1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích một số yếu tố cấu trúc nhằm bước đầu đánh giá xu hướng diễn thế rừng phục hồi trong phân khu phục hồi sinh thái tại vườn quốc gia ba vì hà nội

67 228 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 2,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu cấu trúc rừng phục hồi nhằm cung cấp những hiểu biết về hệ sinh thái rừng phục hồi nằm trong phân khu phục hồi sinh thái làm cơ sở dự báo xu hướng diễn thế rừng, đề xuất giải

Trang 1

LÊ LƯU CẦU

PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ CẤU TRÚC NHẰM BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ XU HƯỚNG DIỄN THẾ RỪNG PHỤC HỒI TRONG PHÂN KHU PHỤC HỒI SINH THÁI

TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ - HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

HÀ NỘI – NĂM 2010

Trang 2

LÊ LƯU CẦU

PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ CẤU TRÚC NHẰM BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ XU HƯỚNG DIỄN THẾ RỪNG PHỤC HỒI TRONG PHÂN KHU PHỤC HỒI SINH THÁI

TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ - HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH LÂM HỌC

MÃ SỐ: 06.62.60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Lê Xuân Trươ ̀ ng

HÀ NỘI - 2010

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm khu vực Đông Nam Á, với diện tích phần đất liền khoảng 330.991 km2 Trong đó phần đất các đồi núi chiếm ¾ lãnh thổ và quyết định nhiều đặc điểm của tự nhiên Việt Nam Bên cạnh đó lãnh thổ lại nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa: nắng nhiều, mưa nhiều, độ ẩm cao là những nhân tố thuận lợi đối với sự tồn tại và phát triển tại chỗ của nhiều loài thực vật nhiệt đới

Với mục đích bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên sinh vật

đa dạng và phong phú phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tham quan học tập cũng như bảo vệ nguồn tài nguyên rừng thì hệ thống các Vườn Quốc gia (VQG), các Khu bảo tồn đã được đã được thành lập Vườn quốc gia Ba Vì nằm trong hệ thống các VQG của Việt Nam đã nổi tiếng từ lâu với cảnh quan thiên nhiên sơn thủy hữu tình, là vùng núi chuyển tiếp với hệ sinh thái rừng nhiệt đới còn tồn tại khá nhiều loài thực vật và động vật quí, đặc trưng cho vùng trung du Bắc Bộ, có giá trị về nghiên cứu khoa học và bảo tồn nguồn gen Đặc biệt ở đây còn có nhiều thảm thực vật đã và đang góp phần tạo nên một số cảnh quan sinh thái, các địa điểm như Đỉnh Vua, Đỉnh Tản Viên, Đỉnh Ngọc Hoa, Ao Vua, Khoang Xanh, Thiên Sơn, Thành Thắng, Yên Quang

đã trở thành một quần thể cảnh quan nổi tiếng cùng với nhiều bản sắc văn hóa dân tộc, là nơi tham quan du lịch sinh thái khá nổi tiếng, thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước tới tham quan, du li ̣ch

Nằm trên địa bàn của 2 đơn vị hành chính là Hà Nội mở rộng (huyện

Ba Vì, tỉnh Hà Tây cũ) và tỉnh Hoà Bình Vườn Quốc gia Ba Vì có vị trí lý tưởng là gần Trung tâm Thủ đô, có hệ thống giao thông khá tốt, thuận lợi cho việc giao lưu, kết nối với các điểm du lịch, các thành phố, khu đô thị lớn trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ Chính do các hoạt động của dân cư trong vùng,

Trang 4

các hoạt động du lịch và ảnh hưởng của việc khai thác rừng và đốt rừng làm nương rẫy trước đây nên các kiểu thảm thực vật trong VQG Ba Vì nhất là các thảm thực vật trong phân khu phục hồi sinh thái của VQG đã và đang có sự biến đổi theo các loạt diễn thế nhân tác – phục hồi với các chiều hướng khác nhau Nghiên cứu cấu trúc rừng phục hồi nhằm cung cấp những hiểu biết về

hệ sinh thái rừng phục hồi nằm trong phân khu phục hồi sinh thái làm cơ sở

dự báo xu hướng diễn thế rừng, đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững tại những diện tích này của VQG là việc làm đáp ứng tính cấp thiết cả về khoa học và thực tiễn

Xuất phát từ những yêu cầu trên chúng tôi đã mạnh dạn thực hiện đề

tài: “Phân tích một số yếu tố cấu trúc rừng nhằm bước đầu đánh giá xu hướng diễn thế rừng phục hồi trong phân khu phục hồi sinh thái Vườn Quốc gia Ba Vì”

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Quan điểm về cấu trúc quần xã thực vật rừng

Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần xã thực vật rừng theo không gian và thời gian

Cấu trúc rừng bao gồm:

- Tổ thành là nhân tố diễn tả số loài tham gia và số cá thể của từng loài

trong thành phần cây gỗ của rừng Hiểu một cách khác, tổ thành cho biết sự tổ hợp và mức độ tham gia của các loài cây khác nhau trên cùng đơn vị thể tích Trong một khu rừng nếu một loài cây nào đó chiếm trên 95% thì rừng đó

được coi là rừng thuần loài, còn rừng có từ 2 loài cây trở lên với tỷ lệ sấp xỉ nhau thì là rừng hỗn loài Tổ thành của các khu rừng nhiệt đới thường phong

phú về các loài hơn là tổ thành các loài cây của rừng ôn đới

- Tầng thứ là sự phân bố theo không gian của tầng cây gỗ theo chiều

thẳng đứng, phụ thuộc vào đặc tính sinh thái học, nhu cầu ánh sáng của các loài tham gia tổ thành Cấu trúc tầng thứ của các hệ sinh thái rừng nhiệt đới thường nhiều tầng thứ hơn các hệ sinh thái rừng ôn đới (Brummitt, 1992) [23]

 Tầng dưới tán: Gồm những cây tái sinh và những cây gỗ ưa bóng

 Tầng thảm tươi: Chủ yếu là các loài thảm tươi

 Thực vật ngoại tầng: Chủ yếu là các loài thân dây leo

Trang 6

- Cấu trúc về mặt thời gian, trạng thái tuổi tác của các loài cây tham

gia hệ sinh thái rừng, sự phân bố này có mối liên quan chặt chẽ với cấu trúc

về mặt không gian

Trong nghiên cứu và kinh doanh rừng người ta thường phân tuổi lâm phần thành các cấp tuổi Thường thì mỗi cấp tuổi có thời gian là 5 năm, nhiều khi là các mức 10, 15, hoặc 20 năm tùy theo đố i tượng và mục đích

- Cấu trúc mật độ phản ánh số cây trên một đơn vị diện tích Phản ảnh

mức độ tác động giữa các cá thể trong lâm phần Mật độ ảnh hưởng đến tiểu hoàn cảnh rừng, khả năng sản xuất của rừng Theo thời gian, cấp tuổi của rừng thì mật độ luôn thay đổi Đây chính là cơ sở của việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong kinh doanh rừng (Baur G N., 1962) [1]

- Độ tàn che là mức độ che phủ của tán cây

 Độ che phủ: Là tỷ lệ diện tích rừng trên một đơn vị diện tích hay lãnh thổ Ví dụ độ che phủ của rừng ở Việt Nam năm 2005 là 35,5%

 Độ tàn che: Là mức độ che phủ của tán cây rừng Người ta thường phân chia theo các mức từ: 0,1; 0,2; 0.9; 1,0

 Mức độ khép tán: Mức độ này thể hiện sự giao tán giữa các cá thể Cũng là chỉ tiêu để xác định giai đoạn rừng

 Phân bố số cây theo đường kính: Biểu đồ và hàm toán học phân bố mật độ cây rừng theo chỉ tiêu đường kính

 Phân bố số cây theo chiều cao: Tương tự như với đường kính chỉ khác là căn cứ theo chiều cao

