Ngoài ra còn một số tác phẩm khác như: “Văn hóa Chăm – Nghiên cứu và phê phán” c ủa Sakaya 2010, “Luật tục người Chăm và Raglai” của giáo sư Phan Đặng Nhật chủ biên 2003, “Lễ hội người C
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Là một nhà sư phạm, một người đang làm công tác nghiên cứu khoa học, tôi xin cam đoan rằng đây là một công trình nghiên cứu của cá nhân Công trình này tác
giả đã tìm hiểu và thực hiện trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu lý thuyết, kiến thức kinh điển và nghiên cứu qua quá trình khảo sát thực địa dưới sự hướng dẫn của Tiến
sĩ Trịnh Duy Oánh
Các bảng số liệu thống kê và các kết quả nghiên cứu khác đảm bảo tính trung
thực xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm, chưa được công bố dưới bất kì hình thức nào trước khi trình và bảo vệ
Tác giả
Nguyễn Ngọc Thoáng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tri thức như chiếc thang vô tận, sự khám phá tri thức là suốt đời và dĩ nhiên để khám phá ra một điều gì đó ít nhiều cũng cần phải có tài liệu nghiên cứu, phải có sự giúp đỡ của mọi người xung quanh, của Ban ngành đoàn thể và nhất là phải có người hướng dẫn và dạy dỗ tận tình
Tác giả xin được gởi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến giảng viên hướng dẫn khoa
học TS Trịnh Duy Oánh, Trường Đại học Sài Gòn – Người đã không ngại vất vả để giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện công trình nghiên cứu của bản thân
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng sau đại học, Khoa Địa lí trường Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh cùng toàn thể quý thầy cô trong Khoa Địa lí đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Tác giả cũng xin gởi lời cảm ơn đến Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Sở Văn hóa
Thể thao và Du lịch, Cục thống kê, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang,…
đã cung cấp cho tôi những tài liệu, tư liệu vô cùng hữu ích nhằm giúp tôi hoàn thành
đề tài nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
M ỤC LỤC 3
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
M Ở ĐẦU 6
1 Lí do ch ọn đề tài 6
2 M ục tiêu nghiên cứu 7
3 Nhi ệm vụ nghiên cứu 7
4 Gi ới hạn nghiên cứu 8
5 L ịch sử nghiên cứu 8
6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 10
7 C ấu trúc luận văn 12
C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĂN HÓA VÀ DU LỊCH VĂN HÓA 14
1.1 Khái quát v ề văn hóa 14
1.1.1 Khái ni ệm về văn hóa 14
1.1.2 Các đặc trưng và bản chất của văn hóa 17
1.1.3 Ch ức năng cơ bản của văn hóa 18
1.1.4 Phân bi ệt văn hóa và văn minh 21
1.1.5 Các lo ại hình văn hóa 22
1.2 Khái ni ệm du lịch và du lịch văn hóa 23
1.2.1 Khái ni ệm du lịch 23
1.2.2 Khái ni ệm du lịch văn hóa 27
1.2.3 Vai trò c ủa du lịch văn hóa 29
1.2.4 Các nguyên t ắc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa 31
1.3 L ịch sử hình thành và phát triển du lịch văn hóa ở một số nước trên thế giới và Vi ệt Nam 33
1.3.1 L ịch sử hình thành và phát triển du lịch văn hóa ở một số nước trên thế giới 33
1.3.2 L ịch sử hình thành và phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam 35
CHƯƠNG 2: KHAI THÁC VĂN HÓA CHĂM PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU L ỊCH TỈNH AN GIANG 38
2.1 Gi ới thiệu chung 38
2.1.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu 38
Trang 62.1.2 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển dân tộc Chăm 55
2.1.3 Nh ững nét đặc sắc trong văn hóa Chăm 57
2.2 Khai thác văn hóa Chăm phục vụ phát triển du lịch tỉnh An Giang 76
2.2.1 Các y ếu tố được khai thác 76
2.2.2 Hi ện trạng hoạt động du lịch gắn với văn hóa người Chăm tỉnh An Giang 84
2.2.3 Đánh giá hoạt động du lịch gắn với văn hóa người Chăm tỉnh An Giang 94
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN V ỚI VĂN HÓA CHĂM TỈNH AN GIANG 98
3.1 Định hướng phát triển du lịch văn hóa Chăm tỉnh An Giang 98
3.1.1 Cơ sở đưa ra định hướng 98
3.1.2 Định hướng phát triển 101
3.2 Nh ững giải pháp phát triển cơ bản 104
3.2.1 Gi ữ gìn và tôn tạo những giá trị văn hóa của dân tộc Chăm 104
3.2.2 Nâng cao nh ận thức và đời sống cộng đồng địa phương 105
3.2.3 Đào tạo phát triển nguồn nhân lực 106
3.2.4 Thu hút đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng – kĩ thuật phục vụ du lịch 107
3.2.5 Ti ếp thị, quảng bá du lịch 108
3.2.6 Nghiên c ứu, xây dựng chương trình du lịch 109
3.2.7 Phát tri ển du lịch gắn với phát triển cộng đồng 110
3.2.8 Gi ải pháp về bảo vệ môi trường 111
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 112
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 116
PH Ụ LỤC 118
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
An Giang là một trong 13 tỉnh của Đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở phía Tây Nam của Tổ quốc, tiếp giáp với vương quốc Campuchia, An Giang còn là nơi có con sông Mê Kông đổ vào đồng bằng Nam Bộ Do nằm ở vị trí địa lí đặc biệt, thế địa hình đa dạng vừa có đồng bằng với diện tích rộng lớn vừa có thế núi cùng với hệ
thống sông ngòi, kênh rạch khá chằng chịt Không những thế, An Giang còn là nơi định cư của bốn dân tộc: Kinh, Khmer, Hoa, Chăm Bốn dân tộc trên đều định cư khá lâu đời trên mảnh đất An Giang từ đó tạo nên sự gắn kết, yêu thương, đùm bọc và hết lòng giúp đỡ nhau Chính những yếu tố đó đã tạo cho nơi đây nét văn hóa đặc trưng cho riêng mình và đóng góp một vai trò không nhỏ đối với sự phát triển du lịch nói chung và phát triển kinh tế tỉnh An Giang nói riêng
Trong bốn dân tộc: Kinh, Khmer, Hoa, Chăm đang sinh sống ở An Giang thì dân tộc Chăm chiếm tỉ lệ khoảng 12% so với tổng số dân tộc thiểu số và chiếm 0,65% tổng số dân toàn tỉnh (nguồn http://vi.wikipedia.org/wiki/An_Giang) Dù số lượng dân cư chiếm tỉ lệ rất ít nhưng những yếu tố văn hóa của người Chăm rất đa
dạng, có giá trị lớn trong phục vụ phát triển du lịch Hiện nay đồng bào người Chăm sinh sống tập trung tại 9 làng của các huyện: An Phú, Phú Tân, Châu Phú, Châu Thành và thị xã Tân Châu Trong đó, chỉ có làng Chăm Châu Phong (nơi có người Chăm đến định cư đầu tiên trên đất An Giang), thuộc thị xã Tân Châu được sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch An Giang chú trọng triển khai dự án du lịch cộng đồng và thành lập Trung tâm Thông tin Du lịch Châu Phong đặt tại địa phương
Với những yếu tố văn hóa đặc thù riêng về tín ngưỡng, luật lệ, phong tục tập quán,… Các làng Chăm tỉnh An Giang đã trở thành điểm đến để tham quan, nghiên
cứu của nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế
Tuy nhiên, việc khai thác văn hóa trong cộng đồng dân tộc Chăm nhằm phục
vụ phát triển du lịch là một bài toán khó, còn nhiều khó khăn và bất cập Vì thực tế
những nét độc đáo trong văn hóa người Chăm nơi đây chưa được nhiều người biết đến, hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật, nguồn nhân lực phục vụ du lịch còn thiếu và
Trang 9yếu, cơ sở hạ tầng giao thông phát triển chưa đồng bộ,… Do đó, việc nghiên cứu đề
xuất định hướng và giải pháp nhằm phát triển du lịch gắn với văn hóa người Chăm
tỉnh An Giang trên cơ sở tìm hiểu về các yếu tố văn hóa và đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch là vấn đề hết sức cần thiết Qua đó, những nét văn hóa độc đáo của người Chăm tỉnh An Giang cũng được giữ gìn và phát huy tối đa, tạo ra những điểm
nhấn mới, nổi bật ở hiện tại và trong tương lai, góp phần tô thêm vẻ đẹp về sự đa
dạng của bức tranh văn hóa trong cộng đồng các dân tộc anh em ở tỉnh An Giang nói riêng và cả nước nói chung
Xuất phát từ những vấn đề trên, đó là lý do để tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu văn hóa Chăm phục vụ phát triển du lịch tỉnh An Giang” làm đề tài nghiên cứu
khoa học
Đây không chỉ là luận văn tốt nghiệp nhằm giúp tác giả hoàn thành nhiệm vụ
học tập mà việc nghiên cứu còn là niềm đam mê, sự khao khát được nghiên cứu, tìm
