MỤC LỤCLỜI CẢM ƠNiLỜI CAM ĐOANiiDANH MỤC TỪ VIẾT TẮTiiiMỤC LỤCivI.MỞ ĐẦU11.Đặt vấn đề12.Mục tiêu nghiên cứu23.Nội dung nghiên cứu21.1.Đối tượng nghiên cứu31.1.1.Đặc điểm, tính chất31.1.2.Vai trò, khả năng ứng dụng61.1.3.Đặc điểm sinh học và sinh thái học71.2.Địa điểm nghiên cứu71.2.1.Địa điểm nghiên cứu71.3.Tình hình nghiên cứu về đa dạng ốc cạn111.3.1.Trên thế giới111.3.2.Tại Việt Nam12CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU152.1.Địa điểm và thời gian nghiên cứu152.1.1.Địa điểm nghiên cứu152.1.2.Thời gian nghiên cứu152.2.Phương tiện và phương pháp nghiên cứu172.2.1.Phương tiện nghiên cứu172.2.2.Phương pháp nghiên cứu17CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU233.1. Thành phần loài ốc cạn ở KVNC.233.1.1. Cấu trúc thành phần loài233.1.2. Mức độ phong phú của các loài ốc cạn tại KVNC323.1.3. Mối quan hệ thành phần loài ốc cạn ở KVNC với các khu vực lân cận393.2. Đặc điểm phân bố của ốc cạn ở KVNC403.2.1. Phân bố theo sinh cảnh403.3. Vai trò của ốc cạn413.3.1. Về giá trị làm thực phẩm413.2.2. Về giá trị Y dược423.3.3. Khả năng gây hại của ốc cạn43NHẬN XÉT CHUNG47KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ48Kết luận48Kiến nghị48TÀI LIỆU THAM KHẢO49PHỤ LỤC51
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
Trang 2ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đồ án trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS.Hoàng Ngọc Khắc và TS Nguyễn Quốc Bình đã trực tiếp hướng dẫn, truyền đạtkiến thức thực tế, phương pháp luận, đôn đốc kiểm tra tra trong suốt quá trìnhnghiên cứu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới UBND xã và người dân xã Thần Sa, huyện VõNhai, tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp những tài liệu và thôngtin cần thiết cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãn đạo trường Đại học sư phạm – Đại họcquốc gia Hà Nội, Thầy Đỗ Văn Nhượng - khoa Sinh đã giúp đỡ tôi trong quá trìnhhọc tập và hoàn thành đồ án
Hà Nội, ngày 10 tháng 06 năm 2016
Sinh viên
Ngô Thành Đạt
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin xam đoan bản đồ án “ Nghiên cứu đa dạng sinh học ốc cạn (Gastropoda) tại
xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên” là công trình nghiên cứu thực sựcủa riêng tôi, thực hiện trên cơ sở nghiên cứu thực địa ở khu vực xã Thần Sa, huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hoàng NgọcKhắc Các số liệu về kết quả là trung thực, khách quan và chưa được công bố trongbất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày 10 tháng 06 năm 2016 Sinh viên
Ngô Thành Đạt
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt/Ký hiệu Nội dung
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
I MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
1.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.1.1 Đặc điểm, tính chất 3
1.1.2 Vai trò, khả năng ứng dụng 6
1.1.3 Đặc điểm sinh học và sinh thái học 7
1.2 Địa điểm nghiên cứu 7
1.2.1 Địa điểm nghiên cứu 7
1.3 Tình hình nghiên cứu về đa dạng ốc cạn 11
1.3.1 Trên thế giới 11
1.3.2 Tại Việt Nam 12
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 15
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 15
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 15
2.2 Phương tiện và phương pháp nghiên cứu 17
2.2.1 Phương tiện nghiên cứu 17
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 17
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
Trang 73.1 Thành phần loài ốc cạn ở KVNC 23
3.1.1 Cấu trúc thành phần loài 23
3.1.2 Mức độ phong phú của các loài ốc cạn tại KVNC 32
3.1.3 Mối quan hệ thành phần loài ốc cạn ở KVNC với các khu vực lân cận 39
3.2 Đặc điểm phân bố của ốc cạn ở KVNC 40
3.2.1 Phân bố theo sinh cảnh 40
3.3 Vai trò của ốc cạn 41
3.3.1 Về giá trị làm thực phẩm 41
3.2.2 Về giá trị Y dược 42
3.3.3 Khả năng gây hại của ốc cạn 43
NHẬN XÉT CHUNG 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
Kết luận 48
Kiến nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
PHỤ LỤC 51
Trang 8I MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa Do vị trí địa lý, Việt Nam rất đadạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan, có đặc trưng khí hậu khác nhau giữacác vùng miền Đặc điểm đó là cơ sở rất thuận lợi để giới sinh vật phát triển
đa dạng và phòng phú về thành phần loài cũng như số lượng Sự phong phú
và đa dạng của khu hệ động vật đã góp phần tạo nên sự đa dạng này Độngvật không xương sống nói chung, động vật Thân mềm nói riêng cũng vôcũng đa dạng về hình thái, tập tính, sinh lý nên thích nghi với nhiều điều kiệnmôi trường sống khác nhau Thân mềm (Mollusca) được biết đến với khoảng130.000 loài, phân bố rộng khắp Trong ngành Thân mềm, lớp Chân bụng(Gastropoda) là lớp đa dạng và phong phú nhất, có khoảng 90.000 loài,chiếm khoảng 70% tổng số loài Thân mềm Lớp thân mềm Chân bụng(Gastropoda) là một trong 7 lớp thuộc Ngành thân mềm (Mollusca) có vai tròđặc biệt quan trọng trong hệ sinh thái và có giá trị thực tiễn đối với conngười Trong lớp Chân bụng có 3 phân lớp: Phân lớp Mang trước(prosobranchia), phân lớp Mang sau (Opisthobranchia) và phân lớp Có phổi(Pulmonata) Trong 3 phân lớp này, phân lớp Mang sau hoàn toàn ở biển,phân lớp Mang trước tỷ lệ loài sống ở nước chiếm phần lớn còn một số ởcạn, phân lớp Pulmonata sống trên cạn Trải qua sự tiến hóa hàng triệu nămcủa Thân mềm Chân bụng đã phát sinh nhiều loài có số lượng loài phongphú chỉ đứng thứ 2 sau lớp côn trùng Đặc biệt nhóm ở cạn bởi môi trườngsống đặc trưng nên đã hình thành nên đa dạng cao, nhiều loài được dùng làmthực phẩm quan trọng cho con người, mang lại nguồn kinh tế cho người dântại khu vực Trong hệ sinh thái có nhiều loài còn là thành phần không thểthiếu trong chuỗi thức ăn và lưới thức ăn dành cho một số loài chim và thú
ăn thịt nhỏ Tuy nhiên bên cạnh đó còn có một số loài là vật chủ trung gianlây truyền bệnh cho con người và động vật ở Việt Nam các nghiên cứu vềThân mềm Chân bụng còn hạn chế, nhiều vùng chưa có dẫn liệu Các nghiêncứu từ rất sớm nhưng kéo dài vài thế kỷ, kết quả nghiên cứu chưa phản ánh
Trang 9đầy đủ về đa dạng, đăc trưng về hình thái, kích thước, phân loại, phân bố, giátrị trong thực tiễn Các nghiên cứu cho thấy vùng núi đá vôi là nơi tập trungnhiều ốc cạn về số lượng loài cũng như số lượng cá thế Thần Sa là một xãcủa huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam Xã nằm ở phía bắc củahuyện và được biết đến với và có nhiều khoáng sản quý như chì, kẽm, vàng.Khu di tích Thần Sa nằm trọn trên địa bàn xã Thần Sa Đặc trưng địa hình lànhững dãy núi đá vôi dày đặc thuộc phần cuối của dãy núi Bắc Sơn và nhữngdải thung lũng hẹp dọc theo bờ sông Thần Sa Tại khu di tích này đã pháthiện một nền khảo cổ học Thần Sa gắn liền với thời đại đồ đá cũ có niên đạitrên dưới 3 vạn năm lần đầu tiên tìm được ở Đông Nam Á, thu hút sự chú ýcủa các nhà khoa học trong nước và thế giới với địa hình chủ yếu là núi đávôi nhưng chưa có nhiều dẫn liệu về Thân mềm Chân bụng ở khu vực này.
