Cơ sở đào đạo: Học viện Nông Nghiệp Việt Nam 1.Mục đích nghiên cứu: Xác định một số đặc điểm dịch tễ, phân tích một số yếu tố nguy cơ làm lây lan và phát dịch của vi rút PED trên địa bàn
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN ĐĂNG VIỆT
NGHI N C M T C I M CH T C A ỆNH TI CH TH NH CH N TẠI NAM NH, PHÂN TÍCH M T Ế T NG CƠ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Đăng Việt
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi luôn nhận được
sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp
Nhân dịp này, trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các giảng viên khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập tại Trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô hướng dẫn TS Lại Thị Lan Hương đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới người thân trong gia đình, đồng nghiệp đã luôn giúp
đỡ, động viên giúp tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Đăng Việt
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục những chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Danh mục biểu đồ viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu xi
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 3
2.1.1 Nước ngoài 3
2.1.2 Trong nước 5
2.2 Tình hình dịch bệnh ped trên thế giới và ở việt nam trong những năm gần đây 5
2.2.1 Tình hình dịch bệnh PED trên thế giới 5
2.2.2 Tình hình dịch bệnh PED ở Việt Nam 6
2.2.3 Tình hình PED trên địa bàn tỉnh Nam Định 7
2.3 Bênh dịch tiêu chảy cấp tính ơ lợn (PORCINE EPIDEMIC DIARRHEA- PED) 7
2.3.1 Phân loại 7
2.3.2 Hình thái, cấu trúc của PEDV 7
2.3.3 Đặc tính nuôi cấy của virút 8
2.3.4 Dịch tễ học 9
2.3.5 Triệu chứng lâm sàng 11
Trang 52.3.6 Bệnh tích 13
2.3.7 Các phương pháp chẩn đoán PEDV 13
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 16
3.1 Nội dung nghiên cứu 16
3.2 Nguyên liệu 16
3.3 Phạm vi, quy mô nghiên cứu 16
3.4 Phương pháp nghiên cứu 16
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 16
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 20
4.1 Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh 20
4.1.1 Kết quả điều tra bệnh tiêu chảy thành dịch ở lợn theo lứa tuổi 20
4.1.2 Tỷ lệ tử vong do bệnh tiêu chảy thành dịch ở lợn theo lứa tuổi 28
4.1.3 Triệu chứng lâm sàng của bệnh 31
4.1.4 Kết quả mổ khám bệnh tích đại thể 33
4.2 Một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan dịch ped tại các huyện điều tra 34
4.2.1 Địa điểm chăn nuôi gần khu dân cư 500m 34
4.2.2 Địa điểm chăn nuôi gần đường quốc lộ 500m 35
4.2.3 Địa điểm chăn nuôi gần chợ buôn bán 500m 36
4.2.4 Mua con giống ở địa phương khác về nuôi trong thời gian có dịch 36
4.2.5 Không sử dụng thuốc sát trùng để vệ sinh tiêu độc định kỳ 37
4.2.6 Yếu tố xả thẳng chất thải trong chăn nuôi 38
PHẦN 5 Kết luận và đề nghị 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Đề nghị 41
Tài liệu tham khảo 42
Phụ lục 49
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
95% CI 95 % Confidence level
ELISA Enzyme linked immuno-sorbent assay
PEDV Porcine Epidemic Diarrhea virus
RT – PCR Reverse transcription - polymerase chain reaction
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Kết quả điều tra lợn mắc bệnh PED theo lứa tuổi với độ tin cậy 95% CI 20
Bảng 4.2 Kết quả điều tra lợn mắc bệnh PED theo lứa tuổi tại thành phố Nam Định với độ tin cậy 95%CI 22
Bảng 4.3 Kết quả điều tra lợn mắc bệnh PED theo lứa tuổi tại huyện Mỹ Lộc với độ tin cậy 95%CI 23
Bảng 4.4 Kết quả điều tra lợn mắc bệnh PED theo lứa tuổi tại huyện Vụ Bản với độ tin cậy 95% CI 24
Bảng 4.5 Kết quả điều tra lợn mắc bệnh PED theo lứa tuổi tại huyện Ý Yên với độ tin cậy 95% CI 25
Bảng 4.6 So sánh tỷ lệ mắc bệnh theo lứa tuổi của bệnh PED tại tp Nam Định, Mỹ Lộc, Vụ Bản và Ý Yên 27
Bảng 4.7 Tỷ lệ tử vong do bệnh PED theo lứa tuổi 28
Bảng 4.8 Kết quả so sánh tỷ lệ tử vong do bệnh tiêu chảy thành dịch ở lợn theo lứa tuổi của 4 huyện tp Nam Định, Mỹ Lộc, Vụ Bản và Ý Yên 30
Bảng 4.9 Triệu chứng lâm sàng của bệnh theo lứa tuổi 32
Bảng 4.10 Kết quả mổ khám bệnh tích đại thể 33
Bảng 4.11 Kết quả phân tích nguy cơ từ hộ chăn nuôi gần khu dân cư 35
Bảng 4.12 Kết quả phân tích nguy cơ từ hộ chăn nuôi gần đường quốc lộ 35
Bảng 4.13 Kết quả phân tích nguy cơ phát sinh và lây lan dịch từ việc chăn nuôi gần chợ bán gia súc, gia cầm sống 36
Bảng 4.14 Kết quả phân tích nguy cơ phát sinh và lây lan dịch từ việc mua con giống ở nơi khác về nuôi 37
Bảng 4.15 Kết quả phân tích nguy cơ phát sinh và lây lan dịch từ việc không sử dụng thuốc sát trùng để vệ sinh tiêu độc định kỳ 38
Bảng 4.16 Kết quả của việc xả thẳng chất thải trong chăn nuôi ảnh hưởng đến nguy cơ phát sinh và lây lan dịch PED 39
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Hình thái, cấu trúc của PEDV 8
Hình 2.2 Cơ chế gây bệnh của virus PED 11
Hình 2.3 Triệu chứng trên heo bị mắc PED 12
Hình 2.4 Bệnh tích ruột căng phồng ở lợn con 13
Hình 3.1 Mẫu text nhanh bệnh tiêu chảy cấp do PED 15
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ mắc bệnh PED theo độ tuổi 21
