1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát biến cố hạ đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường điều trị ngoại trú tại bệnh viện e

87 1,1K 19

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hạ đường huyết là một trong những biến chứng cấp tính rất nguy hiểm ở bệnh nhân ĐTĐ, có thể dẫn tới tử vong nhanh chóng nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.. Tuy nhiên, tại đây

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

Người hướng dẫn:

1 Ths Nguyễn Thị Hồng Hạnh

2 TS Vũ Thị Thu Hương

Nơi thực hiện:

1 Bộ môn Dược lâm sàng

2 Bệnh viện E trung ương

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc hai người thầy

của tôi là Ths Nguyễn Thị Hồng Hạnh – Giảng viên Bộ môn Dược lâm sàng, trường Đại học Dược Hà Nội và TS Vũ Thị Thu Hương – Phó trưởng khoa Dược

Bệnh viện E trung ương – những người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn thầy Vũ Đình Hòa, chị Nguyễn Thị Thu Thủy cùng toàn thể thầy cô Bộ môn Dược lâm sàng, những người thầy đã tận tình giảng dạy, sẵn sàng sẻ chia khó khăn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại bộ môn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo và các anh chị làm việc tại phòng hành chính và phòng cấp phát thuốc Bệnh viện E trung ương đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này Cuối cùng, khóa luận của tôi sẽ không thể hoàn thành nếu không có sự động viên và giúp đỡ của gia đình, bạn bè Cảm ơn những người bạn và các em Lê Ngọc Quỳnh, Nguyễn Thùy Linh, Nguyễn Ngọc Hải – những người đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài Và tôi cũng xin gửi những tình cảm chân thành

và yêu thương nhất đến gia đình tôi, nơi luôn luôn che chở và động viên tôi suốt chặng đường 23 năm qua

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2017 Sinh viên

Phạm Hồng Ngọc

Trang 4

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

Trang

ĐẶT VẤN ĐỀ ……… 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Vài nét về bệnh đái tháo đường 3

1.1.1 Dịch tễ bệnh đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam 3

1.1.2 Mục tiêu kiểm soát glucose máu 4

1.1.3 Biến chứng 4

1.2 Tổng quan về hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường 5

1.2.1 Định nghĩa 6

1.2.2 Cơ chế bệnh sinh và triệu chứng lâm sàng 6

1.2.3 Phân loại 9

1.2.4 Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ 10

1.2.5 Ảnh hưởng của hạ đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường 13

1.2.6 Điều trị 15

1.2.7 Dự phòng 16

1.3 Một số nghiên cứu liên quan đến đề tài 18

1.3.1 Các nghiên cứu về tỷ lệ hạ đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường 18

1.3.2 Các nghiên cứu về kiến thức của bệnh nhân đái tháo đường về hạ đường huyết 19

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Phương pháp nghiên cứu 21

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 22

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và quy trình thu thập dữ liệu 22

Trang 5

2.2.3 Công cụ nghiên cứu 23

2.2.4 Phương pháp đánh giá 26

2.3 Phương pháp xử lý số liệu 27

2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 28

2.4.1 Một số đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu 28

2.4.2 Đặc điểm kiến thức của bệnh nhân về hạ đường huyết 28

2.4.3 Đặc điểm về tình hình hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường 28 2.4.4 Bước đầu phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức chung về hạ đường huyết của bệnh nhân đái tháo đường 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 30

3.1 Đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu 30

3.1.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu 30

3.1.2 Đặc điểm về các thuốc điều trị đái tháo đường được kê đơn 31

3.2 Đặc điểm kiến thức về hạ đường huyết của bệnh nhân đái tháo đường 32

3.2.1 Kiến thức của bệnh nhân về triệu chứng hạ đường huyết 32

3.2.2 Kiến thức của bệnh nhân về biện pháp kiểm tra, nguyên nhân và hậu quả của hạ đường huyết 33

3.2.3 Kiến thức của bệnh nhân về biện pháp xử trí và dự phòng hạ đường huyết 34

3.2.4 Đánh giá kiến thức của bệnh nhân về hạ đường huyết 36

3.2.5 Các nguồn cung cấp thông tin về hạ đường huyết 36

3.3 Đặc điểm về tình hình hạ đường huyết của bệnh nhân 37

3.3.1 Phân loại triệu chứng hạ đường huyết và thời điểm hạ đường huyết 37 3.3.2 Thực hành về xử trí hạ đường huyết 39

3.3.3 Thực hành dự phòng hạ đường huyết 39

3.4 Bước đầu phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức chung về hạ đường huyết của bệnh nhân đái tháo đường 40

3.4.1 Phân tích mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến kiến thức tốt của bệnh nhân về hạ đường huyết 40

Trang 6

3.4.2 Phân tích mối liên quan giữa kiến thức chung về hạ đường huyết và

thực hành dự phòng hạ đường huyết của bệnh nhân đái tháo đường 42

3.4.3 Phân tích mối liên quan giữa kiến thức chung về hạ đường huyết và tiền sử có triệu chứng hạ đường huyết của bệnh nhân đái tháo đường 42

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 44

4.1 Bàn luận về đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu 44

4.2 Bàn luận về kiến thức của bệnh nhân đái tháo đường về hạ đường huyết 47 4.2.1 Kiến thức của bệnh nhân về triệu chứng hạ đường huyết 47

4.2.2 Kiến thức của bệnh nhân về biện pháp kiểm tra, nguyên nhân và hậu quả hạ đường huyết 48

4.2.3 Kiến thức của bệnh nhân về biện pháp xử trí và dự phòng hạ đường huyết 49

4.2.4 Đánh giá kiến thức chung về hạ đường huyết 50

4.2.5 Các nguồn thông tin về hạ đường huyết 51

4.3 Bàn luận về tình hình hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường 51

4.3.1 Tỷ lệ mắc hạ đường huyết 51

4.3.2 Thực hành xử trí và dự phòng hạ đường huyết 53

4.4 Bàn luận về một số yếu tố liên quan đến kiến thức chung về hạ đường huyết của bệnh nhân đái tháo đường 54

4.4.1 Bàn luận về các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức chung hạ đường huyết của bệnh nhân đái tháo đường 54

4.4.2 Bàn luận về mối liên quan giữa kiến thức chung và tiền sử hạ đường huyết, thực hành dự phòng hạ đường huyết của bệnh nhân đái tháo đường 55 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu Tên đầy đủ

AADE American Association of Diabetes Educators

(Hiệp hội giáo dục Đái tháo đường Hoa Kỳ) ACCORD Action to Control Cardiovascular Risk in Diabetes

(Nghiên cứu Hành động để kiểm soát nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường)

ACEIs Angiotensin Converting Enzyme inhibitors

(Nhóm thuốc ức chế men chuyển) ADA American Diabetes Association

(Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ) ADVANCE Action in Diabetes and Vascular Disease: Preterax and

Diamicron Modified Release Controlled Evaluation (Nghiên cứu Đánh giá hiệu quả phối hợp Preterax và Diamicron dạng giải phóng thay đổi trong đái tháo đường và bệnh lý mạch máu)

BMI Body mass index

(Chỉ số khối cơ thể)

CDA Canadian Diabetes Association

(Hiệp hội Đái tháo đường Canada) DCCT Diabetes Control and Complications Trial

(Nghiên cứu Kiểm soát đái tháo đường và biến chứng) ĐTĐ Đái tháo đường

HbA1c Glycosylated Hemoglobin

(Hemoglobin gắn glucose)

IDF International Diabetes Federation

Trang 8

(Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế) IHSG International Hypoglycemia Study Group

(Nhóm nghiên cứu quốc tế về hạ đường huyết) MAOIs Monoamine oxidase inhibitors

(Nhóm thuốc ức chế enzym monoamine oxidase)

(Nghiên cứu tiến cứu về bệnh đái tháo đường tại Anh) VADT Veterans Affairs Diabetes Trial

(Nghiên cứu bệnh đái tháo đường ở cựu chiến binh) WHO World Health Organization

(Tổ chức Y tế thế giới)

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng Tên bảng Trang

Bảng 1.1 So sánh mục tiêu kiểm soát glucose máu giữa các hướng dẫn 4

Bảng 1.2 Phản ứng sinh lý của cơ thể khi hạ đường huyết [80] 7

Bảng 1.3 Dấu hiệu và triệu chứng hạ đường huyết [29] 8

Bảng 1.4 Một số thuốc gây hạ đường huyết [63] 11

Bảng 2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ của đối tượng nghiên cứu 21 Bảng 2.2 Phân loại mức độ hạ đường huyết 26

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu 30

Bảng 3.2 Tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức về biện pháp kiểm tra hạ đường huyết 33 Bảng 3.3 Tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức về nguyên nhân và hậu quả hạ đường huyết 34

Bảng 3.4 Tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức về biện pháp xử trí và dự phòng hạ đường huyết 35

Bảng 3.5 Đánh giá kiến thức chung của bệnh nhân ĐTĐ về hạ đường huyết 36

Bảng 3.6 Tỷ lệ bệnh nhân theo mức độ hạ đường huyết 38

Bảng 3.7 Thời điểm bệnh nhân xuất hiện triệu chứng hạ đường huyết (n = 80) 38 Bảng 3.8 Tỷ lệ bệnh nhân thực hành về xử trí hạ đường huyết (n = 80) 39

Bảng 3.9 Tỷ lệ bệnh nhân thực hành dự phòng hạ đường huyết và đánh giá thực hành dự phòng hạ đường trên bệnh nhân ĐTĐ (n = 228) 40

Bảng 3.10 Mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến kiến thức tốt của bệnh nhân về hạ đường huyết 41

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa kiến thức chung hạ đường huyết và thực hành dự phòng hạ đường huyết 42

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa kiến thức chung hạ đường huyết và tiền sử có triệu chứng hạ đường huyết 43

