1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích một số yếu tố của lạm phát ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế việt nam giai đạon 1986 2012 và tình hình kinh tế việt nam 2013

75 577 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lạm phát và tăng trưởng đã có những tác động trực tiếp và gián tiếp đến toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của chính phủ, các doanh nghiệp và cá nhân, các mối quan hệ kinh t

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

――

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986 – 2012 VÀ TÌNH HÌNH

GVHD: Ths LÊ TRUNG CANG

L ỚP: Kinh t ế học – K35

TP.HCM – 2013

Trang 2

Chương 1: GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh bất ổn vĩ mô vẫn tiếp tục tích lũy và có dấu hiệu bùng phát vào

những tháng đầu năm 2013, lạm phát trở thành một trong bốn vấn đề gay gắt nhất liên quan đến bình ổn vĩ mô (cùng với quản lý tỷ giá, thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách)

Tuy nhiên nếu nhìn lại toàn cảnh quá trình cải cách kinh tế của Việt Nam trong hơn hai thập kỷ qua, thì lạm phát đặc biệt là các nhân tố quyết định lạm phát và những

biến động của lạm phát là một trong những chủ đề được thảo luận nhiều nhất ở Việt Nam Nguyên nhân của điều này rất rõ ràng vì lạm phát đã luôn là một trong những vấn

đề dai dẳng gây nhức nhối nhất, làm tổn thất nhất đối với nền kinh tế Việt Nam Việt Nam đã trải qua giai đoạn siêu lạm phát trong những năm 1980 và đầu những năm 1990 ngay khi bắt đầu những cải cách kinh tế đầu tiên Ngoại trừ giai đoạn 2000-2003 khi lạm phát thấp và ổn định ở mức 5% trở xuống, tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam thường xuyên cao hơn, lạm phát kéo dài lâu hơn và dao động mạnh hơn so với lạm phát ở các nước láng giềng Hiểu rõ các nguyên nhân và hậu quả của những vấn đề này có ý nghĩa quan trọng đối với việc đánh giá tác động của các chính sách vĩ mô đối với nền kinh tế

Những sự kiện gần đây như việc Việt Nam gia nhập WTO, luồng vốn nước ngoài đột ngột chảy mạnh vào Việt Nam trong hai năm 2007 – 2008, các vấn đề của thị trường ngoại hối Việt Nam trong hai năm 2009 – 2010, cuộc khủng hoảng kinh tế thế

giới cũng như nguy cơ lạm phát tăng mạnh trở lại đã đặt ra nhiều thách thức mới cho

việc quản lý kinh tế vĩ mô, và đặc biệt trong việc kiểm soát lạm phát ở Việt Nam Hàng

loạt những thay đổi trong môi trường vĩ mô và chính sách kinh tế trong những năm vừa qua đã đặt ra yêu cần cần có một cách tiếp cận hệ thống, và toàn diện nhằm xác định

những nhân tố vĩ mô quyết định lạm phát trong bối cảnh mới của Việt Nam

Mục tiêu chính của nền kinh tế Việt Nam trong những năm sắp tới là tiếp tục

ổn định vĩ mô, tăng trưởng kinh tế bền vững, tái cấu trúc nền kinh tế, Nhưng bên cạnh

đó do chịu ảnh hưởng sâu sắc của cuộc khủng hoảng 2007 vừa qua nên việc tăng trưởng kinh tế cũng gặp nhiều khó khăn Điển hình cho năm 2012 vừa qua là vẫn còn tồn đọng những bất ổn như lạm phát, nợ xấu, hàng tồn kho,…đó vẫn là vấn đề nan giải

mà nhà nước ta vẫn chưa giải quyết quyết thoả mãn từ khi còn sơ khai của nền kinh tế Mặc dù trên cơ sở là thế nhưng các yếu tố của lạm phát vẫn là những mô thức chủ chốt góp phần lớn ảnh hưởng đến sự tồn vong của việc tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong những năm vừa qua Vì vậy chúng ta nên xét một cách độc lập và tập trung hơn về hai vấn đề này Sự tác động qua lại của tăng trưởng kinh tế và lạm phát hết sức

phức tạp và không phải lúc nào cũng tuân theo những qui tắc kinh tế Do vậy vấn đề

lạm phát và ảnh hưởng của các yếu tố l ạm phát tới tăng trưởng kinh tế là một đề tài rất

Trang 3

hấp dẫn, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế hiện nay thì vấn đề này càng trở nên rất cần thiết

Đối với một nhà kinh tế học nào cũng vậy, chúng tabiết rằng lạm phát và tăng trưởng luôn là bạn động hành của nền kinh tế thị trường Trong thời đại hiện nay , lạm phát vẫn đang là vần đề trung tâm và nhạy cảm của đời sống kinh tế xã hội ở các cấp quốc gia và thế giới Mối liên hệ đó chính là kết quả bởi các chính sách vĩ mô của nhà nước để tạo nên sự liên kết qua lại lẫn nhau , nhầm mục đíchtừ đó cân bằng các ảnh hưởng tương tác đốivới bối cảnh chung của nền kinh tế thị trường khu vực và thế giới

Lạm phát và tăng trưởng đã có những tác động trực tiếp và gián tiếp đến toàn

bộ các lĩnh vực hoạt động của chính phủ, các doanh nghiệp và cá nhân, các mối quan hệ kinh tế đối nội và đối ngoại của quốc gia, tác động đến tình hình xã hội trong khu vực và trên thế giới với mức độ tuỳ thuộc vào vị thế kinh tế chính trị mà nước đó đảm nhận trong khu vực và thế giới Vì vậy nghiên cứu các yếu tố của lạm phát ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế nhầm tìm ra nguyên nhân , hệ quả và tìm cách khắc phục ảnh hưởng của yếu tố lạm phát không chỉ riêng Việt Nam mà còn là mục tiêu của hầu hết các quốc gia đangquan tâm và tìm hiểu Vậy có phải chăng giữa lạm phát và tăng trưởng có mối quan hệ ngược chiều và nếu thế chúng ta cần làm gì ? Liệu rằng việc tăng hay giảm các yếu yếu tố lạm phát có lợi hay ảnh hưởng gì cho nền kinh tế hay không?

Trong nghiên cứu này, sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên các phân tích định lượng nhằm xác định và tìm hiểu những nguyên nhân cơ bản của lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn 1986 đến 2012 Những nghiên cứu đã có về lạm phát ở Việt Nam

tập trung chủ yếu vào các nhân tố “cầu kéo” của lạm phát và bỏ qua các nhân tố “chi phí đẩy” Nhân tố duy nhất từ phía cung được đưa vào các nghiên cứu này là giá quốc tế Đồng thời, một nhân tố quan trọng từ phía cầu chưa được nghiên cứu là vai trò của thâm

hụt ngân sách và nợ công đến lạm phát Nghiên cứu này hi vọng sẽ đem đến cho những

thảo luận chính sách hiện nay ở Việt Nam một nghiên cứu vĩ mô đáng tin cậy với phương pháp mang tính khoa học và dựa vào các bằng chứng thực nghiệm về các nguyên nhân của lạm phát Vì kiểm soát lạm phát là một trong những mối quan tâm hàng đầu trong chính sách kinh tế vĩ mô của năm nay và năm tới, nghiên cứu hy vọng sẽ làm

rõ các vấn đề liên quan đến lạm phát và đóng góp vào quá trình xây dựng chính sách

Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUY ẾT

2.1 L ẠM PHÁT

2.1.1 Khái niệm

Trang 4

Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát và mỗi quan điểm đều có

sự chắc chắn về luận điểm và những lý luận của mình

Theo L.V.Chandeler, D.C.Cliner với trường phái lạm phát giá cả thì khẳng định lạm phát là sự tăng giá hàng bất kể dài hạn hay ngắn hạn, chu kỳ hay đột xuất

Còn theo G.G.Mtrukhin lại cho rằng: Trong đời sống tổng mức giá cả tăng trước hết thông qua việc tăng giá không đồng đều ở từng nhóm hàng hoá, và rút cuộc

dẫn tới việc tăng giá cả nói chung Với ý nghĩa như vậy có thể xem sự mất giá của đồng tiền là lạm phát Ông cũng chỉ rõ: lạm phátchính là hình thức tràn trề tư bản một cách tiềm tàng (tự phát hoặc có dụng ý) là sự phân phối lại sản phẩm xã hội và thu

nhập quốc dân thông qua giá cả giữa các khu vực của quá trình tái sản xuất xã hội, các ngành kinh tế và các giai cấp, các nhóm dân cư xã hội

Ở mức bao quát hơn P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn “Kinh tế

học” đã được dịch ra tiếng Việt, xuất bản năm 1989 cho rằng lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả chi phí tăng lên

Với luận thuyết “Lạm phát lưu thông tiền tệ” J.Bondin và M.Friendman lại cho rằng lạm phát là đưa nhiều tiền thừa vào lưu thông làm cho giá cả tăng lên M.Friedman nói “lạm phát ở mọi lúc mọi nơi đều là hiện tượng của lưu thông tiền tệ

Lạm phát xuất hiện và chỉ có thể xuất hiện khi nào số lượng tiền trong lưu thông tăng lên nhanh hơn so với sản xuất”

Như vậy, tất cả những luận thuyết những quan điểm về lạm phát đã nêu trên đều đưa ra những biểu hiện ở một mặt nào đó của lạm phát.Và theo quan điểm của em

về vấn đề này sau khi nghiên cứu một số luận thuyết ở trên; thì em nhận thấy ở một khía cạnh nào đó của lạm phát là khi mà lượng tiền đi vào lưu thông vượt mức cho phép thì nó dẫn đến lạm phát, đồng tiền bị mất giá so với tất cả các loại hàng hoá khác

Lạm phátthường được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả

của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một mức giá cả trung bình Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mức giá trung bình của nhóm hàng tương ứng ở thời điểm gốc Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ lệ

phần trăm mức tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời điểm gốc Để dễ hình dung có thể coi mức giá cả như là phép đo kích thước của một

quả cầu và lạm phát sẽ là độ tăng kích thước của nó

2.1.2 Các quan điểm tiếp cận về lạm phát trong lịch sử kinh tế cận đại

Trang 5

Trong lịch sử tình trạng lạm phát được xem như xảy ra khi mà khối lượng tiền tệ lưu thông quá dư thừa đối với nhu cầu của nền kinh tế Vì vậy để nhận biết tình trạng lạm phát các nhà kinh tế học đã đưa ra ba quan điểm sau:

2.1.2.1 Quan điểm thứ nhất

Hiện tượng lạm phát xảy ra khi số tiền lưu thông trong thị trường so với lượng tiện dự trữ của ngân hàng quá cao Tuy quan điểm này đã lỗi thời so với thời đại ngày nay nhưng chúng ta cũng cần xem xét đến vấn đề này Vào khoảng nửa sau thế kỷ 19, khi chế

độ kim bản vị còn thịnh hành thì quan điểm lạm phát này là quan điểm thông dụng

Quan điểm này thì quá giản đơn bởi vì tỷ lệ để đảm bảo là một tiêu chuẩn quá

cứng nhắc Vì trong thực tế có một số trường hợp tỷ lệ pháp định vẫn được coi trọng mà lạm phát vẫn xảy ra

2.1.2.2 Quan điểm thứ hai

Là một quan điểm đã được phổ biến rộng sau chiến tranh tranh thế giới thứ nhất kể từ khi cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 xảy ra Quan điểm này được xem là quan điểm tĩnh về lạm phát, từ quan điểm này mà người ta đã so sánh về hai mặt sau:

• Khối hàng hoá và dịch vụ có thể bán buôn trên trị trường

• Khối tiền tệ mà người dân có thể sử dụng để mua hàng

Nếu hai mặt này có giá trị ngang nhau tính theo mức giá thì không có xảy ra lạm phát Vì khi có sự chênh lệch giữa hai mặt này nghĩa là có áp lực lạm phát xuất hiện, nếu sự chênh lệch càng cao thì ảnh hưởng của lạm phát càng sâu sắc Tuy quan điểm này giúp hiểu rõ về hiện tượng lạm phá t nhưng không đưa ra nguyên nhân cụ thể gây ra lạm phát Chính vì vậy mà sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 đã xuất hiện một quan điểm mới hơn chỉ ra các rõ hơn về lạm phát

2.1.2.3 Quan điểm thứ ba

Xem xét về việc tăng cung tiề n vào nền kinh tế thị trường cần phân biệt biệt hai giai đoạn:

Giai đoạn một: khi đó nền kinh tế chưa đạt mức toàn dụng Ở giai đoạn này sự

cung tiền không dẫn đến lạm phát , nhưng tới một thời điểm nào đó xuất hiện sự đ ứng

im trong nền kinh tế Khi đó chúng ta bước vào giai đoạn hai, giai đoạn cơ bản của nền kinh tế đã toàn dụng

Giai đoạn hai : ở giai đoạn này nếu chúng ta tiếp tục cung tiền vào nền kinh tế

thị trường Thì lúc đấy nạn lạm phát sẽ ra và dấu hiệu là sự gia tăng giá cả các mặt hàng, giá trị tiền tệ ngày càng mất đi

Trang 6

2.1.3 Một số công thức tính lạm phát

Nếu Pt là mức giá cả trung bình của kỳ hiện tại và Pt-1 là mức giá của kỳ trước, thì tỷ lệ lạm phát của kỳ hiện tại sẽ là:

• Tỷ lệ lạm phát = 100% ×𝑃𝑃𝑡𝑡 −𝑃𝑃𝑡𝑡−1

𝑃𝑃𝑡𝑡−1

Ngoài ra còn có một số công thức khác như:

• Tỷ lệ lạm phát = (log Pt - log Pt-1) x 100%

Hay nếu lấy thời điểm nào đó trước t làm gốc gọi là t 0 Vậy thì tỷ lệ lạm phát của kỳ hiện tại được xác như sau:

• GPt = 100% × (𝑃𝑃𝑡𝑡

𝑃𝑃𝑡𝑡𝑡𝑡 − 1) Nếu: GPt = 0 thì không có lạm phát

GPt> 1 thì có lạm phát

GPt< 1 thì đang giảm phát

Hoặc ta có thể tính theo chỉ số giảm phát GDP, còn gọi là chỉ số điều chỉnh GDP thường được ký hiệu là DGDP (GDP Deflator) là chỉ số tính theo phần trăm phản ánh mức giá chung của tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước Chỉ số điều chỉnh GDP cho biết một đơn vị GDP điển hình của kỳ nghiên cứu có mức giá

bằng bao nhiêu phần trăm so với mức giá của năm cơ sở như sau:

𝐷𝐷𝐷𝐷𝐷𝐷𝑃𝑃 = 100% ×𝐷𝐷𝐷𝐷𝑃𝑃𝐷𝐷𝐷𝐷𝑃𝑃𝑛𝑛

𝑟𝑟

Về phương pháp tính ra tỷ lệ lạm phát, hai phương pháp thường được sử dụng là:

• Căn cứ thời gian để đo sự thay đổi giá cả của giỏ hàng hóa theo thời gian

• Căn cứ thời gian và cơ cấu giỏ hàng hóa Phương pháp này ít phổ biến hơn vì còn phải tính toán sự thay đổi cơ cấu, nội dung giỏ hàng hóa

2.1.4 Các chỉ số để đánh giá lạm phát

Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất về ch ỉ số lạm phát, vì giá trị

của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện Các phép đo

phổ biến của chỉ số lạm phát bao gồm:

2.1.4.1 Ch ỉ số giá sinh hoạt (CLI)

Là sự tăng trên lý thuyết giá cả sinh hoạt của một cá nhân so với thu nhập,

Trang 7

học tranh luận với nhau là có hay không việc một CPI có thể cao hơn hay thấp hơn so

với CLI dự tính Điều này được xem như là sự thiên lệch trong phạm vi CPI CLI có

thể được điều chỉnh bởi sự ngang giá sức mua để phản ánh những khác biệt trong giá

cả của đất đai hay các hàng hóa khác trong khu vực

2.1.4.2 Ch ỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Dùng để đo giá cả các hàng hóa hay được mua bởi người tiêu dùng thông thường một cách có lựa chọn Trong nhiều quốc gia công nghiệp, những sự thay đổi theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này là con số lạm phát thông thường hay được nhắc tới Các phép đo này thường được sử dụng trong việc chuyển trả lương, do

những người lao động mong muốn có khoản chi trả tăng ít nhất là bằng hoặc cao hơn tỷ

lệ tăng của CPI Đôi khi các hợp đồng lao động có tính đến các điều chỉnh giá cả sinh

hoạt như là là khoản chi trả định danh sẽ tự động tăng lên theo sự tăng của CPI, thông thường với một tỷ lệ chậm hơn so với lạm phát thực tế

2.1.4.3 Ch ỉ số giá sản xuất (PPI)

Dùng để đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu Nó khác với CPI là sự trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các nhà sản xuất là không bằng với những gì người tiêu dùng đã thanh toán Ở đây cũng có một sự chậm trễ điển hình giữa sự tăng trong PPI và bất kỳ sự tăng phát sinh nào bởi nó trong CPI Rất nhiều người tin rằng điều này cho phép một dự đoán gần đúng và có khuynh hướng của lạm phát được xem như là CPI ngày mai dựa trên lạm phát PPI ngày hôm nay, mặc dù thành phần của các chỉ số là khác nhau Một trong những sự khác biệt quan trọng phải tính đến là các dịch vụ

2.1.4.4 Ch ỉ số giá bán buôn (Wholesale Price Index)

Nhằm đo sự thay đổi trong giá cả các hàng hóa bán buôn một cách có lựa

chọn Chỉ số này rất giống với PPI

2.1.4.5 Ch ỉ số giá hàng hóa

Dùng để đo sự thay đổi trong giá cả của các hàng hóa một cách có lựa chọn Trong trường hợp bản vị vàng thì hàng hóa duy nhất được sử dụng là vàng

2.1.4.6 Ch ỉ số giảm phát GDP

Dựa trên việc tính toán của tổng sản phẩm quốc nội Nó là tỷ lệ của tổng giá

trị GDP giá thực tế (GDP danh nghĩa) với tổng giá trị GDP của năm gốc, từ đó có thể xác định GDP của năm báo cáo theo giá so sánh hay GDP thực Nó là phép đo mức giá

Trang 8

cả được sử dụng rộng rãi nhất Các phép khử lạm phát cũng tính toán các thành phần

của GDP như chi phí tiêu dùng cá nhân

2.1.4.7 Ch ỉ số giá chi phí tiêu dùng cá nhân (PCEPI)

Trong "Báo cáo chính sách ti ền tệ cho Quốc hội" sáu tháng một lần ("Báo cáo Humphrey-Hawkins")ngày 17 tháng 2 năm 2000, Federal Open Market Committee (FOMC) nói rằng ủy ban này đã thay đổi thước đo cơ bản về lạm phát của mình từ CPI sang "chỉ số giá cả dạng chuỗi của các chi phí tiêu dùng cá nhân"

2.1.5 Các mức độ lạm phát

2.1.5.1 Thiểu phát

Thiểu phát trong kinh tế học là lạm phát ở tỷ lệ rất thấp Đây là một vấn nạn trong quản lý kinh tế vĩ mô Một số tài liệu kinh tế học cho rằng tỷ lệ lạm phát ở mức 3 đến 4 phần trăm một năm trở xuống được gọi là thiểu phát

2.1.5.2 L ạm phát cao (lạm phát phi mã)

Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá trong phạm vi hai hoặc ba chữ số

một năm thường được gọi là lạm phát phi mã, nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát Nhìn chung thì lạm phát phi mã được duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra những biến dạng kinh

tế nghiêm trọng Trong bối cảnh đó, đồng tiền sẽ bị mất giá nhanh, cho nên mọi người chỉ

giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàng ngày Mọi người có xu hướng tích

trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sử dụng vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để

làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn và tích lũy của cải

2.1.5.3 Siêu l ạm phát

Siêu lạm phát là tình tr ạng lạm phát cao, có tác động phá hoại nền kinh tế nghiêm trọng Một tình trạng giá cả tăng nhanh chóng khi tiền tệ mất giá trị Không có định nghĩa chính xác về siêu lạm phát được chấp nhận Có một số điều kiện cơ bản gây

ra siêu lạm phát Thứ nhất, các hiện tượng này chỉ xuất hiện trong các hệ thống sử dụng

tiền pháp định Thứ hai, nhiều cuộc siêu lạm phát có xu hướng xuất hiện trong thời gian sau chiến tranh, nội chiến hoặc cách mạng, do sự căng thẳng về ngân sách chính phủ

2.1.6 Các phản ứng tích cực

Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel, James Tobin nhận định rằng lạm phát vừa

phải sẽ có lợi cho nền kinh tế Ông dùng từ “dầu bôi trơn” để miêu tả tác động tích cực

Trang 9

để mua đầu vào lao động giảm đi Điều này khuyến khích nhà sản xuất đầu tư mở rộng

sản xuất Việc làm được tạo thêm làm cho tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm

Ngoài ra lạm phát tích cực sẽ vừa là nhân tố bôi trơn giúp bộ máy kinh tế hoạt động ở mức tối ưu nhất có thể; vừa có tác dụng tăng cường lòng tin, củng cố sự hưởng ứng tự giác của người tiêu dùng đối với sự phát triển của hệ thống thị trường nội địa, trong đó có thị trường vốn nói riêng

2.1.7 Các phản ứng tiêu cực

2.1.7.1 Đối với lạm phát dự kiến được

Trong trường hợp lạm phát có thể được dự kiến trước thì các thực thể tham gia vào nền kinh tế có thể chủ động ứng phó với nó, tuy vậy nó vẫn gây ra những tổn

thất cho xã hội:

• Chi phí mòn giày: lạm phát giống như một thứ thuế đánh vào người giữ tiền và lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát nên lạm phát làm cho người ta giữ ít tiền hay làm giảm cầu về tiền Khi đó họ cần phải thường xuyên đến ngân hàng để rút tiền hơn Các nhà kinh tế đã dùng thuật ngữ "chi phí mòn giày" để chỉ

những tổn thất phát sinh do sự bất tiện cũng như thời gian tiêu tốn mà người ta phải

hứng chịu nhiều hơn so với không có lạm phát

• Chi phí thực đơn: lạm phát thường sẽ dẫn đến giá cả tăng lên, các doanh nghiệp

sẽ mất thêm chi phí để in ấn, phát hành bảng giá sản phẩm

• Làm thay đổi giá tương đối một cách không mong muốn: trong trường hợp do

lạm phát doanh nghiệp này tăng giá (và đương nhiên phát sinh chi phí thực đơn) còn doanh nghiệp khác lại không tăng giá do không muốn phát sinh chi phí thực đơn thì giá

cả của doanh nghiệp giữ nguyên giá sẽ trở nên rẻ tương đối so với doanh nghiệp tăng giá Do nền kinh tế thị trường phân bổ nguồn lực dựa trên giá tương đối nên lạm phát đã

dẫn đến tình trạng kém hiệu quả xét trên góc độ vi mô

• Lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân trái với ý muốn

của người làm luật do một số luật thuế không tính đến ảnh hưởng của lạm phát Ví dụ: trong trường hợp thu nhập thực tế của cá nhân không thay đổi nhưng thu nhập danh nghĩa tăng do lạm phát thì cá nhân phải nộp thuế thu nhập trên cả phần chênh lệch giữa thu nhập danh nghĩa và thu nhập thực tế

• Lạm phát gây ra sự nhầm lẫn, bất tiện: đồng tiền được sử dụng để làm thước đo trong tính toán các giao dịch kinh tế, khi có lạm phát cái thước này co giãn và vì vậy các cá nhân khó khăn hơn trong việc ra các quyết định của mình

Trang 10

2.1.7.2 Đối với lạm phát không dự kiến được

Đây là loại lạm phát gây ra nhiều tổn thất nhất vì nó phân phối lại của cải

giữa các cá nhân một cách độc đoán Các hợp đồng, cam kết tín dụng thường được lập trên lãi suất danh nghĩa khi lạm phát cao hơn dự kiến người đi vay được hưởng lợi còn người cho vay bị thiệt hại, khi lạm phát thấp hơn dự kiến người cho vay sẽ được lợi còn người đi vay chịu thiệt hại Lạm phát không dự kiến thường ở mức cao hoặc siêu

lạm phát nên tác động của nó rất lớn

Các nhà kinh tế có quan điểm rất khác nhau về quy mô của các tác động tiêu

cực của lạm phát, thậm chí nhiều nhà kinh tế cho rằng tổn thất do lạm phát gây ra là không đáng kể và điều này được coi là đúng khi tỷ lệ lạm phát ổn định và ở mức vừa

phải Khi lạm phát biến động mạnh, tác động xã hội của nó thông qua việc phân phối

lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán rõ ràng là rất lớn và do vậy chính phủ

của tất cả các nước đều tìm cách chống lại loại lạm phát này

2.1.7.3 Ch ỉ số nghèo khổ

Là chỉ số thể hiện mức nghèo của một hộ gia đình, khu vực hay một quốc gia

Chỉ số này được tính dựa vào một chuẩn nghèo khổ nào đó, tùy theo điều kiện của từng khu vực hay quốc gia mà có những chuẩn nghèo khổ khác nhau

2.1.8 Các yếu tố dẫn đến lạm phát

Có 4 nguyên nhân chính sau :

• Cung ứng tiền tệ và lạm phát

• Chi tiêu công ăn việc làm cao và lạm phát

• Thâm hụt ngân sách và lạm phát

• Lạm phát theo tỷ giá hối đoái

Tuy vậy nhưng chúng ta cần phân tích rõ hơn một trongnhững cơ sở nguồn gốc gây nên lạm phát theo các nhân tốdưới đây:

2.1.8.1 L ạm phát do cầu kéo

Nhà kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức toàn

dụng lao động(mức sản lượng tiềm năng ) thì sẽ sinh ra lạm phát Trong khi đó, chủ nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổng cung, con người có nhu cầu về

tiền mặt cao hơn dẫn tới cung tiền phải tăng lên để đáp ứng Do đó xảy ra lạm phát

Trang 11

2.1.8.2 L ạm phát do cầu thay đổi

Được xem như là lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về

một mặt hàng khác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả

có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả là mức giá chung tăng lên gây ra lạm phát

