Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững cần gắn liền với bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát huy những truyền thống văn hóa quí giá của ngườ
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực sự
Thanh Sơn
Tác gi ả luận văn
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh cùng quý thầy cô trong Khoa Địa lí đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn
hóa Chăm tỉnh Ninh Thuận, Ủy ban nhân dân huyện Ninh Phước đã cung cấp cho tôi
Trang 5M ỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
M ỤC LỤC 3
DANH SÁCH CÁC B ẢNG 6
DANH M ỤC CÁC BIỂU ĐỒ 6
DANH M ỤC CÁC BẢN ĐỒ 6
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7
3 Phạm vi nghiên cứu 8
4 Lịch sử nghiên cứu 8
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 9
6 Phương pháp nghiên cứu 9
7 Cấu trúc luận văn 10
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VĂN HÓA VÀ DU LỊCH VĂN HÓA 11
1.1 Khái niệm văn hóa 11
1.1.1 Văn hóa 11
1.1.2 Các đặc trưng và bản chất của văn hóa 13
1.1.3 Phân bi ệt văn hóa và văn minh 14
1.1.4 Các lo ại hình văn hóa 15
1.2 Khái niệm du lịch và du lịch văn hóa 16
1.2.1 Khái ni ệm du lịch 16
1.2.2 Khái ni ệm du lịch văn hóa 20
Trang 61.2.3 Các nguyên t ắc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa 21
1.3 Lược sử hình thành và phát triển du lịch văn hóa ở một số nước trên thế giới và Việt Nam 23
1.3.1 M ột số nước trên thế giới 23
1.3.2 Ở Việt Nam 25
CHƯƠNG 2: VĂN HÓA CHĂM NHẰM PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH T ỈNH NINH THUẬN 28
2.1 Giới thiệu chung 28
2.1.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu 28
2.1.2 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Chăm 29
2.2 Các điều kiện tác động đến sự hình thành và phát triển văn hóa Chăm 31
2.2.1 V ị trí địa lí 31
2.2.2 Điều kiện tự nhiên 32
2.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 34
2.2.4 Nét đặc sắc trong văn hóa Chăm 38
2.3 Thực trang phát triển du lịch văn hóa Chăm ở Ninh Thuận 67
2.3.1 Các di tích đền tháp Chăm 67
2.3.2 L ễ hội truyền thống 77
2.3.3 Các làng ngh ề thủ công truyền thống 79
2.4 Kết quả đạt được từ phát triển du lịch văn hóa Chăm tỉnh Ninh Thuận 85
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁT PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA CHĂM TỈNH NINH THUẬN 91
3.1 Định hướng phát triển du lịch văn hóa Chăm tỉnh Ninh Thuận 91
3.1.1 Cơ sở đưa ra định hướng 91
3.1.2 Định hướng phát triển 96
Trang 73.2 Giải pháp phát triển 98
3.2.1 Thu hút đầu tư, phát triển cơ sợ hạ tầng - kĩ thuật phục vụ du lịch 98
3.2.2 Gi ữ gìn và tôn tạo những giá trị văn hóa của dân tộc Chăm 99
3.2.3 Ti ếp thị, quảng bá du lịch 101
3.2.4 Nâng cao nh ận thức và đời sống của cộng đồng địa phương 101
3.2.5 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 102
3.2.6 Phát triển du lịch văn hóa gắn với phát triển cộng đồng 103
KẾT LUẬN- ĐỀ XUẤT 105
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 110
PH Ụ LỤC HÌNH ẢNH 112
Trang 8DANH SÁCH CÁC B ẢNG
Bảng 2.1 Tổng người Chăm ở Việt Nam 30
Bảng 2.2 Phân bố người Chăm tỉnh Ninh Thuận 38
Bảng 2.3 Lượng khách tham quan tháp Po Klaung Garai 84
Bảng 2.4 Doanh thu từ hoạt động thu phí ở tháp Po Klaung Garai 86
Bảng 2.5 Biểu mẫu quyết định 2502 95
Bảng 2.6 Tỉ lệ khách tham quan tháp Po Klaung Garai so với tỉnh ninh Thuận 97 Bảng 2.7 Tỉ lệ doanh thu tháp Po Klaung Garai so với doanh thu toàn tỉnh Ninh Thuận 98 Bảng 3.1 Doanh thu toàn ngành du lịch Ninh Thuận 2006 –2009 103
Bảng 3.2 Tổng lượng khách đến Ninh Thuận 2006 – 2009 104
DANH M ỤC CÁC BIỂU ĐỒ Hình 2.1 Biểu đồ phân bố người Chăm tỉnh Ninh Thuận 39
Hình 2.2 Biểu đồ lượng khách quốc tế và nội địa đến tháp Po Klaung Garai 85
Hình 2.3 Biểu đồ doanh thu từ hoạt động thu phí tháp Po Klaung Garai 87
Hình 3.1 Biểu đồ tốc độ tăng trưởng lượng khách và doanh thu toàn ngành du lịch tỉnh Ninh Thuận 104
Bản đồ hành chính Ninh Thuận
Bản đồ tuyến – điểm du lịch tỉnh Ninh Thuận
Trang 9M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Mỗi con người Việt Nam chúng ta luôn cảm thấy tự hào về một đất nước Việt Nam giàu truyền thống và tinh thần dân tộc Một đất nước với 54 thành phần dân tộc cùng chung tay xây dựng một Việt Nam tươi đẹp Mỗi dân tộc là một bông hoa cùng nhau tô màu cho nét đặc sắc của 54 dân tộc anh em Nếu như người Kinh chúng ta vốn rất giàu truyền thống văn hóa làng xã, cuộc sống luôn gắn bó với miền sông nước, với ruộng vườn bao la thì người dân tộc miền núi Gia Rai, Ê-đê, Ba-na đến các dân tộc Chăm, Khmer với những phong tục tập quán, văn hóa đặc sắc Người Chăm ở Việt Nam sinh sống chủ yếu ở vùng đồng bằng miền Trung với hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Một dân tộc hiền hòa, chân chất và cuộc sống của họ với sự đa dạng màu sắc nghệ thuật, những nghi lễ trang
trọng luôn trải dài trong lịch sử Tấc cả đều tạo nên bản sắc văn hóa của người Chăm
Từ những hình ảnh, những tài liệu mà tôi đã được đọc, được nghe về dân tộc Chăm,
một dân tộc với những phong tục, lễ nghi rất thu hút mọi người, từ tháng ăn kiêng (Ramadan) đến lễ hội Katê luôn làm cho du khách ước muốn được nghiên cứu, tìm hiểu về
nó Tại sao cùng là người Chăm nhưng có sự khác nhau giữa người Chăm ở An Giang và người Chăm ở Ninh Thuận? Về tôn giáo, tín ngưỡng của người Chăm như thế nào và ý nghĩa của tháng Ramadan đến lễ hội Katê hàng năm, sự huyền bí ở những ngôi tháp, Tấc
cả những vấn đề đó đã thôi thúc tôi quyết định nghiên cứu đề tài luận văn “Nghiên cứu văn hóa Chăm nhằm phục vụ phát triển du lịch tỉnh Ninh Thuận”
Đây không chỉ là một luận văn tốt nghiệp mà hơn thế nữa đây chính là niềm đam mê, khao khát được nghiên cứu, tìm hiểu về nền văn hóa của một dân tộc anh em Chính thế, tôi mong rằng đề tài nghiên cứu của mình sẽ đem lại kết quả tốt hơn đến việc giữ gìn và phát huy văn hóa Chăm, góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch văn hóa Chăm trong phát triển
du lịch chung của đất nước
2 M ục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 M ục tiêu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là thu thập, xây dựng cơ sở lý luận về du lịch văn hóa mà cụ thể là nghiên cứu văn hóa Chăm để phục vụ du lịch Từ đó đưa ra những định
Trang 10hướng và đề xuất những giải pháp nhằm khai thác tốt hơn văn hóa Chăm trong phát triển kinh tế xã hội mà cụ thể là phát triển du lịch
2.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
Luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
Phần cơ sở lý luận là làm rõ những khái niệm về văn hóa, du lịch văn hóa và các loại hình du lịch văn hóa
Lịch sử hình thành dân tộc Chăm và những nét độc đáo trong văn hóa Chăm Thực
trạng khai thác du lịch văn hóa Chăm tỉnh Ninh Thuận và đưa ra những đánh giá, nhận định Nêu ra những định hướng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hơn nữa vai trò của người Chăm trong phát triển du lịch đặc biệt là du lịch văn hóa
3 Ph ạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Phân tích những nét độc đáo trong văn hóa Chăm phục vụ phát triển du
lịch tỉnh Ninh Thuận Đánh giá và đưa ra những đề xuất nhằm bảo tồn, duy trì và khai thác
tốt hơn giá trị văn hóa của người Chăm
Về không gian: Địa bàn cư trú của người Chăm tỉnh Ninh Thuận
Về thời gian: Tài liệu nghiên cứu về du lịch văn hóa Chăm từ năm 2000 đến 2010 (các
số liệu thu thập để phục vụ cho đề tài)
4 L ịch sử nghiên cứu
Ngày nay, đất nước ta đang từng bước tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa, mở
rộng giao lưu, hợp tác quốc tế Chính vì vậy, nền kinh tế đất nước đang có sự chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Những năm gần đây, ngành du lịch nước ta đang
dần khẳng định vị trí của mình trong phát triển kinh tế, xã hội Giá trị mà ngành du lịch đóng góp vào GDP ngày càng tăng và nhà nước đã có những chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy ngành du lịch phát triển, khai thác có hiệu quả lợi thế du lịch của từng địa phương
