ĐA DẠNG SINH HỌC 217 Câu 1: Trình bày các khái niệm về đa dạng sinh học, mức độ biểu hiện của đa dạng sinh học: Trả lời: Theo ước tính gần đây nhất thì có đến 12 định nghĩa khác nhau về đa dạng sinh học (Gaston and Spicer, 1998). Tuy nhiên trong số này thì định nghĩa được sử dụng trong Công ước đa dạng sinh học (1992) được coi là toàn diện và đầy đủ nhất xét về mặt khái niệm. Trong thực tế thuật ngữ đa dạng sinh học được dùng lần đầu tiên vào năm 1988 và sau khi Công ước Đa dạng sinh học được ký kết (561992) thì nó đã được dùng phổ biến hơn. Trong Công ước về đa dạng sinh học, thuật ngữ đa dạng sinh học được dùng để chỉ sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất, nó bao gồm sự đa dạng trong cùng một loài, giữa các loài và sự đa dạng hệ sinh thái (Gaston and Spicer, 1998). Định nghĩa do Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế WWF) (1989) quan niệm: “Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những Hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường”. Theo luật Đ DSH 2008: Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên. ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng HST. Đa dạng di truyền là phạm trù chỉ mức độ đa dạng của biến dị di truyền, đó chính là sự khác biệt về di truyền giữa các xuất xứ, quần thể và giữa các cá thể trong một loài hay một quần thể dưới tác dụng của đột biến, đa bội hoá và tái tổ hợp. Đa dạng di truyền trong nội bộ loài thường là kết quả của tập tính sinh sản của các cá thể trong quần thể. Một quần thể là một nhóm các cá thể giao phối với nhau và sản sinh ra con cái hữu thụ. Một loài có thể có một hay vài quần thể khác nhau. Một quần thể có thể chỉ gồm một số ít cá thể hay có thể có hàng triệu cá thể. Các cá thể trong một quần thể thường rất khác nhau về mặt di truyền. Những nhân tố làm giảm đa dạng di truyền: Phiêu bạt gen , chọn lọc tự nhiên và nhân tạo Những nhân tố làm tăng đa dạng di truyền: Đột biến gen ,Sự di trú Đa dạng loài là phạm trù chỉ mức độ phong phú về số lượng loài hoặc số lượng các phân loài (loài phụ) trên trái đất, trong một vùng địa lý, một quốc gia hay trong một sinh cảnh nhất định. Mỗi loài thường được xác định theo một trong hai cách. Thứ nhất, một loài được xác định là một nhóm các cá thể có những đặc tính hình thái, sinh lý, sinh hoá đặc trưng khác biệt với những nhóm cá thể khác (định nghĩa về hình thái của loài). Thứ hai là một loài có thể được phân biệt như là một nhóm cá thể có thể giao phối giữa chúng với nhau để sinh sản thế hệ con cái hữu thụ và không thể giao phối sinh sản với các cá thể của các nhóm khác (định nghĩa về sinh học của loài). Những nhân tố ảnh hưởng đến đa dạng loài: Sự hình thành loài mới,sự mất loài (tuyệt chủng) Đa dạng HST là sự phong phú về trạng thái và tần số của các HST khác nhau. Đa dạng về hệ sinh thái là thước đo sự phong phú về sinh cảnh, nơi ở, tổ sinh thái và các hệ sinh thái ở các cấp độ khác nhau. Sự đa dạng này được phản ảnh quan trọng nhất bởi sự đa dạng về sinh cảnh, các quần xã sinh vật và các quá trình sinh thái trong sinh quyển.
Trang 1ĐA DẠNG SINH HỌC 217Câu 1: Trình bày các khái niệm về đa dạng sinh học, mức độ biểu hiện của đa dạng sinh học:
Đa dạng sinh học được ký kết (5/6/1992) thì nó đã được dùng phổ biến hơn
Trong Công ước về đa dạng sinh học, thuật ngữ đa dạng sinh học được dùng để chỉ sự
phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất, nó bao gồm sự đa
dạng trong cùng một loài, giữa các loài và sự đa dạng hệ sinh thái (Gaston and Spicer,
1998)
Định nghĩa do Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế - WWF) (1989) quan niệm: “Đa dạng
sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những Hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường”
Theo luật Đ DSH 2008: Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và
hệ sinh thái trong tự nhiên.
ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng HST
- Đa dạng di truyền là phạm trù chỉ mức độ đa dạng của biến dị di truyền, đó chính là sự khác biệt về di truyền giữa các xuất xứ, quần thể và giữa các cá thể trong một loài hay một quần thể dưới tác dụng của đột biến, đa bội hoá và tái tổ hợp Đa dạng di
truyền trong nội bộ loài thường là kết quả của tập tính sinh sản của các cá thể trong quần thể Một quần thể là một nhóm các cá thể giao phối với nhau và sản sinh ra con cái hữu thụ.Một loài có thể có một hay vài quần thể khác nhau Một quần thể có thể chỉ gồm một số ít
cá thể hay có thể có hàng triệu cá thể Các cá thể trong một quần thể thường rất khác nhau
về mặt di truyền
Những nhân tố làm giảm đa dạng di truyền: Phiêu bạt gen , chọn lọc tự nhiên và nhân tạo
Những nhân tố làm tăng đa dạng di truyền: Đột biến gen ,Sự di trú
- Đa dạng loài là phạm trù chỉ mức độ phong phú về số lượng loài hoặc số
lượng các phân loài (loài phụ) trên trái đất, trong một vùng địa lý, một quốc gia hay trong một sinh cảnh nhất định.
