1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện nguyễn tri phương năm 2017

125 80 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 3,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng trên thực tế việc tuân thủ điều trị của người bệnh chưa cao, vì vậy nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị tuân thủ dùng thuốc, tuân thủ dinh dưỡng, tuân t

Trang 1

BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

Mã số: <Mã số đề tài>

Chủ nhiệm đề tài: BS Lê Thị Nhật Lệ

ThS Lê Nữ Thanh Uyên

Tp Hồ Chí Minh, 3/2018

Trang 2

BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

Mã số: <Mã số đề tài>

Chủ nhiệm đề tài

(ký, họ tên)

Tp Hồ Chí Minh, 3/2018

Trang 3

THÀNH VIÊN THAM GIA

1 BS Lê Thị Nhật Lệ

2 ThS Lê Nữ Thanh Uyên

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG ii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

DÀN Ý NGHIÊN CỨU 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 5

1.1 Các khái niệm 5

1.2 Điều trị đái tháo thường type 2 7

1.3 Các thang đo đánh giá tuân thủ điều trị đái tháo đường 11

1.4 Một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị đái tháo đường 15

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Thiết kế nghiên cứu 23

2.2 Đối tượng nghiên cứu: 23

2.3 Liệt kê và định nghĩa biến số 25

2.4 Dàn ý liên hệ giữa các biến số 37

2.5 Thu thập dữ kiện 38

2.6 Phân tích dữ kiện 39

2.7 Vấn đề Y đức 40

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 41

3.1 Các đặc tính nền của mẫu nghiên cứu 41

3.2 Tuân thủ dùng thuốc 46

3.3 Tuân thủ hoạt động thể lực 48

Trang 5

3.4 Tuân thủ dinh dưỡng 49

3.5 Tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ 50

3.6 Mối liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc với đặc điểm của mẫu nghiên cứu 52

3.7 Mối liên quan giữa tuân thủ HĐTL với đặc điểm của mẫu nghiên cứu 57

3.8 Mối liên quan giữa tuân thủ dinh dưỡng với đặc điểm của mẫu nghiên cứu 62

3.9 Mối liên quan giữa tuân thủ KSĐH&KSKĐK với đặc điểm mẫu nghiên cứu 67

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 72

4.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 72

4.2 Tuân thủ điều trị đái tháo đường 76

4.3 Mối liên quan giữa tuân thủ điều trị với đặc điểm của mẫu nghiên cứu 82

4.4 Điểm mạnh và điểm hạn chế của nghiên cứu 90

4.5 Điểm mới và tính ứng dụng của nghiên cứu 91

KẾT LUẬN 93

ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Hoa Kỳ

quốc tế

IPAQ International physical Activity questionnaire: bộ câu hỏi hoạt

động thể chất

IPAQ-SF International physical Activity questionnaire-short version: bộ

câu hỏi hoạt động thể chất phiên bản ngắn

KSĐH&KSKĐK Kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ

MCQ Medication Compliance Questionnaire: thang đo tuân thủ

dùng thuốc

MET Metabolic equivalent Task: đơn vị chuyển hóa tương đương

MMAS Morisky Medication Adherence Scale: thang đo tuân thủ dùng

thuốc Morisky

PPAQ Pregnancy physical Activity questionnaire: bộ câu hỏi hoạt

động thể chất trong thai kỳ

SCSDA The Summary of Diabetes Self-care Activity: thang đo hoạt

động tự quản lý đái tháo đường

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Các chỉ số cần kiểm soát trong đái tháo đường type 2 8

Bảng 3.1 Các đặc điểm dân số của mẫu nghiên cứu (n=257) 41

Bảng 3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của mẫu nghiên cứu (n=257) 42

Bảng 3.3 Đặc điểm thời gian bệnh lý (n=257) 44

Bảng 3.4 Các bệnh mãn tính đi kèm của bệnh nhân (n=257) 45

Bảng 3.5 Đặc điểm dùng thuốc của mẫu nghiên cứu (n=257) 46

Bảng 3.6 Mô tả tuân thủ dùng thuốc theo thang đo MCQ 47

Bảng 3.7 Đặc điểm tuân thủ hoạt động thể lực của mẫu nghiên cứu (n=257) 48

Bảng 3.8 Mô tả tuân thủ hoạt động thể lực của mẫu nghiên cứu (n=257) 49

Bảng 3.9 Đặc điểm tuân thủ dinh dưỡng của mẫu nghiên cứu (n=257) 49

Bảng 3.10 Mô tả tuân thủ dinh dưỡng theo thang đo SDSCA 50

Bảng 3.11 Đặc điểm tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ 50

Bảng 3.12 Mô tả tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ 51

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc với đặc điểm dân số (n=257) 52

Bảng 3.14 Mối liên quan tuân thủ dùng thuốc với đặc điểm kinh tế xã hội (n=257) 53

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc với thời gian bệnh lý (n=257) 55

Bảng 3.16 Mối liên quan tuân thủ dùng thuốc với bệnh lý đi kèm theo kết quả ghi nhận từ sổ khám bệnh (n=257) 56

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tuân thủ HĐTL với đặc điểm dân số (n=257) 57

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa tuân thủ HĐTL với đặc điểm kinh tế xã hội (n=257) 58 Bảng 3.19 Mối liên quan giữa tuân thủ HĐTL với thời gian bệnh lý (n=257) 60

Trang 8

Bảng 3.20 Mối liên quan giữa tuân thủ HĐTL với bệnh lý đi kèm theo kết quả ghi nhận

từ sổ khám bệnh (n=257) 61Bảng 3.21 Mối liên quan giữa tuân thủ dinh dưỡng với đặc điểm dân số (n=257) 62Bảng 3.22 Mối liên quan tuân thủ dinh dưỡng với đặc điểm kinh tế xã hội (n=257) 63Bảng 3.23 Mối liên quan giữa tuân thủ dinh dưỡng với thời gian bệnh lý (n=257) 65Bảng 3.24 Mối liên quan giữa tuân thủ dinh dưỡng với bệnh lý đi kèm theo kết quả ghi nhận từ sổ khám bệnh (n=257) 66Bảng 3.25 Mối liên quan tuân thủ KSĐH&KSKĐK với đặc điểm dân số (n=257) 67Bảng 3.26 Mối liên quan tuân thủ KSĐH&KSKĐK với đặc điểm kinh tế xã hội (n=257) 68Bảng 3.27 Mối liên quan tuân thủ KSĐH&KSKĐK với thời gian bệnh lý (n=257) 70Bảng 3.28 Mối liên quan tuân thủ KSĐH&KSKĐK với bệnh lý đi kèm theo kết quả ghi nhận từ sổ khám bệnh (n=257) 71

Trang 9

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường type

2 điều trị ngoại trú tạ bệnh viện Nguyễn Tri Phương năm 2107

- Thời gian thực hiện: 05/03/2017 – 05/03/2018

2 Mục tiêu: Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị

ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương TP Hồ Chí

Minh

3 Nội dung chính: Đái tháo đường là một bệnh mạn tính với số người mắc ngày càng

gia tăng để lại nhiều biến chứng nguy hiểm không những ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống mà còn tác động đáng kể đến chi phí chăm sóc y tế Nhưng trên thực tế việc tuân thủ điều trị của người bệnh chưa cao, vì vậy nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị (tuân thủ dùng thuốc, tuân thủ dinh dưỡng, tuân thủ hoạt động thể lực, tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ) và các yếu tố liên quan

ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viên Nguyễn Tri Phương năm

2017 Nghiên cứu thực hiện trên 275 bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương kết quả cho thấy có 70,8% bệnh nhân tuân thủ dùng thuốc; 48,7% tuân thủ vận động thể lực; 40,5% tuân thủ dinh dưỡng; 26,1% tuân thủ kiểm soát

Trang 10

đường huyết và khám định kỳ Có mối liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc với giới tính, tình trạng kinh tế; giữa tuân thủ hoạt động thể lực với giới tính, nghề nghiệp và các bệnh

đi kèm như tăng huyết áp, khớp; giữa tuân thủ dinh dưỡng với nhóm tuổi, dân tộc, thời gian phát hiện và điều trị và bệnh tăng huyết áp; giữa tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ với giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn, thời gian phát hiện và điều trị và bệnh tăng huyết áp của bệnh nhân

4 Kết quả chính đạt được (khoa học, đào tạo, kinh tế-xã hội, ứng dụng, ):

 Về đào tạo (số lượng, chuyên ngành: trình độ BS/DS/CN, ThS, NCS…): s

 Công bố trên tạp chí trong nước và quốc tế : Tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viên Nguyễn Tri Phương năm 2017, Tạp chí Y học Tp Hồ Chí Minh, 2018

5 Hiệu quả kinh tế - xã hội do đề tài mang lại:

 Kết quả nghiên cứu được chuyển giao (Tên sản phẩm, tên đơn vị nhận chuyển giao, giá trị chuyển giao): Phòng khám nội tiết bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Khoa YTCC Đai học Y Dược TP Hồ Chí Minh

 Phạm vi và địa chỉ ứng dụng kết quả nghiên cứu (tên đơn vị ứng dụng kết quả nghiên cứu/tên bài giảng được trích dẫn kết quả NC sử dụng trong giảng dạy đại học và sau đại học): Phòng khám nội tiết bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Khoa YTCC Đai học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Trang 11