Du lịch văn hóa là một hình thức trong các loại hình du lịch Đã có nhiều nghiên cứu khoa học về văn hóa Chăm như “ Văn hóa Chăm- Nghiên cứu và phê bình” của Sakaya (2010), “L ễ hội người Chăm” của Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội (2003), “Nghề gốm cổ truy ền của người Chăm” của Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội (2001), “Nghề dệt cổ truyền người Chăm” của Nxb Dân tộc Hà Nội (2003), “Văn hóa-xã hội Chăm, nghiên cứu và đối tho ại” của Nxb Văn học (2008), “ Luật tục người Chăm và Raglai” của GS Phan Đặng
Trang 11Nhật chủ biên, Nxb Văn hóa dân tộc (2003), “Văn hóa Chăm”, “Người Chăm ở Thuận
H ải”, của Phan Xuân Biên, Nxb Khoa học xã hội, 1991, “Tháp Chăm sự thật và huyền tho ại”, của Ngô Văn Doanh, Nxb Văn hóa thông tin Tấc cả những đề tài nghiên cứu trên sẽ
là cơ sở, là nền tảng giúp rất nhiều trong quá trình nghiên cứu sắp tới
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5 1.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng đều trải qua quá trình phát triển, vận động và biến đổi theo thời gian và không gian Để thấy được những nguyên nhân phát sinh, quá trình diễn biến của
một nhân tố trong một giai đoạn, một khoảng thời gian và không gian cụ thể, chúng ta cần
vận dụng quan điểm lịch sử viễn cảnh vào trong nghiên cứu Từ đó đánh giá quá trình phát triển của hệ thống du lịch, du lịch văn hóa ở Việt Nam
5 1.4 Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững cần gắn liền với bảo vệ môi trường, bảo
tồn và phát huy những truyền thống văn hóa quí giá của người Chăm trong phát triển du lịch đặc biệt là du lịch văn hóa Đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa yếu tố con người với tự nhiên và môi trường
6 Phương pháp nghiên cứu
6 2.1 Phương pháp phân tích tổng hợp
Trang 12Thông tin, số liệu sau khi thu thập sẽ được so sánh, phân tích, tổng hợp cho phù hợp
với nội dung nghiên cứu Qua quá trình tổng hợp tôi mới có cái nhìn bao quát hơn về phạm
vi, hoạt động sản xuất của người Chăm và đưa ra những định hướng, giải pháp phát triển
6 2.2 Phương pháp thống kê toán học
Sau khi thu thập thông tin, số liệu, tiến hành thống kê, sắp xếp dữ liệu cho phù hợp với
cấu trúc đề tài, trình tự thời gian và lập ra các bảng số liệu về quá trình phát triển du lịch văn hóa Chăm tỉnh Ninh Thuận
6 2.3 Phương pháp thực địa
Đây là một phương pháp quan trọng, không thể thiếu đối với một bài nghiên cứu khoa
học đặc biệt là ngành Địa lí Với phương pháp này tôi có thể thu thập thêm những thông tin,
diễn biến về những hoạt động văn hóa - xã hội của người Chăm trong quá trình hòa nhập chung cùng cộng đồng 54 dân tộc ở Việt Nam Qua đó giúp tôi có cái nhìn thực hơn về truyền thống văn hóa của người Chăm để đánh giá mức độ tin cậy của thông tin, số liệu cập
7 C ấu trúc luận văn
Đề tài “Nghiên cứu văn hóa Chăm nhằm phục vụ phát triển du lịch tỉnh Ninh Thu ận” Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về văn hóa và du lịch văn hóa
Chương 2: Văn hóa Chăm nhằm phục vụ phát triển du lịch tỉnh Ninh Thuận
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch văn hóa Chăm tỉnh Ninh Thuận
Trang 13CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VĂN HÓA VÀ DU LỊCH VĂN HÓA 1.1 Khái ni ệm văn hóa
1.1.1 Văn hóa
Đã có rất nhiều các tổ chức, các quốc gia và các chuyên gia nghiên cứu về văn hoá đưa ra các khái niệm về văn hoá và các vấn đề liên quan, và hiện tại chưa có một khái niệm nào về văn hoá được thống nhất tuyệt đối Theo E.B Taylor (1832-1917) cho đến thời ông
đã có hơn 256 định nghĩa khác nhau về văn hóa Mỗi định nghĩa phản ánh một quan niệm, một khía cạnh riêng của văn hóa con người Có thể đưa ra một số quan niệm, khái niệm và định nghĩa về văn hoá như sau:
Theo Taylor “văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm
có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội”
Taylor chưa phân tích rạch ròi giữa văn hóa, văn minh nhưng trong định nghĩa của ông
đã hàm chứa nhiều yếu tố mà các nhà nghiên cứu đi sau nhắc đến như “tín ngưỡng”, “nghệ thuật”, “đạo đức”, “tập quán”, “năng lực” và “thói quen” được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội”
Hội nghị quốc tế về văn hóa ở Mêhicô (1982) để bắt đầu thập kỷ văn hoá UNESCO
Đã thống nhất đưa ra một khái niệm về văn hoá như sau:
“Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong
xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”
Theo GS Federico Mayor khi ông đưa ra một định nghĩa: "Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ,
nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẫm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình"
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm
Trang 14của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”
Ở Việt Nam, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa) Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn, ) Theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tấc cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động
Tuy nhiên, từ cách hiểu rộng thì văn hóa có rất nhiều khái niệm khác nhau:
“Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử” [Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục
và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb Văn hóa – Thông tin, 1998]
Theo PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [9, tr.19 – 20]
Nhìn chung, mọi định nghĩa đều thống nhất văn hoá có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, văn hóa là sáng tạo của con người, thuộc về con người, những gì không do
con người làm nên không thuộc về khái niệm văn hóa Từ đó, văn hóa là đặc trưng căn bản phân biệt con người với động vật, đồng thời cũng là tiêu chí căn bản phân biệt sản phẩm nhân tạo với sản phẩm tự nhiên Văn hóa xuất hiện do sự thích nghi một cách chủ động và
có ý thức của con người với tự nhiên, nên văn hóa cũng là kết quả của sự thích nghi ấy
Thứ hai, sự thích nghi này là sự thích nghi có ý thức và chủ động nên nó không phải là
sự thích nghi máy móc mà thường là sự thích nghi có sáng tạo, phù hợp với giá trị chân - thiện - mỹ
Thứ ba, văn hóa bao gồm cả những sản phẩm vật chất và tinh thần, chứ không chỉ
riêng tinh thần mà thôi
Thứ tư, văn hóa không chỉ có nghĩa là văn học nghệ thuật như thông thường người ta
hay nói Văn học nghệ thuật chỉ là bộ phận cao nhất trong lĩnh vực văn hóa mà thôi
Trên cơ sở phân tích các quan niệm trên có thể kết luận: Văn hóa là sản phẩm của loài
người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật
tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội Nó được biểu hiện
Trang 15trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
1.1.2 Các đặc trưng và bản chất của văn hóa
Tính hệ thống: đặc trưng này tạo mối quan hệ giữa các hiện tượng, các sự kiện thuộc
một nền văn hóa, phát triển các quy luật hình thành và phát triển của văn hóa Nhờ có tính
hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động của xã hội
Tính giá trị: Là thước đo mức độ nhân bản của con người và xã hội Các giá trị văn
hóa theo mục đích có thể chia thành giá trị văn hóa vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật chất)
và giá trị văn hóa tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần); theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mĩ; theo thời gian có thể phân biệt giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời
Vì vậy, cùng một đồng đại, cùng một hiện tượng có thể có nhiều giá trị hay ít tùy theo góc nhìn Muốn kết luận hiện tượng có thuộc phạm trù văn hóa hay không phải xem xét mối tương quan giữa các mức độ “giá trị” và “phi giá trị” Tùy từng giai đoạn lịch sử, cùng một hiện tượng sẽ có thể có giá trị hay không tùy thuộc vào chuẩn mực văn hóa của từng gia đoạn lịch sử