2.1.8.3 L ạm phát do chi phí đẩy

Nếu tiền công danh nghĩa tăng lên, thì chi phí sản xuất của các xí nghiệp tăng Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản

phẩm Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng

Đầu tư kém hiệu quả, khoản đầu tư này rất lớn xuất phát từ hai nguồn quan

trọng là ngân sách Nhà nước và tín d ụng Nếu bị thất thoát lãng phí hoặc công trình không phát huy tác dụng, dẫn đến một lượng tiền tạm thời bị thừa và đây là nguyên nhân quang trọng dẫn đến lạm phát

Thu chi qua hệ thống ngân hàng cho phép ch ủ tài khoản được ghi có tài khoản trước và ghi nợ sau khi xử lý chứng từ thanh toán

Chiết khấu và tái chiết khấu thương phiếu nhận vốn Thực chất đây là một khoản chi không góp phần tăng cung tiền ra thị trường, nhưng không có hàng hóa tương ứng

Sự lãng phí quá mức trong tiêu dùng xã hội Không biết tiết kiệm trong tiêu dùng dẫn đến tiêu dùng vượt quá khả năng kinh tế và kéo cầu vượt quá cung nhiều hàng hóa dịch vụ

2.1.8.4 L ạm phát do cơ cấu

Ngành kinh doanh có hiệu quảsẽ làm tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động Nhưng nếu ngành kinh doanh không đạt hiệu quả, mà bên cạnh đó cũng không

thể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình Vì thế để đảm bảo

mức lợi nhuậnthì ngành kinh doanh kém hiệu quả ấy sẽ phải tăng giá thành sản phẩm

Từ đó nảy sinh ra lạm phát

2.1.8.5 L ạm phát do xuất khẩu

Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến

tổng cung thấp hơn tổng cầu Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng

Trang 12

2.1.8.6 L ạm phát do nhập khẩu

Sản phẩm không tự sản xuất trong nước được mà phải nhập khẩu Khi giá nhập

khẩu tăng thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu lấn áp

2.1.8.7 L ạm phát tiền tệ

Do cung tiền tăng khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát Lạm phát loại này nguyên nhân là do lượng tiền trong nền kinh tế quá nhiều vượt quá mức hấp thụ của nó, nghĩa là vượt quá khả năng cung ứng giá trị

của nền kinh tế́ Có thể do ngân hàng trung ương lưu thông lượng tiền quá lớn trong nền kinh tế bằng các nghiệp vụ thị trường mở hay chính sách nới lỏng tiền tệ Làm cho áp

lực cung bị hạn chế dẫn tới tăng giá trên thị trường và do đó sức ép lạm phát tăng lên

2.1.8.8 L ạm phát đẻ ra lạm phát

Khi nhận thấy có lạm phát cá nhân với dự tính duy lý đó là tâm lý dự trữ, giá tăng lên người dân tự suy nghĩ rằng đồng tiền không ổn định Lúc đó giá cả sẽ tăng cao

tạo nên tâm lý dự trữ và đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại,làm tổng cầu trở nên cao hơn so với tổng cung dẫn đến hàng hóa trở nên khan hiếm và kích thích giá cả tăng lên từ đó gây ra lạm phát

2.2 Tăng trưởng kinh tế

2.2.1 Khái niệm

Hiện nay, trên thế giới tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm

quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc Quy mô và tốc độ

tăng trưởng luôn đi song song trong nội dung khái niệm về tăng trưởng kinh tế

2.2.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế

Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ

tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn

Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần

so sánh

K = Yt – Yo

Trang 13

Y : GNP, GDP

Yt : GDP, GNP tại thời điểm t của kỳ thời gian phân tích

Yo: GDP, GNP tại thời điểm gốc của kỳ thời gian phân tích

Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước

Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị phần trăm (%)

Biểu diễn bằngcông thức:

y = dY/Y × 100(%), trong đó Y là quy mô của nền kinh tế và y là tốc độ tăng trưởng

Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc

độ tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế Thông thường tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa

2.2.3 Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế trước Keynes

Để giải thích nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế các nhà kinh tế học dùng các

mô hình kinh tế như:

 Mô hình David Ricardo (1772-1823) với luận điểm cơ bản là đất đai

sản xuất nông nghiệp là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế Nhưng đất sản xuất lại có

giới hạn do đó người sản xuất phải mở rộng diện tích trên đất xấu hơn để sản xuất, lợi nhuận của chủ đất thu được ngày càng giảm dẫn đến chí phí sản xuất lương thực, thực

phẩm cao, giá bán hàng hóa nong phẩm tăng, tiền lương danh nghĩa tăng và lợi nhuận

của nhà tư bản công nghiệp giảm Mà lợi nhuận là nguồn tích lũy để mở rộng đầu tư

dẫn đến tăng trưởng Như vậy, do giới hạn đất nông nghiệp dẫn đến xu hướng giảm lợi nhuận của cả người sản xuất nông nghiệp và công nghiệp và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Nhưng thực tế mức tăng trưởng ngày càng tăng cho thấy mô hình này không giải thích được nguồn gốc của tăng trưởng

 Mô hình hai khu v ực tăng trưởng kinh tế dựa vào sự tăng trưởng hai

khu vực nông nghiệp và công nhiệp trong đó chú trọng yếu tố chính là lao động, yếu tố tăng năng suất do đầu tư và khoa học kỹ thuật tác động lên hai khu vực kinh tế Tiêu

biểu cho mô hình hai khu vực là mô hình Lewis, Tân cổ điển và Harry T.Oshima

 Mô hình Harrod-Domar nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do lượng vốn được đưa vào sản xuất tăng lên

Trang 14

 Mô hình Robert Solow (1956) với luận điểm cơ bản là việc tăng vốn sản

xuất chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn mà không ảnh hưởng trong dài hạn, tăng trưởng sẽ đạttrạng thái dừng Một nền kinh tế có mức tiết kiệm cao hơn sẽ

có mức sản lượng cao hơn thì không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, nghĩa tốc độ tăng trưởng kinh tế bằng không

 Mô hình Kaldor thì tăng trưởng kinh tế phụ thuộc phát triển kỹ thuật

hoặc trình độ công nghệ

 Mô hình Sung Sang Parkcho rằng nguồn gốc tăng trưởng là tăng cường

vốn đầu tư quốc gia cho đầu tư con người

 Mô hình Tân c ổ điển với nguồn gốc của tăng trưởng tùy thuộc vào cách

thức kết hợp hai yếu tố đầu vào vốn(K) và lao động (L)

Trước Keynes, các học thuyết kinh tế học cổ điển và tân cổ điển vẫn chưa phân biệt rõ ràng về tăng trưởng kinh tế với phát triển kinh tế Hơn nữa các trường phái trên đều không coi trọng vai trò của tiến bộ kỹ thuật đối với tăng trưởng kinh tế, ngoại

trừ nhà kinh tế học Schumpeter

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của kinh tế học vĩ mô tiêu biểu của K eynes

là mô hình Harrod-Domar Mô hình này dựa trên hai giả thiết căn bản là: giá cả cứng

nh ắc và nền kinh tế không nhất thiết ở tình trạng toàn dụng lao động Nguồn gốc tăng

trưởng kinh tế là do lượng vốn đưa vào nền s ản xuất tăng lên Từ đó, họ suy luận ra được rằng một khi nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng cân bằng mà chuyển sang

trạng thái tăng trưởng không cân bằng thì sẽ càng ngày càng không cân bằng

Trong khi đó lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển xây dựng mô hình của mình

dựa trên hai giả thiết căn bản là: giá cả linh hoạt và nền kinh tế ở trạng thái toàn dụng

lao động Mô hình tăng trưởng kinh tế của họ cho thấy rằng: khi nền kinh tế đang ở

trạng thái tăng trưởng cân bằng mà chuyển sang trạng thái tăng trưởng không cân bằng thì đó chỉ là nhất thời và nó sẽ mau chóng trở về trạng thái cân bằng

2.2.4 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Keynes

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Keynes được biết đến trong cuốn sách Lý

thuy ết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ do nhà xuất bản Đại học Glassgow ấn

hành năm 1936 Tác phẩm này là nền tảng cho sự phát triển của cả một ngành kinh tế

học và là công trình được nhắc đến và gây tranh cãi nhiều nhất đối với kinh tế học thế

kỷ XX Công trình này có tính chất phê phán những quan điểm kinh tế trước đó, đặc

biệt là quan điểm cho rằng “bản thân cung sẽ tạo ra cầu của chính nó” Trong cuốn sách này, Keynes đã đưa ra những nhân tố xác định mức sản lượng và việc làm trong một

Trang 15

nhưng nó đã góp phần cung cấp một nền tảng lý thuyết cho các tác động mang tính chính sách của chính phủ trong việc ngăn chặn cuộc “Đại suy thoái” Nhằm để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở hầu hết các quốc gia trong những năm 30 của thế kỷ XIX

Keynes cho rằng nền kinh tế không phải lúc nào cũng đạt đến mức sản lượng

tiềm năng nhờ cơ chế tự điều chỉnh như quan điểm của trường phái cổ điển và tân cổ điển Mà nền kinh tế chỉ có thể đạt tới và duy trì một sự cân đối ở một mức sản lượng nào đó dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người

Khi mô tả nền kinh tế cũng giống như mô hình cổ điển, ông cho rằng có hai đường tổng cung: một là phản ánh mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế;hai là

phản ánh khả năng thực tế Và cân bằng của nền kinh tế không nhất thiết phải ở mức

sản lượng tiềm năng; mà thông thường sản lượng thực tế đạt được ở mức cân bằng nhỏ hơn mức sản lượng tiềm năng, nơi mà dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người Vì thế nền kinh tế có thể đạt cân bằng dưới mức sản lượng tiềm năng (Yo <Y*)

Vai trò c ủa tổng cầu trong việc tăng sản lượng của nền kinh tế

Theo Keynes khi mức thu nhập thấp hơn mức tiêu dùng cần thiết có thể xuất

hiện tình trạng chi tiêu vượt quá thu nhập Nhưng khi mức thu nhập tuyệt đối được nâng lên thì sẽ có khuynh hướng nới rộng sự chênh lệch giữa thu nhập và tiêu dùng Đặc biệt khi người ta đạt đến mức thoả mãn mức sống riêng cá nhân nào đó; thì họ sẽ trích từ phần thu nhập tăng thêm cho tiêu dùng ít hơn, còn cho tiết kiệm nhiều hơn Đây là quy luật tâm lý cơ bản của bất cứ cộng đồng tiên tiến nào Theo J.M.Keynes khi việc làm tăng lên thì tổng thu nhập thực tế tăng lên, do vậy cũng làm tăng tiêu dùng Nhưng bên cạnh đó do quy luật tâm lý nêu trên nên sự gia tăng tiêu dùng nói chung chậm hơn sự gia tăng thu nhập, và khoảng cách đó ngày càng gia tăng theo tốc

độ gia tăng thu nhập Nói cách khác tiết kiệm có khuynh hướng gia tăng nhanh hơn Bên cạnh đó Keynes cũng cho rằng sự giảm sút tương đối của cầu trong tiêu dùng là

xu hướng của mọi xã hội tiên tiến Đây chính là nguyên nhân gây ra tình trạng nền kinh tế trì trệ, suy giảm tăng trưởng kinh tế

Mặt khác khi nghiên cứu tiêu dùng cho đầu tư của các doanh nghiệp, ông cho rằng đầu tư đóng một vai trò quyết định đến quy mô việc làm và theo đó là tăng trưởng kinh tế Mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo sự gia tăngnhu cầu bổ sung công nhân và tư liệu sản xuất Chính những điều đó đã làm tăng cầu tiêu dùng, tăng giá hàng hoá, tăng việc làm cho công nhân Và tất cả điều đó làm cho thu nhập tăng lên, tiếp nối theo việc tăng thu nhập đó lại là tiền đề cho sự gia tăng đầu tư mới Đây là quá trình số nhân đầu tư: tăng đầu tư làm tăng thu nhập; tăng thu nhập làm tăng đầu tư

mới; tăng đầu tư mới làm tăng thu nhập mới và làm nền kinh tế tăng trưởng

Trang 16

Theo Keynes cùng với việc tăng lên của vốn đầu tư, thì hiệu quả giới hạn của

tư bản tương quan giữa thu hoạch tương lai của đầu tư và phí tổn đầu tư sẽ giảm sút

