HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM PHẠM PHƯƠNG DUNG PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ LÀM PHÁT SINH VÀ LÂY LAN HỘI CHỨNG RỐI LOẠN SINH SẢN VÀ HÔ HẤP PRRS Ở ĐÀN LỢN NUÔI TẠI TỈNH HƯNG YÊN TRONG
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM PHƯƠNG DUNG
PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ LÀM PHÁT SINH VÀ LÂY LAN HỘI CHỨNG RỐI LOẠN SINH SẢN VÀ HÔ HẤP (PRRS) Ở ĐÀN LỢN NUÔI TẠI TỈNH HƯNG YÊN TRONG HAI NĂM 2015-2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Phương Dung
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới TS Lại Thị Lan Hương (Bộ môn Giải phẫu tổ chức, Khoa Thú y) và TS Phạm Minh Hằng (Bộ môn Dịch tễ và Bệnh lý, Viện Thú y quốc gia) đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập
và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Giải phẫu tổ chức, Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Viện Thú y quốc gia đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Phương Dung
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình và biểu đồ viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Khái quát chung 3
2.1.1 Hiểu biết căn bản về PRRS 3
2.1.2 Tình hình hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) trên thế giới 3
2.1.3 Tình hình hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) trong nước 4
2.2 Căn bệnh 7
2.2.1 Hình thái và cấu trúc của virus 7
2.2.2 Phân loại 9
2.2.3 Sức đề kháng của virus PRRS 11
2.2.4 Đặc tính nuôi cấy virus PRRS trong môi trường tế bào 12
2.2.5 Khả năng gây bệnh 12
2.3 Dịch tễ học 12
2.3.1 Loài vật mắc bệnh 12
2.3.2 Chất chứa virus 13
2.3.3 Động vật môi giới và truyền virus 13
2.3.4 Đường lây truyền 14
2.4 Cơ chế sinh bệnh 15
2.5 Triệu chứng 16
2.6 Bệnh tích 17
2.7 Chẩn đoán 17
Trang 52.7.1 Chẩn đoán lâm sàng 18
2.7.2 Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm 18
2.7.3 Các vi khuẩn kế phát 18
2.8 Phòng và điều trị bệnh 19
2.8.1 Phòng bệnh 19
2.8.2 Điều trị bệnh 21
2.8.3 Chống dịch 22
2.9 Yếu tố nguy cơ 22
2.9.1 Khái niệm 22
2.9.2 Phương pháp xác định yếu tố nguy cơ 23
2.9.3 Tỷ số lệch OR (Odd Ratio) và nghiên cứu bệnh chứng (Case- Control Study) 23
Phần 3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 24
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
3.1.2 Thời gian nghiên cứu 24
3.1.3 Địa điểm nghiên cứu 24
3.2 Nội dung nghiên cứu 24
3.2.1 Nghiên cứu tình hình chăn nuôi, vệ sinh khử trùng, tiêm phòng và dịch tai xanh trong chăn nuôi lợn tại tỉnh Hưng Yên 24
3.2.2 Nghiên cứu tỷ lệ huyết thanh dương tính với kháng thể virus PRRS lưu hành trong đàn lợn nuôi tỉnh Hưng Yên hai năm (2015-2016) 24
3.2.3 Phân tích một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan dịch Lợn tai xanh 24
3.3 Phương pháp nghiên cứu 25
3.3.1 Lập phiếu điều tra và thu thập thông tin: 424 phiếu 25
3.3.2 Phương pháp bố trí lấy mẫu huyết thanh và bảo quản 25
3.3.3 Phương pháp ELISA: sử dụng bộ kit PRRS-HERDCHECKX3 của IDEXX (theo hướng dẫn của nhà sản xuất) 25
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 26
Phần 4 Kết quả và thảo luận 29
4.1 Tình hình chăn nuôi, vệ sinh, tiêm phòng và dịch bệnh lợn tai xanh tại tỉnh Hưng Yên 29
Trang 64.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
4.1.2 Tình hình chăn nuôi 30
4.1.3 Vệ sinh trong chăn nuôi tại các hộ được điều tra 35
4.1.4 Tình hình tiêm phòng vacxin lợn tai xanh tại các hộ được điều tra 38
4.1.5 Xử lý khi có dịch lợn tai xanh 39
4.2 Nghiên cứu tỷ lệ huyết thanh dương tính với kháng thể virus PRRS lưu hành trong đàn lợn nuôi tỉnh Hưng Yên (2015-2016) 40
4.2.1 Tỷ lệ huyết thanh dương tính với kháng thể virus PRRS ở lợn chưa tiêm phòng vacxin lợn tai xanh 40
4.2.2 Tỷ lệ huyết thanh dương tính với kháng thể virus PRRS ở lợn đã được tiêm phòng vacxin Lợn tai xanh 40
4.3 Một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp tại Hưng Yên 41
4.3.1 Địa điểm chăn nuôi gần đường quốc lộ <500m 41
4.3.2 Địa điểm chăn nuôi gần địa điểm giết mổ (<500m) 42
4.3.3 Sử dụng thức ăn thu gom trong chăn nuôi 43
4.3.4 Sử dụng nước giếng trong chăn nuôi 43
4.3.5 Mua con giống nguồn gốc không rõ ràng 44
4.3.6 Không sử dụng thuốc sát trùng tiêu độc định kỳ 45
4.3.7 Xử lý chất thải, xả thẳng ra ngoài môi trường 45
Phần 5 Kết luận và Kiến nghị 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Kiến nghị 47
Tài liệu tham khảo 48
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
FAO Food and Agriculture Organization of the United
Nations
OIE World Organisation for Animal Health Office
International des Epizooties Axit ribonucleic
PRRS Porcine Reproductive and Respiratory syndrome
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2 1 Tình hình dịch lợn Tai xanh giai đoạn 2015 - 2016 7
Bảng 2 2 Protein cấu trúc của PRRS 9
Bảng 2 3 Sự tương đồng về nucleotide của các chủng PRRS khi so sánh với chủng Bắc Mỹ VR2332 10
Bảng 2 4 Sức đề kháng của virus với điều kiện ngoại cảnh 11
Bảng 2 5 Một số mầm bệnh kế phát thường gặp 19
Bảng 3 1 Địa điểm lấy mẫu 25
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại các hộ điều tra 30
Bảng 4.2 Tình hình sử dụng nguồn con giống 31
Bảng 4.3 Tình hình sử dụng thức ăn chăn nuôi tại các hộ điều tra 33
Bảng 4.4 Nguồn nước sử dụng trong chăn nuôi 34
Bảng 4.5 Tình hình vệ sinh chuồng trại 35
Bảng 4.6 Tình hình xử lý chất thải trong chăn nuôi 37
Bảng 4.7 Tỷ lệ tiêm phòng vacxin Lợn tai xanh tại các hộ điều tra 38
Bảng 4.8 Xử lý khi có dịch 39