( http://vi.wikipedia.org/wiki/R%E1%BB%ABng#C.E1.BA.A5u_tr.C3.B Ac_r.E1.BB.ABng )

Theo quan điểm của các nhà lâm học thì cấu trúc rừng (forest

structure) là sự sắp xếp tổ chức nội bộ các thành phần trong hệ sinh thái rừng

mà qua đó các loài có đặc tính sinh thái khác nhau có thể chung sống hài hòa

Trang 7

và đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn phát triển nhất định của tự nhiên, (Ngô Quang Đê, Triệu Văn Hùng, Phùng Ngọc Lan, 1986) [9] Trên quan điểm sản lượng thì cấu trúc rừng là sự phân bố kích thước của loài và cá thể trên diện tích rừng, (Husch, B 1982) [24] Như vậy có thể nói cấu trúc rừng nói riêng và cấu truc thảm thực vật nói chung là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, là kết quả của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống Xét trên quan điểm biện chứng thì cấu trúc phản ánh mối quan hệ giữa sinh vật với nhau và giữa sinh vật với môi trường Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc chính là hình thái bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái Trên quan điểm sản lượng thì cấu trúc rừng phản ánh sức sản xuất của rừng trên từng điều kiện lập địa cụ thể

Việc nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên đã được nhiều tác giả trong

và ngoài nước đề cập đến với những nghiên cứu từ định tính ban đầu đến định lượng chính xác nhờ ứng dụng của toán thống kê và các phần mềm tính toán trên máy vi tính Các quy luật kết cấu của hệ sinh thái rừng đã được các tác giả lượng hóa và mô hình hóa nhằm khái quát hóa các quy luật tự nhiên Bên cạnh đó các quy luật phân bố, tương quan của một số nhân tố điều tra cũng được các tác giả quan tâm nghiên cứu Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như sau:

1.2 Nghiên cứu về cấu trúc rừng trên thế giới

1.2.1 Mô tả hình thái cấu trúc rừng

Về cấu trúc rừng là sự biểu hiện bên ngoài những mối quan hệ bên trong giữa thực vật rừng với nhau, giữa chúng với môi trường sống Đặc biệt

là đối với rừng mưa nhiệt đới với sự đa dạng và phong phú của nó đã cuốn hút nhiều nhà khoa học với kiến thức sâu rộng như:

Trang 8

Kraft (1984) [9] đã tiến hành phân chia những cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất lượng của cây rừng Phân cấp Kraft phản ánh tình hình phân hóa cây rừng tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp với rừng thuần loài nhiều tuổi

Richads P.M (1952) [9] đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới Về mặt hình thái, theo tác giả, đặc điểm nổi bật rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và đều có nhiều tầng

Baur G.N (1964) [1] đã nghiên cứu vấn đề cơ sở sinh thái học nói chung và cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó

đã đi sâu nghiên cứu nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý lâm sinh áp dụng cho rừng mưa

Odum E.P (1971) [9] đã hoàn chỉnh về học thuyết hệ sinh thái trên cơ

sở thuật ngữ hệ sinh thái và đã được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng trên quan điểm sinh thái học

1.2.2 Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng

Khi chuyển đổi từ định tính sang định lượng thì nhiều tác giả đã dùng hàm toán học để mô hình hóa cấu trúc rừng như:

- Nghiên cứu về phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D 1.3 )

Phân bố số cây theo cỡ đường kính là quy luật sắp xếp, tổ hợp các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời gian Đây là quy luật kết cấu cơ bản nhất của kết cấu lâm phần Khi mô phỏng các quy luật phân bố các tác giả phần lớn đều sử dụng các hàm toán học Một số nghiên cứu tiêu biểu như:

Meyer (1934) [21] đã miêu tả phân bố N/D1.3 bằng phương trình toán học có dạng đường cong giảm liên tục và được gọi là phương trình Meyer hay hàm Meyer: N i = ke -di

Trang 9

Trong đó Ni, di là trị số giữa số cây của cỡ đường kính thứ i; k là tham

- Về phân bố số cây theo chiều cao (N/H vn )

Phương pháp này đã được nhiều nhà nghiên cứu rừng nhiệt đới áp dụng

mà điển hình là các công trình của các tác giả P.W Richards (1952), Rollet (1979) [21] Đây là quy luật kết cấu lâm phần theo chiều thẳng đứng, phản ánh sự phân tầng của các cây trong lâm phần theo chiều cao

- Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính thân cây

Chiều cao vút ngọn và đường kính ngang ngực của các cây trong lâm phần luôn tồn tại mối quan hệ chặt Với mỗi loài cây thì mối quan hệ này phụ thuộc vào tuổi cây và cấp đất Các tác giả đã sử dụng các hàm toán học khác nhau để biểu thị mối quan hệ này Có thể kể đến một số tác giả như Tovstolesse, DI (1930) đã nghiên cứu mối quan hệ Hvn/D1.3 cho các cấp đất khác nhau Mỗi cấp đất ứng với mỗi cỡ đường kính lập một đường cong chiều cao bình quân để thiết lập tương quan giữa chiều cao và đường kính bình quân sau đó dùng biểu đồ để nắn tương quan theo dạng đường thẳng Krauter,

G (1958) và Tiurin, A V (1931) khi nghiên cứu tương quan Hvn/D1.3 trên cơ

sở cấp đất và cấp tuổi đã rút ra nhận xét mối quan hệ chiều cao vút ngọn và đường kính không phụ thuộc vào cấp đất, cấp tuổi và cũng không cần xét đến

Trang 10

tác động của hoàn cảnh và tuổi đến sinh trưởng của cây rừng Hay nói cách khác quan hệ đường kính và chiều cao đã bao hàm tác động của hoàn cảnh và tuổi [18]

- Quy luật tương quan giữa đường kính tán và đường kính ngang ngực

Tán cây là chỉ tiêu biểu thị không gian dinh dưỡng của cây và là thong

số để xác định mật độ tối ưu của lâm phần Giữa tán cây và đường kính luôn tồn tại mối quan hệ Qua nghiên cứu nhiều tác giả như: Zieger, Erich (1928): Ahken J.D, Wiling J.W (1948); Hollernoger F (1954) [11] đã đi đến kết luận: Giữa đường kính tán và đường kính ngang ngực có mối quan hệ mật thiết với nhau Đối với mỗi loài cây khác nhau thì mối quan hệ này cũng khác nhau nhưng phổ biến là dạng phương trình đường thẳng: Dt = a + bD1.3

Tóm lại: Các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng trên thế giới là rất

phong phú và đa dạng Có nhiều công trình nghiên cứu công phu đóng góp không chỉ cơ sở lý luận mà còn đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng

1.3 Ở Việt Nam

1.3.1 Phân loại rừng

Loestchau (1960) đã đưa hệ thống phân loại rừng theo trạng thái hiện tại để đáp ứng nhu cầu kinh doanh rừng, điều tra rừng gỗ nhỏ ở Quảng Ninh Đến năm 1966 công trình này được bổ sung và được sử dụng rộng rãi với tên gọi: “Phân chia kiểu trạng thái và phương hướng kinh doanh rừng hỗn giao thường xanh lá rộng nhiệt đới Công trình này sau đó được Viện Điều tra Quy hoạch rừng cải tiến cho phù hợp với đặc điểm nước ta Thái Văn Trừng (1978) [17] đã dựa vào 4 tiêu chuẩn đó là: Dạng sống, ưu thế của những thực vật trong cây lập quần, độ tàn che, hình thái sinh thái lá và trạng thái mùa của tán lá để phân chia rừng Việt Nam thành 14 kiểu thảm thực vật Nguyễn Hồng Quân, Trương Hồ Tố, Hồ Viết Sắc đã dựa vào các chỉ tiêu như trạng thái hiện tại, mức độ bị tác động, cấp sản xuất, khả năng tái sinh tự nhiên tình trạng đất