Mỗi loài thường được xác định theo một trong hai cách Thứ nhất, một loài được xác
định là một nhóm các cá thể có những đặc tính hình thái, sinh lý, sinh hoá đặc trưng khác
biệt với những nhóm cá thể khác (định nghĩa về hình thái của loài) Thứ hai là một loài có
thể được phân biệt như là một nhóm cá thể có thể giao phối giữa chúng với nhau để sinh sảnthế hệ con cái hữu thụ và không thể giao phối sinh sản với các cá thể của các nhóm khác
(định nghĩa về sinh học của loài)
Những nhân tố ảnh hưởng đến đa dạng loài: Sự hình thành loài mới,sự mất loài (tuyệt
chủng)
Trang 2- Đa dạng HST là sự phong phú về trạng thái và tần số của các HST khác
nhau Đa dạng về hệ sinh thái là thước đo sự phong phú về sinh cảnh, nơi ở, tổ sinh thái và
các hệ sinh thái ở các cấp độ khác nhau Sự đa dạng này được phản ảnh quan trọng nhất bởi
sự đa dạng về sinh cảnh, các quần xã sinh vật và các quá trình sinh thái trong sinh quyển
Cũng có nhiều ý kiến cho rằng ĐDSH bao gồm cả đa dạng văn hoá, là sự thể hiện
của xã hội con người, một thành viên của thế giới sinh vật và đồng thời là một nhân tố quan
trọng của các HST Đa dạng văn hoá được thể hiện bằng sự đa dạng ngôn ngữ, tín ngưỡng
tôn giáo, những kinh nghiệm về việc quản lý đất đai, nghệ thuật, âm nhạc, cấu trúc xã hội, vàmột số thuộc tính khác của xã hội loài người.Việc bảo vệ sự đa dạng về văn hoá này là rất cầnthiết do thông thường nó là nền tảng cho sự phát triển bền vững
Vì vậy, ĐDSH phải được coi là sản phẩm của sự tương tác của hai hệ thống: tự nhiên và xãhội
Mức độ biểu hiện của Đ DSH:
Giới (Kingdom)
Quần thể (Population) Sinh đới (Biome)
Ngành (Phyla) Cá thể (Individual) (Bioregion)Vùng sinh thái
Câu 2: Trình bày các giá trị của đa dạng sinh học:
Trả lời: 2 giá trị: trực và gián tiếp
1,Những giá trị kinh tế trực tiếp: Giá trị trực tiếp là những giá trị thu được từ các sản
phẩm sinh vật được con người trực tiếp khai thác và sử dụng
A,Giá trị cho tiêu thụ:
Trang 3Bao gồm các sản phẩm tiêu dùng cho cuộc sống hàng ngày như củi đốt và các loại sảnphẩm khác cho các mục tiêu sử dụng như tiêu dùng cho gia đình và không xuất hiện ở thịtrường trong nước và quốc tế Những sản phẩm này không đóng góp gì vào giá trị GDP vìchúng không được bán cũng như không được mua
Ví dụ 80% dân số trên thế giới vẫn dựa vào những dược phẩm mang tính truyền thốnglấy từ các loài động vật, thực vật để sử dụng để sơ cứu ban đầu khi họ bị nhiễm bệnh Mộttrong những nhu cầu không thể thiếu được của con người là protein Trên toàn thế giới, 100triệu tấn cá, chủ yếu là các loài hoang dã bị đánh bắt mỗi năm
B,Giá trị sử dụng cho sản xuất:
Là giá bán cho các sản phẩm thu lượm được từ thiên nhiên trên thị trường trong nước
và ngoài nước Giá trị sử dụng cho sản xuất lớn nhất của nhiều loài là khả năng của các loài
đó cung cấp những nguyên vật liệu cho công nghiệp, nông nghiệp và là cơ sở để cải tiến chocác giống cây trồng trong nông nghiệp Sự phát triển các giống mới có thể mang lại nhữngkết quả kinh tế to lớn
2,Những giá trị kinh tế gián tiếp
Giá trị gián tiếp là những lợi ích do đa dạng sinh học mang lại cho cả cộng đồng Như vậy giátrị gián tiếp của đa dạng sinh học bao gồm cả chất lượng nước, bảo vệ đất, dịch vụ nghỉ mát, thẩm
mỹ, phục vụ giáo dục, nghiên cứu khoa học, điều hoà khí hậu và tích luỹ cho xã hội tương lai
A,Giá trị sử dụng không cho tiêu thụ:
Sau đây là một phần các lợi nhuận do đa dạng sinh học mang lại nhưng thường khôngđược tính trong các bảng báo cáo đánh giá tác động môi trường hay trong các tính toánGDP
-Khả năng sản xuất của hệ sinh thái: khoảng 40% sức sản xuất của hệ sinh thái
trên cạn phục vụ cho cuộc sống của con người
- Bảo vệ tài nguyên đất và nước: các quần xã sinh vật có vai trò quan trọng trong việc
bảo vệ rừng đầu nguồn, những hệ sinh thái vùng đệm, phòng chống lũ lụt và hạn hán cũngnhư việc duy trì chất lượng nước
-Điều hoà khí hậu: quần xã thực vật có vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều hoà
khí hậu địa phương, khí hậu vùng và ngay cả khí hậu toàn cầu
-Phân huỷ các chất thải: các quần xã sinh vật có khả năng phân huỷ các chất ô nhiễm
như kim loại nặng, thuốc trừ sâu và các chất thải sinh hoạt khác đang ngày càng gia tăng docác hoạt động của con người
-Những mối quan hệ giữa các loài: nhiều loài có giá trị được con người khai thác,
nhưng để tồn tại, các loài này lại phụ thuộc rất nhiều vào các loài hoang dã khác Nếu những
loài hoang dã đó mất đi, sẽ dẫn đến việc mất mát cả những loài có giá trị kinh tế to lớn -Nghỉ ngơi và du lịch sinh thái: mục đích chính của các hoạt động nghỉ ngơi là việc
hưởng thụ mà không làm ảnh hưởng đến thiên nhiên thông qua những hoạt động như đi thámhiểm, chụp ảnh, quan sát chim, thú, câu cá Du lịch sinh thái là một ngành du lịch không khóiđang dần dần lớn mạnh tại nhiều nước đang phát triển, nó mang lại khoảng 12 tỷ đôla nămtrên toàn thế giới
-Giá trị giáo dục và khoa học: nhiều sách giáo khoa đã biên soạn, nhiều chương trình
vô tuyến và phim ảnh đã được xây dựng về chủ đề bảo tồn thiên nhiên với mục đích giáo dục và giải trí.=> không chỉ mang lại lợi nhuận kinh tế cho khu vực nơi họ tiến hành nghiên cứu khảo sát; mà còn là khả năng nâng cao kiến thức, tăng cường tính giáo dục và vốn sống cho con người
-Quan trắc môi trường: những loài đặc biệt nhạy cảm với những chất độc có thể trở
thành hệ thống chỉ thị báo động rất sớm cho những quan trắc hiện trạng môi trường
Trang 4B,Giá trị lựa chọn
Giá trị lựa chọn của một loài là tiềm năng của chúng để cung cấp lợi ích kinh tế cho xãhội loài người trong tương lai Do những nhu cầu của xã hội luôn thay đổi, nên phải có mộtgiải pháp nào đó để bảo đảm an toàn Một trong những giải pháp đó là phải dựa vào nhữngloài động, thực vật trước đây chưa được khai thác
C,Giá trị tồn tại
Nhiều người trên thế giới đã biết tôn trọng cuộc sống hoang dã và tìm cách bảo vệchúng
D,Những khía cạnh mang tính đạo đức
Dựa trên những ý tưởng về đạo đức, vấn đề bảo tồn tất cả các loài được đặt ra màkhông tính đến giá trị kinh tế của chúng Những khẳng định sau đây là rất quan trọng chosinh học bảo tồn vì chúng đưa ra những nguyên nhân tại sao chúng ta phải bảo vệ sự tồn tạicủa tất cả các loài trong đó có những loài có giá trị kinh tế không cao
-Mỗi một loài đều có quyền tồn tại: tất cả các loài đều có quyền tồn tại
-Tất cả các loài đều quan hệ với nhau: giữa các loài có một quan hệ chằng chịt và
phức tạp, là một phần của các quần xã tự nhiên
-Con người phải sống trong một giới hạn sinh thái như các loài khác: tất cả các loài trên
thế giới bị giới hạn bởi khả năng sức tải của môi trường sống
-Con người phải chịu trách nhiệm như những người quản lý trái đất:
-Sự tôn trọng cuộc sống con người và sự đa dạng văn hoá phải được đặt ngang tầm với sự tôn trong đa dạng sinh học:
-Thiên nhiên có những giá trị tinh thần và thẩm mỹ vượt xa giá trị kinh tế của nó: -Đa dạng sinh học là cốt lõi đế xác định nguồn gốc sự sống.