MỞ ĐẦU

Đái tháo đường là một bệnh mạn tính với số người mắc ngày càng gia tăng để lại nhiều biến chứng nguy hiểm không những ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống mà còn tác động đáng kể đến chi phí chăm sóc y tế Nhưng trên thực tế việc tuân thủ điều trị của người bệnh chưa cao, đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam nhằm đánh giá thực trạng tuân thủ điều trị cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân đặc trưng cho nhiều vùng kinh tế xã hội khác nhau nhưng đa số chỉ đánh giá từng khía cạnh của việc tuân thủ như dùng thuốc, chế độ dinh dưỡng, hoạt động thể lực hay kiểm soát đường huyết và khám định kỳ Nguyễn Tri Phương là bệnh viện có chuyên khoa nội tiết lớn tại TP Hồ Chí Minh, tỷ lệ người bệnh đến khám và điều trị ngày một gia tăng một phần do lối sống, chế độ dinh dưỡng cũng như dùng thuốc chưa được hợp lý nhưng lại chưa có nghiên cứu nào đánh giá tuân thủ điều trị của bệnh nhân Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh giá một cách toàn diện cả bốn khía cạnh để có một cái nhìn khách quan, tổng quát về thực trạng tuân thủ điều trị, xác định tỷ lệ tuân thủ (thuốc, dinh dưỡng, hoạt động thể lực, kiểm soát đường huyết và khám sức kỳ) và mối liên quan giữa tuân thủ điều trị với các đặc điểm dân số - kinh tế xã hội và các đặc điểm bệnh lý Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên 275 bênh nhân được chẩn đoán đái tháo đường type 2 từ 6 tháng trở lên và đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương vào thời điểm nghiên cứu (tháng 5 năm 2017) với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, thu thập số liệu bằng cách phỏng vấn mặt đối mặt dựa vào bộ câu hỏi soạn sẵn, một số thông tin sẽ được thu thập từ sổ khám bệnh của bênh nhân Từ đó xác định tỷ lệ tuân thủ giúp cán bộ y tế có cái nhìn tổng quát về thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân để đề

ra các biện pháp giáo dục sức khỏe, tập huấn cho nhân viên y tế, giúp bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt hơn, đạt mục tiêu kiểm soát đờưng huyết do Bộ y tế đề ra

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường là một bệnh mạn tính đặc trưng bởi sự tăng đường huyết cùng với rối loạn chuyển hóa đường, đạm, mỡ với số người mắc ngày một gia tăng, mang lại nhiều gánh nặng cho xã hội [98] Theo báo cáo của Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF), năm 2015 có 415 triệu người trưởng thành mắc bệnh làm tiêu tốn 673 triệu đô la cho chi phí chăm sóc và điều trị, chiếm 11,6% tổng chi tiêu y tế trên toàn thế giới, dự kiến đến năm 2040 có 642 triệu người mắc và làm tiêu tốn 802 triệu đô [61] Tổ chức y

tế thế giới (WHO) ước tính có khoảng 1,5 triệu ca tử vong do ĐTĐ gây ra trong năm

2012 và đã lên đến 1,6 triệu ca vào năm 2015, gần một nửa số ca tử vong do đường huyết cao xảy ra trước 70 tuổi WHO dự đoán rằng ĐTĐ sẽ là một trong 7 nguyên nhân gây

tử vong hàng đầu vào năm 2030 Hầu hết tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình với tỷ lệ chiếm hơn 80% [101, 105] ĐTĐ gây nhiều biến chứng như bệnh mạch vành, bệnh mạch máu ngoại biên, đột quỵ, thần kinh làm nặng thêm tình trạng bệnh, gánh nặng cho chi phí y tế và trở thành một trong những vấn đề sức khỏe khó khăn nhất trong thế kỉ 21 [31, 58, 98] ĐTĐ gây giảm tuổi thọ trung bình từ 5 đến

10 năm, là nguyên nhân hàng đầu gây mù loà, suy thận giai đoạn cuối và cắt cụt chi không do chấn thương Cứ 10 giây lại có một người chết do ĐTĐ và các biến chứng, cứ

30 giây lại có một người có biến chứng bàn chân bị cắt cụt chi [4, 31] ĐTĐ type 2 chiếm

đa số và tập trung chủ yếu ở những người từ 50 tuổi trở lên [86]

Việt Nam là một trong 21 quốc gia nằm trong khu vực Tây Thái Bình Dương với 3,5 triệu người mắc bệnh vào năm 2015, chiếm 5,6% dân số trưởng thành và chi phí điều trị cho mỗi bệnh nhân là 162,7 USD [57] Theo thống kê của IDF, năm 2012 Việt Nam có 3,2 triệu người mắc bệnh chiếm 5,4% dân số trưởng thành và đến năm 2013, tỷ lệ bệnh

đã lên đến 5,7% dân số, với tỷ lệ tăng từ 8% đến 10% năm Việt Nam trở thành quốc gia

có tỷ lệ bệnh gia tăng nhanh nhất thế giới [100] Thống kê trong 10 năm qua 2012) số người mắc bệnh ở nước ta tăng 211%, đáng chú ý là trên 60% số người mắc bệnh trong cộng đồng không được phát hiện, khi phát hiện thì đã có nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí là tử vong [7] Tỷ lệ mắc bệnh ở các thành phố lớn cao hơn khu

Trang 13

(2002-vực nông thôn [9, 15] Theo báo cáo của viện đái tháo đường và rối loạn chuyển hóa năm 2012, tình hình ĐTĐ ở ba thành phố lớn trên cả nước, trong đó TP HCM chiếm tỷ

lệ cao nhất với 2,68%, Hà Nội và Huế chiếm tỷ lệ lần lượt là 1,1% và 0,98% [22] Điều trị ĐTĐ ngoài việc tuân thủ chế độ dùng thuốc bệnh nhân còn phải tuân thủ chế độ ăn, vận động thể lực và kiểm soát đường huyết [98] Theo WHO, thuốc và thay đổi lối sống

là hai yếu tố vô cùng quan trọng để kiểm soát bệnh ĐTĐ type 2 [39] WHO đã chỉ ra rằng tuân thủ điều trị dài hạn đối với các bệnh mạn tính ở các nước phát triển trung bình chỉ khoảng 50% [39] Tỷ lệ tuân thủ thường giảm đối với bệnh nhân mắc bệnh mãn tính

so với những người có tình trạng cấp tính [78] Sự tuân thủ giảm đi không những ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống mà nó còn có tác động đáng kể đến chi phí chăm sóc y tế [39] Trên thực tế việc tuân thủ điều trị của người bệnh chưa cao, nghiên cứu của Lê Thị Hương Giang cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị rất thấp, chỉ đạt 10% [14] Theo tác giả Hoàng Thị Thu chỉ có 36% người bệnh tuân thủ toàn diện theo hướng dẫn của bác sĩ, 43% chỉ dùng thuốc mà không thay đổi lối sống, đặc biệt có đến 18% uống thuốc không thường xuyên và 3% bỏ thuốc hoặc chuyển điều trị đông y [21]

TP Hồ Chí Minh là một trong những thành phố phát triển về kinh tế xã hội lớn nhất

cả nước, nghiên cứu của Đỗ Thị Ngọc Diệp đã xác định tỷ lệ ĐTĐ ở TP HCM năm 2014

là 7% [13] Nguyễn Tri Phương là bệnh viện có chuyên khoa nội tiết lớn tại TP Hồ Chí Minh, tỷ lệ người bệnh đến khám và điều trị ngày một gia tăng một phần do lối sống, chế độ dinh dưỡng cũng như dùng thuốc chưa được hợp lý [2] Tuy nhiên lại chưa có nghiên cứu nào đánh giá tình trạng tuân thủ điều trị cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ở bệnh nhân Vì vậy đề tài “ Tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương năm 2017” nhằm xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh Từ đó giúp cán bộ y tế có cái nhìn tổng quát về thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân, để từ đó đề ra các biện pháp giáo dục sức khỏe, tập huấn cho nhân viên

y tế, giúp bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt hơn, đạt mục tiêu kiểm soát đường huyết do Bộ

y tế đề ra

Trang 14

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1 Tỷ lệ tuân thủ điều trị ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương TP Hồ Chí Minh là bao nhiêu ?

2 Có hay không mối liên quan giữa các đặc điểm dân số, kinh tế xã hội và bệnh lý với tuân thủ điều trị ở bệnh nhân Đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương TP Hồ Chí Minh ?

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

 Tỷ lệ tuân thủ dinh dưỡng

 Tỷ lệ tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ

2 Xác định mối liên quan giữa tuân thủ điều trị dùng thuốc, tuân thủ dinh dưỡng, tuân thủ hoạt động thể lực, tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương TP Hồ Chí Minh với các yếu tố:

 Các đặc điểm dân số - kinh tế xã hội: tuổi, giới, dân tộc, tôn giáo, nơi ở hiện tại, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, tình trạng chung sống, tình trạng kinh tế, tham gia bảo hiểm y tế

 Các đặc điểm bệnh lý: thời gian phát hiện bệnh, thời gian điều trị bệnh, các bệnh kèm theo (tăng huyết áp, tim mạch, thận, khớp và bệnh khác)

Trang 15

tế, tham gia bảo hiểm y tế)

ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ

(thời gian phát hiện bệnh, thời gian điều trị bệnh, các bệnh kèm theo (tăng huyết áp, tim mạch, thận, khớp và bệnh khác)

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Đái tháo đường

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), ĐTĐ là một hội chứng có biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc thiếu hoặc mất hoàn toàn insulin hoặc có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của insulin gây rối loạn và suy chức năng cho nhiều cơ quan khác như tim, mạch máu, mắt, thận và dây thần kinh [101]

1.1.2 Tuân thủ điều trị đái tháo đường

Theo các nhà nghiên cứu trên thế giới có nhiều khái niệm về tuân thủ điều trị và không

có một khái niệm chuẩn nào đầy đủ về tình trạng tuân thủ điều trị của người bệnh ĐTĐ Tuy nhiên khái niệm của WHO thường được các nhà nghiên cứu hay áp dụng đó là: “ Tuân thủ điều trị của người bệnh ĐTĐ là sự kết hợp của 4 biện pháp: chế độ dinh dưỡng, chế độ hoạt động thể lực, chế độ dùng thuốc, chế độ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ” [98]

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị của bệnh nhân

Tổ chức y tế thế giới (WHO) và Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) đã đề cập một

số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị của bệnh nhân [29, 98]