Trang 11

đai để tiến hành phân loại rừng thưa lá rộng rụng lá (rừng khộp) nhằm phục

vụ cho công tác điều chế loại rừng này

Vũ Đình Huề (1984) đề nghị phân loại rừng theo kiểu rừng với các chỉ tiêu là khả năng tái sinh tự nhiên, tình hình đất đai, trạng thái rừng và loại hình xã hợp thực vật Vũ Biệt Linh (1984) lại đề xuất hướng phân chia trạng thái rừng theo mục đích, nội dung, phương thức, biện pháp kinh doanh để tạo điều kiện kinh doanh rừng hiệu quả Bảo Huy (1993) [11] đã dùng hệ thống phân loại của Loestchau để phân chia trạng thái rừng Bằng lăng ở Tây Nguyên

Như vậy việc phân chia loại rừng là cần thiết đối với sản xuất, nghiên cứu khoa học cũng như bảo tồn rừng Cấu trúc của thảm thực vật rừng chính

là cơ sở của việc phân chia Tùy từng mục tiêu cụ thể mà việc phân loại cũng

sử dụng các phương pháp khác nhau, với những yêu cầu đòi hỏi khác nhau cho phù hợp với mục đích và đối tượng sử dụng

1.3.2 Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng

- Phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D 1.3 )

Với rừng tự nhiên hỗn loài khác tuổi, Đồng Sỹ Hiền (1974) chỉ ra rằng dạng phân bố N/D1.3 là dạng phân bố giảm nhưng do trong quá trình khai thác chọn thô không theo nguyên tắc, nên đường thực nghiệm có dạng hình răng cưa và ông đã chọn hàm Meyer để nắn phân bố N/D1.3 ở rừng tự nhiên lá rộng nước ta và dùng họ đường cong Poisson để nắn phân bố thực nghiệm cho rừng tự nhiên miền Bắc nước ta

Nguyễn Hải Tuất (1996) [21] sử dụng phân bố khoảng cách mô tả phân

bố thực nghiệm dạng hình “j” với điểm cực đại nằm ở giữa cỡ đường kính thứ hai Ông cũng sử dụng hàm phân bố giảm, phân bố khoảng cách để biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh và sử dụng hàm Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể

Trang 12

Lê Sáu (1996) khi nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên đã khẳng định sự phù hợp hơn hẳn của phân bố Weibull trong việc mô tả quy luật phân bố N/D cho tất cả mọi trạng thái rừng tự nhiên, cho dù phân bố thực nghiệm đó ở dạng nào đi nữa

Vũ Tiến Hinh (1985, 1986, 1990) [21] đã thử nghiệm một số phân bố

lý thuyết để nắn phân bố N-D1.3 rừng trồng một số loài cây và kết luận phân

bố Weibull là phân bố thích hợp nhất

- Phân bố số cây theo cỡ chiều cao (N/H vn )

Đối với rừng tự nhiên lá rộng nước ta, Đồng Sỹ Hiền (1974) phân bố N/Hvn trong từng loài lâm phần thường có nhiều đỉnh, phản ánh mức độ phức tạp của rừng chặt chọn Phạm vi biến động về chiều cao từ (0,3 -2,5) H trong từng loài có thể hẹp hơn Hệ số biến động chiều cao với lâm phần tự nhiên 24

- 40%, trong phạm vi loài ưu thế 12 – 34% Một số tác giả như Bảo Huy (1993) [11], Đào Công Khanh (1996) [12] đã nghiên cứu phân bố N-Hvn để tìm ra tầng tích tụ tán cây và thấy rằng phân bố N-Hvn là phân bố một đỉnh, nhiều đỉnh phụ hình răng cưa và thích hợp với hàm Weibull Nguyễn Thành Mến (2005) sử dụng hàm Weibull, Meyer, khoảng cách để mô phỏng quy luật phân bố N-Hvn ở các khu rừng lá rộng thường xanh sau khai thác ở Phú Yên

và thấy rằng hàm Meyer và hàm khoảng cách là không phù hợp, chỉ có hàm Weibull là có khả năng mô phỏng tốt quy luật phân bố này

- Tương quan chiều cao với đường kính (H/D 1.3 )

Đồng Sỹ Hiền đã sử dụng phương trình logarit hai chiều hoặc hàm mũ

để mô tả quan hệ H/D đồng thời cho thấy khả năng sử dụng một phương trình chung cho cả nhóm cây có tương quan H/D thuần nhất với nhau Theo Vũ Đình Phương (1975) [15] thì có thể lập biểu chiều cao lâm phần Bồ đề tự nhiên theo phương trình bậc 2 dạng parabol mà không cần phân biệt cấp đất

và tuổi Đối với lâm phần Thông đuôi ngựa có thể dùng phương trình logarit

Trang 13

một chiều để xác lập quan hệ H/D1.3 (Phạm Ngọc Giao, 1995; Vũ Nhâm, 1998) Đào Công Khanh (1996), Trần Cẩm Tú (1999) [19] đã chọn phương trình: log Hvn = a+ blogD1.3 để biểu diễn mối quan hệ chiều cao vút ngọn và đường kính ngang ngực cho rừng tự nhiên hỗn loài ở Hương Sơn- Hà Tĩnh

Tất cả những công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng trên thế giới và ở Việt Nam rất phong phú và đa dạng, được tiến hành trên nhiều đối tượng nghiên cứu là những định hướng, cơ sở lý luận rất rõ nét cho nghiên cứu của luận văn Tuy nhiên tại Vườn Quốc gia Ba Vì công tác nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu về cấu trúc rừng nói riêng mới chỉ tập trung cho khu vực vùng lõi, nơi được bảo tồn nghiêm ngặt chứ chưa chú ý nhiều đến phân khu phục hồi sinh thái với một diện tích khá lớn, đang diễn ra các quá trình phục hồi, diễn thế và từng bước hỗ trợ chức năng cho khu vực trung tâm của Vườn Đề tài nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện cho nhiệm vụ nghiên cứu của Vườn, làm cơ sở cho đánh giá xu hướng diễn thế và đề xuất giải pháp phục hồi rừng trên những địa bàn này của Vườn Quốc gia Ba Vì

Trang 14

Chương 2 MỤC TIÊU- GIỚI HẠN- NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu chung

Thông qua việc phân tích một số yếu tố cấu trúc rừng bước đầu đánh giá xu hướng diễn thế rừng trong phân khu phục hồi sinh thái thuộc Vườn Quốc gia Ba Vì làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho đối tượng rừng này

Nghiên cứu được tiến hành trên 2 ô tiêu chuẩn định vị đã được thiết lập

ở trạng thái rừng phục hồi trong hai khu vực khác nhau trong phân khu phục hồi sinh thái là khu vực Khánh Thượng (sườn tây) và Suối Ổi (sườn đông) tại VQG Ba Vì, huyện Ba Vì, Hà Nội từ năm 2006 và điều tra bổ sung vào cuối năm 2008 Các trạng thái rừng thuộc trạng thái từ IIa đến IIb trên vị trí sườn của VQG Ba Vì, là các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy và sau khai thác kiệt Đất vẫn còn tính chất đất rừng

Về nội dung đề tài chỉ nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc cơ bản và các chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây cao, đặc điểm cấu trúc của lớp cây tái sinh và tình hình cây bụi thảm tươi dưới tán rừng

Trang 15

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu sinh trưởng và động thái của lâm phần

- Sinh trưởng D1.3

- Sinh trưởng Hvn

- Sinh trưởng Hdc

- Sinh trưởng Dt

2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây cao

- Cấu trúc tổ thành tầng cây cao

- Cấu trúc mật độ tầng cây cao

- Quy luật phân bố số cây theo đường kính

- Quy luật phân bố số cây theo chiều cao

- Tương quan Hvn- D1.3

2.3.3 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc lớp cây tái sinh

- Cấu trúc tổ thành lớp cây tái sinh

- Cấu trúc mật độ lớp cây tái sinh

2.3.4 Nghiên cứu cây bụi, thảm tươi

Về thành phần loài, tỷ lệ che phủ, tình hình sinh trưởng

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp luận

Hệ sinh thái rừng là một thực thể phức tạp tồn tại mối quan hệ qua lại

giữa các cá thể trong quần thể và giữa chúng với môi trường sinh thái tạo thành một thể thống nhất, có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau và luôn vận động theo quy luật tự nhiên và hướng đến sự đa dạng, tính ổn định và hoàn thiện về chức năng mà trong đó cây rừng luôn giữ vị trí chủ đạo Sự thay đổi về tổ thành tầng cây cao sẽ kéo theo sự thay đổi của các thành phần khác trong hệ sinh thái rừng