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ Hình Tên hình Trang

Hình 2.1 Sơ đồ quy trình thu thập dữ liệu 22Hình 2.2 Sơ đồ lựa chọn bệnh nhân phân tích 23

Biểu đồ Tên biểu đồ Trang

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ bệnh nhân theo các thuốc điều trị ĐTĐ kê đơn 31Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ bệnh nhân nhận biết được các triệu chứng hạ đường huyết 32Biểu đồ 3.3 Nguồn cung cấp thông tin về hạ đường huyết 37Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ bệnh nhân gặp triệu chứng hạ đường huyết (n = 228) 37

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh rối loạn chuyển hóa đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết mạn tính và cũng là nguyên nhân dẫn đến tử vong đứng thứ 7 trên thế giới [84] Hiện nay, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng kiểm soát đường huyết tích cực

có thể hạn chế, trì hoãn, thậm chí ngăn ngừa các biến chứng mạn tính của bệnh ĐTĐ Tuy nhiên, một trong những thách thức cũng như rào cản lớn nhất của phương pháp điều trị này là hạ đường huyết (HĐH) quá mức [50]

Hạ đường huyết là một trong những biến chứng cấp tính rất nguy hiểm ở bệnh nhân ĐTĐ, có thể dẫn tới tử vong nhanh chóng nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời Hơn nữa, ở bệnh nhân cao tuổi và có bệnh tim mạch mắc kèm, HĐH có thể làm phức tạp thêm bệnh cảnh và làm gia tăng tỷ lệ tử vong [17] Tuy vậy, cần lưu ý rằng hầu hết các yếu tố nguy cơ và hậu quả của hạ đường huyết đều có thể ngăn chặn

và phòng ngừa được thông qua giáo dục và nâng cao kiến thức của mỗi bệnh nhân Hiện nay, nhiều y văn trên thế giới cho thấy bệnh nhân ĐTĐ có thể nhận biết được các triệu chứng nhưng thường không biết về nguyên nhân và các biện pháp dự phòng HĐH [22], [27], [41] Tại Việt Nam, kết quả từ một nghiên cứu của Đoàn Thị Vân Anh thực hiện ở bệnh viện Trung ương Huế năm 2013 – 2014 cho thấy chỉ dưới 50% bệnh nhân có kiến thức tốt về hạ đường huyết và cũng chỉ dưới 50% bệnh nhân có kỹ năng tốt về xử trí, dự phòng hạ đường huyết [1] Rõ ràng, có thể nhận thấy rằng bệnh nhân ĐTĐ vẫn còn chưa thực sự nhận thức được tầm quan trọng cũng như hậu quả

mà biến cố HĐH có thể gây ra

Bệnh viện E là bệnh viện đa khoa tuyến trung ương hiện đang chăm sóc và điều trị ngoại trú một số lượng lớn bệnh nhân ĐTĐ Bệnh viện cũng đã tổ chức một số hoạt động với mục đích thông tin cho bệnh nhân ĐTĐ về HĐH như tư vấn, phát tờ rơi Tuy nhiên, tại đây vẫn chưa có một nghiên cứu nào tìm hiểu về kiến thức của bệnh nhân ĐTĐ về HĐH cũng như tỷ lệ bệnh nhân bị hạ đường huyết trong điều trị thông thường Từ thực trạng trên, chúng tôi tiến hành một nghiên cứu mô tả cắt ngang

“Khảo sát biến cố hạ đường huyết trên bệnh nhân ĐTĐ điều trị ngoại trú tại bệnh viện E” với 2 mục tiêu sau:

Trang 12

1 Khảo sát kiến thức về hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện E trung ương

2 Khảo sát đặc điểm tình hình hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện E trung ương

Từ đó góp phần vào công tác giáo dục, hướng dẫn cho bệnh nhân ĐTĐ về các biện pháp xử trí và dự phòng hạ đường huyết

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Vài nét về bệnh đái tháo đường

1.1.1 Dịch tễ bệnh đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam

Trong những năm gần đây, mô hình bệnh tật ngày càng thay đổi: tỷ lệ các bệnh nhiễm trùng giảm dần mà thay vào đó là sự phát triển của các bệnh không lây như tim mạch, ung thư… đặc biệt là ĐTĐ và các bệnh chuyển hóa Năm 1995, Tổ chức y

tế thế giới WHO thống kê cho thấy có 135 triệu người mắc ĐTĐ và dự đoán con số này sẽ lên tới 330 triệu người vào năm 2025 Tuy nhiên, theo số liệu năm 2015 IDF mới công bố gần đây, trên thế giới đã có 415 triệu người mắc ĐTĐ, dự kiến đến năm

2040 sẽ tăng lên 642 triệu người [54], kéo theo không chỉ là biến chứng nặng nề mà còn là chi phí vô cùng tốn kém Chỉ tính riêng năm 2010, chi phí trực tiếp điều trị và

dự phòng ĐTĐ là 418 tỷ đô la [56] nhưng đến năm 2015 thì con số này đã tăng lên gấp đôi [66] Ngoài ra, năm 2015 IDF thống kê rằng cứ 2 người trưởng thành thì có

1 người mắc ĐTĐ mà không được chẩn đoán và cứ 6 giây lại có 1 người chết vì bệnh ĐTĐ và các biến chứng Vì vậy, các chuyên gia của WHO nhận định rằng: “Thế kỷ XXI là thế kỷ của các bệnh nội tiết và chuyển hóa, mà điển hình là đái tháo đường Những gì mà đại dịch HIV/AIDS đã hoành hành 20 năm cuối thế kỷ XX, thì đó là điều ĐTĐ sẽ làm trong 20 năm đầu của thế kỷ XXI”

ĐTĐ có xu hướng gia tăng nhanh chóng tại các nước có thu nhập thấp và trung bình, và Việt Nam cũng không phải ngoại lệ Theo một cuộc điều tra toàn quốc về ĐTĐ của Tạ Văn Bình và các cộng sự tiến hành năm 2002 – 2003 thì có 2,7% dân số mắc ĐTĐ [6] và đến năm 2015, IDF ước tính con số này đã lên tới 5,6% [54] Như vậy, chỉ trong vòng 10 năm, tỷ lệ mắc ĐTĐ ở Việt Nam đã tăng gấp đôi, cao hơn rất nhiều so thế giới Đáng báo động là cũng chỉ trong vòng hơn 10 năm từ năm 2005 đến năm 2015, ĐTĐ đã tăng từ vị trí thứ 8 lên vị trí thứ 5 trong 10 nguyên nhân gây

tử vong nhiều nhất tại Việt Nam [53] Hơn nữa, gánh nặng tài chính do bệnh ĐTĐ cũng không hề nhỏ Ước tính đến nay Việt Nam đã chi hơn 600 triệu đô la cho ĐTĐ

và sẽ lên tới hơn 1 tỷ đô la vào năm 2025 nếu không có những biện pháp can thiệp hiệu quả [5]

Trang 14

1.1.2 Mục tiêu kiểm soát glucose máu

Ba thử nghiệm lâm sàng ACCORD, ADVANCE và VADT đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong điều trị ĐTĐ Những nghiên cứu này chứng tỏ rằng việc giảm HbA1c có liên quan đến giảm khởi phát hoặc tiến triển biến chứng mạch máu nhỏ [23] Do vậy, các hướng dẫn điều trị hầu hết đều thống nhất đưa ra mức HbA1c mục tiêu là 7%, kết quả được dựa theo nghiên cứu DCCT [23], [29], [55] Nghiên cứu DCCT và UKPDS cũng chứng minh rằng việc giảm HbA1c từ 7% đến 6% có thể làm giảm thêm nguy cơ biến chứng mạch máu nhỏ dù không thực sự nhiều, nhưng lại làm tăng đáng kể nguy cơ hạ đường huyết trên bệnh nhân ĐTĐ typ 1 và việc sử dụng nhiều thuốc trên bệnh nhân ĐTĐ typ 2, khi đó, lợi ích thu được thấp hơn nguy

cơ [50], [74] Bảng 1.1 so sánh mục tiêu kiểm soát glucose máu giữa các hướng dẫn

Bảng 1.1 So sánh mục tiêu kiểm soát glucose máu giữa các hướng dẫn Chỉ số Bình

thường [55]

Bộ Y Tế 2016 [8]

IDF 2012 [55]

ADA 2017 [23]

HbA1c < 6,0% ≤ 7% (cá thể hóa

điều trị)

< 7% (cá thể hóa điều trị)

< 7% (cá thể hóa điều trị) Glucose

máu lúc đói

5,5 mmol/L (100mg/dL)

4,4 – 6,1 mmol/L (80 – 110mg/dL)

6,5 mmol/L (115mg/dL)

3,9 – 7,2 mmol/L (70 – 130mg/dL) Glucose

máu sau ăn

7,8 mmol/L (140mg/dL)

4,4 – 7,8 mmol/L (80 – 140mg/dL)

9,0 mmol/L (160mg/dL)

< 10 mmol/L (180mg/dL)

Theo ADA, bệnh nhân cần được cá thể hóa mục tiêu HbA1c, phụ thuộc vào thời gian mắc bệnh, tuổi, nguy cơ hạ đường huyết, biến chứng mạch máu, điều kiện chăm sóc và mức độ tuân thủ của bệnh nhân

1.1.3 Biến chứng

Đái tháo đường là một bệnh tiến triển tịnh tiến, những biến chứng của bệnh luôn phát triển theo thời gian mắc bệnh [8] Theo nghiên cứu DCCT và UKPDS, kiểm soát đường huyết tối ưu là biện pháp dự phòng lý tưởng nhất đối với sự phát triển biến chứng ĐTĐ [50], [74] Một khi đã xuất hiện các biến chứng, chi phí gián tiếp để điều

Trang 15

trị tình trạng tổn thương cơ quan đích và hạn chế nguy cơ tử vong tăng theo cấp số nhân, do đó, dự phòng thứ phát biến chứng là một biện pháp quan trọng giúp làm giảm chi phí điều trị ĐTĐ nói chung [47] Các biến chứng ĐTĐ bao gồm:

– Biến chứng cấp tính [8]:

o Hôn mê nhiễm toan ceton

o Hôn mê tăng glucose máu không nhiễm toan ceton

o Hôn mê nhiễm toan lactic

o Biến chứng mạch máu nhỏ: bao gồm các biến chứng ở võng mạc (gây mờ mắt, mù lòa), bệnh thận (bệnh lý cầu thận, viêm hoại tử đài bể thận) [12], [19]

Phối hợp bệnh lý thần kinh và mạch máu: loét bàn chân ĐTĐ [8]

Theo nghiên cứu của Tạ Văn Bình thực hiện năm 2006 tại Bệnh viện Nội tiết trung ương ghi nhận các biến chứng thường gặp ở người trưởng thành mắc ĐTĐ là biến chứng mắt (bệnh võng mạc chiếm 23,9%, đục nhân mắt chiếm 5,7%, tăng nhãn

áp chiếm 0,5%), biến chứng thận (đạm niệu vi thể chiếm 13,8%, đạm niệu đại thể chiếm 6,1%, suy thận chiếm 2,1%) và có 53,2% bệnh nhân gặp biến chứng thần kinh ngoại biên [5]

1.2 Tổng quan về hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường

Hạ đường huyết là biến chứng thường gặp ở hầu hết bệnh nhân ĐTĐ typ 1 và nhiều bệnh nhân ĐTĐ typ 2 Nếu không được phát hiện hoặc điều trị không phù hợp, bệnh nhân có thể tổn thương thần kinh tạm thời hoặc vĩnh viễn, thậm chí tử vong Hơn nữa, hạ đường huyết ngăn cản duy trì đường huyết tối ưu trong suốt quá trình

Trang 16

điều trị ở hầu hết bệnh nhân ĐTĐ Hậu quả là bệnh nhân vẫn gặp các biến chứng mạn tính dù đã được điều trị tích cực Vì vậy, đây là yếu tố rất quan trọng hạn chế kiểm soát đường huyết cả ngắn hạn và dài hạn [24], [36]

1.2.1 Định nghĩa

Hạ đường huyết là tình trạng mất cân bằng giữa hai quá trình cung cấp và tiêu thụ glucose trong máu Tiêu chuẩn có thể chẩn đoán sớm và thường dùng trong thực hành lâm sàng là tam chứng Whipple: bệnh nhân có triệu chứng của hạ đường huyết, nồng độ đường huyết thấp và triệu chứng giảm đi khi điều trị đường huyết trở về bình thường [21], [23], [25] Tuy nhiên, một số bệnh nhân ĐTĐ có triệu chứng hạ đường huyết nhưng lại có kết quả đo đường huyết bình thường, và một số bệnh nhân không

có triệu chứng ngay cả khi đường huyết thấp (còn gọi là hạ đường huyết không triệu chứng) [23] Do đó, để thống nhất khi chẩn đoán những trường hợp này, hiện nay các hướng dẫn điều trị đều định nghĩa hạ đường huyết là khi nồng độ glucose máu giảm dưới 70 mg/dL (3,9 mmol/L) ở hầu hết bệnh nhân, dựa theo tiêu chuẩn của ADA

2005 [8], [24], [29], [44] Cũng cần lưu ý rằng khuyến cáo mới của ADA năm 2017 đưa ra thêm mức đường huyết giảm dưới 54 mg/dL (3,0 mmol/L) được coi là hạ đường huyết có ý nghĩa lâm sàng, dựa theo khuyến cáo của Nhóm nghiên cứu quốc

tế về hạ đường huyết (IHSG) nhằm thống nhất báo cáo hạ đường huyết giữa các nghiên cứu [23], [57]

1.2.2 Cơ chế bệnh sinh và triệu chứng lâm sàng

Hệ thống thần kinh trung ương của con người sử dụng glucose là nguồn năng lượng chính, nhưng trong điều kiện bình thường nó lại không thể tự tổng hợp hoặc

dự trữ glucose Do đó, nếu quá trình cung cấp glucose cho não bộ bị gián đoạn có thể dẫn đến suy giảm nhận thức, thậm chí hôn mê và tử vong Vì vậy, để bảo vệ một trong những cơ quan quan trọng nhất này, cơ thể con người đã tạo những rào cản để ngăn chặn tình trạng giảm glucose máu và những hậu quả của nó [3], [32], [80] Bảng 1.2 trình bày dự đoán hoạt động sinh lý của cơ thể khi hạ đường huyết ở bệnh nhân không mắc ĐTĐ

Trang 17

Bảng 1.2 Phản ứng sinh lý của cơ thể khi hạ đường huyết [80]

90

Ức chế bài tiết insulin nội sinh

Hạ đường huyết

72 Giải phóng glucagon và adrenalin

Giải phóng hormon tăng trưởng

Giải phóng cortisol Triệu chứng hạ đường huyết Triệu chứng thần kinh tự động

Trang 18

trung ương (Bảng 1.3) Nếu tiếp tục không được bổ sung carbohydrat, hạ đường huyết

có thể dẫn đến hôn mê, co giật và thậm chí tử vong Cũng cần lưu ý rằng các ngưỡng glucose máu có thể thấp hơn trên bệnh nhân ĐTĐ hoặc bệnh nhân hạ đường huyết thường xuyên, đồng thời cường độ giải phóng các hormon điều hòa ngược có thể thấp hơn ở người cao tuổi, nữ giới và ở người ít hoạt động thể lực [80]

Sự thay đổi trong phản ứng chống lại hạ đường huyết của cơ thể trên bệnh nhân ĐTĐ typ 1 và typ 2 thường do bất thường về giải phóng các hormon Ở bệnh nhân ĐTĐ typ 1, cả hai hormon insulin và glucagon đều bị gián đoạn nghiêm trọng Đồng thời, cơ chế bảo vệ thứ 3 là adrenalin cũng dần mất đáp ứng theo thời gian mắc bệnh Thường xuyên HĐH có thể dẫn đến giảm ngưỡng glucose máu của triệu chứng thần kinh tự chủ, đặc biệt ở bệnh nhân kiểm soát đường huyết chặt chẽ Sự thiếu hụt glucagon kết hợp với giảm giải phóng adrenalin gây ra HĐH không có triệu chứng báo trước Cuối cùng, với sự phát triển của HĐH không triệu chứng sẽ dẫn đến tình trạng HĐH trầm trọng hơn [32], [80]

Các cơ chế gây hạ đường huyết không triệu chứng của bệnh ĐTĐ typ 2 cũng tương tự như ĐTĐ typ 1 Đối với bệnh nhân ĐTĐ typ 2 mới mắc, tế bào 𝛼 thường vẫn giải phóng glucagon bình thường, nhưng khi bệnh tiến triển, tế bào này cũng dần mất đáp ứng với HĐH kết hợp với giảm giải phóng adrenalin, dẫn đến HĐH không triệu chứng [32], [80]

Bảng 1.3 Dấu hiệu và triệu chứng hạ đường huyết [29]

Triệu chứng thần kinh tự chủ Triệu chứng thần kinh trung ương

Chóng mặt

Trang 19

Tuy nhiên, lưu ý rằng triệu chứng hạ đường huyết rất khác nhau ở mỗi cá thể Một số tài liệu khác nhau có ghi nhận thêm những triệu chứng của hạ đường huyết như dị cảm đầu chi hoặc quanh môi, đau đầu, thay đổi suy nghĩ hoặc hành động (kích thích, vui vẻ, buồn bã hoặc nóng tính), mất ngủ… [17], [28], [64]

1.2.3 Phân loại

1.2.3.1 Phân loại theo ADA và Hiệp hội Nội tiết Hoa Kỳ [24]

➢ Hạ đường huyết nặng: là những trường hợp hạ đường huyết cần có sự hỗ trợ của người khác để bổ sung carbohydrat Bệnh nhân có thể có những triệu chứng thần kinh, thậm chí là lú lẫn, hôn mê Nồng độ glucose máu có thể không cần thiết phải đo

➢ Hạ đường huyết có triệu chứng: bệnh nhân có triệu chứng điển hình của hạ đường huyết, kèm theo kết quả đo nồng độ glucose máu ≤ 70 mg/dL (3,9 mmol/L)

➢ Hạ đường huyết không có triệu chứng: bệnh nhân không có triệu chứng điển hình của hạ đường huyết, nhưng có kết quả đo nồng độ glucose máu ≤ 70 mg/dL (3,9 mmol/L)

➢ Hạ đường huyết không chắc chắn: là trường hợp trong suốt thời gian xuất hiện triệu chứng điển hình của hạ đường huyết bệnh nhân không được kiểm tra glucose máu (nhưng triệu chứng này cũng có thể do nồng độ glucose máu ≤

70 mg/dL (3,9 mmol/L))

➢ Giả hạ đường huyết: là trường hợp bệnh nhân ĐTĐ có xuất hiện triệu chứng điển hình của hạ đường huyết nhưng kết quả đo nồng độ glucose máu lại > 70 mg/dL (3,9 mmol/L)

1.2.3.2 Phân loại theo Hiệp hội ĐTĐ Canada và Bệnh viện Bạch Mai

Theo Hướng dẫn của Hiệp hội ĐTĐ Canada (CDA) và Bệnh viện Bạch Mai, hạ đường huyết được phân loại dựa trên triệu chứng và khả năng tự điều trị [2], [29]:

➢ Hạ đường huyết mức độ nhẹ: bệnh nhân tỉnh, có triệu chứng thần kinh tự chủ (run tay, đói cồn cào, nhịp tim nhanh…) và có khả năng tự điều trị Mức đường huyết thường từ 3,3 – 3,6 mmol/L

Trang 20

➢ Hạ đường huyết mức độ trung bình: bệnh nhân có triệu chứng thần kinh trung ương thiếu glucose (nhìn mờ, giảm khả năng tập trung, lơ mơ…) nhưng vẫn

có khả năng tự điều trị Mức đường huyết thường từ 2,8 – 3,3 mmol/L

➢ Hạ đường huyết mức độ nặng: bệnh nhân có thể mất định hướng, cơn loạn thần, co giật, rối loạn ý thức, hôn mê và cần sự trợ giúp của người khác Mức đường huyết thường dưới 2,8 mmol/L

1.2.4 Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ

1.2.4.1 Nguyên nhân

Hạ đường huyết là hậu quả của sự dư thừa insulin tương đối hay tuyệt đối, nguyên nhân do liều cao hoặc tiêm nhầm insulin, bỏ bữa ăn chính hoặc phụ, hoạt động thể lực quá sức và uống rượu [28], [34] Cũng cần lưu ý rằng hạ đường huyết

có thể do đa nguyên nhân hoặc do kết hợp với các bệnh lý liên quan như bệnh gan, thận, suy dinh dưỡng, nhiễm trùng, tiêu chảy, bệnh ác tính hoặc tác dụng không mong muốn của một số thuốc có khả năng làm giảm nồng độ glucose máu

❖ Hạ đường huyết do thuốc

Insulin và sulfonylurea là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây ra

hạ đường huyết trên bệnh nhân ĐTĐ [61] Các sulfonylurea tác dụng kéo dài như glibenclamid và chloropropamid có nguy cơ hạ đường huyết nặng cao hơn các sulfonylurea tác dụng ngắn (như gliclazid, glipizid) [72], [77] Nguyên nhân hạ đường huyết liên quan đến insulin và sulfonylurea thường gặp là [3], [17], [51]:

– Do sử dụng quá liều insulin hoặc sulfonylurea

– Thời gian sử dụng insulin hoặc sulfonylurea không phù hợp với bữa ăn – Loại insulin không thích hợp

– Liệu pháp điều trị tích cực bằng insulin: mục tiêu HbA1c thấp hơn hoặc mục tiêu glucose máu chặt chẽ hơn hoặc cả hai Ngoài ra, phương pháp điều trị này còn làm tăng nguy cơ hạ đường huyết không triệu chứng, đặc biệt ở bệnh nhân mắc bệnh thời gian dài và bệnh nhân cao tuổi [3]

– Thất thường hấp thu của insulin tại nơi tiêm:

o Hấp thu nhanh hơn nếu tiêm ở vùng hay vận động

Trang 21

o Bất thường tại vị trí tiêm như teo lớp mỡ dưới da hoặc loạn dưỡng mỡ vùng tiêm,…

– Sử dụng nhiều insulin tinh khiết hoặc đổi từ dạng tổng hợp sang các dạng insulin hỗn hợp hoặc insulin người làm thay đổi tốc độ hấp thu

Các thuốc điều trị ĐTĐ khác như acarbose, metformin, các thiazolidinedion (ví

dụ piolitazon và rosiglitazon) có ít khả năng gây hạ đường huyết khi sử dụng phác đồ đơn độc [26], [37], [79], [86] Tuy nhiên khi phối hợp metformin và các thiazolidinedion với sulfonylurea hoặc meglitinid có thể làm tăng đáng kể nguy cơ

hạ đường huyết [52] (Bảng 1.4)

Bảng 1.4 Một số thuốc gây hạ đường huyết [63]

Thuốc có thể tự gây HĐH Các thuốc chỉ gây HĐH khi kết hợp

α-Exenatid Sitagliptin Pramlintid

ACEIs Phenylbutazon Lidocain Coumadin Ranitidin, cimetidin Doxepin Danazol Azapropazon Oxytetracyclin

Clofibrat, benzofibrat Colchicin Ketoconozol Chloramphenicol Haloperidol MAOIs Thalidomid Orphenadrin Selegilin

Trang 22

Một số thuốc khác cũng có thể gây hạ đường huyết như nhóm fluoroquinolon, indomethacin (chất lượng bằng chứng trung bình); thuốc chẹn β giao cảm, lithium (chất lượng bằng chứng thấp) [65] Thuốc chẹn β giao cảm là nhóm thuốc thường được sử dụng để điều trị tăng huyết áp, loạn nhịp tim và dự phòng nhồi máu cơ tim tái phát, tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy thuốc chẹn β giao cảm có thể làm che lấp các triệu chứng cảnh báo hạ đường huyết [17], [65] Do vậy, bệnh nhân có thể không nhận ra hạ đường huyết cho đến khi triệu chứng trầm trọng hơn Một số thuốc khác như haloperidol, và một vài thuốc ức chế chọn lọc tái thu hồi serotonin cũng được cho là có liên quan đến biến cố hạ đường huyết khi sử dụng kết hợp với insulin, sulfonylurea hoặc meglitinid [17]

Trang 23

hơn mức khuyến cáo hàng ngày (2 đơn vị đối với nữ và 3 đơn vị đối với nam, trong

đó, 1 đơn vị rượu tương đương với 10ml ethanol hay 25ml rượu 40 độ) Hơn nữa, nếu bệnh nhân đi ngủ sau khi uống rượu có thể gây ra hạ đường huyết khi ngủ nếu không được bổ sung một bữa ăn nhẹ [17]

cơ thể [17]

1.2.4.2 Các yếu tố nguy cơ của hạ đường huyết

Ngoài những nguyên nhân gây hạ đường huyết trên, một số hướng dẫn và nghiên cứu đã ghi nhận những yếu tố sau có thể làm tăng nguy cơ hạ đường huyết trên bệnh nhân ĐTĐ [17]:

– Bệnh nhân không hiểu biết hoặc không được hướng dẫn đầy đủ

– Đái tháo đường thời gian dài

– Hạ đường huyết không triệu chứng cảnh báo

– Hạ đường huyết ban đêm

– Tiền sử hạ đường huyết nặng

– Suy thận và suy gan

1.2.5 Ảnh hưởng của hạ đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường

Hạ đường huyết là một biến chứng quan trọng ở bệnh nhân ĐTĐ typ 1 và typ

2 Theo một số báo cáo, ước tính có khoảng 4 – 10% bệnh nhân ĐTĐ typ 1 tử vong

do hạ đường huyết [33] Mặc dù tỷ lệ tử vong do hạ đường huyết ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 vẫn chưa được thống kê, nhưng đã được ghi nhận [33]

1.2.5.1 Ảnh hưởng của hạ đường huyết lên chức năng các cơ quan

Như đã đề cập ở trên, hạ đường huyết có thể gây co giật, hôn mê, thậm chí tử vong nếu không được điều trị đúng cách và kịp thời Một số nghiên cứu lâm sàng đã

Trang 24

cho thấy mối liên quan giữa hạ đường huyết nặng và bệnh tim mạch Kết quả từ nghiên cứu ADVANCE kéo dài 5 năm trên 11.000 bệnh nhân chỉ ra rằng hạ đường huyết nặng làm tăng nguy cơ biến chứng mạch máu lớn (HR = 2,88; 95% CI = 1,19 – 4,19) [12] và kết quả từ một nghiên cứu tổng quan hệ thống trên hơn 900.000 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 cũng cho rằng hạ đường huyết nặng làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch gấp 2 lần [49] Tuy vậy, ảnh hưởng của hạ đường huyết trên bệnh tim mạch vẫn chưa thực sự rõ ràng, cũng có thể có nhiều biến cố gây nhiễu không được đo lường hoặc

đo lường không đầy đủ, và hạ đường huyết chỉ làm tăng nguy cơ các kết quả lâm sàng bất lợi chứ không phải là nguyên nhân trực tiếp [87]

Ngoài ra, hạ đường huyết nặng tái phát nhiều lần cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến suy giảm nhận thức vĩnh viễn [38], [58] Trên bệnh nhân ĐTĐ typ 1, nhiều nghiên cứu chứng minh rằng sự phát triển của bệnh ĐTĐ trong những năm đầu đời làm tăng nguy cơ rối loạn chức năng nhận thức [69] Bên cạnh đó, ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2, nghiên cứu của Whitmer và các cộng sự chứng tỏ rằng hạ đường huyết nặng tái phát nhiều lần làm tăng nguy cơ mất trí nhớ ở người cao tuổi [81] Điều này nhắc nhở chúng ta cần cảnh giác cơn hạ đường huyết ở trẻ em và người già, những đối tượng có nguy cơ cao bị suy giảm hoặc rối loạn chức năng nhận thức

1.2.5.2 Ảnh hưởng của hạ đường huyết đến chất lượng cuộc sống

Hạ đường huyết nặng có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống thông qua ảnh hưởng đến chất lượng sức khỏe, sự hài lòng điều trị và chi phí quản lý bệnh ĐTĐ Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân không chỉ tác động trực tiếp từ hạ đường huyết

mà còn chịu tác động gián tiếp từ sự lo sợ hạ đường huyết tái phát [60], [82] Do đó bệnh nhân có xu hướng thay đổi hành vi để làm giảm số lần hạ đường huyết trong tương lai nhưng điều này có thể làm hạn chế kiểm soát đường huyết [83]

Ngoài ra, cũng cần lưu ý đến những tình huống nguy hiểm có thể phát sinh khi bệnh nhân bị hạ đường huyết dù ở nhà hay ở nơi làm việc (như lái xe, vận hành máy móc) và nguy cơ té ngã, đặc biệt ở người cao tuổi [87]

Trang 25

1.2.6 Điều trị

Mục tiêu chính của điều trị hạ đường huyết là phát hiện và nâng nồng độ glucose máu lên mức trung bình một cách nhanh chóng, đồng thời cũng tránh điều trị quá liều gây tăng đường huyết và tăng cân [29]

Bệnh nhân ĐTĐ được khuyến cáo tự điều trị khi đường huyết ≤70 mg/dL (3,9 mmol/L), bao gồm đo đường huyết lặp lại, tránh các hoạt động quan trọng như lái xe,

bổ sung carbohydrat và điều chỉnh phác đồ điều trị [31]

Theo Hướng dẫn của Hiệp hội Đái tháo đường Canada (CDA) và Hướng dẫn của Bệnh viện Bạch Mai, hạ đường huyết được điều trị như sau [2], [29]:

1 Trường hợp bệnh nhân còn tỉnh (mức độ nhẹ và trung bình)

– Bổ sung 15g carbohydrat bằng đường ăn uống, như glucose hoặc saccharose dạng viên, nước trái cây, sữa, đồ ăn nhẹ khác hoặc một bữa ăn Lưu ý không dùng loại đường hóa học dành riêng cho người đái tháo đường [2] Một số ví

dụ về 15g carbohydrat:

o Viên nén glucose 15g

o 15ml (3 muỗng cà phê) đường ăn hòa tan trong nước

o 175ml (3/4 cốc) nước trái cây hoặc nước ngọt

o 15ml (1 muỗng canh) mật ong

– Nếu bệnh nhân không thấy cải thiện hoặc sau 15 phút đường huyết vẫn < 4 mmol/L thì nên được điều trị lặp lại

2 Trường hợp bệnh nhân hạ đường huyết nặng nhưng vẫn còn ý thức: Bổ sung 20g carbohydrat bằng đường uống Bệnh nhân nên được kiểm tra đường huyết sau 15 phút và điều trị lặp lại 15g carbohydrat nếu đường huyết vẫn < 4 mmol/L

3 Trường hợp bệnh nhân hôn mê, mất ý thức:

– Bệnh nhân không ở cơ sở y tế: 1 mg glucagon tiêm bắp hoặc tiêm dưới da Người chăm sóc và người hỗ trợ nên nhanh chóng đưa bệnh nhân đến cơ sở y

tế gần nhất

– Điều trị tại cơ sở y tế [2]:

Trang 26

o Tiêm chậm tĩnh mạch 50ml dung dịch glucose ưu trương 20% hoặc 30% trong 1 – 3 phút Có thể tiêm lặp lại cho đến khi bệnh nhân tỉnh trở lại

o Đặt đường truyền tĩnh mạch truyền dung dịch glucose 10% hoặc 5%, truyền duy trì đường máu luôn trên 5,5 mmol/L (100 mg/dL) tránh nguy

cơ tái phát hạ đường huyết

o Lưu ý rằng, nếu bệnh nhân dùng thuốc hạ đường huyết có tác dụng kéo dài thì tình trạng hạ đường huyết có thể kéo dài Do đó, phải truyền đường duy trì và theo dõi đường máu ít nhất trong 24 – 72 giờ tùy thuộc vào dược động học của thuốc

4 Sau khi được điều trị hồi phục hạ đường huyết, bệnh nhân nên được bổ sung một bữa ăn hoặc đồ ăn nhẹ để tránh hạ đường huyết lặp lại Nếu bữa ăn chính cách xa hơn 1 giờ, bệnh nhân nên được ăn nhẹ (gồm 15g carbohydrat và thực phẩm chứa protein)

– Giáo dục bệnh nhân về dược động học của thuốc

– Xem xét mục tiêu điều trị ở bệnh nhân bị hạ đường huyết thường xuyên, kết hợp nâng cao kiến thức của bệnh nhân

❖ Chế độ ăn uống

– Đối với bệnh nhân sử dụng insulin tác dụng kéo dài hoặc phác đồ insulin cố định, khuyến khích bệnh nhân nên có chế độ ăn có thể dự đoán trước lượng

Trang 27

carbohydrat Đối với bệnh nhân sử dụng chế độ insulin linh hoạt thì nên tiêm liều phù hợp với lượng carbohydrat cung cấp

– Khuyến cáo bệnh nhân mỗi lần sử dụng bất kỳ loại thuốc hạ đường huyết nào cũng nên được kết hợp bổ sung carbohydrat

❖ Tập thể dục

– Bệnh nhân nên theo dõi đường huyết trước và sau khi tập thể dục, và có những biện pháp để ngăn chặn hoặc giảm thiểu hạ đường huyết sau khi tập luyện

– Bệnh nhân nên ăn đồ ăn nhẹ trước khi tập thể dục nếu nồng độ glucose máu giảm

– Bệnh nhân nên mang theo thực phẩm chứa carbohydrat dễ hấp thu khi bắt đầu bất kỳ hoạt động thể lực nào, bao gồm cả làm việc nhà hoặc làm vườn – Đối với bệnh nhân ĐTĐ kiểm soát tốt nhưng có tiền sử hạ đường huyết liên quan đến tập luyện thể dục, có thể nên được điều chỉnh liều insulin vào những ngày tập thể dục

❖ Điều chỉnh thuốc

– Có thể cân nhắc điều chỉnh thuốc nếu cần thiết Điều chỉnh thuốc có thể bao gồm thay thế insulin regular thành insulin tác dụng nhanh (lispro, aspart, glulisin) hoặc thay thế NPH thành insulin nền glargin hoặc detemir

– Sulfonylurea là thuốc đường uống có nguy cơ hạ đường huyết cao nhất Do

đó có thể xem xét thay thế thuốc nhóm khác để giảm tình trạng hạ đường huyết

– Điều chỉnh chế độ liều để tránh hạ đường huyết thường xuyên hoặc hạ đường huyết không có triệu chứng

❖ Giám sát glucose máu

– Bệnh nhân sử dụng insulin, sulfonylurea, meglitinid: kiểm tra đường huyết khi có triệu chứng hạ đường huyết để xác nhận cần bổ sung carbohydrat, ghi nhận thông tin và báo cáo cho bác sĩ điều trị để điều chỉnh phác đồ cho phù hợp

Trang 28

– Bệnh nhân sử dụng phác đồ insulin linh hoạt: kiểm tra đường huyết trước mỗi bữa ăn, tính toán liều insulin và lượng carbohydrat tiêu thụ cho phù hợp

– Yêu cầu bệnh nhân ghi nồng độ đường huyết vào một quyển số theo dõi, bao gồm ngày, tháng và hoàn cảnh hạ đường huyết và xem xét mỗi lần đến khám

1.3 Một số nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.3.1 Các nghiên cứu về tỷ lệ hạ đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường

1.3.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Hạ đường huyết là một cấp cứu nội khoa thường gặp trên lâm sàng và là một trong những nguyên nhân gây tử vong ở cả bệnh nhân ĐTĐ typ 1 và typ 2 [17] Về

lý thuyết, hạ đường huyết có thể hạn chế tối đa khi sử dụng liều các thuốc hạ đường huyết vừa đủ, giúp đưa đường huyết về giá trị bình thường, do đó, làm giảm các biến chứng của bệnh ĐTĐ Tuy nhiên, việc duy trì nồng độ glucose máu tối ưu trong suốt quá trình điều trị của bệnh ĐTĐ trên thực tế rất phức tạp, hầu hết đều không đạt được

ở bệnh nhân ĐTĐ typ 1 [74] và nhiều bệnh nhân ĐTĐ typ 2 [50] Cần lưu ý rằng tỷ

lệ gặp hạ đường huyết được báo cáo thường thấp hơn thực tế vì khó xác định Việc phát hiện hạ đường huyết đòi hỏi phải đo đường huyết thường xuyên, liên tục vì nếu không, có thể bỏ sót các trường hợp hạ đường huyết không triệu chứng Hơn nữa, một số nghiên cứu cũng định nghĩa hạ đường huyết khác nhau và tiến hành theo phương pháp hồi cứu, do đó cản trở việc so sánh giữa các nghiên cứu [88] Mặc dù

hạ đường huyết nặng chỉ là một phần nhỏ trong tổng số ca hạ đường huyết, nhưng việc đánh giá hạ đường huyết nặng là đáng tin cậy nhất vì thường được ghi nhận Một nghiên cứu quan sát được tiến hành tại Anh trên 382 bệnh nhân ĐTĐ chỉ

ra rằng bệnh nhân điều trị bằng insulin có nguy cơ hạ đường huyết cao hơn nhiều so

Trang 29

với các phương pháp điều trị khác [76] Bằng chứng từ một vài nghiên cứu cho thấy khoảng 37 – 42% bệnh nhân ĐTĐ typ 1 có hạ đường huyết nặng ít nhất 1 lần trong quá trình điều trị [67], [73] và trên bệnh nhân ĐTĐ typ 2 sử dụng insulin thì tỷ lệ này khoảng 7 – 17% [20], [59] Tuy tần suất gặp hạ đường huyết được báo cáo là rất khác nhau giữa các nghiên cứu, nhưng thông thường, bệnh nhân ĐTĐ typ 1 gặp 2 cơn hạ đường huyết mỗi tuần và 1 lần hạ đường huyết nặng mỗi năm [35] Một nghiên cứu của Donnelly tiến hành ở Scotland năm 2005 trên 267 bệnh nhân ĐTĐ sử dụng insulin ghi nhận tỷ suất mới mắc hạ đường huyết ở bệnh nhân ĐTĐ typ 1 là 42,9 biến cố/ người – năm và ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 sử dụng insulin là 16,4 biến cố/ người – năm [40] Bên cạnh đó, nghiên cứu Hypos – 1 được tiến hành ở Ý trên 2023 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 ước tính xảy ra 0,09 biến cố hạ đường huyết nặng/ người – năm và 9,30 trường hợp xuất hiện triệu chứng hạ đường huyết/ người – năm [48]

1.3.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, hiện nay chưa có một nghiên cứu nào tìm hiểu về tỷ lệ bệnh nhân

hạ đường huyết trong điều trị ngoại trú mà chủ yếu đều tập trung vào đối tượng bệnh nhân đang điều trị nội trú hoặc nhập viện do hạ đường huyết