Câu 3: Giải thích sự suy thoái và các nguyên nhân chính gây suy thoái đa DSH:
Trả lời: Suy thoái đa dạng sinh học là sự suy giảm chất lượng và số lượng của các loài
sinh vật do môi trg sống bị ảnh hưởng, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiên nhiên
Dấu hiệu quan trọng nhất của sự suy giảm đa dạng sin học là sự tuyệt chủng loài domôi trường sống bị tổn hại
Nguyên nhân: chính gồm: hiểm họa tự nhiên và do con người.
Hiểm họa tự nhiên đã gây ra những tổn thất nặng nề cho DDSH trong những kỷ
nguyên cách đây hơn 60 triệu năm.như: thiên tai, hiện tượng thời tiết cực đoan, động đất, sóng thần làm
Do con ng, cụ thể:
1,Khai thác quá mức
Nhằm thoả mãn các nhu cầu của cuộc sống và thỏa mãn nhu cầu kinh doanh buôn bán, con người đã thường xuyên săn bắn, hái lượm thực phẩm và khai thác các nguồn tài
nguyên khác, khi dân số tăng nhu cầu khai thác tài nguyên cũng tăng theo.Việc khai thác
quá mức là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn các loài đến tuyệt chủng
2,Sự du nhập các loài ngoại lai
Phạm vi sống về địa lý của nhiều loài được giới hạn bởi các yếu tố môi trường và khíhậu ,các sa mạc, đại dương, đỉnh núi, và những dòng sông đều đã ngăn cản sự di chuyển củacác loài
Ngày nay đã có một lượng lớn các loài do vô tình hay cố ý, được đem đến những khu vực không phải là nơi cư trú gốc của chúng Những loài đó đã được du nhập do các nguyên
nhân sau đây:
Trang 5Chế độ thuộc địa của các nước Châu Âu: những người Châu Âu mang đến một vùng
thuộc địa mới mang theo các hàng trăm giống chim, thú để làm cho phong cảnh ở đây trởnên thân quen với họ cũng như tạo ra thú vui săn bắn
Nghề trồng cây cảnh và làm nông nghiệp: nhiều loài cây được mang đến và trồng tại
những vùng đất mới như cây cảnh, cây nông nghiệp hoặc cây cho chăn nuôi gia súc Rấtnhiều loài trong số đó thoát vào tự nhiên và thâm nhập vào các loài bản địa
Những sự vận chuyển không chủ đích: thường xảy ra là các hạt cỏ vô tình bị thu hoạch
cùng các hạt ngũ cốc được đem bán và được gieo trên địa bàn mới
Phần lớn các loài du nhập không sống được tại những nơi mới đến do môi trường không phải lúc nào cũng phù hợp với điều kiện sống của chúng Dù vậy, vẫn có một tỷ lệ nhất định các loài nhập cư thiết lập được cuộc sống trên vùng đất mới và nhiều loài trong đócòn vượt trội, xâm lấn các loài bản địa Các loài du nhập này thậm chí còn cạnh tranh với các loài bản địa để có được nguồn thức ăn và nơi ở, còn ăn thịt các loài bản địa cho đến khi chúng tuyệt chủng hoặc làm chúng thay đổi nơi cư trú đến mức nhiều loài bản địa không thểnào tồn tại được nữa.(quan trong )
3,
Sự phá hủy những nơi cư trú
Mối đe dọa chính đối với đa dạng sinh học là nơi cư trú bị phá hủy và mất mát => cần
phải bảo tồn nơi cư trú của các loài Mất nơi cư trú là nguy cơ đầu tiên làm cho các loài động vật có xương sống bị tuyệt chủng và rõ ràng đó là nguy cơ đối với cả động vật không
xương sống, thực vật, các loài nấm và các loài khác
Các rừng mưa bị đe dọa
Việc phá hủy các rừng mưa nhiệt đới là dấu hiệu đi kèm với việc mất các loài Rừngnhiệt đới ẩm chiếm 7% diện tích bề mặt trái đất, nhưng ước tính chúng chứa hơn 50% tổng
số loài trên trái đất, dự báo rằng với tốc độ mất rừng như hiện nay thì đến năm 2040 sẽ cònlại một số rất ít rừng nhiệt đới nguyên vẹn Ngoài rừng mưa nhiệt đới, các nơi cư trú kháccũng đang bị đe dọa là:
Rừng khô nhiệt đới, Đất ngập nước và những nơi cư trú của hệ sinh thái thủy vực,Rừng ngập mặn, Thảo nguyên, Các rạn san hô
4,Nạn ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu
Cho dù nơi sinh sống không bị ảnh hưởng một cách trực tiếp do việc phá hủy hay chia
cắt, nhưng các quần xã và các sinh vật sống trong đó có thể bị ảnh hưởng sâu sắc do các hoạt động khác của con người Dạng nguy hiểm nhất của phá hủy môi trường là sự ô nhiễm.
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do :
Ô nhiễm do thuốc trừ sâu: sự nguy hại của thuốc trừ sâu được khuyến cáo từ những
năm 1962 Việc sử dụng các loại thuốc trừ sâu để phòng trừ các loài côn trùng gây hại cho cây trồng và phun vào nước để diệt các ấu trùng muỗi đã làm hại tới những quần thể khác sống trong thiên nhiên, đặc biệt đối với những loài chim ăn côn trùng, cá và các loại động vật khác bị ảnh hưởng bởi DDT hay các sản phẩm bán phân hủy của chúng Tại các hồ và các cửa sông, dư lượng DDT và các loại thuốc trừ sâu khác được tích luỹ lại trong cơ thể các loại cá lớn như cá heo và các động vật biển khác Trên các khu vực canh tác nông
Trang 6nghiệp, các loài côn trùng có ích hay các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng cũng đều bị tiêu diệt cùng với các côn trùng gây hại.