Vì vậy, nghiên cứu về thành phần loài ốc cạn góp phần cho thấy sự đa dạngsinh học ở khu vực và những tác động môi trường xung quanh đến chúng
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “ Nghiêncứu đa dạng sinh học động vật thân mềm chân bụng tại xã Thần Sa, huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được ĐDSH của động vật Thân mềm Chân bụng ở cạn tại xãThần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
+ Xác định (đánh giá) được thành phần loài của động vật Thân mềmChân bụng
+ Xác định được đặc điểm phân bố tại các sinh cảnh trong xã
+ Xác định mối liên hệ giữa ốc cạn với môi trường xung quanh và giá trịcủa nó để làm cơ sở dữ liệu cho địa phương
- Đề xuất được một số biện pháp bảo tồn, phát triển DDSH
3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu về đa dạng thành phần loài ốc cạn ở KVNC
- Tìm hiểu về đặc điểm phân bố của ốc cạn theo sinh cảnh
- Tìm hiểu về giá trị, ý nghĩa thực tiễn của ốc cạn ở KVNC
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
I.1 Đối tượng nghiên cứu
I.1.1 Đặc điểm, tính chất
Hầu hết các loài ốc cạn được phát hiện dựa vào các đặc điểm hình tháicủa vỏ, dấu hiệu được sử dụng nhiều trong mô tả, sự xoắn của vỏ ốc là tínhchất phức tạp trong vỏ ốc Sự tiến hóa của dạng ống đã tạo nên vỏ xoắn quengọi là vòng xoắn Các vòng xoắn chụm lại ở giữa trục (axis), trục này chạyxuyên trung tâm gọi là trụ giữa (central pillar) của vỏ Vòng xoắn (sutunre).Một vài loài vỏ mỏng có dường thứ sinh hay một đường rộng (broad), thêmvào một dãy mở đục (opaque) bên cạnh đường xoăn như đường xoắn kép.Hầu như trong các mẫu vỏ, vòng xoắn rộng nhất là vòng xoắn cuối (lastwhorl) Đỉnh của vòng xoắn (apex), đối diện với đáy (base) Phần mở ra bênngoài của vỏ gọi là miệng vỏ (aperture)
a) Vỏ ốc
Vỏ ốc là một ống rỗng dài chứa cơ thể ốc, cuộn vòng quanh một trục tạonên các vòng xoắn Hình dáng vỏ rất đa dạng có thể là hình cầu, hình nón,dạng tháp xoắn, hình trụ, dạng con quay, dạng xoắn dài, dạng cuộn trong Vỏ
có thể dày hay mỏng, chắc chắn hay không, trong suốt hay mờ đục Vỏ cómàu rất đa dạng, mỗi loài, thậm chí mỗi cá thể có màu sắc khác nhau Màutrên vỏ ốc thường được trang trí ở hầu hết theo kiểu các dãy băng xoắn màuhẹp hay rộng hay có sọc Vỏ có thể không có trang trí màu gọi là không màu.Màu sắc vùng với các hoa văn gặp ở hầu hết các loài ốc cạn có thể đặc trưngcho các taxa hậc giống hay phân giống Trong cùng một loài vẫn có sự saikhác đáng kể về màu sắc và hoa căn trên vỏ ốc nguyên nhân có thể do môitrường sống, yếu tố mùa trong năm và đáng chú ý là giai đoạn còn non cónhiều thay đổi so với trường thành111
Vỏ thường xoắn có hình hoặc dạng xoắn trong một mặt phẳng, có khi cónắp vỏ (vẩy), hoặc không có nắp vỏ Vỏ có thể bị tiêu giảm ở nhiều mức độ:
Vỏ không chứa đủ phần thân (giống ), vỏ bé và một phần vị vạt áo phủ
(giống Aplysia), vạt áo phủ kín vỏ bé bên trong Carinaria(giống Aplysia, sên
Trang 11trần Limax), vỏ tiêu giảm chỉ còn vụn đá vôi rải rác (sên trần Arion) hoặc
hoàn toàn mất dấu vết của vỏ 1
Thông thường vỏ cuộn có những dạng sau: Dạng chóp dài (elongate –tapering) Dạng gần trụ (supcylindric) Dạng hình trụ (cynlindric) Dạng nónoval (subovate) Dạng oval dài (elongate – avate) Dạng xoắn ốc dẹt(depressed – heliciform) Dạng xoắn ốc (heliciform) Dạng xoắn ốc nón(conic – heliciform.)