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Hằng và cộng sự năm 2012 – 2013 tại Bệnh viện đa khoa Đồng Nai ghi nhận có 17% bệnh nhân ĐTĐ phải nhập viện vì HĐH [11] Nghiên cứu của Lý Đại Lương được thực hiện vào năm 2007 tại khoa Nội tiết, Bệnh viện Chợ Rẫy trong vòng hơn 7 tháng đã ghi nhận 76 lượt nhập viện do HĐH [13], tăng cao hơn rất nhiều so với một nghiên cứu hồi cứu của Nguyễn Bích Phượng trong 3 năm (1995 – 1998) cũng tại khoa này với số ca HĐH là 64 ca [16]

1.3.2 Các nghiên cứu về kiến thức của bệnh nhân đái tháo đường về hạ đường huyết

1.3.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Theo một cuộc khảo sát được tiến hành bởi Hiệp hội Nội tiết Hoa Kỳ năm 2011 trên 2530 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 thì có 55% bệnh nhân đã gặp hạ đường huyết ít nhất

1 lần trong quá trình điều trị Nhưng quan trọng hơn, mặc dù nhiều bệnh nhân nhận

Trang 30

biết được các triệu chứng hạ đường huyết, như đổ mồ hôi, run, chóng mặt, nhưng lại không thể xác định được nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ [27]

Một cuộc khảo sát khác tiến hành bởi Hiệp hội giáo dục Đái tháo đường Hoa

Kỳ (AADE) năm 2014 trên 1000 bệnh nhân đang điều trị ĐTĐ typ 1 và typ 2 cho thấy 62% bệnh nhân quan tâm đến hạ đường huyết và 89% cho rằng đây là một vấn

đề sức khỏe Tuy nhiên, trong số những bệnh nhân không có tiền sử hạ đường huyết thì khoảng 42% bệnh nhân không thể xác định chính xác được nguyên nhân và gần một phần hai (49%) không ý thức được rằng uống viên đường có thể điều trị hạ đường huyết [22]

Nghiên cứu của Anthony Ejegi được tiến hành ở Nam Phi năm 2015 trên 200 bệnh nhân ĐTĐ cho thấy 50% bệnh nhân có kiến thức tốt về triệu chứng hạ đường huyết, tuy nhiên chỉ chưa đến một phần tư số bệnh nhân biết phải làm gì khi xuất hiện

hạ đường huyết [41] Một nghiên cứu khác được thực hiện ở Ethiopia năm 2012 trên

416 bệnh nhân ĐTĐ chỉ ra rằng chỉ có 25% bệnh nhân có kiến thức tốt và cũng chỉ khoảng 20% bệnh nhân có thực hành tốt về dự phòng hạ đường huyết [46]

1.3.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu của Trần Nguyệt Minh, Hồ Thị Kim Thanh trên 204 bệnh nhân ĐTĐ đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương năm 2011 ghi nhận có 40,2% bệnh nhân có kiến thức tốt về hạ đường huyết và 58,8% bệnh nhân thực hành tốt về dự phòng hạ đường huyết [14] Một nghiên cứu khác thực hiện vào năm 2013 – 2014 của Đoàn Thị Vân Anh trên 300 bệnh nhân ĐTĐ ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết trung ương Huế cho thấy cũng chỉ có 41,7% bệnh nhân có kiến thức tốt

về hạ đường huyết và 48,3% bệnh nhân có kỹ năng tốt về xử trí và dự phòng hạ đường huyết [1]

Vì vậy, có thể nói, hạ đường huyết mặc dù là biến cố rất thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ nhưng lại chưa thực sự được quan tâm đúng mức và cần thiết phải có một biện pháp giáo dục đầy đủ về hạ đường huyết cho bệnh nhân ĐTĐ đang điều trị

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bệnh viện E là bệnh viện đa khoa tuyến trung ương hiện đang chăm sóc và điều trị một số lượng lớn bệnh nhân ĐTĐ Tại đây, bệnh nhân ĐTĐ có thể được tư vấn và điều trị tại phòng khám ngoại trú hoặc bác sĩ chuyên khoa Toàn bộ bệnh nhân ĐTĐ điều trị ngoại trú đều được hưởng chế độ bảo hiểm Bệnh nhân được khám và đến lấy thuốc hàng tháng theo quy định

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân ĐTĐ đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện E trung ương từ tháng 01/12/2016 đến tháng 15/02/2017 và hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân này

Bảng 2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ của đối tượng nghiên cứu

– Có sức khỏe tâm thần bình thường và có khả năng giao tiếp và đối thoại trực tiếp

– Đồng ý tham gia nghiên cứu

– Toàn bộ các bệnh án ngoại trú của bệnh nhân đã được phỏng vấn

Tiêu chuẩn

loại trừ

– Có mắc kèm các bệnh khác trực tiếp gây hạ đường huyết như suy gan nặng, suy gan kèm nhiễm trùng nặng, suy thượng thận, suy giáp hoặc có u tiết insulinom

– Bệnh án của bệnh nhân không được kê đơn thuốc điều trị ĐTĐ trong vòng 1 tháng trước hoặc không có thông tin thuốc được kê đơn tháng trước

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 32

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang thông qua phỏng vấn và thu thập thông tin hồ sơ bệnh án của bệnh nhân ĐTĐ điều trị ngoại trú tại Bệnh viện E

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và quy trình thu thập dữ liệu

Bệnh nhân tham gia nghiên cứu được chọn thuận tiện, không xác suất, thu nhận toàn bộ các bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ Quy trình thu thập

số liệu được trình bày trong Hình 2.1

Hình 2.1 Sơ đồ quy trình thu thập dữ liệu

Sau khi bệnh nhân nhận thuốc tại phòng cấp phát thuốc bảo hiểm, chúng tôi ghi nhận những bệnh nhân ≥18 tuổi và được chẩn đoán ĐTĐ, bao gồm ĐTĐ typ 1 và ĐTĐ typ 2 Tất cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều phải đồng ý bằng lời nói trước khi bắt đầu phỏng vấn Quy trình thu thâp dữ liệu được chia thành 2 bước chính, bao gồm: phỏng vấn bệnh nhân (sử dụng bộ công cụ được trình bày trong phụ lục 1a, phụ lục 2, phụ lục 3) và thu thập thông tin trong bệnh án ngoại trú (sử dụng bộ công

cụ được trình bày trong phụ lục 1b) Toàn bộ thông tin của bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ của cả đối tượng bệnh nhân và bệnh án sẽ được

xử lý và phân tích Tổng cộng có 228 bệnh nhân ĐTĐ điều trị từ tháng 01/12/2016

(Phụ lục 2)

Thu thập thông tin của BN qua phỏng vấn

(Phụ lục 1a)

Thu thập thông tin trong bệnh án

(Phụ lục 1b)

Phỏng vấn BN

về tình hình hạ đường huyết

(Phụ lục 3)

Xử lý số liệu

Trang 33

đến tháng 15/02/2017 phù hợp và được phân tích Quy trình lựa chọn bệnh nhân phân tích được trình bày trong Hình 2.2

Hình 2.2 Sơ đồ lựa chọn bệnh nhân phân tích

Các nghiên cứu viên tham gia hỗ trợ đều được đào tạo về các kiến thức cơ bản, quyền của người tham gia phỏng vấn và kỹ thuật phỏng vấn của nghiên cứu Bệnh nhân được giải thích rõ ràng về mục đích của nghiên cứu và việc phỏng vấn bệnh nhân chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của đối tượng tham gia Tất cả thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu đều được bảo mật và mã hóa Các số liệu thu thập được chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu và không phục vụ cho mục đích nào khác

2.2.3 Công cụ nghiên cứu

Phiếu thu thập thông tin chung về đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm lâm sàng, bao gồm: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thông tin về bệnh ĐTĐ (loại ĐTĐ, thời gian mắc bệnh, tiền sử gia đình, phác đồ điều trị) và một số chỉ số (chiều cao, cân nặng, HbA1c trong 3 tháng gần đây) (Phụ lục 1)

249 bệnh nhân phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn và được phỏng vấn

2 bệnh nhân tháng trước không

được sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ

11 bệnh nhân không tìm được

bệnh án

0 bệnh nhân mắc kèm các bệnh trực tiếp gây hạ đường huyết

4 bệnh nhân không có thông tin thuốc sử dụng tháng trước

4 bệnh nhân phỏng vấn 2 lần

228 bệnh nhân được phân tích

Trang 34

Biến chứng ĐTĐ của bệnh nhân tham gia nghiên cứu được xác định dựa theo chẩn đoán của bác sĩ trong bệnh án, bao gồm các biến chứng mạn tính thường gặp nhất tại Việt Nam: biến chứng mắt, biến chứng thận và biến chứng thần kinh ngoại biên [5]

Bệnh nhân được coi là có trình độ dưới phổ thông khi chỉ học đến lớp 9 theo hệ

12 năm hoặc chỉ học đến lớp 7 theo hệ 10 năm Bệnh nhân có trình độ phổ thông và trên phổ thông khi học ít nhất đến lớp 10 theo hệ 12 năm hoặc ít nhất đến lớp 8 theo

hệ 10 năm

Kiến thức của bệnh nhân ĐTĐ về hạ đường huyết được khảo sát bằng bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên nghiên cứu của Shriraam và các cộng sự đã được tiến hành ở Ấn Độ vào năm 2015 [71] Bộ câu hỏi gồm 8 câu, khảo sát kiến thức của bệnh nhân ĐTĐ về phương pháp kiểm tra hạ đường huyết, các triệu chứng hạ đường huyết (cả triệu chứng thần kinh tự chủ và triệu chứng thần kinh trung ương), nguyên nhân, cách tự xử trí, hậu quả, biện pháp dự phòng hạ đường huyết và nguồn thông tin bệnh nhân tìm hiểu (Phụ lục 2) So với bộ câu hỏi của Shriraam, bộ câu hỏi của nghiên cứu chúng tôi giữ nguyên các câu hỏi và câu trả lời về triệu chứng, nguyên nhân, hậu quả, biện pháp xử trí (câu 1.3, 1.4, 1.5, 1.6) Bộ câu hỏi của chúng tôi có bổ sung câu hỏi

về phương pháp kiểm tra hạ đường huyết (câu 1.1, 1.2) Nguyên nhân do các tài liệu chung về hạ đường huyết đều yêu cầu kiểm tra đường huyết trước khi xử trí HĐH, nhằm hạn chế các trường hợp giả hạ đường huyết và xử trí hạ đường huyết quá mức Tuy nhiên, việc kiểm tra đường huyết này trên thực tế có thể khó thực hiện, do vậy, kết quả này chúng tôi chỉ nhằm mục đích tìm hiểu thêm thông tin mà không đánh giá kiến thức về hạ đường huyết của bệnh nhân Nghiên cứu của chúng tôi cũng bổ sung một số câu trả lời của câu hỏi về biện pháp dự phòng hạ đường huyết (câu 1.7) do nhận thấy các câu trả lời chưa đầy đủ, dựa theo hướng dẫn của ADA, Hiệp hội Nội tiết Hoa Kỳ [70] và theo nghiên cứu của Girma Nega Gezie được tiến hành tại Ethiopia vào năm 2012 [46] Đồng thời, nghiên cứu chúng tôi cũng thay đổi một số câu trả lời của câu hỏi nguồn thông tin bệnh nhân tìm hiểu về hạ đường huyết (câu 1.8) do trong quá trình phỏng vấn thử chúng tôi ghi nhận thêm một số câu trả lời khác

Trang 35

với bộ câu hỏi nghiên cứu của Shriraam Đối với mỗi câu hỏi, nhiều đáp án được đưa

ra, bệnh nhân được yêu cầu trả lời “có” hoặc “không” Nhiều câu trả lời đều được chấp nhận

Khảo sát tỷ lệ gặp, thực hành xử trí và dự phòng hạ đường huyết trên bệnh nhân ĐTĐ sử dụng công cụ là bộ câu hỏi về tình hình hạ đường huyết trên bệnh nhân trong

4 tuần vừa qua (Phụ lục 3) Bộ câu hỏi gồm 8 câu, bao gồm các câu hỏi về phương pháp kiểm tra, triệu chứng hạ đường huyết đã gặp và tần suất gặp, thời điểm gặp, cách xử trí và biện pháp dự phòng Bộ câu hỏi được xây dựng dựa vào các tài liệu chung về hạ đường huyết và bộ câu hỏi của cuộc khảo sát tiến hành bởi Viện dinh dưỡng và Tổ chức hỗ trợ hạ đường huyết [75], tuy nhiên có điều chỉnh để phù hợp với thời gian phỏng vấn và mục đích nghiên cứu Các câu trả lời về biện pháp dự phòng hạ đường huyết cũng được xây dựng dựa theo hướng dẫn của ADA, Hiệp hội Nội tiết Hoa Kỳ [70] và nghiên cứu của Girma Nega Gezie [46] Đối với các câu hỏi

về số lần hạ đường huyết, triệu chứng đã gặp, thời điểm gặp và biện pháp xử trí (câu 2.1 – 2.7), bệnh nhân được hỏi từng câu dạng câu hỏi mở và các câu trả lời đều được ghi lại Mỗi câu hỏi đều có các câu trả lời giả định giúp chúng tôi rút ngắn thời gian phỏng vấn cũng như giảm thời gian phân tích số liệu Bệnh nhân có hoặc không có triệu chứng hạ đường huyết trong 4 tuần vừa qua đều được phỏng vấn về các biện pháp dự phòng hạ đường huyết đã thực hiện (câu 2.8) Đối với câu hỏi này, các đáp

án được đưa ra và bệnh nhân được yêu cầu trả lời “có” hoặc “không”, kèm theo thời gian tập thể dục hàng ngày của bệnh nhân

Trước khi bắt đầu nghiên cứu, bộ câu hỏi được thử nghiệm với 16 bệnh nhân Các kết quả này chỉ có ý nghĩa thử nghiệm, chỉnh sửa nội dung bộ công cụ cho phù hợp và không được đưa vào nghiên cứu Đối với mỗi bệnh nhân, bộ câu hỏi mất khoảng 10 – 15 phút để hoàn thành Danh sách các bệnh nhân đã hoàn thành bộ câu hỏi được lưu lại để đảm bảo không có bệnh nhân nào tham gia nhiều hơn một lần (Phụ lục 4)

Trang 36

2.2.4 Phương pháp đánh giá

2.2.4.1 Đánh giá kiến thức chung về hạ đường huyết trên bệnh nhân ĐTĐ

Chúng tôi đánh giá kiến thức của bệnh nhân ĐTĐ về biến cố hạ đường huyết dựa theo nghiên cứu của Shriraam [71] Bệnh nhân biết ít nhất 3 triệu chứng hạ đường huyết (3 câu trả lời “có” của câu hỏi 1.3) được coi là đạt về kiến thức triệu chứng, bệnh nhân biết ít nhất 1 nguyên nhân (1 câu trả lời “có” của câu hỏi 1.4) được coi là đạt về kiến thức nguyên nhân và bệnh nhân biết ít nhất 1 biện pháp tự xử trí đúng (1 câu trả lời “có” của câu hỏi 1.5) thì được coi là đạt về kiến thức xử trí hạ đường huyết Bệnh nhân có kiến thức chung tốt về hạ đường huyết khi đạt cả 3 kiến thức về triệu chứng, nguyên nhân và biện pháp xử trí

2.2.4.2 Đánh giá bệnh nhân có triệu chứng HĐH và phân loại HĐH

Bệnh nhân có triệu chứng của hạ đường huyết được quy ước là bệnh nhân có xuất hiện các triệu chứng tự chủ hoặc triệu chứng thần kinh trung ương của hạ đường huyết và các triệu chứng này mất đi khi được bổ sung carbohyrat Đối với các trường hợp có triệu chứng hạ đường huyết trong 1 tháng trước, chúng tôi đánh giá các mức

độ hạ đường huyết theo triệu chứng lâm sàng và khả năng tự điều trị theo Hướng dẫn của Hiệp hội ĐTĐ Canada (CDA) và Hướng dẫn của Bệnh viện Bạch Mai như sau [2], [29]:

Bảng 2.2 Phân loại mức độ hạ đường huyết

Phân loại HĐH Triệu chứng lâm sàng Khả năng tự điều trị Nhẹ Bệnh nhân tỉnh, có triệu chứng thần

kinh tự chủ (run tay, đói cồn cào, nhịp tim nhanh…)

Có khả năng tự điều trị

Trung bình Bệnh nhân có triệu chứng thần kinh

trung ương thiếu glucose (nhìn mờ, giảm khả năng tập trung, lơ mơ…)

Trang 37

2.2.4.3 Đánh giá thực hành dự phòng hạ đường huyết

Bệnh nhân được đánh giá thực hành tốt về dự phòng hạ đường huyết là khi bệnh nhân thực hiện ít nhất 4/7 biện pháp dự phòng hạ đường huyết (4 câu trả lời “có” ở câu hỏi 2.8), trong đó thường xuyên tập thể dục là khi bệnh nhân tập luyện ít nhất 30 phút mỗi ngày, theo hướng dẫn về chế độ tập luyện cho bệnh nhân ĐTĐ [19]

2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu thập được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 Đối với tất

cả các kết quả, giá trị p có ý nghĩa thống kê khi < 0,05

Đối với các kết quả được thống kê mô tả: các biến liên tục được biểu diễn là giá trị trung bình và độ lệch chuẩn (nếu là phân phối chuẩn) hoặc trung vị và khoảng tứ phân vị (nếu là phân phối không chuẩn) Các biến phân hạng được biểu diễn dưới dạng tỷ lệ

Phân tích mức độ ảnh hưởng một số yếu tố đến kiến thức tốt của bệnh nhân về

hạ đường huyết bằng phương pháp hồi quy logistic đơn biến và đa biến Các yếu tố này đều được ghi nhận có ảnh hưởng đến kiến thức của bệnh nhân về hạ đường huyết trong các nghiên cứu khác hoặc chưa được ghi nhận nhưng có thể có ý nghĩa lâm sàng, bao gồm: tuổi, giới, trình độ học vấn, tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ, thời gian mắc ĐTĐ, phác đồ điều trị, biến chứng và sự tư vấn của bác sĩ về hạ đường huyết Các yếu tố được đưa vào trong mô hình đa biến đều không có đa cộng tuyến, tương tác và được hiệu chỉnh bằng các yếu tố nhân khẩu học (tuổi, giới tính) Chúng tôi sử dụng phương pháp BACKWARD để lựa chọn mô hình đa biến đơn giản nhất nhưng đầy đủ nhất Giá trị tỷ suất chênh (OR) và khoảng tin cậy 95% (95% CI) được tính để đánh giá mức độ ảnh hưởng và ý nghĩa thống kê

Đánh giá mối liên quan giữa kiến thức chung về hạ đường huyết và tiền sử hạ đường huyết, thực hành dự phòng hạ đường huyết bằng kiểm định Chi bình phương Giá trị tỷ suất chênh (OR) và khoảng tin cậy 95% (95% CI) cũng được tính để đánh giá mối liên quan và ý nghĩa thống kê

Trang 38

2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.4.1 Một số đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

– Một số đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu bao gồm: tỷ lệ bệnh nhân theo các nhóm giới tính, trình độ học vấn, loại ĐTĐ, thời gian mắc bệnh ĐTĐ, tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ, biến chứng; trung bình hoặc trung vị của các yếu tố: tuổi (năm), HbA1c (%), BMI (kg/m2)