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ mắc bệnh PED theo lứa tuổi tại tp Nam Định 22
Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ mắc bệnh PED theo lứa tuổi tại huyện Mỹ Lộc 23
Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh PED theo lứa tuổi tại huyện Vụ Bản 24
Biểu đồ 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh PED theo lứa tuổi tại huyện Ý Yên 25
Biểu đồ 4.6 So sánh tỷ lệ mắc bệnh theo lứa tuổi của bệnh PED tại huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên và tp Nam Định 28
Biểu đồ 4.7 Tỷ lệ tử vong do mắc bệnh PED theo độ tuổi 29
Biểu đồ 4.8 Tỷ lệ tử vong do bệnh PED theo lứa tuổi của 4 huyện tp Nam Định, Mỹ Lộc, Vụ Bản và Ý Yên 31
Biểu đồ 4.9 Kết quả mổ khám bệnh tích đại thể 34
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Đăng Việt
Tên luận văn: “N u t s t t u t
ở lợ tạ N Đ , p â tí t s ếu t u ơ l lâ l v p át ”
Cơ sở đào đạo: Học viện Nông Nghiệp Việt Nam
1.Mục đích nghiên cứu:
Xác định một số đặc điểm dịch tễ, phân tích một số yếu tố nguy cơ làm lây lan
và phát dịch của vi rút PED trên địa bàn tỉnh Nam Định qua đó làm cơ sở đề xuất các biện pháp phòng chống bệnh PEDV nhằm tạo điều kiện cho chăn nuôi bền vững
2 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp điều tra hồi cứu thu thập số liệu của 100 hộ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Nam Định
Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu trên Excel bởi các số liệu đã thu thập, ghi chép lai
là nhóm lợn trưởng thành với tỷ lệ 15,24%
- Với triệu chứng lợn bị tiêu chảy mất nước rất cao ở tất cả các lứa tuổi Ở lứa tuổi lợn con theo mẹ, lợn choai và lợn trưởng thành hiện tượng tiêu chảy nhiều nước, mất nước chiếm tỷ lệ 100,00%
- Ở triệu chứng lợn bỏ ăn có sự khác nhau giữa các độ tuổi Ở độ tuổi lợn con theo
mẹ bỏ bú mẹ chiếm tỷ lệ 56,25% Ở độ tuổi sau cai sữa bỏ ăn chiếm tỷ lệ 35,56% Đối với độ tuổi lợn choai bỏ ăn chiếm tỷ lệ 29,41% Ở lứa tuổi lợn trưởng thành bỏ ăn chiếm tỷ lệ 33,34%
- Tỷ lệ lợn con theo mẹ mắc bệnh có bệnh tích dạ dày căng phồng,chứa nhiều thức
Trang 11ăn không tiêu chiếm tỷ lệ rất cao với 83,62% Thành ruột non bị bào mỏng, phồng to, chất chứa đường ruột lợn cợn cũng lên đến 67,65% Đối với 2 loại hạch: hạch bẹn và hạch bạch huyết màng treo ruột có biểu hiện bị sưng Biểu hiện hạch bẹn sưng lớn mổ khám chiếm tỷ lệ 63,23% trong khi đó hạch bạch huyết màng treo ruột sưng lớn là 57,35%
- Khi mắc PED tỷ lệ tử vong cao nhất là ở giai đoạn lợn con theo mẹ, ở giai đoạn này tỷ lệ tử vong tới 78,79% và giảm xuống khá thấp ở giai đoạn sau cai sữa ở giai đoạn này tỷ lệ tử vong do mắc bệnh PED ở giai đoạn này là 5, 49% , ở giai đoạn lợn choai tỷ lệ tử vong là 1,81% và thấp nhất là giai đoạn lợn trưởng thành, giai đoạn này tỷ
lệ tử vong giảm xuống 0 %
- Đã xác định được 4 yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan dịch bệnh tại một số
xã thuộc tỉnh Nam Định năm 2016
- Hộ chăn nuôi lợn gần khu dân cư làm tăng nguy cơ phát sinh dịch PED lên cao gấp 3,1075 lần so với những hộ chăn nuôi không gần khu dân cư
- Hộ chăn nuôi lợn gần đường quốc lộ đi qua làm tăng nguy cơ phát sinhdịch PED lên cao gấp 3,8194 lần so với những hộ chăn nuôi không gần đường quốc lộ
- Hộ chăn nuôi lợn gần chợ buôn bán gia súc, gia cầm sống làm tăng nguy cơ phát sinh dịch PED lên cao gấp 18,3467 lần so với những hộ chăn nuôi không gần chợ buôn bán động vật
- Hộ chăn nuôi lợn xả thẳng chất thải trong chăn nuôi ra ngoài làm tăng nguy cơ phát sinh dịch PED lên cao gấp 3,7692 lần so với những hộ chăn nuôi không xả thẳng chất thải ra ngoài môi trường
Trang 12THESIS ABSTRACT
Author: Nguyen Dang Viet
Title: Epidemiological characteristics and risk factors of porcine diarrhea epidemic (PED) in Nam Dinh Province
Training institution: Vietnam National University of Agriculture
1 Objectives:
- to identify epidemiological characteristics of PED in Nam Dinh Province;
- to analyze risk factors for the spreading of PED virus;
- to provide basic data for proposing disease prevention measures to facilitate sustainable livestock
2 Methodology
- Retrospectively collect data from 100 random farms in Nam Dinh Province;
- Data analysis: Excel
- Dehydrated diarrhea symptom was obverved in 100% of inffected pigs of all ages
- Inappetence was differ among groups 56.25% of nursing piglets refused to suckle; anorexia rate in weaning pigs was 35.56%; Stoped eating proportion of growing pigs reached 29.41%; waiving food rate in mature group was 33.34%
- Macroscopic lesion revealed distended with undigested food in stomach of infected piglets at 83.62% Small intestinal wall was thin, distended and filled with fermented contains in 67.65% of piglets Swelling of lymph node was common including inguinal (63.23%) and mesenteric (57.35%)
- Mortality rate gradually dropped as pig’s age increase The highest death rate
Trang 13was 78.79% of sufferring piglets, however, only 5.49% of weaning pigs was unable to survive This proportion was lowest at group of growing pigs (1.81%) All mature pigs were completelly recovered after being infected