hiểu về đặc điểm văn hóa đặc thù của các dân tộc anh em dưới con mắt của những người địa lí Chính vì thế, tác giả mong rằng qua công trình nghiên cứu của bản thân mình sẽ đem lại kết quả tốt hơn trong việc giữ gìn và phát huy những bản sắc độc đáo trong văn hóa của cộng đồng dân tộc Chăm ở An Giang nói riêng và cả nước nói chung, đồng thời biến nó thành nguồn tài nguyên, thành sản phẩm vô giá để khai thác
phục vụ trong việc phát triển du lịch
2 Mục tiêu nghiên cứu
Dựa trên các yếu tố văn hóa vốn có của người Chăm, mục tiêu của đề tài là nghiên cứu văn hóa Chăm ở An Giang, từ đó đưa ra những định hướng và đề xuất
những giải pháp nhằm khai thác, bảo tồn những nét văn hóa truyền thống Chăm phục
vụ phát triển du lịch, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân địa phương
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
Làm rõ vấn đề về văn hóa, du lịch văn hóa và các loại hình du lịch văn hóa
Nắm được lịch sử hình thành cộng đồng người Chăm ở An Giang và những nét độc đáo trong văn hóa Chăm
Trang 10Thực trạng khai thác du lịch văn hóa Chăm tỉnh An Giang và đưa ra những
nhận định, đánh giá
Đưa ra những định hướng và giải pháp để thúc đẩy phát triển du lịch gắn với văn hóa người Chăm An Giang trong thời gian sắp tới
4 Giới hạn nghiên cứu
V ề không gian: Địa bàn tỉnh An Giang, nơi có người Chăm sinh sống
V ề thời gian: Tài liệu nghiên cứu về du lịch văn hóa Chăm từ năm 2007 đến
năm 2012 (các số liệu thu thập để phục vụ cho đề tài)
V ề nội dung: Phân tích những nét độc đáo trong văn hóa Chăm nhằm phục vụ
cho phát triển du lịch An Giang Đánh giá và đưa ra những đề xuất nhằm bảo tồn, duy trì và phát huy tốt hơn các giá trị văn hóa của cộng đồng dân tộc Chăm
người Chăm ở Việt Nam như:
Tác giả Nguyễn Văn Huy với tác phẩm: “Tìm hiểu cộng đồng người Chăm tại Việt Nam”, xuất bản năm 2001, nghiên cứu về nguồn gốc lịch sử cộng đồng người
Chăm tại Việt Nam
Tác giả Ngô Văn Doanh với tác phẩm: “Lễ hội chuyển mùa của người Chăm”, xuất bản năm 2006, nghiên cứu về cả một hệ thống lễ hội chuyển mùa rất
đặc trưng của người Chăm tại Việt Nam
Inrasara với tác phẩm: “Văn hóa xã hội Chăm – nghiên cứu và đối thoại”,
xuất bản năm 2008, nghiên cứu về mặt văn hóa xã hội và ngôn ngữ văn chương của người Chăm ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Văn Tỷ với tác phẩm: “Đời sống văn hóa – xã hội người Chăm ở Việt Nam”, xuất bản năm 2010, tác phẩm đã phân tích khái quát về văn hóa
Chăm, vấn đề giáo dục, thực trạng sinh hoạt tôn giáo, nguồn gốc địa danh và những
Trang 11suy tư, trăn trở về một dân tộc có bản sắc văn hóa độc đáo
Ngoài ra còn một số tác phẩm khác như: “Văn hóa Chăm – Nghiên cứu và phê phán” c ủa Sakaya (2010), “Luật tục người Chăm và Raglai” của giáo sư Phan Đặng Nhật chủ biên (2003), “Lễ hội người Chăm” của Nhà xuất bản Văn hóa thông
tin Hà Nội (2003), “Nghề dệt cổ truyền người Chăm” của Nhà xuất bản Dân tộc Hà
Nội (2003),…
Các tác phẩm trên hầu hết chỉ tập trung nghiên cứu về người Chăm ở Việt Nam
hoặc cụ thể hơn là người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận được giới hạn trong
những khía cạnh về lịch sử, đời sống văn hóa, xã hội
Một trong những công trình mang tính chất dân tộc học đầu tiên có đề cập đến người Chăm ở An Giang là “Rapportsur lé chams et les Malais de L’arrondis Sement”
của Alubussiere viết năm 1880 đã nêu những nét hết sức khái quát về nếp sống của người Chăm và người Mã Lai ở Châu Đốc dưới tác động của đạo Islam Sau này trong một chuyên khảo về cộng đồng Hồi giáo ở Đông Dương (thuộc Pháp) M Ner
đã nêu ra một số nét cơ bản về kinh tế, xã hội, giáo dục, tôn giáo của làng Chăm Châu Đốc, tác giả cũng giới thiệu về những ngoại kiều theo Hồi giáo ở Sài Gòn và người Chăm Mã Lai theo Hồi giáo ở Campuchia Có thể nói đó là những công trình nghiên cứu về tôn giáo của người Chăm dựa trên “khảo sát thực địa” cho chúng ta
biết về tình trạng tôn giáo của người Chăm
Trong những năm gần đây, một số tác giả trong nước như Bố Thuận, Nghiêm
Thẩm, Nguyễn Văn Luận,… rất quan tâm đến cộng đồng người Chăm ở Nam Bộ (chủ yếu ở Châu Đốc, Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh), một số bài viết về nét sinh hoạt văn hóa của người Chăm như phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo đã được đăng tải trên tạp chí Bách khoa, Tập san Sử - Địa, Văn hóa Nguyệt san được
xuất bản tại Sài Gòn trước năm 1975, đặc biệt Bách khoa số từ 135 đến số 147 (từ tháng 8 năm 1962 đến tháng 2 năm 1963) Hầu hết các chuyên khảo liên quan đến người Chăm ở Nam Bộ cụ thể ở An Giang do các tác giả ở Việt Nam viết được xuất
bản dưới dạng sách hãy còn hiếm hoi Tuy nhiên cũng có một số tác phẩm trình bày khá chi tiết về cộng đồng người Chăm ở Nam Bộ như “Người Chăm Hồi giáo miền Tây Nam ph ần Việt Nam” của Nguyễn Văn Luận giới thiệu về nếp sinh hoạt, tập
Trang 12tục gia đình và đời sống tôn giáo của cộng đồng Chăm Cùng nghiên cứu nhóm cư
dân địa phương người Chăm ở Nam Bộ phải kể đến tác phẩm “Người Chăm ở đồng
b ằng sông Cửu Long” của Phan Văn Dốp và Nguyễn Việt Cường phần nào giới
thiệu sơ lược nét hoạt động buôn bán trao đổi, nghề dệt thủ công, đánh cá nước ngọt
và cách làm nông nghiệp của người Chăm ở An Giang Bên cạnh đó, chúng ta phải kể
đến một công trình nghiên cứu rất có giá trị của Lâm Tâm “Một số tập tục người Chăm ở An Giang”, do Chi hội Văn nghệ dân gian và Hội văn nghệ Châu Đốc xuất
bản năm 1993 Trong tác phẩm này, nguồn gốc, đặc điểm, tập tục sinh hoạt văn hóa
và tín ngưỡng của người Chăm ở An Giang đã được tác giả khái quát một cách khá toàn diện
Nhìn chung, rất ít các tài liệu nghiên cứu về vai trò của các yếu tố văn hóa người Chăm cũng như giá trị của nó trong việc phát triển du lịch Đặc biệt đối với người Chăm ở An Giang thì các công trình nghiên cứu quá hạn hẹp, có chăng là các
đề tài nói về đời sống xã hội chỉ được viết một cách khái quát dưới dạng giáo trình,
luận văn, bài báo,…Thêm vào đó, các đề tài nghiên cứu này cũng chưa đi sâu vào vấn
đề khai thác văn hóa người Chăm trong phát triển du lịch
6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1 Quan điểm nghiên cứu
6.1.1 Quan điểm tổng hợp - hệ thống
Đây là quan điểm đặc trưng cho việc nghiên cứu khoa học bởi bản thân khoa
học và các đối tượng của khoa học địa lý đã mang tính tổng hợp, hệ thống
Nghiên cứu văn hóa Chăm tỉnh An Giang trên cơ sở tổng hợp, hệ thống về văn hóa của người Chăm Từ những nét nổi bật về văn hóa Chăm để rút ra những nét tiêu
biểu, đặc thù về văn hóa Chăm ở An Giang Đó là những cơ sở, căn cứ cho định hướng phát triển du lịch trên nền tảng văn hóa Chăm tỉnh An Giang
6.1.2 Quan điểm lãnh thổ
Trong quá trình nghiên cứu văn hóa Chăm, dựa trên cơ sở tổng hợp về văn hóa
của người Chăm trên cả nước nói chung và ở An Giang nói riêng Từ đó đi sâu nghiên cứu ở các khu vực mang nét đặc trưng điển hình về văn hóa Chăm ở tỉnh An
ừ đó có thể khai thác những lợi thế tiêu biểu về văn hóa để phục vụ du lịch
Trang 136.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Khi nghiên cứu các đối tượng địa lý nhất thiết phải đặt đối tượng nghiên cứu trong tiến trình lịch sử Tất cả các sự vật, hiện tượng đều trải qua quá trình phát triển,
vận động và biến đổi theo không gian và thời gian Quan điểm này giúp ta thấy được
những nguyên nhân phát sinh, quá trình diễn biến của một nhân tố trong một giai đoạn, một khoảng thời gian và không gian cụ thể Từ đó đánh giá được quá trình phát triển của người Chăm ở An Giang nói riêng và cả nước nói chung, cũng như đánh giá được quá trình phát triển của hệ thống du lịch, du lịch văn hóa
6.1.4 Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững là quan điểm mà trong quá trình nghiên cứu, vận dụng các đặc điểm văn hóa của cộng động dân tộc Chăm vào phục
vụ phát triển du lịch cần gắn liền với việc bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát huy
những truyền thống văn hóa quí giá của người Chăm Đảm bảo sự phát triển hài hòa
giữa yếu tố con người với tự nhiên và môi trường sống xung quanh họ
6 2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Các thông tin, số liệu sau khi thu thập sẽ được so sánh, phân tích, tổng hợp cho phù hợp với nội dung nghiên cứu Qua quá trình tổng hợp tác giả sẻ có cái nhìn bao quát hơn về phạm vi, hoạt động sản xuất của người Chăm và đưa ra những định hướng và giải pháp phát triển
