Lấy trọng tâm thực trạng chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa của đồng bào Khmer ở Tây Nam Bộ1.Hỗ trợ việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truy
Trang 1BÀI TẬP NHÓM Môn: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO
Nhóm 5
Đề bài: Tìm hiểu về chính sách: Bảo tồn và phát triển văn hóa
Danh sách nhóm:
1, Nguyễn Khánh Như ( Nhóm trưởng)
2, Nguyễn Thị Lan Anh
3, Kiều Thị Thu Thúy
Trang 2Mở đầu
Việt Nam là một đất nước thống nhất đa dân tộc với nền văn hóa nhiều màu sắc.Nhằm bảo tồn và phát triển tính đa dạng của văn hóa dân tộc Việt Nam, Đảng vàNhà nước đã đề ra nhiều chính sách liên quan đến công tác bảo tồn, phát triển vănhóa dân tộc thiểu số(VHDTTS), có tác dụng tích cực đối với việc kế thừa, pháttriển truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc thiểu số, đồng thời thúc đẩy bìnhđẳng, đoàn kết, tiến bộ toàn dân tộc
Văn hoá là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
- Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội
Theo UNESCO: Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại; qua hàng bao thế kỷ nó cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống và lối sống
mà trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình
Các giá trị nói trên tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm nhuần trong mỗi con người và trong cả cộng đồng dân tộc Nó được truyền lại, tiếp nối vàphát huy qua các thế hệ người Việt Nam
Vì vậy, chúng ta chủ trương làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để các giá trị văn hoá trở thành nền tảng tinh thần vững bền của xã hội,trở thành động lực phát triển kinh tế xã hội
- Văn hoá là động lực thúc đẩy sự phát triển
Nguồn lực nội sinh của sự phát triển của một dân tộc thấm sâu trong văn hoá Sự phát triển của một dân tộc phải vươn tới cái mới nhưng lại không thể tách khỏi cội nguồn, phát triển phải dựa trên cội nguồn Cội nguồn đó của mỗi quốc gia dân tộc
là văn hoá
Văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn hoá Việt Nam phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc Cùng với xu thế hội nhập và phát triển, những luồng văn hoá khác nhau xâm nhập vào đời sống xã hội
ở vùng dân tộc thiểu số, gây ảnh hưởng, tác động mạnh đến văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số, đáng chú ý là nguy cơ phai mờ, biến dạng bản sắc dân tộc Dovậy, việc bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ cấp thiết, có
ý nghĩa chiến lược cần phải tiếp tục thực hiện thường xuyên và lâu dài
Trang 3I Khái quát chung
Bản thân lĩnh vực văn hóa là rất rộng lớn và người ta thường gắn khái niệm "bảo tồn văn hóa" với những đối tượng cụ thể như: bảo tồn văn hóa truyền thống, bảo tồn văn hóa vật thể, bảo tồn văn hóa phi vật thể, bảo tồn di sản văn hóa phật giáo, bảo tồn văn hóa nông thôn… Hiểu theo nghĩa chung nhất thì bảo tồn văn hóa là gìngiữ, lưu lại những giá trị văn hóa
Phát triển văn hóa là một tất yếu khách quan của sự vận động của lĩnh vực văn hóa nhằm đem tới sự biến đổi giá trị và hệ giá trị nhằm vươn tới cái đẹp hơn cho cuộc sống của con người
Bảo tồn văn hóa không phải là hoạt động cản trở sự phát triển văn hóa, mà trong một chừng mực nào đó còn là cơ sở cho sự phát triển văn hóa theo đúng hướng Bản thân quá trình phát triển văn hóa có sự đào thải yếu tố văn hóa lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp với hiện thực khách quan Sẽ là sai lầm khi coi bảo tồn văn hóa triệt tiêu sự phát triển văn hóa và ngược lại phát triển văn hóa sẽ triệt tiêu bảo tồn văn hóa Bảo tồn và phát triển văn hóa có thể được coi là thúc đẩy nhau; bảo tồn văn hóa giữ vai trò là cơ sở góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa Bên cạnh đó,thông qua phát triển văn hóa, con người nhận thức và thực hiện hoạt động bảo tồn văn hóa nhằm thể hiện bản sắc riêng của mình Cũng bởi tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa mà trong quá trình phát triển chứa đựng sự đánh giá, xác lập vị thếcủa yếu tố văn hóa mới dựa trên nền tảng giá trị đã được bảo tồn
Tại điều 13 Nghị định số 5/2011/NĐ-CP của Chính phủ : Về Công tác dân tộc
có quy định về chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa Việt Nam
Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hoácác dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”, đây là sự kiện quan trọng tiếp tụcthể hiện chính sách của Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy bảnsắc văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5khoá VIII
II Thực trạng thực hiện chính sách.