Ô nhiễm nước: ô nhiễm nước gây hậu quả xấu cho loài người như hủy hoại các nguồn
thực phẩm thủy sản như cá, ốc, hến và làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt còn gây tác hại tolớn cho các quần xã sống dưới nước Sông, hồ và đại dương thường xuyên được sử dụng như một bãi thải các chất thải công nghiệp, chất thải dân dụng Thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ dầu thải, dầu bị rò rỉ, kim loại nặng, các chất tẩy rửa có thể làm tổn thương hay giết chết cácsinh vật thủy sinh sống trong môi trường nước
Ô nhiễm không khí: các hoạt động của con người làm thay đổi và làm ô nhiễm bầu
không khí của trái đất Các dạng ô nhiễm không khí như:
Mưa axit: Mưa axit đã tiêu diệt nhiều loài động và thực vật Độ axit tăng và nước bị
ô nhiễm là nguyên nhân chính làm suy giảm đáng kể các quần thể động vật lưỡng cư trên thế giới
Sương mù quang hoá: Xe ô tô, các nhà máy điện và các hoạt động công nghiệp thải
ra các khí hydrocacbon, khí NO Dưới ánh sáng mặt trời, các chất này tác dụng với khí quyển và tạo ra khí ozon và các chất phụ phẩm khác, tất cả khí này được gọi chung là sương
mù quang hóa Nồng độ ozon cao sẽ giết chết các mô thực vật, làm cho cây dễ bị tổn
thương, làm hại đến các quần xã sinh học, giảm năng suất nông nghiệp
Các kim loại độc hại: xăng có chứa chì, các hoạt động khai mỏ, luyện kim và cáchoạt động công nghiệp khác thải ra một lượng lớn chì, thiếc và nhiều loại kim loại độc hạikhác vào khí quyển Các hợp chất này trực tiếp gây độc cho cuộc sống của động và thực vật
Sự thay đổi khí hậu toàn cầu: khí cacbonic, mêtan và các khí khác trong khí quyển Các khí này được gọi là khí nhà kính, nồng độ của khí nhà kính tăng cùng với các hoạt động của con người đến mức làm thay đổi khí hậu của trái đất gây nên hiện tượng trái đất nóng dần lên, làm các khối băng ở vùng cực tan Mức nước biển dâng cao có thể làm ngập
lụt những vùng đất thấp, những khu đất ngập nước ven bờ biển và nhiều thành phố lớn có khả năng gây hại đến nhiều loài san hô, nhất là những loài chỉ tồn tại trong một độ sâu nhất định, nơi có ánh sáng và dòng chảy của nước phù hợp Một số loài san hô không phát triển nhanh kịp với tốc độ nâng cao mực nước biển và dần dần chúng sẽ bị chết đuối.=>Nhiệt độ cao bất thường làm chết loài tảo cộng sinh sống trong các dãi san hô,sự thay đổi khí hậu tráiđất và nồng độ khí CO2 trong khí quyển gia tăng có thể làm thay đổi triệt để cấu trúc của cácquần xã sinh học và sẽ chỉ còn một số loài có khả năng phát triển thích ứng với điều kiện sống mới
5,Sự tuyệt chủng các loài
Một loài bị coi là tuyệt chủng (extinct) khi không còn một cá thể nào của loài đó còn
sống sót tại bất kỳ nơi nào trên thế giới
Tuyệt chủng là một quá trình tự nhiên
Lý thuyết tiến hóa nói rõ rằng một loài có thể bị dồn vào tuyệt chủng do không cạnh tranh nổi với một loài khác hay do bị ăn thịt
Tuyệt chủng do con người gây ra
Nguyên nhân trực tiếp của sự tuyệt chủng này có thể là do săn bắn, và nguyên nhân giántiếp là do đốt rừng và khai hoang
Sự tuyệt chủng hàng loạt
Tuyệt chủng hàng loạt trong giai đoạn hiện nay khác với các cuộc tuyệt chủng hàng
loạt trong quá khứ, xảy ra chủ yếu do các hiện tượng thiên nhiên, tuyệt chủng hiện nay chủ yếu do con người
6,Áp lực dân số
Trang 7Câu 4: Giới thiệu các thang bậc phân hạng mức đe dọa của IUCN:
Trả lời:
Khái niệm: Sách Đỏ IUCN là danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật trên thế giới Danh sách này được giám sát bởi Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủViệt Nam cũng công bố Sách Đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên Đây cũng là tài liệu khoa học dược sử dụng vào việc soạn thảo
và ban hành các quy định, luật pháp của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, tính đa dạng sinh học và môi trường sinh thái
Sơ đồ thang phân cấp suy thoái ĐDSH
CÁC THỨ HẠNG VÀ TIÊU CHUẨN CỦA IUCN CHO DANH LỤC ĐỎ VÀ
SÁCH ĐỎ (Đã được chấp thuận ở kỳ họp của Hội đồng IUCN, Gland - Thụy Sĩ, 30 tháng 4
Tuyệt chủng giả là trường hợp tiến hoá diễn ra trong toàn bộ loài, dẫn đến loài sinh học
mới, và không có hậu duệ nào mang thuần các tính trạng của loài cũ
Do môi trường sống: Ví dụ như gấu trúc chỉ ăn măng non thì dễ tuyệt chủng hơn chuột
có thể ăn bất cứ thứ gì
Do thiên địch : Sự mất cân bằng trong quan hệ thiên địch, đặc biệt là quan hệ chuỗi
thức ăn, có thể dẫn đến tuyệt chủng của loài kém cạnh tranh trong chuỗi đó
Cùng tuyệt chủng : là biểu hiện của sự liên kết của các sinh vật trong hệ sinh thái phức
tạp Sự tuyệt chủng hay tiến hóa của loài này có thể dẫn đến tuyệt chủng của loài khác, chủ yếu do sự đảo lộn nguồn cung cấp thức ăn hay môi trường tồn tại
Tuyệt chủng hàng loạt :là khi có hàng trăm loài tuyệt chủng ở khắp mọi nơi Ngoài ra, còn do hoạt động săn bắn trái phép và không hợp lý của con người.
