ĐA DẠNG SINH HỌC CHỦ ĐỀ : ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT THÂN MỀM CHÂN BỤNG TRÊN CẠN KỸ THUẬT ĐIỀU TRA ĐA DẠNG SINH HỌC 1. CHỌN ĐIỂM KHẢO SÁT THU MẪU Khu hệ Thân mềm Chân bụng ở cạn Việt Nam được nghiên cứu từ khoảng giữa thế kỷ XIX, các nghiên cứu tập trung chủ yếu ở phía Bắc, như khu vực vùng núi Đông Bắc (Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang), Tây Bắc (Lai Châu, Lào Cai, Sơn La), một phần vùng đồng bằng (Ninh Bình, Thanh Hóa) và ven biển (Quảng Ninh, Hải Phòng). Các khu vực này có điều kiện phù hợp với sinh cảnh của chúng. Vị trí thu mẫu phải phân bố sao cho đảm bảo tính đại diện cho khu vực nghiên cứu 2. KỸ THUẬT THU MẪU 2.2 Phương pháp thu mẫu Thu mẫu định tính Mẫu định tính được thu ngẫu nhiên ở tất cả các sinh cảnh khác nhau, phạm vi thường rộng hơn so với mẫu định lượng với mục đích bổ sung thành phần loài cho mẫu định lượng. Vì vậy, khi thu mẫu phải thu tất cả các mẫu với mọi kích thước, từ con non đến con trưởng thành (kể cả mẫu đã chết chỉ còn lại vỏ) để không bỏ sót thành phần loài. Mẫu được thu trên mặt đất, trong tầng thảm mục, lớp đất mặt, trên thân hoặc lá cây. Các bước được tiến hành thu mẫu theo hướng dẫn của Vermeulen và Maassen, cụ thể như sau: + Đối với mẫu có kích thước lớn có thể nhặt bằng tay hoặc dùng panh kẹp để thu mẫu. Đối với các mẫu nhỏ dùng sàng có mắt lưới cỡ 3mm, 5mm, 8mm bằng kim loại để sàng các lá mục, bên dưới sàng được hứng bằng tấm nilon sáng màu hoặc giấy trắng. Nếu có ốc nhỏ bám dưới lá mục, khi sàng mẫu sẽ rơi xuống và có thể dùng kính lúp cầm tay hoặc nhìn bằng mắt nhặt mẫu. + Đối với các mẫu ốc nhỏ lẫn trong đất hoặc mùn ở các kẽ đá hoặc trong hang, có thể sử dụng phương pháp cho đất hoặc thảm mục vào chậu nước để mẫu nổi lên và vớt lấy mẫu. Tất cả các mẫu thu định tính đều được bảo quản trong các túi vải hoặc túi nylon riêng, có ghi ký hiệu cẩn thận theo từng sinh cảnh và các lưu ý cần thiết khác (nếu có).
Trang 1ĐA DẠNG SINH HỌC
CHỦ ĐỀ : ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT THÂN MỀM CHÂN BỤNG
TRÊN CẠN
KỸ THUẬT ĐIỀU TRA ĐA DẠNG SINH HỌC
1 CHỌN ĐIỂM KHẢO SÁT THU MẪU
- Khu hệ Thân mềm Chân bụng ở cạn Việt Nam được nghiên cứu từ khoảng giữa thế kỷ XIX, các nghiên cứu tập trung chủ yếu ở phía Bắc, nhưkhu vực vùng núi Đông Bắc (Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang), Tây Bắc (Lai Châu, Lào Cai, Sơn La), một phần vùng đồng bằng (Ninh Bình, Thanh Hóa) và ven biển (Quảng Ninh, Hải Phòng) Các khu vực này
có điều kiện phù hợp với sinh cảnh của chúng
- Vị trí thu mẫu phải phân bố sao cho đảm bảo tính đại diện cho khu vựcnghiên cứu
2 KỸ THUẬT THU MẪU
2.2 Phương pháp thu mẫu
Thu mẫu định tính
- Mẫu định tính được thu ngẫu nhiên ở tất cả các sinh cảnh khác nhau,phạm vi thường rộng hơn so với mẫu định lượng với mục đích bổ sungthành phần loài cho mẫu định lượng Vì vậy, khi thu mẫu phải thu tất cảcác mẫu với mọi kích thước, từ con non đến con trưởng thành (kể cả mẫu
đã chết chỉ còn lại vỏ) để không bỏ sót thành phần loài Mẫu được thu trênmặt đất, trong tầng thảm mục, lớp đất mặt, trên thân hoặc lá cây Các bướcđược tiến hành thu mẫu theo hướng dẫn của Vermeulen và Maassen, cụthể như sau:
+ Đối với mẫu có kích thước lớn có thể nhặt bằng tay hoặc dùng panh kẹp
để thu mẫu Đối với các mẫu nhỏ dùng sàng có mắt lưới cỡ 3mm, 5mm,8mm bằng kim loại để sàng các lá mục, bên dưới sàng được hứng bằngtấm nilon sáng màu hoặc giấy trắng Nếu có ốc nhỏ bám dưới lá mục, khisàng mẫu sẽ rơi xuống và có thể dùng kính lúp cầm tay hoặc nhìn bằngmắt nhặt mẫu
+ Đối với các mẫu ốc nhỏ lẫn trong đất hoặc mùn ở các kẽ đá hoặc tronghang, có thể sử dụng phương pháp cho đất hoặc thảm mục vào chậu nước