 Do thuốc điều trị : Người bệnh phải uống quá nhiều thuốc trong một ngày, đặc biệt với những người bệnh được điều trị bằng thuốc uống kết hợp với thuốc tiêm và phải dùng ít nhất 2 loại thuốc trở lên thì với số lượng thuốc và thời gian dùng thuốc kéo dài suốt đời, kèm theo tâm lý sợ đau khi tiêm là những rào cản lớn tác động đến sự tuân thủ

 Những hạn chế về chế độ ăn liên quan đến sử dụng thuốc: Thời điểm sử dụng nhiều loại thuốc điều trị có liên quan mật thiết tới bữa ăn: Có thuốc phải uống sau bữa ăn,

có thuốc phải uống xa bữa ăn Hơn nữa, một số thuốc điều trị còn yêu cầu người bệnh phải ngừng uống rượu bia, điều này sẽ gây ra khó khăn nhất định cho người bệnh

Trang 17

 Do thiếu hỗ trợ (gia đình, bạn bè): Sự hỗ trợ của người thân trong gia đình là yếu tố quan trọng đảm bảo việc tuân thủ của bệnh nhân Họ sẽ động viên, nhắc nhở giúp người bệnh uống đủ số lượng thuốc, đủ liều, đúng giờ và đo đường huyết thường xuyên Trên thực tế, nhiều người bệnh không thể tự mình đo đường huyết hoặc không

tự giác dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ, đặc biệt là người cao tuổi

 Do gánh nặng về tài chính: Quá trình mắc bệnh kéo dài, phải chi trả chi phí điều trị, trong khi người bệnh không có thu nhập (ở những người cao tuổi) sẽ là gánh nặng tài chính cho cả bệnh nhân và gia đình Khó khăn và thiếu thốn sẽ không đảm bảo sức khỏe thể chất và tinh thần dẫn đến chán nản và tuyệt vọng

 Do thời gian điều trị: WHO đã chỉ ra rằng tuân thủ điều trị dài hạn đối với các bệnh mạn tính ở các nước phát triển trung bình chỉ khoảng 50% [39] Tỷ lệ tuân thủ thường giảm đối với bệnh nhân mắc bệnh mãn tính so với những người có tình trạng cấp tính, giảm tuân thủ nhanh nhất sau 6 tháng điều trị [78]

1.1.4 Hậu quả của việc không tuân thủ điều trị:

Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường của Bộ y tế, không tuân thủ điều trị có thể dẫn đến các hậu quả sau [5]:

 Không kiểm soát được đường huyết

 Không ngăn ngừa được các biến chứng cấp tính

 Hạ glucose máu: là biến chứng thường do quá liều insulin gây nên, có thể do bệnh nhân nhịn đói hay do uống nhiều rượu, có thể dẫn đến hôn mê thậm chí tử vong

 Hôn mê nhiễm toan ceton: là một biến chứng nguy hiểm tức thời đến tính mạng người bệnh, do thiếu insulin đã gây ra những rối loạn chuyển hóa protein, lipit, carbohydrat Đây là một cấp cứu nội khoa cần phải được theo dõi, điều trị tích cực

 Các bệnh nhiễm trùng cấp

 Không ngăn ngừa được các biến chứng mạn tính [5]

 Biến chứng tim mạch: ĐTĐ làm tăng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim, đột quỵ, tai biến mạch máu não và mạch máu ngoại biên đưa đến đoạn chi

Trang 18

 Biến chứng tại mắt: nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa, giảm thị lực

 Biến chứng tại thận: là biến chứng mãn tính thường gặp của ĐTĐ, bệnh thận giai đoạn cuối, suy thận Cần chạy thận nhân tạo hay thẩm phân phúc mạc

 Biến chứng bàn chân: Loét bàn chân, cắt cụt chi dưới, hoại thư

 Biến chứng thần kinh: biến chứng thần kinh ngoại biên do ĐTĐ gây mất cảm giác

ở chân, tay hay dị cảm, tê, gây đau nhức, nhiễm trùng chân đưa đến đoạn chi

1.2 Điều trị đái tháo thường type 2

 Giảm cân nặng (với người béo) hoặc không tăng cân (với người không béo)

 Nguyên tắc cụ thể:

 Thuốc phải kết hợp với chế độ ăn uống và luyện tập Đây là bộ ba phương pháp điều trị đái tháo đường

 Phải phối hợp điều trị hạ glucose máu, điều chỉnh các rối loạn lipit, duy trì số đo huyết

áp hợp lý, phòng chống các rối loạn đông máu

 Khi cần phải dùng insulin (ví dụ trong các đợt cấp của bệnh mạn tính, bệnh nhiễm trùng, nhồi máu cơ tim, ung thư, phẫu thuật…)

1.2.2 Mục tiêu điều trị đái tháo đường type 2 [5]

Trang 19

Bảng 1.1 Các chỉ số cần kiểm soát trong đái tháo đường type 2

6,2 – 7,0 7,8 ≤ 10,0

* Người có biến chứng thận – từ mức có microalbumin niệu HA ≤ 125/75

** Người có tổn thương tim mạch LDL-c nên dưới 1,7 mmol/l (dưới 70mg/dl))

 Để đạt mục đích này cần dựa vào bốn loại hình quản lý đái tháo đường [5]:

 Quản lý dinh dưỡng bằng chế độ ăn hợp lý

 Tăng cường hoạt động thể lực thích hợp

 Điều trị bằng thuốc khi cần thiết theo chỉ dẫn của bác sỹ

 Người bệnh tự theo dõi đường huyết và đi khám định kỳ

1.2.3 Các biện pháp điều trị ĐTĐ type 2

1.2.3.1 Điều trị bằng chế độ dinh dưỡng hợp lý:

Chế độ ăn là vấn đề quan trọng nhất trong điều trị ĐTĐ với mục đích nhằm đảm bảo cung cấp đủ, cân bằng cả về số lượng và chất lượng các thành phần dinh dưỡng để có thể điều chỉnh tốt đường huyết, duy trì cân nặng theo mong muốn đảm bảo cho người bệnh có đủ sức khỏe hoạt động và công tác phù hợp với từng cá nhân [5] Năm 2017, ADA đưa ra khuyến cáo về chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân ĐTĐ như sau [31]:

Trang 20

 Carbohydrat (chất bột đường) lượng từ rau, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, đậu, sữa… lượng carbohydrat nên chiếm từ 50-60% năng lượng và tối thiểu phải cung cấp được 130g/ngày

 Protein (chất đạm): chiếm khoảng 15-20% nhu cầu năng lượng, với những bệnh nhân mắc đái tháo đường và bệnh thận lượng protein khuyến nghị là 0,8 g/kg/ngày

 Lipit (chất béo): nên chiếm <30% nhu cầu năng lượng trong đó chất béo bão hòa nên chiếm <7% năng lượng Hạn chế cholesterol <200mg/ngày

 Chất xơ: khuyến khích lựa chọn các loại thực phẩm nhiều chất xơ như các loại đậu, ngũ cốc (≥50% phải là ngũ cốc nguyên hạt),trái cây Hàm lượng chất xơ nên đạt 14g/1000 Kcal/ngày, nam nên đạt 38g/ngày và nữ là 25g/ngày

 Muối: đối với bệnh nhân đái tháo đường nên hạn chế lượng Natri ăn vào < 2,3g/ngày

 Rượu: người trưởng thành mắc bệnh tiểu đường nên uống một lượng với mức độ vừa phải (không nhiều hơn một đơn vị rượu đối với nữ và không quá hai đơn vị rượu đối với nam) Rủi ro liên quan đến tiêu thụ rượu như hạ đường huyết, tăng cân

1.2.3.2 Chế độ hoạt động thể lực

Hoạt động thể lực là một biện pháp điều trị quan trọng không thể thiếu, phải tuân thủ theo hướng dẫn Hoạt động thể lực phải phù hợp với tuổi, tình trạng sức khỏe cũng như bệnh lý của mỗi cá nhân Theo WHO mục đích của hoạt động thể lực ở bệnh nhân ĐTĐ type 2: tác dụng điều chỉnh glucose máu thông qua việc làm giảm tình trạng kháng insulin, giảm mức huyết áp và cholesterol, làm giảm nguy cơ tim mạch như nhồi máu

cơ tim, đột quỵ, kiểm soát cân nặng, giảm nguy cơ mắc các biến chứng Vì vậy để đạt được mục đích này, WHO và ADA khuyến cáo người bệnh ĐTĐ nên hoạt động thể lực thích hợp khi ít nhất 30 phút mỗi ngày, 150 phút mỗi tuần với cường độ trung bình hoặc

75 phút mỗi tuần với cường độ mạnh, tương đương với 600 MET phút/tuần Tất cả các

cá nhân bao gồm cả những người mắc bệnh ĐTĐ nên khuyến khích giảm khoảng thời

Trang 21

gian ngồi như làm việc với máy tính, xem tivi bằng cách chia nhỏ các đợt ngừng hoạt động khoảng 30 phút với đứng, đi bộ hoặc thực hiện các hoạt động ngoài trời [31, 102].

1.2.3.3 Chế độ dùng thuốc

Nguyên tắc dùng thuốc [5]

 Trường hợp bệnh mới được chẩn đoán, mức glucose máu thấp, chưa có biến chứng nên điều chỉnh bằng chế độ ăn, luyện tập, theo dõi sát trong 3-6 tháng; nếu không đạt mục tiêu điều trị phải xem xét sử dụng thuốc

 Dùng thuốc phải kết hợp với chế độ ăn và vận động thể lực

 Bên cạnh việc điều chỉnh lượng glucose máu phải đồng thời lưu ý cân bằng các thành phần lipit máu, các thông số về đông máu, duy trì số đo huyết áp

Mục đích điều trị dùng thuốc[5]

 Duy trì được lượng glucose máu khi đói, glucose máu sau ăn gần như mức độ sinh lý, đạt được mức HbA1c lý tưởng, nhằm giảm các biến chứng có liên quan, giảm tỷ lệ tử vong do đái tháo đường

 Giảm cân nặng (với người thừa cân, béo phì) hoặc duy trì cân nặng hợp lý.

1.2.3.4 Lịch theo dõi và các chỉ tiêu cần đánh giá của người bệnh ĐTĐ type 2 [5]

 Đường huyết đói: bệnh nhân nên theo dõi đường huyết ít nhất 2 lần/tuần

 HbA1C: là chỉ số đánh giá đường huyết trung bình trong 3 tháng, kiểm tra 3 tháng/lần

 Các chỉ số khác như lipit máu, chức năng gan, chức năng thận, microalbumin niệu: 3-6 tháng/lần

Trang 22

 Khám đáy mắt: Khám lâm sàng 6 tháng/lần với bệnh nhân đái tháo đường <5 năm

và 3 tháng/lần với bệnh nhân đái tháo đường >5 năm Chụp đáy mắt 6 tháng/lần tùy theo mức độ tổn thương lâm sàng

1.3 Các thang đo đánh giá tuân thủ điều trị đái tháo đường

Theo định nghĩa của WHO : “ Tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường là sự kết hợp của 4 biện pháp: chế độ dinh dưỡng, chế độ hoạt động thể lực, chế độ dùng thuốc, chế độ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ” [98]

1.3.1 Thang đo đánh giá tuân thủ dùng thuốc

Đã có nhiều phương pháp đánh giá tuân thủ dùng thuốc được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia như thang đo Morisky (MMAS: Morisky Medication Adherence Scale) gồm hai phiên bản MMAS-4 và MMAS-8 được nhiều tác giả áp dụng nhằm đánh giá tuân thủ dùng thuốc ở bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính như THA, ĐTĐ, loãng xương, động kinh với các mức độ thấp, trung bình, cao [28, 85, 89] Thang đo tóm tắt các hoạt động

tự chăm sóc bệnh đái tháo đường SDSCA (The Summary of Diabetes Self-care Activities) đo lường sự tuân thủ dùng thuốc hoặc insulin ở bệnh nhân bằng ba câu hỏi liên quan đến dùng thuốc [40], thang đo ARMS (The Adherence to Refills and Medication Scale) cũng là một công cụ đáng tin cậy để đánh giá sự tuân thủ dùng thuốc

ở các bệnh mãn tính [40], bảng câu hỏi nhanh về thuốc BMQ (Brief Medication Questionnaire) đánh giá trên ba lĩnh vực: phác đồ, niềm tin và ghi nhận ở bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính [40] Tuân thủ dùng thuốc còn được đánh giá bằng cách sử dụng một bảng câu hỏi đã được kiểm chứng MCQ (Medication Compliance Questionnaire) được phát triển bằng cách sử dụng thang đo của Morisky (MMAS: Morisky Medication Adherence Scale) Thang đo MCQ có sự thay đổi nhỏ trong từ vựng để người dân có thể hiểu rõ hơn tuy nhiên bản chất của mỗi câu hỏi trong bảng câu hỏi ban đầu vẫn được duy trì [26] Đây là bộ câu hỏi có độ tin cậy chấp nhận được với sự thống nhất nội bộ được đánh giá bằng hệ số Cronbach α Theo Ahmad nghiên cứu sự tuân thủ dùng thuốc

ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 tại trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Malaysia, giá trị độ

Trang 23

tin cậy chấp nhận được là 0,782 [26] Độ tin cậy đã được chứng minh qua giá trị Cohen’ Kappa =0,796 cho thấy sự tin cậy đáng kể [82] Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới sử dụng thang đo MCQ để đánh giá tuân thủ dùng thuốc ở bệnh nhân đái thái đường như

Mỹ, Ấn Độ, Malaysia [26, 34, 91] Chúng tôi đã tiến hành tính toán lại hệ số Cronbach’s alpha để chứng minh cho tính tin cậy của bộ câu hỏi Kết quả phân tích cho thấy hệ số Cronbach’s alpha đạt 0,77, vì vậy thang đo MCQ mà chúng tôi sử dụng cho nghiên cứu

có độ tin cậy cao

Thang đo gồm 7 câu hỏi và câu trả lời theo thang đo Likert để qui điểm tương ứng:

 “không bao giờ” : 4 điểm

 “thỉnh thoảng :1-4 lần/tháng: 3 điểm

 “thường xuyên: >5 lần/tháng”: 2 điểm

 “luôn luôn: hàng ngày”: 1 điểm

Tổng số điểm trên MCQ dao động từ 7 điểm đến 28 điểm Dựa trên hệ thống tính điểm được sử dụng trong thang đo Morisky tổng số điểm từ 27 trở lên được coi là tuân thủ [26] Các biến số của thang đo: quên dùng thuốc, tự ý ngưng thuốc, bỏ thuốc vì cảm thấy tốt hơn, tự ý dùng ít thuốc hơn, ngưng thuốc vì thấy sức khỏe xấu đi khi dùng thuốc, quên mang thuốc khi đi du lịch xa nhà, ngưng thuốc vì ở nhà hết thuốc

1.3.2 Thang đo đánh giá tuân thủ vận động thể lực

Bảng câu hỏi hoạt động thể chất IPAQ (International physical Activity questionnaire) được phát triển như một công cụ chuẩn để theo dõi hoạt động thể chất và được sử dụng

ở nhiều quốc gia trên thế giới, thu thập thông tin về hoạt động thể chất trong 7 ngày trước liên quan đến các hoạt động thể chất mạnh, hoạt động trung bình, đi bộ và ngồi [75, 79, 93] Thang đo IPAQ (International Physical Activity questionnaire) dựa trên các biện pháp quốc tế về hoạt động thể chất bắt đầu ở Geneva năm 1998 và được kiểm tra

độ tin cậy và tính hợp lệ thực hiện tại 14 trung tâm trên 12 quốc gia trong năm 2000 [36, 44] Thang đo IPAQ-SF phiên bản ngắn được đề nghị như một phương pháp hiệu quả

về chi phí để đánh giá hoạt động thể chất trong một tổng quan về tính hợp lệ của

Trang 24

IPAQ-SF từ 23 nghiên cứu khác nhau trên thế giới [68] Thang đo IPAQ-IPAQ-SF phiên bản ngắn bao gồm 11 câu hỏi để đánh giá mức độ hoạt động thể chất thường xuyên, dựa trên thông tin về tần số, thời gian hoạt động thể lực cũng như thời gian ngồi trong tuần vừa qua [38, 53] Thang đo được nhiều tác giả trên thế giới sử dụng để đánh giá mức độ tuân thủ hoạt động thể lực ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 [53, 62, 68, 75] Thang đo được phân loại theo bốn mức độ: ngồi, đi bộ, hoạt động thể lực trung bình, hoạt động thể lực cao và được đo lường năng lượng bằng MET (Metabolic Equivalent of Task) [74]

Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tính hiệu lực của thang đo IPAQ trên nhiều đối tượng khác nhau như thanh thiếu niên , người lớn tuổi, phụ nữ có thai (Pregnancy Physical Activity Questionnaire (PPAQ), người trưởng thành [45, 66, 96, 108] Một nghiên cứu nhằm xác định độ tin cậy và tính hợp lệ của thang đo IPAQ-SF trên 197 người tham gia tại tỉnh Hưng Yên ghi lại tất cả các hoạt động thể chất trong 7 ngày liên tiếp và được lặp lại phỏng vấn 2 lần sử dụng bộ câu hỏi IPAQ-SF ( IPAQ1 và IPAQ2) Kết quả cho thấy các hệ số tương quan ICC giữa hai lần phỏng vấn (IPAQ1 và IPAQ2) vượt quá 0,8 đối với tất cả các lĩnh vực hoạt động thể chất và ngồi

Phiên bản dịch IPAQ-SF của Việt Nam dường như là một công cụ đáng tin cậy và có giá trị hợp lý để đánh giá và giám sát hoạt động thể lực thường xuyên ở người dânViệt Nam [45] Một nghiên cứu của Nguyễn Thành Chung và cộng sự được thực hiện năm

2016 sử dụng thang đo IPAQ-SF để đánh giá mức độ hoạt động thể lực ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 [8]

MET (đơn vị chuyển hóa tương đương): Ước tính năng lượng tiêu hao cho các hoạt động khác nhau [93] 1 MET = năng lượng tiêu thụ hoặc lượng oxy sử dụng khi nghỉ ngơi/đứng (nghỉ ngơi/đứng yên ≈ 1kcal/kg/tim ≈ tiêu thụ oxy 3,5ml/kg/phút) Lượng vận động càng cao - tiêu thụ oxy càng nhiều - MET càng cao [93] Các biến số của thang đo: hoạt động thể lực mạnh, hoạt động thể lực trung bình, đi bộ, ngồi

 MET = 8 x thời gian hoạt động mạnh + 4 x thời gian hoạt động trung bình + 3.3

x thời gian đi bộ [68, 79]

Trang 25

Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) hoạt động thể lực thích hợp khi [102]

 ít nhất 30 phút mỗi ngày và ít nhất 5 ngày mỗi tuần

 150 phút mỗi tuần với hoạt động cường độ trung bình, 75 phút mỗi tuần với hoạt động cường độ mạnh

 Kết hợp các hoạt động: đi bộ, hoạt động trung bình, hoạt động mạnh ít nhất

600 MET phút/tuần Đánh giá tuân thủ:

 Tuân thủ: bệnh nhân hoạt động thể lực ≥ 600 MET phút/tuần

 Không tuân thủ: bệnh nhân hoạt động thể lực < 600 MET phút/tuần

1.3.3 Thang đo đánh giá tuân thủ dinh dưỡng.

Thang đo tóm tắt các hoạt động tự chăm sóc bệnh đái tháo đường SDSCA (The Summary of Diabetes Self-care Activity) bao gồm chế độ ăn nói chung, chế độ ăn cụ thể, tập thể dục, xét nghiệm đường huyết, chăm sóc bàn chân và hút thuốc lá [96, 103] [76] Thang đo đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thổ nhĩ Kỳ, Đức, Malaysia và được nhiều tác giả sử dụng để đánh giá tuân thủ về chế độ ăn uống ở bệnh nhân đái tháo đường (SDSCA-diet) [63, 77, 92, 94] Thang đo