Có hai nguyên nhân làm cho hiệu quả giới hạn của tư bản giảm sút Thứ nhất, đầu tư tăng sẽ làm tăng thêm khối lượng hàng hoá cung ra thị trường Điều đó làm giảm giá hàng hoá và kéo theo làm giảm thu nhập tương lai Thứ hai, tăng cung hàng hoá sẽ làm giá cung của tài sản tư bản tăng lên hay tăng phí tổn thay thế Từ đó, làm cho thu

nhập tương lai giảm xuống

Hơn nữa giữa đầu tư và lãi suất lại có quan hệ với nhau Sự khuyến khích đầu tư tuỳ thuộc một phần vào lãi suất Người ta vẫn sẽ tiếp tục đầu tưcho đến khi

chừng nào hiệu quả giới hạn của tư bản lớn hơn lãi suất thị trường

Như vậy đầu tư mới tăng lên dẫn đến việc làm gia tăng sẽ làm gia tăng thu

nhập và từ đó sẽ làm tăng tiêu dùng Mặc khác do khuynh hướng tiêu dùng bị giới hạn nên tiêu dùng tăng chậm hơn so với tăng thu nhập, còn tiết kiệm lại tăng nhanh hơn Điều này làm cho tiêu dùng giảm tương đối Việc giảm tiêu dùng tương đối sẽ làm

giảm lượng cầu của mỗi cá nhân; từ lượng cầu giảm đó lại ảnh hưởng đến quy mô sản

xuất và đến tăng trưởng kinh tế Để điều chỉnh sự thiếu hụt của cầu tiêu dùng cần phải tăng chi phí đầu tư và tăng tiêu dùng sản xuất Song khối lượng đầu tư lại phụ thuộc vào ý muốn đầu tư cho tới khi nào hiệu quả giới hạn của tư bản giảm xuống bằng mức lãi suất Nhưng trong nền kinh tế hiệu suất tư bản có xu hướng giảm sút, còn lãi suất cho vay có xu hướng ổn định; điều đó tác động đến đầu tư mới và khủng hoảng xuất

hiện dẫn đến nền kinh tế trở nên suy thoái

Chính ph ủ đối với tăng trưởng kinh tế

Theo Keynes, để đảm bảo sự cân bằng kinh tế khắc phục thất nghiệp, khủng

hoảng và duy trì tăng trưởng kinh tế thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự điều

tiết; mà cần phải có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế để tăng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu dùng, sản xuất, kích thích đầu tư để bảo đảm việc làm và tăng thu nhập Theo ông chính phủ có thể can thiệp vào nền kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng thông qua các hoạt động: đầu tư nhà nước; hệ thống tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ; các hình thức khuyến khích tiêu dùng

Về đầu tư nhà nước Keynes cho rằng ngân sách nhà nước là một công cụ hữu

hiệu trong việc kích thích đầu tư tư nhân cũng như tiêu dùng của nhà nước Ông chủ trương thông qua các đơn đặt hàng của nhà nước, hệ thống mua của nhà nước, trợ cấp

về tài chính, tín dụng sẽ tạo ra sự ổn định về lợi nhuận và đầu tư cho tư bản độc quyền

Về hệ thống tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ theo Keynes hệ thống tài chính, tín dụng có vai trò quan trọng trong việc kích thích lòng tin, tính lạc quan và

Trang 17

tích cực đầu tư của các nhà kinh doanh Theo ông Nhà nước có thể đưa thêm tiền vào lưu thông để giảm lãi suất cho vay, khuyến khích nhà kinh doanh mở rộng quy mô đầu

tư Đồng thời để tăng hiệu quả tư bảnnên chủ trương thực hiện chính sá ch “lạm phát

có kiểm soát”,nhằm làm tăng giá cả hàng hoá nhờ đó các nhà kinh doanh thu được lợi nhuận nhiều hơn (trong điều kiện chi phí sản xuất chưa thay đổi) Có thể nói đây là

một trong các động lực trực tiếp của các nhà sản xuất kinh doanh, góp phần vào tăng trưởng kinh tế

Về các hình thức tạo việc làm ông cho rằng để nâng cao tổng cầu và việc làm

cần mở rộng nhiều hình thức đầu tư Bởi lẽ đầu tư vào lĩnh vực nào cũng tốt, khi có đầu tư thì sẽ có nhiều việc làm và mang lại thu nhập Như vậy, thông qua đầu tư có thể tránh được khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp

Về khuyến khích tiêu dùng để mở rộng tiêu dùng Keynes khuyến khích tiêu dùng cá nhân đối với các nhà tư bản, tầng lớp giàu có cũng như đối với người nghèo

Trên cơ sở lý thuyết của J M.Keynes các nhà kinh tế học tiếp tục xây dựng thành trường phái Keynes hay còn gọi là những người Keynes mới Trường phái này bao gồm ba trào lưu Thứ nhất , những người theo trường phái Keynes ủng hộ các nhóm độc quyền xâm lượ c, chạy đua vũ trang , quân phiệt hoá nền kinh tế Thứ hai, những người theo trường phái Keynes tự do bảo vệ lợi ích độc quyền và không ủng hộ chạy đua vũ trang Thứ ba, những người theo trường phái Keynes lại biểu hiện lợi í ch của giai cấp tư sản vừa và nhỏ, chống lại độc quyền

Trường phái sau Keynes nghiên cứu rất nhiều các phạm trù khác nhau như:

đi sâu nghiên cứu về tiêu dùng, phân tích cácgiai đoạn lợi ích, nguyên nhân chu kỳ kinh doanh, chính sách tài chính Nhưng vị trí trung tâm trong lý thuyết của trường phái “sau Keynes” là vấn đề tăng trưởng và phân phối, họ khẳng định nhịp độ tăng trưởng sản xuất phụ thuộc vào việc phân phối thu nhập quốc dân, lượng thu nhập và lượng tiết kiệm; còn tổng lượng tiết kiệm là tổng số tiết kiệm từ lương và lợi nhuận.Những người “sau Keynes” lý giải rằng vì khuynh hướng tiết kiệm giữa những người nhận tiền lương và những người nhận lợi nhuận có sự khác nhau, cho nên sự thay đổi trong phân phối sẽ ảnh hưởng đến tổng lượng tiết kiệm Mặc khác phân phối thu nhập quốc dân lại là hàm số của sự tích luỹ tư bản Mà tích luỹ tư bản xác định tỷ

suất lợi nhuận và phần lợi nhuận có được trong thu nhập quốc dân Vì thế trường phái sau Keynes chủ trương muốn tiếp tục hoàn thiện hơn về cơ chế điều chỉnh nền kinh tế

Tư bản chủ nghĩa Các đại biểu của phái này cho rằng muốn nâng cao nhịp độ tăng trưởng, thì cần phải phân phối lại thu nhập quốc dân theo hướng có lợi ích cho lợi nhuận Bởi lẽ nếu nâng cao tiền lương phù hợp với việc tăng năng suất lao động, sẽ

khắc phục được những khó khăn trong việc tiêu thụ hàng hoá và là sự kích thích quan

trọng đối với tăng trưởng kinh tế

Trang 18

Ngoài ra những người sau Keynes ủng hộ chính sách thu nhập Họ coi đó là phương tiện đấu tranh chống lạm phát Vì phương pháp truyền thống sử dụng chính sáchtài chính, tiền tệ là không có hiệu quả Họ muốn kết hợp chính sách thu nhập với chính sách tăng trưởng kinh tế, và kể cả việc xác định chu kỳ và cơ cấu đầu tư Đa số các nhà kinh tế theo trường phái này ủng hộ sự cần thiết về việc tăng cường điều chỉnh kinh

tế của nhà nước, thực hiện tập trung hoá và xác định các mục tiêu chiến lược lâu dài

2.2.5 Các nhân tố tăng trưởng kinh tế

Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển, những nhà kinh tế học đã phát hiện ra rằng động lực của phát triển kinh tế phải được đi cùng trên bốn nhân tố của tăng trưởng kinh tế là: nguồn nhân

lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ Bốn nhân tố này khác nhau ở mỗi quốc gia

và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau đưa đến kết quả tương ứng như:

 Ngu ồn nhân lực: chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến

thức và kỷ luật của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế

Hầu hết các yếu tố khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay mượn được nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự Các yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy được

tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt

 Ngu ồn tài nguyên thiên nhiên: có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế

là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển Những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ, rừng và nguồn nước

Tư bản: là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ tư bản mà

người lao động được sử dụng những máy móc, thiết bị nhiều hay ít và tạo ra sản lượng cao hay thấp Để có được tư bản, phải thực hiện đầu tư nghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tương lai Điều này đặc biệt quan trọng trong sự phát triển dài hạn, những quốc gia có

tỷ lệ đầu tư tính trên GDP cao thường có được sự tăng trưởng cao và bền vững

 Công ngh ệ: trong suốt lịch sử loài người, tăng trưởng kinh tế rõ ràng

không phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và tư

bản, ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất Công nghệ

sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn

2.2.6 Hạn chế của các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế

Trang 19

Các chỉ tiêu đo lường mức tăng trưởng kinh tế được sử dụng làm thước đo trình độ phát triển nền kinh tế một cách cụ thể, dễ hiểu và nó trở thành mục tiêu phấn đấu của một chính phủ vì đó là tiêu chí đ ể người dân đánh giá hiệu quả điều hành đất nước của một chính phủ

Nhưng tăng trưởng kinh tế không phản ảnh được chính xác phúc lợi của các nhóm dân cư khác nhau trong xã hội, chênh lệch giàu nghèo có thể tăng lên, chênh lệch

giữa nông thôn và thành thị có thể tăng cao và bất bình đẳng xã hội cũng có thể tăng Tăng trưởng có thể cao nhưng chất lượng cuộc sống có thể không tăng, môi trường có

thể bị hủy hoại, tài nguyên bị khai thác quá mức, cạn kiệt, nguồn lực có thể sử dụng không hiệu quả, lãng phí

2.3 M ối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế

Giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát thường có mối quan hệ nhất định Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai mặt của xã hội, là hai vấn đề kinh tế trong nền kinh

tế Giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát có mối quan hệkhế ước lẫn nhau Lạm phát có

thể coi là kẻ thù của tăng trưởng kinh tế nhưng nó lại là hai vấn đề luôn tồn tại song song với nhau Tuy nhiên mức độ gắn kết giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế như thế nào vẫn là vấn đề tranh cãi Một số nghiên cứu theo lối kinh nghiệm cho thấy, lạm phát

có thể tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế khi nó vượt qua một ngưỡng nhất định

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát là phi tuyến tính.Lạm phát chỉ tác động tiêu cực lên tăng trưởng khi đạt ngưỡng nhất định nào đó Ở mức dưới ngưỡng,

lạm không nhất thiết tác động tiêu cực lên tăng trưởng, thậm chí có thể tác động dương như lý thuyết mà Kyenes đã đề cập

Nhà kinh tế học Fisher (1993) là người đầu tiên nhiên cứu vấn đề này với kết

luận, khi lạm phát tăng ở mức độ thấp mối quan hệ này có thể không tồn tại hoặc thậm

chí mang tính đồng biến; và khi lạm phát ở mức cao thì mối quan hệ này trở nên nghịch

biến Một số các nhà nghiên cứu khác sau này như Sarel (1996), Gosh và Phillips(1998), Shan và Senhadji(2001) và một số các nhà nghiên cứu khác đã cố gằng tìm ra đặc điểm đặc biệt về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Bằng các nghiên cứu khác nhau họ đã tìm ra một ngưỡng lạm phát, mà tại ngưỡng đó nếu lạm phát vượt ngưỡng sẽ

có tắc động tiêu cực (tác động ngược chiều) đến tăng trưởng Theo Sarel thì ngưỡng lạm phát là 8%,Shan và Senhadji ngưỡng lạm phát cho các nước đang phát triển là 11 – 12%, các nước công nghiệp khoảng 1 – 3% Còn theo nghiên cứu của tác giả Khan(2005) đã

tập trung nghiên cứu xác định mức lạm phát tối ưu.Kết quả Khan đã tìm ra mức lạm phát

tối ưu đối với các nước vùng Trung Đông và Trung Á là khoảng 3,2% Gần đây là nghiên cứu của nhà kinh tế học Paul Kruman, ông đưa ra những quan niệm mới dựa trên

Trang 20

cơ sở lý luận của Milton Friedman Ông đề nghị rằng lạm phát nên ở mức 3 đến 4% nhằm kích thích sự phát triển của nền kinh tế thị trường – thương mại

Các học thuyết kinh tế vĩ mô đã khẳng định, nếu sản lượng thực tế vượt sản lượng tiềm năng sẽ làm lạm phát gia tăng Nhưng thực tế vào khoảng 2005 – 2006 lạm phát thế giới gia tăng còn có nhiều nguyên nhân khác , ngoài những nguyên nhân như giá dầu mà còn do nền kinh tế nhiều nước phát triển quá nóng

Lạm phát của Việt Nam gia tăng trong mấy năm gần đây phải chăng cũng

chịu ảnh hưởng bởi sự gia tăng sản lượng vuợt mức tiềm năng chăng? Theo đánh giá

của IMF(2006) về các nguyên nhân làm tăng lạm phát ở Việt Nam, bắt đầu từ năm

2005 có dấu hiệu của sự gia tăng sản lượng vượt mức tiềm năng

Sử dụng mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, một số nước đã sử

dụng lạm phát cao để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng đây là giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng kém bền

vững Hay còn có cách gọi khác đó là giải pháp trong giai đoạn tăng trưởng bong bóng