Tính nhân sinh: đặc trưng này cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội (do con người sáng tạo) với các giá trị tự nhiên (thiên nhiên tạo ra) Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất hoặc tinh thần
Tính giai cấp: Giống như tấc cả các lĩnh vực của đời sống văn hóa, một lĩnh vực được
xem xét khác nhau dưới các góc độ khác nhau Nhìn chung, tấc cả các hiện tượng được nhìn nhận theo quan điểm văn hóa học đều phụ thuộc vào những yếu tố chủ quan, đặc biệt là quyền lợi kinh tế, quan điểm và định kiến chính trị, bản chất tâm lý Đó là những lý do khiến người ta hay nhấn mạnh đến cái gọi là tính giai cấp của văn hóa Văn hóa với tư cách
là một hiện tượng khách quan và những cách lý giải văn hóa, bao giờ cũng mang tính chủ
quan
Tính lịch sử: Các hiện tượng văn hóa không chỉ được đánh giá tuỳ theo các yếu tố chủ
quan mà còn tuỳ thuộc vào các điều kiện và hoàn cảnh khách quan.Ở mỗi thời điểm lịch sử, giá trị của một hiện tượng văn hóa cũng như ảnh hưởng của nó phụ thuộc và những điều
Trang 16kiện khách quan và tương quan các điều kiện khách quan ấy Nếu lần theo dòng lịch sử, chúng ta sẽ thấy rằng những giá trị đó cũng luôn luôn biến đổi Bao giờ cũng có những giá trị mới đang và sẽ sinh ra để thay thế những giá trị đã và đang lỗi thời Chính vì thế, chúng
ta có thể nói rằng văn hóa có tính lịch sử
Văn hóa là sản phẩm của một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ với văn minh như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn Tính lịch sử tạo cho văn hóa có bề dày, một chiều sâu, nó buộc văn hóa thường xuyên điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn mẫu của xã hội và cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục tập quán, nghi lễ,…
1.1.3 Phân bi ệt văn hóa và văn minh
Từ lâu, không ít người vẫn sử dụng văn minh (civilization) như một từ đồng nghĩa với văn hóa Song thật ra, đây là hai khái niệm rất khác nhau
Theo học giả Đỗ Trọng Huề phân tích văn hóa theo bốn nghĩa, hai nghĩa hẹp và hai nghĩa rộng Nghĩa hẹp thứ nhất, văn hóa chỉ kiến thức hay học vấn Khi khen một người có văn hóa cao là khen người đó có kiến thức hay học vấn cao Khi chê một người thiếu văn hóa có nghĩa là người đó ít học hay kiến thức kém
Theo nghĩa hẹp thứ hai, văn hóa dùng để chỉ văn chương và nghệ thuật, trong đó có đủ các bộ môn ca, nhạc, vũ, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, kịch trường, điện ảnh Nghĩa này được dùng khi nói tới một công trình văn hóa, tác phẩm văn hóa, trung tâm văn hóa, nhà văn hóa, đêm văn hóa, trình diễn văn hóa, triển lãm văn hóa
Nghĩa thứ ba là nghĩa rộng, văn hóa chỉ phần sinh hoạt của loài người trong lãnh vực tinh thần Đó là những học thuyết, những triết thuyết đưa dẫn suy tư của con người lên một bình diện cao hơn đời sống vật chất hàng ngày Những Khổng Tử, Lão Tử, Socrates, Platon… là những người đã nâng cao trình độ văn hóa của nhân loại Thêm vào đó là những tìm tòi và tin tưởng có tính cách tâm linh, hay nói nôm na là những niềm tin tôn giáo, những tin tưởng về những gì xảy ra trong thế giới vô hình, có khả năng chi phối ngay trong và sau cuộc đời hiện tại Văn hóa thăng hoa của tinh thần khác biệt với những tiến bộ về vật chất được gọi là văn minh
Trang 17Văn minh là những tiến bộ về kỹ thuật nhằm cải thiện đời sống vật chất của con người Văn hóa gồm đạo đức, luân lý, tôn giáo nâng con người lên trong lãnh vực tinh thần Văn minh là một phần của văn hóa, đặc biệt văn minh là tình trạng tiến bộ của con người trong phạm vi kỹ thuật và những cải tiến đời sống vật chất
Ngoài ra, trong các từ điển, từ “văn minh” có thể được định nghĩa theo nhiều cách, song chúng thường có một nét nghĩa chung là “trình độ phát triển”; trong khi văn hóa luôn
có bề dày của quá khứ (tính lịch sử) Văn minh cho biết trình độ phát triển của văn hóa ở
từng giai đoạn khác nhau Nói đến văn minh, người ta còn nghĩ đến các tiện nghi, hiện đại Như vậy, văn hóa và văn minh còn khác nhau ở tính giá trị Trong khi văn hóa chứa cả các
giá trị vật chất lẫn tinh thần, thì văn minh chủ yếu thiên về các giá trị vật chất mà thôi
Sự khác biệt của văn hóa và văn minh về giá trị tinh thần và tính lịch sử dẫn đến sự khác biệt về phạm vi Văn hóa mang tính dân tộc còn văn minh có tính quốc tế, nó đặc trưng cho một khu vực rộng lớn hoặc cả nhân loại
Sự khác biệt tiếp theo là về nguồn gốc Văn hóa gắn bó nhiều hơn với phương Đông nông nghiệp, còn văn minh gắn nhiều hơn với phương Tây đô thị Cụ thể, trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, tại cựu lục địa Âu – Á đã hình thành hai vùng văn hóa lớn là
“phương Đông” và “phương Tây” Ở các ngôn ngữ phương Tây, từ “văn hóa” bắt nguồn từ
chữ cultus tiếng Latinh có nghĩa là trồng trọt, còn từ “văn minh” bắt nguồn từ chữ civitas có
nghĩa là “thành phố”
1.1.4 Các lo ại hình văn hóa
Theo PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm, văn hóa thường được chia thành văn hóa vật chất
và văn hóa tinh thần Bên cạnh đó, văn hóa có thể chia thành ba nhóm: Văn hóa vật chất – văn hóa xã hội – văn hóa tinh thần; văn hóa vật chất – văn hóa tinh thần – văn hóa nghệ thuật; sinh hoạt kinh tế - sinh hoạt xã hội – sinh hoạt trí thức Một số tác giả còn có sự phân chia như: văn hóa sản xuất, văn hóa xã hội, văn hóa tư tưởng, văn hóa nghệ thuật;…[9, tr.16]
Văn hóa vật chất: Là sản phẩm của con người tạo ra trong quá trình hoạt động sản xuất vật chất như các công trình kiến trúc, trang phục, văn hóa ẩm thực…Văn hóa vật chất là một tiêu chí đánh giá sự tiến bộ xã hội
Trang 18Văn hóa tinh thần: Xét về mặt tư tưởng và tư duy của con người ở các thời kì Văn hóa tinh thần là cách gọi tổng quát chỉ những sản phẩm tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển và hoạt động sản xuất như âm nhạc, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội,…
1.2 Khái ni ệm du lịch và du lịch văn hóa
Năm 1925, hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch IUOTO (Internation of Union Official Travel Organization) được thành lập ở Hà Lan, đánh dấu bước ngoặc trong việc thay đổi, phát triển các khái niệm du lịch
Năm 1930, Glusman người Thụy Sĩ định nghĩa: “Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm, mà ở đó họ không có chổ cư trú thường xuyên”
Hai học giả Hunziker và Krapf, những người đặt nền móng cho lý thuyết cung - cầu du lịch, đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tập hợp của các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời” So với các quan niệm trên, quan niệm của Hunziker và Krapf đã thể hiện tương đối đầy đủ và bao quát các hiện tượng du lịch Tuy nhiên quan niệm này chưa làm rõ được đặc trưng của các hiện tượng và các mối quan hệ du lịch (kinh tế, chính trị, xã hội…)
Năm 1985, I.I Pirojnik đưa ra khái niệm: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị tự nhiên, kinh tế và văn hóa”
Tháng 6/1991, tại Otawa (Canada), Hội nghị quốc tế và thống kê du lịch cũng đưa ra định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường
Trang 19xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian
đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm”
Năm 1993, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đưa ra khái niệm: “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hoặc các mục đích khác ngoài các hoạt động
để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm”
Trong Luật Du lịch Việt Nam (ban hành 2005) định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động
có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Như vậy, có thể thấy rõ sự khác nhau về quan niệm du lịch Tuy nhiên theo thời gian, các quan niệm này dần hoàn thiện Trong điều kiện nước ta hiện nay, quan niệm được trình bày trong Luật Du lịch Việt Nam được sử dụng phổ biến nhất
1.2.1.1 Khách du l ịch