- Analysing risk elements for the spreading of disease, four relatively correlated key factors to the epidemic as discussed bellow:
+ The closer of pig farms to residential areas the higher the risk of PED outbreaks (3.1075 times);
+ The gravity of virus spreading was higher when the farms located near the main road (3.8194 times) in comparison with distant farms
+ There was significant increasing opportunity for PED epidemic (18.3467 times) when the farms placed near selling markets which trading live animals and slaughtering
+ Water discharged: PED epidemic raised 3.7692 times when directly wasting into environment than treating the water before entering public system
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngành chăn nuôi ở nước ta hiện nay đang phát triển mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng lớn của xã hội và góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Đặc biệt, chăn nuôi lợn đã có nhiều thay đổi đáng kể, đáp ứng được phần lớn nhu cầu về thực phẩm cho xã hội Ở nhiều nước trên thế giới, mức tiêu thụ thịt lợn tính trên đầu người chiếm tỷ lệ cao so với các loại thịt khác Ở Việt Nam, tỷ lệ thịt lợn hơi tính theo đầu người chiếm phần lớn (khoảng 73%) trên tổng số các loại thịt được tiêu thụ hàng năm Chăn nuôi lợn đã trở thành nguồn thu nhập quan trọng đối với các hộ nông dân và là một trong những nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp
Nam Định là tỉnh có ngành chăn nuôi tương đối phát triển, hiện nay tổng đàn trâu, bò có khoảng 40.000 con, đàn lợn trên 783.491 con, đàn gia cầm gần 8 triệu con và chăn nuôi của tỉnh ngày càng phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, đem lại thu nhập chính cho ngành nông nghiệp
Song song với sự phát triển đó, vấn đề về dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp làm ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của ngành chăn nuôi cũng như làm thiệt hại về kinh tế
Trong những năm gần đây “bệnh tiêu chảy thành dịch ở lợn” thường xuyên xảy ra làm thiệt hại nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi lợn do làm tăng chi phí phòng, chống bệnh, thiệt hại về số lượng…
Bệnh tiêu chảy thành dịch ở lợn (Porcine Epidemic Diarrhea- PED) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm do một loại virus thuộc họ
Coronaviridae gây ra Bệnh PED xảy ra quanh năm nhưng thường phổ biến hơn
vào mùa đông và trên 90% ca bệnh xảy ra ở lợn con dưới 7 ngày tuổi Ở Châu
Âu Dịch PED xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1971 (Wood, 1977), sau đó bệnh lây lan ra nhiều Quốc gia khác ở Châu Á như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật, Hàn Quốc và Thái Lan
Ở Việt Nam, bệnh PED lần đầu tiên được phát hiện vào năm 2008 và từ
đó đến nay dịch bệnh thường xuyên xảy ra và gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi lợn trong cả nước Việc phòng chống bệnh tiêu chảy do PEDV gây ra chủ yếu dựa vào sử dụng vắc xin Trong khi các chủng virus thực
Trang 15địa thường xuyên có những biến đổi phức tạp về mặt di truyền, do đó việc nắm bắt và cập nhật được các đặc tính sinh học của các chủng PEDV đóng vai trò quan trọng, giúp cho việc lựa chọn được vắc xin thích hợp và hiệu quả phục vụ cho công tác tiêm phòng
Để hạn chế dịch bệnh tiêu chảy thành dịch ở lợn do PEDV gây ra thì việc nghiên cứu về dịch tễ học, và nghiên cứu được những yếu tố nguy cơ làm lây lan và phát sinh dịch PED là vô cùng quan trọng và là công việc nghiên cứu hết sức cần thiết mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn để từ đó góp phần quan trọng trong công tác phòng, chống dịch bệnh xảy ra trên đàn lợn và định hướng chiến lược cho việc sản xuất vắc xin phòng bệnh trong tương lai Vì vậy, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn chúng tôi tiến hành đề tài
“N u t s t t u t ở
lợ tạ N Đ , phân tí t s ếu t u ơ l lâ l v p át ”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Phân tích một số yếu tố nguy cơ làm lây lan và phát dịch
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Cung cấp, hoàn thiện thêm các thông tin dịch tễ học về bệnh tiêu chảy thành dịch ở lợn
- Xác định một số yếu tố nguy cơ bùng phát và làm lây lan dịch bệnh trên địa bàn
- Dựa trên những kết quả nghiên cứu của đề tài để đề xuất các biện pháp phòng, chống phù hợp, từ đó khuyến cáo tới người chăn nuôi cũng như chính quyền địa phương áp dụng các biện pháp đồng bộ trong việc phòng, chống bệnh trên địa bàn tỉnh giúp cho ngành chăn nuôi phát triển ổn định
Trang 16này, dịch EVD được chuyển tên thành dịch PED
Trong khoảng thời gian từ năm 1980 tới 1990, các ổ dịch liên tục được phát hiện và xảy ra phổ biến ở các Quốc gia Châu Âu như Bỉ, Anh, Đức, Pháp,
Hà Lan, Thụy Sỹ Hiện nay, PED ngày càng xuất hiện phổ biến ở các Quốc gia Châu Á, đặc biệt PED ngày càng trở nên cấp tính và nghiêm trọng hơn (Song and Park, 2012) Ở Trung Quốc, trường hợp nhiễm PEDV đầu tiên được phát hiện năm 1973, sau hơn hai thập kỷ sử dụng vacxin vô hoạt nhũ dầu, sự xuất hiện trở lại của PEDV tương đối ít Tuy nhiên đến năm 2010, bệnh đã xuất hiện trở lại và bùng phát ngày càng trầm trọng ở các Tỉnh có sự phát triển ngành chăn nuôi lợn