Xu hướng các nước phát triển chọn giải pháp tăng trưởng kinh tế thực chất, đó

là dựa trên cơ sở giá cả ổn định ở mức thấp Căn cứ biện luận cho giải pháp này là: Trong nền kinh tế thị trường, lạm phát ổn định thì tình dự báo được nâng cao Điều đó giúp các nhà đầu tư có thể xây dựng được các phương án đầu tư hiệu quả Đối với người tiêu dùng thì chi tiêu yên tâm, họ không phải lo cân nhắc các mặt hàng khác để thay thế

do giá tăng Tất cả điều đó đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thưc chất Hiện nay các nước phát triển chọn mức lạm phát gần 2% là mức tối ưu cho tăng trưởng Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng, lạm phát ổn định chỉ là điều kiện đủ cho tăng trưởng kinh tế; còn điều kiện cần cho tăng trưởng phải là vấn đề của Chính phủ trong việc phát triển nguồn

lực, vốn và công nghệ kỹ thuật

Trong thực tế không một quốc gia nào dù phát triển đến đâu cũng không tránh khỏi lạm phát Bất cứ một nền kinh tế của quốc gia nào đều cũng đã trải qua các

cuộc khủnh hoảng kinh tế và tỷ lệ lạm phát tăng với những quy mô khác nhau Tỷ lệ

lạm phát tăng cao sẽ đẩy giá cả hàng hoá chung tăng lên mà tiền lương danh nghĩa của các công nhân không tăng do đó tiền lương thực tế của họ sẽ giảm đi Để tồn tại các công nhân sẽtổ chức đấu tranh, bãi công đòi tăng lương và cho sản xuất trì trệ, đình đốn khiến cho nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm.Khi nền kinh tế găp khó khăn, suy thoái sẽ làm thâm hụt ngân sách và đó là điều kiện, nguyên nhân gây ra lạm phát

Trang 21

Khi lạm phát tăng cao gây ra hiện tượng siêu lạm phát làm cho đồng nội tệ mất giá rất nhanh, theo duy lý khi đó người dân sẽ chủ trương bán nội tệ để mua ngoại

tệ nhiều hơn Tệ nạn tham nhũng cũng tăng cao, nạn buôn lậu phát triển mạnh, tình

trạng đầu cơ trái phép tăng nhanh, trốn thuế và thuế không thu được gây ra tình trạng thất thoát nguồn thu của nhà nước

2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm

2.4.1 Các nghiên cứu thế giới

Lạm phát đã được nghiên cứu rất sâu trong các nghiên cứu lý thuyết cũng như thực nghiệm cho từng nước cụ thể Chúng ta không thể bắt đầu thảo luận về các nhân tố quyết định lạm phát mà không nói đến các ý tưởng và các mô hình kinh điển được xây dựng bởi các nhà kinh tế nổi tiếng Lý thuyết về lạm phát hiện nay chủ yếu

dựa trên mô hình đường Phillips do Phillips (1958) và Lipsey (1950) phát triển dựa trên giả định rẳng giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát có một mối quan hệ ổn định

và tỷ lệ nghịch Từ những năm 1950 đến nay, mô hình đường Phillips đã được bổ sung

sửa đổi liên tục bởi hàng loạt các nhà kinh tế nổi tiếng như Friedman (1960), Phelps (1967), Sargent (1971), Lucas (1972), Fischer (1977), Taylor (1979) Calvos (1983), Gali và Gertler (1999), Woodford (2003) và Christiano, Eichenbaum và Evans (2005)

Trái ngược với quan điểm của trường phái Keynes rằng nền kinh tế thực rất không ổn định và việc quản lý cung tiền hầu như không có tác động đến nền kinh tế

thực, trường phái tiền tệ (sáng lập bởi Milton Freidman) cho rằng nền kinh tế thực là khá

ổn định nhưng có thể bị bất ổn do những biến động trong cung tiền và vì vậy chính sách

tiền tệ có ý nghĩa quan trọng Sự gia tăng không tính toán trước của cung tiền có thể do

việc in tiền quá mức nhằm tài trợ ngân sách hoặc cho khu vực tư nhân vay quá mức Vì

vậy, mô hình về các tác nhân của lạm phát do một nhà kinh tế học tiền tệ xây dựng thường phụ thuộc vào tốc độ tăng cung tiền, tốc độ tăng thu nhập và chi phí cơ hội của

việc giữ tiền Lãi suất và lạm phát trong quá khứ là những biến đã được sử dụng để đo lường chi phí cơ hội của việc giữ tiền

Tuy nhiên, cách tiếp cận của các nhà kinh tế học tiền tệ đến lạm phát xuất phát

từ các nước phát triển nơi hệ thống tài chính đã hoàn thiện và tồn tại rất ít các bế tắc về

cơ cấu như ở các nước đang phát triển Cách tiếp cận cơ cấu đến các nhân tố quyết định

lạm phát coi các yếu tố cứng nhắc là nguyên nhân gây áp lực lạm phát Những áp lực

lạm phát như vậy ở các nước đang phát triển có thể do các chính sách không phù hợp của Chính phủ, chênh lệch về năng suất lao động ở các khu vực của nền kinh tế, việc tăng lương, cung lương thực thực phẩm ít co giãn, các hạn chế về ngoại hối cũng như những

hạn chế về ngân sách Những yếu tố cứng nhắc này dẫn đến việc giá cả và lạm phát tăng lên (Akinboade et.al 2004) Các nhà kinh tế học cơ cấu cũng đề cao các cú sốc thực đối

Trang 22

với nền kinh tế, như sự gia tăng của giá hàng hóa nhập khẩu hay sự tăng lên đột ngột của thâm hụt ngân sách là những nguyên nhân gây lạm phát Họ gọi chúng là các nhân tố chi phí đẩy tác động đến lạm phát vì về cơ bản những nhân tố này làm tăng chi phí sản xuất,

và gây áp lực tăng giá trong một bộ phận nhất định của nền kinh tế Thông thường thì

những nhân tố như vậy sẽ làm tăng cung tiền và do đó lạm phát xuất phát từ một khu vực

của nền kinh tế sẽ lan tỏa ra toàn bộ nền kinh tế (Greene, 1989)

Bên cạnh hai cách tiếp cận của các nhà kinh tế học tiền tệ và kinh tế học cơ

cấu.Các nghiên cứu trong quá khứ về lạm phát còn đưa ra một cách tiếp cận thứ ba và có lẽ đơn giản nhất trong việc nghiên cứu các nhân tố quyết định lạm phát, đó là cách tiếp cận ngang bằng sức mua Cách tiếp cận này xuất phát từ “Quy luật một giá” với nội dung là khi không tính đến chi phí vận chuyển và các chi phí giao dịch khác, mối quan hệ giữa giá thế giới và giá trong nước sẽ là 𝑷𝑷 = 𝑬𝑬𝑷𝑷𝑾𝑾trong đó E là tỷ giá giữa đồng ngoại tệ và đồng nội tệ

Cách tiếp cận này gợi ý rằng lạm phát chịu ảnh hưởng hoặc gián tiếp từ giá

nhập khẩu cao hơn hoặc trực tiếp từ sự gia tăng của cầu trong nước Phương trình này

ngụ ý rằng tỷ giá đóng vai trò nhất định trong việc quyết định mức giá, và mức chuyển

tỷ giá vào lạm phát cần phải được xem xét Sự phá giá đồng nội tệ có thể trực tiếp tác động lên giá trong nước của hàng hóa thương mại, nhưng cũng có thể gián tiếp tác động vào mức giá chung nếu các quyết định về giá chịu ảnh hưởng của chi phí nhập

khẩu Điều này đặc biệt đúng đối với những nước dựa vào việc nhập khẩu hàng hóa trung gian phục vụ sản xuất hoặc có hiện tượng bị đô la hóa cao như Việt Nam

Một nghiên cứu điển hình gần đây về các nhân tố quyết định lạm phát trong

một nền kinh tế nhỏ và mở thường sử dụng cả ba cách tiếp cận Ví dụ như Chhibber (1991), đã xây dựng mô hình lạm phát là trung bình gia quyền của lạm phát của hàng hóa thương mại; lạm phát của hàng hóa phi thương mại và lạm phát của các hàng hóa

bị kiểm soát và áp dụng nó cho một loạt các nước Châu Phi Lạm phát hàng hóa thương mại được mô phỏng theo cách tiếp cận ngang giá sứa mua Lạm phát hàng hóa phi thương mại được mô phỏng dựa trên các nhân tố chi phí đẩy và cầu kéo của lạm phát Ngoài ra còn phải kể đến hàng loạt các nghiên cứu thực nghiệm khác như Lim và Papi (1997) về lạm phát Thổ Nhĩ Kỳ, Laryea và Sumaila (2001) về lạm phát ở Tanzania, Akinboade và các đồng tác giả (2004) về mối quan hệ giữa lạm phát ở Nam Phi với thị trường tiền tệ và thị trường lao động và thị trường ngoại hối, Lehayda (2005) về lạm phát ở Ukraine hay Jongwanich và Park (2008) về các nhân tố quyết định lạm phát ở 9 nước đang phát triển ở Châu Á (trong đó có Việt Nam) Các nghiên

cứu này chỉ ra rằng các nhân tố quyết định lạm phát ở các nước đang phát triển bao

gồm cung tiền, tỷ giá, các nhân tố chi phí đẩy và mang tính cơ cấu như việc định giá theo độc quyền nhóm và áp lực đối với chi phí của việc tăng lương

Trang 23

Dựa theo những lý thuyết đã có về lạm phát, các nghiên cứu, các nghiên cứu

về lạm phát ở Việt Nam cũng kết hợp nhiều nhân tố từ cả phía chi phí đẩy và phía cầu kéo của lạm phát nhằm giải thích những biến động của lạm phát Tuy nhiên, do thiếu

số liệu hoặc do chủ ý của các tác giả, phần lớn các nghiên cứu đều bỏ qua các nhân tố thuộc phía cung và tập chung chủ yếu vào các nhân tố thuộc phía cầu Nhân tố cung duy nhất được xem xét là các cú sốc từ quốc tế (giá của dầu và trong một vài trường

hợp giá của gạo) Những nghiên cứu gần đây về lạm phát ở Việt Nam xoay quanh các nhân tố: CPI, cung tiền, lãi suất, tỷ giá, sản lượng, giá dầu và giá gạo thế giới Ví dụ cho những nghiên cứu định lượng về lạm phát ở Việt Nam bao gồm Võ Trí Thành và đồng tác giả (2001), IMF (2003), Trương Văn Phước và Chu Hoàng Long (2005), IMF (2006), Camen (2006), Goujon (2006), Nguyễn Thị Thùy Vinh và Fujita (2007), Nguyễn Việt Hùng và Pfau (2008), Phạm Thế Anh (2008), Võ Văn Minh (2009) và

• Hầu hết các nghiên cứu (ngoại trừ Phạm Thế Anh (2009) với số liệu cập nhật đến cuối năm 2008) đều lạc hậu về số liệu và do đó không tính đến những lần lạm phát gia tăng gần đây cũng như cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2007 vừa qua đã dẫn đến

một loạt những thay đổi trong môi trường và chính sách vĩ mô

• Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về vai trò của tiền tệ là trái ngược nhau có

thể là do các giai đoạn nghiên cứu khác nhau, tần suất của số liệu khác nhau và phương pháp ước lượng khác nhau

• Mặt khác, các nghiên cứu đều khá đồng nhất về vai trò quan trọng của lạm phát trong quá khứ đối với lạm phát hiện tại và vai trò rất nhỏ của tỷ giá và giá cả quốc tế

Chương 3: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ

3.1 Sơ lược tình hình kinh tế sau thời kỳ đổi mới 1986

3.1.1 Quá trình đổi mới

Sau thời kỳ đổi mới năm 1986 bộ máy nhà nước Việt Nam đã nhấn mạnh hơn đến sự đổi mới toàn diện về mặt kinh tế Nhưng thực tế vẫn không khác lắm so với tư

Trang 24

duy đổi mới trước đó, và cụm từ “kinh tế thị trường” vẫn còn là điều xa lạ Mặc dù đã

nhận thức ra được ảnh hưởng làm trì trệ kinh tế là do hệ thống giá cả không hợp lý (giá

cả thị trường cao gấp 5-10 lần giá nhà nước), hoặc của chế độ phân bổ chỉ tiêu định lượng trong sản xuất và trong giao nộp sản phẩm, cũng như của chính sách không khuyến khích kinh tế tư nhân Nhưng các nhà lãnh đạo Việt Nam lúc đó vẫn cho rằng nhà nước có vai trò quyết định trong việc định giá và hoạch định kinh tế bằng chỉ tiêu Chính sách giá lương tiền trước (1986) và sau đại hội Đảng lần VI (1987) là nhằm vào

việc nâng giá, nâng lương trong khu vực quốc doanh và tăng khối lượng tiền tệ, từ đó

cố giữ giá và lương ở mức mới mà họ cho là hợp lý này Chính sách tăng tín dụng, tăng

khối lượng tiền tệ để đáp ứng việc tăng giá, tăng lương đã tạo nên tình trạng lạm phát phi mã chưa từng thấy ở Việt Nam kéo dài trong ba năm 1986-1988 (lạm phát từ 300-

500 % một năm), kinh tế đình đốn thêm, đồng lương của công nhân viên nhà nước mất

sức mua một cách thê thảm, một số người trong bộ máy nhà nước làm giàu nhanh chóng, đặc biệt là qua việc tiếp tay với tư nhân đã được phép kinh doanh Tình hình trên gây thêm sức đẩy cho phong trào đòi đổi mới toàn diện