Trang 4( Lấy trọng tâm thực trạng chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa của đồng bào Khmer ở Tây Nam Bộ)
1.Hỗ trợ việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam
Bảo tồn "động", tức bảo tồn các hiện tượng văn hóa phi vật thể đó ngay chính trong đời sống cộng đồng Cộng đồng chính là môi trường không chỉ sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt nhất bảo tồn, làm giàu và pháthuy nó trong đời sống xã hội
Tuy nhiên, hiện tại có một nghịch lý là nhiều hiện tượng văn hóa, nhất là văn hóa phi vật thể vốn là của nhân dân sáng tạo ra nay lại "xa lạ" với họ, thậm chí nay chỉ tìm thấy trên sách vở của các nhà nghiên cứu, do vậy, để bảo tồn chúng trong đời sống, chúng ta lại phải đưa nó trở lại với nhân dân "xã hội hóa" nó Văn hóa phi vật thể là văn hóa tiềm ẩn trong tâm thức và trí nhớ của một số người, mà lâu nay chúng ta mệnh danh họ là những nghệ nhân hay là những "báu vật sống"
Do vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể còn đồng nghĩa với việc
"bảo tồn" các "báu vật sống" đó Đó chính là việc nhà nước, cộng đồng thừa nhận những tài năng dân gian đó, tôn vinh họ trong cộng đồng, tạo những điều kiện tốt nhất trong hoàn cảnh có thể, để họ sống lâu, sống khỏe mạnh, phát huy khả năng của mình trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong điều kiện xã hội hiện đại hóa và công nghiệp hóa ngày nay
a.Ưu tiên đầu tư kinh phí cho các dự án, đề tài nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật
Xây dựng và khôi phục văn hóa đồng bào các dân tộc thiểu số theo mô hình vănhóa cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ theo nghị định05/2011/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án bảo tồn,phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, trong đó điều tra, khảo sát,thống kê, quản lý, trùng tu các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, khuvực sinh thái đặc biệt, vườn Quốc gia, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Sưu tầm,giữ gìn, nghiên cứu và phát huy những bản sắc truyền thống của đồng bào cácdân tộc thiểu số Đề ra giải pháp quản lý, giữ gìn và phát huy lễ hội văn hóatruyền thống, phong tục tập quán lành mạnh của vùng đồng bào dân tộc thiểusố
Để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của cồng chiêng, hàng năm chính quyềncác tỉnh Tây Nguyên đã đầu tư kinh phí tổ chức nhiều hoạt động như: mở lớp
Trang 5dạy cho lớp trẻ học các kỹ thuật đánh và chỉnh chiêng, phát triển không gianvăn hoá cồng chiêng, tổ chức các liên hoan văn hóa cồng chiêng, dân ca dân vũ,nhạc cụ dân tộc, hội diễn văn nghệ quần chúng… nhằm bảo tồn giá trị của cácthiết chế văn hóa cồng chiêng.
Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cần tạo điều kiện hợp tác, giao lưu văn hóa
để quảng bá cồng chiêng trong phạm vi quốc gia và quốc tế nhằm xây dựng cácchương trình nghiên cứu và phục hồi không gian văn hóa cồng chiêng TâyNguyên Bởi không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là giá trị đặc sắc và độcđáo đã được UNESCO công nhận là “Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhânloại”…
b.Nâng cao năng lực của chủ thể văn hóa; có hình thức khen thưởng, động viên, hỗ trợ nghệ nhân, người tham gia hoạt động truyền dạy văn hóa nghệ thuật truyền thống; sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu, truyền dạy những làn điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc của các dân tộc thiểu số, sáng tạo các giá trị văn hóa nghệ thuật mới phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số
Nghị định số 62/2014/NĐ-CP quy định về xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhândân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể có hiệu lực từngày 7-8-2014, được xem là một bước ngoặt quan trọng trong việc bảo vệ vàphát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Để nghị định sớm đi vào cuộc sống,cần sự “vào cuộc” tích cực của các cơ quan hữu quan, chính quyền các cấp,nhất là việc thực hiện chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân một cách thiết thực,hiệu quả
c Sưu tầm, xuất bản, giới thiệu văn học dân gian của các dân tộc thiểu số.
Hiện nay văn học dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số đã được đưa vàochương trình dạy và học bâc giáoục tiểu học,THCS băng các thể loại nhưtruyện ngắn ,truyên ngụ ngôn bâc THPT : nổi tiếng như các truyền thuyết , sửthi "Đam San" của đồng bào dân tộc Ê Đê, sử thi "đẻ đất đẻ nước" của đồngbào dân tộc mường Truyện thơ phát triển đề tài của tự sự xã hội Chim sáo,Nàng Kim Quế (Tày Nùng)
Truyện thơ phát triển đề tài của dân ca trữ tình về tình yêu và hôn nhân
Nàng Nga Hai Mối (Mường) Nàng Ớm chàng Bồng Hương (Mường) Tiếnghát làm dâu (HMông) Nam Kim Thị Ðan (Tày) Khun Lú Nàng Uía (Thái) Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao) được suất bản và in ấn rộng rãi
.d Sản xuất các tác phẩm điện ảnh phản ánh cuộc sống xã hội miền núi vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Ví dụ: Vợ chồng A Phủ => có trích đoạn phim.(video)
Trang 6Sáng tác từng giúp Tô Hoài nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 năm 1996
đã được đưa lên màn ảnh nhỏ và trở thành một trong những phim kinh điển của Điện ảnh Cách mạng Việt Nam.
Vợ chồng A Phủ là tác phẩm hay nhất trong tập Truyện Tây Bắc được nhà văn Tô
Hoài viết năm 1952 Hai nhân vật chính là A Phủ và Mỵ - một đôi nam nữ thanh
niên nghèo bị thống lý Pá Tra, một chúa đất gian ác, cấu kết với Pháp, áp bức bóc lột đến cùng cực Hắn bắt Mỵ về làm vợ lẽ cho con trai là A Sử, và bắt A Phủ đến
ở không công suốt đời để trả nợ Khi A Phủ bị trói vì tội đánh mất trâu, sắp chết đau, chết đói, chết rét, Mị cắt dây trói cứu thoát anh Hai người trốn đến Phiềng Sa rồi nên vợ nên chồng Sau này, nhờ có Đảng lãnh đạo, A Phủ và Mỵ đã vùng dậy, đấu tranh để tự giải phóng, cùng nhân dân xây dựng một cuộc đời ấm no, hạnh phúc
Vợ chồng A phủ được chính tay Tô Hoài chuyển thể thành kịch bản và được "nhào
nặn" bởi đạo diễn Mai Lộc Với cốt truyện hấp dẫn, cảm động, bộ phim tiếp tục lôicuốn người xem bằng hình ảnh đẹp của miền Tây Bắc và phần âm nhạc xuất sắc
của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương Bài hát Bài ca trên núi qua giọng hát của nghệ sĩ
Kiều Hưng cũng nhận được sự yêu thích của đông đảo người yêu nhạc
Bộ phim do xưởng phim Việt Nam sản xuất và đã được trao giải thưởng Bông sen bạc trong Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 2 năm 1973
e Sưu tầm, phục dựng và phát huy các nghề và làng nghề thủ công truyền thống của các dân tộc thiểu số; bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, văn nghệ truyền thống đặc sắc các dân tộc thiểu số.