Có nhiều khái niệm khác nhau về khách du lịch Theo một số nhà nghiên cứu, định nghĩa đầu tiên về khách du lịch xuất hiện vào cuối thế kỉ XVIII tại Pháp: “Khách du lịch là những người thực hiện một cuộc hành trình lớn”
Vào thế kỉ XX, nhà kinh tế học người Áo, Josef Stander định nghĩa: “Khách du lịch
là những hành khách đi lại, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục đích kinh tế”
Theo Khadginicolov (người Bungari): “Khách du lịch là người hành trình tự nguyện, với những mục đích hòa bình Trong cuộc hành trình của mình, họ đi qua những chặng đường khác nhau hoặc thay đổi một hoặc nhiều lần nơi cư trú của mình”
Hội nghị quốc tế về du lịch tại Hà Lan năm 1989 đã đưa ra quan niệm:
Khách du lịch quốc tế (International tourist) là những người trên đường đi thăm một hoặc một số nước khác với nước mà họ cư trú thường xuyên với mục đích của chuyến đi là tham quan, thăm viếng, nghỉ ngơi với thời gian 3 tháng, nếu trên 3 tháng phải được phép gia hạn Khách du lịch không được làm bất cứ việc gì để được trả thù lao tại nước đến do ý muốn của khách hay do yêu cầu của nước sở tại, sau khi kết thúc đợt tham quan hay lưu trú, phải rời khỏi nước đến tham quan để trở về nước thường trú của mình hoặc đi đến một nước khác
Trang 20Khách du lịch trong nước (Internal tourist): gồm những người là công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ quốc gia đó đi du lịch trong nước
Ở nước ta, theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), tại điều 4, chương I thì “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch
1.2.1.2 S ản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách dựa trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một trải nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng
Theo Michael M Coltoman: “Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình”
Theo Luật Du lịch Việt Nam: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của du khách trong chuyến đi du lịch”
Như vậy, hiểu một cách chung nhất, sản phẩm du lịch là sự kết hợp nhiều dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch đáp ứng nhu cầu của khách
du lịch
Điểm chung nhất mà sản phẩm du lịch mang lại cho du khách chính là sự hài lòng vì được trải nghiệm một khoảng thời gian thú vị, tồn tại trong kí ức của du khách khi kết thúc chuyến du lịch
1.2.1.3 Tài nguyên du l ịch
Theo I.I Pirojnik [Cơ sở địa lí dịch vụ và du lịch, 1985], “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng giúp cho việc phục hồi, phát triển thể lực, khả năng lao động và sức khỏe của con người mà chúng được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để tạo ra dịch vụ du lịch gắn liền với nhu cầu ở thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế - kĩ thuật cho phép”
Trang 21Theo Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005): “ Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”
Như vậy, cách tiếp cận đối với tài nguyên du lịch giữa các nhà nghiên cứu có sự khác nhau Tuy nhiên tấc cả đều cùng đề cập đến các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội, văn hóa do con người và tự nhiên tạo ra nhằm thu hút khách du lịch
Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) cùng nhóm tác giả đã đưa ra định nghĩa tài nguyên du lịch: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử cùng các thành phần của chúng có sức hấp dẫn với du khách; đã, đang và sẽ được khai thác, cũng như bảo vệ nhằm đáp ứng nhu cầu của du lịch một cách hiệu quả và bền vững” [8, tr 31]
Tài nguyên du lịch rất đa dạng và có nhiều cách phân loại khác nhau Tuy nhiên, mỗi cách phân loại đều dựa vào những tiêu chí khác nhau
Năm 1997, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã phân chia tài nguyên du lịch thành
3 loại, với 9 nhóm gồm: loại cung cấp tiềm tàng (3 nhóm: văn hóa kinh điển, tự nhiên kinh điển, vận động); loại cung cấp hiện tại ( 3 nhóm: giao thông, thiết bị, hình tượng tổng thể)
và loại tài nguyên kĩ thuật (3 nhóm: khả năng hoạt động, cách thức và tiềm lực khu vực) Theo G Cazes – R lanquar – Y Raynouard [Đào Đình Bắc (2000), Quy hoạch du
lịch, ĐH Quốc gia Hà Nội] đã phân loại tài nguyên du lịch như sau:
Tài nguyên thiên nhiên như khí hậu (thuận lợi hay khó khăn cho việc phát triển các loại hình du lịch này hay loại hình du lịch khác), địa hình (tạo ra phong cảnh núi, phong cảnh hồ hoặc bãi biển), động vật và thực vật
Tài nguyên văn hóa – xã hội như các cuộc trình diễn nghệ thuật, liên quan âm nhạc, hòa nhạc quốc tế, triển lãm, hội thảo văn học, trình diễn thể thao, khoa học công nghệ, các thành phố hiện đại, các điểm khảo cổ và lịch sử
Tài nguyên thuộc nhóm kinh tế như các nhà máy, các trung tâm kĩ thuật
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), tài nguyên du lịch được chia thành hai nhóm cơ bản sau:
Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: địa hình (các dạng địa hình đặc biệt), khí hậu, thủy văn (trên đất liền và biển), sinh vật
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm có: di tích các loại, lễ hội, làng nghề, văn hóa – văn nghệ dân gian, ẩm thực…
Trang 22Hiện nay, cách phân chia này được xem là phù hợp nhất trong điều kiện ở Việt Nam
và trong bài nghiên cứu này, tôi đã vận dụng cách phân loại tài nguyên du lịch ra hai nhóm như trên
1.2.1.4 Các lo ại hình du lịch
Hoạt động du lịch rất phong phú và đa dạng Tùy theo yêu cầu và mục đích khác nhau
mà hoạt động đó được phân loại thành các loại hình khác nhau
Phân loại theo tài nguyên du lịch: Du lịch văn hóa và du lịch sinh thái
Phân loại theo mục đích chuyến đi: Du lịch tham quan, du lịch giải trí, thể thao, du lịch chữa bệnh, du lịch tôn giáo,…
Phân loại theo lãnh thổ hoạt động: du lịch trong nước và du lịch quốc tế
Phân loại theo vị trí địa lí: du lịch biển, du lịch núi, du lịch đô thị, du lịch đồng quê Phân loại theo thời gian của cuộc hành trình: du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày Phân loại theo việc sử dụng các phương tiện giao thông: du lịch xe đạp, du lịch ô tô,
du lịch máy bay, du lịch tàu hỏa, du lịch tàu thủy
Phân loại theo hình thức tổ chức: du lịch tổ chức theo đoàn, du lịch cá nhân, du lịch gia đình
Ngoài các cách phân loại trên, người ta còn sử dụng các cách phân loại khác như: theo lứa tuổi – đối tượng khách (du lịch thiếu nhi/ học sinh; du lịch thanh niên; du lịch người lớn tuổi; du lịch tuần trăng mật); theo phương thức hợp đồng (du lịch trọn gói, du lịch từng phần)
1.2.2 Khái ni ệm du lịch văn hóa
Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 tại Khoản 1, Điều 4, Chương I: “Du lịch văn hoá là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng
nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống” Du lịch văn hóa là loại hình du
lịch nhằm nâng cao hiểu biết cho du khách về lịch sử, kiến trúc, kinh tế - xã hội, lối sống, phong tục tập quán ở nơi họ đến thăm Địa điểm đến thăm của du khách có thể là các di tích văn hóa – lịch sử, bảo tàng, lễ hội địa phương, liên hoan nghệ thuật, thể thao
Theo Trần Văn Thông: “ Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà du khách muốn được cảm nhận bề dày văn hóa của một nước, một vùng thông qua các di tích lịch sử, văn hóa, những phong tục tập quán còn hiện diện” [11, tr.20]
Trang 23Tóm lại: Du lịch văn hoá là một loại hình du lịch sử dụng những giá trị văn hoá của địa phương, thông qua các vật dẫn hoặc phương thức biểu đạt, cung cấp cho du khách cơ
hội để chiêm ngưỡng, thử nghiệm và cảm thụ văn hoá của các địa phương Vật hấp dẫn bao
gồm các công trình kiến trúc mỹ thuật, các di tích lịch sử, hoạt động tôn giáo, nghi thức xã
hội đặc thù, đồ ăn, thức uống, biểu diễn âm nhạc kịch, vũ điệu địa phương, nghệ thuật sản
xuất thủ công truyền thống và làng nghề, lễ hội, phong tục tập quán
Khách du lịch văn hóa: là du khách có trình độ hiểu biết về các vấn đề văn hóa, mĩ
thuật, nghệ thuật, kiến trúc, phong tục tập quán, tín ngưỡng… đi du lịch nhằm mục đích tham quan hoặc nghiên cứu [12, tr.10]