Đến khoảng cuối năm 1988 thì một số nhà lãnh đạo Việt Nam đã thấy rằng không thể không dùng thị trường để điều hành nền kinh tế Nhận thức này đưa đến quyết định chấp nhận giá cả tự do trên thị trường hàng hoá, dịch vụ, ngoại tệ; và quyết định xác lập tính tự chủ trong kinh doanh, xoá bỏ hoạch định kinh tế theo kiểu chỉ tiêu định lượng và giao nộp sản phẩm Sự thay đổi này đưa đến những chính sách cụ thể như: ấn định lãi suất tiền gửi cao hơn tốc độ lạm phát, nhằm thu hút tiền gửi tiết kiệm

của dân; xoá bỏ cung ứng vốn theo kế hoạch cho các xí nghiệp và buộc xí nghiệp phải vay vốn hoạt động; việc khoán trọn mảnh đất cho hộ nông dân và để họ tự do mua vật

tư sản xuất và bán sản phẩm ra thị trường Trên cơ sở đó nhà nước muốn lạm tiêu thì

phải vay mượn của dân thay vì phát hành tiền Chỉ một thời gian ngắn giá cả được ổn định hơn,qua đó thấy được bước nhảy quan trọng này

Tổng quan từ sau năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện đường lối đổi mới

với ba trụ cột: chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang vận hành theo cơ

chế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong đó khu vực dân doanh đóng vai trò ngày càng quan trọng, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới một cách hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam Sau hơn hai mươi năm

kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, công cuộc đổi mới của Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, nền kinh tế Việt Nam luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao liên tục trong nhiều năm Việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu, rộng hơn vào kinh tế thế giới và

cơ hội tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 25

Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 là văn bản luật đầu tiên góp phần tạo ra khung pháp lý cho việc hình thành nền kinh tế thị trường tại Việt Nam Năm 1991 Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty ra đời Hiến pháp sửa đổi năm 1992 đã khẳng định đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường và khu vực đầu tư nước ngoài Tiếp theo đó là hàng loạt các đạo luật quan trọng của nền kinh tế thị trường đã được hình thành tại Việt Nam như:luật đất đai, luật thuế, luật phá sản, luật môi trường, luật lao động và hàng trăm các văn bản pháp lệnh, nghị định của chính phủ đã được ban hành nhằm cụ thể hóa việc

thực hiện luật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

Cùng với việc xây dựng các bộ luật, các thể chế thị trường ở Việt Nam cũng

từng bước được hình thành Chính phủ đã chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp,

nhấn mạnh quan hệ hàng hóa - tiền tệ, tập trung vào các biện pháp quản lý kinh tế, thành lập hàng loạt các tổ chức tài chính, ngân hàng, hình thành các thị trường cơ bản như thị trường tiền tệ, thị trường lao động, thị trường hàng hóa, thị trường đất đai…

Cải cách hành chính được thúc đẩy nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế, tạo môi trường thuận lợi và đầy đủ hơn cho hoạt động kinh doanh, phát huy mọi nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế Chiến lược cải cách hành chính giai đoạn 2001–2010 là một quyết tâm của Chính phủ Việt Nam, trong đó nhấn mạnh việc sửa đổi các thủ tục hành chính, luật pháp, cơ chế quản lý kinh tếđể tạo ra một thể chế năng động đáp ứng nhu

cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Nhìn chung, những cải cách kinh tế mạnh mẽ trong hơn hai thập kỷ đổi mới

vừa qua đã mang lại cho Việt Nam những thành quả bước đầu rất đáng phấn khởi Việt Nam đã tạo ra được một môi trường kinh tế thị trường có tính cạnh tranh và năng động

Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được khuyến khích phát triển, tạo nên tính hiệu

quả trong việc huy động các nguồn lực xã hội phục vụ cho tăng trưởng kinh tế Các quan hệ kinh tế đối ngoại đã trở nên thông thoáng hơn, thu hút được ngày càng nhiều các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu

và phát triển thêm một số lĩnh vực hoạt động tạo ra nguồn thu ngoại tệ ngày càng lớn như du lịch, xuất khẩu lao động, kiều hối

Trong hơn 20 năm đổi mới, GDP của Việt Nam đã tăng liên tục Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990), GDP chỉ tăng trưởng bình quân 3,9%/năm, thì trong 5 năm tiếp theo (1991-1995) đã nâng lên đạt mức tăng bình quân 8,2% Trong giai đoạn 1996 – 2000 tốc độ tăng GDP của Việt Nam là 7,5% thấp hơn nửa đầu thập niên 1990 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á Từ năm 2001 đến nay, tốc độ tăng GDP của Việt Nam luôn giữ ở mức cao và ổn định trong bối cảnh

Trang 26

khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu, Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng kinh tế khoảng 6,2%

Cùng với việc duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cơ cấu kinh tế trong nước của

Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể Từ năm 1990 đến 2007 tỷ trọng của khu vực nông– lâm nghiệp thủy sản đã giảm từ 38,7% xuống dưới 20% GDP, nhường chỗ cho

sự tăng lên về tỷ trọng của khu vực công nghiệp và xây dựng từ 22,7% lên 41,7%, còn khu vực dịch vụ được duy trì ở mức gần như không thay đổi: 38,6% năm 1990 và 38,3% năm 2007 Trong từng nhóm ngành, cơ cấu cũng có sự thay đổi tích cực Trong

cơ cấu công nghiệp, tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến tăng, chất lượng sản

phẩm ngày càng được nâng cao Cơ cấu của khu vực dịch vụ thay đổi theo hướng tăng nhanh tỷ trọng của các ngành dịch vụ có chất lượng cao như tài chính, ngân hàng, bảo

hiểm, du lịch…

Luật doanh nghiệp được sửa đổi năm 2000 đã tạo điều kiện cho sự phát triển

của các doanh nghiệp tư nhân Bộ luật này đã thể chế hóa quyền tự do kinh doanh của các cá nhân trong tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm, dỡ bỏ những rào cản

về hành chính đang làm trở ngại đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp như

cấp giấy phép, thủ tục, các loại phí… Từ 1/7/2006 Luật Doanh nghiệp 2005 áp dụng chung cho cả doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài đã có hiệu lực, hứa hẹn sự

lớn mạnh của các doanh nghiệp bởi sự bình đẳng trong quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu

Trong khu vực doanh nghiệp nhà nướcthì những chính sách và biện pháp được điều chỉnh, sắp xếp lại các doanh nghiệp, đặc biệt là những biện pháp về quản lý tài chính của công ty nhà nước, quản lý các nguồn vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp hay việc chuyển các công ty nhà nước thành công ty cổ phần theo tinh thần cải cách mạnh mẽ hơn nữa các doanh nghiệp nhà nước, ngày càng được coi trọng nhằm nâng cao tính hiệu quả cho khu vực kinh tế quốc doanh Tính đến 30/6/2008, đã có 3.786 doanh nghiệp Nhà nước được cổ phẩn hóa

Việt Nam đã sử dụng một cách hiệu quả các thành tựu kinh tế vào mục tiêu phát triển xã hội như phân chia một cách tương đối đồng đều các lợi ích của đổi mới cho đại đa

số dân chúng; gắn kết tăng trưởng kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển y

tế, giáo dục; nâng chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam từ vị trí thứ 120/174 nước năm 1994, lên vị trí thứ 109/177 nước trên thế giới năm 2007.Tăng tuổi thọ trung bình của người dân từ 50 tuổi trong những năm 1960 lên đến 73 tuổi năm 2008, giảm tỷ lệ

số hộ đói nghèo từ trên 70% đầu những năm 1980 xuống còn 14,75% năm 2007 (tương đương 2,7 triệu hộ nghèo), ước tính còn khoảng trên 13% vào cuối năm 2008

Ngoại thương và hội nhập kinh tế quốc tế với chủ trương tích cực, chủ động

hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc

Trang 27

tế ngày càng được mở rộng Việt Nam là thành viên quan trọng trong ASEAN và tích

cực thực hiện các cam kết khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), là thành viên tích

cực của APEC, ASEM và nhiều tổ chức kinh tế quốc tế khác Hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nền kinh tế lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ ngày càng được củng cố và mở rộng Việt Nam đã k ‎‎ý hiệp định thương mại song phương

với Mỹ, đang đàm phán hiệp định đầu tư với Mỹ, hiệp định khung Đối tác và Hợp tác toàn diện (PCA) với EU, hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản Tháng 01 năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), có quan hệ với trên 220 quốc gia và vùng lãnh thổ, đánh dấu sự hội nhập toàn diện và đầy

đủ của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu

Từ sau đổi mới kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam mỗi năm tăng khoảng 20%, nhờ đó đã đưa tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam từ mức khoảng 0,5 tỷ USD/năm trong những năm trước đổi mới lên 48,4 tỷ USD năm 2007 và 62,7 tỷ USD năm 2008 Kim ngạch nhập khẩu năm 2008 của Việt Nam là 80,4 tỉ USD Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có sự chuyển dịch tiến bộ Trong giai đoạn 1991-1995, hàng xuất khẩu

chủ lực của Việt Nam gồm dầu thô, thủy sản, gạo, dệt may, cà phê, lâm sản, cao su,

lạc, hạt điều Đến năm 2008 các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, sản phẩm gỗ, điện tử, máy tính và gạo Cơ cấu này phản ánh xu hướng gia tăng các chủng loại mặt hàng chế biến, chế tạo, và sự giảm đi về tỷ trọng của các

mặt hàng xuất khẩu thô, chủ yếu là các mặt hàng nông, lâm, hải sản và khoáng sản Dù

vậy, các mặt hàng xuất khẩu thô của Việt Nam đến nay vẫn còn chiếm tỷ trọng cao, đòi

hỏi sự nỗ lực hơn nữa để tăng nhanh các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành tháng 12/1987 đã tạo khuôn khổ pháp lý cơ bản cho các hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp tại Việt Nam

Luật đã có một số lần được sửa đổi, bổ sung, nổi bật là các lần sửa đổi vào những năm

1996 và năm 2002 nhằm tạo môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn hơn để khuyến khích các nhà đầu tư nuớc ngoài đầu tư vào những mục tiêu trọng điểm và những lĩnh

vực ưu tiên, nhất là trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hướng vào xuất khẩu và các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước

Cùng với Luật Doanh nghiệp việc ban hành Luật Đầu tư 2005 đã tạo bước

tiến dài trong việc điều chỉnh, cải tiến môi trường đầu tư của Việt Nam để tạo thêm hấp

dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Ngoài ra, việc đẩy mạnh tháo gỡ những khó khăn vướng mắc cho các nhà đầu tư nước ngoài, chỉnh sửa thuế thu nhập cá nhân theo hướng hạ thấp mức thuế, đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế một cửa, giảm giá dịch vụ

viễn thông xuống ngang bằng mức giá tại các nước trong khu vực, nâng cấp cơ sở hạ

tầng, mở rộng lĩnh vực đầu tư, cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được đầu tư vào

một số lĩnh vực trước đây chưa cho phép như viễn thông, bảo hiểm, kinh doanh siêu

Trang 28

thị, ngân hàng… cũng góp phần tạo nên một môi trường đầu tư hấp dẫn hơn ở Việt Nam

Nguồn FDI vào Việt Nam tăng nhanh còn do các nguyên nhân quan trọng khác như: sự ổn định về chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng; nền kinh tế Việt Nam liên tục đạt mức tăng trưởng cao; công cuộc đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh; mức sống của người dân được nâng cao góp

phần làm tăng mức cầu nội địa; tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh, uy tín và thương hiệu của các loại hàng hóa sản xuất tại Việt Nam trên các thị trường thế

giới ngày càng được nâng cao

Trong những năm gần đây Việt Nam đã thu hút được một lượng đầu tư trực

tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng lớn Từ ở mức gần như con số không vào năm 1986,

vốn đăng ký FDI đã tăng lên 64 tỷ USD năm 2008 Việt Nam hiện có 10.700 dự án đầu

tư trực tiếp của 90 quốc gia và vùng lãnh thổ đang hoạt động với tổng số vốn đầu tư

gần 170 tỉ USD FDI tăng không chỉ hứa hẹn mang lại lợi nhuận cao cho các nhà đầu

tư nước ngoài, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn, chuyển giao công nghệ và phương thức kinh doanh hiện đại, khai thác các tiềm năng của đất nước, đào tạo tay nghề và giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động, góp phần phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam

3.2 Tổng quan nền kinh tế vĩ mô trong 2003 – 2012 vừa qua

3.2.1 Tăng trưởng kinh tế

3.2.1.1 Tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2003 – 2012

Hình 1 Biểu đồ GDP Việt Nam 2003 – 2012 (tỉ USD)

Trang 29

Hình 2 Biểu đồ tốc độ tăng trưởng GDP 2003 – 2012 (%)

Nguồn: World Bank

Trong hơn nữa thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, Việt Nam chứng kiến một giai đoạn tăng trưởng kinh tế có tốc độ chững lại so với thập niên trước đó Vào cuối

thập niên 1990, đà tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chậm lại vì những dấu hiệu do dự trong tiến trình cải cách kinh tế xuất hiện từ năm 1996 và những ảnh hưởng lan truyền tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 Hậu quả của tình trạng này là

nền kinh tế trải qua một giai đoạn suy giảm tốc độ tăng trưởng đi liền với hiện tượng

giảm phát trong những năm 1999-2001

Trước tình hình đó, một kế hoạch kích thích kinh tế thông qua nới lỏng tín

dụng và mở rộng đầu tư nhà nước bắt đầu được thực hiện từ năm 2000 Việc duy trì chính sách kích thích tương đối liên tục trong những năm sau đó, một mặt giúp nền