Nhà nước đầu tư phát triển sản xuất những sản phẩm dệt thủ công, sản xuất đadạng với những mẫu mã truyền thống, màu sắc và kiểu dệt khác nhau Ví dụ tiêubiểu đó là áo chàm của người H’mông, Tày, Nùng và vải thêu kim tuyến của ngườiH’mông, Dao, Pà Thẻn, Phù Lá, Hà Nhì, La Hù và Lô Lô ở phía Bắc Việt Nam vàcác dân tộc Gia-rai, Ê-đê, Xtiêng và Cơ-tu ở miền Trung Việt Nam
Đồ đan lát được phổ biến ở rất nhiều vùng và bao gồm những sản phẩm có kích cỡ
đa dạng từ thảm đến giỏ đựng đồ, từ nón mũ đến dụng cụ bắt cá Ví dụ như: Dântộc Khme nổi tiếng với những chiếc bát được trang trí rất đẹp, những cái rổ mở cónắp, thảm và túi làm từ cói tự nhiên hoặc cói nhuộm Người chăm và một vài dântộc ở Tây Nguyên (Gia-rai, Ê-đe, Xtiêng, Chơ-ro, Ra-glai) cũng nổi tiếng vớinhững kĩ năng làm đồ thủ công truyền thống
Trang 7Đồ thủ công từ gỗ thường là những vật dụng hàng ngày, bao gồm: dụng cụ bắt cá(giỏ, bẫy, cũi), và các vật dụng: nỏ, xiên, cung, mũi tên, tẩu thuốc, bát, thìa, lược.Một vài cộng đồng dân tộc thiểu số cũng bảo tồn những dụng cụ âm nhạc nghệthuật tự tạo như: đàn luýt, sáo, đàn trumpet, đàn môi, và … được sản xuất từ nhiềunguyên liệu tự nhiên khác nhau, kể cả vỏ quả bầu và tre.
Các cộng đồng dân tộc Mường, Khơ-mú, Lô Lô, Pu Péo của miền bắc xa xôi tiếptục sử dụng trống đồng trong những dịp lễ hội vv
f Ưu tiên nghiên cứu, lập hồ sơ đề nghị xếp hạng hoặc công nhận các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật
về di sản văn hóa.
g Xây dựng các đề án, chương trình kiểm kê, nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền các di sản văn hóa truyền thống điển hình của các dân tộc thiểu số.
Để tạo điều kiện cho việc phát triển và bảo tồn văn hoá dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách đúng đắn và phù hợp, góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của người dân Riêng ở Kiên Giang, Nhà nước đã quan tâm giúp
đỡ và tạo mọi điều kiện để nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần cho đồng bào các dân tộc trong tỉnh, nhất là đối với người Khmer đã có những ưu đãi rất đặc biệt Bằng chủ trương chính sách và sự đầu tư cụ thể, trong khoảng 10 năm gần đây, vùng biên giới và vùng đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Kiên Giang đã có những biến đổi quan trọng trên các mặt kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng Đời sống của đồng bào Khmer ở Kiên Giang đã được cải thiện một bước đáng kể Trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, có nhiều chủ trương đã được triển khai, nhất là việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa
Để văn hóa truyền thống dân tộc Khmer được bảo tồn, phát huy tốt hơn, những năm qua, các công trình điều tra, sưu tầm, nghiên cứu và phát huy vốn văn hoá vật thể và phi vật thể của đồng bào dân tộc Khmer cũng được quan tâm thực hiện