Sản phẩm du lịch văn hóa là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách trên cơ sở
khai thác tiềm năng du lịch văn hóa như các lễ hội truyền thống của các dân tộc, các sản phẩm thủ công mĩ nghệ tại các làng nghề truyền thống, các hoạt động văn nghệ, thể thao truyền thống nhằm mục đích đem đến sự hấp dẫn của du khách trong chuyến du lịch
Các lo ại hình du lịch văn hóa hiện nay:
Du lịch lễ hội truyền thống
Du lịch tham quan các di tích lịch sử - văn hóa
Du lịch tham quan các bản sắc văn hóa, các làng nghề truyền thống của các dân tộc
1.2.3 Các nguyên t ắc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
Bản thân lĩnh vực văn hóa là rất rộng lớn và người ta thường gắn khái niệm "bảo tồn văn hóa" với những đối tượng cụ thể như: bảo tồn văn hóa truyền thống, bảo tồn văn hóa vật thể, bảo tồn văn hóa phi vật thể, bảo tồn di sản văn hóa phật giáo, bảo tồn văn hóa nông thôn… Hiểu theo nghĩa chung nhất thì bảo tồn văn hóa là gìn giữ, lưu lại những giá trị văn hóa
Việc bảo tồn các giá trị văn hóa luôn đi kèm với tiến trình phát triển của xã hội Để những giá trị văn hóa còn tồn tại theo thời gian thì cần có những chính sách, những qui định dành cho công tác bảo tồn nhằm phát huy hiệu quả của các giá trị văn hóa
Đối với di sản văn hóa truyền thống, một trong những nguyên tắc cần phải quan tâm
đó là tiến hành điều tra, sưu tầm, thu thập, ghi chép lại các dạng thức văn hóa, những kĩ năng, những tri thức do nghệ nhân sử dụng trong trình diễn các loại hình nghệ thuật hay chế
tác sản phẩm bằng việc ghi chép, ghi âm, ghi hình Việc sử dụng máy ghi âm, máy ảnh giúp
Trang 24chúng ta lưu giữ và tái hiện lịch sử một cách đầy đủ hơn, đặc biệt là trong việc lưu giữ các loại hình nghệ thuật biểu diễn như múa, ca nhạc, sân khấu và chế tác sản phẩm thủ công truyền thống
Sưu tầm và ghi chép là cách thức quan trọng trong việc bảo tồn các giá trị di sản văn hóa truyền thống Tuy nhiên bảo tồn không chỉ dừng lại ở việc lưu giữ các ấn phẩm, băng hình, băng tiếng, trưng bày ở bảo tàng, sân khấu hóa các loại hình nghệ thuật truyền thống,
mà quan trọng hơn là lưu giữ trong môi trường sản sinh ra chúng Nguyên tắc này còn gọi là bảo tồn sống Tức là bảo tồn các hiện tượng văn hóa phi vật thể ngay chính trong đời sống cộng đồng
Một loại hình di sản văn hóa phi vật thể được coi là thành công trong việc lưu giữ khi
nó vẫn tồn tại sống động trong môi trường nơi nó sinh ra, tức là đưa di sản văn hóa trở lại với chủ thể văn hóa và tạo điều kiện tốt nhất để cho nó tồn tại Đây là nguyên tắc được UNESCO và nhiều quốc gia trên thế giới đề xuất Cộng đồng là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa, là nơi nuôi dưỡng và làm phong phú nó trong đời sống
Văn hoá phi vật thể tồn tại trong trí nhớ của một số người mà chúng ta thường gọi là nghệ nhân Bởi vậy, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể cũng có nghĩa là
“bảo vệ” người kế thừa di sản văn hoá - những nghệ nhân dân gian Thực tế đã chứng minh rằng, “chỉ cần những người kế thừa di sản văn hoá phi vật thể vẫn còn sống thì những di sản văn hoá truyền thống sẽ không bị biến mất; chỉ cần những người kế thừa di sản văn hoá phi vật thể vẫn còn tràn đầy sức sống thì di sản văn hoá phi vật thể sẽ không ngừng được sáng tạo trong quá trình trao truyền và kế thừa; chỉ cần người kế thừa di sản văn hoá phi vật thể vẫn thu nhận đồ đệ để truyền nghề, thì di sản văn hoá phi vật thể có người kế thừa, kéo dài mãi mãi”
Để “bảo vệ” những báu vật nhân văn sống, ngoài việc thừa nhận những tài năng, Nhà nước và cộng đồng cần tôn vinh và tạo mọi điều kiện tốt nhất về vật chất và tinh thần để họ
có thể phát huy mọi khả năng trong việc bảo tồn các di sản văn hoá truyền thống Và quan trọng hơn là để họ có ý thức trao truyền những giá trị vô giá kết tinh trong di sản văn hóa truyền thống của dân tộc cho thế hệ tương lai
Những giá trị văn hóa truyền thống tồn tại trong nhân dân và chỉ có thể được bảo vệ, gìn giữ bởi nhân dân Chính phủ dẫu có đầu tư bao nhiêu tiền của cũng sẽ bất lực nếu như không chú ý đến việc bồi dưỡng ý thức cũng như huy động nhân dân tham gia trong công việc này Điều quan trọng là làm cho người dân ý thức được rằng biện pháp huy động sức
Trang 25dân chỉ có hiệu quả trên một nền tảng ý thức về giữ gìn di sản văn hóa truyền thống Người dân chính là chủ thể của mọi hoạt động bảo vệ di sản văn hóa Họ là người đóng vai trò quyết định trong việc bảo tồn một cách bền vững di sản văn hoá của chính họ Họ có đủ năng lực và thẩm quyền để đánh giá các giá trị của di sản văn hóa, quyết định lựa chọn các hiện tượng văn hóa phi vật thể nào là cần thiết để bảo tồn
Thực tế là mọi hoạt động bảo tồn di sản văn hoá truyền thống chỉ có thể mang lại hiệu quả và thành công khi có sự tham gia tự nguyện của người dân, thu hút và huy động tối đa mọi nguồn lực của chủ thể văn hoá Thời gian gần đây, các ý kiến bàn về vấn đề bảo tồn di sản văn hóa truyền thống được đề cập khá nhiều trên các diễn đàn học thuật cũng như trên các phương tiện truyền thông đại chúng Một số nhà khoa học và quản lý cho rằng cần bảo
vệ tính nguyên gốc của di sản văn hóa, số khác lại cho rằng cần phải bảo tồn theo hướng phát triển Nhiều ý kiến bàn về vai trò của cộng đồng, vai trò của chủ thể trong việc bảo tồn
và phát huy di sản Có ý kiến chống lại xu hướng “sân khấu hóa” di sản, mà yêu cầu bảo tồn
di sản trong môi trường nguyên gốc của nó Có một thực tế là di sản văn hóa phi vật thể rất phong phú và đa dạng, sự tồn tại và đời sống của từng di sản là rất khác nhau, do vậy những
nỗ lực để có một phương án duy nhất đúng trong công việc bảo tồn di sản chỉ đem lại thất bại Các di sản khác nhau sẽ phù hợp với những phương cách bảo tồn và phát triển khác nhau Mặt khác, với mỗi di sản, cũng có thể có nhiều phương án bảo tồn đồng thời được áp dụng Di sản thích nghi với càng nhiều hình thức sống, nhiều không gian khác nhau sẽ càng
có sức sống mãnh liệt hơn trong bối cảnh ngày một biến đổi của xã hội đương thời
1.3 Lược sử hình thành và phát triển du lịch văn hóa ở một số nước trên thế giới và
Vi ệt Nam
1.3.1 M ột số nước trên thế giới
Bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch nghĩ dưỡng, du lịch mạo hiểm gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục, tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch có
sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là
cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ
Trang 26Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương - nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa và cũng là nơi tồn tại đói nghèo Khách du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổ chức những chuyến du lịch nước ngoài Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương
Ở những nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nền tảng phát triển phần lớn không dựa vào những đầu tư lớn để tạo ra những điểm du lịch đắt tiền, mà thường dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc Những nguồn lợi này không tạo
ra giá trị lớn cho ngành du lịch, nhưng lại đóng góp đáng kể cho sự phát triển của cộng đồng
xã hội Những quốc gia phát triển mạnh du lịch văn hóa là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, và một số nước thuộc khu vực Nam Mỹ
Thái Lan: Đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Thái Lan là quốc gia phát triển mạnh ngành du lịch mà đặc biệt là du lịch văn hóa Với lợi thế về tài nguyên du lịch và môi trường thiên nhiên sẵn có cùng với các chính sách, chiến lược phát triển du lịch hiệu quả đã đem đến cho Thái Lan một nguồn thu rất lớn từ hoạt động du lịch
Với các hoạt động nhằm bảo vệ môi trường, giữ gìn kiến trúc truyền thống, Chính phủ Thái Lan đã phát động phong trào khôi phục lại giá trị nguyên bản của văn hóa và đất nước Thái Lan, gắn du lịch với bảo vệ môi trường, cảnh quan và các giá trị truyền thống của đất nước Chính phủ Thái Lan kêu gọi các khu vực làng mạc ở vùng nông thôn hãy giữ nguyên