Bảng 4.9 Tỷ lệ huyết thanh dương tính trong đàn lợn nuôi chưa được tiêm phòng virus PRRS tỉnh Hưng Yên năm 2015-2016 40
Bảng 4.10 Tỷ lệ huyết thanh dương tính trong đàn lợn nuôi được tiêm phòng virus PRRS tỉnh Hưng Yên năm 2015-2016 41
Bảng 4 11 Kết quả phân tích yếu tố địa điểm chăn nuôi gần đường quốc lộ <500m 42
Bảng 4 12 Kết quả phân tích yếu tố địa điểm chăn nuôi gần địa điểm giết mổ <500m 42
Bảng 4 13 Kết quả phân tích yếu tố sử dụng thức ăn thu gom trong chăn nuôi 43
Bảng 4 14 Kết quả phân tích yếu tố sử dụng nước giếng trong chăn nuôi 44
Bảng 4 15 Kết quả phân tích yếu tố mua con giống nguồn gốc không rõ ràng 44
Bảng 4 16 Kết quả phân tích yếu tố hộ chăn nuôi không sử dụng thuốc sát trùng tiêu độc định kỳ 45
Bảng 4 17 Kết quả phân tích yếu tố xả thẳng chất thải ra ngoài môi trường 46
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Virus PRRS 8
Hình 2.2 Cấu trúc bộ gen virus PRRS 8
Hình 2.3 Cấu trúc bộ gen PRRS virus 9
Hình 4.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hưng Yên 29
Hình 4.2 Tình hình chăn nuôi lợn tại các hộ diều tra 31
Hình 4.3 Tình hình sử dụng nguồn con giống 32
Hình 4.4 Tình hình sử dụng thức ăn chăn nuôi tại các hộ điều tra 33
Hình 4.5 Nguồn nước sử dụng trong chăn nuôi 34
Hình 4.6 Tình hình vệ sinh chuồng trại 35
Hình 4.7 Tình hình xử lý chất thải trong chăn nuôi 37
Hình 4.8 Tỷ lệ tiêm phòng vacxin Lợn tai xanh tại các hộ điều tra 38
Hình 4.9 Xử lý khi có dịch 39
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Phạm Phương Dung
Tên luận văn: “Phân tích một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) ở đàn lợn nuôi tại tỉnh Hưng Yên trong hai năm 2015-2016”
Xác định được các yếu tố nguy cơ gây bùng phát và lây lan dịch PRRS
2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp hồi cứu
- Phương pháp lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển mẫu
Trang 11Tỷ lệ tiêm phòng vắc-xin PRRS toàn đàn (70.05%)
Trong hai năm (2015-2016), dịch lợn tai xanh không xảy ra ở Hưng Yên
b Tỷ lệ huyết thanh dương tính với kháng thể virus PRRS lưu hành trong đàn lợn nuôi tỉnh Hưng Yên
- Tỷ lệ huyết thanh dương tính với kháng thể virus PRRS ở đàn lợn đã tiêm phòng trong hai năm 2015-2016 là 87% và 95%
- Tỷ lệ huyết thanh dương tính với kháng thể virus PRRS ở đàn lợn chưa tiêm phòng trong năm 2015-2016 là 3% và 28%
c Các yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan dịch PRRS
- Địa điểm chăn nuôi gần đường quốc lộ
- Địa điểm chăn nuôi gần điểm giết mổ
- Mua con giống nguồn gốc không rõ ràng
- Không sử dụng thuốc sát trùng tiêu độc định kỳ
Trang 12THESIS ABSTRACT
Author: Pham Phuong Dung
Thesis title: "Study some risk factors for infection of Porcine reproductive and respiratory syndrome virus in Hung Yen pig herds (2015-2016)”
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
1 Research Objectives
To evaluate the situation of pig production, hygiene practices, pig vaccination, PRRS status in Hung Yen pig herds (2015-2016) and to identify the risk factors for active PRRS virus infection at the farm level
2 Materials and Methods
a Content of research
- To analyze the situation of pig production, hygiene practices, pig vaccination, and PRRS status
- To determine seroprevalence of antibody PRRS virus in HungYen pig herds
- To analyze risk factors for infection of PRRS virus in HungYen pig herds
b Methods
- Study design method
- Data collection method
- Retrospective study
- Collecting, storing, and shipping serum sample method
- ELISA test
- Statistical methods in the analysis of epidemiology data
3 Main finding and Conclusions
a The situation pig production, hygiene practices, pig vaccination, and PRRS status in HungYen pig herds
There is a wide variety of breeds and types of pigs available to small and beginning pig farmers including differences in mature size, growth rate, and reproductive rate However, the main types of hog producers were feeder pig produces and feeder pig finishers
All most of the farms use purchased commercial feeds and well water for feeding pigs
Trang 13The rates of households daily cleaning pig pens and applied PRRS vaccine were 90.09% and 70.05%
Period of 2 years (2015-2016), PRRS outbreaks did not occur in HungYen province
b Seroprevalence of antybody PRRS virus in HungYen pig herds
The prevalence of seropositive in vaccinated pigs ranged from 87% to 95% and in unvaccinated pigs ranged from 3% to 28%
c Risk factors for infection of PRRSV in HungYen pig herds
- Pig farms located near main roads
- Pig farms located near slaughterhouse
- Buying pigs from unknown sources
- The pig pens were not cleaned and disinfected periodically
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU Chăn nuôi ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu của ngành nông nghiệp Sản phẩm của ngành chăn nuôi trong đó có chăn nuôi lợn là nguồn thực phẩm không thể thiếu được đối với nhu cầu đời sống con người Chủ trương hiện nay của nhà nước là phát triển ngành chăn nuôi thành ngành sản xuất hàng hóa thực sự nhằm tạo ra sản phẩm chăn nuôi có chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và một phần cho xuất khẩu Từ đó góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho nông dân