2,EW – tuyệt chủng ngoài thiên nhiên-Exinct in the wild là một trạng thái bảo tồn của sinh vật Một loài hoặc dưới loài bị coi là tuyệt chủng trong tự nhiên khi các cuộc khảo sát
kỹ lưỡng ở sinh cảnh đã biết và hoặc sinh cảnh dự đoán, vào những thời gian thích hợp xuyên suốt vùng phân bố lịch sử của loài đều không ghi nhận được cá thể nào
3,CR – rất nguy cấp - Critically Endangered khi đang đứng trước một nguy cơ cực kỳ
lớn sẽ bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên trong một tương lai trước mắt
4,EN – nguy cấp – Endangered Một sinh vật được coi là nguy cấp khi chưa phải là rất
nguy cấp nhưng đang đứng trước một nguy cơ rất lớn sẽ bị tuyệt chủng ngoài thiên
nhiên trong một tương lai gần,
Trang 85,VU – sẽ nguy cấp – Vulnerable
Một sinh vật được coi là sẽ nguy cấp khi chưa phải là rất nguy cấp hoặc nguycấp nhưng đang đứng trước một nguy cơ lớnsẽ bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên trong mộttương lai tương đối gần,
6,LR – ít nguy cấp – Lower risk
Một sinh vật được coi là ít nguy cấp khi không đáp ứng một tiêu chuẩn nào của cácthứ hạng rất nguy cấp, nguy cấp hoặc sẽ nguy cấp Thứ hạng này có thể phân thành 3 thứhạng phụ:
a PHỤ THUỘC BẢO TỒN (cd) - Conservation dependent
Bao gồm các sinh vật hiện là đối tượng của một chương trình bảo tồn liên tục, riêngbiệt cho taxon đó hoặc nơi ở của nó; nếu chương trình này ngừng lại, sẽ dẫn tới taxon này bịchuyển sang một trong các thứ hạng trên trong khoảng thời gian 5 năm
b SẮP BỊ ĐE DOẠ (nt) - Near threatened
Bao gồm các sinh vật không được coi là phụ thuộc bảo tồn nhưng lại rất gần với sẽ nguycấp
c ÍT LO NGẠI (lc) - Least concern
Bao gồm các sinh vật không được coi là phụ thuộc bảo tồn hoặc sắp bị đe doạ
7,DD – thiếu dẫn liệu – Data deficient
Một sinh vật được coi là thiếu dẫn liệu khi chưa đủ thông tin để có thể đánh giá trựctiếp hoặc gián tiếp về nguy cơ tuyệt chủng, căn cứ trên sự phân bố và tình trạng quần thể
8,NE – không đánh giá – Not evaluated
Một sinh vật được coi là không đánh giá khi chưa được đối chiếu với các tiêu chuẩn phânhạng
=>Từ những dữ liệu trên, cho thấy các loài sinh vật cũng có khả năng bị tuyệt chủng hay rơi vào vòng nguy hiểm Chính vì vậy, cần có những biện pháp bảo vệ các loài sinh vật, khai thác hợp lý để duy trì nguồn gen cho nhân loại
Câu 5: Trình bày cơ sở để tạo nên đa dạng sh ở Việt Nam:
Trả lời:
Vị trí địa lý: Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực Đông
Nam Á, ven biển Thái Bình Dương Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài 4.550 kmtiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào và Căm-pu-chia ở phía Tây; phía Đông giápbiển Đông Trên bản đồ, dải đất liền Việt Nam mang hình chữ S, kéo dài từ vĩ độ 23o23’ Bắcđến 8o27’ Bắc, dài 1.650 km theo hướng bắc nam Nước ta có hơn 4000 đảo lớn nhỏ, trong
đó có hai quần đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng), Trường Sa (Khánh Hoà) => đa dạng về các loàiđộng - thực vật, nông sản; Có sự phân hoá da dạng về tự nhiên, phân hoá Bắc – Nam, Đông
- Tây, thấp – cao => đa dạng về các loài trên các vùng miền
Địa hình: Việt Nam đa dạng: đồi núi, đồng bằng, bờ biển và thềm lục địa, phản ánh
lịch sử phát triển địa chất, địa hình lâu dài trong môi trường gió mùa, nóng ẩm, phong hóamạnh mẽ Địa hình thấp dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, được thể hiện rõ qua hướngchảy của các dòng sông lớn
Đồi núi chiếm tới 3/4 diện tích lãnh thổ nhưng chủ yếu là đồi núi thấp
Đồng bằng chỉ chiếm ¼ diện tích trên đất liền và bị đồi núi ngăn cách thành nhiều khu vực
Trang 9Sông ngòi: Việt Nam có một mạng lưới sông ngòi dày đặc (2.360 con sông dài trên 10
km), chảy theo hai hướng chính là Tây Bắc- Đông Nam và vòng cung Chế độ nước của sông ngòi chia thành mùa lũ và mùa cạn
Vĩ độ và đai cao: đất nc kéo dài gần 16 vĩ tuyến và trải rộng trên 7 kinh tuyến, 30%
tổng diện tích có độ cao trên 500m đỉnh cao nhất là phanxipang => khí hậu thay đổi theo độcao và vĩ độ
Địa mạo và hệ thống hoàn lưu: hệ thống gió mùa – hoàn lưu khí quyển- ở VN rất
phong phú cùng với đặc điểm địa mạo đã hình thành nên chế độ thời tiết ở VN:=> hình thành các đới gió:
Thứ nhất, là gió mùa Đông Bắc từ lục địa TQ đi vào VN trong tg từ tháng 11 đến t3
năm sau, có đặc điểm khô và lạnh ảnh hưởng mạnh nhất đến vùng Đông Bắc- ngoài vc gần phía Đông TQ thì vùng này có hệ thống núi hình nan quạt mở rộng ở phần phía Bắc
Thứ 2, gió mùa Đông Nam và Tây Namthooir từ biển vào trong tg từ tháng 4 đến
t10 , loại gió này mang theo hơi nước gây mưa cục bộ trên lãnh thổ VN
Thứ 3, gió Tây khô nóng thổi từ vịnh Ban Can qua lục địa đến VN từ t5 đến t7, đặc
biệt là vùng Bắc Trung Bộ, do có dãy trg sơn ngăn lại hơi nc mà thời tiết biểu hiện rõ là khô nóng
Các loài sinh vật luôn tồn tại và thích nghi với mt sống Chế độ thời tiết của VN phong phú, địa hình địa mạo đa dạng, sông ngòi dày đặc là cơ sở tạo nên tính đa dạng sh của vn
Câu 6: Trình bày đặc điểm đa dạng sinh học ở Việt Nam:
Trả lời: DDSH ở VN gồm 3 hệ chính: HST trên cạn, HST đất ngập nc, HST biển:
HST trên cạn: Trên phần lãnh thổ vùng lục địa ở Việt Nam, có thể phân biệt các kiểu
HST trên cạn đặc trưng như: rừng, đồng cỏ, savan, đất khô hạn, đô thị, nông nghiệp, núi đá
vôi Trong đó, HST rừng có tính đa dạng về thành phần loài cao nhất, đây cũng là nơi cư trú
của nhiều loài động vật, thực vật hoang dã có giá trị kinh tế và khoa học Tổng diện tích hệsinh rừng khoảng 32 triệu ha và tập trung nhiều ở các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung
Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (Mục tiêu trong thời gian tới là sẽ tăng độ che phủ rừnglên 42 – 43% vào năm 2015 và 44 – 45% vào năm 2020, góp phần đáp ứng các yêu cầu vềmôi trường cho quá trình phát triển bền vững của đất nước.)