vẻ đẹp nguyên sơ của mình, bảo vệ cây cối và giảm tiếng ồn, giữ gìn phong cách kiến trúc Thái Lan
Còn ở Philippin, bên cạnh việc thực hiện chiến lược “phát triển du lịch bền vững trên quan điểm bảo vệ môi trường” thì Chính phủ Philippin tiến hành các chương trình phục hồi các di sản văn hóa và lịch sử Điển hình là việc quy hoạch khu du lịch thị trấn Vigan, định hướng quy hoạch được xây dựng với mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn phục hồi và bảo tồn các di sản văn hóa, lịch sử Bộ du lịch Philippin đã ban hành một loạt các bộ luật mang nội dung bảo tồn các địa danh văn hóa có giá trị để khai thác du lịch, xác định rõ Vigan là điểm
du lịch văn hóa quan trọng Hoạt động này không những góp phần bảo tồn và phát triển các
di sản văn hóa truyền thống của Vigan mà còn là nhân tố quan trọng góp phần vào việc khôi phục và tái phát triển các ngành công nghiệp và ngành thủ công truyền thống trong khu vực như sản xuất gốm sứ (Burnay), gạch Vigan cổ, dệt thủ công, nghề nhuộm vải
Trang 27
Ngoài ra, Chính phủ còn ban hành chính sách kêu gọi tư nhân hợp tác với Chính phủ nhằm đảm bảo các vấn đề về vệ sinh và môi trường Thường xuyên đào tạo các lớp dài hạn, ngắn hạn để tăng cường ý thức bảo vệ môi trường Có thể nói, đây là nhân tố góp phần thút đẩy ngành du lịch Philippin tăng trưởng trong những năm qua
Indonesia: Đây là quốc gia vạn đảo với nhiều điểm du lịch đặc sắc Ngoài du lịch biển đảo, Indonesia còn phát triển thêm nhiều loại hình du lịch khác trong đó có du lịch văn hóa Chính phủ Indonesia đã thực hiện chiến lược phát triển du lịch bền vững, bảo tồn và duy trì
sự đa dạng sinh học, phát huy bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc Điển hình là dự án phát triển du lịch Bali với ba đặc điểm sau:
Duy trì các nguồn tài nguyên sản xuất
Giữ vững bản sắc văn hóa và sự cân bằng trong văn hóa
Phát triển một quá trình tăng chất lượng cuộc sống
Với điều kiện thiên nhiên sẵn có kết hợp với nền văn hóa đặc sắc, với những ngôi chùa, các điệu nhảy cùng với âm nhạc, nghệ thuật truyền thống đã đưa nền du lịch Indonesia vượt bậc so với các nước trong khu vực
1.3.2 Ở Việt Nam
Việt Nam nằm ở vị trí cửa ngõ giao lưu quốc tế, có nhiều điều kiện phát triển giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không nối với các quốc gia trên thế giới Tài nguyên du lịch Việt Nam đa dạng, giàu bản sắc cả về thiên nhiên như bãi biển đẹp, nhiều hang động, đảo và lớp phủ thực vật… tài nguyên nhân văn như các di tích lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc, phong tục tập quán và làng nghề truyền thống của các dân tộc Đây là điều kiện để Việt Nam phát triển nhiều loại hình du lịch, trở thành điểm đến của du khách trong khu vực và trên thế giới
Hiện nay, Việt Nam đã phát triển đầy đủ các loại hình du lịch như du lịch nghỉ dưỡng,
du lịch tham quan, du lịch văn hóa…với nhiều hoạt động quảng bá, tuyên truyền như tổ chức các festival ở các vùng miền, các hội chợ, hội nghị…nhằm thu hút sự quan tâm của cộng đồng thế giới đến với Việt Nam
Các hoạt động du lịch văn hóa được tổ chức dựa trên những đặc điểm của vùng miền Chương trình Lễ hội Đất Phương Nam (Lễ hội văn hóa dân gian vùng Đồng bằng Nam bộ),
Du lịch Điện Biên (Lễ hội văn hóa Tây Bắc kết hợp với sự kiện chính trị: 50 năm chiến
Trang 28thắng Điện Biên Phủ), Con đường Di sản miền Trung (Lễ hội dân gian kết hợp tham quan những di sản văn hóa được UNESCO công nhận) Tấc cả những hoạt động của du lịch văn hóa, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước
Trong số đó, Festival Huế được xem là hoạt động du lịch văn hóa đặc sắc nhất Việt Nam Lễ hội được tổ chức thường xuyên 2 năm một lần, với sự hỗ trợ của Chính phủ Pháp Festival Huế 2004 là lần thứ ba Việt Nam có dịp giới thiệu với du khách về lễ hội dân gian của miền Trung, đặc biệt là Nhã nhạc cung đình Huế - một di sản phi vật thể vừa được UNESCO cộng nhận; và Lễ tế đàn Nam Giao - một lễ hội vương triều thất truyền từ hàng chục năm nay Ngoài ra, lễ hội dân gian này còn có sự tham gia của các nước Pháp, Trung Quốc
Ngày nay, du lịch văn hóa đã trở thành xu hướng của các nước đang phát triển Đều này càng được thể hiện rõ thông qua Hội nghị Bộ trưởng Du lịch Đông Á Thái Bình Dương diễn ra vào ngày 11/6 tại thành phố Huế Hội nghi có sự tham gia của trên 150 đại diện của các nước ở khu vực Châu Á Hội nghị là cơ hội để các nước chia sẻ kinh nghiệm, thông tin
về phát triển du lịch văn hóa và những ích lợi của hoạt động này đối với cộng đồng xã hội cũng như dân cư, nhất là giá trị của nó đối với việc xóa đói giảm nghèo ở những quốc gia đang phát triển
Trang 29Hình 2.1 B ản đồ hành chính tỉnh Ninh Thuận
Trang 30CHƯƠNG 2: VĂN HÓA CHĂM NHẰM PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
2.1 Gi ới thiệu chung
2.1 1 Khái quát địa bàn nghiên cứu
Dân tộc Chăm là một dân tộc thiểu số trong khối cộng đồng dân tộc Việt Nam Với
số dân 161.729 người, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh như Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, An Giang, Tây Ninh, Tp Hồ Chí Minh Trong đó, Ninh Thuận là tỉnh có đông đồng bào Chăm sinh sống nhất với 67.274 người, chiếm 41,6% tổng người Chăm cả nước
Hiện nay, người Chăm ở Ninh Thuận vẫn còn lưu giữ truyền thống kinh tế và phong tục tập quán mang đậm bản sắc văn hóa
B ảng 2.1: Tổng người Chăm ở Việt Nam
T ỉnh Dân s ố (người) T ỉ lệ (%)
Ninh Thuận 67.274 41,6 Bình Thuận 34.690 24,4 Phú Yên 19.495 12,3
Ngu ồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Thuận, 2009
Trước đây, tỉnh Thuận Hải gồm hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận Đến năm 1992, Ninh Thuận và Bình Thuận được tách thành hai tỉnh riêng biệt
Ninh Thuận hiện có 7 đơn vị hành chính gồm Tp Phan Rang – Tháp Chàm và các huyện Bác Ái, Ninh Sơn, Ninh Hải, Ninh Phước, Thuận Bắc, Thuận Nam
Tổng diện tích đất tự nhiên là 3.358 km2, trong đó đất nông nghiệp là 2.593 km2 Nơi đây có đồng bằng Ninh Thuận - nơi sinh sống tập trung của người Chăm Awal (ảnh hưởng Bàlamôn) với diện tích là 520km2 Nhìn chung, diện tích đất canh tác trong nông nghiệp ít,
đa số là các con sông nhỏ, đất phù sa nghèo nàn
Dân số Ninh Thuận là 565.677 người, mật độ dân số là 168 người/km2
[3] Đây là tỉnh
có mật độ dân số thấp so với các tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
Trang 31Thành phần dân cư đa dạng gồm dân tộc Kinh, dân tộc Chăm, dân tộc Hoa, Raglai, Nùng, Chu ru và các dân tộc khác Dân tộc Kinh chiếm 76,5%, các dân tộc còn lại chiếm
23,5% (trong đó, dân tộc Chăm nhiều nhất chiếm 11,9%)
Ninh Thuận là tỉnh có dân số thấp, đất đai khô cằn, chủ yếu đất pha cát hay cồn cát Khí hậu khắc nghiệt, lượng mưa thấp nhất trong cả nước Hoạt động kinh tế của vùng là canh tác nông nghiệp trong đó người Chăm thuần túy làm nông nghiệp là chủ yếu Ngoài ra,
do đặc điểm là tỉnh ven biển với tổng chiều dài bờ biển là 105km Đây là điều kiện để người dân phát triển ngành đánh bắt thủy sản trong đó có người Chăm
2.1.2 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Chăm
2.1.2.1 L ịch sử hình thành vương quốc Champa
Champa là tên một vương quốc cổ (Nagara Campa) bị Ấn Độ hóa ở miền trung Việt Nam có biên giới từ Quảng Bình đến Đồng Nai, được hình thành từ 192 SCN Champa là tên một chữ Phạn chỉ một loài hoa sứ (tên khoa học Michelia Champacca Linac) ở miền Bắc
và hoa Đại miền Nam Ấn Độ được ghi đầu tiên trên bia kí Sambhuvarman vào khoảng thế
kỉ VII (629 – 658 SCN) và bia Chân Lạp gọi là bia Ang Chumnik có niên đại vào thế kỉ VII (667 SCN) Sau này, vào thế kỉ VII tư liệu Trung Quốc phiên âm Champa thành Chiêm Thành, rồi có lúc gọi là Hoàn Vương [18, tr.75-76]
Sau này với sự phát hiện bia kí Võ Cạnh (Khánh Hòa) – một tấm bia khắc bằng chữ