Hình 1.1 Cấu tạo ngoài của vỏ ốc cạn
b) Đỉnh vỏ
Đỉnh vỏ là điểm khởi đầu của các vòng xoắn, là nơi hình thành các vòngxoắn đầu tiên của vỏ (hay còn gọi là vòng xoắn phôi), các vòng xoắn nàythường rất nhỏ và nhẵn Đỉnh vỏ có thể nhọn, tù hoặc tầy
c) Kích thước vỏ
Trang 12Kích thước vỏ là đặc điểm dùng trong mô tả và nhận dạng các taxon bậcloài, giống Các số đo quan trọng về kích thước vỏ bao giồm: chiều cao haychiều dài (tính từ đỉnh vỏ đến vành miệng, không tính vành bờ môi), chiềurộng (khoảng cách rộng ngang lớn nhất), chiều cao ốc, chiều cao và chiềurộng miệng vỏ Dựa vào kích thức vỏ có thể chia ốc cạn thành: Nhóm kíchthước bé ( dưới 20 mm) và nhóm kích thước lớn (trên 20 mm)
vỏ, môi trong vách không phân biệt, được tách rời hay nối liền đi trước vòngxoắn và chỉ với một lớp mỏng có thể chai Phía ngoài và gốc môi trong cóthể dày, loe ra hay cuộn lại Miệng có thể có một hay nhiều hơn các mấu chìa
ra gọi là răng, tên của nó có thể tùy theo vị trí của chúng Gờ vành miềngngoài có thể liên tục hay ngắt quãng ở bờ trụ Lỗ miệng có nắp miệng haykhông
Trang 13Hình 1.2: các loại hình dạng miệng vỏ ốc
f) Trụ ốc và lỗ rốn
Trụ ốc là do các vòng xoắn chập lại với nhau tạo nên Trụ ốc có thể rỗng
và mở ra ngoài gần miệng tạo thành lỗ rốn, lỗ rốn cs thể rộng hay hẹo, nônghay sâu Các dạng lỗ rốn: Dạng đóng, dạng vết lõm và dạng mở Ngoài ra tỷ
lệ giữa kích thước lỗ rốn so với chiều rộng vỏ cũng là đắc điểm để chuẩnloại
Hình 1.3: Các loại lỗ rốn
I.1.2 Vai trò, khả năng ứng dụng
Trên cạn ốc cạn là một mắt xích quan trọng trong các chuỗi và lưới thức
ăn, vì vậy đối với hệ sinh thái nó có vai trò vô cùng quan trọng Ngoài rachúng có có vai trò trong việc cải tạo đất, phân ốc được thải ra trong quátrình tiêu hóa sẽ góp phần làm tăng độ màu mỡ của đất và bảo vệ môi trườngĐối với đời sống con người, ốc cạn là các sản phẩm có giá trị kinh tế, thịt
ốc chứa hàm lượng dinh dưỡng cao, một số loài ốc trở thành đặc sản như
Trang 14Cyclophorus anmiticus và Cyclophorus martensianus có hàm lượng protein
lên tới 57,94%; 34,34%
Ngoài ra ốc cạn còn là nguồn cung cấp nguyên liệu sản xuất cho các nghềkhảm trai, hàng mỹ nghệ, làm vật trang trí, làm phân bón, làm thức ăn chogia súc Do đó hiện nay chúng đang là đối tượng khai thác phổ biến Một
trong những nước sử dụng ốc sên (Helix aspera) làm thực phẩm với số lượng
lớn là Pháp (40.000 tấn/năm)
Trong y học, ốc còn được sử dụng làm dược liệu với bộ phận chủ yếu làthịt và nhớt của chúng Thuốc của ốc sên có tên là oa ngựu, vị mặn, tính hàn,trơn nhày, có tác dụng bổ dưỡng, giải độc, tiêu viêm, lợi tiểu, chống co thắt
I.1.3 Đặc điểm sinh học và sinh thái học
Trên thế giới hiện nay, đặc điểm sinh học và sinh thái học của ốc cạn ngày càngđược chú ý nghiên cứu, đặc biệt là những loài có giá trị thực tiễn và nững loàithường xuyên gây hại
Các loài ốc cạn phân bố rộng ở nhiều dạng địa hình và sinh cảnh khác nhau.Trên môi trường cạn, ốc và sên trần thường ưa sống ở những nơi ẩm ướt, giàu mùn
bã thực vật, rêu và tảo
Kích thước cơ thể của ốc cạn dao động trong khoảng tương đối lớn, từ 1 hoặc
vài mm (ở họ Vertigini, Euconulidae) hàng chục cm (Camaena, Achatina,
Amphidromus) 1 Phần lớn các loài ốc cạn trong lớp Mang trước thường đơn tính,
trong khi phân lớp Có phổi thì lưỡng tính Đối với các loài ốc cạn đơn tính, có ít sựsai khác về hình thái ngoài giữa con đực và con cái Tỉ lệ đực cái trong quần thểtương ứng l:1 Trong ngành từ sinh sản chúng giao phối và thụ tinh, trứng được đẻthành từng đám trứng trong hốc đá, khe đá, quanh rễ cây hoặc trứng được đẻ thànhtừng đám trên mặt đất
I.2 Địa điểm nghiên cứu
I.2.1 Địa điểm nghiên cứu
I.2.1.1 Vị trí địa lý
Trang 16Tên gọi: Xã Thần Sa, Huyện Võ Nhai, Tỉnh Thái Nguyên
Tọa độ: 2100 51/ 26// Vĩ bắc, 1050 58/ 18// Kinh đông
- Phía Bắc giáp với các xã Bình Văn, Như Cố và Quảng Chu
- Phía Đông giáp với hai xã Sảng Mộc và Thượng Nung
- Phía Nam giáp với hai xã Cúc Đương và La Hiên
- Phía Tây giáp với xã Văn Lăng
Tổng diện tích tự nhiên của xã là 10.262,46 ha, trong đó đất nông nghiệp là 137
ha (bằng 1,33% so với tổng diện tích tự nhiên), đất lâm nghiệp chiếm 9.037,58 ha(bằng 88,06% so với tổng diện tích tự nhiên) Địa hình xã Thần Sa bao gồm nhiềuđồi núi dạng bát úp, núi đá vôi xen kẽ những thung lũng, có rất nhiều hang động kỳ
vỹ, đặc biệt là Khu khảo cổ học Mái Đá Ngườm đã có người nguyên thủy sống cáchđây từ 18.000 năm đến 30.000 năm, được Nhà nước xếp hạng cấp quốc gia vào năm
1982 và danh thắng Mưa Rơi, được UBND tỉnh chọn làm KBTTN từ năm 2006 3
I.2.1.2 Điều kiện tự nhiên
a) Địa hình
Thần Sa bị chia cắt thành nhiều kiểu địa hình và địa mạo, chúng có nhiềunúi đá có dốc lớn, bị chia cắt sâu, bề mặt không bằng phẳng, bao quanhnhiều đồi, núi đá vôi, ô trũng bậc thang Có 3 kiểu địa hình chính như sau:
+ Nhóm kiểu địa hình đồi núi thấp: Nhóm này chiếm diện tích khálớn, có độ cao dưới 800m, là nơi hoạt động sản xuất lâm nghiệp
+ Kiểu địa hình núi đá vôi: Chúng có kiểu cấu trúc dễ nhận biết, độcao trung bình trên 800m
+ Nhóm địa hình trũng nằm xen kẽ giữa núi đá vôi và đồi đất: Nhómnày có địa hình thấp, bằng phẳng, ở giữa những dãy núi thường xuất hiệnnhững con song, suối và những cánh đồng lúa hoa màu
b) Khí hậu
Khí hậu nóng ẩm, mưa mùa, lạnh về mùa đông, mặt khác do ảnh hưởngbởi hoàn cảnh địa lý, địa hình của dãy núi Bắc Sơn tạo ra kiểu khí hậu khắc
Trang 17nghiệt hơn so với các vùng khác, nóng về mùa hè, lạnh hơn và có sươngmuối về mùa đông.
Một năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9; mùa khô từtháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình trên địa bàn tỉnh TháiNguyên là 240C Nhiệt độ cao nhất vào các tháng 6,7,8 nhiệt độ trung bình là27,80C; thấp nhất là vào tháng 1 trung bình 14,90C Số giờ nắng bình quântrong năm là 1.402,5 giờ, cao nhất vào tháng 9 là 2.305 giờ; thấp nhất vàotháng 3 là 43 giờ Đây là môi trường khí hậu thuận lợi cho ốc cạn sinh sống,
sự chênh lệch nhiệt độ, độ ẩm, ượng mưa giữa 2 mùa mưa và mùa khô lànhân tố quyết định sự khác biệt về phành phần loài ốc cạn giữa hai mùa3
c) Thảm thực vật
Khu Thần Sa là nơi giao thoa của nhiều luồng thực vật khác nhau, kếthợp điều kiện khí hậu và địa hình của khu vực tạo nên tính đa dạng, phongphú về thảm thực vật ở đây Thảm thực vật đặc trưng là của hệ sinh thái rừngtrên núi đá vôi, các loài động vật ở đây có ưu thế thích nghi với điều kiện địahình hiểm trở3
I.2.1.3 Tình hình kinh tế - xã hội
a) Dân số và lao động
So với các xã khác của huyện Võ Nhai, Thần Sa là một xã có tổng diệntích tự nhiên rộng, xong dân số ít do đó vấn đề lao động cũng còn nhiều khókhăn (Năm 2012 có 558 hộ, 2.382 nhân khẩu; năm 2013 có 560 hộ, 2.394nhân khẩu; năm 2014 có 562 với 2442 nhân khẩu) Qua 3 năm dân số tăngbình quân đạt 0,60% Số hộ 0,60% Nhìn chung tốc độ tăng dân số của xãtăng không đáng kể.3
Là một xã chủ yếu sản xuất nông, lâm nghiệp, nên số lao động trong nôngthôn chiếm tỷ trọng cao Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế chung có
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành, do đó cơ cấu lao động trong
xã cũng có những biến động Năm 2012 lao động nông lâm nghiệp là 1.432người chiếm 58,86%, đến năm 2014 là 1.621 người chiếm 66,3% 3
b) Kinh tế
Trang 18Đời sống của nhân dân trong khu vực ở mức thấp, tổng sản lượng lươngthực bình quân năm đạt: 9,208,8 tấn trung bình đạt 451 kg/người/năm Thunhập bình quân đạt 3,5 triệu/người/năm Do cuộc sống khó khăn nên ngườidân thường xuyên vào rừng khai thác các sản phẩm từ rừng như thú, gỗ đểkiếm sống nên có tác động xấu đến hệ sinh thái ở đây 3
c) Văn hóa, giáo dục
* Về văn hoá:
Xã Thần Sa là một xã có 6 dân tộc (Tày, Dao, Mông, Nùng, Kinh, SánDìu) trong đó chiếm số đông nhất là dân tộc Tày, ít nhất là dân tộc Sán Dìu.Với phong tục tập quán của mỗi dân tộc có khác nhau cho nên đã ảnh hưởngtrực tiếp đến quá trình sản xuất, khả năng nhận thức, áp dụng khoa học kỹthuật vào sản xuất Những năm qua xã đã có nhiều biện pháp để giảm bớtkhoảng cách giữa các dân tộc, nâng cao dân trí, giảm bớt khoảng cách giàunghèo giữa các hộ Tuy nhiên kết quả đạt được còn hạn chế 3
* Giáo dục:
So với các xã khác trong huyện Võ Nhai, Thần Sa có hệ thống giáo dụctương đối phát triển, hệ thống trường học của xã được đầu tư xây dựng nângcấp nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của con em nhân dân trong
xã 3
I.3 Tình hình nghiên cứu về đa dạng ốc cạn
I.3.1 Trên thế giới
Việc nghiên cứu ốc cạn trên thế giới về khía cạnh phân loại và đặc điểmsinh học, phân bố và sinh sản đã được tiến hành khá sớm và rộng rãi ở nhiềuquốc gia châu Âu, châu Mỹ, châu Úc và một số quốc gia xung quanh nhưNhật Bản, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan Nghiêncứu sớm nhất là nhà khoa học người Hy Lạp Aristotle (384-322 TCN)
Từ nửa cuối thế kỷ XVIII Linnaeus (1758) đã định tên cho ngành Thânmềm (Mollusca), Cuvier (1795) đã định tên cho lớp Chân bụng (Gastropoda)15
Trang 19Đầu thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XXI là thời kỳ phát triển mạng củangành khoa học nghiên cứu cơ bản về sinh vật nói chung và ốc cạn nói riêng.Hầu hết các phát hiện trong giai đoạn này có số lượng lớn, được công bố bởinhiều nhà khoa học, tiến hành trên phạm vi rộng khắp thế giới bởi các nhàkhoa học tiêu biểu thuộc các nước Pháp, Anh, Đức, Hà Lan đã tiến hànhnghiên cứu ốc cạn ở Châu Á Giai đoạn này có nhiều bảo tàng trên thế giới
đã thu thập được một số khối lượng mẫu khổng lồ, các tác giả đã công bốmột số lượng lớn với các mô tả Giốngtiết hơn về hình thái Có thế nói quátrình nghiên cứu trong giai đoạn này đã tạo nên đà nghiên cứu sâu và rộnghơn về ốc cạn trên toàn thế giới Tuy nhiên vì kết quả nghiên cứu và công bốtrước đây chỉ tập trung tại một số bảo tàng lớn trên thế giới nên việc tiếp cận
và sử dụng tài liệu này còn hạn chế và không phổ biến
Khu hệ ốc cạn của các nước lân cận Việt Nam cũng được quan tâmnhưng ở mức độ khác nhau giữa các quốc gia Khu hệ Thân mềm Chân bụngTrung Quốc được công bố bởi nhiều tác giả, tiêu biểu như Möellendorff(1882, 1885, 1886), Fischer và Dautzenberg (1904), Teng Chieng Yeng(1939, 1941, 1948)
Dẫn liệu về ốc cạn của Thái Lan được công bố bởi Solem (1965, 1966),Panha (1995, 1996) với 421 loài và phân loài thuộc 133 giống, 30 họ
Dẫn liệu về ốc cạn đầu tiên của Lào và Campuchia đã được Crosse vàFischer công bố từ năm 1863 cùng bới dẫn liệu về nhóm trai ốc nước ngọt.15
I.3.2 Tại Việt Nam