Từ tháng 2 năm 2010 đến tháng 11 năm 2011, tỷ lệ lợn chết từ 90 tới 100% (tương ứng 50.000 con), chủ yếu là lợn dưới 7 ngày tuổi (Chen et al., 2012) Ở Nhật, dịch PED xuất hiện lần đầu tiên năm 1993, gây chết 14.000 con, tỉ lệ chết
từ 30 tới 100% lợn con, dịch PED năm 1996 gây chết 39.509 con Ở Hàn Quốc, dịch PED xuất hiện đầu tiên năm 1992, sau đó đến năm 2007-2008, dịch liên tiếp
xuất hiện ở các Quốc gia Ðông Nam Á như Thái Lan, Philippines và Việt Nam
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, PEDV là một virus có vỏ ngoài, vật chất di truyền là RNA dạng sợi dương có kích thước khoảng 28kb Hệ gen bao gồm ít nhất bảy khung đọc mở mã hoá cho 4 loại protein cấu trúc (gai(S), vỏ (E), màng (M) và nucleocapsid (N)) và 3 loại protein không cấu trúc (replicase 1a, 1b và ORF3), với thứ tự trên hệ gen 5’-replicase (1a/1b)-S-ORF3-E-M-N-3’(Bridgen et al., 1993; Bridgen et al., 1998; Duarte and Laude, 1994; Egberink et al., 1988; Kocherhans et al., 2001; Wood, 1977) Để xác định mối quan hệ giữa các chủng
Trang 17PEDV, các phân tích về cây phả hệ (phylogenetic tree) và đặc điểm di truyền được tiến hành dựa trên các trình tự gen S, M, và ORF3 (Song and Park, 2012) đôi khi cả gen Nghiên cứu trên một phần của gen S và toàn bộ gen M đã gợi ý chia PEDV thành 3 nhóm (G1, G2, và G3), mỗi nhóm cũng được chia thành các nhóm nhỏ hơn (G1-1, G1-2, và G1-3) (Park et al., 2007) Phân tích cây phả hệ dựa trên trình tự gen S và M đều chỉ ra rằng các chủng PEDV phân lập được ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan và Việt Nam có độ tương đồng cao và khác biệt với các chủng PEDV phân lập được từ các Quốc gia Châu Âu (Đỗ Tiến Duy
et al., 2011; Puranaveja et al., 2009) ORF3 là gen mã hoá cho protein không cấu trúc và là protein phụ trợ, không cần thiết cho quá trình nhân lên của PEDV Tuy nhiên các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra chức năng quan trọng của protein này trong việc quyết định độc tính của PEDV Sự biến đổi của gen ORF3 trong quá trình cấy chuyển nhiều lần trên tế bào có thể làm giảm độc tính của chủng thực địa Sự khác biệt của gen ORF3 cũng được thể hiện rõ rệt giữa các chủng thực địa và các chủng nuôi cấy trong phòng thí nghiệm
Do các virus gây ra tiêu chảy có các đặc điểm lâm sàng tương đối giống nhau nên không thể dựa vào các đặc điểm này để chẩn đoán PEDV, do đó việc chỉ ra sự có mặt của PEDV được thực hiện trong các phòng thí nghiệm (Kusanagi et al., 1992) Nhiều kỹ thuật được sử dụng trong việc phát hiện PEDV như miễn dịch huỳnh quang, sử dụng kính hiển vi điện tử hoặc phản ứng ELISA (Enzyme-linked immunosorbent assay), tuy nhiên các kỹ thuật này tiêu tốn nhiều thời gian và độ nhạy cũng như tính đặc hiệu thấp Kỹ thuật chẩn đoán dựa trên phương pháp RT-PCR (Reverse transcription polymerase chain reaction) được phát triển để phát hiện virus cả trong phòng thí nghiệm và từ thực địa (Tobler and Ackermann, 1995; Tobler and Ackermann, 1996) Để khẳng định sự có mặt của PEDV trong mẫu bệnh phẩm, mồi đặc hiệu được thiết kết dựa trên trình tự gen Trong những năm gần đây, dựa trên kỹ thuật RT-PCR cơ bản, đã có rất nhiều những cải tiến để cho những ứng dụng hiệu quả hơn, như việc sử dụng multiplex-RT-PCR để phát hiện PEDV trong sự có mặt của nhiều virus khác nhau, là một
kỹ thuật thường được sử dụng cho chẩn đoán nhanh, độ nhạy và hiệu quả kinh tế cao trên các đối tượng với các virus gây ra viêm ruột-dạ dày cấp tính ở lợn (Song
et al., 2006) RT loop-mediated isothermal amplification (RT-LAMP) cũng là một kỹ thuật hữu dụng được phát triển dựa trên kỹ thuật RT-PCR cơ bản Trong
kỹ thuật này, 4-6 mồi được sử dụng để nhận biết 6-8 vùng DNA đích, điều này
Trang 18tạo ra tính đặc hiệu cao hơn so với kỹ thuật gel-based RT-PCR hay ELISA bởi vì
nó tạo ra số lượng lớn hơn các đoạn DNA (Ren and Li, 2011) Các kit phân tích Immunochromatography cũng được sử dụng phổ biến ở các trại chăn nuôi để phát hiện PEDV trên cơ sở protein S với độ nhạy 92% và độ đặc hiệu 98% Kỹ thuật này có độ chính xác kém hơn RT-PCR tuy nhiên cho phép chẩn đoán nhanh
trong vòng 10 phút (Song and Park, 2012)
2 1 2 Trong nước
Hiện nay ở Việt Nam, Nguyễn Đình Quát và cs đã sử dụng phương pháp nested-RT-PCR để phát hiện PEDV (Nguyễn Đình Quát và cs., 2011) và Đỗ Tiến Duy và cộng sự đã nghiên cứu đặc tính di truyền của PEDV phân lập được từ các Tỉnh Miền Nam Việt Nam (Đỗ Tiến Duy et al., 2011) Ngoài ra chưa có nghiên cứu nào về mức độ quy mô và chuyên sâu để đánh giá một cách có hệ thống về đăc điểm dịch tễ và sự phân bố của các chủng PEDV đang lưu hành ở Việt Nam hiện nay Các kết quả nghiên của đề tài này sẽ là cơ sở khoa học quan trọng trong việc khoanh vùng dịch, định hướng chọn chủng sản xuất vacxin, cũng như góp phần đánh giá chất lượng vắc xin nhập khẩu và sản xuất trong nước để từ đó có chiến lược phòng chống dịch PED lâu dài ở Việt Nam
2.2 TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH PED TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM TRONG NHỮN NĂM ẦN ĐÂY
2.2.1 Tình hình dịch bệnh PED trên thế giới