Theo thống kê của tổ chức nông lương thế giới (FAO), Việt Nam là nước nuôi nhiều lợn, đứng hàng thứ 7 thế giới, hàng thứ 2 Châu Á và ở vị trí hàng đầu khu vực Đông Nam Á Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê tại thời điểm 8/1/2016, tổng đàn lợn trên cả nước có 27,75 triệu con, tăng 3,69% so với cùng kỳ 2014 Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng năm 2015 ước tính đạt 3,48 triệu tấn, bằng 104,2 % so với cùng kỳ năm trước
Đi đôi với việc phát triển chăn nuôi là vấn đề dịch bệnh trong đó phải kể đến hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp PRRS gây ra những thiệt hại không nhỏ cho người chăn nuôi
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS, Porcine reproductive and respiratory syndrome) hay còn gọi là bệnh Tai xanh – là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, lây lan nhanh và làm chết nhiều lợn nhiễm bệnh(tỷ lệ chết 20 – 30%) Nguyên nhân gây bệnh do virus PRRS gây ra, đây là một loại virus thuộc họ Arteriviridae, bộ Nidovirales gây ra Bệnh xuất hiện ở mọi lứa tuổi của lợn với tốc độ lây lan nhanh với các biểu hiện đặc trưng viêm đường hô hấp rất nặng như: sốt, ho, khó thở Ở lợn nái sinh sản là các rối loạn như: sảy thai, thai chết lưu, lợn sơ sinh chết non Do virus PRRS là loại virus có vỏ bọc bên ngoài,
có cấu trúc hệ gen là ARN sợi đơn dương, có tính thích ứng nhân lên rất cao với đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào hoạt động ở phổi Virus phát triển, tăng nhanh về số lượng trong đại thực bào, phá huỷ tế bào đại thực bào, làm suy giảm nghiêm trọng sức đề kháng của lợn bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn thứ phát gây bệnh viêm phổi như bệnh Dịch tả lợn, Suyễn lợn, Liên cầu khuẩn, Tụ huyết trùng Pasteurella multocida) phát sinh, phát triển và làm cho bệnh ngày càng trầm trọng hơn, lợn bệnh chết chủ yếu do các vi khuẩn kế phát
Trang 15Hưng Yên là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, trong vùng kinh
tế trọng điểm phía bắc, tiếp giáp với 6 tỉnh: Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nam, Thái Bình Tỉnh Hưng Yên cũng là tỉnh có ngành chăn nuôi phát triển mạnh, đặc biệt là chăn nuôi lợn Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều hộ gia đình chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún, mang tính chất tự cung tự cấp, chăn nuôi không đảm bảo an toàn sinh học dẫn đến những khó khăn trong công tác kiểm soát dịch bệnh
Dịch lợn Tai xanh đã xuất hiện và được ghi nhận, và báo cáo lần đầu tiên tại Hưng Yên là năm 2010, dịch xảy ra ở 19 xã, thị trấn, gây thiệt hại lớn về kinh
tế và tiêu huỷ 12.968 con Từ đó đến nay, mặc dù dịch lớn không xảy nhưng nguy
cơ dịch vẫn tiềm ẩn và có thể tái phát bất cứ lúc nào nếu gặp điều kiện thuận lợi
Do đó, việc đánh giá thực trạng chăn nuôi, sự phơi nhiễm virus PRRS ở đàn lợn nuôi và xác định yếu tố nguy cơ chính làm lây lan và phát sinh dịch Lợn tai xanh có ý nghĩa quan trọng trong công tác phòng chống dịch tại địa phương Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
"Phân tích một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) ở đàn lợn nuôi tại tỉnh Hưng Yên trong hai năm 2015-2016”
Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá thực trạng chăn nuôi, vệ sinh và tiêm phòng PRRS tại một số hộ chăn nuôi lợn nhỏ lẻ thuộc tỉnh Hưng Yên (2015- 2016)
- Xác định tỷ lệ huyết thanh dương tính với kháng thể virus PRRS lưu hành trong đàn lợn nuôi tỉnh Hưng Yên (2015-2016)
- Xác định một số yếu tố nguy cơ chính làm phát sinh và lây lan dịch PRRS
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG
2.1.1 Hiểu biết căn bản về PRRS
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp với tên tiếng Anh Porcine Respiratory and Reproductive syndrome (PRRS) hay còn gọi là bệnh Lợn tai xanh là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với lợn, do một loại virus gây ra Bệnh gây viêm đường hô hấp rất nặng ở lợn con và gây rối loạn sinh sản ở lợn cái bao gồm xảy thai, thai chết lưu, và đẻ ra lợn con ốm yếu (Hill, 1990); (Zuckermann et al., 2007)
2.1.2 Tình hình hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) trên thế giới
Bệnh Tai xanh lần đầu tiên được tìm thấy ở Mỹ vào năm 1987 (Keffaber, 1989) và chỉ vài năm sau bệnh đã lan ra toàn Bắc Mỹ Ở châu Âu, Münster Đức lần đầu tiên có dịch vào tháng 11 năm 1990 Dịch nhanh chóng lan ra và hơn
3000 ổ dịch được phát hiện cho đến thời điểm tháng 5 năm 1991 Người ta không tìm thấy mối liên hệ nào giữa các ổ dịch xảy ra ở Đức và Mỹ (Anonymous, 1991) Tiếp theo sau đó là các nước Hà Lan, Tây Ban Nha có dịch vào tháng 1 năm 1991 và Bỉ tháng 3 (OIE, 2007a) Anh có dịch bắt đầu từ tháng 3 năm 1991 đến tháng 10 năm đó có 58 ổ dịch được phát hiện (Edwards et al., 1992) Ở Pháp những ổ dịch lần đầu tiên xuất hiện tại Brittany vào tháng 11 năm 1991 (Baron et al., 1992); (OIE, 2007a) Đến năm 1992 bệnh đã có mặt ở Đan Mạch (Bøtner et al., 1994), Ba Lan (Rowland, 2010) và đến năm 1995 bệnh xảy ra ở Cộng hòa Czech (Wissink et al., 2005) Trong khi lan khắp châu Âu thì triệu chứng bệnh khó nhận thấy ở những đàn lợn giống nhưng lại tác động lớn đến sự hô hấp của đàn lợn thịt Và đến cuối năm 1991, virus Tai xanh đầu tiên phân lập ở Lelystad,
Hà Lan Thời gian ngắn ngay sau đó, virus được phân lập tại Missouri, Mỹ Tại châu Á, bệnh xuất hiện ở Nhật Bản năm 1988 (Hirose et al., 1995) và ở Đài Loan năm 1991 (Chang et al., 1993)
Từ năm 2006, bệnh Tai xanh tác động nghiêm trọng đến chăn nuôi lợn ở các nước Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, và Philippin với chủng virus độc lực cao Đến 2010 bệnh lan sang Lào và Campuchia Ở Trung Quốc, virus lần đầu tiên được tìm thấy năm 1996, kể từ đó virus lây lan rộng ra khắp Trung Quốc (FAO, 2008) Philippines bệnh xảy ra chủ yếu ở những vùng có mật độ nuôi lợn cao và số lượng lợn bị dịch tăng lên hàng năm, đỉnh điểm là năm 2009 Thái Lan