đã được thử nghiệm độ tin cậy thống nhất nội bộ bởi Kow và cộng sự tại trung tâm tiểu đường của bệnh viện đại học Sain Malaysia với chỉ số Cronbach α là 0,76 [65] Tác giả Suzana và cộng sự cũng đã đã đề nghị hệ số Cronbach α là 0,79 [92] Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Trần Ngọc Đăng Thanh và cộng sự ở những bệnh nhân ĐTĐ type

2 tại đến khám tại phòng khám ngoại trú bệnh viện nhân dân 115, đã đề nghị hệ số Cronbach α là 0,7 [109] Người bệnh sẽ được yêu câu trả lời 7 câu hỏi về số ngày trong tuần vừa qua họ đã thực hành chế độ ăn uống “không ngày nào”: 0 điểm đến 7 “hàng ngày”: 7 điểm, ngọai trừ mục 4 (ăn những thực phẩm có hàm lượng chất béo cao) có điểm đảo ngược, “không ngày nào”: 7 điểm đến 7 “hàng ngày”: 0 điểm, được xem là tuân thủ tốt khi ≥5 ngày mỗi tuần (≥5 điểm) và tuân thủ thấp khi <5 ngày mỗi tuần (<5 điểm) [94]

Trang 26

Các biến số của thang đo: thực hiện theo đúng chế độ ăn bệnh lý trong tháng qua, thực hiện được theo đúng chế độ ăn của mình, ăn ít nhất 5 bữa phụ trái cây và rau quả,

ăn các thực phẩm giàu chất béo, ăn ít đồ ngọt, ăn nhiều thức ăn giàu chất xơ, giảm lượng thức ăn để giảm cân [94]

1.3.4 Tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ

Theo khuyến cáo của Liên đoàn đái tháo đường quốc tế (IDF) và hướng dẫn của Bộ

y tế, người bệnh đái tháo đường type 2 nên thử đường huyết tại 2- 3 lần/tuần và khám sức khỏe định kỳ ít nhất 1 tháng/lần [23, 55] Vì vậy người bệnh được coi là tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ khi bệnh nhân thử đường huyết tại nhà ít nhất 2 lần/tuần và đi khám sức khỏe định kỳ ít nhất 1 tháng/lần

1.4 Một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị đái tháo đường

1.4.1 Một số nghiên cứu trên thế giới

có thể ảnh hưởng đến việc tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân, dữ liệu nghiên cứu có được là dựa trên kết quả tự báo cáo của bệnh nhân do đó có thể có những bệnh nhân nhận thức chưa đúng về hành vi sử dụng thuốc của mình Nghiên cứu cũng không ghi nhận những bệnh mạn tính đi kèm mà những bệnh này có thể ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuốc Nghiên cứu mới chỉ đề cập đến tuân thủ điều trị thuốc hoàn toàn bằng nghiên cứu định lượng, còn hạn chế là chưa đi tìm hiểu lý do tại sao người bệnh lại không tuân thủ điều trị

Trang 27

Cũng với một nghiên cứu tương tự Ahmad và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu đánh giá sự tuân thủ sử dụng thuốc trên bệnh nhân ĐTĐ type 2 tại trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Malaysia vào năm 2013, kết quả cho thấy có tới 53% bệnh nhân không tuân thủ sử dụng thuốc và chỉ có 47% bệnh nhân tuân thủ điều này cho thấy tỉ lệ tuân thủ điều trị dùng thuốc ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 chưa cao Phân tích hồi qui logistic

đã được thực hiện để dự đoán các yếu tố liên quan đến việc không tuân thủ của bệnh nhân như tuổi, kiến thức về thuốc và bệnh kèm theo Nghiên cứu đã sử dụng thang đo tuân thủ dùng thuốc MCQ đã được chứng minh qua hệ số nhất quán nội bộ Cronbach α bằng 0,796 thể hiện sự đánh giá khách quan hành vi tuân thủ dùng thuốc của người bệnh [26] Tuy nhiên nghiên cứu chỉ được thu thập từ một khu vực do đó không đại diện cho toàn bộ dân số

Năm 2016, Subashree và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu trên 100 bệnh nhân ĐTĐ type 2 từ 18 tuổi trở lên, tác giả đã sử dụng thang đo MCQ để đánh giá tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân Kết quả cho thấy không có bệnh nhân nào tuân thủ, 19% nghèo tuân thủ (22-26 điểm) và có tới 81% rất nghèo tuân thủ (< 18 điểm) [91] Tác giả đã chỉ

ra rằng, chi phí điều trị là một rào cản rất lớn ảnh hưởng đến quá trình điều trị của bệnh nhân, đồng thời cũng tìm thấy mối liên quan giữa kiến thức về bệnh và tuân thủ điều trị của bệnh nhân Tuy nhiên nghiên cứu được thực hiện tai một vùng nông thôn nên có thể không đại diện cho dân số chung, nghiên cứu cũng chưa đánh giá các yếu tố liên quan đến việc tuân thủ như các đặc điểm dân số, kinh tế xã hội, đặc điểm bệnh lý của bệnh nhân Nghiên cứu chỉ đánh giá tuân thủ dùng thuốc mà chưa khảo sát các yếu tố khác như dinh dưỡng, hoạt động thể lực, kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ Đây cũng là các điểm hạn chế của nghiên cứu trên Alfian và cộng sự cũng đã thực hiện nghiên cứu trên 114 bệnh nhân ĐTĐ type 2 tại Indonesia, nghiên cứu đã sử dụng thang

đo Morisky (MMSA) với hệ số Cronbach α =0,724, kết quả cho thấy có 49,4% bệnh nhân có tuân thủ thấp, 29,7% tuân thủ trung bình và 20,9% tuân thủ cao [30] Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc tuân thủ dùng thuốc có mối liên quan với chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, những bệnh nhân tuân thủ dùng thuốc cao có thể cải thiện chất

Trang 28

lượng cuộc sống Tuy nhiên nghiên cứu lại chưa xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ của bệnh nhân, đây cũng là một điểm hạn chế của nghiên cứu này Cũng giống như Alifan, nghiên cứu của Fadare tại Nigeria trên 129 bệnh nhân ĐTĐ (6 bệnh nhân ĐTĐ type 1 và 123 ĐTĐ type 2) Kết quả cho thấy có 40,6% bệnh nhân tuân thủ tốt, 32,8% tuân thủ trrung bình và 26,6% tuân thủ thấp theo thang đo Morisky [49] Hạn chế của nghiên cứu là chưa xác định các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của bệnh nhân.

1.4.1.2 Tuân thủ hoạt động thể lực

Có nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá tuân thủ HĐTL của bệnh nhân ĐTĐ Nghiên cứu của Juma Al-Kaabi và cộng sự (2009) “Hoạt động thể lực và những yếu tố rào cản đến hoạt động thể lực của người bệnh ĐTĐ type 2 tại Ả Rập” Đây là một nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 390 người bệnh đang điều trị tại trung tâm tiểu đường của bệnh viện Tawam và 5 trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu ở quận Al-Ain, kết quả cho thấy có tới 95% người bệnh nhận thức được tầm quan trọng của HĐTL, nhưng chỉ

có 25% có tham gia hoạt động thể lực từ khi được chẩn đoán, trong đó loại hình hoạt động thể lực chủ yếu là phương pháp đi bộ (78%) Tuy nhiên chỉ có 3% người bệnh thực hiện đúng theo khuyến cáo của nhân viên y tế, nghĩa là có đến 97% người bệnh không tuân thủ theo đúng khuyến cáo [62] Nghiên cứu đã chỉ ra một số yếu tố rào cản ảnh hưởng tới tuân thủ như tình trạng thu nhập thấp, yếu tố về văn hóa, không có thời gian, thiếu sự quan tâm và trách nhiệm từ phía gia đình Nghiên cứu được thực hiện tại nhiều địa điểm khác nhau nên mang tính đại diện cao cho dân số Hạn chế của nghiên cứu này chưa đề cập đến các biện pháp tuân thủ khác như chế độ dinh dưỡng, dùng thuốc, kiểm soát đường huyết rất quan trọng để kiểm soát đường huyết cho bệnh nhân

Nghiên cứu của Bergman tại Thụy Điển đã sử dụng thang đo IPAQ nhằm đánh giá vận động thể lực trên 2500 người từ 18 đến 74 tuổi, kết quả cho thấy có gần 2/3 dân số (63%) tuân thủ theo khuyến cáo ít nhất 600 MET phút/tuần [37] Nghiên cứu cũng tìm thấy mối liên quan giữa các yếu tố như giới, tuổi, BMI, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi ở với tuân thủ hoạt động thể lực Nghiên cứu được thực hiện trên cỡ mẫu lớn nên đại