Trang 8Cụ thể, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chỉ đạo thực hiện các công trình nghiên cứu như sau: Phim tài liệu khoa học “Lễ tang, lễ cưới truyền thống của người Khmer”; Phim tài liệu “Lễ hội Okombok”- nét sinh hoạt văn hóa của cộng đồng người Khmer ở Kiên Giang (2007); Phim tài liệu: U Minh Thượng – nét đẹp văn hóa (2006); Sách nghiên cứu “Người Khmer trong cộng đồng dân tộc Việt Nam ở Kiên Giang”, Sách “Người Khmer ở Kiên Giang” Năm 2012, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Kiên Giang cũng triển khai đề tài nghiên cứu khoa học: “Xây dựng mô hình Câu lạc bộ thanh niên Khmer học tập kỹ năng phát triển kinh tế gia đình và thực hiện nếp sống văn minh tại huyện Gò Quao” Mục tiêu nhằm giúp thanh niên Khmer xã Định Hòa huyện Gò Quao nâng cao năng lực kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp để phát triển gia đình Đồng thời biết cách tổ chức các hoạt độngvui chơi giải trí bổ ích, xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh, góp phần phát triển kinh tế xã hội Kết quả đã thành lập được 1 mô hình Câu lạc bộ với 20 thành viên,
từ mô hình thí điểm này mở ra triển vọng có thể nhân rộng ra các xã có đông đồng bào dân tộc Khmer trong tỉnh
2.Hỗ trợ việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số
Trong tình hình hội nhập với trong nước và thế giới, việc biết nhiều thứ tiếng ngoàitiếng mẹ đẻ là cần thiết Ai cũng có quyền sử dụng ngôn ngữ dân tộc khác, nếungôn ngữ đó cần thiết cho sự thành đạt Nhưng ở nước ta hiện nay có không ít các
bộ phận người dân tộc thiểu số chỉ muốn sử dụng tiếng Việt, bỏ tiếng dân tộcmình Hiện tại có ngôn ngữ của một số dân tộc thiểu số đã có dấu hiệu suy thoái.Một số gia đình ở vùng cao dạy con cái từ khi sinh ra nói tiếng phổ thông, khôngnói tiếng mẹ đẻ Đấy là điều rất kỳ cục, nguy hiểm cho tương lai của đứa bé và cho
cả dân tộc đó Con cái của họ lớn lên sẽ nói một thứ ngôn ngữ hổ lốn tạp pí lù,tiếng Việt và tiếng dân tộc lẫn lộn, tất yếu dẫn đến sự suy giảm trí tuệ của thế hệsau Bởi vì, đối với con người đòi hỏi cần phải nắm vững đầy đủ ngôn ngữ cụ thể
để tư duy
Có một thực tại là hiện nay người miền núi nói tiếng phổ thông thường hay lẫn lộn
về quy tắc, còn khi họ nói tiếng dân tộc thì đế bằng tiếng phổ thông Đây là nguyênnhân dẫn đến tư duy không mạch lạc, hành văn viết ra sẽ lủng củng sai ngữ pháp.Nhưng nếu con cái họ được dạy từ bé sử dụng ngôn ngữ dân tộc, khi lớn lên sẽ học
Trang 9tiếng phổ thông, chắc chắn khả năng sử dụng cả hai ngôn ngữ sẽ tốt như nhau.Ngôn ngữ của mỗi dân tộc không phải đơn giản chỉ là phương tiện để thông tin màngôn ngữ còn hàm chứa trong đó rất nhiều các yếu tố huyền bí của văn hóa củariêng từng dân tộc Ngôn ngữ chỉ linh thiêng khi nó là tiếng mẹ đẻ Tất cả các phápthuật, bùa chú, lời sấm, lời nguyền… chỉ thiêng với người nói bằng tiếng mẹ đẻ.Liên hợp quốc đã khuyến cáo các dân tộc thiểu số trên thế giới cần phải dạy chocon trẻ nắm chắc ngôn ngữ của dân tôc mình rồi mới học các ngôn ngữ khác
a.Hỗ trợ việc nghiên cứu, sưu tầm, khôi phục tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật
Mỗi dân tộc có tiếng nói chữ viết riêng, quyền bình đẳng và tự do phát triển ngônngữ của mỗi dân tộc Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ đã đã chỉ rõ:
“Tiếng nói, chữ viết và truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc được đưa vàochương trình giảng dạy trong các trường phổ thông, trường phổ thông dân tộc nộitrú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng, trường dạynghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học phù hợp với địa bàn vùng dântộc”
Việt Nam hiện có 54 dân tộc anh em, trong đó khoảng 30 dân tộc thiểu số có chữviết, tiêu biểu như: Tày, Thái, Hoa, Khmer, Nùng, Mông, Gia Rai, Ê Đê, Ba Na,
Xơ Đăng, Cơ Ho, Chăm, Mnông Hiện nay đã có một số ngôn ngữ, chữ viết dântộc thiểu số được sử dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng từ trung ươngtới địa phương, như: Tày, Thái, Dao, Mông, Gia Rai, Ê Đê, Ba Na, Chăm,Khmer… Cả nước hiện có trên 30 tỉnh, thành phố đang tổ chức dạy tiếng nói vàchữ viết dân tộc thiểu số Nhiều địa phương đã triển khai thực hiện dạy tiếng dântộc cho học sinh trong trường phổ thông đạt kết quả tốt.hóa
b Tổ chức các hình thức giao lưu văn hóa, văn nghệ các dân tộc;
Khuyến khích và tạo điều kiện cho nghệ nhân các dân tộc thể hiện những tiết mụcbằng tiếng dân tộc mình; tổ chức thi hát dân ca, kể chuyện, đặt lời mới cho làn điệudân ca, hát những bài hát mới có lời bằng tiếng dân tộc thiểu số
c Ưu tiên tổ chức xuất bản sách, báo của ngành bằng tiếng dân tộc thiểu số hoặc bằng tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số; hỗ trợ cấp sách, báo, tạp chí cho thư viện công cộng vùng dân tộc thiểu số.
d Tổ chức sáng tác văn học nghệ thuật bằng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số, dịch các tác phẩm có nội dung phù hợp từ tiếng Việt sang tiếng dân tộc thiểu số;
ưu tiên đầu tư kinh phí cho các sáng tác mới và tổ chức phổ biến bằng tiếng dân tộc thiểu số; khuyến khích việc sáng tác các tác phẩm bằng tiếng mẹ đẻ trong giới văn nghệ sỹ người dân tộc thiểu số.
Trang 10e Ưu tiên sản xuất phim có thuyết minh hoặc lồng tiếng dân tộc thiểu số, băng hình có lời thuyết minh giới thiệu bằng tiếng dân tộc, băng, đĩa ca nhạc bằng tiếng dân tộc thiểu số.
* Đồng bào Khmer ở Kiên Giang
Hiện trong toàn tỉnh có 5 trường dân tộc nội trú với tổng số học sinh là 1.369
em Hàng năm, Sở Nội vụ đều mở lớp học tiếng Khmer cho cán bộ người Kinhtheo học tiếng Khmer để thuận lợi trong giao tiếp Hỗ trợ nghiệp vụ và tạo điềukiện cho các điểm chùa mở lớp học chữ Khmer cho con, em người dân tộc Nhằmduy trì và phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào Khmer, hầu hết các chùa Khmertrong tỉnh đều mở lớp dạy chữ Khmer trong nhà chùa Công tác vận động, tuyêntruyền trong đồng bào dân tộc về xóa mù chữ, nâng cao dân trí được chú trọnghơn, chương trình dạy song ngữ cho con em đồng bào Khmer được quan tâmthường xuyên ở các trường dân tộc nội trú và một số chùa Khmer Để bảo tồn vàphát huy tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu trong trong tỉnh, những năm quangành Văn hóa đã xuất bản và phát hành các ấn phẩm văn hóa – thông tin bằngtiếng dân tộc Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên tuyêntruyền kịp thời đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Kiên Giang hàng ngày có phát sóng chươngtrình tiếng Khmer Bộ đội Biên phòng có chương trình “Đẩy mạnh, nâng cao chấtlượng, hiệu quả hoạt động văn hóa thông tin tạo điều kiện cải thiện một bước đờisống văn hóa tinh thần cho đồng bào các dân tộc trên tuyến biến giới, biển đảo,vùng sâu, vùng xa”
3.Ưu tiên xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa phục vụ đồng bào các dân tộc.
Ưu tiên đầu tư, xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa, hỗ trợ trang thiết bị, phươngtiện phục vụ vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo các chương trình, đề án đã đượccấp có thẩm quyền phê duyệt
Hỗ trợ kinh phí theo phân cấp quản lý để thực hiện các hoạt động sau:
Tổ chức trưng bày, triển lãm các sản phẩm kinh tế - văn hóa;
Trang bị máy chiếu phim cho các Đội chiếu phim lưu động;
Đầu tư trang thiết bị, sách, báo cho hệ thống thư viện công cộng để luân chuyểnphục vụ đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo
*Đồng bào Khmer ở KG
Các thiết chế văn hóa vùng đồng bào dân tộc Khmer từng bước được đầu tư, hoànthiện Về cơ bản đã đưa được các hoạt động văn hóa về cơ sở phục vụ cho đồng
Trang 11bào vùng sâu, vùng xa có đông đồng bào dân tộc Khmer Hiện nay, nhiều xã đã cótrung tâm văn hóa, nhà văn hóa, đội thông tin lưu động, nhà truyền thống, thư viện,đội văn nghệ quần chúng, bưu điện văn hóa xã Ngân sách địa phương cũng đãcấp 5 tỉ đồng để xây dựng 5 trung tâm văn hóa làm mô hình thí điểm cho các xãLong Thạnh (Giồng Riềng), Tân Hiệp A (Tân Hiệp), Mỹ Đức (Hà Tiên), ĐôngHưng A (An Minh), Vĩnh Hiệp (Rạch Giá).
Tỉnh đã hỗ trợ đầu tư đóng mới 23 ghe ngo và trang bị 08 dàn nhạc ngũ âm cho cácchùa Khmer trị giá trên 2,5 tỷ đồng Ngành Văn hóa Kiên Giang trong thời gianqua đã cấp hàng chục bộ âm thanh, nhạc cụ cho đội văn nghệ quần chúng ở các xã
và chùa Khmer trong tỉnh, giúp đồng bào có điều kiện, phương tiện nhạc cụ để tậpluyện và biểu diễn Riêng Thành phố Rạch Giá đã đầu tư hơn 220 triệu đồng đóng
2 ghe ngo, khôi phục các đội văn nghệ dân tộc; Kiên Lương thành lập Đội Vănnghệ Khmer xã Bình An, đầu tư mua sắm trang thiết bị trị giá hơn 100 triệu đồng Các hoạt động văn hoá thể thao được tổ chức trong nhà chùa cũng khá phong phú,
đa dạng Đó là văn nghệ Rôbăm (kịch múa) Dùkê (kịch hát) Aday (hát đối) múaLămthon, nhạc ngũ âm, trống Chhây yăm… Thể thao có chơi cờ Ôc, nhảy bao,kéo co, bóng chuyền, đặc biệt là ghe ngo mang danh nghĩa của Chùa chứ khôngmang danh nghĩa của địa phương Thanh niên trai tráng trong các Phum, Sócthường được tập trung về chùa sau giờ lao động mệt nhọc, vui chơi giải trí sinhhoạt và tổ chức các hoạt động xã hội khác Nhà chùa đã thực sự trở thành mộtTrung tâm sinh hoạt văn nghệ thể thao góp phần phát huy vốn văn hoá truyềnthống trong XDĐSVH và nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của đồng bào
4.Bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống của các dân tộc.