Trang 17lần đầu tiên thông báo có dịch là năm 2008, tuy nhiên số lượng dịch xảy ra 2008
và 2009 là thấp(2008 có 25 vụ, 2009 là 33) Nhưng đến 2010 thì dịch xảy ra nhiều như trong tháng 10 xảy ra 143 vụ (FAO, 2011)
Năm 2016: Campuchia 36 con mắc bệnh 13 con chết (OIE, 2016)
Năm 2017: Ecuador 7 con mắc bệnh (OIE, 2017)
2.1.3 Tình hình hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) trong nước
Ở Việt Nam, PRRS được phát hiện trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh phía Nam năm 1997, kết quả kiểm tra huyết thanh học cho thấy 10/51 lợn giống nhập khẩu đó có huyết thanh dương tính với PRRS
Theo báo cáo của Cục thú y (2007), trong nhiều năm qua có một tỷ lệ nhất định lợn giống có huyết thanh dương tính với PRRS Có thể thấy virus PRRS đã xuất hiện và lưu hành tại nước ta từ 1997 Tuy nhiên, sự bùng phát thành dịch và gây tổn thất lớn đang báo động cho ngành chăn nuôi lợn thực sự mới bắt đầu từ tháng 3/2007, do không quản lý được việc buôn bán, vận chuyển lợn ốm Điều tra ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận cho thấy 25% mẫu huyết thanh lợn có kháng thể kháng PRRS (596/2308 mẫu) và 5/15 trại (chiếm 33%) nhiễm PRRS (Nguyễn Lương Hiền và cs., 2001) Tỷ lệ nhiễm ở một số trại chăn nuôi công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh là 5,97% (Trần Thị Bích Liên và Trần Thị Dần, 2003) Năm 2003, tỷ lệ nhiễm PRRS trên lợn nuôi tập trung ở Cần Thơ
là 66,86%
Đến nay, dịch Tai xanh đã xuất hiện thành từng đợt tại 3 miền Bắc, Trung
và Nam gây thiệt hại đáng kể cho chăn nuôi lợn, đặc biệt là ảnh hưởng đến phát triển đàn giống Trong các ổ dịch, ngoài virus PRRS đã được xác định là nguyên nhân chính, hàng loạt các loại mầm bệnh khác như: Dịch tả lợn, PCV2, Tụ huyết trùng, Phó thương hàn, Liên cầu khuẩn, Suyễn lợn… cũng có mặt và đây chính là nguyên nhân dẫn đến chết nhiều lợn mắc bệnh
Năm 2007: Đợt dịch thứ nhất, xuất hiện lần đầu tiên trên đàn lợn tại Hải Dương vào ngày 12/3/2007 Sau đó do việc buôn bán, vận chuyển lợn ốm không được kiểm soát triệt để nên dịch đã lây lan nhanh và phát triển mạnh tại một số tỉnh: Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng và Lào Cai làm 31.750 con lợn bị mắc bệnh Trong đợt dịch này, bệnh xảy
ra ở tất cả các lứa tuổi của lợn Tỷ lệ chết lên tới 20%
Trang 18Đợt dịch thứ hai: Vào cuối tháng 6/2007, dịch lại tái bùng phát ở một số tỉnh miền Trung, nặng nhất là tỉnh Quảng Nam, dịch xảy ra ở 51 xã Tổng số lợn mắc bệnh là 33.839 con, gây thiệt hại nhiều tỷ đồng Dịch tiếp tục xảy ra nhỏ lẻ trong suốt các tháng cuối năm 2007 Trong gần một tháng, dịch lây lan ra 660 phường xã thuộc 50 huyện, thị xã của 10 tỉnh trên cả nước Tổng số lợn mắc bệnh lên đến 230.000 con
Năm 2008: Năm 2008 xảy ra 2 đợt dịch PRRS tại 956 xã, phường thuộc
103 huyện của 26 tỉnh, thành phố Tổng số lợn mắc bệnh là 309.586 con, trong
đó số lợn chết và buộc phải tiêu hủy là 300.906 con
Đợt dịch thứ nhất: Cuối tháng 3/2008, dịch PRRS xuất hiện tại các tỉnh miền Trung: Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh Sau đó, dịch lây lan và xuất hiện
ở 825 xã, phường của 61 quận, huyện của 10 tỉnh, thành phố gồm: Thái Nguyên, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Lâm Đồng làm 271.645 con lợn mắc bệnh, trong đó đã tiêu hủy 270.608 con Những tỉnh bị ảnh hưởng nặng là: Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Nghệ An và Thái Bình
Đợt dịch thứ hai diễn ra từ ngày 04/6/2008 đến 22/8/2008: Trong đợt này, dịch bệnh xảy ra lẻ tẻ ở 128 xã trên 38 huyện thị của 17 tỉnh thành thuộc cả ba miền Bắc, Trung, Nam nhưng với quy mô nhỏ hơn so với các đợt trước đó Tổng
số gia súc mắc bệnh là 37.932 con, trong đó số gia súc chết và tiêu hủy là 30.298 con Dịch xuất hiện rải rác khắp 3 miền Các tỉnh bị ảnh hưởng nặng là Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Bà Rịa – Vũng Tàu
Năm 2009: Dịch PRRS tại Việt Nam tiếp tục có diễn biến phức tạp Dịch tái bùng phát ở cả 3 miền gồm 69 xã thuộc 26 huyện của 13 tỉnh, thành phố có dịch: Bạc Liêu, Vĩnh Long, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bến Tre, Bắc Giang, Bình Dương, Đắc Lắc, Đồng Nai, Gia Lai, Hưng Yên, Quảng Ninh, Quảng Nam và Tiền Giang với 7.030 lợn mắc bệnh, trong đó có 5.847 lợn buộc phải tiêu hủy Năm 2010: Xảy ra 2 đợt dịch
Đợt dịch thứ nhất xảy ra tại miền Bắc: Dịch phát vào ngày 23/3/2010 tại Hải Dương Tính đến hết tháng 6/2010, toàn quốc ghi nhận được 461 xã, phường, thị trấn của 71 quận, huyện thuộc 16 tỉnh, thành phố có dịch PRRS, bao gồm: Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Nghệ An, Quảng Ninh, Hòa
Trang 19Bình, Cao Bằng, Sơn La Tổng số lợn mắc bệnh là 146.051 con, trong đó số tiêu hủy là 65.911 con Trong đợt dịch này, một số tỉnh có dịch PRRS kéo dài: Cao Bằng, Nghệ An
Đợt dịch thứ hai tại miền Nam: Theo Kết quả điều tra của Cục Thú y, đợt dịch này bắt đầu từ ngày 11/6/2010 tại Sóc Trăng Trong đợt dịch này dịch xảy ra tại 42.080 hộ chăn nuôi của 1.517 xã, phường, thị trấn thuộc 215 quận, huyện của
36 tỉnh, thành phố: Sóc Trăng, Quảng Trị, Tiền Giang, Lào Cai, Long An, Bình Dương, Bạc Liêu, Đồng Nai, Bình Phước, Đà Nẵng, Vĩnh Long, Khánh Hoà, Đắk Lắk, Hậu Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu, Lâm Đồng, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Kiên Giang, Bến Tre, Cà Mau, Kon Tum, Đắc Nông, Gia Lai, Trà Vinh, Bình Thuận, Quảng Ninh, Ninh Thuận, Phú Yên, Sơn La, Nam Định, Thanh Hoá, Hà Tĩnh Tổng số lợn trong đàn mắc bệnh là 968.115 con, số mắc bệnh là 666.896 con, trong đó số chết và phải tiêu huỷ là 372.788 con
Năm 2011: xảy ra 2 đợt dịch
Đợt dịch thứ nhất: Dịch xảy ra từ đầu năm đến ngày 10/6/2011 tại 127 xã, phường, thị trấn của 20 quận, huyện thuộc 7 tỉnh là: Bắc Ninh, Hải Dương, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Bình Dương Tổng số lợn mắc bệnh là 14.759 con (trong đó có 1.468 con lợn nái, 5.346 con lợn thịt và 7.665 con lợn con); tổng số lợn phải tiêu huỷ là 14.158 con
Đợt dịch thứ hai: Dịch xảy ra từ ngày 30/8/2011 tại tỉnh Tây Ninh, đến hết năm 2011 toàn quốc ghi nhận các ổ dịch PRRS tại 137 xã, phường, thị trấn của
29 quận, huyện thuộc 8 tỉnh là: Tây Ninh Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Quảng Nam, Cần Thơ, Khánh Hoà và Hà Nội Tổng số lợn mắc bệnh là 27.558 con; tổng số lợn phải tiêu huỷ là 12.361 con
Năm 2012: Dịch PRRS bắt đầu xảy ra từ ngày 11/1/2012 tại tỉnh Lào Cai Tại cuộc họp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chiều ngày 12/6/2012, lãnh đạo cục Thú y cho biết từ đầu năm tới thời điểm hiện tại, dịch PRRS đã xảy ra tại
123 xã, phường, thị trấn của 27 quận, huyện thuộc 11 tỉnh là: Điện Biên, Yên Bái, Nam Định, Phú Thọ, Lào Cai, Lai Châu, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hoà Bình, Lạng Sơn
và Bạc Liêu làm 33.778 con lợn bị mắc bệnh, số lợn phải tiêu huỷ là 21.708 con Tiếp
đó, Đồng Nai là tỉnh thứ 12 có dịch PRRS
Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm trong cuộc họp ngày 12/6/2012 khẳng định, so với cùng kỳ năm 2011, thì dịch PRRS
Trang 20năm 2012 gây thiệt hại nặng nề hơn cho ngành chăn nuôi khi mà tổng số lợn mắc bệnh gấp 2,5 lần, với 33.778 con (năm 2012) so với 14.759 con (năm 2011); số lợn tiêu huỷ cũng nhiều hơn năm 2011 rất nhiều, cụ thể là 21.708 con (năm 2012), còn năm 2011 là 14.158 con
Năm 2013: Tháng 2/2013, dịch PRRS đã xảy ra tại nhiều tỉnh trên cả nước gồm Long An, Quảng Nam, Quảng Trị, Đắk Nông, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thái Bình, Nam Định, Bắc Ninh Tại Nam Định, dịch PRRS đã lây lan ra
17 xã của cả 2 huyện Xuân Trường và Trực Ninh làm gần 11.000 con lợn bị ốm Bắc Ninh hiện cũng đã phát hiện hơn 200 con lợn bệnh
Năm 2014: Không có ổ dịch nào xảy ra
Năm 2015: Có các ổ dịch xảy ra tại 5 Tỉnh (Tiền Giang, Hà Tĩnh, Sóc Trăng, Nghệ An, Long An)
Năm 2016: Năm 2016, từ cuối tháng 4/2016 đến ngày 24/11/2016, đã xuất hiện 14 ổ dịch Tai xanh tại 08 huyện của 04 tỉnh là Quảng Trị, Hậu Giang, Nghệ
An và Hà Tĩnh làm 3.433 con lợn mắc bệnh, trong đó có 1.242 con lợn tiêu huỷ (Cục Thú y, 2016)
Bảng 2.1 Tình hình dịch lợn Tai xanh giai đoạn 2015 - 2016
2.2.1 Hình thái và cấu trúc của virus
* Cấu trúc hạt: PRRS là một virus đa hình thái, virion hình cầu và hình trứng, có vỏ bọc ngoài với đường kính của virion vào khoảng 45 – 55nm, nucleocapsid có đường kính từ 30-35 nm Là ARN virus với hệ gene là phân tử ARN sợi đơn dương, có những đặc điểm chung của nhóm Arterivirus Sợi ARN này có kích thước khoảng 15-15.5kb với đầu 5’ được metyl hóa và đuôi 3’-bọc Poly Adenyl Hệ gene mã hóa với 10 khung đọc mở (open reading frame – ORF) gồm: ORF1, ORF2, ORF3, ORF4, ORF5, ORF6 và ORF7 Trong đó, ORF1 được chia làm hai phần ORF1a và ORF1b, chiếm tới khoảng 80% tổng
Trang 21số độ dài genome của vius, chịu trách nhiệm mã hoá RNA dependent RNA polymerase, ORF2, ORF3, ORF4, ORF5, ORF5 và ORF7 là các gene tạo nên khung đọc mở mã hoá các protein tương ứng, đó là GP2 (polycoprotein), GP3, GP4, GP5 hay còn gọi là glycoprotein vỏ (E, envelope), protein màng M (membrane protein), và protein cấu trúc N (nucleocapsid protein) Các protein được glycosyl hoá (là hiện tượng gắn thêm hydratcacbon vào một vị trí acid amin xác định) là: GP2, GP3, GP4, GP5 và các protein không được glycosyl hoá là M và N
Hình 2 1 Virus PRRS
Nguồn: http://www.pigprogress.net
Hình 2.2 Cấu trúc bộ gen virus PRRS Nguồn: http://www.porcilis-prrs.com/microbiology-prrsv-structure.asp
Trang 22Hình 2.3 Cấu trúc bộ gen PRRS virus Nguồn: http://www.porcilis-prrs.com/microbiology-prrsv-structure.asp Bảng 2.2 Protein cấu trúc của PRRS
Nguồn: Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y Kháng thể kháng protein N là chủ yếu, đồng thời cũng kháng một số protein khác mà người ta chưa xác định được về mặt cấu trúc Các chủng virus Châu Âu tương tự nhau về cấu trúc kháng nguyên nhưng chúng có những sai khác nhất định so với chủng virus của Châu Mỹ Tương tự, dòng virus Châu Mỹ cũng có sự tương đồng nhau về cấu trúc kháng nguyên (Benfield et al., 1992; Wensvoort et al., 1991)
2.2.2 Phân loại
PRRSV là một virus ARN chuỗi đơn, có màng bọc, thuộc giống Artervirus,
họ Arteriviridae, bộ Nidovirales (Cavanagh, 1997) Hiện nay, có 2 kiểu gen PRRS chính được công nhận là:
Trang 23- Kiểu gen 1 (nhóm 1): các nhóm virus thuộc dòng châu Âu với tên gọi phổ thông là virus Lelystad (Meulenberg et al., 1993)
- Kiểu gen 2 (nhóm 2): các nhóm virus thuộc dòng Bắc Mỹ mà tiêu biểu cho chủng này là chủng virus VR2332 (Nelsen et al., 1999)