Phạn (Sanskrit) có niên đại khoảng cuối thế kỉ II SCN cho biết một vị vua tên là Sri-Mara
đã sáng lập ra vương triều Champa Trên cơ sở đó các nhà khoa học đã nhận định: Vương
quốc Champa đã xuất hiện trong lịch sử Việt Nam vào khoảng thế kỉ II SCN
Theo G Maspero cho rằng: Vương quốc Champa cổ là một thể chế liên bang được
hợp thành bởi những tiểu quốc Mỗi tiểu quốc hoặc một vùng có khi tách rời, có khi phụ thuộc vào triều đình trung ương Sau đây là tên 5 tiểu vùng của vương quốc Champa
1 Vùng Inrapura: Vùng đất từ Huế - Thanh hóa
2 Vùng Amavati: Vùng đất từ Quảng Nam – Đà Nẵng
3 Vùng Vijaya: Vùng đất Bình Định
4 Vùng Khauthara: Vùng đất Phú Yên – Khánh Hòa
5 Vùng Panduranga: Vùng đất Ninh Thuận – Bình Thuận
Trang 322.1.2.2 L ịch sử phát triển của dân tộc Chăm
Champa là một quốc gia đa dân tộc bao gồm người Chăm, Ê đê, Jarai, Raglai, Churu (Cru), Mạ, Stiêng, Kơtu… trong đó người Chăm là chủ thể sống ở đồng bằng, còn các dân
tộc khác sinh sống ở dọc Trường Sơn và Tây Nguyên của miền Trung Việt Nam
Người Chăm có tên tự gọi là Chăm Tên gọi Chàm, Hời là tên các dân tộc khác gọi người Chăm
Theo nhiều nguồn tài liệu, người Chăm là một dân tộc có quá trình hình thành và phát triển lâu đời Người Chăm thuộc chủng tộc Nam Á, tiếng nói của họ rất gần giống với các dân tộc Raglai, Churu, Jarai, Ê đê, thuộc ngôn ngữ Austronesien (nhóm ngôn ngữ Malayo – Polinesien) Họ có chữ viết riêng dựa trên chữ Phạn (Sanskrit) Ấn Độ mà ta còn thấy được
trên các bia kí Đến nay chữ Chăm thông dụng được người Chăm gọi là akhar thrah Người
Chăm sinh sống chủ yếu ở dọc dải đất miền Trung từ đèo Ngang cho đến phía Bắc sông Đồng Nai Họ sống tựa lưng vào dãy Trường Sơn và hướng mặt ra biển đông với hoạt động kinh tế cả nông nghiệp và nghề đi biển Chính nơi đây đã xuất hiện giống lúa chín sớm 100 ngày và đến thế kỉ XIII được truyền sang Trung Hoa, tạo nên sự đột biến ở vùng Hoa Nam [14, tr.37]
Vấn đề tên họ của người Chăm: Người Chăm theo chế độ mẫu hệ Họ định cư theo công xã thị tộc Mỗi làng Chăm được tập hợp nhiều tộc họ sinh sống với nhau Mỗi tộc họ là bao gồm một nhóm người cùng chung huyết thống được tính từ phía mẹ Tấc cả thành viên trong tộc họ đều mang một tên gọi của tộc họ mình Khi chết nằm chung một nghĩa địa gọi
là Kút, Ghur, cùng thờ cúng tổ tiên là một “chiết atau” Tên tộc họ người Chăm thường gắn
liền với địa danh đất đai, ruộng lúa, cây cối như Kút amil apuei (Kút cây me lửa), Kút phun dandak (Kút cây Da đá), ghur din (nghĩa địa vùng Din), ghur ia malan (nghĩa địa vùng nước chùm bầu)…
Bên cạnh tên tộc họ, mỗi người Chăm còn có tên riêng nhưng tên không gắn liền với
họ như “tên họ” của người Việt (Kinh) Tư liệu Hoàng gia Chăm vào thế kỉ XVIII bằng chữ Chăm mang kí hiệu P.140 (16b) còn ghi lại nhiều tên riêng, sổ đinh để nộp thuế cho triều đình Qua tư liệu này cho thấy tên người Chăm chỉ phân theo giới mà không phân theo họ
Giới nữ gắn với từ Muk và giới nam gắn với từ Ja Cụ thể tên đàn bà thường mang từ Muk
đi trước và sau đó gắn với một tên riêng nào đó như Muk Ni Kaok, Muk Bait, Muk Gin… Tên nam mang từ Ja và sau đó gắn một tên riêng như Ja Tik Kaok, Ja Baok Wa, Ja Tala Akaok…
Trang 33Hiện nay, vấn đề tên họ người Chăm đã có sự thay đổi lớn Theo tư liệu Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, vua Minh Mạng ra lệnh cho các dân tộc thiểu số ở miền thượng lấy họ như người Việt Từ đó, người Chăm mang họ tên như người Việt Vua đưa chiếu xuống bắt người Chàm phải thay họ, đổi tên và ăn mặc giống người Kinh Từ lí do đó, dù là người Chăm nhưng họ lại mang tên họ người Việt Còn các họ Chế, Ôn, Trà, Ma là do người
thống kê dân số, ghi sổ đinh bị nhầm lẫn là họ của người Chăm theo kiểu văn hóa người
Việt sau khi đã bình định Champa Tuy nhiên nếu muốn xác định tên họ truyền thống, người Chăm không căn cứ tên họ theo giấy khai sanh mà luôn xác định tên họ theo dòng họ bên
mẹ (Kút, ghur)
Người Chăm gồm có hai thị tộc lớn: Thị tộc Dừa (Li-u-Narikela-Vams) và thị tộc Cau (Piang – Kramukha Vams) Dòng Cau làm bá chủ phía Nam (Panduranga) và dòng Dừa làm
bá chủ phía Bắc (Amavati) Trong quá trình phát triển của mình, trên mỗi vùng đất sinh
sống, người Chăm đã để lại nhiều dấu ấn văn hóa đậm nhạt khác nhau Trong đó có các đền tháp, lăng tẩm, bia kí, làng mạc, bến cảng, những câu ca, điệu múa, lễ nghi, tôn giáo, tín ngưỡng mang bản sắc văn hóa riêng Đó là những minh chứng về vật chất và tin thần của người Chăm trong một thời phát triển
2.2 C ác điều kiện tác động đến sự hình thành và phát triển văn hóa Chăm
dọc theo Quốc lộ 1A, đường sắt Thống Nhất và Quốc lộ 27 lên Tây Nguyên, cách sân bay
và cảng Cam Ranh 60 km Ninh Thuận có lợi thế về giao thông đường bộ, đường biển và đường hàng không
Do đặc điểm là tỉnh ven biển vì vậy, người Chăm Ninh Thuận đã hình thành kinh tế truyển thống gắn với hoạt động từ biển
Trang 342.2.2 Điều kiện tự nhiên
và những dòng sông lớn mang phù sa Tuy nhiên do khí hậu khô nóng nên đồng bằng khô
hạn, thiếu nước, đất đai cằn cỗi, khó khăn cho sản xuất nông nghiệp Người Chăm chỉ cày
cấy mỗi năm một vụ vào mùa mưa
hậu Ninh Thuận bị khô và nóng
2.2.2.3 Th ổ nhưỡng
Do khí hậu khô hạn nên thổ nhưỡng có những đặc trưng riêng Loại đất thịt có pha cát trên nền một lớp sét Phần lớn các vùng Chăm ở Phan Rang phía bắc Ninh Phước nằm trên khu vực đất có cấu trúc loại này Đất có màu nâu xám, độ PH khoảng 6,5, độ thoát nước
Trang 35trung bình, độ dày có lớp mùn nhiều nhất là 0,5m Đất pha vùng Ninh Phước (Phan Rang) thích hợp trồng các loại hoa màu và cây ăn trái như nho, xoài và thuốc lá
Hàng năm vào mùa gió, những cơn gió mạnh đã di chuyển dần các cồn cát ven biển
lấn sâu vào đất liền Nhiều thửa ruộng, cả những khu nghĩa địa của người Chăm gần đây cũng bị cát lấn dần Hiện nay, một vài nơi người Chăm đã trồng cây chắn cát
2.2.2.4 Th ủy văn
Do khu vực cư trú của người Chăm trong vùng khí hậu khô hạn, mưa ít nên lượng nước ở các con sông rất hạn chế Các con sông chính như sông Dinh, sông Mê Lam, sông Chá, sông Ông, sông Mao… Các sông có lưu vực hẹp và lượng nước ít nhưng phần lớn tập trung vào mùa mưa, còn mùa khô hầu như khô cạn Đa phần ở đây là những sông ngắn, ít
phụ lưu và chi lưu, hầu như không quá 50 km, độ dốc cao Vì vậy, vào mùa mưa nước sông nhanh chóng tháo chảy ra biển tạo nên những cơn lũ nhỏ, nước xiết
Do mật độ sông, suối thưa thớt nên khó khăn cho người dân trong sản xuất và sinh
hoạt Đây là khu vực thường xuyên thiếu nước vào mùa khô, ngoại trừ một vài vùng có hệ
thống thủy lợi như Hữu Đức, Phú Nhuận, Hòa Trung (Ninh Phước), còn hầu hết vùng Chăm đều trông chờ vào lượng nước mưa để canh tác mỗi năm một vụ Nước sinh hoạt chủ yếu
dựa vào nguồn nước ngầm lấy từ các giếng sâu
Chính sự thiếu nước trong sinh hoạt và gieo trồng nên người Chăm đã sớm biết kĩ thuật thủy lợi độc đáo với các đập ngăn các suối và sông nhánh trữ nước đưa vào ruộng Trong lịch sử vương quốc Champa cũng đã tồn tại một loại giếng Chăm hình vuông làm nguồn nước công cộng cho cư dân Một vài giếng Chăm đến nay vẫn còn được bà con người Chăm gìn giữ, hàng năm đến cúng bái Cũng do sự hạn chế nguồn nước trong gieo trồng, nên việc phân phối nguồn nước canh tác của người Chăm có một vị trí đặc biệt Các làng Chăm thường có những người được cử ra trông coi việc phân phối nước cho các gia đình Hàng năm, trong số các nghi lễ nông nghiệp của người Chăm, còn có lễ cúng nguồn nước, cúng mương nước
2.2.2.5 Sinh v ật
Thảm thực vật chủ yếu là các loại cây bụi và rừng thứ sinh Do việc khai thác trái phép, nạn cháy rừng phổ biến nên các làng Chăm tuy gần rừng núi nhưng phần nhiều là các núi và đồi trọc Một vài loại cây gỗ quí như trầm hương, cẩm lai, bằng lăng, phượng hoàng, long não, cà chắt, vốn trước đây khá phong phú, ngày nay lại rất hiếm Ở các làng Chăm phong cảnh tương đối đơn điệu và khô cằn, ngoài một vài cây me cổ thụ, trong làng hầu như