6.2.2 Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp này nhằm tổng hợp đối chiếu tất cả các tài liệu, số liệu đã thu
nhập Những con số thống kê không những chỉ thể hiện mặt lượng mà chúng còn có
mối liên hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng kinh tế - xã hội Thông qua việc phân tích các số liệu thống kê và những mối liên hệ giữa chúng, ta có thể thấy được
bản chất, đặc điểm của các hiện tượng và quy luật phát triển Thông qua phương pháp
thống kê, ta có thể phản ánh những mặt khác nhau, tốc độ phát triển theo thời gian và không gian của hoạt động sản xuất, dịch vụ du lịch
6.2.3 Phương pháp so sánh
Phương pháp này dùng để so sánh các số liệu thống kê qua các năm Mục đích
Trang 14của phương pháp này là đánh giá sự phát triển trong hoạt động kinh tế với hoạt động phát triển du lịch của người Chăm trong những năm qua
6.2.5 Phương pháp bản đồ và phương pháp sử dụng công nghệ GIS
Phương pháp bản đồ, biểu đồ là phương pháp truyền thống của khoa học địa lý
Từ kết quả thu được, thành lập bản đồ, biểu đồ cho ta thấy sự phân bố, hiện trạng, cơ
cấu ngành Do đó bản đồ là nơi thể hiện rõ nhất kết quả tổng hợp của đề tài Cùng
với bản đồ, các biểu đồ được dùng để phản ánh quy mô các hiện tượng kinh tế, văn hóa, xã hội như quy mô các ngành, các lĩnh vực Sử dụng công nghệ GIS để số hóa
và vẽ bản đồ một cách chính xác mang tính khoa học cao và đáp ứng yêu cầu của đề tài
6.2.6 Phương pháp khai thác phần mềm công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin là một trong những phương pháp khá quan trọng và không
thể thiếu trong quá trình nghiên cứu cũng như giúp cho việc trình bày được rõ ràng
sạch đẹp và lôi cuốn hơn Tác giả đã sử dụng phần mềm Microsoft Office để thiết kế
và xử lý thông tin dưới hình thức các văn bản, biểu bảng Ngoài ra, mạng internet và
những thông tin, tài liệu trên mạng được tác giả sử dụng trong việc thu thập, tìm kiếm các thông tin liên quan đến đề tài, giúp đề tài có nội dung phong phú hơn và có những thông tin được cập nhật trong thời gian gần nhất
7 Cấu trúc luận văn
Đề tài: “Nghiên cứu văn hóa Chăm phục vụ phát triển du lịch tỉnh An Giang” Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo Phần Nội dung chính của đề tài được cấu trúc thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về văn hóa và du lịch văn hóa
Trang 15Chương 2: Khai thác văn hóa Chăm phục vụ phát triển du lịch tỉnh An Giang Chương 3: Định hướng và các giải pháp phát triển du lịch văn hóa Chăm tỉnh
An Giang
Trang 16C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĂN HÓA VÀ
DU LỊCH VĂN HÓA 1.1 Khái quát về văn hóa
Văn hóa là sản phẩm của con người sáng tạo ra, có từ thuở bình minh của xã
hội loài người Mỗi định nghĩa phản ánh một khái niệm, một khía cạnh riêng của văn hóa con người
Ở phương Đông, từ “văn hóa” đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm Trong Chu Dịch, đã có từ Văn và từ Hóa: xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hóa thiên
hạ
Ở phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người Anh có từ Culture, người Đức có từ Kultura Những từ này đều có gốc Latinh là chữ:
Cultus animi t ức là trồng trọt tinh thần Vậy chữ Cultus là văn hóa với hai khía cạnh:
trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay
cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên và họ có những phẩm chất tốt đẹp
Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm văn hóa không đơn giản và thay
đổi theo thời gian Thuật ngữ “văn hóa” với nghĩa “canh tác tinh thần” được sử
dụng vào thế kỉ XVII – XVIII bên cạnh nghĩa gốc là quản lí, canh tác nông nghiệp
Vào thế kỉ XIX thuật ngữ “văn hóa” được những nhà nhân loại học phương
Tây sử dụng như một danh từ chính Những học giả này cho rằng văn hóa (văn minh)
thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp nhất đến trình độ cao nhất và văn hóa của
họ chiếm vị trí cao nhất Bởi họ cho rằng bản chất văn hóa hướng về sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh, E B Taylor là đại diện của họ
Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn),…Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả từ những sản phẩm tinh
vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động,…Chính cách hiểu rộng này, văn hóa là đối tượng đích thực của văn hóa học
Hiện nay, trên Thế giới ở các quốc gia có rất nhiều các tổ chức và chuyên gia
Trang 17nghiên cứu về văn hóa đưa ra hệ thống các khái niệm về văn hóa và các vấn đề có liên quan Dưới đây, xin trích dẫn một số định nghĩa, khái niệm, quan niệm đã được công bố trong những tài liệu như sách, giáo trình và công trình nghiên cứu về văn hóa
học
Theo Taylor “văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về dân tộc người học nói chung gồm có trí thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập quán và một số năng lực, thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên
“Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần
và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống,
những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri
thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”
Ở Việt Nam, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình
độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa) Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn,…) Theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm
tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động
Tuy nhiên, từ cách hiểu rộng thì văn hóa có rất nhiều khái niệm khác nhau:
Trang 18“Văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch
sử” [Theo Đại từ điển tiếng Việt của trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam – Bộ giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb Văn hóa – Thông tin, 1998]
Theo PGS TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu
cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình
hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã
hội” [16, tr.19 – 20]
Nhìn chung, mọi định nghĩa đều thống nhất văn hóa có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, văn hóa là sáng tạo của con người, thuộc về con người, những gì không do con người làm nên không thuộc về khái niệm văn hóa Từ đó, văn hóa là đặc trưng căn bản phân biệt con người với động vật, đồng thời cũng là tiêu chí căn
bản phân biệt sản phẩm nhân tạo với sản phẩm tự nhiên Văn hóa xuất hiện do sự thích nghi một cách chủ động và có ý thức của con người với tự nhiên, nên văn hóa cũng là kết quả của sự thích nghi ấy
Thứ hai, sự thích nghi này là sự thích nghi có ý thức và chủ động nên nó không
phải là sự thích nghi máy móc mà thường là sự thích nghi có sáng tạo, phù hợp với giá trị chân – thiện – mỹ
Thứ ba, văn hóa bao gồm cả những sản phẩm vật chất và tinh thần, chứ không
chỉ riêng tinh thần mà thôi
Thứ tư, văn hóa không chỉ có nghĩa là văn học nghệ thuật như thông thường người ta hay nói Văn học nghệ thuật chỉ là bộ phận cao nhất trong lĩnh vực văn hóa
mà thôi
Trên cơ sở phân tích các quan niệm trên có thể kết luận: Văn hóa là sản phẩm
của con người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người
và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo ra con người, duy trì sự bền
vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của
xã hội Nó được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động
của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
Trang 191.1.2 Các đặc trưng và bản chất của văn hóa
Tính hệ thống: Đặc trưng này tạo mối quan hệ giữa các hiện tượng, các sự kiện thuộc một nền văn hóa, phát triển các quy luật hình thành và phát triển của văn hóa
Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động
của xã hội
Tính giá trị: Là thước đo mức độ nhân bản của con người và xã hội Các giá trị văn hóa theo mục đích có thể chia thành giá trị văn hóa vật chất (phục vụ cho nhu cầu