Trang 30

kinh tế lấy lại phần nào đà tăng trưởng, nhưng mặt khác đã tích tụ những mầm mống gây ra lạm phát cao bắt đầu bộc lộ từ giữa năm 2007 Thêm vào đó, việc gia nhập Tổ

chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 11/2006 mở ra một thời kỳ hội nhập sâu

rộng chưa từng có, khiến mức độ giao lưu thương mại và đầu tư quốc tế tăng vọt, làm dòng vốn vào (cả đầu tư trực tiếp lẫn gián tiếp) tăng mạnh Nhu cầu ổn định đồng tiền

Việt đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước phải trung hòa một lượng ngoại tệ rất lớn, góp phần

thổi bùng lạm phát trong năm 2008 Nhìn chung, việc kiểm soát vĩ mô trong giai đoạn này tỏ ra lúng túng Cộng với những tác động to lớn của cuộc khủng hoảng kinh tế thế

giới trong hai năm 2008 và 2009, nền kinh tế phải hứng chịu thời kỳ tăng trưởng kinh

tế ở mức thấp đi liền với lạm phát cao

Theo biểu đồ trong suốt10 năm qua từ 2003 đến 2012 GDP của nước ta nhìn chung tăng trưởng tương đối ổn định thể hiện ở biểu đồ GDP Việt Nam theo USD tăng dần theo từng năm Nhưng thực chất khi so sánh với biểu đồ tốc độ tăng trưởng thì v ẫn còn ở mức thấp đặc biệt trong những năm gần đây GDP của nước ta có s ự suy giảm,

giải thích vấn đề này một phần là do ảnh hưởng còn tồn tại sau s ự khủng hoảng kinh tế

thế giới vừa qua

Theo báo cáo của bộ Kế hoạch và đầu tư mới đây cũng cho rằng, tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người Việt Nam còn thấp và có xu hướng chững lại từ năm

2005 Tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại và thiếu bền vững Đáng chú ý là tăng trưởng nhanh lại đi đôi với tăng ô nhiễm môi trường và những ngành gây ô nhiễm nhất

lại là những ngành đóng góp nhiều vào việc tạo công ăn việc làm và tăng trưởng ở các trung tâm công nghiệp nơi mà là đ ầu tàu tăng trưởng của cả nước.Đánh giá kỹ hơn về

chất lượng tăng trưởng, bộ Kế hoạch và đầu tư cho rằng tăng trưởng kinh tế của nước

ta trong những năm qua có năm hạn chế cơ bản

Th ứ nhất là về mô hình tăng trưởng Tăng trưởng của nước ta chủ yếu dựa

vào khai thác tài nguyên nhưng chưa tạo được lợi thế cạnh tranh Động lực của tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là các ngành gia công, chế biến có chi phí trung gian cao, lệ thuộc vào nhập khẩu, dễ gây ô nhiễm môi trường và tiêu tốn ngoại tệ Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành, vùng kinh tế ngày càng dựa vào vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài nhưng nguồn vốn này phân bổ không đồng đều, chất lượng chưa cao và cũng chưa đóng góp được nhiều vào việc nâng cao chất lượng tăng trưởng

Cho dù nền kinh tế nước ta đạt mức tăng trưởng khá cao trung bình khoảng 7,01% từ năm 2003 đến năm 2012 Nhưng bên cạnh đó ngày càng có nhi ều chuyên gia kinh tế đề nghị nên xem lại chất lượng và mô hình tăng trưởng

Các khu công nghiệp, khu kinh tế tuy được coi là điểm tựa cho tăng trưởng nhưng những năm gần đây cùng với sự bùng phát về số lượng khu công nghiệp, rất

Trang 31

nhiều vấn đề xã hội nảy sinh: nông dân mất đất, ô nhiễm môi trường, tình trạng đình công, thiếu nhà ở cho công nhân… Tăng trưởng dựa vào xuất khẩu nhưng cơ cấu xuất

khẩu chậm thay đổi, chủ yếu là xuất hàng thô, sơ chế, năng lực cạnh tranh kém Đáng chú ý, tuy khu vực kinh tế nhà nước được xác định là chủ đạo nhưng ngày càng bộc lộ

những bất cập trong sử dụng, phân bổ nguồn lực hiệu quả và chậm cải thiện năng suất lao động

Th ứ hai là hiệu quả, chất lượng đầu tư thấp: hệ số ICOR ngày càng cao, nền

kinh tế ngày càng cần nhiều vốn hơn để tăng trưởng trong khi cơ cấu đầu tư mất cân đối, đầu tư cho con người và công nghệ còn thấp

Th ứ ba là những nền tảng cơ bản của tăng trưởng (giáo dục và y tế cơ bản, cơ

sở hạ tầng, sự ổn định kinh tế vĩ mô, thể chế kinh tế xã hội), năng lực và hiệu quả cạnh tranh chậm cải thiện

Th ứ tư là những yếu tố đóng góp vào việc tăng chất lượng tăng trưởng, nâng

cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thiếu và yếu Những yếu tố đó bao gồm:

chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả các thị trường sản xuất (lao động, đất đai, công nghệ), năng lực sáng tạo, đổi mới công nghệ

Cuối cùng là hiệu quả quản lý nhà nước thấp và chậm được cải thiện: văn bản quy phạm pháp luật ban hành rất nhiều nhưng còn có những quyết định sai, không phù

hợp với thực tiễn; cách thức xây dựng chính sách còn thiếu khoa học, thiếu chuyên nghiệp, cắt khúc, có biểu hiện lợi ích cục bộ Bộ máy hành chính các cấp cồng kềnh, năng lực yếu, làm ảnh hưởng đến chất lượng chính sách và tổ chức thực hiện

Hình 3 So sánh GDP – PPP gi ữa Việt Nam và các nước công nghiệp mới qua các năm

1980-2014

Trang 32

Nguồn: IMF, ADB

Liệu rằng tăng trưởng năm 2013 có thể sẽ là 5,68% không?

Theo dự báo những tác động của kinh tế thế giới đến nền kinh tế Việt Nam năm 2013 Các nhà chức trách cho bi ếtvề mặt tích cực các nền kinh tế châu Âu và Mỹ đang trên đà khôi phục là thuận lợi quan trọng cho xuất khẩu của Việt Nam Thêm vào

đó sự sụt giảm tăng trưởng của hai nền kinh tế là Ấn Độ và Trung Quốc cũng tạo ra

một lợi thế cạnh tranh cho Việt Nam trong việc xuất khẩu khi nhân công và chi phí đầu vào của Việt Nam được đánh giá là thấp hơn 2-2,5 lần so với Ấn Độ, Trung Quốc Dòng vốn đầu tư FDI, ODA vào Việt Nam trong năm 2013 có nhiều triển vọng tăng cao hơn năm 2012 sẽ giúp cho kinh tế Việt Nam, nền kinh tế phụ thuộc còn phục thuộc nhiều vào đầu tư khởi sắc

Tuy nhiên, bên cạnh đó, những tác động tiêu cực có thể dự báo như: Tăng trưởng kinh tế Nhật Bản trong năm 2013 được dự báo sụt giảm có ảnh hưởng không thuận cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam, vì Nhật Bản không chỉ là 1 trong 3 nước có quan hệ thương mại lớn nhất với Việt Nam mà còn là nước có lượng vốn đầu tư vào

Việt Nam lớn nhất Tăng trưởng kinh tế Nhật Bản có xu hướng giảm sẽ gây lo ngại ảnh hưởng tới vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam

Tuy rằng kinh tế châu Âu và Mỹ có dấu hiệu phục hồi nhưng các bảo hộ thương mại có xu hướng được sử dụng nhiều hơn sẽ là rào cản lớn đối với hàng hóa

Việt Nam vào hai nền kinh tế lớn này, vì vậy chính phủ các nước có khả năng dè dặt trong việc nhập khẩu hàng hóa và nhu cầu có tăng nhưng sẽ không tăng cao

Trang 33

Dựa trên ước tính tình hình kinh tế Việt Nam năm 2012 đã được báo cáo trước Quốc hội, dựa vào bối cảnh kinh tế Việt Nam năm 2013 và một số kịch bản dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới do một số tổ chức quốc tế xây dựng, Nhóm nghiên cứu

của NCEIF đề xuất dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2013 theo 3 kịch bản:

• Kịch bản 1 thì tăng trưởng kinh tế thế giới đạt 2,8% khi đó vốn đầu tư phát triển tăng 5,5%

• Kịch bản 2 thì tăng trưởng kinh tế thế giới đạt 3,3% khi đó vốn đầu tư phát triển tăng 11%

• Kịch bản 3 thì tăng trưởng kinh tế thế giới đạt 3,6% khi đó vốn đầu tư phát triển tăng 15%

Gi ải thích về 3 kịch bản cho năm 2013 của kinh tế Việt Nam như sau:

• Ở kịch bản 1, kinh tế thế giới không tăng trưởng cao như mong muốn ở các nền kinh tế EU, Nhật, Mỹ… xuất khẩu của Việt Nam sang các đối tác chính bị ảnh hưởng Khi đó tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam được dự báo ở mức 5% so với năm

2012

• Trong kịch bản 2, nợ công ở khu vực đồng tiền chung châu Âu tìm thấy lối thoát

và không còn là vấn đề lớn; xung đột chính trị và tranh chấp chủ quyền biển đảo dịu

bớt; nền kinh tế Mỹ được phục hồi khá, tăng trưởng kinh tế Nhật bản gần tương tự như năm 2012 Thương mại thế giới tốt hơn năm 2012, luồng vốn FDI vào Việt Nam khả quan hơn khi đó tăng trưởng GDP Việt Nam sẽ là 5,68%; vốn trên GDP là 30,5%; tăng trưởng xuất khẩu 14,6%

• Còn đối với kịch bản 3, kinh tế thế giới tăng trưởng khá, Chính phủ Việt Nam

có chính sách điều hành linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, tăng trưởng GDP sẽ là 6,34%, tăng trưởng xuất khẩu là 16,3%và nhập siêu trên xuất khẩu là 6,6%

Trong 3 kịch bản này theo nhóm Nghiên cứu cho rằng kịch bản 2 sẽ là kịch

bản chủ và có nhiều khả năng xảy ra nhất

Có 5 nhiệm vụ quan trọng cần được thực hiện trong 2013 thì: Để đạt được

mức GDP 5,68% theo kịch bản 2 thì nhóm nghiên cứu của NCEIF đã những đề xuất:

Th ứ nhất, Chính phủ vẫn cần thiết duy trì ưu tiên ổn định vĩ mô, giữ lạm phát ở

mức tương tự như năm 2012 đồng thời thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, linh hoạt Chú trọng triển khai các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh

Trang 34

tế, đặc biệt khu vực kinh tế nhà nước Đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, trong

đó đặc biệt là tái cơ cấu đầu tư công

Th ứ hai, có giải pháp nhằm khắc phục tình trạng đình đốn sản xuất của các

doanh nghiệp như thực hiện chính sách miễn giảm thuế, phí; hỗ trợ và thúc đẩy tiêu dùng nội địa Chú ý tập trung vào đối tượng thu nhập trung bình và thấp trong xã hội

Thực hiện các chính sách thu hút các nguồn vốn trong nước đưa vào sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng

Th ứ ba, có giải pháp phá băng thị trường bất động sản nhằm giải quyết vấn đề

nợ xấu, nhất là nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việc tái cơ cấu ngân hàng cần được

thực hiện triệt để và quyết liệt, không chỉ nhằm giải quyết một phần vấn đề nợ xấu trong hệ thống ngân hàng mà quan trong hơn là làm lành mạnh hóa thị trường tín dụng, khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp

Th ứ tư, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm tận dụng cơ hội dịch chuyển

dòng vốn FDI từ quốc tế vào các nước ASEAN đặc biệt là hai nước Trung Qu ốc và Ấn

Độ Định hướng dòng vốn này vào những lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư, loại bỏ những dự án đầu tư với công nghệ cũ, lạc hậu cũng như giảm thiểu tác động tiêu cực của đầu tư FDI lên công đồng doanh nghiệp trong nước

Th ứ năm, từng bước thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp và thực hiện nghiêm

túc, trong đó nhất là đối với các doanh nghiệp nhà nước nhằm giảm sự thất thoát lãng phí trong sử dụng vốn, tạo môi trường lành mạnh và bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau

3.2.1.2 Giải pháp cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong những giai đoạn gần đây

Để khắc phục những hạn chế trên trong phần định hướng chính sách, đề án nêu ra một số đề xuất như: chuyển mô hình tăng trưởng hiện tại sang mô hình dựa vào tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực, lấy tốc độ tăng năng suất lao động làm mục tiêu xuyên suốt, làm căn cứ xây dựng chính sách thay cho chạy theo chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng; xóa bỏ các rào cản đối với việc sử dụng hiệu quả nguồn lực; xây dựng cho được các chỉ tiêu thúc đẩy tăng năng suất bền vững Để đạt được điều mong muốn như vậy các cơ quan chính phủ cần phải:

Th ứ nhất, tái cấu trúc đầu tư đặc biệt là đầu tư công Tập trung đầu tư theo quy

hoạch và kế hoạch Tăng cường phân cấp cho địa phương trên cơ sở tập trung về Trung ương những công trình, những trọng điểm kinh tế Thống nhất, tiến tới Nhà nước Trung ương giám sát các nguồn đầu tư công một cách tập trung Thực thi cơ chế chỉ

Trang 35

công nếu cân đối được vốn và có chương trình kế hoạch thực thi cả phần duy tu bảo dưỡng

Hai là, tái cấu trúc hệ thống tài chính - tiền tệ Tuyệt đối chấp hành tín dụng, tài chính một cách hợp lí hoá Tập trung mức đầu tư từ ngân sách phù hợp với các nguồn

vốn có khả năng cân đối Không triển khai dưới mọi hình thức nguồn vốn ứng trước cho các công trình phát triển kinh tế Thực hiện và áp dụng đúng đắn chính sách ngo ại

hối, chính sách tỷ giá, chính sách cung tiền tệ Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương

mại theo hướng sáp nhập hoặc xử lý các ngân hàng yếu kém

Ba là, tái cấu trúc hệ thống doanh nghiệp Chú trọng tái cấu trúc hệ thống doanh nghiệp nhà nước Cần kiểm soát chặt chẽ việc đầu tư ngoài ngành đối với các nguồn

vốn có nguồn gốc nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước Thu hẹp, giảm bớt mở rộng đầu tư mới Thúc đẩy tiến tới việc thoái v ốn triệt để các doanh nghiệp nhà nước đầu tư ngoài ngành nghề Khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân trong nước đầu tư vào các ngành nghề, địa bàn có trọng điểm Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào những địa bàn có lựa chọn, định hướng

B ốn là, tái cấu trúc hệ thống thị trường Thị trường bất động sản cần đa dạng

hóa các nguồn vốn, đa dạng hóa các loại hình sản phẩm và đặc biệt là đa dạng hóa chủ

thể đầu tư Thị trường tài chính tiền tệ cần minh bạch hóa và tăng cường kỷ cương Tăng cường các công cụ kiểm tra nội bộ Tuyệt đối loại trừ đầu tư nội bộ giữa hệ thống ngân hàng và các công ty bất động sản trong ngành

Năm là, tăng cường năng lực thể chế của hệ thống kinh tế cùng với tăng cương

đầu tư nâng cao hệ thống cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Từ đó nhằm để đặt ra cơ sở phù hợp cho đổi mới mô hình tăng trưởng theo: Tăng cường chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững

3.2.2 Lạm phát và giá cả

Kiềm chế và kiểm soát lạm phát đã trở thành vấn đề trọng tâm trong việc ổn định nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam nhiều năm qua Tuy vậy t rong 10 năm vừa qua

lạm phát trong nước vẫn nối đà tăng cao của các năm trước đó Không thể phủ nhận,

lạm phát tăng cao như vậy một phần là do những nguyên nhân khách quan đến thị trường thế giới cũng như trong nước Các nguyên nhân đó hầu như bao gồm:

• Giá nhiều loại hàng hoá, nguyên – nhiên vật liệu chủ chốt trên thị trường thế

giới tăng cao đã tác động đến giá trong nước tăng cao

• Giá vàng trên thị trường thế giới tăng đột biến cũng khiến giá vàng trong nước tăng mạnh gây tâm lý tăng giá ảnh hưởng đến giá cả các hàng hoá tiêu dùng trên thị trường trong nước

Trang 36

• Dịch bệnh trên vật nuôi lan rộng và kéo dài làm giảm mạnh nguồn cung thực

phẩm và gia tăng chi phích ăn nuôi Ngoài ra các tỉnh có thời tiết khắc nghiệt trong một

số giai đoạn cũng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và chính vì vậy cũng

đã ảnh hưởng tới giá cả hàng hoá

• Việc điều chỉnh lương cơ bản cũng làm chi phí sản xuất bị đẩy gây ra lạm phát

Hình 4 Diễn biến tình hình lạm phát hàng năm 2003 – 2012 (%)

Nguồn: World Bank Biểu đồ trên cho th ấy từ năm 2004 Việt Nam đã và đang trải qua giai đoạn

lạm phát cao hơn, dao động lớn hơn và kéo dài hơn so với các đối tác thương mại của mình.Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 – 2009 đã góp phần làm giảm lạm phát ở

Việt Nam từ cuối năm 2009 Giá quốc tế giảm cùng với tổng cầu giảm đã giúp Việt Nam đảo ngược xu thế gia tăng đáng ngại của lạm phát trong năm 2008 Khi các gói kích cầu của Chính phủ bắt đầu gia tăng từ quý II năm 2009, cung tiền cũng bắt đầu tăng mạnh và tín dụng cũng có dấu hiệu tương tự Các ngân hàng thương mại trở nên thiếu hút tiền mặt và đều cố gắng tăng lãi suất nhằm thu hút tiền gửi Vì vậy, cuộc cạnh tranh lãi suất đã bắt đầu khiến cho lãi suất cho vay bị đẩy lên cao (vượt trần lãi suất do các khoản phí cho vay)

Trong năm 2010, do dịp Tết nguyên đán và việc tăng giá điện, lạm phát trong hai tháng đầu năm tăng cao Năm tháng tiếp theo của năm 2010 chứng kiến tỷ lệ lạm phát tương đối ổn định ở mức thấp chứng tỏ các biện pháp kiểm soát lạm phát của Chính

phủ đã có tác động Tuy nhiên, lạm phát lại tăng trở lại mạnh mẽ từ tháng 9 năm 2010 khiến cho chỉ số giá tiêu dùng CPI cho 11 tháng đã tăng lên đến 9,58% so với 20,71% và 5,07% của cùng kỳ năm 2008 và 2009 Việc phá giá VND so với USD trong tháng 8

Trang 37

năm 2010 và biến động của thị trường vàng trong nước và quốc tế vừa qua được coi là

một vài trong số những nguyên nhân chủ yếu khiến cho lạm phát tăng cao lúc này

Việt Nam vẫn có những nguy cơ tiềm tàng khiến cho lạm phát có thể vẫn tiếp

tục tăng cao do: giá của một loạt các mặt hàng cơ bản như điện và xăng dầu vẫn bị kiểm soát; VND vẫn đang chịu áp lực mất giá dù Ngân hành Nhà nước đã phá giá 2 lần trong năm 2010; giá cả ở Trung Quốc cũng đang tăng lên khiến cho chi phí nhập khẩu cho các công trình cơ sở hạ tầng với nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu ở Trung Quốc cũng tăng lên;

và áp lực mới lỏng tiền tệ sẽ gia tăng vì lãi suất hiện giờ đang cao Một phần những nguy

cơ này đã trở thành hiện thực trong những tháng vừa qua của năm 2010

Tác động bất lợi của lạm phát đối với nghèo đói và tăng trưởng đã được nhiều tác giả bàn đến Lạm phát làm tăng bất bình đẳng về thu nhập vì nó giống như một thứ thuế lũy tiến đối vói người nghèo Nếu các hộ nghèo chủ yếu nắm giữ tài sản của mình dưới dạng tiền mặt hay cùng lắm là tiền gửi ngân hàng thay vì các loại tài sản tài chính khác như ở Việt Nam hiện nay thì lạm phát cao sẽ nhanh chóng làm giảm sức mua của

họ Lạm phát cao cũng ảnh hưởng đến tăng trưởng, làm nhiễu các tín hiệu về giá cả và

hạn chế chất lượng cũng như khối lượng đầu tư Đồng thời nó cũng có thể có tác động tiêu cực đến tính cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu của một nước do giá cả sản xuất trong nước tăng cao và do tỷ giá thực tế tăng lên (Easterly and Fischer, 2001)

Những nhận định này còn có tác động mạnh hơn trong trường hợp của Việt Nam khi lương thực thực phẩm luôn chiếm từ 40% đến 50% giỏ hàng hóa tiêu dùng trong giai đoạn từ năm 2000 Trong khi giá cả phi lương thực thực phẩm tăng 1,7 lần thì giá lương thực thực phẩm đã tăng hơn 2,6 lần trong cùng giai đoạn so với năm 2000

với chỉ số giá chung tăng khoảng hơn 2 lần Đồng thời còn cho thấy rằng giá lương

thực thực phẩm biến động mạnh hơn nhiều so với giá phi lương thực thực phẩm Giá lương thực thực phẩm biến động sát với chỉ số giá chung hơn và cho thấy hai lần lên cao rõ rệt vào năm 2004 và 2008 Vì lương thực thực phẩm chiếm một tỷ trọng lớn trong giỏ hàng hóa CPI và giá lương thực thực phẩm dễ dao động hơn so với các hàng hóa khác trong giỏ hàng hóa nên khi một yếu tố tác động đến mức giá chung sẽ nhanh chóng tác động và làm tăng giá lương thực thực phẩm Nói cách khác, giá lương thực

thực phẩm phản ánh những biến động của lạm phát nhưng bản thân nó không phải là nguyên nhân gây lạm phát

Thêm vào đó trong các tháng đầu năm 2012, giá xăng dầu và năng lượng nói chung trên thế giới khá ổn định, giá đầu vào của các hàng nhập khẩu cũng thấp trong điều kiện ổn định tỷ giá, nên đã làm cho việc giảm CPI được thuận lợi Thậm chí giá lương thực thực phẩm trong nước cũng được bảo đảm ở mức ổn định đã tác động tích

Ngày đăng: 01/04/2017, 22:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. Biểu đồ tốc độ tăng trưởng GDP 2003 – 2012 (%) - Phân tích một số yếu tố của lạm phát ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế việt nam giai đạon 1986   2012 và tình hình kinh tế việt nam 2013
Hình 2. Biểu đồ tốc độ tăng trưởng GDP 2003 – 2012 (%) (Trang 29)
Hình 4. Diễn biến tình hình lạm phát hàng năm 2003 – 2012 (%) - Phân tích một số yếu tố của lạm phát ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế việt nam giai đạon 1986   2012 và tình hình kinh tế việt nam 2013
Hình 4. Diễn biến tình hình lạm phát hàng năm 2003 – 2012 (%) (Trang 36)
Hình 5. Biểu đồ lực lượng lao động Việt Nam 2003-2012 (Triệu người) - Phân tích một số yếu tố của lạm phát ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế việt nam giai đạon 1986   2012 và tình hình kinh tế việt nam 2013
Hình 5. Biểu đồ lực lượng lao động Việt Nam 2003-2012 (Triệu người) (Trang 38)
Hình 6. Biểu đồ thể hiện xuất – nhập khẩu cùng cán cân thương mại - Phân tích một số yếu tố của lạm phát ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế việt nam giai đạon 1986   2012 và tình hình kinh tế việt nam 2013
Hình 6. Biểu đồ thể hiện xuất – nhập khẩu cùng cán cân thương mại (Trang 40)
Hình 7. Tỷ giá thực tế và tỷ giá danh nghĩa cùng với cán cân thương mại - Phân tích một số yếu tố của lạm phát ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế việt nam giai đạon 1986   2012 và tình hình kinh tế việt nam 2013
Hình 7. Tỷ giá thực tế và tỷ giá danh nghĩa cùng với cán cân thương mại (Trang 42)
Hình 9. Thâm hụt ngân sách của Việt Nam qua các năm (%GDP) - Phân tích một số yếu tố của lạm phát ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế việt nam giai đạon 1986   2012 và tình hình kinh tế việt nam 2013
Hình 9. Thâm hụt ngân sách của Việt Nam qua các năm (%GDP) (Trang 47)
Hình 8. Diễn biến ngân sách Nhà nước 2003 – 2012 (nghìn tỷ đồng) - Phân tích một số yếu tố của lạm phát ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế việt nam giai đạon 1986   2012 và tình hình kinh tế việt nam 2013
Hình 8. Diễn biến ngân sách Nhà nước 2003 – 2012 (nghìn tỷ đồng) (Trang 47)
Hình 10. Thâm hụt cán cân vãng lai và dự trữ ngoại hối 2003-2012 - Phân tích một số yếu tố của lạm phát ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế việt nam giai đạon 1986   2012 và tình hình kinh tế việt nam 2013
Hình 10. Thâm hụt cán cân vãng lai và dự trữ ngoại hối 2003-2012 (Trang 48)
Hình 11.  Mối quan hệ giữa M2, Tín dụng, Lạm phát, GDP - Phân tích một số yếu tố của lạm phát ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế việt nam giai đạon 1986   2012 và tình hình kinh tế việt nam 2013
Hình 11. Mối quan hệ giữa M2, Tín dụng, Lạm phát, GDP (Trang 49)
Hình 12. Diễn biến nợ công của Việt Nam qua các năm (%GDP) - Phân tích một số yếu tố của lạm phát ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế việt nam giai đạon 1986   2012 và tình hình kinh tế việt nam 2013
Hình 12. Diễn biến nợ công của Việt Nam qua các năm (%GDP) (Trang 50)
Hình 13. D ự báo kinh tế của Moody’s Investors Service ngày 8/8/2012 - Phân tích một số yếu tố của lạm phát ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế việt nam giai đạon 1986   2012 và tình hình kinh tế việt nam 2013
Hình 13. D ự báo kinh tế của Moody’s Investors Service ngày 8/8/2012 (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w