– Một số đặc điểm về thuốc điều trị ĐTĐ được kê đơn bao gồm: tỷ lệ bệnh nhân theo các nhóm thuốc điều trị ĐTĐ được kê đơn, tỷ lệ bệnh nhân theo các mức liều sulfonylurea sử dụng hàng ngày

2.4.2 Đặc điểm kiến thức của bệnh nhân về hạ đường huyết

– Tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức về triệu chứng, biện pháp kiểm tra, nguyên nhân, hậu quả, cách xử trí và dự phòng biến cố hạ đường huyết

– Tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức chung tốt về hạ đường huyết

– Tỷ lệ các nguồn cung cấp thông tin về hạ đường huyết cho bệnh nhân ĐTĐ

2.4.3 Đặc điểm về tình hình hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường

– Tỷ lệ bệnh nhân gặp triệu chứng hạ đường huyết theo biện pháp kiểm tra (có hoặc không có kiểm tra đường huyết)

– Tỷ lệ bệnh nhân theo các mức độ hạ đường huyết

– Tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng hạ đường huyết theo thời điểm xuất hiện – Tỷ lệ bệnh nhân thực hành các biện pháp xử trí hạ đường huyết

– Tỷ lệ bệnh nhân thực hành các biện pháp dự phòng hạ đường huyết

– Tỷ lệ bệnh nhân thực hành tốt về dự phòng hạ đường huyết

2.4.4 Bước đầu phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức chung về hạ đường huyết của bệnh nhân đái tháo đường

– Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố giới tính, tuổi, trình độ học vấn, tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ, thời gian mắc bệnh, phác đồ điều trị, biến chứng ĐTĐ và sự tư vấn của bác sĩ đến kiến thức tốt về hạ đường huyết trên bệnh nhân ĐTĐ

Trang 39

– Mối liên quan giữa kiến thức chung và thực hành dự phòng hạ đường huyết trên bệnh nhân ĐTĐ

– Mối liên quan giữa kiến thức chung và tiền sử hạ đường huyết trong 1 tháng gần đây trên bệnh nhân ĐTĐ

Trang 40

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 3.1 Đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

Tổng cộng có 228 bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu được trình bày trong bảng 3.1

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

Ngày đăng: 12/10/2017, 12:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đoàn Thị Vân Anh (2014), Nghiên cứu kiến thức, thái độ và kỹ năng về biến chứng hạ glucose máu ở bệnh nhân đái tháo đường đang điều trị ngoại trú tại phòng khám ngoại trú Nội tiết Bệnh viện Trung ương Huế, Khóa luận tốt nghiệp Dược sĩ, Trường Đại học Y Dược Huế, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kiến thức, thái độ và kỹ năng về biến chứng hạ glucose máu ở bệnh nhân đái tháo đường đang điều trị ngoại trú tại phòng khám ngoại trú Nội tiết Bệnh viện Trung ương Huế
Tác giả: Đoàn Thị Vân Anh
Năm: 2014
2. Bệnh viện Bạch Mai (2015), "Cấp cứu hạ đường huyết", Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh nội khoa, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 36-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấp cứu hạ đường huyết
Tác giả: Bệnh viện Bạch Mai
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2015
3. Bệnh viện Nội tiết Trung ương (2015), Chẩn đoán - xử trí một số bệnh nội tiết - chuyển hóa, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 21-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán - xử trí một số bệnh nội tiết - chuyển hóa
Tác giả: Bệnh viện Nội tiết Trung ương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2015
4. Bệnh viện Nội tiết Trung ương (2013), "Báo cáo kết quả sơ bộ hoạt động điều tra lập bản đồ dịch tễ học bệnh đái tháo đường toàn quốc năm 2012", Báo cáo Hội nghị tổng kết hoạt động của Dự án phòng chống đái tháo đường năm 2012 và triển khai kế hoạch năm 2013, tr. 17-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả sơ bộ hoạt động điều tra lập bản đồ dịch tễ học bệnh đái tháo đường toàn quốc năm 2012
Tác giả: Bệnh viện Nội tiết Trung ương
Năm: 2013
5. Beran David và cộng sự (2008), "Báo cáo về tình hình tại Hà Nội và khu vực phía Bắc Việt Nam", Báo cáo chương trình đánh giá nhanh tình hình tiếp cận insulin tại Việt Nam năm 2008, tr. 1-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tình hình tại Hà Nội và khu vực phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Beran David và cộng sự
Năm: 2008
6. Tạ Văn Bình (2006), Dịch tễ học bệnh đái tháo đường ở Việt Nam: Các phương pháp điều trị và biện pháp dự phòng, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.37-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học bệnh đái tháo đường ở Việt Nam: Các phương pháp điều trị và biện pháp dự phòng
Tác giả: Tạ Văn Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
7. Tạ Văn Bình (2003), Dịch tễ học bệnh đái tháo đường, các yếu tố nguy cơ và các vấn đề liên quan đến quản lý bệnh đái tháo đường tại khu vực nội thành 4 thành phố lớn, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học bệnh đái tháo đường, các yếu tố nguy cơ và các vấn đề liên quan đến quản lý bệnh đái tháo đường tại khu vực nội thành 4 thành phố lớn
Tác giả: Tạ Văn Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2003
8. Bộ Y Tế (2016), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh nội tiết - chuyển hóa, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 174-237 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh nội tiết - chuyển hóa
Tác giả: Bộ Y Tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2016
9. Dương Đình Chỉnh, Ngô Đức Kỷ (2015), "Tìm hiểu kiến thức, thái độ và thực hành của bệnh nhân Đái tháo đường type 2 tại Khoa Nội tiết Bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An", Tạp chí Y học thực hành, số 6, tr. 6-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu kiến thức, thái độ và thực hành của bệnh nhân Đái tháo đường type 2 tại Khoa Nội tiết Bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An
Tác giả: Dương Đình Chỉnh, Ngô Đức Kỷ
Năm: 2015
10. Đỗ Thị Ngọc Diệp và cộng sự (2014), "Dịch tễ học bệnh đái tháo đường tại TP.HCM và một số yếu tố liên quan", Tạp chí dinh dưỡng và thực phẩm, tập 10, số 4, tr. 1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học bệnh đái tháo đường tại TP.HCM và một số yếu tố liên quan
Tác giả: Đỗ Thị Ngọc Diệp và cộng sự
Năm: 2014
11. Nguyễn Thị Thúy Hằng (2016), "Tình hình hạ đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường đang điều trị", Trung tâm truyền thông - giáo dục sức khỏe Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình hạ đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường đang điều trị
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Hằng
Năm: 2016
12. Hoàng Thị Kim Huyền, J.R.B.J. Brounwers (2014), "Đái tháo đường", Dược lâm sàng - Những nguyên lý cơ bản và sử dụng thuốc trong điều trị, tập 2, Trường Đại học Dược Hà Nội, Hà Nội, tr. 265-288 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đái tháo đường
Tác giả: Hoàng Thị Kim Huyền, J.R.B.J. Brounwers
Năm: 2014
13. Lý Đại Lương, Nguyễn Thy Khuê (2011), "Các yếu tố gây hạ đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường và tình trạng sống còn sau ba năm theo dõi", Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh, số 15, tr. 1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố gây hạ đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường và tình trạng sống còn sau ba năm theo dõi
Tác giả: Lý Đại Lương, Nguyễn Thy Khuê
Năm: 2011
14. Trần Nguyệt Minh, Hồ Thị Kim Thanh (2012), "Đánh giá, kiến thức, thực hành phòng chống biến chứng hạ đường huyết của bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Lão khoa trung ương", Tạp chí Y học thực hành, số 818-819, tr.97-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá, kiến thức, thực hành phòng chống biến chứng hạ đường huyết của bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Lão khoa trung ương
Tác giả: Trần Nguyệt Minh, Hồ Thị Kim Thanh
Năm: 2012
15. Trần Chiêu Phong, Lê Hồng Ninh (2006), "Kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng biến chứng đái tháo đường của bệnh nhân đái tháo đường tại Trung tâm Y tế quận I, thành phố Hồ Chí Minh", Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh, tập 10, số 1, tr. 1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng biến chứng đái tháo đường của bệnh nhân đái tháo đường tại Trung tâm Y tế quận I, thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Chiêu Phong, Lê Hồng Ninh
Năm: 2006
16. Nguyễn Bích Phượng, Nguyễn Thy Khuê (2001), “Một số nhận xét về tình hình hạ đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện Chợ Rẫy”, Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh, tập 5, tr. 141-147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về tình hình hạ đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện Chợ Rẫy”, "Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Bích Phượng, Nguyễn Thy Khuê
Năm: 2001
17. Đỗ Trung Quân (2015), Chẩn đoán đái tháo đường và điều trị, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr. 457-468 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán đái tháo đường và điều trị
Tác giả: Đỗ Trung Quân
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2015
18. Đỗ Trung Quân, Vũ Thị Thanh Huyền (2002), “Bước đầu tìm hiểu các đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường”, Tạp chí Y học thực hành, số 11, tr. 39-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu các đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường”, "Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Đỗ Trung Quân, Vũ Thị Thanh Huyền
Năm: 2002
19. Nguyễn Khoa Diệu Vân (2012), "Đái tháo đường", Bệnh học Nội khoa, tập 2, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 322-346.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đái tháo đường
Tác giả: Nguyễn Khoa Diệu Vân
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2012
20. Akram K., Pedersen-Bjergaard U., et al. (2006), "Frequency and risk factors of severe hypoglycaemia in insulin-treated Type 2 diabetes: a cross-sectional survey", Diabet Med, 23(7), pp. 750-756 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Frequency and risk factors of severe hypoglycaemia in insulin-treated Type 2 diabetes: a cross-sectional survey
Tác giả: Akram K., Pedersen-Bjergaard U., et al
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w