Từ đầu những năm 2000 trở lại đây, những trận dịch bùng phát cấp tính đã trở nên hiếm có ở những vùng mà virus trước kia đã từng lan rộng Hiện nay, các
ổ dịch PED ít được ghi nhận ở châu Âu và ngày càng có ít nghiên cứu về bệnh Hơn nữa, bệnh thường được thấy nhất ở lợn con theo mẹ, lợn choai và lợn mới sinh sản, trong khi lợn đực trường thành ít mắc Tuy nhiên ở châu Á, dịch bệnh
dữ dội với tỷ lệ tử vong cao vẫn xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi và không có sự khác biệt về mặt lâm sàng với dịch TGE cấp tính, gây tổn thất nặng nề về kinh tế (Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2013 )
Trong thời gian cuối năm 2007 – 2008, tại Thái Lan, dịch phát hiện đầu tiên ở tỉnh Nakornpathom trước khi nó lan rộng trong cả nước Dịch lan rộng đã gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi lợn của Thái Lan Phân tích phát sinh loài, thấy tất cả các PEDV phân lập được trong thời gian bùng phát dịch đều giống chủng ở Trung Quốc JS – 2004 – 2 (S.Puranaveja et al, 2009)
Trang 19Với 8.758 trường hợp dương tính (tính từ tháng 10/2013 đến ngày 03/11/2014), PED đã làm thay đổi bộ mặt của toàn bộ ngành chăn nuôi lợn công nghiệp tại Mỹ nói riêng và thay đổi cơ cấu của ngành công nghiệp thịt tại Mỹ nói chung Cụ thể, giá thịt heo giao dịch tăng mức kỷ lục từ trước đến nay từ trung bình 4,951 USD/ pound (tương đương 233.000 vnđ/1 kg) vào đầu tháng 11 năm
2013 đến 8,003 USD/pound (tương đương 377.000 vnđ/1kg) vào đầu tháng 11 năm nay (2014) Ngoài ra, nhiều nước cũng đã cấm các doanh nghiệp nhập khẩu thịt lợn từ Mỹ do lo ngại vấn đề truyền lây bệnh, từ đó làm cho tổng kim ngạch xuất khẩu thịt lợn của Mỹ năm 2014 cũng giảm theo đáng kể
Với tỷ lệ nhiễm bệnh và tỷ lệ chết cao (gần như 100% đối với những lợn con theo mẹ và 30% đối với lợn nái) cùng với những di chứng để lại trên đàn lợn nái (PED gây thiệt hại 50-100% lứa đẻ trong vòng 24h sau khi đẻ trên đàn lợn nái tơ), ta có thể nói PED là một trong những mối lo ngại lớn của các nhà chăn nuôi lợn trên toàn thế giới
PEDV được tìm thấy lần đầu tiên tại Châu Âu vào thập niên 1970 và lan sang Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc vào năm 1990 Từ năm 2000 về sau, PED được phát hiện thấy ở Philippines, Thái Lan và Việt Nam Lợn ở mọi độ tuổi đều nhạy cảm với virus này, lợn con theo mẹ nhạy cảm nhất, có tỷ lệ nhiễm bệnh và tỷ lệ chết cao
2.2.2 Tình hình dịch bệnh PED ở Việt Nam
Năm 2008, virus PED đã được phát hiện trong một số đàn lợn bị tiêu chảy
ở Việt Nam (Nguồn: Báo Nông Nghiệp VN số 178 ra ngày 7/9/2011) Trong năm
2008 – 2009, bệnh lan rộng nhanh chóng ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ gây ảnh hưởng lớn đến ngành chăn nuôi lợn nước ta Bệnh xảy ra rất nhanh, trên toàn đàn lợn và gây chết gần như 100% lợn con theo mẹ Tỷ lệ tử vong giữa các tỉnh dao động từ 65 – 91% Theo nhận định của các chuyên gia thì nguyên nhân của tiêu chảy cấp có thể là do bệnh tiêu chảy thành dịch ở lợn (PED) hoặc do viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) gây ra Năm 2010, dịch vẫn tiếp tục xảy ra ở một số trại, thậm chí tái phát ở những trại đã từng xảy ra dịch trong năm 2009 Theo thống kê của phòng xét nghiệm nhanh công ty C.P Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2010 cả nước có 31 trại bị nhiễm PED và tỉnh có nhiều ca bệnh nhất là Đồng Nai với 15 ca bệnh Các trại bị nhiễm bệnh này chủ yếu tập trung ở miền Nam (Đồng Nai, Lâm Đồng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Củ Chi), ở các tỉnh ở miền Bắc thì phòng xét nghiệm nhanh chỉ mới ghi nhận có một trại bị nhiễm bệnh này thuộc tỉnh Thái Nguyên
Trang 20Nhìn chung, bệnh chủ yếu xảy ra ở khu vực Nam Bộ với những trận dịch lớn, tuy nhiên ở khu vực phía Bắc cũng đã xuất hiện rải rác ở 1 số trại tại các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang…(Nguyễn Bá Hiên và Trần Thị Lan Hương, 2009)
2 2 3 Tình hình PED trên địa bàn tỉnh Nam Định
Trên địa bàn tỉnh Nam Định trong những năm gần đây bệnh vẫn xảy ra rải rác, tập trung chủ yếu tại những địa phương có mật độ chăn nuôi lợn cao Bệnh xảy ra quanh năm không theo mùa nhất định Bệnh tiến triển rất nhanh, trên toàn đàn lợn và gây chết gần như 100% lợn con theo mẹ Tỷ lệ tử vong dao động từ 50- 90% Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu cụ thể nào về dặc điểm dịch tễ và đặc tính sinh học phân tử của mầm bệnh trên địa bàn do vậy việc áp dụng các biện pháp phòng chống bệnh của người chăn nuôi còn gặp nhiều khó khăn gây ra tổn thất về kinh tế cũng như cơ cấu đàn
2.3 ỆNH DỊCH TIÊU CHẢY CẤP T NH Ở ỢN (PORCINE EPIDEMIC DIARRHEA- PED)
2.3.1 Phân loại
Năm 1978, Pensaert và Deouck đã phân lập được virus gây dịch tiêu chảy
ở lợn (Porcine Epidemic Diarrhea Virus – PEDV), mẫu được lấy từ ổ dịch xảy ra
ở Bỉ và Anh (1976) Virus gây dịch tiêu chảy (PEDV) là một thành viên họ Coronaviridae, phân họ Coronavirinae, giống Coronavirus PEDV được xếp vào nhóm 1 giống Coronavirus, cùng với TGEV, coronavirus gây bệnh cho mèo (feline coronavirus), coronavirus gây bệnh cho chó (canice coronavirus) và coronavirus gây bệnh cho người chủng 229E (human coronavirus) Dựa vào kết quả giải trình tự gen cho thấy PEDV có quan hệ gần gũi nhất với coronavirus gây bệnh cho người chủng 229E và TGEV
2.3.2 Hình thái, cấu trúc của PEDV
Hình thái, tính chất lý hóa và đặc điểm sinh học của hạt vius PED là đặc trưng cho họ Coronavirus Cấu trúc của PEDV giống với các virus khác trong
họ, có đường kính khoảng 90 – 190nm, là virus có vỏ bọc, nhân có cấu trúc là RNA sợi đơn, có kích thước lớn nhất từ 27 – 32 kb, với đầu 5’ và đuôi poly A 3’ Trên bề mặt hạt virus có nhiều gai dạng hình chùy nhô ra, dài khoảng 20
nm Virus nhân lên thông qua việc nảy chồi từ các màng bên trong bào tương tế bào vật chủ
Trang 21
Hình 2.1: Hình thái, cấu trúc của PEDV
Nguồn: Daesub Song and Bongkyun Park, 2012)
2.3.3 Đặc tính nuôi cấy của virút
- Đặc tính nuôi cấy trong môi trường tế bào: Ban đầu, việc nhân virus PED được thực hiện bằng cách gây nhiễm cho lợn con theo đường miệng (DeBouck and Pensaert, 1980), bằng cách cho lợn con uống virus Việc nuôi cấy virus trong điều kiện phòng thí nghiệm thời gian đầu gặp rất nhiều khó khăn, người ta đã thử nghiệm nuôi cấy trên nhiều loại tế bào nhưng rất ít thành công Phân lập virus có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh, dịch tễ học,
và công tác quản lý dịch bệnh
Năm 1988, Hofmann và Wyler đã nghiên cứu thành công môi trường tế bào thích hợp để PEDV phát triển, nhân lên và có thể phân lập được virus Đến nay, tế bào Vero (thận khỉ xanh châu Phi) có thể cấy chuyển được PEDV, gây bệnh tích tế bào, tuy nhiên, sự phát triển của virus phụ thuộc vào sự có mặt của men trypsin trong môi trường nuôi cấy Trong môi trường nuôi cấy, virus tác động lên tế bào hình thành các không bào và thể hợp bào (có thể lên tới 100 nhân) Hiệu giá virus đạt tối đa sau khi nuôi cấy 15 giờ Ngoài ra, virus PED đã được nhân lên thành công trên các tế bào thận lợn và bàng quang lợn ở Nhật Bản (Shibata et al., 2000) Chủng virus phân lập tại Nhật Bản (P – 5V) đã được sử dụng làm chủng virus vacxin và được nuôi cấy trên các dòng tế bào lợn KSEK6
và IB – RS2 (Kadoi K et al.,2002)
- Sức đề kháng: PEDV ổn định giữa pH 5 – 9 tại 40C và giữa pH 6.5 – 7.5
Trang 22tại 370C, bất hoạt khi pH < 4 và pH > 9 Trong môi trường nuôi cấy thích nghi, virus bị mất khả năng lây nhiễm ở nhiệt độ 600C/30’, nhưng ổn định ở 500C
Virus mẫn cảm với ether, chloroform và không gây ngưng kết hồng cầu của nhiều loài PEDV bị bất hoạt bởi hầu hết các chất khử trùng bao gồm cả: cresol, natri hydroxyt 2% (NaOH 2%), formol 1%, natri cacbonate (4% muối khan hoặc 10% dạng tinh thể với 0,1% chất tẩy rửa), chất tẩy rửa có ion và không ion, iodophor mạnh (1%) trong acid phosphoric và dung môi lipid như chloroform
2.3.4 Dịch tễ học
2.3.4.1 Đ ng vật c m nhi m
Bệnh xảy ra ở loài lợn Lợn có thể mắc ở mọi lứa tuổi Trong nhiều ổ dịch,
tỷ lệ nhiễm có thể lên đến 100%, tỷ lệ chết trung bình của lợn con là 50% nhưng cũng có thể rất cao 100%
- Nếu lợn con mắc bệnh ở độ tuổi 0 – 5 ngày tuổi: tỷ lệ chết 100%
- Nếu lợn con mắc bệnh ở độ tuổi 6 – 7 ngày tuổi: tỷ lệ chết khoảng 50%
- Nếu lợn con mắc bệnh ở độ tuổi lớn hơn 7 ngày tuổi: tỷ lệ chết khoảng 30% (Nguyễn Bá Hiên và cs., 2011)
2.3.4.2.P ươ t c truyền lây:
Phương thức truyền lây của PEDV tương tự với TGEV, nhưng PEDV có
xu hướng tồn tại dễ dàng hơn trên cơ thể đã bị nhiễm bệnh Đường truyền phân miệng có thể là phương thức chủ yếu để virus truyền sang vật chủ khác PED cấp tính thường xảy ra ở thời điểm 4 – 5 ngày sau khi lợn bán hoặc mua về Virus có thể xâm nhập vào trại thông qua lợn nhiễm virus được chuyển về hoặc các dụng
cụ có mang virus như: xe vận chuyển, ủng, quần áo bảo hộ…đây là những nguồn lây nhiễm tiềm năng cho lợn mẫn cảm PEDV không khác nhiều TGEV về đường truyền lây nhưng virus này có vẻ tồn tại lâu hơn trong các trang trại sau khi dịch PED cấp tính đã qua đi Khi dịch xảy ra ở trại lợn sinh sản, virus có thể được bài thải từ đàn mắc bệnh hoặc trở thành dịch địa phương Một chu kỳ dịch địa phương có thể được hình thành nếu số lứa lợn được sinh ra và lợn cai sữa trong trại đủ lớn để duy trì sự lưu hành của virus thông qua việc lây nhiễm giữa các lứa kế tiếp nhau khi lợn con mất khả năng miễn dịch lúc cai sữa PEDV có thể gây ra tiêu chảy dai dẳng trên lợn con sau cai sữa ở những trại như vậy
Trang 23Khả năng lây lan sang người và sự tác động tới sức khỏe cộng đồng cho tới nay chưa có công bố nào về sự lây truyền của PEDV sang người và các loài khác (Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2013)
2.3.4.3 Cơ ế gây b nh:
Cơ chế sinh bệnh của PEDV được nghiên cứu trên lợn con không được bú sữa đầu Cho lợn con 3 ngày tuổi uống virus PED chủng CV777, sau khoảng 22 – 36 giờ lợn bắt đầu nôn và tiêu chảy PEDV nhân lên trong bào tương của các tế bào lông nhung, phá hủy các tế bào biểu mô, làm ngắn lông nhung niêm mạc ruột
và làm giảm hoạt động của enzym bề mặt biểu mô ruột Tỷ lệ chiều cao và độ dày của lông nhung thay đổi từ 7:1 xuống còn 3:1 (Utiger et al., 1995; Porpischil