Kiểm kê, chọn lọc và hướng dẫn đồng bào dân tộc thiểu số phục dựng các lễ hộitruyền thống tiêu biểu, trò diễn dân gian phù hợp với thuần phong mỹ tục và tìnhhình thực tế ở địa phương tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào các dân tộc thiểu sốbảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội truyền thống
Ở các làng, bản, buôn, phum, sóc, thôn… vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã đượcNhà nước quan tâm hỗ trợ để xây dựng các Nhà văn hoá, Nhà Rông, Nhà Gươl vănhoá… làm nơi sinh hoạt, tổ chức các hoạt động văn hoá - văn nghệ và hội họpchung của cộng đồng; Công tác đào tạo đội ngũ những người hoạt động văn hoá,nghệ thuật vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa được chú trọng bướcđầu; Một số di sản văn hoá của vùng đồng bào các dân tộc thiểu số được tôn vinh,đặc biệt Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được Tổ chức Văn hoá,
Trang 12Khoa học và Giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận là Di sản vănhoá phi vật thể đại diện nhân loại; Tăng cường giao lưu văn hoá qua các hoạt độngmang tính chất vùng, miền góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá dân tộc,góp phần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Khuyến khích việc phổ biến rộng rãi ở trong nước và nước ngoài các lễ hội truyềnthống các dân tộc thiểu số có giá trị tiêu biểu như:
+ Lễ cúng tổ tiên của người Lô Lô ở xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang
là di sản văn hoá phi vật thể thuộc loại hình Tập quán xã hội và tín ngưỡng, đãđược Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản vănhoá phi vật thể quốc gia năm 2012 Đây là một nghi lễ cổ truyền của người Lô Lô,thường được tổ chức hàng năm vào ngày 14 tháng 7 (Âm lịch) tại các gia đìnhtrưởng họ
+ Lễ Cấp Sắc của người Dao
Người Dao quan niệm, đàn ông nếu chưa trải qua lễ cấp sắc thì dù già vẫn coi là trẻcon vì chưa có thầy Cấp sắc, chưa được cấp đạo sắc, chưa có tên âm Người đã quaCấp sắc dù ít tuổi vẫn được coi là người trưởng thành, được tham gia vào các côngviệc hệ trọng của làng, được giúp việc cho thầy cúng, được cúng bái
Đó là các Ngày hội văn hóa các dân tộc vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Ngày hội vănhóa dân tộc Mông, dân tộc Chăm, dân tộc Khmer… Tạo điều kiện để đồng bào cácdân tộc thiểu số được giao lưu, học hỏi, tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thắt chặttình đoàn kết các dân tộc, đồng thời với việc làm cho nhiều giá trị văn hoá truyềnthống tốt đẹp của các dân tộc tiếp tục được khơi dậy, bảo tồn và phát huy trong đờisống cộng đồng
* Đồng bào Khmer ở KG
Công tác tổ chức và quản lý lễ hội có nhiều chuyển biến tích cực, việc triển khaiQuy ước thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và hoạtđộng tín ngưỡng tôn giáo nơi thờ tự, bài trừ hủ tục, mê tín, dị đoan… đã tạo được
sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các tầng lớp nhân dân Các lễ hội
truyền thống tiêu biểu như: Lễ hội Chôl-Chnăm-Thmây, Đôl-Ta, Ok-Om-Bók của
người Khmer luôn được các cấp chính quyền địa phương và cơ quan chủ quảnquan tâm tạo điều hiện thuận lợi Hàng năm tổ chức Ngày hội Văn hóa – Thể thao
và Du lịch dân tộc Khmer vào tháng 10 âm lịch tại Gò Quao tạo nên bầu không khívui tươi, lành mạnh, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Khmer
Việc sân khấu hóa các lễ hội như hiện nay đã làm mất đi phần nhiều các giá trịnhân bản của truyền thống Nguồn gốc của các lễ hội là bắt đầu từ lao động sảnxuất, mô phỏng và cách điệu hóa các động tác lao động sản xuất để cho cuộc sốngtinh thần được thăng hoa Sân khấu hóa lễ hội chính là đã làm ngược lại quy luật