vật chất) và giá trị văn hóa tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần); Theo ý nghĩa có
thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ; Theo thời gian có
thể phân biệt giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời
Tính nhân sinh: Đặc trưng này cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng
xã hội (do con người sáng tạo) với các giá trị tự nhiên (thiên nhiên tạo ra) Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người Sự tác động của con người vào tự nhiên có
thể mang tính vật chất hoặc tinh thần
Tính giai cấp: Giống như tất cả các lĩnh vực của đời sống văn hóa, một lĩnh
vực được xem xét khác nhau dưới các góc độ khác nhau Nhìn chung, tất cả các hiện tượng được nhìn nhận theo quan điểm văn hóa học đều phụ thuộc vào những yếu tố
chủ quan, đặc biệt là quyền lợi kinh tế, quan điểm và định kiến chính trị, bản chất tâm
lý Đó là những lí do khiến người ta hay nhấn mạnh đến cái gọi là tính giai cấp của văn hóa Văn hóa với tư cách là một hiện tượng khách quan và những cách lí giải văn hóa, bao giờ cũng mang tính chủ quan
Tính lịch sử: Các hiện tượng văn hóa không chỉ được đánh giá tùy theo các yếu
tố chủ quan mà còn tùy thuộc vào các điều kiện và hoàn cảnh khách quan Ở mỗi thời điểm lịch sử, giá trị của một hiện tượng văn hóa cũng như ảnh hưởng của nó phụ thuộc vào những điều kiện khách quan và tương quan các điều kiện khách quan ấy
Nếu lần theo dòng lịch sử, chúng ta sẽ thấy rằng những giá trị đó cũng luôn luôn biến đổi Bao giờ cũng có những giá trị mới đang và sẽ sinh ra để thay thế những giá trị đã
và đang lỗi thời Chính vì thế, chúng ta có thể nói rằng văn hóa có tính lịch sử
Văn hóa là sản phẩm của một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ với văn minh như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn Tính
Trang 20lịch sử tạo cho văn hóa có bề dày, một chiều sâu, nó buộc văn hóa thường xuyên điều
chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian được đúc kết thành những khuôn mẫu của xã hội và cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục
tập quán, nghi lễ,…
Trong giới nghiên cứu, trình bày chức năng văn hóa không phải đã thống nhất hoàn toàn Một số tác giả nhìn nhận chức năng của văn hóa như sau:
Theo PGS.TS Tạ Văn Thành thì văn hóa có những chức năng về giáo dục,
chức năng nhận thức, chức năng định hướng đánh giá, xác định chuẩn mực điều
chỉnh cách ứng xử của con người, chức năng giao tiếp, chức năng đảm bảo tính kế tục
lịch sử
Theo PGS.TS Trần Ngọc Thêm thì văn hóa có 4 chức năng cơ bản là: Chức năng tổ chức xã hội, chức năng điều chỉnh xã hội, chức năng giáo dục, chức năng phát sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử
Theo giáo trình “Văn hóa xã hội chủ nghĩa” của Học viện chính trị Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh (Nxb Chính trị Quốc gia, in lần 2, Hà Nội, 1995), trình bày
chức năng của văn hóa gồm: Chức năng giáo dục, chức năng nhận thức, chức năng
thẩm mỹ, chức năng dự báo, chức năng giải trí
Sở dĩ có sự khác nhau trong cách trình bày các chức năng của văn hóa là do
gốc tiếp cận của từng tác giả khác nhau hoặc đó là cách nói khác nhau về cùng một
chức năng của văn hóa Dưới đây ta có thể xem xét một số chức năng cơ bản của văn hóa
1.1.3.1.Chức năng giáo dục
Là chức năng bao trùm nhất của văn hóa Chức năng tập trung của văn hóa là
bồi dưỡng con người, hướng lí tưởng, đạo đức và hành vi của con người vào “điều hay lẽ phải, điều khôn, lẽ thiện”, theo những khuôn mẫu, chuẩn mực mà xã hội quy định
Văn hóa bao giờ cũng hình thành trong một quá trình và được tích lũy qua
Trang 21nhiều thế hệ, mang tính lịch sử và tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu Nó được duy trì bằng truyền thống văn hóa, tức là cơ chế tích lũy và truyền đạt kinh nghiệm trong cộng đồng qua không gian và thời gian Nó là những giá trị tương đối
ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người và được cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận,… Văn hóa thực hiện chức năng giáo
dục (giáo dục truyền thống) không những bằng những giá trị ổn định mà còn những giá trị đang hình thành Các giá trị đã ổn định và những giá trị đang hình thành tạo nên một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ nó, văn hóa đóng vai trò
nhất định trong việc hình thành nên tính cách của con người, trồng người, dưỡng dục nhân cách Một đứa trẻ được sống với cha mẹ sẽ được giáo dục theo truyền thống văn hóa trong gia đình mình được sinh ra, còn nếu bị rơi vào rừng, đứa trẻ ấy sẽ mang hành vi, tính nết của loài thú Không phải ngẫu nhiên mà trong các ngôn ngữ phương Tây khác nhau, thuật ngữ “văn hóa” (culture, cultura) đều có chứa một nghĩa chung
là chăm sóc, giáo dục, vun trồng…
Chức năng giáo dục của văn hóa đảm bảo tính kế tục của lịch sử Nếu gen sinh
học di truyền lại cho các thế hệ sau hình thể con người thì văn hóa được coi là một
thứ gen xã hội, di truyền phẩm chất con người lại cho các thế hệ mai sau
Do là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người, văn hóa có tính nhân sinh đậm nét và trở thành một công cụ giao tiếp quan trọng thông qua ngôn ngữ Nếu như ngôn ngữ là hình thức giao tiếp thì văn hóa là nội dung
của nó (như giao tiếp giữa cá nhân trong một dân tộc, giao tiếp giữa những người thuộc các dân tộc khác nhau và sự giao tiếp giữa các nền văn hóa khác nhau)
Bằng chức năng giáo dục, văn hóa tạo cho lịch sử nhân loại và lịch sử mỗi dân
tộc một sự phát triển liên tục; Văn hóa có chức năng điều chỉnh xã hội, định hướng các chuẩn mực, các cách ứng xử của con người Gần đây, UNESCO cũng như Đảng, Nhà nước ta cho rằng văn hóa là động lực của phát triển, chính là đề cập đến chức năng giáo dục
1.1.3.2 Ch ức năng nhận thức
Chức năng giáo dục của văn hóa phải được thực hiện thông qua chức năng của
Trang 22nhận thức Chức năng này tồn tại trong mọi hoạt động của văn hóa Nói cách khác,
chức năng nhận thức là chức năng đầu tiên của mọi hoạt động văn hóa, thiếu nó không thể nói tới chức năng nào khác Nhưng quá trình nhận thức này của con người trong các hoạt động văn hóa lại được thông qua đặc trưng, đặc thù của văn hóa Nâng cao trình độ nhận thức của con người chính là phát huy những tiềm năng ở con người
1.1.3.3 Ch ức năng thẩm mĩ
Đây là một chức năng rất quan trọng của văn hóa, nhưng cũng là chức năng hay bị bỏ quên, bị coi nhẹ, khi xem xét, điều hành, quản lí văn hóa Cùng với nhu cầu
hiểu biết, con người còn có nhu cầu hưởng thụ, hướng tới cái đẹp Con người nhào
nặn hiện thực theo quy luật của cái đẹp như Các-Mác từng khẳng định, cho nên văn hóa nghệ thuật phải có chức năng này Xét cho cùng, văn hóa là sự sáng tạo của con người theo quy luật của cái đẹp, trong đó văn hóa nghệ thuật là biểu hiện tập trung
nhất sự sáng tạo ấy Với tư cách là khách thể của văn hóa, con người tiếp nhận chức năng này của văn hóa và sự thanh lọc mình theo hướng vươn tới cái đẹp và khắc phục cái xấu trong mỗi người
1.1.3.4 Ch ức năng giải trí
Là chức năng không thể không nói tới của văn hóa Chức năng này cũng không tách rời chức năng giáo dục và đi ra ngoài mục tiêu hoàn thiện con người Bởi lẽ trong cuộc sống, con người ngoài hoạt động lao động, còn có nhu cầu giải tỏa tinh
thần, tâm lí, sự mệt mỏi cơ bắp… Họ tìm đến các hoạt động văn hóa, câu lạc bộ, bảo tàng, lễ hội… Nói khác đi là tìm sự giải trí Trong một chừng mực nhất định, sự giải trí ấy là bổ ích, cần thiết, góp phần giúp cho con người lao động sáng tạo có hiệu quả hơn và giúp con người phát triển toàn diện Chẳng hạn, sau một vòng quay mùa vụ
của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, đi hội, mở hội làng là nhu cầu của nông dân, không chỉ đơn thuần là sự giải tỏa tâm linh mà còn là sự giải trí
Với các chức năng trên, chứng tỏ văn hóa có một đời sống riêng, quy luật hoạt động riêng nhưng lại không nằm ngoài kinh tế và chính trị
Nhận biết các chức năng của văn hóa, chính là khẳng định rõ ràng hơn mục tiêu cao cả của văn hóa là vì con người, vì sự hoàn thiện và phát triển của con người
1.1.3.5 Ch ức năng dự báo
Trang 23Bản chất của hoạt động văn hoá là hoạt động trí tuệ, hoạt động sáng tạo; vì vậy trong quá trình hoạt động văn hoá, con người dần dần phát hiện ra những qui luật của
tự nhiên, qui luật của xã hội, qui luật của con người Những khám phá đó mở rộng
tầm hiểu biết, khả năng phán đoán, suy luận và trí tưởng tượng của con người Nhờ các khả năng trên, con người có thể dự báo về thiên nhiên, xã hội, con người một cách khoa học và xây dựng được các phương án thích ứng cho sự tồn tại của chính mình
Văn hoá là hoạt động sáng tạo theo qui luật của cái đẹp, nó tạo nên một thiên nhiên thứ hai, một môi trường thứ hai nuôi dưỡng con người Với ý nghĩa đó, văn hoá đồng thời thực hiện nhiều chức năng như là những tác nhân góp phần quan trọng vào
việc hình thành, phát triển và hoàn thiện con người văn hoá Con người văn hoá thường xuyên được các chức năng văn hoá chi phối, điều chỉnh một cách vừa tự giác
vừa không tự giác Nói cách khác, khi nào con người thoát li khỏi các hoạt động văn hoá tức là khi ấy con người đã tha hoá Tìm hiểu các chức năng của văn hoá sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn bản chất của văn hoá và vị trí, vai trò của văn hoá trong đời
sống xã hội; đặc biệt là tầm văn hoá trong các sáng tác nghệ thuật như: văn chương,
âm nhạc, hội họa, điêu khắc…
Từ lâu, không ít người vẫn sử dụng văn minh (civilization) như một từ đồng nghĩa với văn hóa Song thật ra, đây là khái niệm rất khác nhau
Theo học giả Đỗ Trọng Huề phân tích văn hóa theo bốn nghĩa, hai nghĩa hẹp
và hai nghĩa rộng Nghĩa hẹp thứ nhất, văn hóa chỉ kiến thức hay học vấn Khi khen
một người nào đó có văn hóa cao là khen người đó có kiến thức hay học vấn cao Khi chê một người thiếu văn hóa có nghĩa là người đó ít học hay kiến thức kém
Theo nghĩa hẹp thứ hai, văn hóa dùng để chỉ văn chương và nghệ thuật, trong
đó có đủ các bộ môn ca, nhạc, vũ, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, kịch trường, điện ảnh Nghĩa này khi nói tới một công trình văn hóa, tác phẩm văn hóa, trung tâm văn hóa, nhà văn hóa, đêm văn hóa, trình diễn văn hóa, triễn lãm văn hóa
Nghĩa thứ ba là nghĩa rộng, văn hóa chỉ phần sinh hoạt của loài người trong lĩnh vực tinh thần Đó là những học thuyết, những triết lý đưa dẫn suy tư của con
Trang 24người lên một bình diện cao hơn đời sống vật chất hàng ngày Những Khổng Tử, lão
Tử, Socrates, Platon… là những người đã nâng cao trình độ văn hóa của nhân loại
Thêm vào đó là những niềm tin tôn giáo, những tin tưởng về những gì xảy ra trong
thế giới vô hình, có khả năng chi phối ngay trong và sau cuộc đời hiện tại Văn hóa thăng hoa của tinh thần khác biệt với những tiến bộ về vật chất được gọi là văn minh
Văn minh là những tiến bộ về kỹ thuật nhằm cải thiện đời sống vật chất của con người Văn hóa bao gồm đạo đức, luân lý, tôn giáo nâng con người lên trong lĩnh
vực tinh thần Văn minh là một phần của văn hóa, đặc biệt văn minh là tình trạng tiến
bộ của con người trong phạm vi kỹ thuật và những cải tiến đời sống vật chất
Ngoài ra, trong từ điển, từ “văn minh” có thể được định nghĩa theo nhiều cách, song chúng thường có một nét nghĩa chung là “trình độ phát triển”, trong khi văn hóa luôn có bề dày của quá khứ (tính lịch sử) Văn minh cho biết trình độ phát triển của văn hóa ở từng giai đoạn khác nhau Nói đến văn minh, người ta còn nghĩ đến các
tiện nghi, hiện đại Như vậy, văn hóa và văn minh còn khác nhau ở tính giá trị Trong khi văn hóa chứa cả giá trị vật chất lẫn tinh thần, còn văn minh chủ yếu thiên về các giá trị vật chất mà thôi
Sự khác biệt của văn hóa và văn minh về giá trị tinh thần và tính lịch sử dẫn đến sự khác biệt về phạm vi Văn hóa mang tính dân tộc còn văn minh mang tính
quốc tế, nó đặc trưng cho một khu vực rộng lớn hoặc cả nhân loại
1.1.5 Các lo ại hình văn hóa
Theo PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm, văn hóa thường được chia thành văn hóa
vật chất và văn hóa tinh thần Bên cạnh đó, văn hóa có thể chia thành ba nhóm: Văn hóa vật chất – văn hóa xã hội – văn hóa tinh thần; Văn hóa vật chất – văn hóa tinh
thần – văn hóa nghệ thuật; Sinh hoạt kinh tế – sinh hoạt xã hội – sinh hoạt trí thức
Một số tác giả còn có sự phân chia như: Văn hóa sản xuất, văn hóa xã hội, văn hóa tư tưởng, văn hóa nghệ thuật;…[16, tr 16]
Văn hóa vật chất: Là sản phẩm của con người tạo ra trong quá trình hoạt động
sản xuất vật chất như các công trình kiến trúc, trang phục, văn hóa ẩm thực… Văn hóa vật chất là một tiêu chí đánh giá sự tiến bộ xã hội
Văn hóa tinh thần: Xét về mặt tư tưởng và tư duy của con người ở các thời kì
Trang 25Văn hóa tinh thần là cách gọi tổng quát chỉ những sản phẩm tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển và hoạt động sản xuất như âm nhạc, nghệ thuật, tín ngưỡng, lễ hội,…
1.2 Khái niệm du lịch và du lịch văn hóa
Năm 1881, định nghĩa về du lịch lần đầu tiên xuất hiện ở Anh: “Du lịch là sự
phối hợp nhịp nhàng giữa lí thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí” Khái niệm này tương đối đơn giản và coi giải trí là động cơ chính của
hoạt động du lịch
Năm 1925, hiệp hội Quốc tế các tổ chức du lịch IUOTO (Internation of Union Official Travel Organization) được thành lập ở Hà Lan, đánh dấu bước ngoặc trong
việc thay đổi, phát triển các khái niệm du lịch
Năm 1930, Glusman người Thụy Sĩ định nghĩa: “Du lịch chinh phục không gian của những người đến địa điểm, mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường xuyên”
Hai học giả Hunziker và Krapf, những người đặt nền móng cho lí thuyết cung – cầu du lịch, đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tập hợp của các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến
hoạt động kiếm lời” So với các quan niệm trên, quan niệm của Hunziker và Krapf đã
thể hiện tương đối đầy đủ và bao quát các hiện tượng du lịch Tuy nhiên quan niệm này chưa làm rõ được đặc trưng của các hiện tượng và các mối quan hệ du lịch (kinh
tế, chính trị, xã hội…)
Tháng 6/1991, tại Otawa (Canada), Hội nghị Quốc tế và thống kê du lịch cũng đưa ra định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít
Trang 26hơn một khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm”
Năm 1993, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đưa ra khái niệm: “Du lịch
là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí hoặc các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn một năm”
Trong Luật Du lịch Việt Nam (ban hành năm 1995) định nghĩa: “Du lịch là các
hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên
của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Như vậy, có thể thấy rõ sự khác nhau về quan niệm du lịch Tuy nhiên theo thời gian, các quan niệm này dần hoàn thiện Trong điều kiện nước ta hiện nay, quan niệm được trình bày trong Luật Du lịch Việt Nam được sử dụng phổ biến nhất
1.2.1.1 Khách du l ịch
Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về khách du lịch Theo một số nhà nghiên cứu, định nghĩa đầu tiên về khách du lịch xuất hiện vào cuối thế kỉ XVIII tại Pháp như sau: “Khách du lịch là những người thực hiện một cuộc hành trình lớn”
Đến thế kỉ XX, Josef Stander – nhà kinh tế học người Áo đưa ra định nghĩa:
“Khách du lịch là những khách đi lại, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên
để thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục đích kinh tế”
Hội nghị Quốc tế về du lịch tại Hà Lan năm 1999 đã đưa ra quan niệm:
Khách du lịch quốc tế (International tourist) là những người trên đường đi thăm một hoặc một số nước khác với nước mà họ cư trú thường xuyên với mục đích
của chuyến đi là tham quan, thăm viếng, nghỉ ngơi với thời gian tối đa 3 tháng nếu trên 3 tháng phải được phép gia hạn Khách du lịch không được làm bất cứ việc gì để được trả thù lao tại nước đến do ý muốn của khách hay do yêu cầu của nước sở tại, sau khi kết thúc đợt tham quan hay lưu trú phải rời khỏi nước đến tham quan để trở
về nước thường trú của mình hoặc đi đến một nước khác
Trang 27Khách du lịch trong nước (Internal tourist): gồm những người là công dân của
một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ quốc gia đó đi du
lịch trong nước
Ở nước ta, theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), tại điều 4, Chương I thì “Khách
du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc
hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại
Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại
Việt Nam ra nước ngoài du lịch
1.2.1.2 S ản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách dựa trên cơ
sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoản thời gian thú vị, một trải nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng
Theo Luật Du lịch Việt Nam: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của du khách trong chuyến đi du lịch”
Như vậy, hiểu một cách chung nhất, sản phẩm du lịch là sự kết hợp nhiều dịch
vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch đáp ứng nhu
cầu của du khách
1.2.1.3 Tài nguyên du l ịch
Theo Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ
bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”
Theo Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) cùng nhóm tác giả đã đưa ra định nghĩa tài nguyên du lịch: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử cùng các thành phần của chúng có sức hấp dẫn với du khách; Đã đang và sẽ được khai thác, cũng như bảo vệ nhằm đáp ứng nhu cầu của du lịch một cách hiệu quả và bền vững”
Trang 28[20, tr 31]
Tài nguyên du lịch rất đa dạng và phong phú vì vậy có rất nhiều cách phân loại khác nhau
Năm 1997, tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã phân chia tài nguyên du
lịch thành 3 loại, với 9 nhóm gồm: Loại cung cấp tiềm tàng (3 nhóm: văn hóa kinh điển, tự nhiên kinh điển, vận động); Loại cung cấp hiện tại (3 nhóm: Giao thông, thiết
bị, hình tượng tổng thể) và loại tài nguyên kĩ thuật (3 nhóm: Khả năng hoạt động, cách thức và tiềm lực khu vực)
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), tài nguyên du lịch được chia thành 2 nhóm cơ bản sau:
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm: Địa hình (các loại địa hình đặc biệt), khí hậu,
thủy văn (trên đất liền và biển), sinh vật
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm: di tích các loại, lễ hội, làng nghề, văn hóa – văn nghệ dân gian, ẩm thực…
Ở nước ta hiện nay, cách phân chia này được xem là phù hợp nhất Vì vậy tác
giả cũng đã vận dụng cách phân chia này để áp dụng trong đề tài
Trang 29du lịch gia đình
Ngoài ra, còn nhiều cách phân loại khác như phân loại theo lứa tuổi – đối tượng khách; theo phương thức hợp đồng (du lịch trọn gói, du lịch từng phần)
Du lịch văn hóa là loại hình du lịch phổ biến, gắn liền với con người và các giá
trị truyền thống do con người sáng tạo ra Du lịch văn hóa bao hàm việc hòa nhập vào đời sống cộng đồng dân cư, tìm hiểu và hòa mình vào những phong tục tập quán,
những truyền thống của các dân tộc, các địa phương
Trên thế giới và ở Việt Nam, có nhiều khái niệm về du lịch văn hóa khác nhau
Có thể đưa ra một số khái niệm như sau:
Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 tại Khoản 1, Điều 4, Chương I: “Du
lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của
cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” Du lịch văn hóa là loại hình du lịch nhằm nâng cao hiểu biết cho du khách về lịch sử, kiến trúc, kinh tế - xã hội, lối sống, phong tục, tập quán ở nơi họ đến thăm Địa điểm đến thăm
của du khách có thể là các di tích văn hóa - lịch sử, bảo tàng, lễ hội địa phương, liên hoan nghệ thuật, thể thao
Theo Trần Văn Thông: “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà du khách muốn được cảm nhận bề dày văn hóa của một nước, một vùng thông qua các di tích lịch sử,
văn hóa, những phong tục tập quán còn hiện diện” [18, tr.20]
Tóm lại: Du lịch văn hóa là một loại hình du lịch sử dụng những giá trị văn hóa
của địa phương, thông qua các vật dẫn hoặc phương thức biểu đạt, cung cấp cho du khách cơ hội để chiêm ngưỡng, trải nghiệm và cảm thụ văn hóa của các địa phương
Vật hấp dẫn bao gồm các công trình kiến trúc mỹ thuật, các di tích lịch sử, hoạt động tôn giáo, nghi thức xã hội đặc thù, đồ ăn, thức uống, biểu diễn âm nhạc, kịch, vũ điệu địa phương, nghệ thuật sản xuất thủ công truyền thống và làng nghề, lễ hội, phong
Trang 30Sản phẩm du lịch văn hóa: Là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách trên cơ sở khai thác tiềm năng du lịch văn hóa như các lễ hội truyền thống của các dân tộc, các sản phẩm thủ công mĩ nghệ tại các làng nghề truyền thống, các hoạt động văn nghệ, thể thao truyền thống nhằm mục đích đem đến sự hấp dẫn của du khách trong chuyến du lịch
Các loại hình du lịch văn hóa hiện nay:
Du lịch lễ hội truyền thống: Là loại hình gắn liền với các lễ hội dân tộc, đưa du khách đến với nét văn hóa đặc sắc Với sự phong phú của hệ thống lễ hội tại Việt Nam, sự trải dài về không gian và thời gian, sức hấp dẫn đối với du khách, lễ hội dân gian truyền thống của Việt Nam là một “tài nguyên” vô giá đối với sự phát triển của
du lịch Các tín ngưỡng dân gian và lễ hội được đưa vào khai thác, phục vụ phát triển
du lịch này gồm: Tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng sùng bái con người, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, lễ hội đền Hùng, lễ hội Chùa Keo, lễ
hội Ooc Om Bok,…
Du lịch tham quan các di tích lịch sử – văn hóa: Là loại hình du lịch gắn với các di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu Một số di tích tiêu biểu được đưa vào khai thác
như: Linh Mụ – chùa tháp cổ, thành Cổ Loa, Phát Diệm – ngôi nhà bằng đá,…
Du lịch tham quan các bản sắc văn hóa, các làng nghề truyền thống của các dân
tộc: Là loại hình du lịch văn hóa tổng hợp đưa du khách tham quan, tìm hiểu các giá
trị văn hóa và mua sắm những hàng hóa đặc trưng của các làng nghề truyền thống
Một số làng nghề tiêu biểu ở nước ta như: làng tranh Đông Hồ, làng gốm Bát Tràng, làng lụa Vạn Phúc, làng đá Non Nước,…
Du lịch tâm linh: Khi đời sống được nâng cao, xã hội càng hiện đại thì con người lại càng có nhu cầu cao hơn về đời sống tinh thần vì thế sự xuất hiện của loại hình du lịch tâm linh là nhu cầu tất yếu Loại hình này đưa du khách đến với các khu thánh tích, các địa điểm tâm linh của tôn giáo để du khách có thể giải mã ít nhiều
những bí ẩn cá nhân Việt Nam là một quốc gia rất giàu có về các thánh tích như: Chùa Trấn Quốc (Hà Nội), chùa Hương (Hà Nội), Yên Tử (Quảng Ninh), Thánh Thất Cao Đài (Tây Ninh),…Tuy nhiên, thực tế ở nước ta loại hình du lịch này chỉ khởi đầu
ở mức tín ngưỡng Du khách đến các địa điểm tham quan chỉ để nhìn ngắm, thăm
Trang 31viếng Các thánh tích ở Việt Nam ngày được chú ý đầu tư, nâng cấp, tu sửa khang trang, bề thế, nhưng lại ít quan tâm đến phương diện chuẩn bị các điều kiện cho du khách theo loại hình du lịch tâm linh như: nơi ở, thiền thất, thánh thất, các trang bị sinh hoạt khóa tu dưỡng, nhu yếu phẩm,…
Ngoài ra, một số khía cạnh khác của văn hóa cũng được đưa vào khai thác phát triển du lịch như: Văn hóa ẩm thực, dân ca và nghệ thuật trình diễn (dân ca, ca trù, ca
Huế, vọng cổ), nghệ thuật trình diễn sân khấu dân gian Việt Nam (nghệ thuật múa rối
nước, chèo, tuồng, cải lương)
1.2.3 Vai trò c ủa du lịch văn hóa
Bên cạnh du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch bảo hiểm, du lịch giáo dục, du lịch văn hóa là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế, đã và đang được các nhà hoạt động du lịch quan tâm
và khai thác mạnh mẽ Họ thường lồng ghép các điểm du lịch văn hóa: Di tích lịch
sử, văn hóa lễ hội,… vào tour du lịch sinh thái nghĩ dưỡng,… Thậm chí còn có những tour du lịch riêng dành cho văn hóa: Tour du lịch về nguồn, hành hương tôn giáo, tham quan các làng nghề truyền thống,… Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào các sản
phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống của dân tộc kể cả những phong tục, tín ngưỡng,… Để tạo sức hút đối với khách du lịch trong nước và từ khắp nơi trên thế