Trang 16

Từ khi hình thành thì giữa cây rừng và các yếu tố hoàn cảnh đã nảy sinh các mối quan hệ phức tạp Ban đầu là sự thích nghi của cây rừng với các điều kiện khí hậu, đất đai Ở giai đoạn này rừng thường có cấu trúc đơn giản

và chưa có sự cạnh tranh giữa các cây rừng với nhau Mối quan hệ giữa các cây rừng trong giai đoạn này chủ yếu là mối quan hệ tương hỗ, tạo điều kiện sống tốt hơn cho các loài cây trong hệ sinh thái rừng Theo thời gian cây rừng lớn lên, rừng bước vào giai đoạn khép tán, giữa các cây rừng xảy ra sự cạnh tranh về không gian sống như cạnh tranh về ánh sáng, dinh dưỡng, nước… làm xuất hiện hiện tượng phân hóa Những cây thích nghi hơn với điều kiện

tự nhiên sẽ sinh trưởng vượt trội chiếm tầng ưu thế, chèn ép các cây khác, ngược lại có những cây do sức đề kháng yếu, khả năng thích nghi kém hơn sẽ

bị chèn ép ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và xảy ra hiện tượng phân hóa giữa các cây rừng Điều này dẫn đến sự biến đổi về thành phần và số lượng loài Quá trình này diễn ra trong một thời gian nhất định cho đến khi rừng đạt được sự ổn định hay còn gọi trạng thái rừng già (rừng cực đỉnh)

Theo tiến trình của chọn lọc tự nhiên thì các thành phần cấu trúc rừng luôn biến đổi không ngừng và các quá trình này được lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi rừng đạt được cấu trúc bền vững với tính đa dạng và độ ổn định cao nhất Với rừng thứ sinh nghèo kiệt, rừng phục hồi sau nương rẫy thì quá trình này thường bắt đầu là những loài cây tiên phong ưa sáng, mọc nhanh, tuổi thọ ngắn, giá trị thấp được thay thế dần bằng các loài cây gỗ lớn lâu năm

Hệ sinh thái có kết cấu rừng đơn giản, kém ổn định được thay thế bằng hệ sinh thái rừng có kết cấu phức tạp, ổn định hơn Việc nghiên cứu cấu trúc rừng sẽ đánh giá được hiện trạng rừng, giúp các nhà lâm học dự đoán được xu hướng diễn thế của rừng trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp tác động vào rừng nhằm sớm đạt được một hệ sinh thái rừng mong muốn mà đói với một Vườn Quốc gia thì chính là trạng thái rừng tự nhiên hoặc gần với tự nhiên nhất

Trang 17

Hình 2.1: Sơ đồ các bước nghiên cứu

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.4.2.1 Phương pháp kế thừa

Kế thừa các tài liệu về thảm thực vật, thổ nhưỡng, khí hậu, lịch sử sử dụng đất, sử dụng rừng tại khu vực nghiên cứu

Kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học về thảm thực

vật rừng có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài đã được công bố

Kế thừa kết quả khảo sát phân khu phục hồi sinh thái Vườn Quốc gia

Ba Vì năm 2004 và kết quả điều tra trên hai ô tiêu chuẩn định vị được xác lập

ở hai khu vực Khánh Thượng và Suối Ổi

Thu thập, kế thừa tài liệu

Điều tra, thu thập số liệu ngoại nghiệp

Tình hình cây bụi thảm tươi

Sinh trưởng

tầng cây cao

Đặc điểm cấu trúc lớp cây tái sinh

Đặc điểm cấu trúc tầng cây cao

Xử lý, phân tích kết quả nghiên cứu

Đề xuất biện pháp kỹ thuật

Trang 18

2.4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu ngoài hiện trường

- Bố trí, thiết lập các OTC nghiên cứu định vị: Năm 2004 Vườn Quốc

gia Ba Vì tiến hành điều tra khảo sát để lựa chọn vị trí lập ô tiêu chuẩn định vị trong phân khu phục hồi sinh thái của vườn để phục vụ cho việc theo dõi diễn biến của các thảm thực vật rừng trên diện tích này Trên cơ sở bản đồ thảm thực vật và địa hình của VQG, căn cứ vào diện tích, ranh giới của phân khu phục hồi sinh thái của Vườn mà 40 ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời có diện tích 2000m2 (40x 50m) được lập để đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng và cấu trúc rừng của tầng cây cao Kết quả khảo sát đã lựa chọn hai khu vực tiêu biểu cho phân khu phục hồi sinh thái của Vườn Quốc gia là Khánh Thượng (tọa độ địa lý: 105036’00” kinh độ đông; 21003’66” vĩ độ bắc) đại diện cho khu vực sườn phía tây và Suối Ổi (105039’96” kinh độ đông; 21007’21” vĩ độ bắc) đại diện cho sườn đông để thiết lập các ô tiêu chuẩn (OTC) định vị phục vụ cho việc nghiên cứu Việc lập OTC định vị được tiến hành vào cuối năm 2005, đến năm 2006 được đo đếm thu thập số liệu lần đầu tiên, năm 2008 tiếp tục

đo đếm một lần nữa

- Việc điều tra cấu trúc tầng cây cao được tiến hành trên các OTC

Diện tích ô tiêu chuẩn là 10.000m2 (1ha) Các OTC được mô tả về vị trí, địa

điểm, độ cao tuyệt đối, hướng phơi, độ dốc… và dùng cọc mốc đóng ở 4 góc, phát dọn ranh giới, xác định tọa độ, đánh dấu trên bản đồ để định vị Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra thì các OTC được chia thành 16 OTC thứ cấp, mỗi OTC thứ cấp có kích thước 25x 25m (625 m2) Tiến hành điều tra chi tiết tầng cây cao trên tất cả các OTC thứ cấp rồi sau đó gộp số liệu lại

để tính toán theo các chỉ tiêu: Tên loài cây, sinh trưởng đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn, chiều cao dưới cành, đường kính tán, đánh giá chất lượng theo các cấp: tốt, trung bình, xấu của tất cả các cây thuộc tầng cây cao

Trang 19

trong OTC Kết quả điều tra được ghi vào mẫu biểu điều tra tầng cây cao như dưới đây

Mẫu biểu 01: Biểu điều tra tầng cây cao

- Điều tra cây tái sinh: Cây tái sinh là những cây còn non sống dưới tán

rừng, được tính từ cây mạ cho đến khi chúng đủ lớn để tham gia vào tầng tán chính của rừng Trong mỗi OTC thứ cấp lập 05 ô dạng bản (ODB) có kích thước 2x 2m, 4 ô ở 4 góc và một ô ở tâm OTC thứ cấp để tiến hành điều tra lớp cây tái sinh và tình hình cây bụi thảm tươi

Các chỉ tiêu điều tra về cây tái sinh như tên loài cây, cấp chiều cao, nguồn gốc và phân cấp chất lượng Cấp chiều cao được chia thành 3 cấp

<0,5m; 0,5-1m và >1m; Nguồn gốc cây được xác định từ hạt hay từ chồi; Chất lượng sinh trưởng được chia theo các tiêu chí: Cây tốt (A) là cây thân thẳng, sinh trưởng tốt, tán lá phát triển tròn đều, cây không bị cụt ngọn hoặc khuyết tật, không bị nhiễm sâu bệnh hại; Cây xấu (C) là cây lệch tán, cây cong queo, cụt ngọn, khuyết tật, sinh trưởng kém, bị sâu bệnh hại; Cây trung bình (B) là những cây có chỉ tiêu ở mức độ trung gian giữa cây tốt và cây xấu

Trang 20

Kết quả điều tra tái sinh được ghi vào mẫu biểu điều tra tái sinh dưới đây:

Mẫu biểu 02: Biểu điều tra cây tái sinh

Độ dốc: ……… Hướng dốc: ………… Vị trí:………

STT ODB Loài cây Cấp chiều cao Nguồn gốc Sinh trưởng

- Điều tra cây bụi thảm tươi

Trên các ô dạng bản, sau khi điều tra tái sinh thì tiến hành điều tra cây bụi thảm tươi nhằm xác định tên loài cây bụi thảm tươi, chiều cao trung bình,

độ che phủ, tình hình sinh trưởng Kết quả điều tra cây bụi thảm tươi được ghi theo mẫu biểu 03 dưới đây

Mẫu biểu 03 Biểu điều tra cây bụi thảm tươi

Độ dốc: ……… Hướng dốc: ………… Vị trí:………

STT ODB Loài cây chủ yếu H TB (m) Độ che phủ (%) Sinh trưởng

2.4.2.3 Phương pháp xử lý nội nghiệp

- Số liệu cấu trúc tầng cây cao năm 2004 của mỗi khu vực được lựa chọn từ kết quả điều tra 05 OTC điển hình tạm thời có vị trí gần OTC định vị của khu vực đó nhất

Trang 21

- Số liệu điều tra được tính toán xử lý theo phương pháp phân tích thống kê trong lâm nghiệp bằng việc sử dụng các phần mềm Excel và SPSS

- Các chỉ tiêu sinh trưởng được tính toán theo phương pháp thống kê

mô tả với mức ý nghĩa là 5%

- Tương quan Hvn- D1.3 được xác định bằng hàm tuyến tính y= a+ bx

- Tổng tiết diện ngang G được tính theo công thức:

Trong đó di là đường kính ngang ngực của các cây có d≥ 6cm

- Tỷ lệ tổ thành của tầng cây cao được tính theo chỉ số quan trọng IV% theo phương pháp của Daniel Marmillod thông qua số cây N(%) và tiết diện ngang G(%) theo công thức:

Trong đó các loài cây nào có chỉ số IV> 5% thì là loài có ý nghĩa sinh

thái, còn nhóm loài nào chiếm từ 50% trở lên thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế

- Hệ số tổ thành của tầng cây cao được tính theo công thức:

Trong đó: A là hệ số tổ thành của một loài cây

m là số cá thể mỗi loài trong OTC

n là tổng số cây điều tra trong OTC

- Việc mô hình hóa các quy luật cấu trúc phân bố số cây theo cỡ kính

và cỡ chiều cao được dựa vào các phân bố thường gặp trong lâm nghiệp như phân bố khoảng cách, phân bố Weibull và phân bố Meyer

- Tương quan Hvn- D1.3 được xác định bằng hàm Regression như sau: trong Excel chọn Tools\Data Analysis\Regression

Trang 22

- Tổ thành cây tái sinh được tính theo công thức:

Trong đó: Ki là hệ số tổ thành của loài cây i

Ni là số cá thể của loài i

n là tổng số cây điều tra

- Mật độ cây tái sinh được tính theo công thức:

Trong đó: N/ha là mật độ cây

Sdt là tổng diện tích các ODB

n là tổng số cây tái sinh điều tra

- Chất lượng cây tái sinh, tỷ lệ cây tái sinh triển vọng được tính bằng công thức tính phầm trăm thông thường

- Hàm phân bố lý thuyết được nắn bằng phần mềm XLSTAT Trong

thanh công cụ của phần mềm XLSTAT được cài trên nền Microft Excel chọn

Modeling data\Distribution fitting rồi Enter Khi hộp thoại hiện ra, trong General vào hộp Data để khai báo số liệu đầu vào; vào hộp Distribution để

chọn phân bố lý thuyết dự kiến Trong Options chọn Chi-square, trong

Intervals chọn Number và khai báo số tổ (được tính theo công thức m= 5log

N) vào ô trống kế bên rồi nhấn OK Phần mềm sẽ tính toán và lựa chọn cho ta

các thông số để xác định được hàm lý thuyết theo dạng đã chọn gần nhất với phân bố thực nghiệm và kiểm tra sự tồn tại của hàm lý thuyết này

Trang 23

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI

KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Điều kiện tự nhiên của VQG Ba Vì

+ Phía Tây giáp vùng đệm thuộc các xã Phú Minh, thuộc huyện Kỳ Sơn; xã Khánh Thượng, Minh Quang huyện Ba Vì- Hà Nội

3.1.2 Địa hình

Ba Vì là một vùng núi trung bình, núi thấp và đồi trung du tiếp giáp với vùng bán sơn địa Vùng núi gồm các dãy núi liên, nổi lên rõ nét là các đỉnh như Đỉnh Vua cao 1.296m, đỉnh Tản Viên cao 1.227m, đỉnh Ngọc Hoa cao 1131m, Đỉnh Viên Nam cao 1.031m

Địa hình vùng núi thấp có độ cao tuyệt đối từ 300m đến 700m Địa hình vùng đồi có độ cao tuyệt đối < 300m, bị chia cắt bởi những khe hẹp và

Trang 24

những thung lũng suối hẹp Hướng của cả hai khối núi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, độ cao của hai khối núi giảm dần ra xung quanh tạo nên một số bậc địa hình đặc trưng với các đỉnh, dải đồi lượn sóng nối liền hai khối núi với nhau Sườn của hai khối núi Ba Vì và Viên Nam có dạng bất đối xứng, sườn Tây dốc hơn sườn Đông Hướng dốc chính thoải dần theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, độ dốc bình quân trên 200

Hình 3.1: Vườn Quốc gia Ba Vì – Hà Nội (nguồn Google Earth)

3.1.3 Thổ nhưỡng

Nền địa chất khu vực có phân vị địa tầng cổ nhất thuộc các đá biến chất tuổi Proterozoi, gồm các đá gnai, đá phiến biotit - silimanit xen với gnai biotit, đá hoa Nền chính là các loại đá phiến thạch sét, sa thạch, đá hỗn hợp,

đá Pocphirit, sa thạch xen những vỉa quắcrit, phù sa cổ ở một số khu vực đồi núi thấp Có thể tổng hợp theo các nhóm đá điển hình sau:

Trang 25

- Nhóm đá macma kiềm và trung tính

3.1.4 Khí hậu

Khí hậu nhiệt đới ẩm với mùa đông lạnh và khô

Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là 23,40C

Ở vùng thấp: nhiệt độ tối thấp xuống tới 2,70C; nhiệt độ tối cao lên tới

420c Ở độ cao 400m nhiệt độ trung bình năm là 20,6oC

Từ độ cao 1.000m trở lên nhiệt độ chỉ còn 160C Nhiệt độ thấp tuyệt đối có thể xuống 0,20C Nhiệt độ cao tuyệt đối 33,10C

Lượng mưa trung bình năm 2.500 mm (phân bố không đều trong năm, tập trung vào các tháng 7, 8)

Độ ẩm không khí 86,1% (vùng thấp thường khô hanh vào tháng 1, tháng 12

Từ cốt 400 trở lên không có mùa khô Mùa đông có gió Bắc với tần suất > 40% Mùa hạ có gió Đông Nam với tần suất 25% và hướng Tây Nam.)

Trang 26

3.1.5 Thủy văn

Các suối chính chi phối chế độ thủy văn trong khu vực gồm có: Suối Cái, suối Mít, suối Ninh, Ngòi Lạt, suối Yên Cư, suối Bơn, suối Quanh, suối Cầu Rổng, suối Đô, Chằm Me, Chằm Sỏi

3.1.6 Tài nguyên đa dạng sinh học

- Hiện trạng sử dụng đất đai, tài nguyên rừng

Tổng diện tích tự nhiên toàn Vườn là 10.782,7 ha; kết quả phúc tra chi tiết hiện trạng sử dụng đất của Vườn như sau:

Bảng 3.1: Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng Vườn Quốc gia Ba Vì

Trong tổng diện tích 10.782,7 ha, diện tích của vườn tập trung chủ yếu

ở tỉnh Hà Tây (cũ) với 56,9% còn lại 43,1% diện tích thuộc tỉnh Hòa Bình Diện tích đất lâm nghiệp toàn vườn chiếm 98,4% tổng diện tích tự nhiên, trong đó diện tích đất có rừng 76,0%, phân bố nhiều nhất tại xã Ba Vì với 1.407,0 ha Diện tích không có rừng 22,4%, các loại đất khác 1,6%; chủ yếu

là nương rẫy

Trang 27

Diện tích rừng trung bình và rừng nghèo tập trung ở tỉnh Hà Tây với 883,9 ha Trên địa bàn tỉnh Hòa Bình chỉ còn rừng phục hồi với diện tích 1.270,9 ha, phân bố chủ yếu ở xã Yên quang, huyện Lương Sơn với 514,6 ha

- Tài nguyên thực vật:

Vườn Quốc gia Ba Vì có các kiểu thảm thực vật như sau:

* Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

Kiểu rừng này có diện tích 460,7 ha , chiếm 4,3% tổng diện tích, phân

bố thành các mảng tương đối lớn ở độ cao dưới 700m xung quanh sườn núi

Ba Vì Ưu hợp của những loài cây trong các họ ưu thế như: họ Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Dâu tằm (Fagaceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Dậu (Fabaceae), họ Xoài (Anacadiaceae), họ Trám (Burceraceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Sến (Satotaceae)

*Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp

Kiểu rừng này có diện tích 423, 2 ha, chiếm 3, 8% tổng diện tích Kiểu rừng này đã bị tác động nhưng còn giữ được tính nguyên sinh về cơ bản, phân bố chủ yếu trên các đỉnh Ngọc hoa - Tản viên - Đỉnh Vua - Viên Nam - Vua bà Độ tàn che của rừng > 0,8 Thực vật chủ yếu thuộc họ Dẻ (Fagaceae),

họ Re (Lauraceae), họ Ngọc lan (Magnoliaceae), họ Thích (Aceraceae), họ Chè (Theaceae), họ Sến (Sapotaceae), họ Nhân Sâm (Araliaceae), họ Đỗ quyên (Ericaceae), họ Hoa hồng (Rosaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae),

họ Trâm (Myrtaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Na (Annonaceae)

* Rừng thứ sinh phục hồi

Diện tích 3.031, 0 ha; chiếm 28, 1%; phân bố rải rác khắp Vườn Quốc gia Bao gồm rừng thứ sinh phục hồi nhiệt đới (26, 6%) và rừng thứ sinh phục hồi á nhiệt đới núi thấp (1, 5%) Thành phần loài và cấu trúc rừng đơn giản,

một tầng, phổ biến là các loài Hu đay (Trema oriantalis), Ba gạc lá xoan

Trang 28

(Euvodia meliaefolia), đường kính có thể đạt tới 18- 20cm, chiều cao 17-

18m, dưới tán rừng đó xuất hiện các loài cây nguyên sinh mọc trở lại

* Rừng thứ sinh hỗn giao

Rừng thứ sinh hỗn giao chiếm diện tích nhỏ với 274, 0 ha, phân bố chủ yếu ở hai xã Ba Vì và Vân Hòa Loài cây gỗ chủ yếu là các loài: Dẻ, Re, Kháo, Chẹo, Ngát, Thị rừng, Dung, Chân chim… Tre nứa thường tạo thành

đám riêng chủ yếu là Vầu nhỏ, Tre sặt, Nứa lá nhỏ (Schizostachyum dullooa)

Mật độ, đường kính cây nhỏ do trước đây bị khai thác Thực vật ngoại tầng gồm các loài Phong lan, dây leo thuộc họ Na, họ Trinh nữ, họ Đậu, họ Vang,

họ Trúc đào, họ Cà phê… Loại rừng này kém giá trị kinh tế nhưng có vai trò giữ đất, chống xói mòn và tạo môi trường sống cho một số nhóm động vật

hoang dã

* Rừng trồng

Rừng trồng có diện tích 3.992,0 ha, chiếm 37,0% diện tích tự nhiên, được trồng ở các xã: Ba Vì, Khánh Thượng, Yên Bài, Vân Hòa, Yên Quang, Phú Minh, Dân Hòa Các loài cây trồng chủ yếu gồm: Lim xanh, Sến, Thông,

Sa mộc, Long não, Giổi, Muồng đen, Trám, Sấu, … Nhìn chung cây sinh trưởng bình thường

* Thảm cỏ cây bụi, nương rẫy

Thảm cỏ, cây bụi, nương rẫy có diện tích 2.497 ha; phân bố cả ở 2 khu

Ba Vì và Viên Nam, nhưng chủ yếu ở khu vực núi Viên Nam Loài thực vật chủ yếu là các loài lau lách, dây sắn, Bìm bìm, Hu đay, Ba soi, Lành ngạnh Thảm này ít có giá trị kinh tế cần được phục hồi rừng bằng các biện pháp trồng mới và khoanh nuôi tái sinh (KNTS) tự nhiên để tăng vai trò giữ đất,

chống xói mòn và tạo môi trường sống cho động vật hoang dã

Do mức độ tác động của con người đã tạo nên nhiều trạng thái rừng khác nhau như Rừng trung bình, rừng nghèo, rừng phục hồi, rừng trồng Khu

Trang 29

vực huyện Lương Sơn và Kỳ Sơn có diện tích đất trống đồi núi trọc khá lớn Đây là một thách thức nhưng cũng là một tiềm năng để phát triển lâm nghiệp Khu vực có cảnh quan đẹp nếu rừng được phục hồi, có thể phát triển du lịch sinh thái góp phần bảo vệ thiên nhiên và phát triển kinh tế của địa phương

* Đa dạng thực vật

Theo danh mục thực vật đã được thu thập mẫu và kết quả điều tra bổ sung năm 2008, cho tới nay, vườn quốc gia Ba Vì có 160 họ, 649 chi, 1.201 loài thực vật bậc cao có mạch nằm trong 14 yếu tố địa lý thực vật (tính theo đơn vị cơ bản chỉ = gennus)

Cây gỗ quí hiếm: có 36 loài, điển hình là Bách xanh (Calocedrus

macrolepis), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Sến mật (Madhca pasquieri), Giổi lá bạc (Michelia cavaleriei), Phỉ ba mũi (Cephalotaxus manii), Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus oliver), Trầm (Aquylaria crassna),

Re hương (Cinnamomuum iners), Vù hương (Cinnamomuum balansae), Mắc liễng (Eberhardtia tonkinensis), Đinh thối (Hernandia brilletti), Thiết đinh

(Markhamia stipullata), Giổi xanh (Michelia mediocris),

Thực vật đặc hữu và mang tên Ba Vì: loài được gọi là đặc hữu Ba Vì

theo thời điểm (Ba vi’s endemic plants by point of time) có 49 loài, có 36 loài

nằm trong danh lục đỏ (Red List), điển hình như Mua Ba Vì (Allomorphia

baviensis), Thu hải đường Ba Vì (Begonia baviensis), Cà lồ Ba Vì

(Caryodaphnopsia baviensis), Bời lời Ba Vì (Litsea baviensis),

Cây có giá trị sử dụng gỗ: có185 loài

Thực vật cây thuốc: có tới 503 loài thuộc 118 họ, 321 chi chữa 33 loại

bệnh và chứng bệnh khác nhau, trong đó có nhiều loài thuốc quý như: Hoa

tiên (Asarum maximum), Huyết đằng (Sargentodoxa cuneata), Bát giác liên

(Podophyllum tonkiensis), Râu hùm (Tacca chantrieri), Hoằng đằng (Fibraurea tinctoria)