Các chủng này gây bệnh trên động vật cảm thụ với bệnh cảnh giống nhau, nhưng chúng lại đại diện cho hai genotyp khác biệt mà có sự khác biệt đó vào khoảng 40% Do đó, tạo ra một lớp màng bí mật về nguồn gốc của loại virus này Những nghiên cứu gần đây còn cho thấy sự khác biệt về tính di truyền trong các virus phân lập được từ các vùng địa lý khác nhau Bản thân các virus trong cùng một nhóm cũng có sự thay đổi về chuỗi nucleotit khá cao (đến 20%), đặc biệt là các chủng virus thuộc dòng Bắc Mỹ Chính sự khác biệt và sự
đa dạng về tính kháng nguyên, khả năng biến đổi cấu trúc kháng nguyên của virus đã làm tăng thêm những khó khăn trong việc sản xuất vacxin chống lại nó
Ở một số quốc gia căn bệnh lưu hành trên đàn lợn gồm cả hai dòng virus (dòng Bắc Mỹ và dòng Châu Âu)
Bảng 2.3 Sự tương đồng về nucleotide của các chủng PRRS khi so sánh với
chủng Bắc Mỹ VR2332 Chủng Nước phát hiện Tỷ lệ % tương đồng
về cấu trúc gen, virus PRRS tại Việt Nam đã được xác định là chủng thuộc dòng Bắc Mỹ Theo kết quả phân tích gen ban đầu, chủng virus PRRS của Việt Nam có mức tương đồng về trình tự amino acid là 99% so với chủng virus độc lực cao đang lưu hành tại Trung Quốc; nếu so sánh với các chủng PRRS khác thuộc dòng Bắc Mỹ thì mức tương đồng là 98% Ở Việt Nam có cả hai chủng virus độc lực thấp (cổ điển) và chủng virus độc lực cao (biến đổi) đang lưu hành
Trang 242.2.3 Sức đề kháng của virus PRRS
Bảng 2.4 Sức đề kháng của virus với điều kiện ngoại cảnh
Trong môi trường tự nhiên
đó, với các hoá chất sát trùng thông thường và môi trường có pH axit, virus dễ dàng
bị tiêu diệt; ánh sáng mặt trời, tia tử ngoại vô hoạt virus nhanh chóng
PRRSV có thể tồn tại nhiều năm trong nhiệt độ lạnh từ -200C đến -700C; trong điều kiện 40C virus có thể sống 120,5 giờ; với nhiệt độ cao, cũng như các virus khác, PRRSV đề kháng kém; ở nhiệt độ 370C PRRSV chịu được 48 giờ; virus bị giết chết sau 20 phút ở nhiệt độ 560C Trong huyết thanh bảo quản ở 40C hoặc -200C, sau 72 giờ có thể phân lập được PRRSV từ 85% số mẫu
Trang 252.2.4 Đặc tính nuôi cấy virus PRRS trong môi trường tế bào
Virus PRRS phát triển với mật độ 105 – 107 TCID50 ở các loại tế bào:
- Đại thực bào phế nang lợn (PMA)
2.2.5 Khả năng gây bệnh
PRRSV chỉ gây bệnh cho lợn, lợn ở tất cả các lứa tuổi đều cảm nhiễm, nhưng lợn con và lợn nái mang thai mẫn cảm hơn cả Lợn rừng cũng có thể bị mắc bệnh
Về mặt độc lực người ta thấy PRRSV tồn tại dưới 2 dạng:
- Dạng cổ điển: có độc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắc bệnh có tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 – 5% tổng đàn
- Dạng biến thể độc lực cao: gây nhiễm và làm chết nhiều lợn (Phạm Sỹ Lăng và Văn Đăng Kỳ, 2007)
2.3 DỊCH TỄ HỌC
PRRS có những đặc điểm dịch tễ không như những bệnh khác ở gia súc Bệnh được ghi nhận với tốc độ lây lan nhanh, mạnh trên phạm vi rộng, trong một thời điểm có nhiều địa phương cùng mắc Làm thiệt hại lớn từ 20-30%
Trang 26Các giống lợn nhà, lợn rừng đều cảm nhiễm và có thể mắc ở mọi lứa tuổi nhưng mẫn cảm hơn cả là lợn con và lợn nái đang mang thai Ở lợn rừng nhiễm virus thường không có dấu hiệu lâm sàng và đóng vai trò nguồn dịch thiên nhiên Cho đến nay kết quả nghiên cứu ở một số nước châu Âu đều cho thấy virus PRRS không cảm nhiễm và không gây bệnh cho các loại thú khác và người Các loài thuỷ cầm chân màng, vịt trời lại mẫn cảm với virus PRRS Virus PRRS có thể nhân lên ở các loài động vật này và chính đây là nguồn gieo rắc mầm bệnh trên diện rộng rất khó khống chế
2.3.2 Chất chứa virus
Virus có trong dịch mũi, nước bọt, phân và nước tiểu của lợn ốm hoặc lợn mang trùng và phát tán ra môi trường Tinh dịch của lợn đực giống nhiễm virus cũng là nguồn lây lan bệnh Ở lợn nái mang thai, virus có thể từ mẹ xâm nhiễm sang bào thai và gây bệnh Lợn con nhiễm bệnh và lợn mang trùng có thể đào thải virus trong vòng 6 tháng
Trong cơ thể lợn nhiễm virus:
- Từ 2 – 4 ngày sau khi nhiễm đã có thể phân lập được virus ở phổi, hạch lympho, hạch amidan, tuyến ức, lách và máu Lượng virus nhiều nhất ở hạch amidan và phổi ở 14 ngày sau khi nhiễm, ở hạch lympho sau 3 ngày
- Ở hạch amidan, hạch lympho và tuyến ức vẫn có thể phân lập được virus sau 21 ngày, ở phổi đến 35 ngày
- Virus PRRS thường cư trú ở phế nang, vùng trung tâm hạch lympho và lách Ở những con nái có chứa virus có thể qua được nhau thai Tuy nhiên, khả năng qua được nhau thai của virus này hiện còn nhiều tranh cãi Virus cũng có thể xâm nhập vào thận, não, gan, khí quản, tuỷ xương và đám rối màng treo ruột
- Virus có thể xâm nhập vào đại thực bào vùng phổi, hạch amidan, hạch lympho, lách nhưng không xâm nhập được vào các đại thực bào ở gan, thận, tim
và các tế bào tiền thân của đại thực bào như bạch cầu đơn nhân trung tính Tế bào đích chủ yếu của virus là đại thực bào phế nang, tại đây virus nhân lên một cách mạnh mẽ
2.3.3 Động vật môi giới và truyền virus
Trong tự nhiên, lợn đực và lợn nái mang virus, đây là nguồn tàng trữ và truyền mầm bệnh cho lợn nhà Lợn rừng bị nhiễm virus không có biểu hiện lâm sàng cũng đóng vai trò làm lây truyền virus cho lợn nhà và ngược lại, lợn nhà cũng truyền mầm bệnh cho lợn rừng
Trang 27Trong thực nghiệm, người ta cũng truyền được virus trực tiếp cho một số loài chuột và từ chuột nhiễm mầm bệnh sang chuột khoẻ (virus PRRS dòng châu Âu) 2.3.4 Đường lây truyền
Virus PRRS có thể được lây truyền qua 2 phương thức:
* Truyền lây trực tiếp: các đường lây truyền trực tiếp của virus PRRS trong và giữa các quần thể lợn bao gồm các lợn nhiễm bệnh và tinh dịch bị nhiễm virus Virus PRRS được phát hiện ở nhiều loại chất tiết và các chất thải