giới Đối với khách du lịch thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa thì loại hình du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ
Du lịch văn hóa lấy đối tượng các giá trị vật thể, phi vật thể như các di tích lịch
sử, di tích văn hóa, các công trình kiến trúc tiêu biểu, những nét độc đáo của cộng đồng địa phương để hoạt động và phát triển Nếu muốn phát triển du lịch một cách
bền vững và có hiệu quả tốt nhất thì cộng đồng người dân, chính quyền địa phương
và quốc gia phải ra sức gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hóa đó Du lịch văn hóa
vừa trực tiếp vừa gián tiếp góp phần bảo vệ và tôn tạo những giá trị văn hóa của quốc gia, nâng cao ý thức và giữ gìn tài nguyên đối với cộng đồng dân cư
Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương – nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa và cũng là nơi tồn tại đói nghèo Khách du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổ chức các chuyến du lịch nước
Trang 32ngoài Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia vào du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng
chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương
Loại hình du lịch này rất phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, rất tốt cho hoạt động xóa đói giảm nghèo quốc gia, vì vậy phải xem là hướng phát triển của ngành du
lịch Việt Nam trong những năm gần đây, lượng khách du lịch ngày càng tăng, đặc
biệt là khách du lịch văn hóa Nhìn chung khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đều
muốn làm quen, tìm hiểu đất nước con người Việt Nam nói chung, văn hóa các dân
tộc Việt Nam nói riêng Trọng tâm của du lịch văn hóa Việt Nam là các di tích văn hóa lịch sử, các danh thắng kết hợp đời sống sinh hoạt của các dân tộc Không ít người muốn khám phá văn hóa các dân tộc Việt Nam, đặc biệt là đời sống tâm linh, các sinh hoạt truyền thống và hiện đại, các phong tục tập quán, văn hóa dân gian, lễ
hội,… Bởi lẽ nền văn hóa Việt Nam là văn hóa của một đại gia đình các dân tộc rất đa
Vì vậy, du lịch văn hóa có những vai trò nhất định đối với sự phát triển chung
của ngành du lịch, của điểm du lịch và đời sống kinh tế, văn hóa xã hội của cư dân
địa phương cụ thể như sau:
Du lịch văn hóa góp phần tạo thu nhập, ngân sách, giải quyết công ăn việc làm, thu nguồn ngoại tệ… Điều đó giúp cho việc nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương, thúc đẩy nền kinh tế địa phương, kinh tế vùng và quốc gia phát triển Nó cũng được coi là chất xúc tác để phát triển các loại hình du lịch khác nhau, các ngành kinh tế có liên quan đến văn hóa nghệ thuật, các làng nghề thủ công truyền thống, sản
xuất hàng lưu niệm… Đặc biệt đối với những vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn nghèo nàn như vùng Trung du Miền núi phía Bắc hay Tây Nguyên thì có thể được coi là động lực duy nhất để xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống
người dân
Trang 33Du lịch văn hóa góp phần bảo tồn di tích, di sản lịch sử văn hóa Du lịch tạo ra các chức năng hỗ trợ việc tồn tại các di tích lịch sử, khảo cổ đang có nguy cơ bị tàn
lụi, đặc biệt là các di tích ở những đất nước nghèo không đủ tiềm lực kinh tế để trùng
tu hay bảo vệ Nó góp phần đắc lực cho việc bảo tồn hoặc khôi phục
Đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua ngân sách) cho sự phát triển các
bảo tàng, nhà hát, các hoạt động văn hóa truyền thống, kể cả văn hóa ẩm thực
Góp phần khôi phục niềm tự tin, tự hào dân tộc, bảo vệ tính đa dạng văn hóa, đặc biệt đối với các dân tộc thiểu số, do người dân địa phương thấy khách du lịch đặc
biệt là khách du lịch nước ngoài thích chiêm ngưỡng và tôn trọng các đặc trưng văn hóa của dân tộc mình
Giao lưu trao đổi văn hóa giữa du khách và người dân địa phương, góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của cả hai phía cũng như hiểu biết và hợp tác trên các lĩnh vực khác
Bảo tồn các giá trị văn hóa bằng việc khích lệ các hoạt động văn hóa dân gian, thúc đẩy sản xuất các mặt hàng truyền thống, chia sẻ lợi ích từ nguồn thu cho việc tôn
tạo, bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa
Thành phần có quyền quyết định và có vai trò to lớn trong phát triển du lịch văn hóa là cộng đồng địa phương tại điểm du lịch Vì vậy, khi phát triển du lịch không chỉ giúp họ tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống mà còn làm cho họ có trách nhiệm hơn với điểm du lịch, cùng với cơ quan quản lí du lịch chăm lo, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, khi có nguồn thu từ điểm du lịch, người dân sẽ thấy tự hào
về nơi họ sống, làng nghề truyền thống của gia đình, làng xã mà hăng hái tham gia
giữ gìn, phát triển nó, đầu tư tiến hành đa dạng hóa sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu
của khách du lịch một cách tốt nhất mà vẫn đảm bảo nét văn hóa độc đáo, bản sắc dân tộc mình
Bản thân lĩnh vực văn hóa là rất rộng lớn và người ta thường gắn khái niệm
“bảo tồn văn hóa” với những đối tượng cụ thể như: Bảo tồn văn hóa truyền thống,
bảo tồn văn hóa vật thể, bảo tồn văn hóa phi vật thể, bảo tồn văn hóa phật giáo, bảo
tồn văn hóa nông thôn… Hiểu theo nghĩa chung nhất thì bảo tồn văn hóa là gìn giữ,
Trang 34lưu lại những giá trị văn hóa
Việc bảo tồn các giá trị văn hóa luôn đi kèm với tiến trình phát triển của xã hội
Để những giá trị văn hóa còn tồn tại theo thời gian thì cần có những chính sách,
những quy định dành cho công tác bảo tồn nhằm phát huy hiệu quả của các giá trị văn hóa
Đối với di sản văn hóa truyền thống, một trong những nguyên tắc cần phải quan tâm đó là tiến hành điều tra, sưu tầm, thu thập, ghi chép lại các dạng thức văn hóa, những kĩ năng, những tri thức do nghệ nhân sử dụng trong trình diễn các loại hình nghệ thuật hay chế tác sản phẩm bằng việc ghi chép, ghi âm, ghi hình Việc sử
dụng máy ghi âm, máy ảnh giúp chúng ta lưu giữ và tái hiện lịch sử một cách đầy đủ hơn, đặc biệt là trong việc lưu giữ các loại hình nghệ thuật biểu diễn như múa, ca
nhạc, sân khấu và chế tác sản phẩm thủ công truyền thống
Sưu tầm và ghi chép là cách thức quan trọng trong việc bảo tồn các giá trị di
sản văn hóa truyền thống
Một loại hình di sản văn hóa phi vật thể được coi là thành công trong việc lưu
giữ khi nó vẫn tồn tại sống động trong môi trường nơi nó sinh ra, tức là đưa di sản văn hóa trở lại với chủ thể văn hóa và tạo điều kiện tốt nhất để cho nó tồn tại Đây là nguyên tắc được UNESCO và nhiều quốc gia trên thế giới đề xuất Cộng đồng là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa, là nơi nuôi dưỡng và làm phong phú nó trong đời sống
Văn hóa phi vật thể tồn tại trí nhớ của một số người mà chúng ta thường gọi là nghệ nhân Bởi vậy, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể cũng có nghĩa là “bảo vệ” người kế thừa di sản văn hóa – những nghệ nhân dân gian
Để “bảo vệ” những báu vật nhân văn sống, ngoài việc thừa nhận những tài năng, Nhà nước và cộng đồng cần tôn vinh và tạo mọi điều kiện tốt nhất về vật chất
và tinh thần để họ có thể phát huy mọi khả năng trong việc bảo tồn các di sản văn hóa truyền thống Và quan trọng hơn là để họ có ý thức trao truyền những giá trị vô giá
kết tinh trong di sản văn hóa truyền thống của dân tộc cho thế hệ tương lai
Thực tế là mọi hoạt động bảo tồn di sản văn hóa truyền thống chỉ mang lại hiệu
quả và thành công khi có sự tham gia tự nguyện của người dân, thu hút và huy động
Trang 35tối đa mọi nguồn lực của chủ thể văn hóa Thời gian gần đây, các ý kiến bàn về vấn
đề bảo tồn di sản văn hóa truyền thống được đề cập khá nhiều trên các diễn đàn học thuật cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng Một số nhà khoa học và
quản lí cho rằng cần bảo vệ tính nguyên gốc của di sản văn hóa, số khác lại cho rằng
cần phải bảo tồn theo hướng phát triển nhiều ý kiến bàn về vai trò của cộng đồng, vai trò của chủ thể trong việc bảo tồn và phát huy di sản Có ý kiến chống lại xu hướng
“sân khấu hóa” di sản, mà yêu cầu bảo tồn di sản trong môi trường nguyên gốc của
nó Có một thực tế là di sản văn hóa phi vật thể rất phong phú và đa dạng, sự tồn tại