Trang 30

- Tài nguyên động vật:

Theo kết quả điều tra bổ sung mới nhất năm 2008, khu hệ động vật có xương sống (ĐVCXS) ở VQG Ba Vì thống kê được 342 loài Trong đó, có 3 loài đặc hữu và 66 loài quí hiếm Trong 342 loài đã ghi nhận, có 23 loài có mẫu được sưu tầm hoặc đang được lưu trữ ở địa phương, 141 loài được quan sát ngoài thực địa và 183 loài theo phỏng vấn thợ săn hoặc tập hợp qua tài liệu đã có Yếu tố đặc hữu của khu hệ ĐVCXS ở Ba Vì mới chỉ được ghi nhận được ở 2 lớp Bò sát và Lưỡng thê Đó là các loài Thằn lằn tai Ba Vì

(Tropidophous baviensis), Ếch vạch (Chaparana delacouri)

Nhóm động vật quí hiếm ở VQG Ba Vì có tới 66 loài, phần lớn là loài

động vật nhỏ, hoặc trung bình Các loài quý hiếm như Cầy vằn (Chrotogale

owstoni), Cầy mực (Artictis binturong), Cầy gấm (Prionodon pardicolor);

Beo lửa (Felis temmincki), Cu li lớn (Nycticebus coucorg); Gấu ngựa(Selenarctor thibetanus); Chồn bạc má (Melogle personata); Gà lôi trắng

(Lophura nycthemara); Dù dì phương đông (Ketupa zeylonesis); Tắc kè (Gekko gekko); Ô rô vẩy (Acanthosaira lepidogasta); Kỳ đà hoa (Varanus salrator); Hổ mang chúa (Ophiophagus hannah); Rắn hổ mang (Maja maja);

Rắn lục núi (Trimeresurus monticola) ,… và các loài đặc hữu hẹp hiện có ở

VQG Ba Vì

3.3 Điều kiện kinh tế- xã hội

3.3.1 Hiện trạng dân số, dân tộc và lao động trong khu vực

- Phân bố dân cư

Dân số trong khu vực đến tháng 12/2007 có 20.569 hộ, 89.981 người Tính trung bình trong toàn vùng mỗi hộ gia đình có 4,37 người

Mật độ dân số trung bình trong khu vực là 221 người /km2 Mật độ dân

số ở các xã không đều nhau, thấp nhất ở xã Ba Vì là 75 người /km2,cao nhất ở

xã Ba Trại là 540 người/ km2

Trang 31

Tỷ lệ sinh ở cỏc xó giao động từ 1,0 – 1,68%, trung bỡnh là 1,38%, kết quả này cho thấy rừ chờnh lệch về tỷ lệ sinh ở cỏc xó tương đối lớn Đõy là khú khăn lớn cho quỏ trỡnh phỏt triển kinh tế xó hội trong khu vực

- Thành phần dõn tộc trong khu vực điều tra

Trong khu vực điều tra cú 4 dõn tộc sinh sống: Mường, Kinh, Dao và Thỏi Cộng đồng dõn tộc Mường cú 69.547 người, chiếm 77,3%; dõn tộc Kinh 20,4%; dõn tộc Dao 2,15% và dõn tộc Thỏi 0,15%

Trong cỏc xó trờn khu vực của Vườn dõn tộc Mường và Kinh sống xen lẫn nhau Dõn tộc Dao cú ở 3 xó: Ba Vỡ 97%, Lõm Sơn 0,6% và Dõn Hoà 3,0% dõn số trong xó Cỏc cộng đồng dõn cư sống xen lẫn nhau đó khụng ảnh hưởng đến việc phỏt triển kinh tế xó hội trờn địa bàn

- Phõn cấp hộ theo thu nhập trong khu vực điều tra

Tỷ lệ hộ nghốo, trung bỡnh, khỏ trong khu vực như sau: Trong toàn khu vực điều tra có 2.121 hộ nghèo, chiếm 10,31% số hộ trong vùng Khánh Th-ợng là xã có tỷ lệ hộ nghèo nhiều nhất: 323 hộ chiếm 19,6 % Đông Xuân

là xã có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất: 28 hộ, chiếm 2,8% số hộ trong xã

Tỷ lệ số hộ khá và giầu trung bình trong khu vực là 14,87%, nh- vậy tỷ

lệ hộ khá và giầu cao hơn so với hộ nghèo Đây là một thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội trong khu vực Các hộ khá, giầu có thể giúp đỡ các hộ

nghèo đi lên trong phát triển kinh tế xã hội của toàn vùng

- Phõn bố lao động theo ngành nghề trong khu vực

Tổng số lao động là 51.558 ng-ời, chiếm 57,33 dân số toàn khu vực Phân bố lao động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp: 46.582 ng-ời chiếm 90,35

% số lao động Lao động nông, lâm nghiệp trong vùng có năng suất thấp do phụ thuộc nhiều và thời tiết, dẫn đến phần lớn dân c- trong vùng chỉ có mức sống trung bình

Trang 32

Lao động trong các lĩnh vực khác chiểm 9,65%, chủ yếu là dịch vụ buôn bán nhỏ, làm thủ công nh- nghề làm chổi đót, do vậy thu nhập không cao, chỉ đảm bảo đời sống th-ờng ngày của gia đình

Trong vùng điều tra do phân bố lao động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp là chủ yếu, nh-ng ít có ngành nghề phụ cho thu nhập, do vậy những tháng nông nhàn, một số lao động d- thừa này đã tác động trực tiếp vào V-ờn Quốc gia Ba Vì

3.3.2 Phân bố diện tích đất tự nhiên

Diện tích đất trong vùng chủ yếu là đất lâm nghiệp, chiếm 44,9%; diện tích đất nông nghiệp chiếm 22,04% Bình quân đất nông nghiệp trên đầu ng-ời thấp, 996 m2/ng-ời (bao gồm cả đất cấy lúa và đất trồng màu) do vậy sản xuất nông nghiệp phần lớn không đủ dùng, dân c- ở các xã phải gia tăng sản xuất bằng các hình thức khác

Diện tích nuôi trồng thuỷ sản chỉ chiếm 1,02%; Ng-ời dân chủ yếu là tận dụng các hồ n-ớc để nuôi, việc đào ao nuôi thuỷ sản rất ít, do kinh phí đào

ao lớn, ng-ời dân không có đủ vốn để làm

Đất nông nghiệp trong vùng ít, hệ thống thuỷ lợi ch-a đồng bộ nên diện tích cấy 1 vụ lúa còn nhiều ở các xã Diện tích trồng màu hoàn toàn phụ thuộc vào thời tiết, do vậy sản l-ợng l-ơng thực trong vùng không ổn định Năm thời tiết thuận lợi năng suất, sản l-ợng cao, ng-ợc lại nếu gặp phải năm thời tiết bất lợi năng suất, sản l-ợng giảm làm ảnh h-ởng đến đời sống của cộng đồng dân c- trong khu vực

3.3.3 Thu nhập bình quân của ng-ời dân trong vùng

Sản l-ợng l-ơng thực trung bình trong toàn khu vực đạt 308 kg/ng-ời/ năm Kết quả điều tra trên cho thấy, khu vực điều tra là vùng sản xuất nông nghiệp nh-ng sản l-ợng l-ơng thực trong vùng không đủ cung cấp trên địa bàn, do vậy phải có kế hoạch tăng sản l-ợng l-ơng thực để đáp ứng đủ nhu cầu l-ơng thực cho ng-ời dân