A, 1981) Các tế bào biểu mô hấp thu ở lông nhung rất mẫn cảm với PEDV, những tế bào biểu mô nhiễm virus có thể quan sát được sau 12 – 18 giờ gây nhiễm, rõ nhất sau khoảng 24 – 36 giờ, tuy nhiên không quan sát thấy có sự phá hủy tế bào biểu mô ở kết tràng Đặc điểm sinh bệnh của PEDV ở ruột non của lợn rất giống với TGEV So với TGEV, sự nhân lên và lây lan trong ruột non của virus PED diễn ra chậm hơn và thời gian nung bệnh lâu hơn
Cơ chế sinh bệnh của PEDV ở lợn giai đoạn lớn hơn vẫn chưa được nghiên cứu chi tiết, nhưng bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang có thể quan sát thấy virus có mặt trong tế bào biểu mô kết tràng của lợn mắc bệnh tự nhiên hoặc được gây nhiễm Ý nghĩa của việc virus xâm nhiễm ở kết tràng có làm cho bệnh nặng hõn hay không vẫn chýa ðýợc rõ Hiện vẫn chưa có cơ chế thích hợp nào được đưa ra để lý giải hiện tượng lợn chết đột ngột kèm theo việc hoại tử cơ lưng cấp tính quan sát thấy ở lợn vỗ béo và lợn trưởng thành (Nguyễn Văn Điệp và Nguyễn Thị Lan, 2012)
Vị trí nhân lên của virus được xác định thông qua kĩ thuật miễn dịch huỳnh quang và kính hiển vi điện tử Cho tới nay, chưa có công bố nào cho thấy
sự nhân lên của virus ở các tế bào bên ngoài đường tiêu hóa Shibata và cộng sự (2000) đã chỉ ra rằng ở lợn sạch bệnh (SPF - specific pathogen free) khi được uống virus PED phân lập từ thực địa ở độ tuổi từ 2 ngày đến 12 tuần, sức đề kháng tăng dần theo tuổi và lợn chỉ bị chết khi trong giai đoạn từ 2 – 7 ngày tuổi (Shibata và cs, 2000) Cơ chế sinh bệnh của PEDV ở lợn giai đoạn lớn hơn vẫn chưa được nghiên cứu chi tiết, nhưng bằng kĩ thuật miễn dịch huỳnh quang có thể quan sát thấy virus có mặt trong tế bào biểu mô kết tràng của lợn mắc bệnh tự nhiên hoặc được gây nhiễm Ý nghĩa của việc virus xâm nhiễm ở kết tràng có
Trang 24làm cho bệnh nặng hơn hay không vẫn chưa được rõ Hiện vẫn chưa có cơ chế thích hợp nào được đưa ra để lý giải hiện tượng lợn chết đột ngột kèm theo hoại
tử cơ lưng cấp tính quan sát thấy ở lợn vỗ béo và lợn trưởng thành (Nguyễn Tất Toàn và cs., 2012)
Biểu hiện và tiến triển lâm sàng của lợn sạch bệnh bị gây nhiễm chủng PEDV đã thích nghi trên môi trường nuôi cấy tế bào (ca – PEDV) nhẹ hơn nhiều
so với lợn nhiễm chủng thể hoang dại (wt – PEDV), độc lực của chủng ca – PEDV yếu hơn nhiều, tốc độ sinh sản của virus chậm hơn và sự biến đổi về mặt
vi thể ở các cơ quan của lợn nhiễm virus cũng kém rõ ràng hơn
Hình 2.2 Cơ chế gây bệnh của virus PED
Nguồn: Bệnh trên lợn /vietdvm.com (2016)
2.3.5 Triệu chứng lâm sàng
Các mức độ nghiêm trọng gây ra bởi PEDV là rất khác nhau, phần lớn phụ thuộc vào tình trạng miễn dịch và tình hình dịch bệnh ở các trang trại lợn Khi lợn mắc PED, biểu hiện chủ yếu và thường là duy nhất ở lợn đó là tiêu chảy mạnh, phân rất nhiều nước Lợn có hiện tượng bỏ ăn, mệt mỏi
Lợn con theo mẹ: gầy, lười bú, ỉa chảy, phân lỏng, tanh, màu vàng, có sữa không tiêu; nôn mửa, lợn con sụt cân nhanh do mất nước Lợn con thích nằm lên bụng mẹ, điều trị bằng các loại kháng sinh đặc trị tiêu chảy không có kết quả
Lợn sinh sản: tỷ lệ ốm và tỷ lệ chết rất khác nhau Lợn thường qua khỏi
Trang 25sau 1 tuần Bệnh xảy ra ở những trại giống mẫn cảm có tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong rất khác nhau Lợn ở tất cả các lứa tuổi đều có thể mắc với tỷ lệ có thể lên tới 100% Biểu hiện của PED tương tự TGE, tuy rằng PED lây lan chậm hơn và có
tỷ lệ chết ở lợn con thấp hơn Lợn con dưới 1 tuần tuổi có thể chết do mất nước sau khi tiêu chảy 2 – 4 ngày Tỷ lệ chết ở lợn con trung bình khoảng 50%, nhưng
có thể cao hơn tới 100% Ở giai đoạn lớn hơn, lợn thường tự hồi phục sau khi quá trình tiêu chảy kéo dài được 1 tuần Khi PED cấp tính ở 1 trại nào đó qua đi thì lợn con giai đoạn 2 – 3 tuần sau cai sữa vẫn có thể có biểu hiện tiêu chảy và lợn mới nhập về thường phát bệnh Vài năm gần đây, những đợt bùng phát cấp tính điển hình với tỷ lệ chết cao trên lợn sơ sinh hiếm xảy ra ở châu Âu, nhưng các ổ dịch tại Nhật Bản và Hàn Quốc lại cho thấy tỷ lệ lợn sơ sinh chết rất cao (Sueyoshi M et al., 1995; Chae C et al., 2000)
Lợn trong giai đoạn vỗ béo: nếu PED bùng phát ở thể cấp tính, trong vòng
1 tuần tất cả lợn sẽ có biểu hiện tiêu chảy Lợn có biểu hiện chán ăn, mệt mỏi, phân rất loãng, chứa nhiều nước Biểu hiện lợn mắc PED trong giai đoạn vỗ béo
có thể nặng hơn so với mắc TGE Lợn thường có biểu hiện đau vùng bụng nhiều hơn Sau khoảng 7 – 10 ngày, lợn sẽ hồi phục.Tỷ lệ tử vong lợn ở giai đoạn này thường từ 1 -3%, lợn chết nhanh thường ở giai đoạn mới bắt đầu tiêu chảy hoặc trước khi có biểu hiện tiêu chảy.Tỷ lệ chết cao nhất được thấy ở những trại lợn có giống mẫn cảm và chịu nhiều stress (Nguyễn Tất Toàn và cs., 2012)
Hình 2 3: Triệu chứng trên lợn bị mắc PED
Trang 262.3.6 Bệnh tích
Bệnh tích đại thể và vi thể của PED tương tự như bệnh TGE Bệnh tích thường tập trung ở đường tiêu hóa, đặc biệt là ở ruột non Dạ dày thường trống rỗng do lợn nôn và ống dưỡng chấp không chứa nhiều dịch dưỡng do sự kém hấp thu ở ruột Ruột non màu nhợt nhạt, chứa đầy dịch, căng phồng, thành ruột mỏng tới mức có thể nhìn thấy được bên trong do sự teo lại của tầng niêm mạc.Chất chứa trong ruột non lợn cợn Hạch ruột xung huyết, xuất huyết