để mẫu nổi lên và vớt lấy mẫu
- Tất cả các mẫu thu định tính đều được bảo quản trong các túi vải hoặc túinylon riêng, có ghi ký hiệu cẩn thận theo từng sinh cảnh và các lưu ý cầnthiết khác (nếu có)
Trang 2Thu mẫu định lượng
- Thu mẫu định lượng là thu toàn bộ mẫu hiện diện trong diện tích mặt đất
có mẫu, diện tích thường được sử dụng là 1m2 Giá trị của mẫu định lượngcho biết mật độ, sự phong phú về số lượng hoặc sự đa dạng về thành phầnloài của khu vực nghiên cứu Mỗi một khu vực đại diện tiến hành lập 3 - 5
ô tiêu chuẩn với diện tích 1m2
- Sau khi xác định được vị trí cần thu mẫu, dùng thước dây xác định ô tiêuchuẩn theo diện tích ở trên, thu tất cả các mẫu có trong ô đó, nếu có lẫn thảmmục thì phải dùng sàng để loại bỏ những vụn lá và tiến hành thu mẫu nhưphương pháp thu định tính Số lượng ô tùy vào tình hình cụ thể của các mẫuthu thập sơ bộ bước đầu, để quyết định đến số lượng và diện tích ô vuông.Nếu số lượng mẫu ốc cạn ít, thưa thớt không thể thu trên diện tích 1m2được, có thể thu với diện tích lớn hơn Mẫu ốc cạn thu được ở mỗi ô vuôngcho vào một túi nilon hoặc một lọ đựng mẫu có đề nhãn Nhãn ghi các thôngtin: Địa điểm, thời gian, tọa độ, sinh cảnh, đặc điểm thảm thực vật
Điều tra theo tuyến
- Lập tuyến điều tra đi qua các các kiểu sinh cảnh đại diện, trên các kiểuđịa hình (núi đất và núi đá, nương rẫy, vườn nhà)
- Quan sát bằng mắt trong phạm vi quan sát chiều ngang và chiều dọc.Tìm kiếm các loài trên cạn, trên mặt đất, vách đá, trên lá, cành cây Bắtbằng tay, thu các loài và nhóm loài đại diện (vỏ hoặc con sống), chụp ảnhcác loài đại diện đã thu thập Mẫu vật và ảnh được ghi các thông tin kèmtheo như địa điểm, tọa độ, ngày tháng, sinh cảnh, độ cao, địa hình
Xử lý và bảo quản mẫu
- Đối với mẫu vật chết (vỏ ốc) tiến hành rửa sạch, phơi hoặc sấy và bảoquản khô trong các túi nylon hoặc hộp nhựa đựng mẫu
- Đối với mẫu ốc cạn còn sống bao gồm cả sên trần và ốc trên cạn được ngâm vào nước trong một đêm (khoảng 12 - 24 giờ) hoặc metanol loãng đểcho ốc chết từ từ, duỗi hết các phần đầu, chân và các tua cảm giác, sau đó tiến hành định hình và bảo quản trong dung dịch cồn 90o
Trang 3- Hầu hết các loài ốc cạn có thể định loại dựa vào các đặc điểm hình thái của vỏ như: Kích thước, hình dạng, màu sắc, số vòng xoắn, rãnh xoắn, đỉnh vỏ, miệng vỏ Được thể hiện qua các số đo hay tỷ lệ của chúng
Xử lý số liệu
- Thông tin về phân bố của loài được căn cứ vào tần suất xuất hiện và mức độphong phú của loài trên các tuyến và điểm điều tra Sử dụng các phần mềmứng dụng để tính toán và xử lý số liệu, sơ đồ, bản đổ, biểu đồ để mô phỏngphân bố của chúng, diễn giải
- Dựa vào số liệu thống kê về thành phần loài ở khu vực nghiên cứu để sosánh, đánh giá mức độ đa dạng, phong phú của chúng ở khu vực nghiêncứu với một số khu vực lân cận
- Các cách phân tích số liệu trong ô vuông :
+ Mật độ (số cá thể của loài/m2):
- Mật độ cá thể của loài i: v (số cá thể của loài thứ i/m2) = Σnni/ΣnS
- Mật độ cá thể các loài trong các ô nghiên cứu:
V (số cá thể /m2) = Σnn/ΣnS
Trong đó:
* ni: Là số lượng cá thể loài thứ i trong ô nghiên cứu
* Σnni: Là tổng số cá thể loài i trong các ô nghiên cứu
* Σnn: Là tổng số cá thể trong các ô nghiên cứu
* ΣnS: Là tổng diện tích các ô nghiên cứu
+ Độ đa dạng của loài (D‟): Được tính theo chỉ số đa dạng Simpson
(Simpson‟s Index of Diversity)
D‟ = 1- Σnpi2Trong đó:
(D‟) chỉ số đa dạng Simpson
D‟ trong khoảng từ 0 - 1
D‟ có giá trị càng lớn thì càng đa dạng
pi: Tỉ lệ loài i trên tổng số các cá thể (pi =(ni/Σnn)
+ Độ phong phú của loài: Được tính theo công thức của Kreds (1989).