từ lợn bao gồm máu, tinh dịch, nước bọt, dịch mũi, phân, nước tiểu, sữa và sữa đầu (Yoon et al., 1993); (Rossow et al., 1994); (Wills et al., 1997a); (Wagstrom
et al., 2001)
* Truyền lây gián tiếp:
- Các dụng cụ, thiết bị: một số đường truyền lây gián tiếp qua các dụng cụ, thiết bị đã được xác định trong những năm gần đây Ủng và quần áo bảo hộ đã được chứng minh là những nguồn lây nhiễm tiềm năng cho lợn mẫn cảm (Otake
et al., 2002) Nguy cơ lây truyền qua những đường này có thể được giảm thiểu qua áp dụng các bảng nội quy: thay quần áo, giầy dép, rửa tay, tắm, tạo những khoảng thời gian nghỉ khoảng 12 giờ giữa những lần tiếp xúc với lợn
Kim tiêm cũng là phương tiện lan truyền virus PRRS giữa các lợn với nhau
- Các phương tiện vận chuyển: các phương tiện vận chuyển là một đường chính làm lây lan virus PRRS Sau thời gian vận chuyển những con mang bệnh nếu không khử trùng phương tiện vận chuyển thì chính những phương tiện này sẽ làm lây truyền mầm bệnh
Do đó, biện pháp làm tăng thời gian sấy khô qua vệc sử dụng không khí ẩm với tốc độ cao (hệ thống khử tạp nhiễm và sấy khô bằng nhiệt) đã được chứng minh là một phương pháp hiệu quả để loại trừ virus PRRS từ trong một phương tiện vận chuyển đã bị nhiễm virus
Kết hợp với việc sấy khô, các chất sát trùng cũng đã được sử dụng rộng rãi
để làm vệ sinh các phương tiện vận chuyển sau khi được vận chuyển
- Côn trùng: các loài côn trùng (muỗi – Aedes vexans và ruồi nhà – Musca domestica) được theo dõi thường xuyên trong phương tiện, thiết bị dùng cho lợn trong suốt các mùa hè và đã cho thấy có lan truyền virus PRRS bằng cơ học từ lợn nhiễm bệnh sang lợn mẫn cảm trong điều kiện thực nghiệm (Otake et al., 2002) Trong côn trùng, virus nằm ở đường tiêu hoá Các côn trùng không phải là vector sinh học của virus PRRS vì thế khoảng thời gian tồn lưu vủa virus PRRS
Trang 28trong đường tiêu hoá côn trùng phụ thuộc vào lượng virus ăn vào và nhiệt độ của môi trường Sự vận chuyển virus PRRS bởi các côn trùng qua một vùng nông nghiệp đã được báo cáo là có thể tới 2,4km sau khi tiếp xúc với quần thể lợn nhiễm bệnh
- Đặc biệt, hình thức thụ tinh nhân tạo với tinh dịch của lợn đực giống nhiễm bệnh hoặc mang trùng cũng làm phát tán virus PRRS
- Bệnh có thể lây từ quốc gia này sang quốc gia khác qua việc xuất, nhập khẩu lợn có mang virus mà không được kiểm dịch chặt chẽ
Lúc đầu, virus PRRS có thể kích thích các tế bào này, nhưng sau 2 hoặc 3 ngày virus sẽ giết chết chúng, các virion được giải phóng và ồ ạt xâm nhiễm sang các tế bào khác Ở giai đoạn đầu của quá trình xâm nhiễm của virus PRRS, dường như hiệu giá không thể kháng lại các loại virus và vi khuẩn khác không liên quan trong cơ thể của lợn tăng cao do sự kích hoạt của đại thực bào trong hệ thống miễn dịch Điều này rất dễ gây ra sự nhầm lẫn trong việc đánh giá mức độ miễn dịch đối với các bệnh truyền nhiễm ở cơ thể lợn
Khi tế bào đại thực bào bị virus phá huỷ, các phản ứng miễn dịch không xảy ra được, lợn nhiễm bệnh rơi vào trạng thái suy giảm miễn dịch và dễ dàng mắc các bệnh nhiễm trùng thứ phát, điều này có thể thấy rõ ở những đàn lợn vỗ béo chuẩn bị giết thịt, khi bị nhiễm virus PRRS sẽ có sự tăng đột biến về tỷ lệ viêm phổi kế phát do những vi khuẩn vốn sẵn có trong đường hô hấp Trong cơ thể lợn ốm, có tới 40% số lượng tế bào đại thực bào bị virus giết chết
Viêm phổi làm thiếu oxy nên gây rối loạn chuyển hoá của thai, thai bị suy dinh dưỡng và gây chết thai, sảy thai Lợn chửa kỳ cuối thì nhu cầu oxy tăng cao
vì phải nuôi thai, ở thời kỳ cuối thai tăng trưởng rất nhanh nên nhu cầu về oxy tăng gấp nhiều lần, vì vậy lượng thiếu hụt oxy càng nghiêm trọng, nên thai hay sảy vào kỳ cuối Sau sảy thai, tế bào nội mạc tử cung bị thoái hoá, hoại tử nên làm chậm các quá trình sinh lý khác của cơ thể con vật
Trang 29mê, thai gỗ (10 – 15% thai chết trong 3 – 4 tuần cuối của thai kỳ), lợn con chết ngay sau khi sinh (30%), lợn con yếu, tai chuyển màu xanh (khoảng dưới 5%) và được duy trì trong vài giờ, pha cấp tính này kéo dài trong đàn tới 6 tuần, điển hình là đẻ non, tăng tỷ lệ thai chết hoặc yếu, tăng số thai gỗ, chết lưu trong giai đoạn 3 tuần cuối trước khi sinh, ở một vài đàn con số này có thể tới 30% tổng số lợn con sinh ra Tỷ lệ chết ở đàn con có thể tới 70% ở tuần thứ 3 – 4 sau khi xuất hiện triệu chứng Rối loạn sinh sản có thể kéo dài 4 – 8 tháng trước khi trở lại bình thường Ảnh hưởng lâu dài của PRRS tới việc sinh sản rất khó đánh giá, đặc biệt với những đàn có tình trạng sức khoẻ kém
Giai đoạn sau cai sữa: thường có biểu hiện biếng ăn, sốt cao, động dục giả, chậm động dục hoặc không động dục trở lại sau đẻ, phối giống không đậu thai,
ho và có dấu hiệu của bệnh viêm phổi
* Lợn đực giống: sốt cao, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, một số con có hiện tượng tai xanh Đặc biệt xuất hiện hiện tượng viêm dịch hoàn, bìu dái nóng đỏ (chiếm tới 95%), dịch hoàn sưng đau, lệch vị trí (chiếm 85%), giảm hưng phấn hoặc mất tính dục (Lê Văn Năm, 2007), lượng tinh dịch ít, chất lượng tinh kém: nồng độ tinh dịch C < 80.106, hoạt lực của tinh trùng A < 0,6, sức kháng của tinh trùng R < 3000, tỷ lệ kỳ hình K > 10%, tỷ lệ sống của tinh trùng < 70%, độ nhiễm khuẩn cao 20.103 Lợn đực giống rất lâu mới hồi phục được khả năng sinh sản (Nguyễn Như Thanh, 2007)
Phần lớn đực giống nhiễm virus không có biểu hiện lâm sàng nhưng tinh dịch có virus Điều này làm cho việc lây nhiễm lan tràn nếu sử dụng tinh dịch của những con nhiễm bệnh trong thụ tinh nhân tạo