Trang 33

Trong khu vực điều tra, thu nhập bình quân/ ng-ời/năm, cao nhất ở xã Yên Trung đạt 6.000.000 đ/ng-ời/năm và thấp nhất là xã Vân Hoà đạt 3.600.000 đ/ng-ời/năm Kết quả trên cho thấy thu nhập bình quân ng-ời/năm trong khu vực còn thấp so với thu nhập bình quân chung của tỉnh Hà Tây (cũ)

và Hoà Bình

3.3.4 Thực trạng về giáo dục, y tế trong vùng

Giáo dục: ở tất các các xã đều đã có tr-ờng mẫu giáo, tiểu học, trung

học cơ sở Toàn vùng đã có 1.309 giáo viên 14.731 học sinh Nhìn chung vấn

đề giáo dục đã đ-ợc chính quyền địa ph-ơng và các ban ngành quan tâm Hầu hết các em ở độ tuổi đến tr-ờng đều đã đ-ợc đi học Khó khăn lớn nhất hiện nay ở các xã trong khu vực là ch-a có nhà ở kiên cố cho giáo viên từ nơi khác

đến Cần xây dựng nhà ở cho giáo viên để họ yên tâm giảng dạy

Chất l-ợng giáo dục: năm 2007 các xã trong vùng dự án có tỷ lệ học sinh trung học đ-ợc xét tốt nghiệp đạt từ 94 – 98% Tuy vậy số học sinh giỏi cấp huyện còn thấp so với mức bình quân chung của huyện

Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe: Trong khu vực điều tra, mỗi xã có

1 trạm y tế Toàn vùng có 103 cán bộ y tế và 87 gi-ờng bệnh Các cơ sở y tế trong vùng làm nhiệm vụ phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho ng-ời dân, khám chữa bệnh cho trẻ em d-ới 6 tuổi, và một số các bệnh thông th-ờng khác làm giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên Cơ sở vật chất ở các trạm y tế xã còn thiếu Cần tăng c-ờng cơ sở vật chất, có kế hoạch tập huấn hàng năm cho các bộ y tế tuyến cấp xã

Ngày đăng: 14/09/2017, 09:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Vườn Quốc gia Ba Vì – Hà Nội (nguồn Google Earth) - Phân tích một số yếu tố cấu trúc nhằm bước đầu đánh giá xu hướng diễn thế rừng phục hồi trong phân khu phục hồi sinh thái tại vườn quốc gia ba vì   hà nội
Hình 3.1 Vườn Quốc gia Ba Vì – Hà Nội (nguồn Google Earth) (Trang 24)
Hình 4.1. Tổng thể rừng phục hồi sườn đông - Phân tích một số yếu tố cấu trúc nhằm bước đầu đánh giá xu hướng diễn thế rừng phục hồi trong phân khu phục hồi sinh thái tại vườn quốc gia ba vì   hà nội
Hình 4.1. Tổng thể rừng phục hồi sườn đông (Trang 35)
Hình 4.2. Tổng thể rừng phục hồi sườn tây - Phân tích một số yếu tố cấu trúc nhằm bước đầu đánh giá xu hướng diễn thế rừng phục hồi trong phân khu phục hồi sinh thái tại vườn quốc gia ba vì   hà nội
Hình 4.2. Tổng thể rừng phục hồi sườn tây (Trang 37)
Hình 4.5. Tương quan H vn - D 1.3  tại Khánh Thượng năm 2006 - Phân tích một số yếu tố cấu trúc nhằm bước đầu đánh giá xu hướng diễn thế rừng phục hồi trong phân khu phục hồi sinh thái tại vườn quốc gia ba vì   hà nội
Hình 4.5. Tương quan H vn - D 1.3 tại Khánh Thượng năm 2006 (Trang 41)
Hình 4.7. Tương quan H vn - D 1.3  tại Khánh Thượng năm 2008 - Phân tích một số yếu tố cấu trúc nhằm bước đầu đánh giá xu hướng diễn thế rừng phục hồi trong phân khu phục hồi sinh thái tại vườn quốc gia ba vì   hà nội
Hình 4.7. Tương quan H vn - D 1.3 tại Khánh Thượng năm 2008 (Trang 42)
Hình 4.9. Phân bố N/D 1.3  năm 2004 Sườn tây- Khánh Thượng - Phân tích một số yếu tố cấu trúc nhằm bước đầu đánh giá xu hướng diễn thế rừng phục hồi trong phân khu phục hồi sinh thái tại vườn quốc gia ba vì   hà nội
Hình 4.9. Phân bố N/D 1.3 năm 2004 Sườn tây- Khánh Thượng (Trang 49)
Hình 4.11. Phân bố N/D 1.3  năm 2006 Sườn tây (Khánh Thượng) - Phân tích một số yếu tố cấu trúc nhằm bước đầu đánh giá xu hướng diễn thế rừng phục hồi trong phân khu phục hồi sinh thái tại vườn quốc gia ba vì   hà nội
Hình 4.11. Phân bố N/D 1.3 năm 2006 Sườn tây (Khánh Thượng) (Trang 50)
Hình 4.13. Phân bố N/D 1.3  năm 2008 Sườn tây (Khánh Thượng) - Phân tích một số yếu tố cấu trúc nhằm bước đầu đánh giá xu hướng diễn thế rừng phục hồi trong phân khu phục hồi sinh thái tại vườn quốc gia ba vì   hà nội
Hình 4.13. Phân bố N/D 1.3 năm 2008 Sườn tây (Khánh Thượng) (Trang 51)
Hình 4.15. Phân bố N/H vn năm 2004 Sườn tây- Khánh Thượng - Phân tích một số yếu tố cấu trúc nhằm bước đầu đánh giá xu hướng diễn thế rừng phục hồi trong phân khu phục hồi sinh thái tại vườn quốc gia ba vì   hà nội
Hình 4.15. Phân bố N/H vn năm 2004 Sườn tây- Khánh Thượng (Trang 53)
Hình 4.16. Phân bố N/Hvn năm 2004 Sườn đông (Suối Ổi) - Phân tích một số yếu tố cấu trúc nhằm bước đầu đánh giá xu hướng diễn thế rừng phục hồi trong phân khu phục hồi sinh thái tại vườn quốc gia ba vì   hà nội
Hình 4.16. Phân bố N/Hvn năm 2004 Sườn đông (Suối Ổi) (Trang 54)
Hình 4.17. Phân bố N/H vn  năm 2006 Sườn tây (Khánh Thượng) - Phân tích một số yếu tố cấu trúc nhằm bước đầu đánh giá xu hướng diễn thế rừng phục hồi trong phân khu phục hồi sinh thái tại vườn quốc gia ba vì   hà nội
Hình 4.17. Phân bố N/H vn năm 2006 Sườn tây (Khánh Thượng) (Trang 54)
Hình 4.18. Phân bố N/H vn   năm 2006 Sườn đông (Suối Ổi) - Phân tích một số yếu tố cấu trúc nhằm bước đầu đánh giá xu hướng diễn thế rừng phục hồi trong phân khu phục hồi sinh thái tại vườn quốc gia ba vì   hà nội
Hình 4.18. Phân bố N/H vn năm 2006 Sườn đông (Suối Ổi) (Trang 55)
Hình 4.19. Phân bố N/H vn năm 2008 Sườn tây (Khánh Thượng) - Phân tích một số yếu tố cấu trúc nhằm bước đầu đánh giá xu hướng diễn thế rừng phục hồi trong phân khu phục hồi sinh thái tại vườn quốc gia ba vì   hà nội
Hình 4.19. Phân bố N/H vn năm 2008 Sườn tây (Khánh Thượng) (Trang 55)
Hình 4.20. Phân bố N/H vn   năm 2008 Sườn đông (Suối Ổi) - Phân tích một số yếu tố cấu trúc nhằm bước đầu đánh giá xu hướng diễn thế rừng phục hồi trong phân khu phục hồi sinh thái tại vườn quốc gia ba vì   hà nội
Hình 4.20. Phân bố N/H vn năm 2008 Sườn đông (Suối Ổi) (Trang 56)
Hình 4.22. Phân tầng rừng sườn đông - Phân tích một số yếu tố cấu trúc nhằm bước đầu đánh giá xu hướng diễn thế rừng phục hồi trong phân khu phục hồi sinh thái tại vườn quốc gia ba vì   hà nội
Hình 4.22. Phân tầng rừng sườn đông (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w