P% = (ni/Σnn) x 100
+ Tần số xuất hiện (độ thường gặp) được tính bằng công thức của Sharma
(2003):
C‟ = p/P*100%
Trang 4Trong đó: C‟: Là tần số xuất hiện (độ thường gặp).
p: Là số lượng các địa điểm thu mẫu có loài xuất hiện
P: Là tổng số các địa điểm thu mẫu khi nghiên cứu
Đánh giá tần số xuất hiện theo giá trị của tần số xuất hiện:
Loài thường gặp C‟ > 50%,
Loài ít gặp 25% < C‟ < 50%,
Loài ngẫu nhiên C‟ < 25%
CHỦ ĐỀ THỰC VẬT THÂN THẢO
II KỸ THUẬT ĐIỀU TRA ĐA DẠNG SINH HỌC
2.1 Địa điểm khảo sát:
- Thu mẫu rãi rác trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
2.2 Kỹ thuật thu mẫu.
2.2.2 Các kỹ thuật , phương pháp:
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Thu thập một số tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu thực vật để vận dụng vào việc phân tích, biện luận các kết quả đạt được
Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
- Bố trí thu mẫu: Mẫu được thu rải rác ở các môi trường trong địa bản Vĩnh Phúc
- Quan sát, mô tả đặc điểm hình thái: Quan sát mô tả đặc điểm hình tháicác cơ quan sinh dưỡng của các loài thực vật nghiên cứu, ghi chép các đặcđiểm sinh thái ở các môi trường nghiên cứu Chụp ảnh các đối tượngnghiên cứu trong điều kiện tự nhiên
Phương pháp cắt, nhuộm mẫu
+ Cắt trực tiếp bằng tay với lưỡi dao lam
+ Mẫu cắt xong muốn nghiên cứu được chi tiết, chúng ta phải tiến hànhnhuộm mẫu Sử dụng phương pháp nhuộm kép, gồm các bước:
▫ Ngâm mẫu cắt vào nước javen trong 15-20 phút để tẩy sạch nội chất của
tế bào, rửa sạch bằng nước cất
▫ Ngâm mẫu vào axit axetic 1% khoảng 5 phút để loại hết javen còn dínhlại, rửa sạch bằng nước cất
▫ Nhuộm xanh bằng dung dịch xanh metylen loãng (1/1000-1/10.000 trong
nước cất) từ 10 giây đến 1-2 phút, rửa sạch bằng nước cất
▫ Nhuộm đỏ bằng dung dịch đỏ carmin trong 20-30 phút, rửa lại sạch bằngnước cất
Thu mẫu và cố định mẫu cây
Trang 5Mỗi mẫu phải có đầy đủ các bộ phận , nhất là : cành , lá , hoa và cả quả càng tốt (đối với cây lớn ) hay cả cây đối vơi cây thân thảo
Mỗi cây thu từ 3-5 mẫu , con mẫu cây thân thảo thì tìm các mẫu giống nhau và cũng thu vơi số lượng trên để vừa nghiên cứu các biến dạng của loại, vừa để trao đổi
Việc thu hái mẫu thân thảo thường dễ tiến hành Tuy nhiên phải chú ý tuỳloại cây mà thu thập các bộ phận quan trọng nhất để việc làm các tiêu bản được đầy đủ và việc giám định được dễ dàng Với cây thân thảo , dùng kéo cắt , cắt một đoạn thân hoặc cành cỏ đủ hoa , quả và lá Đối với các loại cây có củ có thể dùng xẻng nhỏ đào cả cây , rũ sạch đất để làm mẫu
- Những loại cây thân thảo có kích thước lớn , mọng nước , không thu cả cây được, cần căn cứ vao đặc điểm cần cho định loài để thu lái
- Cũng có thể thu hái cả một thân cây thảo lơn , cắt thành từng đoạn , ghi cùng một số liệu và có chú thích thêm để làm các tiêu bản liên hoàn
- Các mẫu rễ, thân, lá lấy đồng đều về kích thước nhằm đảm bảo tínhđồng bộ, chính xác khi nghiên cứu so sánh
Cố định mẫu:
- Cố định mẫu bằng dung dịch FAC cải tiến với tỷ lệ thành phần các chất:Cồn etylic 96o: 400ml; axit axetic 40%: 40ml; focmalin: 80ml; Nước cất:280ml
- Rượu etylic thấm nhanh vào mẫu vật làm cho chất tế bào và chất nhânkết thành hạt dày đặc, làm tan chất dầu Tuy nhiên, rượu làm méo mó hìnhthái tế bào và làm cho màng tế bào cứng dòn lại
- Focmalin giữ được cấu trúc của chất tế bào, không làm tan lipit, khônglàm méo mó hình dạng tế bào Nhưng focmalin làm cứng dòn mẫu câynhất là lá
- Axit axetic có tác dụng chủ yếu là giữ cho cấu tạo nhân không thay đổinhưng không giữ được cấu tạo của chất tế bào và thường gây phân hủycác thể tơ Khác với rượu, axit axetic còn làm cho tế bào trương lên vàngăn chặn hiện tượng làm cứng màng tế bào
2.3 Xử lý bảo quản mẫu :
- Xử lý mẫu :
Sau một ngày thu mẫu cần đeo nhãn cho mỗi mẫu Trên mỗi nhãn cần ghi chép :
+ Số liệu mẫu
+ Địa điểm và nới lấy ( rải rác trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc)
+ Ngày lấy mẫu:13/11/2016
+ Đặc điểm quan trọng : cây thân thảo các loại cây như bạc hà ,cà rốt ,
Trang 6+ Người lấy mẫu: Đỗ Lê Thành Hưng , Đinh Thị Ngọc Giang
+ Nhãn có thể chỉ ghi số hiệu mẫu còn các thông tin khác sẽ ghi vào sổ riêng hoặc ghi phiếu mô tả, nhật ký
+ Sau khi đã đeo nhãn , các mẫu cần được xử lý Mẫu được bỏ vào thùng tôn , hoặc thùng gỗ rồi vận chuyển về phòng thí nghiệm
- Để bảo quản mẫu , có rất nhiều cách để bảo quản mẫu, thông thương nên dùng túi polyetylen để đựng mẫu mà không dùng cặp gỗ dán như
trước đây vì vừa cồng kềnh, vừa khó bảo quản , cần có sổ ghi chép riêng , dây buộc , kéo cắt , nhãn dán , bút chì 2B
2.4 Phân tích định loại
Tài liệu định loại thực vật ở việt nam
Nguyễn Tiến Bân, 1997 Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật
hạt kín ở Việt N m, NXB Nông nghiệp, H Nội, 532 trang
Lê Huy Bá, Lâm Minh Triết (2005), Sinh thái môi trường học cơ bản,
NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Nguyễn Bá (2006), Hình thái học thực vật, NXB Giáo dục, Hà Nội.
Nguyễn Như Đối, Nguyễn Khoa Lân (1995), Giáo trình giải phẫu hình thái thực vật, Đại học Huế.
Katherine Esau (1979), Giải phẫu thực vật, tập1, NXB Khoa học và kỹ
thuật, Hà Nội
Xử lý số liệu
- Phương pháp đo trên kính hiển vi: Sử dụng phương pháp đo gián tiếpbằng cách so sánh kích thước của vật cần đo với một thước đo thị kính vàthước đo vật kính được lắp thêm vào kính hiển vi Sử dụng phương phápnày chúng ta xác định được kích thước của các thành phần cơ bản cấu tạonên tế bào
Số liệu được xử lí bằng phương pháp toán thống kê:
CHỦ ĐỂ THỰC VẬT NẤM CỞ LỚN
A KỸ THUẬT ĐIỀU TRA ĐA DẠNG SINH HỌC
1 Chọn điểm khảo sát thu mẫu:
+ Thời gian thu mẫu: vào các mùa xuân, hạ, thu, đông trong năm
+Khảo sát tuyến : Theo đặc trưng phân hóa của thảm thực vật và theo đai
độ cao, sinh cảnh: các bãi gỗ, làng mạc, rừng núi, ven bờ sông, bờ suối,
vườn cây, vùng cát ven biển, vùng đất ngập mặn…Trên cơ sở nguồn
lực,kinh phí và mục tiêu của chương trình điều tra chúng ta cần xác định
khu vực lập tuyến điều tra, số tuyến điều tra và số lần lặp lại.
Trang 7+Điều tra phỏng vấn: Phỏng vấn người dân qua phiếu điều tra và phỏng
vấn trực tiếp nhằm thu thập thông tin về thành phần loài, số lượng, tên địa phương, nơi phân bố, đặc điểm sinh học, sinh thái học, tình hình khai thác
và giá trị sử dụng, giá trị kinh tế
2 Kỹ thuật thu mẫu:
2.1. Phương pháp thu mẫu:
+ Đầu tiên quan sát, mô tả màu sắc, kích thước, hình dạng, sinh cảnh và chụp lại bằng máy ảnh
+ Để thu mẫu những nấm lớn chúng ta dùng dao nhọn lấy nguyên vẹn cả cây nấm ra khỏi giá thể (kể cả phần tiếp xúc: Đất, mùn hoặc cây gỗ)
+ Ghi chép các kiểu gây mục của nấm (trắng, nâu, hỗn hợp, mục vết
thương, mục rễ, ), ở phần nào của cây (cưa ngang để quan sát, ghi chép), tên địa phương và tên khoa học cây mà trên đó nấm mọc
+ Thu mẫu ở các giai đoạn phát triển khác nhau (non, trưởng thành, già) rồi quan sát và ghi chép sự hình thành quả thể của chúng,
+ Những mẫu đã quá già hoặc hỏng không được thu thập lẫn vào để tránh lây lan, phá hỏng các mẫu nấm khác Trường hợp mẫu là loại hiếm, không còn mẫu nào khác, có thể thu để riêng và xử lý đặc biệt trong phòng thí nghiệm
+ Mẫu ngay sau khi vừa thu phải ghi ký hiệu và nhãn hiệu.
Số hiệu mẫu Tên mẫu Tên họ Ngày lấy
mẫu
Đặc điểm mẫu Người lấy
mẫu
+Ghi bằng bút chì hay bút mực không bị nhoè trong nước Sau đó phải chú
ý quan sát và ghi chép những đặc điểm dễ biến mất của nấm vào phiếu điều tra như: màu sắc, mặt mũ nấm và các phần phụ (khô, nhầy dính,
mụn, ), chụp ảnh nấm
+ Chụp ảnh mẫu: đây là một việc rất quan trọng, giúp lưu giữ lại hình ảnh của mẫu phục vụ cho những nghiên cứu phân loại cũng như bảo quản mẫu sau này
3. Bảo quản mẫu
Bảo quản tại nơi thu mẫu:
+ Dùng giấy báo gói lại thành dạng phễu, đặt phần cuống nấm xuống đáy phễu còn mũ nấm ở phía trên
+ Mỗi mẫu nấm được gói riêng, không để lẫn hay gói lẫn những mẫu nấm, nhất là những loài khác nhau, tránh bào tử nấm sẽ lẫn lộn nhau
Trang 8+ Những nấm có kích thước nhỏ, dễ gãy vỡ được đựng riêng trong các lọ nhỏ, hộp nhựa, hộp đựng phim
+ Không dùng túi ni lông để đựng mẫu vì nó không thoát khí và hơi nước, tạo điều kiện thuận lợi cho mốc và vi khuẩn phát triển
Bảo quản mẫu khi về phòng thí nghiệm:
+ Phương pháp phơi khô, sấy khô :
Nấm được phơi khô tự nhiên dưới ánh nắng mặt trời hoặc sấy khô từ từ bằng đốt than củi, bếp điện hay tủ điện ở nhiệt độ 60 - 80oC để tránh bị biến dạng và thay đổi màu sắc nhiều
• Nấm được xếp lên phên đan hay lưới thép mắt cáo có gờ xung quanh treo lên trên nguồn nhiệt
• Đối với những nấm có kích thước lớn có thể chẻ đôi hoặc bổ ra làm nhiều lát mỏng hơn để sấy cho chóng khô
• Các mẫu nấm sau khi đã sấy khô, cần được bọc trong giấy bóng mờ hay để trong túi polyetylen rồi xếp mẫu vào hộp carton, hộp gỗ hay thùng kẽm đựng mẫu, đậy kín và sắp xếp theo thứ tự quy định
+ Phương pháp ngâm hóa chất:
Nấm được ngâm trong dung dịch formalin 4% hay cồn pha loãng 30 – 50% hoặc dung dịch hỗn hợp (1/3 cồn, 1/3 formalin và 1/3 glyxerin)
• Thông thường sau khi ngâm, dung dịch trở nên vẫn đục, tuy nhiên sau 24 giờ quá trình này sẽ ngừng lại Lúc đó có thể gặn lọc dung dịch hay thay thế để có dung dịch trong suốt
• Để có những mẫu đẹp ở vị trí như ý muốn, dùng các miếng kính cắt vừa bình thuỷ tinh, buộc toàn bộ hay từng nửa nấm bổ đôi, ngâm trong dung dịch có nồng độ thích hợp, đậy kín nắp, gắn bằng parafin nung chảy
• Phương pháp ngâm hóa chất thường được ứng dụng với nấm quả thểchất thịt
4. Phân tích định loại:
4.1. Hình thái bên ngoài:
Hình dạng, và cấu trúc bên ngoài thường gặp của nấm lớn:
CHỦ ĐỀ NHÓM THỰC VẬT NGOẠI TẦNG
QUY TRÌNH, KỸ THUẬT ĐIỀU TRA ĐA DẠNG SINH HỌC THỰC
VẬT NGOẠI TẦNG
I, Công tác chuẩn bị.
Lập kế hoạch
a.Chuẩn bị tài liệu.
Bao gồm các bản đồ, sơ đồ, thông tin chung về khu vực dự định điều tra.Đặc biệt cần thu thập các loại bản đồ chuyên ngành như bản đồ địa hình,
Trang 9bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ quy hoạch sử dụng đất các phần mềmchuyên dụng để vẽ bản đồ xử lý ảnh số và GIS như: Map/info;Micro/station; ILWIS; Are/View; Are/GIS; ERDAS/IMAGINE và cácảnh máy bay, ảnh vệ tinh có chất lượng cao của khu vực điều tra.
b.Theo dõi dự báo thời tiết, tìm hiểu điều kiện khí hậu thủy văn, hải văn để
đề phòng thời tiết xấu ảnh hưởng đến kết quả điều tra đa dạng sinh học tạihiện trường
c.Lên danh sách nhân sự và danh mục các dụng cụ, thiết bị điều tra, thumẫu Cần thiết kiểm tra, vệ sinh và hiệu chuẩn các thiết bị và dụng cụ quansát, đo đạc, thử trước khi ra hiện trường
d.Chuẩn bị hóa chất, vật tư, dụng cụ phục vụ lấy mẫu bảo quản mẫu:
- Các hóa chất bảo quản mẫu
- Các dụng cụ chứa mẫu theo tiêu chuẩn
- Hộp, thùng bảo quản mẫu phù hợp với điều tra đa dạng sinh học
- Dụng cụ, thiết bị hỗ trợ khác: máy định vị vệ tinh ( GPS ), máy ảnh, máyquay phim
- Văn phòng phẩm: giấy, bút, băng dính, sổ ghi chép
e.Chuẩn bị nhãn mẫu
f Chuẩn bị các biểu mẫu, phiếu điều tra, phỏng vấn, nhật kí điều tra vàphân tích
g.Chuẩn bị các tài liệu có liên quan khác:
- Bản đồ hành chính của các địa phương tiến hành điều tra và sơ đồ cácđiểm quan trắc tại các địa phương đó
- Giấy đi đường và công văn cử đoàn đi điều tra đa dạng sinh học
- Các tài liệu, biểu mẫu khác
h.Chuẩn bị các phương tiện phục vụ hoạt động lấy mẫu và vận chuyểnmẫu: ô tô, xe máy
i Chuẩn bị các thiết bị bảo hộ, an toàn lao động: quần áo bảo hộ lao động,
mũ, áo mưa, áo phao, ủng cao su, găng tay, lều bạt, chăn màn, võng, túicứu thương, dược phẩm
j Chuẩn bị kinh phí
k.Phân công người đi điều tra
l Chuẩn bị cơ sở lưu trữ cho những người công tác dài ngày, lương thựcthực phẩm đủ dùng trong thời gian dự kiến
m.Liên hệ với các cơ quan tại địa bàn điều tra để việc thực hiện được điềutra thuận lợi
1.Thiết kế các tuyến/ điểm điều tra.
Trang 10Tính đa dạng thực vật được điều tra, nghiên cứu thông qua các tuyến điều tra và các ô nghiên cứu định vị Các tuyến điều tra khảo sát và các điểm, các ô nghiên cứu định vị được xác định dựa vào các loại bản đồ chuyên ngành như bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ tài
nguyên rừng ( hoặc bản đồ thảm thực vật ), vầ một phần cũng rất quan trong, đó là kinh nghiệm của người điều tra, khảo sát
a.Xác định tuyến điều tra khảo sát
Dựa vào bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ tài
nguyên rừng hoặc bản đồ thảm thực vật để xác định tuyến khảo sát đi qua tất cả các
sinh cảnh ( hay là các trạng thái thảm thực vật ) và các dạng địa hình khác nhau trong khu vực nghiên cứu
Để thiết kế các tuyến điều tra cần căn cứ vào các bản đồ địa hình, bản đồ
sử dụng đất, bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ hiện trạng thảm thực vật để xác định các dạng địa hình, các trạng thái thảm thực vật trên lãnh thổ
nghiên cứu để thiết kế hệ thống các tuyến điều tra sao cho bao phủ hết cácdạng địa hình, các trạng thái thảm thực vật có trên lãnh thổ nghiên cứu Nếu trên lãnh thổ nghiên cứu có các đỉnh núi cao thì phải có các tuyến điều tra đi từ chân núi lên đỉnh núi theo các hướng Tây, Bắc, Đông và Nam
Cự ly các tuyến: khoảng cách gần xa của các tuyến phụ thuộc vào mức độchi tiết của kế hoạch điều tra nghiên cứu nhưng nói chung đối với điều tra
đa dạng thực vật các giữa các tuyến có thể chọn lựa trong khoảng 100 –
500 m
Hướng tuyến: trong điều tra thực vật, hướng tuyến phải vuông góc với đường đồng mức chính để có thể ghi nhận được sự thay đổi của thành phần thực vật theo địa hình hoặc trạng thái thảm thực vật
Xác định cự ly ghi chép hay các điểm điều tra chi tiết: Trên mỗi tuyến điều tra đã được lập cần đánh dấu chia đoạn để điều tra chi tiết, ghi chép, thu thập dữ liệu Tùy theo mức độ chi tiết của chương trình nghiên cứu, cự
ly của các điểm nghiên cứu có thể xác định với khoảng cách từ 100 –
500m
b.Lựa chọn địa điểm, các ô nghiên cứu định vị
Điều tra theo ô tiêu chuẩn giúp cho người điều tra có thể xác định được diện tích điều tra, cấu trúc của thảm thực vật, xác định thực vật và cá thể loài và ghi chép dữ liệu 1 cách cụ thể, chi tiết hơn Có 2 loại ô tiêu chuẩn:
ô tiêu chuẩn tạm thời và ô tiêu chuẩn cố định Việc lựa chọn ô tiêu chuẩn
Trang 11loại nào còn tùy thuộc vào yêu cầu của trương trình điều tra nghiên cứu và giám sát thực vật Một nguyên tắc khi xây dựng và thực hiện giám sát, đánh giá đa dạng sinh học là cần phải tuyệt đối tuân thủ việc điều tra lặp lại Do đó, trong điều tra nghiên cứu và đánh giá đa dạng sinh học tốt nhất nên chọn ô tiêu chuẩn cố định.
Phương pháp đặt ô tiêu chuẩn: có thể chọn lựa 1 trong 3 phương pháp: ngẫu nhiên, hệ thống và điển hình Phương pháp nghiên cứu ô tiêu chuẩn thường được sử dụng trong điều tra đa dạng loài và nghiên cứu sinh thái thảm thực vật
Sử dụng la bàn, GPS và các bản đồ chuyên ngành, ảnh vệ tinh để xácđịnh vị trí của các điểm, các ô nghiên cứu định vị nhằm xác định ranh giới các quần xã thực vật và nghiên cứu những đặc trưng cơ bản của các quần
xã thực vật trong khu vực nghiên cứu
Để khoanh 1 ô tiêu chuẩn ngoài thực địa, cần có dây, thước góc và la bàn Thước góc giúp tạo góc vuông cho các ô tiêu chuẩn hình vuông hoặc hình chữ nhật và la bàn tạo hướng cho người căng dây không bị đi xiên qua trái hoặc phải Thường phải đánh dấu các góc và căng dây để có thể dễ hình dung kích thước ô tiêu chuẩn ngoài thực địa Đối với các ô tiêu chuẩn con bên trong để nghiên cứu thảm thực vật dưới tán rừng, phương pháp và kỹ thuật khoanh ô cũng tương tự Nếu không dùng dây căng đo các ô nhỏ, có thẻ chặt cành đo kích thước ô con đặt lên mặt đất để tiến hành nghiên cứu
II Phương pháp nghiên cứu
1 Điều tra thu thập dữ liệu trên tuyến.
Ghi chép dữ liệu trên các tuyến: Trên các tuyến và tại các điểm điều tra đã xác định, cần tiến hành ghi chép toàn bộ các loài thực vật ngoại tầng đã gặp Dữ liệu thu thập đối với các loài thực vật ngoại tầng tùy theo từng dạng khác nhau nên cần thiết ghi nhận các dữ liệu như tên loài, độ phong phú tương đối, tầng phân bố của loài
2 Điều tra, thu thập số liệu trong ô tiêu chuẩn.
Nội dung điều tra ô tiêu chuẩn gồm: điều tra thành phần loài cây phụ sinh, cây leo
Ngoài việc tập trung vào nghiên cứu đa dạng loài, cần chú ý ghi chép thêmcác dấu hiệu chính của quần xã, điều kiện địa hình, thổ nhưỡng tại các ô tiêu chuẩn
Đối với nhóm thực vật ngoại tầng ( nhóm cây thân leo, cây phụ sinh, bì sinh ): xác định kích thước và số lượng ô tiêu chuẩn Trên thực tế, quá trình sinh trưởng và phát triển của phần lớn các loài thực vật ngoại tầng liên quan đến cây thân gỗ Chính vì thế, nên phương pháp rút mẫu, xác
Trang 12định sinh trưởng, số lượng ô tiêu chuẩn giống như đối với trường hợp điều tra thực vật thân gỗ, đồng thời kết hợp với việc thu thập số liệu của thực vật ngoại tầng có phân bố trong ô Thu thập dữ liệu trên ô tiêu chuẩn đối với thực vật ngoại tầng thường ghi nhận: tên loài, tầng phân bố, số lượng
Mẫu biểu điều tra kháo sát thực vật ngoại tầng
Ô tiêu chuẩn số: Ngày điều tra: Người/ nhóm điều tra
Trạng thái rừng/ kiểu sinh thái: Vị trí: Chân/sườn/đỉnh
Điều tra phỏng vấn theo mẫu
- Tiến hành phỏng vấn người dân, lãnh đạo chính quyền địa phương, các cán bộ quản lý vườn quốc gia, khu bảo tồn; các lực lượng chức năng như cán bộ kiểm lâm, cán bộ khoa học tại địa phương để thu thập thông tin
và các số liệu cần thiết
- Dựa vào cộng đồng dân cư địa phương để điều tra bổ sung về đa dạng thực vật, điều kiện môi trường, cơ sở hạ tầng kĩ thuật, đời sống, thu nhập các khu vực nghiên cứu Phương pháp được thực hiện gồm bước tham vấn
và bước xác thực thông tin
Một sô lưu ý về điều tra, khảo sát thực vật
Về mặt lý thuyết, điều tra thực vật dọc theo tuyến này có thêt thực hiện bằng 2 cách Cách thứ nhất là đánh dấu, đo và định loại các cây dọc theo tuyến và lập lại trên các tuyến hoặc lặp lại theo thời gian Phương pháp này không thể biết chính xác diện tích đang nghiên cứu đồng thời vấn đề nảy sinh là 1 số cá thể thực vật, đặc biệt là các cây to thường vượt ra khỏi phạm vi tuyến điều tra Vì vậy, tốt nhất là xác định 1 khu cố định (ô khảo sát) và ở đó nghiên cứu tất cả, xác định những loài thực vật tìm thấy, số cá thể trên mỗi diện tích nghiên cứu Ô khảo sát có kích thước cố định, được đánh dấu vĩnh cửu dọc theo các tuyến và có thể lặp lại nghiên cứu cho từng năm hoặc từng mùa
Phương pháp kế thừa
Trang 13Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây làm cơ sở cho việc so sánh, phântích và phục vụ cho việc viết tổng quan tài liệu
Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Vật liệu, vật dụng bao gồm: túi ni lông cỡ lớn không thủng, kéo cắt cây, cưa gỗ tay, dây buộc, nhãn, kim chỉ, máy định vị (GPS), máy ảnh, thước kẹp, thước dây, khung mẫu
III Thu mẫu và làm mẫu thực vật tại thực địa.
Chọn mẫu
Chọn những mẫu tiêu biểu và đầy đủ các phần như thân, cành, lá, cơ quan sinh sản là hoa hoặc quả và có đử trữ lượng theo yêu cầu Ưu tiên chọn mẫu là những loài có giá trị bảo tồn, những loài có giá trị sử dụng cao Thu mẫu
Mỗi mẫu phải thu đủ các bộ phận: cành, lá, hoa/quả hoặc cả dây, thân, rễ.Đối với các cây sống nhờ, sống bám( tầm gửi, phong lan ) dùng dao nhỏ tách hoặc cưa cắt lấy cả một phần cây chủ Trong 1 số trường hợp cần thu mẫu cả cây chủ để nghiên cứu sâu hơn
Xử lý và bảo quản mẫu
a Chụp ảnh mẫu: đây là việc làm rất quan trọng, lưu giữ lại hình ảnh của mẫu phục vụ cho những nghiên cứu phân loại cũng như bảo quản mẫu sau này
Ngày, thán,g năm thu mẫu
Đặc điểm hình thái của mẫu: hình dạng, kích thước, màu sắc tự nhiên Cơ quan sinh sản nếu có
Địa điểm thu mẫu: vùng miền, xã, tỉnh, huyện, định vị tọa độ, độ cao địa điểm thu mẫu bằng GPS
c Ghi nhật kí mẫu: dùng bút chì hoặc bút bi mực ghi chép đầy đủ các thông tin mẫu vật như: số hiệu mẫu, số lượng mẫu thu, địa điểm thu hái mẫu, các đặc điểm sinh học, sinh thái và điều kiện sống của mẫu, ngày tháng thu hái mẫu, giới tính mẫu
d Ép mẫu: đối với mẫu tiêu bản đối chứng, tùy theo kích thước của từng mẫu chọn những cỡ giấy thích hợp để ép mẫu Mẫu sau khi thu được
nhúng qua cồn, sau đó được ép mẫu bằng khung ép trong giấy
e Làm khô mẫu: mẫu sau khi thu được có thể được làm khô bằng cách phơi nắng hoặc sấy Mẫu thường được sấy trong tủ sấy ở nhiệt độ