HST Rừng phân rừng VN thành 14 kiểu: kiểu rừng kín thg xanh mưa ẩm nhiệt đới,rừng rụng lá ẩm nh đới, r kín rụng lá hơi ẩm nh đới, r kín lá cứng hơi khô nh đới, r thưa cây
lá rộng hơi khô nh đới, r thưa cây lá kim hơi khô nh đới,
HST đất ngập nước (ĐNN): ĐNN Việt Nam rất đa dạng về kiểu loại với hơn 10 triệu
ha, phân bố ở hầu hết các vùng sinh thái của nước ta, gắn bó lâu đời với cộng đồng dân cư
và có vai trò to lớn đối với đời sống nhân dân và phát triển kinh tế – xã hội
ĐNN ven biển Việt Nam đa dạng về kiểu, gồm 20 kiểu với tổng diện tích khoảng 1,9triệu ha ( HST thuỷ vực nước ngọt rất đa dạng bao gồm các thuỷ vực nước đứng như hồ, hồchứa, ao, đầm, ruộng lúa nước; các thuỷ vực nước chảy như suối, sông, kênh rạch Trong
đó, một số kiểu có tính ĐDSH cao như suối vùng núi đồi, đầm lầy than bùn với nhiều loàiđộng vật mới cho khoa học đã được phát hiện )
Việt Nam có 2 vùng ĐNN nội địa quan trọng là vùng cửa sông Đồng bằng sông Hồng
và Đồng bằng sông Cửu Long: (i) ở vùng ĐBSH có diện tích 229.762 ha là nơi tập trung cácHST nước lợ và mặn với thành phần loài thực vật, động vật phong phú của các vùng rừng
Trang 10ngập mặn, đặc biệt đây là nơi cư trú của nhiều loài chim nước; (ii) ở ĐBSCL có diện tíchđất ngập nước 4.939.684 ha Đây là bãi đẻ quan trọng của nhiều loài thủy sản di cư từ phíathượng nguồn sông Mê Kông
HST biển: Việt Nam có 20 kiểu HST biển điển hình Trong các vùng biển của Việt
Nam, quần đảo Trường Sa là vùng có tính đa dạng của rạn san hô cao nhất thế giới
Các rạn san hô đang giảm nghiêm trọng: Năm 2007, rạn san hô ở đây đã bị chết khánhiều, có nơi độ phủ của san hô chết của toàn đảo lên đến 90% Nguyên nhân phần lớn cóthể là do một số ngư dân đánh bắt cá trong các rạn san hô này
HST thảm cỏ biển của nước ta cũng đang bị giảm dần diện tích một phần do tai biếnthiên nhiên, phần khác là do lấn biển để làm các ao nuôi thủy sản và xây dựng công trìnhven biển Chất lượng môi trường biển suy giảm làm môi trường sống của hầu hết các loàisinh vật biển bị phá hủy, gây nhiều tổn thất về ĐDSH: nhiều loài sinh vật biển giảm sốlượng, thậm chí có loài có thể đã tuyệt chủng cục bộ
Câu 7: Phân tích thực trạng suy thoái đa dạng sinh học ở VN:
Trả lời:
Suy thoái về hệ sinh thái
Hiện nay Việt Nam cũng đang trong tình trạng chung của toàn cầu là đa dạng sinh học bị đedoạ, có chiều hướng suy giảm nghiêm trọng Rừng là hệ sinh thái đa dạng nhất trên trái đất,nhưng hiện nay rừng đã và đang bị cạn kiệt
Trong thời kỳ đầu của lịch sử, người Việt Nam tập trung sinh sống ở châu thổ sôngHồng, sau đó phát triển đến các vùng khác ở phía Đông và vào châu thổ sông Mê Kông.Thời kỳ này rừng nước ta còn bao phủ hầu khắp đất nước
Thời kỳ Pháp thuộc, nhiều vùng ở miền Nam đã bị khai phá để trồng các loại cây côngnghiệp như Cao su, Cà phê, Chè… Tuy rừng đã bị khai phá nhưng độ che phủ rừng củanước ta thời kỳ này vẫn còn khoảng 43% (1943)
Trong thời kỳ chiến tranh, hàng triệu ha rừng Việt Nam bị tàn phá Ảnh hưởng giántiếp của chiến tranh cũng không nhỏ do một phần diện tích rừng bị khai thác để sản xuấtnông nghiệp phục vụ quân đội và nhân dân
Sau chiến tranh, diện tích rừng của Việt Nam còn khoảng 9,5 triệu ha (bằng 29% diện tích cảnước), cho đến nay rừng ở nước ta cũng chỉ còn trên 9,4 triệu ha rừng tự nhiên (1999)
Chỉ riêng giai đoạn từ 1975 đến 1995 chúng ta đã làm mất 2,8 triệu ha rừng, bình quânmất 140.000 ha rừng hàng năm Tỷ lệ che phủ rừng giảm xuống từ 38% (1975) xuống còn28% (1995) Việt Nam có khoảng 210.000 ha bãi sình lầy có rừng ngập mặn Có thể nói đây làsinh cảnh có mức độ đa dạng sinh học cao, là nơi cư trú của hầu hết các loài cá và giáp xác có giátrị kinh tế Sự khai thác quá mức và bất hợp lý bãi sình lầy như chặt phá rừng ngập mặn, … đãlàm giảm diện tích hệ sinh thái kiểu này, đồng thời gây suy thoái đa dạng sinh học trong hệ
Suy thoái về loài
Nếu như trước những năm 1970, các kiểu rừng và diện tích rừng của nước ta còn phong phú
và đa dạng với nhiều loài thực vật bản địa và các loài động vật có kích thước lớn… thì hiện nay,một số loài thực vật đã suy giảm và trở thành nguồn gen quý hiếm không những đối với nước ta màcòn cả đối với thế giới, ví dụ như các loài: Thông lá dẹt ,Thông nước ,Sam đỏ ,Trầm hương ,Sambông ,Cẩm lai … Đó là những loài gỗ quý được ngành Lâm nghiệp phân hạng Ngoài ra còn có cácloài cây thuốc, cây làm cảnh như các loài thuộc giống Lan hài cũng cần được quan tâm bảo vệ
