cơm trên lá chuối cho hắn ăn (cho nên từ đấy lá chuối
có sọc trắng ở giữa) lại bóp bầu nước chia ra cho hắn uống (cho nên từ đấy quả bầu nậm nào cũng bị eo ở khoảng giữa) Bản kể 1.10 kể rằng lớn lên, Po Klong cùng bạn là Po Klong Chanh đi buôn trầu, Po Klong có cái sọt hái lá trầu khắp nơi bỏ vào bao nhiêu cũng không đầy, khi tới thôn người Thượng thì cái sọt mới đầy
Về con rồng liếm sạch vết lác của vua, bản kể 1.2, 1.5, 1.6, 1.15 kể rằng:
lớn lên Po Ong (Đại Càn) cùng bạn là Po Klong Chanh đi buôn trầu từ xa về, Đại Càn bị bệnh nằm nghỉ trên tảng đá để bạn về một mình lấy cơm nước Po Klong Chanh trở ra thì thấy hai con rồng trắng từ dưới tảng đá chui lên liếm khắp mình Đại Càn Po Klong Chanh kinh ngạc kêu lên một tiếng sau đó rồng tự nhiên biến mất Bản kể 1.9 kể rằng thường ngày hai người bạn đội trầu về nghỉ tại một địa điểm, thay phiên nhau về nhà lấy cơm ra cùng ăn Một hôm, đến lượt Pô Klông Chanh đi lấy cơm, còn Pô Ong thì nằm nghỉ và ngủ thiếp đi Khi Pô Klông Chanh trở lại thì thấy một con rồng đang liếm khắp thân mình ghẻ lở của Pô Ong Pô Ong biến thành một chàng trai đẹp lạ thường Bản kể 1.10 có khác một số chi tiết là Po Ong ngủ dưới tảng đá bàn nằm nghỉ, khi Po Klong Chanh lấy cơm nước quay về thì thấy sương mù bao trùm hết tảng đá, Po Klong Chanh tiến gần tảng đá thì sương mù bay hết, đá nứt làm đôi và hai con rồng đang liếm khắp mình Po Ong Tưởng quái
Trang 40vật ăn thịt bạn mình, Po Klong Chanh liền ho lên một tiếng, lập tức con rồng chui vào đá, đá lại liền như cũ Bản kể 1.12 kể rằng đến tuổi trưởng thành, Jakaih (Chàng Lác) được phân công lo việc tế tự trong những nghi lễ quan trọng trong xứ nhờ vào
sở học uyên bác và tư cách đĩnh đạc của mình Một dịp đi thu gom trầu cau, trầm hương, nến sáp… chuẩn bị cho một tế lễ, chàng đi với một người bạn tên Po Klaung Can, một vị quan thủy nông lo việc đắp đập khai mương dẫn thủy nhập điền Khi hai người đang nghỉ trưa tại Bbon Hala (Đồi Trầu), Po Klaung Can về lấy cơm cho bạn Đến nơi thì thấy một con rồng đang liếm sạch những ghẻ lác trong lúc Jakaih đang nằm ngủ say sưa và ngài đã hiện thân một vị vua anh minh tương lai từ đó Bản kể 1.13 kể rằng Jataol và một người bạn tên là Ja Eh Kei đi buôn trầu trên đường về đến hòn Đá Nẻ thì Jataol bị cảm đau đầu nên nghỉ lại tại đây, nhờ bạn về nhà lấy cơm Trong lúc Jataol ngủ mê có 2 con rồng xuất hiện liếm Jataol Khi Ja
Eh Kei mang cơm đến thấy ánh hào quang sáng rực ở chỗ Jataol nằm, ông ta tưởng con quái vật đang ăn thịt Jataol, nhìn kỹ là con rồng đang liếm Jataol, ông bèn hú lên thì con vật biến vào Đá Nẻ
Về nguyên nhân khiến người bạn đi cùng với Po Klaung không cùng ăn, cùng uống với ngài, có 8/15 bản kể đều cho rằng người bạn đi buôn trầu cùng với
Ngài khi thấy con rồng liếm sạch hết vết lác, hết sức ngạc nhiên và kính nể Ngài nên không dám cùng ăn, cùng uống với Ngài Ngài phải dùng tay rạch ngang tàu lá chuối ăn cơm, bóp eo bầu uống nước thì bạn của Ngài mới chịu ăn cơm, uống nước với Ngài Riêng bản kể 1.7, chúng tôi nhận thấy có một số chi tiết khác hẳn: vua Ko Klong có hai cái sọt có phép lạ làm cho người bán hái trầu trồng trên ba đám ruộng
bỏ vào bao nhiêu cũng không đầy, người bạn đồng hành thấy vậy sợ quá, không dám cùng ăn cùng uống Để bạn cùng ăn, uống với mình thì bản kể này cũng giống với 8 bản kể trên (Po Klong lấy tay rẽ đôi cơm trên lá chuối, bóp bầu nước chia ra uống nước)
Về việc voi trắng tôn Po Klaung làm vua, có 4/15 bản kể đề cập tới Bản
kể 1.2 kể rằng năm ấy, vua già yếu mà không có con nối dõi nên sai voi thần đi kén người về gánh vác việc nước, voi thần đã ngược lên vùng Thượng rước Ta vắc lên