Hình 2.4 ệnh tích ruột căng phồng ở lợn con
Nguồn: Daesub Song và Bongkyun Park, 2012
Về mặt vi thể, có sự hình thành không bào to, rõ trong bào tương tế bào biểu mô và sự bong tróc của tế bào này làm cho lông nhung ngắn và dồn lại, hòa lẫn vào nhau rõ rệt Tuy nhiên, các biểu hiện này không rõ bằng TGE Ở kết tràng chưa có bệnh tích vi thể nào được báo cáo Điều thú vị là các nghiên cứu siêu vi thể đã cho thấy sự hiện diện rõ rệt của các hạt virus bên trong bào tương
tế bào và sự thay đổi ở các tế bào biểu mô ruột non và kết tràng Những thay đổi cấu trúc siêu vi thể được khởi đầu đặc trưng bằng sự mất đi của các bào quan, vi nhung, lưới tận và phần nhô ra của bào tương tế bào hấp thu vào trong xoang ruột Sau đó, các tế bào trở nên phẳng, dẹt, các mối liên kết chặt chẽ bị mất đi và các tế bào rơi vào trong lòng ống ruột
2 3 7 Các phương pháp chẩn đoán PEDV
2.3.7.1 Chẩ oá lâ s
Dựa vào triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán Các triệu chứng điển hình như: lợn con theo mẹ lười bú, ỉa chảy, phân lỏng, tanh, màu vàng như kem, có sữa không tiêu, nôn mửa, lợn con sụt cân nhanh do mất nước, lợn con hay nằm lên bụng mẹ
Trang 27* Bệnh viêm dạ dày, ruột truyền nhiễm (TGE-Transmissible Gastro Enteritis):
Nguyên nhân do virus thuộc họ Coronavirus, bệnh lây lan nhanh và tỷ lệ
chết của lợn con rất cao Bệnh xảy ra ở lợn con dưới 2 tuần tuổi, lợn mất nước, sút cân nhanh, nôn mửa, ỉa chảy phân nhiều nước, màu vàng hoặc hơi xanh, lổn nhổn mùi khó chịu Bệnh tích là thành ruột non mỏng, dạ dày chứa sữa không tiêu màu trắng do TGEV phá hủy nhung mao ruột Ở lợn trưởng thành bệnh ở thể mang bệnh ít biểu hiện
* Bệnh do Rotavirus:
Bệnh do virus thuộc họ Reoviridae gây ra, thường xảy ra ở lợn 1-5 ngày tuổi,
tỷ lệ chết cao 50 - 100% Triệu chứng điển hình là phân nhão như hồ sau phân lẫn nhiều nước màu vàng trắng hoặc xám, chứa nhiều chất vón Do virus cư trú, hủy hoại làm thoái hóa lớp nhung mao ruột làm khả năng tiêu hóa và hấp thu kém nên khi lợn khỏi bệnh nếu được nuôi tiếp lợn sẽ còi cọc và chậm lớn
* Bệnh tiêu chảy do vi khuẩn E.coli (Colibaccillosis):
Sau khi xâm nhập vào hệ thống tiêu hóa, vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruột non bằng các yếu tố bám dính Tại đây vi khuẩn phát triển nhân lên, phá hủy tế bào tổ chức, gây viêm và sản sinh độc tố Toxigenic hoặc Verotoxin, gây tụ huyết, xuất huyết, hoặc vi khuẩn cư trú tại ruột gây chứng viêm
Trang 28ruột cấp Nếu con vật vượt qua giai đoạn này thường để lại bệnh tích ở hạch màng treo ruột, gan, lách và túi mật Với những gia súc trưởng thành khỏe mạnh
có thể không có triệu chứng lâm sàng nhưng có bệnh tích ở phủ tạng, vùng bụng
* Bệnh phó thương hàn (Salmonellosis):
Nguyên nhân bệnh do trực khuẩn Salmonella gây ra Bệnh thường xảy ra
ở lợn sau cai sữa đến 4 tháng tuổi, lợn lớn ít mắc hơn Con vật có triệu chứng bỏ
ăn, sốt cao 40.5 -41.6oC, ho khan khò khè, lúc đầu đi táo, sau khi nhiệt độ hạ xuống, con vật ỉa chảy nặng, phân lỏng sống màu vàng bột như cám, da xuất hiện những đám tụ máu, gan có những điểm hoại tử hoặc áp se, lợn chết ở những ngày đầu lách sưng to, tụ máu Nếu lợn mắc ở thể mãn tính lách dai như cao su Niêm mạc ruột già viêm loét, vết loét lan tràn bờ nông Do ỉa chảy nhiều, con vật dễ dẫn đến lòi dom và giai đoạn sau liệt cơ vòng hậu môn Da nhợt nhạt lông xù, bụng hóp lại hõm sâu xuống
* Bệnh hồng lỵ do Treponema:
Bệnh do xoắn khuẩn Treponema hyodysenteria gây nên thường kết hợp với phẩy
khuẩn Vibro và các nhóm vi khuẩn đường ruột khác Bệnh thường xảy ra ở lợn sau cai sữa từ 3-6 tháng tuổi, dấu hiệu lâm sàng chủ yếu là tiêu chảy, phân có lẫn máu tươi màng niêm mạc và dịch nhầy do viêm ruột già, manh tràng, trực tràng
Cơ thể suy nhược, mất nước, chậm lớn
là thời điểm 1-3 ngày tuổi sau khi sinh Triệu chứng chủ yếu là tiêu chảy ra máu, tỷ lệ chết cao, có bệnh tích ở ruột non xuất huyết máu đỏ tươi
2.3.7.5 Chẩ oá ằng kit chẩ oá
KIT chẩn đoán nhanh(Antigen Rapid PED Ag test kit) (Bionote –Korea)
Mẫu âm tính
Mẫu dương tính
Hình 3 1 Mẫu kit text nhanh bệnh tiêu chảy cấp do PED
Trang 29PHẦN 3 VẬT IỆU V PHƯƠN PH P N HI N CỨU
3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Điều tra tình hình bệnh PED trong những năm gần đây trên địa bàn tỉnh Nam Định với các nội dung: lứa tuổi mắc bệnh, tỷ lệ chết, triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể,…
- Phân tích một số yếu tố nguy cơ làm lây lan và phát dịch tiêu chảy thành dịch
3.2 NGUYÊN LIỆU
- Đàn lợn được nuôi trên địa bàn tỉnh Nam Định
- Số liệu điều tra tình hình bệnh PED theo phiếu điều tra một số ổ dịch tại địa phương
- Mẫu bệnh phẩm lấy từ ổ dịch để phân lập vi rút bệnh PED
3.3 PHẠM VI, QUY MÔ NGHIÊN CỨU
- Địa điểm nghiên cứu: các huyện có cơ cấu đàn lớn trên địa bàn tỉnh Nam Định
c Xác định một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan PED
+ Gần khu dân cư; gần đường quốc lộ; gần chợ buôn bán; gần địa điểm giết mổ; gần trang trại hàng xóm; gần ao, hồ, kênh, mương
+ Nguồn thức ăn, nước uống
+ Nguồn cung cấp lợn giống
+ Tiếp xúc với con người, thú y viên