và đời sống của từng di sản là rất khác nhau, do vậy những nỗ lực để có một phương
án duy nhất đúng trong công việc bảo tồn di sản chỉ đem lại thất bại Các di sản khác nhau sẽ phù hợp với những phương thức bảo tồn và phát triển khác nhau Mặt khác,
với mỗi di sản cũng có thể có nhiều phương án bảo tồn đồng thời được áp dụng Di
sản thích nghi với càng nhiều hình thức sống, nhiều không gian khác nhau sẽ càng có
sức sống mãnh liệt hơn trong bối cảnh ngày một biến đổi của xã hội đương thời
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển du lịch văn hóa ở một số nước trên thế giới
và Việt Nam
Bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch nghĩ dưỡng, du
lịch mạo hiểm… Gần đây du lịch văn hóa được xem là sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch Quốc tế Du lịch văn hóa chủ yếu
dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục, tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên
Thế giới Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong
tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ
Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương – nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa và cũng là nơi tồn tại đói nghèo Khách du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổ chức những chuyến du lịch nước ngoài Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia văn hóa tức là tạo ra dòng chảy
mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương
Trang 36Ở những nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nền tảng phát triển phần
lớn không dựa vào những đầu tư lớn để tạo ra những điểm du lịch đắt tiền, mà thường
dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc Những nguồn lợi này không tạo ra giá trị lớn cho ngành du lịch, nhưng lại đóng góp đáng kể cho sự phát triển của cộng đồng xã hội Những quốc gia phát triển mạnh du lịch văn hóa là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, và một số nước thuộc khu vực Nam Mỹ
Thái Lan: Đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Thái Lan là quốc gia phát triển mạnh ngành du lịch mà đặc biệt là du lịch văn hóa Với lợi thế về tài nguyên du lịch và môi trường thiên nhiên sẵn có cùng với các chính sách, chiến lược phát triển du lịch hiệu quả đã đem đến cho Thái Lan một nguồn thu rất lớn từ hoạt động du lịch
Với các hoạt động nhằm bảo vệ môi trường, giữ gìn kiến thức truyền thống, Chính phủ Thái Lan đã phát động phong trào khôi phục lại nguyên bản của văn hóa
và đất nước Thái Lan, gắn du lịch với bảo vệ môi trường, cảnh quan và các giá trị truyền thống của đất nước Chính phủ Thái Lan kêu gọi các khu vực làng mạc ở vùng nông thôn hãy giữ nguyên vẻ đẹp nguyên sơ của mình, bảo vệ cây cối và giảm tiếng
ồn, giữ gìn phong cách kiến trúc Thái Lan
Còn ở Philippin, bên cạnh việc thực hiện chiến lược “phát triển du lịch bền
vững trên quan điểm bảo vệ môi trường” thì Chính phủ Philippin tiến hành các chương trình phục hồi các di sản văn hóa lịch sử Điển hình là việc quy hoạch khu du
lịch thị trấn Vigan, định hướng quy hoặch với mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn phục
hồi và bảo tồn các di sản văn hóa, lịch sử Bộ du lịch Philippin đã ban hành một loạt các Bộ luật mang nội dung bảo tồn các địa danh văn hóa có giá trị để khai thác du
lịch, xác định rõ Vigan là điểm du lịch văn hóa quan trọng Hoạt động này không
những góp phần bảo tồn và phát triển các di sản văn hóa truyền thống của Vigan mà còn là nhân tố quan trọng góp phần vào việc khôi phục và tái phát triển các ngành công nghiệp và ngành thủ công truyền thống trong khu vực sản xuất gốm sứ (Burnay), gạch Vigan cổ, dệt thủ công, nghề nhuộm vải
Indonesia: Đây là quốc gia vạn đảo với nhiều điểm du lịch đặc sắc Ngoài du
lịch biển đảo, Indonesia còn phát triển thêm nhiều loại hình du lịch khác trong đó có
Trang 37du lịch văn hóa Chính phủ Indonesia đã thực hiện chiến lược phát triển du lịch bền
vững, bảo tồn và duy trì sự đa dạng sinh học, phát huy bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc Điển hình là dự án phát triển du lịch Bali với ba đặc điểm sau:
Duy trì các nguồn tài nguyên sản xuất
Giữ vững bản sắc văn hóa và sự cân bằng trong văn hóa
Phát triển một quá trình tăng chất lượng cuộc sống
Với điều kiện thiên nhiên sẵn có kết hợp với nền văn hóa đặc sắc, với những ngôi chùa, các điệu nhảy cùng với âm nhạc, nghệ thuật truyền thống đã đưa nền du
lịch Indonesia vượt bậc so với các nước trong khu vực
Việt Nam nằm ở vị trí cửa ngõ giao lưu Quốc tế, có điều kiện phát triển giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không nối với các quốc gia trên Thế giới Tài nguyên du lịch Việt Nam đa dạng, giàu bản sắc cả về thiên nhiên như bãi biển đẹp, nhiều hang động, đảo và lớp phủ thực vật… Tài nguyên nhân văn như các di tích lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc, phong tục tập quán và làng nghề truyền
thống của các dân tộc Đây là điều kiện để Việt Nam phát triển nhiều loại hình du
lịch, trở thành điểm đến của nhiều du khách trong khu vực và trên Thế giới
Hiện nay, Việt Nam đã phát triển đầy đủ các loại hình du lịch như du lịch nghĩ dưỡng, du lịch tham quan, du lịch văn hóa… Với nhiều hoạt động quảng bá, tuyên truyền như tổ chức các Festival ở các vùng miền, các hội chợ, hội nghị…Nhằm thu hút sự quan tâm của cộng đồng Thế giới đến với Việt Nam
Các hoạt động du lịch văn hóa được tổ chức dựa trên các đặc điểm của vùng
miền Chương trình lễ hội đất phương Nam (lễ hội dân hóa dân gian vùng đồng bằng Nam bộ), con đường di sản miền Trung (lễ hội dân gian kết hợp với những di sản văn hóa được UNESCO công nhận)… Tất cả các hoạt động du lịch văn hóa, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước
Trong số đó, Festival Huế được xem là hoạt động du lịch văn hóa đặc sắc nhất
Việt Nam Lễ hội được tổ chức thường xuyên hai năm một lần, với sự hỗ trợ của Chính phủ Pháp
Ngày nay, du lịch văn hóa đã trở thành xu hướng của các nước đang phát triển
Trang 38Điều này càng được thể hiện rõ thông qua Hội nghị Bộ trưởng Du lịch Đông Á – Thái Bình Dương diễn ra vào ngày 11/6 tại thành phố Huế Hội nghị có sự tham gia của trên 150 đại diện của các nước ở khu vực Châu Á Hội nghị là cơ hội để các nước chia sẻ kinh nghiệm, thông tin về phát triển du lịch văn hóa và những ích lợi của hoạt động này đối với cộng đồng xã hội cũng như dân cư, nhất là giá trị của nó đối với
việc xóa đói giảm nghèo ở những quốc gia đang phát triển
Trang 40C HƯƠNG 2: KHAI THÁC VĂN HÓA CHĂM PHỤC VỤ PHÁT
TRIỂN DU LỊCH TỈNH AN GIANG 2.1 Giới thiệu chung
2.1.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu
2.1.1.1 V ị trí địa lí
Tỉnh An Giang có diện tích tự nhiên 3.536,67 km2, trong đó diện tích đất sản
xuất nông nghiệp là 280.658 ha, đất lâm nghiệp là 14.724 ha, là tỉnh có dân số đông
nhất Đồng bằng sông Cửu Long Một phần của An Giang nằm trong tứ giác Long Xuyên – là một vùng đất hình tứ giác thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long trên địa
phận của ba tỉnh thành Kiên Giang, An Giang và Cần Thơ
Tỉnh An Giang có phía Tây Bắc giáp với Campuchia (104km), phía Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang (69,789km), phía Nam giáp thành phố Cần Thơ (44,734km), phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp (107,62km)
Hệ tọa độ địa lí tỉnh An Giang: Điểm cực Bắc nằm ở tọa độ 100
Người Việt bắt đầu đến vùng đất An Giang từ lúc nào, đến nay chưa thấy sử sách ghi chép rõ ràng Tuy nhiên theo truyền thuyết dân gian và một số vết tích còn
lại, thì đã có một số nhóm người Việt gốc miền Trung vào đây từ rất lâu Mặc dù cuộc
sống ban đầu gặp rất nhiều khó khăn, nguy hiểm nhưng họ vẫn kiên trì tìm đất sống
Họ ở rải rác dọc theo bờ sông Tiền và sông Hậu
Thời kì Nhà Nguyễn, khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, đã thấy có người Việt ở vùng Bình Mỹ (Châu Phú), vùng Châu Đốc và vùng cù lao Cây Sao (cù lao Ông Chưởng)
Nhờ các chính sách của Chúa Nguyễn mà công cuộc khai hoang mở mang bờ