Trang 29

diện cho dân số chung Tuy nhiên nghiên cứu sử dụng dữ liệu tự báo cáo nên có thể đến sai lệch thông tin, đây cũng là một điểm hạn chế của nghiên cứu này Nghiên cứu của Janaki thực hiện trên 385 bệnh nhân ĐTĐ type 2 ít nhất 3 tháng tại Bangladesh, kết quả cho thấy có 57,6% bệnh nhân vận động ít nhất 600 MET phút/tuần [60] Nghiên cứu cũng đã chỉ ra các yếu tố liên quan đến việc tuân thủ của bệnh nhân như tuổi, tình trạng hôn nhân hay khoảng cách từ nhà đến bệnh viện Tuy nhiên kết quả nghiên cứu là tự báo cáo của bệnh nhân là chủ quan và có thể đánh giá thấp về tình trạng không tuân thủ của bệnh nhân Chỉ những bệnh nhân ở cơ sở chăm sóc sức khỏe của trường đại học mới được đưa vào nghiên cứu nên có thể giới hạn về sự đa dạng địa lý và chưa đại diện cho dân số chung Cũng sử dụng phương pháp trên, nghiên cứu của Namadia vào năm 2016 trên 403 bệnh nhân ĐTĐ type 2 tại Scotland Kết quả cho thấy có 39,8% bệnh nhân tuân thủ theo khuyến cáo vận động ít nhất 600 MET phút/tuần [74] Hạn chế của nghiên cứu này là chưa xác định các yếu tố liên quan đến việc tuân thủ vận động của bệnh nhân để

có thể tìm ra biện pháp khắc phục, hỗ trợ bệnh nhân tuân thủ tốt hơn

1.4.1.3 Tuân thủ dinh dưỡng

Tan SL và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu đánh giá tuân thủ dinh dưỡng ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 tại Malaysia Kết quả cho thấy chỉ có 16,4% bệnh nhân tuân thủ tốt theo thang đo SDSCA [94] Nghiên cứu đã tìm thấy mối liên quan giữa giới tính với tỷ

lệ tuân thủ của bệnh nhân cũng như mối liên quan giữa tuân thủ dinh dưỡng và kiểm soát đường huyết qua chỉ số HbA1C Hạn chế của nghiên cứu trên là cỡ mẫu nhỏ nên có thể chưa tìm thấy mối liên quan giữa các yếu tố khác với tỷ lệ tuân thủ của bệnh nhân,

cỡ mẫu nhỏ cũng chưa đại diện cho toàn bộ dân số Nghiên cứu của Suzuna cũng sử dụng thang đo SDSCA kết quả chỉ có 8,5% bệnh nhân tuân thủ tốt [92] Cũng giống nghiên cứu trên với cỡ mẫu nhỏ nên chưa đại diện cho dân số và nghiên cứu cũng chưa xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân Nghiên cứu của Janaki và cộng sự đã đánh giá mức độ dinh dưỡng của bệnh nhân dựa vào cách tính toán lượng calorie nhập vào cũng như tần suất và tỷ lệ của các nhóm thức ăn chính

Trang 30

(cacbohydrat, protein, chất béo và chất xơ) và tiến hành cho điểm Kết quả cho thấy chỉ

có 37% bệnh nhân tuân thủ (≥ 75% tổng số điểm) [60] Nghiên cứu cũng đã chỉ ra các yếu tố liên quan đến việc tuân thủ của bệnh nhân như giới, tuổi, tình trạng hôn nhân, tình trạng kinh tế, thời gian mắc bệnh và kiến thức về bệnh của bệnh nhân Vì nghiên cứu đã tiến hành tính toán cụ thể hàm lượng từng loại thức ăn của bệnh nhân nên cho kết quả khách quan hơn Tuy nhiên nghiên cứu được thực hiện tại một cơ sở chăm sóc sức khỏe nên cũng chưa đại diện cho toàn bộ dân số

1.4.1.4 Tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ

Nghiên cứu của Mafauzy nhằm đánh giá mức độ kiểm soát đường huyết trên 1549 bệnh nhân ĐTĐ type 2 tại Malaysia, kết quả cho thấy có 96,8% bệnh nhân tái khám định

kỳ theo lịch hẹn của bác sĩ và 58,7% bệnh nhân thường xuyên theo dõi đường huyết tại nhà [69] Nghiên cứu cũng đã khảo sát tỷ lệ kiểm soát HbA1C và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Nghiên cứu được thực hiện trên cộng đồng lớn nên đại diện cho dân số hơn Tuy nhiên nghiên cứu cũng chưa khảo sát đến các yếu tố khác của việc điều trị như dùng thuốc, chế độ dinh dưỡng và tập thể dục của bệnh nhân

1.4.1.5 Tuân thủ điều trị chung

Một nghiên cứu đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường type 2 của Smita Sontakke và cộng sự năm 2015 tại Ấn Độ, mặc dù 77,3% bệnh nhân được biết

về tầm quan trọng của việc theo dõi đường huyết nhưng chỉ có 46% bệnh nhân thực sựthường xuyên theo dõi đường huyết Có 78% bệnh nhân biết được tầm quan trọng của việc kiểm soát chế độ ăn kiêng và tập thể dục nhưng chỉ có 68% bệnh nhân tuân thủ chế

độ ăn kiêng và 49,33% bệnh nhân tập thể dục Trong 150 bệnh nhân tham gia nghiên cứu thì không có bệnh nhân nào tuân thủ dùng thuốc cao, có 39 bệnh nhân tuân thủ dùng thuốc trung bình và có tới 111 bệnh nhân tuân thủ thấp theo thang đo Morisky (MMAS: Morisky Medication Adherence Scale), 42% bệnh nhân không nhận thức được hậu quả

của việc không tuân thủ, 33% bệnh nhân cho rằng không tuân thủ sẽ dẫn đến kiểm soát đường huyết kém, trong khi đó 25%bệnh nhân nghĩ rằng không tuân thủ sẽ dẫn đến sự

Trang 31

xấu đi của bệnh tật [87] Nghiên cứu đã chỉ ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến việc không tuân thủ của người bệnh như lịch trình thuốc phức tạp, chi phí điều trị cao, sợ tác dụng phụ, thiếu niềm tin vào việc điều trị, các vấn đề tâm lý và các biến như tuổi tác, kiến thức về thuốc và bệnh tật cũng có liên quan đến hành vi tuân thủ của người bệnh

Bộ câu hỏi đã được tiến hành nghiên cứu thử và đã có những thay đổi phù hợp ngoài ra tuân thủ điều trị cũng được đánh giá bằng cách sử dụng bảng câu hỏi tuân thủ dùng thuốc của Morisky nên có độ tin cậy đáng kể.Nghiên cứu đã thực hiện đánh giá cả 4 lĩnh vực dùng thuốc, vận động thể lực, chế độ dinh dưỡng cũng như kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ nên toàn diện hơn, giúp bệnh nhân tuân thủ tốt hơn

Kết quả từ các nghiên cứu trên đã cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị ở những bệnh nhân đái tháo đường type 2 chưa cao, dao động trong khoảng từ 19% đến 68% Đồng thời cũng có sự khác biệt giữa các nghiên cứu khi xem xét mối liên quan giữa các yếu tố: đặc điểm dân số - xã hội, thời gian mắc bệnh, bệnh lý đi kèm, tình trạng kinh tế Sự khác biệt này có thể là do sự khác nhau giữa các biến số được đề cập trong các nghiên cứu Bên cạnh đó, tiêu chí chọn mẫu khác nhau cũng phần nào ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu

1.4.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam

Trần Thị Xuân Hòa đã thực hiện nghiên cứu tìm hiểu sự tuân thủ điều trị ngoại trú của bệnh nhân ĐTĐ type 2 tại bệnh viên đa khoa tỉnh Gia Lai năm 2012, kết quả cho thấy có 82% bệnh nhân sử dụng thuốc thường xuyên, 89% tái khám định kỳ, 70% tập thể dục thường xuyên, 83% thực hiện chế độ ăn kiêng [18] Nghiên cứu đã chỉ ra được

có sự chênh lệch đáng kể giữa sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân người đồng bào dân tộc thiểu số và người Kinh từ đó cần phải nâng cao tuyên truyền ở tuyến cơ sở, đào tạo nhân viên y tế kiến thức, phương pháp tư vấn giáo dục sức khỏe bằng ngôn ngữ và tài liệu phù hợp Sofie Svartholm và cộng sự cũng đã tiến hành thực hiện nghiên cứu trên

100 bệnh nhân ĐTĐ type 2 tại bệnh viên Chợ Rẫy Kết quả cho thấy có 96% bệnh nhân tuân thủ vận động thể lực ít nhất 30 phút mỗi ngày, về thực hiện theo dõi đường huyết tại nhà chỉ có 8% bệnh nhân theo dõi hàng ngày và 3% bệnh nhân theo dõi 2 lần/tuần,

Trang 32

hầu hết bệnh nhân đều dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ, và có tới 97% bệnh nhân cho rằng mình thực hiện theo chế độ ăn bệnh lý cũng là mục có tỷ lệ tuân thủ cao nhất theo thang đo SDSCA [88] Nghiên cứu đã thực hiện so sánh tỷ lệ tuân thủ giữa hai giới, tuy nhiên có cỡ mẫu nhỏ nên cũng chưa đại diện cho dân số Năm 2013, Lê Thị Hương Giang và cộng sự tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ tuân thủ điều trị và một

số yếu tố liên quan của người bệnh ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện 198 Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định lượng và định tính Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ chế độ dinh dưỡng là 79%; rèn luyện thể lực 63,3%; thuốc 78,1%; tự theo dõi glucose máu tại nhà 48,6%; tái khám đúng lịch hẹn là 63%; tuân thủ điều trị đái tháo đường type 2 nói chung là 10% [14] Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ của người bệnh như thời gian điều trị, hút thuốc

lá, uống rượu bia khoảng cách từ nhà đến bệnh viện, mức độ hài lòng về thái độ và trình

độ của cán bộ y tế từ đó đưa ra biện pháp khắc phục và cải thiện nhằm nâng cao tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân Tuy nhiên kết quả nghiên cứu đã phần nào cho thấy một

tỉ lệ không nhỏ bệnh nhân vẫn chưa tuân thủ điều trị, chỉ có 10% bệnh nhân tuân thủ cả

4 tiêu chí Nghiên cứu của Nguyễn Thị Anh Đào và cộng sự năm 2014 tại khoa nội tiết bệnh viện Thống Nhất, kết quả cho thấy rằng 52% bệnh nhân có máy thử đường huyết

và tự theo dõi đường huyết tại nhà; 31,2% bệnh nhân không vận động thể lực thường xuyên, 76,2% chưa được giáo dục và tư vấn về chế độ dinh dưỡng hợp lý [11] Tuy nhiên, nghiên cứu lại chưa xác định các yếu tố liên quan đến việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân Một yếu tố quan trọng để góp phần cải thiện việc điều trị, ngăn ngừa biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân

Năm 2015 nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải tại bệnh viện Bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh kết quả cho thấy tỉ lệ người bệnh tuân thủ điều trị khá cao: 97,3% người bệnh tuân thủ dinh dưỡng, 75,7% tuân thủ dùng thuốc, 87,3% tuân thủ hoạt động thể lực, 81,5% tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ [16] Điểm mạnh của nghiên cứu

là kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính như phỏng vấn sâu với cán bộ y tế

và thảo luận nhóm với người bệnh để bổ sung cho nghiên cứu định lượng một số yếu tố

Trang 33

liên quan và lý do ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị của người bệnh từ đó đề ra những biện pháp khắc phục phù hợp Một nghiên cứu về tuân thủ điều trị đái tháo đường của người bệnh tại khoa nội tim mạch - nội tiết bệnh viện Bình Thạnh năm 2015 của Nguyễn Thị Xuân Ái Kết quả cho thấy có 78,8% tuân thủ dinh dưỡng, 62,1% tuân thủ hoạt động thể lực, 71,2% tuân thủ dùng thuốc và 26,4% tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám định kỳ [1] Tác giả đã tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuân thủ dinh dưỡng với tuổi, thời gian mắc bệnh; giữa tuân thủ hoạt động thể lực với tuổi, giới, trình

độ học vấn, hoàn cảnh sống và thời gian mắc bệnh, giữa tuân thủ dùng thuốc với số lần dùng thuốc trong một ngày Qua đó có thể thấy vẫn còn nhiều bệnh nhân chưa tuân thủ điều trị tốt cũng như chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị, còn khá nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị nhưng chưa có biện pháp khắc phục cụ thể

Trang 34

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

2.2 Đối tượng nghiên cứu:

2.2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

 Thời gian: từ ngày 4/5/2017 đến 25/5/2017

 Địa điểm: Phòng khám nội tiết bệnh viện Nguyễn Tri Phương TP Hồ Chí Minh

n: cỡ mẫu nghiên cứu

Z: trị số tính từ phân phối chuẩn, với độ tin cậy 95% thì Z(1-α/2) =1,96

𝛼: xác suất sai lầm loai 1, với 𝛼=0,05

𝑝: chỉ số mong muốn của tỷ lệ

𝑑:độ chính xác (sai số cho phép), d=0,05

Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất và được quan tâm nhiều nhất để kiểm soát đường huyết trong điều trị bệnh ĐTĐ type 2, một số nghiên cứu đã sử dụng tỷ lệ tuân thủ dinh dưỡng để tính cỡ mẫu trong nghiên cứu [1, 14, 16]

Trang 35

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Ái và cộng sự năm 2015: “Tuân thủ điều trị đái tháo đường tại khoa nội tim mạch-nội tiết bệnh viện Bình Thạnh” có 78,8% bệnh nhân tuân thủ chế độ dinh dưỡng [1]

3 người Những bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được bỏ qua và chọn bệnh nhân kế đó rồi lại tiếp tục với khoảng cách mẫu là 3 người

 Mỗi ngày thu thập 17 mẫu, mỗi bệnh nhân được tiến hành phỏng vấn trong khoảng 15 phút Hàng ngày các bệnh nhân thường đến sớm để nhận số thứ tự và khoảng 7h30 bác

sĩ sẽ bắt đầu khám bệnh, phỏng vấn viên tiến hành lấy mẫu từ 7h sáng cho đến khi đủ

số lượng bệnh nhân trong một ngày

2.2.6 Tiêu chí chọn mẫu

Tiêu chí đưa vào

 Bệnh nhân được chẩn đoán ĐTĐ type 2 từ 6 tháng trở lên [49, 87] và đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương đến khám tại thời điểm nghiên cứu

 Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi được giải thích rõ mục tiêu nghiên cứu

Trang 36

Tiêu chí loại ra

 Bệnh nhân mắc các bệnh có ảnh hưởng đến giao tiếp bằng ngôn ngữ hoặc ảnh hưởng

đến trí nhớ như bệnh tâm thần, câm, điếc, Alzheimer

 Những bệnh nhân bệnh nặng không thể trả lời phỏng vấn

2.2.7 Kiểm soát sai lệch chọn lựa:

 Chọn mẫu phù hợp với tiêu chí đưa vào và tiêu chí loại ra

 Những bệnh nhân đến khám sẽ được giải thích rõ về mục tiêu của nghiên cứu, vấn đề bảo mật thông tin và xác nhận tham gia nghiên cứu Những bệnh nhân đồng ý và ký xác nhận vào giấy tham gia nghiên cứu sẽ tiếp tục thực hiện phỏng vấn

2.3 Liệt kê và định nghĩa biến số

2.3.1 Đặc điểm dân số - kinh tế - xã hội

Tuổi: là biến số định lượng được tính bằng cách lấy năm hiện tại (2017) trừ năm sinh ghi

trong chứng minh nhân dân (hoặc giấy khai sinh) của người được phỏng vấn tính theo năm dương lịch

Nhóm tuổi: theo tiêu chuẩn của ADA phân loại yếu tố nguy cơ trên bệnh nhân đái tháo

đường, tuổi được chia thành 4 nhóm [31]

Trang 37

 Hoa

 Khác

Tôn giáo: là biến số danh định gồm 4 giá trị:

 Không tôn giáo

 Phật giáo

 Thiên chúa giáo

 Khác

Nơi ở hiện tại: là biến nhị giá gồm 2 giá trị:

 Thành thị: bao gồm các quận nội thành, các phường nội thị và thị trấn

 Nông thôn: tất cả các đơn vị hành chính cơ sở còn lại (xã) đều thuộc khu vực nông thôn

Tình trạng hôn nhân: là biến số danh định gồm các giá trị

 Độc thân: là những người chưa từng lập gia đình (kết hôn)

 Có vợ/chồng: là những người đang sống chung với vợ hoặc chồng và đã đăng

ký kết hôn, được pháp luật và xã hội thừa nhận

 Có bạn tình: là những người đang sống chung với người yêu và không đăng ký kết hôn

 Ly hôn/Ly thân: là những người đã lập gia đình nhưng hiện không còn sống chung với vợ hoặc chồng vì đã ly hôn hoặc ly thân

 Góa: là những người có vợ hoặc chồng đã mất

Trình độ học vấn: được xác định dựa trên cấp học cao nhất mà đối tượng đã tốt nghiệp

tính đến thời điểm nghiên cứu, bao gồm cả giáo dục văn hóa (hệ 10 năm hoặc hệ 12 năm)

và đào tạo nghề Trình độ học vấn là biến số thứ tự bao gồm các giá trị:

 Mù chữ: là những người mù chữ, không biết đọc không biết viết

 Dưới cấp I: là những người học dưới lớp 5 (chưa tốt nghiệp tiểu học)

 Cấp I: từ lớp 1 đến lớp 5

 Cấp II: từ lớp 6 đến lớp 9

 Cấp III: từ lớp 10 đến lớp 12

Trang 38

 Trên cấp III: Trung học chuyên nghiệp/ Trung cấp nghề/ Cao đẳng/ Đại học/sau đại học (cao học, nghiên cứu sinh)

Nghề nghiệp: được định nghĩa là công việc mà người bệnh dành nhiều thời gian nhất,

mang lại thu nhập chính cho người bệnh, là biến số danh định gồm các giá trị:

 Nông dân : là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp

 Công nhân: là những người làm các công việc trực tiếp trong các dây truyền sản xuất, các công trình ở nhà máy, xí nghiệp

 Công nhân viên chức:là những người làm các công việc ở các cơ quan, công ty hành chính sự nghiệp Ví dụ: giáo viên, văn thư, tài vụ, kế toán, bác sĩ, điều dưỡng, bộ đội chuyên nghiệp

 Buôn bán: là nghề này có tính chất nhẹ nhàng, ít di chuyển nhưng thời gian bán hàng tương đối cao

 Lao động tự do: là những người không có hợp đồng lao động, làm việc trong khu vực không chính thức như thợ uốn tóc, thợ may tại nhà, thợ xây dựng tự do, bốc vác, người hành nghề xe ôm, người giúp việc gia đình

 Nội trợ: là những người không đi làm, công việc chủ yếu là làm việc nhà

 Hưu trí, già: là những người lớn tuổi được nhận lương hưu hoặc không

 Thất nghiệp: là những người trong độ tuổi lao động nhưng không có việc làm

 Khác: sinh viên, học sinh, người tàn tật neo đơn

Tình trạng chung sống: là tình trạng sinh hoạt, sống chung ngôi nhà của đối tượng nghiên

cứu, là biến nhị giá gồm hai giá trị:

 Sống chung người thân: là những người đang sống chung nhà với vợ/chồng, cha

mẹ, anh chị, ông bà, họ hàng, con cái hoặc bạn tình

 Sống một mình

Sổ hộ nghèo: biến số nhị giá với hai giá trị:

 Có: khi bệnh nhân có sổ hộ nghèo và sổ còn thời hạn sử dụng

Trang 39

 Không: khi bệnh nhân không có sổ hộ nghèo hoặc có sổ hộ nghèo nhưng

không còn thời hạn sử dụng Tình trạng kinh tế: là biến thứ tự do đối tượng tự đánh giá về tình trạng kinh tế của bản thân và gia đình, gồm 3 giá trị:

 Có: khi thẻ BHYT còn thời hạn sử dụng

 Không: khi bệnh nhân không có thẻ BHYT hoặc thẻ hết hạn sử dụng

Bệnh kèm theo dựa vào sổ khám bệnh: là biến nhị giá gồm hai giá trị:

 Có: khi bệnh nhân có ít nhất một bệnh kèm theo được ghi nhận trong sổ khám bệnh

 Không: khi bệnh nhân không có bệnh kèm theo

Trang 40

Các bệnh kèm theo dựa vào sổ khám bệnh: đánh giá có bệnh dựa vào sổ khám bệnh, là

biến số danh định gồm 5 giá trị:

 Bệnh tăng huyết áp: là biến nhị giá gồm hai giá trị:

 Có: khi bệnh nhân có bệnh tăng huyết áp được ghi nhận trong sổ khám bệnh

 Không: khi sổ khám bệnh không ghi nhận bệnh tăng huyết áp

 Bệnh tim mạch : là biến nhị giá gồm hai giá trị:

 Có: khi bệnh nhân có bệnh tim mạch được ghi nhận trong sổ khám bệnh

 Không: khi sổ khám bệnh không ghi nhận bệnh tim mạch

 Bệnh thận: là biến nhị giá gồm hai giá trị:

 Có: khi bệnh nhân có bệnh thận được ghi nhận trong sổ khám bệnh

 Không: khi sổ khám bệnh không ghi nhận bệnh thận

 Bệnh về khớp: là biến nhị giá gồm hai giá trị:

 Có: khi bệnh nhân có bệnh khớp được ghi nhận trong sổ khám bệnh

 Không: khi sổ khám bệnh không ghi nhận bệnh khớp

 Bệnh khác: ghi rõ

Bệnh kèm theo dựa vào lời khai của bệnh nhân: là biến nhị giá gồm hai giá trị:

 Có: khi bệnh nhân có ít nhất một bệnh kèm theo được ghi nhận trong sổ khám bệnh

 Không: khi bệnh nhân không có bệnh kèm theo

Các bệnh kèm theo dựa vào lời khai của bệnh nhân: đánh giá dựa vào lời khai của

bệnh nhân, là biến số danh định gồm 5 giá trị:

 Bệnh tăng huyết áp: là biến nhị giá gồm hai giá trị:

 Có: khi bệnh nhân trả lời có bệnh tăng huyết áp

 Không: khi bệnh nhân trả lời không mắc bệnh tăng huyết áp

 Bệnh tim mạch: là biến nhị giá gồm hai giá trị:

 Có: khi bệnh nhân trả lời có bệnh tim mạch

 Không: khi bệnh nhân trả lời không mắc bệnh tim mạch

 Bệnh thận: là biến nhị giá gồm hai giá trị:

Ngày đăng: 20/03/2021, 10:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Khoa nội tiết-bệnh viện Nguyễn Tri Phương. truy cập ngày 8/4/2017]; Nguồn: http://diabetna.vn/khoa-noi-tiet-bv-nguyen-tri-phuong.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa nội tiết-bệnh viện Nguyễn Tri Phương
3. Bệnh viên nội tiết trung ương, Báo cáo về tình hình tại Hà Nội và khu vực phía Bắc Việt Nam 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tình hình tại Hà Nội và khu vực phía Bắc Việt Nam
4. Tạ Văn Bình (2007), "Người bệnh đái tháo đường cần biêt", Nhà xuất bản Hà Nội, tr. 78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người bệnh đái tháo đường cần biêt
Tác giả: Tạ Văn Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2007
6. Bộ y tế, Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống tăng huyết áp -Tăng huyết áp ở người đái tháo đường, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống tăng huyết áp -Tăng huyết áp ở người đái tháo đường
7. Bộ y tế -Cổng thông tin điện tử bộ y tế. Tỷ lệ bệnh đái tháo đường ở Việt Nam tăng 211% sau 10 năm. truy cập ngày 5/4/2017]; Nguồn:http://moh.gov.vn/news/pages/tinkhac.aspx?ItemID=242 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ bệnh đái tháo đường ở Việt Nam tăng 211% "sau 10 năm
8. Nguyễn Thành Chung (2016), "Nghiên cứu các yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường type 2". Luận văn thạc sĩ y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường type 2
Tác giả: Nguyễn Thành Chung
Năm: 2016
9. Nguyễn Thành Chung, Phạm Nhật Minh (2015), "Tỷ lệ và các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Việt Nam". 27 (6), tr. 588-600 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ và các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thành Chung, Phạm Nhật Minh
Năm: 2015
10. Cục y tế dự phòng. Công bố kết quả điều tra quốc gia yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm năm 2015. truy cập ngày 18/6/2017]; Nguồn: http://vncdc.gov.vn/vi/tin-tuc-trong-nuoc/1003/cong-bo-ket-qua-dieu-tra-quoc-gia-yeu-to-nguy-co-benh-khong-lay-nhiem-nam-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bố kết quả điều tra quốc gia yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm năm 2015
11. Nguyễn Thị Anh Đào, Tạ Thị Hòa (2014), "Khảo sát tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường tại khoa nôi tiết bệnh viện Thống Nhất". Tạp chí y học TP Hồ Chí Minh, 18 (3), tr.81-84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường tại khoa nôi tiết bệnh viện Thống Nhất
Tác giả: Nguyễn Thị Anh Đào, Tạ Thị Hòa
Năm: 2014
12. Nguyễn Thị Bích Đào, Vũ Thị Là (2012), "Kiến thức, thái độ và hành vi tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường type 2 khám và điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy". Tạp chí y học TP Hồ Chí Minh, 16 (2), tr. 59-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ và hành vi tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường type 2 khám và điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Đào, Vũ Thị Là
Năm: 2012
13. Đỗ Thị Ngọc Diệp, Phan Nguyễn Thanh Bình, Trần Quốc Cường (2014), "Dịch tễ học bệnh đái tháo đường tại TPHCM và một số yếu tố liên quan". Tap chí khoa học dinh dưỡng và thực phẩm, 10 (4), tr. 28-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học bệnh đái tháo đường tại TPHCM và một số yếu tố liên quan
Tác giả: Đỗ Thị Ngọc Diệp, Phan Nguyễn Thanh Bình, Trần Quốc Cường
Năm: 2014
14. Lê Thị Hương Giang, Hà Như Văn (2013), " Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị bệnh đái tháo đường type 2 của người bệnh đang điều trị ngoại trú tại bệnh viên 198 năm 2013". Y học thực hành, 893 (11), tr. 81-84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị bệnh đái tháo đường type 2 của người bệnh đang điều trị ngoại trú tại bệnh viên 198 năm 2013
Tác giả: Lê Thị Hương Giang, Hà Như Văn
Năm: 2013
15. Chu Thị Hà, Hoàng Đức Hạnh, Bùi Công Đức (2016), "Tỉ lệ hiện mắc đái tháo đường type 2 và tiền đái tháo đường của người dân từ 30-69 tuổi của thành phố Hà Nội năm 2014.". Tạp chí y học dự phòng, 2(175), tr. 63-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉ lệ hiện mắc đái tháo đường type 2 và tiền đái tháo đường của người dân từ 30-69 tuổi của thành phố Hà Nội năm 2014
Tác giả: Chu Thị Hà, Hoàng Đức Hạnh, Bùi Công Đức
Năm: 2016
16. Nguyễn Thị Hải (2015), "Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại phóng khám nội tiết bệnh viện Bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh", Luận văn thạc sĩ, Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại phóng khám nội tiết bệnh viện Bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Nguyễn Thị Hải
Năm: 2015
17. Phạm Thị Thu Hiền, Lê Đình Thanh, Nguyễn Văn Thành (2013), "Khảo sát việc sử dụng thuốc giảm đường huyết trong điều trị đái tháo đường type 2 tại bệnh viện Thống Nhất năm 2013".Tạp chí y học TP Hồ Chí Minh, 17 (3), tr. 305-310 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát việc sử dụng thuốc giảm đường huyết trong điều trị đái tháo đường type 2 tại bệnh viện Thống Nhất năm 2013
Tác giả: Phạm Thị Thu Hiền, Lê Đình Thanh, Nguyễn Văn Thành
Năm: 2013
19. Vũ Thị Tuyết Mai, Trần Thiện Trung (2014), "Kiến thức, thái độ, thực hành về chế độ ăn của bệnh nhân đái tháo đường type 2". Tạp chí y học TP Hồ Chí Minh, 18 (5), tr. 136-141 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, thực hành về chế độ ăn của bệnh nhân đái tháo đường type 2
Tác giả: Vũ Thị Tuyết Mai, Trần Thiện Trung
Năm: 2014
20. Tạp chí Y học thực hành. Các bệnh xương khớp thường gặp sau thời kỳ mãn kinh. 2009 truy cập ngày 20/6/2017]; Nguồn: http://www.yhth.vn/cac-benh-xuong-khop-thuong-gap-sau-thoi-ky-man-kinh_s324.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bệnh xương khớp thường gặp sau thời kỳ mãn kinh
22. Viện đái tháo đường và rối loạn chuyển hóa. Bệnh thận do đái tháo đường vai trò của microalbumin trong chẩn đoán và theo dõi 2012 truy cập ngày 8/4/2017]; Nguồn:http://noitietdaithaoduong.vn/vi/nghien-cuu-khoa-hoc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh thận do đái tháo đường vai trò của microalbumin trong chẩn đoán và theo dõi
23. Viện y học ứng dụng - Tổng hội y học Việt Nam. Các xét nghiệm cần làm trong bệnh đái tháo đường. 2016 truy cập ngày 8/4/2017]; Nguồn: http://vienyhocungdung.vn/cac-xet-nghiem-can-lam-trong-benh-dai-thao-duong-20160521110441976.htm.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các xét nghiệm cần làm trong bệnh đái tháo đường
24. Abduelkarem AR, and Sackville MA (2009), "Changes of some Health Indicators in Patients with Type 2 Diabetes: A Prospective Study in three Community Pharmacies in Sharjah, United Arab Emirates ". Original Article LJM 4, pp. 31-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Changes of some Health Indicators in Patients with Type 2 Diabetes: A Prospective Study in three Community Pharmacies in Sharjah, United Arab Emirates
Tác giả: Abduelkarem AR, and Sackville MA
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w