Trang 36không có một loại cây thân gỗ nào khác Người Chăm quan niệm cây thân gỗ là nơi cư trú
của mà quỷ Động vật có nhiều loài quí như hươu, nai và các loại chim như công, vẹt… Vùng biển có nhiều hải sản như cá, tôm, mực, ba ba, nghêu, sò, ốc và các loại ngọc trai Đây là môi trường thuận lợi để người Chăm phát triển các hoạt động kinh tế từ biển
Do vị trí nằm giữa núi và biển, đồng bằng sâu trũng với khí hậu khắc nghiệt nhiều
nằng, ít mưa Điều kiện tự nhiên, môi sinh ấy đã tác động và góp phần hình thành nên sắc thái văn hóa của người Chăm – đó là sắc thái của một cư dân vừa làm nông và nghề đi biển Khí hậu khắc nghiệt thường gây lũ lụt vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô đã gây nên nhiều bệnh như sốt rét, thương hàn, dịch tả Trước tình trạng đó, mỗi ngọn núi, dòng sông,
cửa biển, cây cổ thụ, đều được người Chăm xem là có linh hồn, có khả năng phù hộ độ trì
hoặc có thể đe dọa đời sống tinh thần con người Do đó với trình độ tư duy đơn giản, trình
độ khoa học chưa phát triển, người Chăm chưa lí giải được các hiện tượng tự nhiên như mây mưa, sấm chớp mà tấc cả họ đều cho là do quyền năng của thượng đế vô hình Vì vậy để được bình an, được mùa màng, mưa thuận gió hòa đã hình thành tín ngưỡng tôn thờ các vị
thần sông, thần núi, thần biển Họ phải đem các lễ vật đến cầu cúng các vị thần linh để được phù hộ, độ trì Đây là nhân tố tạo tiền đề cho việc hình thành các lễ hội Chăm
2.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.2.3.1 Phân b ố dân cư
Địa bàn cư trú của người Chăm trong tỉnh không đều, tập trung nhiều nhất trên địa bàn huyện Ninh Phước với 38.807 người (57,7%), huyên Thuận Nam là 12.720 (18,9%) Riêng
Tp Phan Rang – Tháp Chàm là 2.075 người (3,1%), các huyện còn lại người Chăm sống rải rác, đan xen với người Kinh và các dân tộc khác Ninh Thuận có người Chăm Bàlamôn (Chăm Ahiêr) sinh sống nhiều nhất, với các làng nghề Chăm truyền thống, các đền tháp và
là nơi diễn ra các hoạt động lễ hội hàng năm của người Chăm
Người Chăm ở Ninh Thuận chủ yếu theo hai tôn giáo lớn là Bàlamôn 40.695 người (22,1%) và Hồi giáo 25.513 người (13,8%) Hai tôn giáo này đã góp phần tạo nên nét đặc
sắc trong tôn giáo của người Chăm nơi đây
Trang 37B ảng 2.2: Phân bố người Chăm tỉnh Ninh Thuận
Người Chăm thường sinh sống ở đồng bằng hay vùng bán sơn địa, xen cư với người
Việt Tuy nhiên ở một số địa phương, họ thường tụ cư đông đảo hơn, nhất là những nơi có đền tháp Ví dụ: Người Chăm Bàlamôn sống tập trung ở ba cụm:
(1) Cụm 6 làng thuộc huyện Ninh Phước xung quanh ngôi tháp Po Rome, do cả spô
Trang 38Hình 2.1 Bi ểu đồ phân bố người Chăm tỉnh Ninh Thuận
2.2.3.2 Nhân t ố lịch sử - văn hóa
Theo G Mápero: Trong lãnh thổ các vương quốc Champa xưa thường được phân chia thành 5 tiểu vùng (kinh đô) thì vùng Panduranga (Ninh Thuận – Bình Thuận) là tiểu vùng phía nam, tương đối độc lập và cách biệt với các tiểu vùng phía bắc Có thể coi Panduranga
là “tiểu vương quốc tự trị”, là đất mà vua Chăm dùng làm đất phong vương, giữ vai trò như
một "phó vương" của Champa, thậm chí có thời kỳ bị sát nhập vào Chân Lạp Với sự kiện năm 1471, sau những hoạt động quấy rối của vua Chăm ở vùng biên giới phía nam, vua Lê Thánh Tông tiến đánh Champa, các tướng Champa bỏ chạy tới Phiên Lung (Phan Rang ngày nay), quy phục Đại Việt và được vua Đại Việt phong cho làm vương và chịu tiến cống
0 20,000
Ninh Sơn Bác Ái Ninh Hải Phước Ninh Thuận Bắc Thuận Nam
Tổng dân số Người Chăm
Địa phương Người
Trang 39Từ đó, tức từ sau 1471, Panduranga được coi như là một tiểu vương quốc tự trị thuộc quốc gia Đại Việt Bởi thế, người ta thường coi năm 1471, lịch sử Champa trên thực tế đã kết thúc
Vùng Panduranga là nơi duy nhất còn hiện hữu cái gọi là văn hóa Chăm Bàlamôn hay như có người đã gọi là Chăm Ấn Độ hóa, dù trong họ có bộ phận đã tiếp nhận Hồi giáo Bàni Đây cũng là nơi duy nhất của người Chăm còn lưu giữ những hiện vật cuối cùng của đời sống cung đình Champa Đây cũng là nơi mà những đền tháp Chăm, một trong những nét tiêu biểu nhất của văn hóa Chăm còn sống động trong khung cảnh nghi lễ của cộng đồng Tấc cả điều đó khiến người Chăm ở đây luôn tự hào coi mình là Chăm gốc (Căm jat) Đúng như nhà nghiên cứu trẻ người Chăm Sakaya đã nói, ở người Chăm Ninh Thuận
hiện nay không có cái gọi là Bàlamôn giáo và Hồi giáo Hiện tại người Chăm cũng không tự
nhận mình là Chăm Bàlamôn hay Chăm Hồi Giáo, vì nó không giống gì với Bàlamôn giáo
và Hồi giáo trên thế giới cả, mà chỉ có Chăm Ahiêr, tức Chăm chịu ảnh hưởng Bàlamôn và Chăm Awal, tức người Chăm chịu ảnh hưởng Hồi giáo mà thôi [16,tr.35]
Chính yếu tố tự nhiên, con người và lịch sử nêu trên đã và đang góp phần khắc họa nên những đường nét chính của văn hóa Chăm ở Ninh Thuận
2.2.3 3 Các di tích đền tháp
Người Chăm là dân tộc mang nhiều ý niệm tâm linh Họ quan niệm tấc cả các sự vật
kể cả hữu thể và vô thể đều do thần sinh ra Các của cải vật chất, con người, ngay cả tên đất, tên vùng của họ đều mang tên thần thánh và ngay cả biên giới, họ đều quan niệm là biên
giới tâm linh – biên giới của thần Những nơi ngự trị cao nhất của thần không phải là đất,
rừng mà là đền tháp Vì vậy, mọi nơi sinh sống, người Chăm đều xây dựng đền tháp để thần linh trú ngụ mà che chở cho muôn loài Đền tháp còn là cột mốc biên giới tâm linh của Champa Trên dải đất miền Trung, nơi người Chăm sinh sống, họ đều xây dựng đền tháp như: Vùng Inrapura (Huế ngày nay) có tháp Phong Điền ; vùng Amavati (Đà Nẵng –
Quảng Nam) có Thánh địa Mỹ Sơn ; vùng Vijaya (Bình Định) có tháp Đồng Dương; Chiêng Đàn ; vùng Khauthara (Nha Trang) có tháp Bà Po Nagar, ;vùng Paduranga (Ninh – Bình Thuận) có tháp Po klaong Garai, Po Rome, Po Sah Inâ
Trên toàn Ninh Thuận hiện nay còn bảo tồn 3 ngôi Tháp Chăm trong tổng số 20 nhóm đền tháp tương đối đứng vững ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên Đó là các tháp Hòa Lai, xây cất từ thế kỷ IX, nay thuộc địa phận thôn Ba Tháp, xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, cách Phan Rang 14 km về phía bắc; Tháp Pô Klaung Garai, xây dựng vào cuối thế kỷ XIII- đầu
Trang 40XIV, tọa lạc trên Núi Trầu, cách Phan Rang 7 km; Tháp Pôrômê, xây cất từ cuối thế kỷ XVI đầu XVII, nay tại xã Hậu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước Trong ba ngôi đền tháp
kể trên, chỉ có tháp Hòa Lai là nơi ngày nay người Chăm không thờ cúng, còn 2 ngôi tháp còn lại vẫn diễn ra nghi thức tôn giáo và lễ hội hàng năm Ngoài các đền tháp kể trên, còn
có đền thờ Po Nưgar - Bà Mẹ Xứ Sở, nay ở Hữu Đức (Ninh Phước, Ninh Thuận)
Ngoài những đền tháp Champa chịu ảnh hưởng Bàlamôn giáo kể trên, trong các làng người Chăm Bàni ở Ninh Thuận còn có nhiều thánh đường Hồi giáo Bàni Hầu như các thôn người Chăm theo đạo Bàni đều xây cất thánh đường Trong tỉnh Ninh Thuận có 7 thôn người Chăm Bàni thì có 7 thánh đường Kiến trúc thánh đường không giống kiến trúc đền tháp, mà thường bình dị giống ngôi nhà ở của người Chăm, một số thánh đường xây cất vào
những năm 60, 70 trở lại đây thì có nét giống ngôi đình của người Việt ở Trung Bộ và Nam
Trong nền kinh tế truyền thống của mình, người Chăm có một nền nông nghiệp phát triển khá sớm Từ lâu họ đã biết đắp đập khai mương để trồng lúa nước mà đến nay vẫn còn các dấu vết các công trình thủy lợi như đập Nha Trinh và đập Marên Họ có kĩ thuật canh tác lúa nước khá cao Tùy theo loại ruộng như ruộng gò, ruộng cát, ruộng sâu mà họ có kĩ thuật canh tác và sử dụng các loại giống lúa khác nhau Người Chăm đã biết sử dụng nhiều
giống lúa ngắn ngày, cho năng suất cao như loại giống lúa chiêm, lúa mùa…
Đạp nước Nha Trinh (Chakling), dài 385m, cao 5m, rộng 3m chảy qua các thôn: Tháp Chàm, An Nhơn, Phước Nhơn, Gò Đền…Theo thống kê, hệ thống mương đấp Nha Trinh cung c ấp nước cho một vùng canh tác rộng 12.800ha thuộc hai huyện Ninh Sơn
và Ninh H ải