Trang 11Một số loài động vật lớn đã bị diệt vong như : Tê giác 2 sừng ,Heo vòi ,Hươu sao ,Trâu rừng ,Cầy nước Một số loài khác thì số lượng còn lại quá ít, có thể bị tuyệt chủng trong tương lai gần nếu như không có biện pháp bảo vệ khẩn cấp như các loài thú: Hổ,Voi ,Tê giác một sừng,Bò rừng , Voọc mũi hếch … Các loài chim, bò sát và ếch nhái cũng nằm trong tình trạng tương
tự như: Hạc cổ trắng, Cò á châu, Già đẫy lớn, Cò Quắm cánh xanh, Ngan cánh trắng, Một số loài động thực vật quý hiếm, có giá trị kinh tế ở Việt Nam đã giảm sút nghiêm trọng về số lượng
và được đánh giá ở các mức độ đe doạ khác nhau Các loài cây bản địa phục vụ trồng rừng cũng giảm sút về số lượng
Tây Nguyên là nơi có truyền thống thuần dưỡng voi rừng Các số liệu thống kê ở tỉnhĐắc Lắc cho thấy : năm 1980 có 500 con voi được thuần dưỡng, năm 1996 - 299 con, năm
1997 chỉ còn 169 con Từ năm 1991 đến 1997 số lượng voi thuần dưỡng giảm 56,8%
Suy thoái về di truyền
Mức độ suy giảm của biến dị di truyền thường đi cùng với nguy cơ đe doạ của loài Suy thoái về di truyền còn thể hiện ở sự mất đi biến dị di truyền của loài phụ, các xuất
xứ, các quần thể quan trọng, chẳng hạn
• Thông 5 lá Đà Lạt: trước đây phân bố nhiều ở Trại Mát, cách thành phố Đà Lạt khoảng 6
- 7 km và đây là nơi thu được mẫu vật đầu tiên song hiện tại chỉ còn tìm thấy 2 cá thể cuốicùng tại khu vực, đang trong trạng thái bị đe doạ khó có thể tồn tại lâu dài
• Lim xanh thuộc họ Đậu trước đây có phân bố trải dài suốt từ Quảng Ninh đến QuảngBình trong đó có các vùng phân bố nổi tiếng như: Cầu Hai (Phú Thọ); Ba Vì, Sơn Tây (HàTây); Mai Sưu (Bắc Giang), Hữu Lũng (Lạng Sơn) Song đến nay khó tìm thấy những quần
tụ Lim Xanh rộng lớn mà chỉ còn gặp những cá thể sống rải rác
Quần thể Tê giác 1 sừng tại Vườn Quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai), do việc săn bắn quá mức
để lấy sừng, da và các bộ phận khác cùng với sự huỷ diệt của bom đạn trong chiến tranh.Đến những năm 1960, chúng hầu như hoàn toàn vắng bóng ở miền Bắc
Số lượng các loài trong Sách Đỏ tăng
Sau một quá trình điều tra nghiên cứu lâu dài, các nhà sinh học đã công bố 2 tập “Sách
đỏ Việt Nam” : Phần Động vật (1992, 2000) và phần Thực vật (1995) Những tài liệu này đãnêu 365 loài động vật và 356 loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tiêu diệt ở các mức độkhác nhau Năm 2002-2003 số lượng các loài động, thực vật được đưa vào Sách đỏ lần nàycao hơn số lượng đã công bố ở trên (417 loài động vật, 450 loài thực vật) => tình trạng suygiảm số lượng cá thể các loài quý hiếm, có giá trị khai thác ngày càng tăng
HST biển giảm:
Theo đánh giá của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, hầu hết các hệ sinh thái ven
bờ biển của nước ta đều đang bị suy thoái một cách nghiêm trọng do bị khai thác quá mức,
bị đe dọa nặng nề bởi ô nhiễm chất thải, lắng đọng trầm tích và ô nhiễm tràn dầu.Môi trường biển bị ô nhiễm nặng do chất thải từ hoạt động công nghiệp, nông nghiệp vànuôi trồng thủy sản, chất thải sinh hoạt Nên chất lượng trầm tích, đáy biển là nơi cư trú củanhiều loài sinh vật đáy cũng ô nhiễm quá mức theo quy định của hầu hết các chuẩn quốctế
Năm 2001, diện tích phân bố rạn san hô biển Việt Nam khoảng 110.000 ha, song theo
số liệu điều tra nghiên cứu của Viện Tài nguyên và Môi trường biển hiện chỉ còn 14.130 ha Nguyên nhân gây chết do ngư dân đánh bắt cá ở rạn san hô bằng hóa chất độc Xianua từnhững năm 2002-2006, làm cho san hô chết hàng loạt vào thời gian này
Riêng hệ sinh thái thảm cỏ biển được xem là hệ sinh thái có năng suất sinh học cao, là
nguồn cung cấp thức ăn cho các loài hải sản Số loài cư trú trong vùng thảm cỏ biển thườngcao hơn vùng biển bên ngoài từ 2 đến 8 lần Cách đây 5 năm, thảm cỏ biển ven bờ Việt Nam
Trang 12còn tới 12.380 ha, chủ yếu thuộc về vùng bờ biển đảo Phú Quốc-Kiên Giang.
Nhưng cũng giống như rạn san hô, thảm cỏ biển đang mất dần diện tích, một phần do tai
biến thiên nhiên, một phần do lấn biển để xây dựng các công trình và làm đầm, ao nuôi thủysản Nên đến nay độ che phủ của thảm cỏ biển tại nhiều khu vực đã giảm một nửa diện tích
so với năm 2007
Câu 8: Nêu những nguyên nhân gây suy thoái đa dạng sinh học ở VIệt Nam:
Trả lời:
Các nguyên nhân sau: tự nhiên và tác động của con ng
- Mất nơi cư trú (cháy rừng sv sẽ k còn chỗ ở )
- Khai thác qua mức
- Du canh và xâm lấn đất của canh tác nông nghiệp
- Ô nhiễm đất, ô nhiễm kk, nước
- Sự xuống cấp của vùng bờ biển
- Hiện đại hóa và kinh tế thị trường
- Mâu thuẫn giữa cung và cầu (là nguyên nhân cốt yếu- TNTN có hạn mà nhu cầu con ng giatăng) v v v v
Câu 9: Tại sao phải cần giám sát, đánh giá đa dạng sinh học?