Việc nghiên cứu ốc cạn ở Việt Nam diễn ra từ rất sớm nhưng còn nhiềuhạn chế, chủ yếu do tác giả nước ngoài thực hiện, nghiên cứu đầu tiên đượcbiết đến là từ đầu thế ky XIX Theo tài liệu của Fischer và Dautzenberg(1891), các dẫn liệu đầu tiên về ốc cạn Việt Nam đã có trong các công trìnhkhảo sát về trai ốc vùng Đông Dương của Souleyet trong thời gian từ 1841đến 1842 Trong thời gian này (1848-1877) các vùng khác ở Nam Bộ baogồm cả các đảo như Côn Đảo, Phú Quốc đã được Pfeiffer phát hiện tới hàng
Trang 20chục loài mới (Nanina cambojiensis, Nanina distincta, Nesta
conchichinenesis, Trochomorpha saigonesis )
Từ những năm cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, những nghiên cứu về
ốc cạn ở vùng Nam Bộ và Trung Bộ được tiếp tục nghiên cứu đến nhữngnăm 60 của thế kỷ XIX như công trình của Crosse và Fischer (1863, 1864,1869), Mabille và Mesle (1866), Crosse (1867) Trong giai đoạn này, nhữngdẫn liệu về ốc cạn ở khu vực phía Bắc Việt Nm còn rất ít, chỉ có một số loài
như: Camaena illustris trong nghiên cứu của Pfeiffer (1848-1877) ở Lạng Sơn, Alycaeus amceyi trong nghiên cưu của Mabille (1841-1842) ở đảo Cái
Bầu, Quảng Ninh
Trong thời gian đầu thế kỷ XX, từ 1901 đến 1975, chiến tranh vẫn diễn ra
ở Việt Nam, việc nghiên cứu ốc cạn cũng như các nhóm ốc khác ở ĐôngDương hầu như ngừng lại Sau chiến tranh rất lâu, các công trình về ốc cạnmới tiếp tục được nghiên cứu, với một số công trình của các tác giẩ nướcngoài, tiêu biểu cho giai đoạn này là công trình khảo sat về thành phần loài
và phân bố ốc cạn ở một số khu vực phía Bắc Việt Nam như: KBTTN PùLuông ( Thanh Hóa), vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình), Phủ lý (HàNam), một số đảo thuộc Vịnh Hạ Long, dãy núi đá vôi khu vực Cẩm Phả(Quảng Ninh) và ở đảo Cát Bà của Vermeulen và Maassen (2003) trongchương trình khoa học quốc tế FFI (Flora and Fauna Intenational) Tuy thờigian khảo sát không dài và địa bàn khảo sát hạn chế, song công trình đã công
bố 259 loài và phân loài thuộc 23 họ, 77 giống Trong tổng số các loài đãcông bố có đến 246 loài và phân loài (phân lớp ốc mang trước có 73 loài,phân lớp ốc Có phổi 186 loài) được bổ sung cho thành phần loài khu hệ ốccạn ở Việt Nam Đáng chú ý là trong số các loài được bổ sung có 123 loàicòn chưa xác định được vị trí phân loại, đó có thể là loài mới cho khoa học
Năm 2006, Maaseen công bố 4 loài ốc mới (Arinia angduensis, Arinia
loumboensis, Eostrobilops infrequens, Hemiplecta esculenta) ở phía Bắc
Việt Nam
Trang 21Trong giai đoạn 2007 đến 2013, có một số công trình nghiên cứu trêndiện rộng từ miền Trung ra miền Bắc đã có sự kết hợp chặt chẽ giữa ViệtNam và nước ngoài, trong đó có các công trình: Nghiên cứu khu hệ ốc cạnmiền Bắc Việt Nam của nhóm nghiên cứu Ohara, Okubo, Otani, Lương VănHào (2008) phát hiện được 107 loài thuộc 17 họ; Ohara, Okubo, Ishibe,Nakahra, Otani, Lương văn Hào, Phạm Văn Sáng (2007 – 2013) với sốlượng loài tới gần 200 loài thuộc 20 họ.
Từ năm 2009 đến năm 2014, Đỗ Văn Nhượng và nhóm nghiên cứu thuộctrung tâm Động vật đất, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã có hàng loạtcông bố về thành phần loài ở một số khu vực phía Bắc Việt Nam như: 23 loài
ở khu vực núi đá vôi Sài Sơn ( Quốc Oai, Hà Nội) thuộc 18 giống, 15 họ, 3
bộ 12; 44 loài và phân loài ở xóm Dù, vường quốc gia Xuân Sơn (Phú Thọ)thuộc 27 giống, 14 họ, 2 phân lớp trong đó có nhóm ốc Có phổi chiếm ưu thếvới 36 loài và phân loài 10 Cũng trong giai đoạn này, các khóa luận tốtnghiệp và luận văn thạc sĩ bắt đầu nghiên cứu về ốc cạn, Nguyễn Thị NgọcAnh cung cấp 48 loài ốc cạn trong đó có 36 loài chưa từng gặp ở nơi nàokhác ở Việt Nam ngoài khu vực Hàm Rồng, Thanh Hóa Năm 2011, NguyễnThị Nhàn trong nghiên cứu về thành phần loài và đặc điểm phân bố của ốccạn ở Thúc Thủy (Tuyên Quang) đã xác định được 58 loài, thuộc 18 họ 8 Năm 2012 Nguyễn Thị Quỳnh đã phát hiện 62 loài thuộc 20 học ở khu vựcnúi đã vôi Quốc Oai, Hà Nội, trong đó có 12 loài còn chưa xác định được tênloài] Nghiên cứu ở khu vực núi đá vôi sau đề Trình, xã Hương Sơn, Mỹ Đức,
Hà Nội của Nguyễn Thành Lương (2013) cũng đã ghi nhận được 32 loài ốc
cạn thuộc 20 giống, 17 họ, 3 bộ và 2 phân lớp trong ssos có loài Leptacme
cuongi là loài mới ghi nhận ở Việt Nam 7 Những đóng góp trên rất có ý
nghĩa để sau này có những dẫn liệu về ốc cạn ở Việt Nam nói chung
Tổng hợp các kết quả điều tra thống kê về thành phần loài ốc cạn chothấy ở Việt Nam đã ghi nhận được 1.226 loài và phân loài, sắp xếp trong 205giống, 45 họ Hệ thống phân oại ốc cạn hiện nay đã thay đổi nhiều so vớitrước đây, nhất là ở bậc giống, xu hướng phân thành nhiều giống mới, tiêu
Trang 22biểu như giống Camaena, Clausilia, Streptaxis Mặt khác, các nghiên cứu
trước đây căn cứ theo tài liệu cũ, do đó nhiệm vụ đặt ra cho nghiên cứu ốccạn ở Việt Nam là rất lớn, cần tiếp tục mở rộng việc điều tra thống kê thànhphần loài, xem xét lại các tư liệu đã có về ốc cạn trước đây ở Việt Nam, cậpnhật với những đổi mới về phân loại học, xúc tiến việc nghiên cứu và tìmhiểu vai trò của ốc cạn trong tự nhiên và xã hội
Từ những tài liệu thu tập được cho thấy những nghiên cứu về ốc cạn ởViệt Nam đã được thực hiện ở nhiều nơi, tuy nhiên cho tới thời điểm hiệnnay thì chưa có tài liệu nghiên cứu về phân loại học cũng như đa dạng sinhthái ốc cạn ở khu vực xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái nguyên
Trang 23CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Mẫu ốc cạn ở các khu thuộc xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh TháiNguyên được thu định tính và định lượng vào mùa khô và mùa mưa trongnăm vì đây là thời gian thích hợp cho các loài ốc phát triển Phần lớn cácmẫu ốc cạn được thu theo các sinh cảnh khác nhau, căn cứ vào điều kiện tựnhiên, địa hình, loại đất canh tác, mục đích sử dụng và loại cây trồng… cóthể chia sinh cảnh ở KVNC theo 3 sin cảnh khác nhau: Rừng tự nhiên trênnúi đất; Rừng tự nhiên trên núi đá vôi và sinh cảnh vườn nhà
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Các mẫu ốc cạn được thu định tính và định lượng vào mùa khô và mùa mưa(tháng 04 năm 2016 và tháng 5 năm 2016)
- Đợt 1: từ ngày 08 tháng 04 đến ngày 10 tháng 04 năm 2016
- Đợt 2: từ ngày 28 tháng 04 đến ngày 01 tháng 05 năm 2016
Bảng 2.1: Địa điểm, thời gian, tọa độ và độ cao ở KVNC
STT Địa Điểm Thời gian Tọa độ
Trang 24Hình 2.1: Sơ đồ vị trí các điểm lấy mẫu tại xã Thần Sa.
Trang 252.2 Phương tiện và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương tiện nghiên cứu
+ Dụng cụ thiết bị thu mẫu: Xẻng nhỏ đào đắt, túi vải hoặc túi nilon đựngmẫu, túi lưới, sàng rây mẫu đất có mắt lưới từ 3mm đến 8mm, thùng nhựa,giấy can ghi nhãn, thước dây, thước palme, hóa chất bao gồm cồn 90o để lưutrữ mẫu
+ Dụng cụ hỗ trợ: Máy ảnh, GPS, bản đồ, thước dây, sổ tay, đèn pin, dao,khay nhựa
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Phương pháp thu mẫu
+ Thu mẫu định lượng
Thu toàn bộ mẫu hiện diện trong diện tích đất có mẫu, diện tích sử dụng
là 1m2 Giá trị của mẫu định lượng cho biết mật độ, sự phong phú về sốlượng hoặc sự đa dạng về thành phần loài của KVNC
Mỗi khu vực đại diện tiến hành lập 3 – 5 ô tiêu chuẩn với diện tích 0,5– 5 m2 tùy thuộc vào
Sau khi xác định được vị trí cần thu mẫu, dùng thước dây xác định ô tiêuchuẩn theo diện tích ở trên, thu mẫu tất cả ở các ô đó, nếu có thảm mục thìdùng sàng để loại bỏ những vụn lá và tiến hành thu mẫu như phương phápthu định tính Số lượng ô tùy vào tình hình cụ thể của các mẫu thu thập sơ bộbước đầu, để quyết định đến số lượng và diện tích ô vuông Nếu số lượng ốcthưa không đủ thu trên diện tích 1m2 thì có thể thu trên diện tích lớn hơn.Mẫu ốc cạn thu được ở mỗi ô cho vào một túi nilon hoặc một lọ đựng mẫu có
đề nhãn Nhãn ghi các thông tin: Địa điểm, thời gian, tọa độ, sinh cảnh, đặcđiểm thảm thực vật và các lưu ý khác
Ốc ở cạn được thu ở phạm vi rộng, thu các loại mẫu với mọi kíchthước từ con non đến con trưởng thành, thu cả mẫu đã chết chỉ còn lại vỏ.Với những mẫu có kích thước lớn nhặt bằng tay, mẫu có kích thước nhỏdùng để sàng, đối với mẫu ốc bé trong đất mùn hoặc thảm mục có thể sử
Trang 26dụng phương pháp cho đất hoặc thảm mục vào chậu nước để mẫu nổi lên vàvớt lấy mẫu Với mẫu phẩ biến cần thu với số lượng thích hợp Các mẫuđược bảo quản trong túi nilon riêng, có ghi kí hiệu sinh cảnh, vị trí nơi thumẫu.
Ô thu mẫu định lượng
Phương pháp điều tra cộng đồng địa phương:
Tiến hành phỏng vấn điều tra trực tiếp người dân, cán bộ quản lý – bảotồng về tình trạng và giá trị sử dụng của ốc cạn tại nơi thu mẫu và nhữngngười am hiểu và quan tâm tới loài ốc cạn một số thông tin như: Nơi ở, thức
ăn, giá trị kinh tế, tình hình khai thác ốc cạn ở địa phương
Phương pháp quan sát, ghi chép, chụp ảnh:
Quan sát bằng mắt thường nơi phân bố của ốc cạn, chúng có thể bám trêncác bộ phận của cây hay trên mặt đất, dưới thảm lá mục, trong hang đá, khe
đá, chân núi đá vôi Quan sát tập tính kiếm ăn, di chuyển, hình thái bênngoài, sự tác động của nhân dân đối với nơi phân bố của ốc cạn
Ghi chép đầy đủ thông tin về mẫu vật và môi trường vào sổ ghi chép thựcđịa Ảnh thực địa đã phản ánh được nội dung nghiên cứu như các loại sinhcảnh điển hình, các loại thảm thực vật, các loại địa hình, các tính chất đặcbiệt của KVNC, các mẫu đang hoạt động, các loài cây làm thức ăn của ốccạn, các vị trí tập trung nhiều mẫu sống và chết
Phương pháp phân chia sinh cảnh
Năm 2013, Đỗ Đức Sáng và Đỗ Văn Nhượng khi nghiên cứu về ốc cạn ởKBTTN Copia đã chia thành 4 dạng sinh cảnh chính là Rừng trên núi đá vôi,rừng trên đồi đất, rừng thông và đất canh tác Do đó, căn cứ vào thực tế
Trang 27KVNC và theo các tác giả trên tôi phân chia KVNC thành các dạng sinhcảnh chính: Rừng tự nhiên, núi đá vôi, đất canh tác
Bảng 2.2: Đặc điểm các sinh cảnh lấy mẫu
- Chân núi đá vôi
- Địa hình: địa hình dốc, gồ ghề, nhiều hốc nhỏ và sắc,
- Địa chất: chủ yếu là đá vôi
- Thảm thực vật:bề mặt có nhiều rêumỏng và địa y
- Khí hậu: quanh năm mát mẻ và ẩmướt
- Dưới lớp thảm mục
- Trên thân cây
gỗ
- Địa hình: chủ yếu là địa hình dốc, nhiều tảng đá lớn, nhiều cây lớn và các bụi cây nhỏ
- Địa chất: chủ yếu là đất mùn bao xung quanh các tảng đá vôi lớn Một
số nơi có đá răm nhỏ vụn trên nền đất mùn và lá rụng
- Thảm thực vật: nhiều loại cây lớn nhỏ khác nhau, từ cây thân gỗ đến cây thân leo
- Khí hậu: Quanh năm mát mẻ và
ẩm ướt
vườn nhà
- Gần mặt đường
- Thảm thực vật: môi trường nhân tạo là chính nên chịu tác động mạnh của con
Trang 28người, thực vật là các loài cây trồng nông nghiệp phục vụ đời sống của con người.
- Khí hậu: quanh năm khô vì không có nhiều cây cối
b) Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
Tham khảo tài liệu
Các tài liệu đã công bố về giá trị sử dụng làm thực phẩm, làm thuốc và tìnhtrạng hiện tại của chúng Ngoài ra, tiến hành thu thập mẫu vật theo các tuyến điềutra đại diện gồm các kiểu sinh cảnh chính, các kiểu địa hình thuộc các vùng phân bốkhá nhau về địa lý
Toàn bộ mẫu sau khi được xử lý và định tên được bảo quản tại phòng thí nghiệmkhoa môi trường, trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Phương pháp phân tích và định loại
–Phương pháp phân tích
Ốc cạn được tập trung phân tích qua đặc điểm hình thái ngoài và hình thái vỏbên ngoài, Những đặc điểm hình thái ngoài thương được phân tích gồm: màu sắc,hình dạng, chiều cao, kích thước miệng vỏ, vòng xoắn Những đặc điểm này đượcthể hiện bằng số đo hay tỉ lệ của chúng
–Phương pháp định loại
Trang 29Đối với các mẫu ốc cạn định loại dựa vào đặc điểm hình thái vỏ (màu sắc, kíchthước, hình dạng, vòng xoắn, đỉnh vỏ, rãnh xoắn, miệng vỏ )
Phân tích, tổng hợp số liệu và tổng hợp kết quả
Thông tin về phân bố của loài được căn cứ vào tần suất xuất hiện và mức
độ phong phú của loài trên các tuyến và điểm điều tra Sử dụng các phầnmềm ứng dụng để tính toán và xử lý số liệu, sơ đồ, bản đồ, biểu đồ để môphỏng phân bố của chúng, diễn giải
Dựa vào số liệu thống kế về thành phần loài ở KVNC để so sánh, đánhgiá mức độ đa dạng, phong phú của chúng ở Thần Sa với một số khu vực lâncận
Phương pháp ghi nhãn
Hunre Code: BM003-B
Spes: Cyclophorus eudeli E A Smith 1893
Fam: Cyclophoridae Site: Bản Mông, xã Thần Sa, huyện Võ
Nhai
Date: 10/04/2016 Colector: Ngô Thành Đạt
Hunre Code: là mã tự người nghiên cứu đặt ra cho 1 mẫu với 2 chữ in
hoa đầu tiên là địa điểm lấy mẫu, 3 chữ số tiếp theo là vị trí lấy mẫu theo thứ
tự từ 001 đến hết, chữ cái cuối cùng là những cá thể giống nhau thì được xếpvào một túi có tên giống nhau
Spes: Là tên loài đã được định danh dựa vào tài liệu về ốc cạn được công
bố trên toàn thế giới tại trang web: http://www.conchology.be và danh sách
800 loài ốc cạn tại Việt Nam của TS Hoàng Ngọc Khắc
Cá thể thu được có ghi tên nhãn ở trên thuộc loài: Cyclophorus eudeli E.
A Smith 1893
Fam: Họ của loài đã được xác định Loài thuốc nhãn ở trên thuộc họ Cyclophoridae
Trang 30Site: Địa điểm lấy mẫu: địa điểm ở đây là tại Bản Mông, xã Thần Sa,
huyện Võ Nhai
Date: Ngày lấy mẫu ở đây là ngày 10 tháng 04 năm 2016
Colector: Người lấy mẫu ở đây là Ngô Thành Đạt
Cách tính mật độ: (số cá thể của loài/m2)n
- mật độ cá thể của loài i: v (số cá thể của loài thứ i/m2) = ∑ni/∑S
- Mật độ cá thể các loài trong ô nghiên cứu:
V (số cá thể/m2) = ∑n/∑S
Trong đó:
+ ni: Là số lượng cá thể loài thứ i trong ô nghiên cứu
+∑ni: là tổng cá thể loài i trong các ô nghiên cứu
+∑n: Là tổng số cá thể trong các ô nghiên cứu
+∑S: là tổng diện tích các ô nghiên cứu
Độ đa dạng loài: (D’): Được tính theo chỉ số đa dạng Simpson (Simpson’s
Trong đó: C’: là tần số xuất hiện (độ thường gặp)
p: Là số lượng các địa điểm thu mẫu có loài xuất hiện
P: Là tổng số các địa điểm thu mẫu khi nghiên cứu
Đánh giá tần số xuất hiện theo giá trị của C’: Loài thường gặp C’ > 50%, loài ítgặp 25% < C’ < 50%, loài ngẫu nhiên C’ < 25%
Phương pháp xác định chỉ số tương đồng
Trang 31Để phân tích mối quan hệ chỉ số tương đồng S (Sorensen, 1948) Chỉ
số này được tính theo công thức sau:
Trang 32CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thành phần loài ốc cạn ở KVNC.
3.1.1 Cấu trúc thành phần loài
Kết quả nghiên cứu tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã thuđược 873 cá thể ốc cạn Kết quả phân tích và xác định được 41 loài thuộc 27 giống,
13 họ, 2 phân lớp Phân lớp Mang trước (Brosobranchia) có 2 bộ
(Architaenioglossa; Neritopsia), 4 họ (Cyclophoridae, Pupinidae, Streptaxidae;
Hydrocenidae) Phân lớp có phổi (Pilmonata) có 1 bộ ( Stylmmatophora), 9 họ
(Achatinidae; Ariophantidae; Helicinidae; Bradybaenidae; Plectopylidae;
Camaenidae; Clausiliidae; Subulinidae; Trochomorphidae) Kết quả được trình bày
ở bảng 3.1
Bảng 3.1: Thành phần loài ốc cạn phân bố theo sinh cảnh ở KVNC
Trang 334 Cyclophorus eudelinE A Smith, 1893 0 0 25 5,90 0 0,00 25 2,86
5 Cyclophorus fulguratus (Pfeiffer, 1854) 20 6,33 5 1,18 0 0,00 25 2,86
6 Cyclophorus dícoideus G B Sowerby, 1842 0 0.00 0 0,00 0 0,00 0 0
7 Cyclophorus malayanus(Benson, 1852) 23 7,28 0 0,00 5 6,76 28 3,21
8 Cyclophorus songmaensisMorelet, 1891 6 1,9 8 1,89 0 0,00 20 2,29
9 Cyclophorus siamensis (Sower, 1850) 0 0,00 0 0,00 0 0,00 0 0
10 Cyclophorus pyrestoma Moellendor, 1882 4 1,27 5 1,18 3 4,05 15 1,72
11 Cyclophorus perdixtuba (Sowerby, 1842) 10 3,16 5 1,18 5 6,76 20 2,29
Trang 3417 Pterocyclos anguliferus 12 3,80 17 4,01 1 1,35 30 3,44
18 Perrottetia dermaoyrrhosa Siriboon & Panha, 2014 2 0,63 5 1,18 0 0,00 6 0,69
Trang 35Giống- Macrochlamys 0 0,00 0 0,00 0 0,00 28 3,21
25 Macrochlamys nitidissima Moellendorff, 1883 0 0,00 12 2,83 2 2,70 28 3,21
26 Macrochlamys crebristritus cf Semper, 1870 0 0,00 5 1,18 3 4,05 0 0
30 Bradybaena jourdyi jourdyi (Morelet, 1886) 2 0,63 0 0,00 18 2,.32 0 0
31 Bradybaena similaris Ferussac, 1882 5 1,58 26 6,13 3 4.05 0 0
32 Plectopylis schlumbergeri (Morelet, 1886) 23 7,28 17 4,01 2 2,70 5 0,57
33 Gudeodiscus fiscuscheri (Gude, 1901) 10 3,16 6 1,42 7 9,46 27 3,09
34 Gudeodiscus phlyarius phlyarius 3 0,95 0 0,00 0 0,00 0 0
Trang 37PROSOBRANCHIA PULMONATA
ARCHITAENIOGLOSSA NESITOPSINA STYLOMMATOPHORA
Cyclophoridae Pupinidae Achatinidae
Streptaxidae Hydrocenidae Ariophantidae
Trang 38Về bậc phân lớp và bộ
Ở KVNC phát hiện được tổng số 41 loài thuộc 2 phân lớp : Mang trước(Prosobranchia), Có phổi (Pulmonata) Phân lớp Mang trước có 2 bộ(Archiraenioglossa và Neritopisa), phân lớp Có phổi có 1 bộ Tuy nhiên thành phầnloài và giống của phân lớp Có phổi đa dạng hơn với 18 loài (41,46%), 14Giống(51,85%) và 9 họ (69,23%) so với phân lớp Mang trước với 23 loài(58,54%), 13 Giống(48,15%) và 4 họ (30,77%)
ARCHITAENIOGLOSSA NERITOPISA STYLMMATOPHORA
12.195
41.463 Họ
Giống Loài
Hình 3.1 Đồ thị thể hiện tỷ lệ (%) thành phần giữa các bộ ốc cạn ở
KVNC
Ở khu vực xã Thần Sa, phân lớp Có phổi có sự đa dạng hơn về bậc họ vàbậc giống, tuy nhiên thành phần loài thì ở phân lớp Mang trước có sự đadạng hơn Để có dự khác biệt này do sự phân bố của loài ốc cạn phụ thuộcvào điều kiện tự nhiên và điều kiện môi trường sống Các đại diện của phânlớp Có phổi thích nghi với điều kiện khô hạn của môi trường sống do chúng
hô hấp bằng phổi Phân lớp Mang trước kém thích nghi hơn mặc dù đãchuyển lên trên cạn sống nhưng chúng vẫn cần nơi có độ ẩm cao, nhiều mùnnhư tán cây, lớp thảm mục khả năng thích nghi kém hơn các đại diện củaphân lớp Có phổi nên thành phần về bậc họ và giống kém phong phú hơn
Trang 39- Về bậc họ
Trong số 13 họ xác định được ở KVNC (KVNC): Họ Cyclophoridae
đa dạng nhất với 6 giống (chiếm 36,66% tổng số giống ở KVNC), 17 loài
(chiếm 41,46% tổng số loài ở KVNC) Tiếp theo là họ Ariophantidae có 3 giống (9,75%) 4 loài (15,12%), họ Camaenidae, Hydrocenidae,
Plectopilidae 3 giống (7,31%) Các họ còn lại mỗi họ chỉ có 2 giống
(4,87%) như Trochomorphidae và các họ còn lại chỉ có 1 giống (2,44%).
Hình 3.2 Tỷ lệ (%) cá thể của các họ ốc cạn ở KVNC
Trang 40Pupi
dae
Stre
axidae
Subulinidae
2.44
7.31 7.31
4.87 2.44 2.44
4.87
Hình 3.3 Tỷ lệ (%) các loài phân bố của các họ ở KVNC
Xét về mặt cá thể, cho thấy họ Cyclophoridae phong phú nhất với 320 cáthể (chiếm 36,66% tổng số cá thể nghiên cứu) Tiếp đến là họ Plectopylidaevới 144 cá thể (chiếm 16,49%), tiếp theo là họ Hydrocenidae với 132 cá thể(15,12%), Helicinidae 56 cá thể (6,19%), Ariophantidae 46 cá thể (5,27%),Camaenidae 48 cá thể (5,5) Các họ còn lại có số cá thể không đáng kể
- Về bậc giống
Theo kết quả nghiên cứu của đề tài, số lượng giống ở KVNC đã phát hiện đượctương đối đa dạng (27giống) nhưng số loài trong giống là không nhiều Trong số
27 giống chỉ có Cyclophorus là có 11 loài còn lại các giống Japonia,
Macrochlamys, Bradybaena, Gudeodiscus là có 2 loài Các giống còn lại chỉ có 1
loài : Pupina, Pollicaria, Perottetia, Achatina, Megaustenia, Chalepotaxis,
Calibium, Plectopylis, Camaena, Ganesella, Neocepolis, Hemiphaedusa, Lamellaxis, Videna, Gerissa, Dipommatina, Chamalycaeus.