Trang 30* Lợn con theo mẹ: thể trạng gầy yếu, nhanh chóng rơi vào tình trạng tụt đường huyết do không bú được, mắt có dử màu nâu, trên da có vết phồng rộp, tiêu chảy nhiều, giảm số lợn con sống sót, tăng nguy cơ mắc các bệnh về hô hấp, chân choãi ra, đi run rẩy, tỷ lệ chết cao (Phạm Ngọc Thạch, 2007)
* Lợn con cai sữa và lợn choai: biếng ăn, sốt cao, ủ rũ, ho, khó thở, những phần da mỏng như da tai, da bụng chuyển màu hồng nhạt sau đó hồng thẫm và xanh nhạt Trong trường hợp ghép với bệnh khác có thể thấy viêm phổi lan toả cấp tính, hình thành nhiều ổ áp xe, thể trạng gầy yếu, da xanh, tiêu chảy, hắt hơi, chảy nước mắt, thở nhanh, tỷ lệ tử vong cao (Lê Văn Năm, 2007)
2.6 BỆNH TÍCH
* Ở lợn nái sảy thai:
Âm môn sưng tụ huyết, niêm mạc tử cung và âm đạo sưng thũng, xuất huyết và chảy dịch, viêm phổi, có những đám tụ huyết, trong phế quản có nhiều dịch và bọt khí Một số trường hợp bàng quang xuất huyết
*Ở lợn con theo mẹ:
Viêm đường hô hấp cấp, thể hiện phế quản và phổi sưng có màu vàng hoặc
tụ huyết đỏ, hạch phổi và hạch hầu sưng có màu vàng, khi kế phát do Streptococus suis thấy màng não xung huyết do viêm não
*Ở lợn con sau cai sữa và lợn thịt:
Biểu hiện viêm đường hô hấp đặc trưng: viêm phổi thuỷ thũng từng đám, có màu vàng hoặc đỏ do xuất huyết, phế quản chứa đầy dịch nhờn và bọt khí Nếu
kế phát các bệnh nhiễm khuẩn khác, sẽ thấy thêm các bệnh tích đặc trưng của từng loại bệnh
2.7 CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán PRRS dựa vào các yếu tố chủ quan như: lịch sử bệnh, triệu chứng lâm sàng, tổn thương đại thể và vi thể, các số liệu khách quan như: phân tích tình hình sinh sản, xét nghiệm huyết thanh học hoặc phát hiện virus
Trang 312.7.1 Chẩn đoán lâm sàng
Chẩn đoán lâm sàng dựa vào 2 nhóm triệu chứng:
- Triệu chứng đường sinh sản: trong giai đoạn đầu của dịch, có thể thấy hiện tượng sảy thai ở thời kỳ đầu, đẻ non, đẻ ra thai yếu, thai chết lưu dồng thời thai gỗ, lợn con yếu chết trước khi cai sữa
- Triệu chứng đường hô hấp: viêm phổi ở lợn con và lợn thịt Ta có thể dùng phương pháp chẩn đoán lâm sàng nghi vấn để chẩn đoán xác định bệnh trong các trường hợp như: sảy thai muộn > 20%, thai chết khi sinh > 5%, chết trước lúc cai sữa > 25%
2.7.2 Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Khi thấy lợn có các triệu chứng nêu trên, bước đầu có thể chẩn đoán là lợn mắc PRRS Tuy nhiên, để đảm bảo độ chính xác cần phải lấy mẫu bệnh phẩm (máu lợn bệnh còn sống hoặc các tổ chức bệnh phẩm: phổi, hạch của lợn chết)
để làm các xét nghiệm chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Kỹ thuật chẩn đoán trong phòng thí nghiệm đối với PRRS thường dựa vào
3 tiêu chí: virus, kháng nguyên của virus, kháng thể đặc hiệu
- Dựa vào phương pháp miễn dịch đánh dấu bằng enzym (ELISA) hoặc phương pháp gián tiếp huỳnh quang thể (IFAT) theo quy trình của OIE để phát hiện kháng thể
- Phương pháp PCR để phát hiện virus hoặc phương pháp phân lập virus gây bệnh trên các môi trường phôi gà hoặc các môi trường tế bào đặc biệt
Các phương pháp này cho độ chính xác cao từ 92 – 95%) trong chẩn đoán xác định hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn
2.7.3 Các vi khuẩn kế phát
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, virus PRRS thường tấn công, phá huỷ và giết chết đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào vùng phổi Kết quả làm suy giảm hệ thống phòng vệ tự nhiên của cơ thể Hệ thống phòng vệ của cơ thể bị suy giảm là điều kiện lý tưởng cho các mầm bệnh khác kế phát được tổng hợp ở bảng 2.5
Trang 32Bảng 2.5 Một số mầm bệnh kế phát thường gặp
- Lập bản đồ dịch tễ Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn tại địa phương để chủ động tham mưu các biện pháp phòng bệnh có hiệu quả
Trang 33- Tổ chức lấy mẫu bệnh phẩm để chẩn đoán bệnh đột xuất Đồng thời, thường xuyên giám sát sự xuất hiện của virus để dự báo sớm dịch bệnh
- Kiểm soát chặt chẽ lợn xuất ra, nhập vào địa phương
2.8.1.1 Vệ sinh phòng bệnh
- Cải thiện môi trường trong chuồng nuôi: thoáng mát, giảm mùi hôi chuồng…
- Thực hiện biện pháp chăn nuôi “cùng vào, cùng ra”
- Tránh nhập lợn mới vào trại trong lúc dịch đe dọa
- Loại thải những lợn còi cọc, bệnh nặng
- Kiểm soát nguồn tinh tốt
- Không nuôi lợn thả rông
- Thường xuyên vệ sinh cơ giới và tiêu độc khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển và các dụng cụ khác bằng các loại hoá chất như: vôi bột, chlorine, iodine
- Xử lý phân và chất thải chuồng nuôi theo phương pháp ủ sinh học hoặc xây dựng bể Biogas
- Con giống đưa vào chăn nuôi phải khoẻ mạnh, có nguồn gốc rõ ràng, giấy chứng nhận kiểm dịch của cơ quan thú y
- Vệ sinh thức ăn, nước uống: thức ăn, nước uống dùng trong chăn nuôi phải đảm bảo vệ sinh Không sử dụng thức ăn ôi thiu, ẩm mốc, không đảm bảo chất lượng , thường xuyên vệ sinh máng ăn, máng uống
- Tiêm đầy đủ vacxin phòng bệnh: dịch tả lợn, FMD, Mycoplasma, PRRS, circovirus…
2.8.1.2 Phòng bệnh bằng vacxin
Theo báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch 12 tháng năm 2012 ngành Nông nghiệp và PTNT (Bộ NN và PTNT, 2012) có 7 loại vacxin được phép lưu hành
và sử dụng tại Việt Nam
- Vacxin nhược độc BSL-PS 100 của Công ty Bestar - Singappo, chủng vacxin JKL 100 thuộc dòng Bắc Mỹ
- Vacxin nhược độc Amervac PRRS của Công ty Hipra - Tây Ban Nha, chủng vacxin VP046 BIS
- Vacxin Porcilis PRRS của Công ty Intervet Hà Lan
- Vacxin nhược độc Ingelvac PRRS MLV của Công ty Boehringer - Đức, chủng vacxin ATCC VR-2332 thuộc dòng Bắc Mỹ