Trả lời:
Tính đa dạng sinh học không phải lúc nào cũng cố định trong các khu bảo tồn thiên nhiên.Theo sự biến đổi của thời gian, khí hậu, sự canh tranh phát triển trong các quần xã, diễn thế tựnhiên, di cư, sự tác động của con người làm cho tính đa dạng sinh học trong các khu bảo tồn luôn
thay đổi Vì vậy, điều tra, giám sát đa dạng sinh học có ý nghĩa rất lớn trong công tác bảo tồn.
Điều tra và giám sát đa dạng sinh học chính là các hoạt động nhằm xem xét, phân tích tình hìnhdiễn biến các tài nguyên sinh vật theo thời gian, làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn
Các đợt điều tra giám sát đa dạng sinh học theo định kỳ sẽ cung cấp những tư liệu cơ sở đểchúng ta đánh giá những thay đổi trong khu bảo tồn do những tác động tiêu cực hoặc do các hoạtđộng quản lý gây nên Mặt khác, các tư liệu điều tra giám sát sẽ giúp chúng ta đánh giá sự tiến bộ(hiệu quả) của các hoạt động quản lý Nói chung, các cuộc điều tra kiểm kê sẽ cho ta những tư liệuvề: số lượng loài trong khu bảo tồn (độ phong phú của loài); phân bố của các loài, nhóm loài đặctrưng cho các dạng sinh cảnh (tổ thành loài)
Việc điều tra giám sát thường xuyên theo định kỳ sẽ giúp các nhà điều tra xây dựng danh lụckiểm kê của các loài trong khu bảo tồn Từ đó chúng ta có thể so sánh kết quả kiểm kê này với cácđợt kiểm kê trước đây hoặc với kết quả kiểm kê ở các khu bảo tồn khác (nếu quy trình kiểm kêkhông bị thay đổi)
Ngoài ra hoạt động giám sát, đánh giá đa dạng sinh học còn nhằm mục đích: xác định cácvùng ưu tiên cho bảo tồn đa dạng sinh học; bảo tồn và phát triển nguồn gen động, thực vật; theo dõitác động của quản lý đất đai cũng như biến đổi môi trường đến đa dạng sinh học
Câu 10: Hãy lập kế hoạch điều tra đánh giá đa dạng sinh học cho 1 khu bảo tồn hoặc 1 địa phương:
Trả lời:
Tiến trình :Tiến trình lập kế hoạch hoạt động giám sát, đánh giá đa dạng sinh học bao
gồm các bước sau:
1. Phân tích nhu cầu: việc phân tích nhu cầu giám sát đánh giá ĐDSH có thể dựa vào:
+ Chức năng, nhiệm vụ của từng khu bảo tồn
+ Nhu cầu của cộng đồng
+ Kết quả phân tích chiến lược, chính sách
Trang 132. Xác định mục tiêu tổng thể, mục tiêu cụ thể: sau khi xác định được các vấn đề, nhucầu cần giám sát, đánh giá, bước tiếp theo sẽ là tổng hợp các nhu cầu để xác định mục đích,mục tiêu của việc giám sát, đánh giá.
3. Xác định các kết quả mong đợi của bảo tồn đa dạng sinh học: có thể được xác địnhthông qua phân tích sơ đồ cây với các bên liên quan, nhằm trả lời được câu hỏi: “Để đạtđược mục tiêu cần phải đạt được những kết quả gì?
4. Các hoạt động: tiếp tục phân tích sơ đồ cây với các bên liên quan, nhằm trả lời đượccâu hỏi: “Để có được những kết quả trên cần phải làm những gì?” Để đạt được một kết quảmong đợi cần có một hay nhiều hoạt động liên quan với nó? Các hoạt động là một phầnquan trọng của chiến lược hành động nhằm đạt được các kết quả mong đợi
5. Kế hoạch hành động
Phương pháp lập kế hoạch
Trên cơ sở các hoạt động được xác định để đạt được các kết quả mong đợi trong kếhoạch hoạt động giám sát đánh giá, tiếp tục phân tích về thời gian, nguồn lực (nhân lực, tàichính, phương tiện vật tư) để lập kế hoạch hành động
Điều tra giám sát đa dạng sinh học là những hoạt động tốn kém về thời gian, nhân lực
và tài chính Vì vậy tuỳ thuộc vào nguồn kinh phí và nhân lực, việc lập kế hoạch hành độngnên tập trung vào những vấn đề quan trọng nhất và sắp xếp các hoạt động theo thứ tự hợp lý
về thời gian
Câu 11: Trình bày phương pháp điều tra , đánh giá đa dạng sh về 1 đối tg động vật, thực vật:
Trả lời:
Lập tuyến điều tra
Lập tuyến điều tra cho chương trình giám sát là rất tốn kém và mất thời gian nhưngcực kỳ quan trọng Sau khi chia khu bảo tồn thành các dạng sinh cảnh chính, trên cơ sởnguồn nhân lực và kinh phí sẽ xác định khu vực lập tuyến và số tuyến điều tra giám sát cầnlập và số lần lặp lại cho mỗi đợt điều tra Tuyến điêu tra nhằm mục đích: Giám sát diễn biếncủa các loài động vật
1 Điều tra giám sát các loài thú
Thú là một trong những nhóm sinh vật quan trọng của hoạt động bảo tồn Sự phát triểnhay suy thoái của các loài thú nói lên tính hiệu quả của hoạt động quản lý
2,Điều tra giám sát các quần thể thú lớn
Thường thì các loài thú lớn được chú ý hàng đầu trong khu bảo tồn và đó là những loàichỉ thị quan trọng.Đó cũng là những loài có thể dễ dàng thuyết phục mọi người ủng hộ việcbảo tồn hơn các loài nhỏ khó nhìn thấy.Tuy nhiên đó cũng là nhiệm vụ khó khăn vì trongthực tế thú lớn rất dễ bị săn bắn
Giám sát các loài thú lớn cần phải kiên trì, có thể bắt đầu từ điều tra kiểm kê ban đầu
cho đến tính toán chính xác mật độ Các phương pháp điều tra giám sát quần thể thú lớn
Có nhiều phương pháp giám sát quần thể thú lớn và cơ bản gồm kiểm kê số loài, tínhcác chỉ số (hay các xu thế biến đổi) của quần thể
• Điều tra kiểm kê
Phải sử dụng thành thạo các bản đồ và đánh dấu đúng vị trí về thông tin các loài cóđược
phương pháp giám sát có thể bắt đầu theo những cách khác nhau: