I. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Một số khái niệm cơ bản 1.1.1.Dân tộc và dân tộc thiểu số 1.1.1.1. Dân tộc Dân tộc là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc. Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phỏ biến nhất. Một là: dân tộc chỉ mọt cộng đồngngười có mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng, những nét văn hóa đặc thù và có ý thức tự giác dân tộc, Xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc. Với nghĩa này, dân tộc là tộc người,là bộ phận của quốc gia Quốc gia có nhiều dân tộc. Hai là: dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong cuộc suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Với nghĩa này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó Quốc gia dân tộc. Dưới góc độ môn chủ nghĩa xã hội khoa học dân tộc hiểu theo nghĩa thứ nhất. 1.1.1.2. Dân tộc thiểu số Ngược lại với dân tộc đa số( chiếm trên 50% dân số cả nước), dân tộc thiểu số là dân tộc có số dân ít hơn dân tộc đa số. Để phân biệt các dân tộc thiểu số với nhau dựa trên 3 tiêu chí cơ bản : ngôn ngữ tộc người( tiếng nói và chữ viết), văn hóa tộc người và ý thức tự giác tộc người.
Trang 1“Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn hiện nay”
A MỞ ĐẦU
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
I.1. Mot so khai niem co ban
I.1.1. D an toc thieu so I.1.2. Gia tri van hoa phi vat the I.2. Su can thiet phai bao ton, phat huy gia tri van hoa phi vat the
cac dan toc thieu so I.3. Noi dung bao ton, phat huy gia tri van hoa phi vat the cac dan
toc thieu so
II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN,PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN
HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN HIỆN NAY
II.1 Dac diem van hoa- xa hoi tinh Lang son
II.2 Thành tựu và nguyên nhân
II.3 H ạn chế và nguyên nhân
III. QUAN ĐIỂM , GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG
TÁC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
III.1. Quan điểm
III.2. Giải pháp
III.2.1.giải pháp chung III.2.2.giải pháp cụ thể
MO DAU
Trang 2Viet Nam la mot quoc gia co su daon ket,thong nhat cua 54 dan toc anh em.Moi dan toc deu co nhung net dep van hoa rieng , moi vung mien, dia Phuong lai la noi cu tru cua nhieu dan toc khac nhau
Voi dac diem, cac dan toc thieu so Viet Nam sinh song tren dia ban rong lon
va co vi tri chien luoc quan trong ve kinh te, chinh tri, an ninh, quoc phong Do do,
quan tam dac biet doi voi cong tac dan toc thong qua cac chien luoc, quy hoach, ke hoach,chinh sach, de an …trong do phai ke toi chinh sach bao ton va phat huy gia tri van hoa phi vat the cua cac dan toc thieu so
cung nhu nhieu tinh khac,khong chi co vi tri chien luoc quan trong ve kinh te, an ninh, quoc phong ma con la noi sinh song cua rat nhieu toc nguoi nhu: Nùng, Tày, Dao, Hoa, Sán Chay, Mông và các dân tộc ít người khác.Voi nhung net dep huyen
bi, thieng lieng ma cac dan toc mang lai, Có thể ví Lạng Sơn như một “ bảo tàng sống” hiện hữu và tiềm ẩn các giá trị văn hóa hết sức phong phú và đa dạng về cả giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể
Cung voi thoi gian, nhieu gia tri van hoa, nhat la gia tri van hoa phi vat the nhu phong tuc, le hoi… cua cac dan toc thieu so noi day dan mai mot hoac bi bien tuong, bien dang.Dieu nay nhu mot tieng chuong canh tinh doi voi nhung nha lanh dao, chinh quyen dia Phuong va ban than nhung nguoi dan la dong bao dan toc thieu so phai phat huy tinh than tu giac, doan ket trong viec giu gin cac net dep van hoa truyen thong dong thoi ra suc sang tao len nhung gia tri van hoa moi co y nghia dan toc lau dai
Trang 3Nhan thuc duoc tinh cap thiet, cung nhu tam quan trong ,tren thuc te da co rat nhieu cong trinh nghien cuu xoay quanh van de nay song cac bai viet con co nhung ton tai nhat dinh De khac phuc nhung yeu kem cua cac nghien cua truoc va cu the
hia noi dung van de, em lua chon “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể
các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn hiện nay” lam de tai
tieu luan cua minh
Ket cau cua tieu luan:ngoai phan mo dau va ket luan, phan noi dung tieu luan duo chia lam 3 chuong
Chuong I Co so ly luan
Chuong II Thuc trang cong tac bao ton va phat huy gia tri van hoa phi vat the cac dan toc thieu so o tinh Lang son giai doan hien nay
Chuong III Quan diem, giai phap nham nang cao hieu qua cong tac bao ton va phat huy gia tri van hoa phi vat the cac dan toc thieu so tren dia ban tinh Lang son
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1.1.Dân tộc và dân tộc thiểu số
1.1.1.1 Dân tộc
Dân tộc là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc
Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phỏ biến nhất
Trang 4Một là: dân tộc chỉ mọt cộng đồngngười có mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh
hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng, những nét văn hóa đặc thù và có ý thức tự giác dân tộc, Xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc Với nghĩa này, dân tộc là tộc người,là bộ phận của quốc gia- Quốc gia có nhiều dân tộc
Hai là: dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có
lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong cuộc suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Với nghĩa này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó- Quốc gia dân tộc
Dưới góc độ môn chủ nghĩa xã hội khoa học dân tộc hiểu theo nghĩa thứ nhất 1.1.1.2 Dân tộc thiểu số
Ngược lại với dân tộc đa số( chiếm trên 50% dân số cả nước), dân tộc thiểu số là
dựa trên 3 tiêu chí cơ bản : ngôn ngữ tộc người( tiếng nói và chữ viết), văn hóa tộc người và ý thức tự giác tộc người
1.1.2 Giá trị văn hóa phi vật thể
Gía trị văn hóa phi vật thể là một dạng tồn tại (hay thể hiện) của văn hóa không phải chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối tồn tại khách quan trong không gian
và thời gian, mà nó thường tiềm ẩn trong trí nhớ, tập tính, hành vi, ứng xử của con người và thông qua các hoạt động sống của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội trong hoạt động tư tưởng và văn hóa - nghệ thuật mà thể hiện ra, khiến người ta nhận biết được sự tồn tại của nó
Di sản văn hóa phi vật thể là cái vô hình, chỉ được lưu truyền và biểu hiện bằng hình thức truyền miệng, truyền nghề và các dạng bí quyết nghề nghiệp khác
Trang 5Di sản văn hóa phi vật thể không chỉ mang đậm tính chất dân gian mà còn gắn bó mật thiết với các hoạt động mang tính chất tâm linh tại các thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng
Các giá trị văn hóa phi vật thể của đồng bào dân tộc thiểu số như: phong tục, lối sống, lễ tết, lễ hội, nghe thuat,…
1.2 Sự cần thiết phải bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số
Sở dĩ cần phải bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay là dựa trên những cơ sở sau:
Thứ nhất, xuất phát từ thực trạng văn hóa phi vật thể và công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số ở nước ta
Thứ hai, từ thách thức của xu hướng đồng hóa và toàn cầu hóa
Thứ ba, Từ nguyên tắc bình đẳng , tự quyết giữa các dân tộc
Thư tư, Xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung
Thứ năm, Xuất phát từ các nhiệm vụ phát triển văn hóa-xã hội của Đất nước và của từng địa phương
1.3.Noi dung bao ton, phat huy gia tri van hoa phi vat the cac dan toc thieu so
Thứ nhất, Xây dựng và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, chương trình, đề án về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số
Thứ hai, Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số
Thu ba, kien toan bo may lam, thuc hien phan cong, phan cap trong cong tac bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số
Trang 6Thu tu, Xay dung he thong thong tin , thong ke ve tinh hinh bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số
Thu nam, huy dong cac nguon luc cho cong tac bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số
Thu sau, Tuyen truyen, van dong quan chung , dac biet la dong bao cac dan toc thieu so tham gia bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số
Thu bay, kiem tra,thanh tra, giam sat viec thuc hien cong tac bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số
II.THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN,PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ C ÁC D ÂN TỘC THI ỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN HIỆN NAY
2.1 Đặc điểm văn hóa – xã hội tỉnh Lạng Sơn
Lạng Sơn – một trong những tiểu vùng văn hóa tiêu biểu của vùng Đông Bắc nói riêng và cả nước nói chung, là tỉnh có bề dày lịch sử văn hóa truyền thống lâu đời, mảnh đất hội tụ và sinh tồn của 7 dân tộc anh em như: Nùng, Tày, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, Mông và các dân tộc ít người khác Mỗi dân tộc tuy không hình thành nên những địa bàn định cư riêng biệt những
có sự tập trung ở một số vùng nhất định, với những bản sắc văn hóa riêng Bên cạnh đó, nhìn chung đại bộ phận các dân tộc trên địa bàn sinh sống hòa thuận, quây quần bên nhau tạo nên sự giao thoa văn hóa hết sức đa dạng Đồng thời, với vị trí địa lý thuận lợi, là cửa ngõ giao lưu văn hóa, kinh tế với Trung Quốc, điểm giao thoa hội tụ của nhiều nền văn hóa đã hình thành nên một diện mạo văn hóa Xứ Lạng đa dạng trong thống nhất, mang tính đặc thù riêng của vùng
Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, bằng
ý chí độc lập, tự cường đồng bào nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đã gắn
bó keo sơn, đoàn kết một lòng, không ngừng xây dựng, bồi đắp, hun đúc và
Trang 7từng bước khẳng định những phẩm chất, tinh hoa văn hóa truyền thống của mình trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Ngày nay, những di sản văn hóa truyền thống Lạng Sơn đã trở thành một nét tiêu biểu của nền văn hóa Việt Nam Có thể ví Lạng Sơn như một “ bảo tàng sống” hiện hữu và tiềm ẩn các giá trị văn hóa hết sức phong phú và đa dạng về cả giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể Các giá trị văn hóa
ấy luôn được bảo lưu trao truyền, bổ sung, sáng tạo qua các thế hệ theo chiều hướng tích cực trong, hòa chung trong “dòng chảy” của cộng đồng văn hóa của các dân tộc Việt Nam
2.1 Thành tựu
Hiện nay, song song với hệ thống di tích, danh lam thắng cảnh tỉnh Lạng Sơn có khoảng hơn 340 lễ hội lớn nhỏ khác nhau cùng những làn điệu dân ca, dân vũ, trò vui đặc sắc diễn ra trong các lễ hội, ngày vui như: hát then đàn tính; hát SLi, hát Cò Lẩu (dân tộc Nùng); hát Lượn, hát Quan Làng (dân tộc Tày); hát Xắng Cọ( dân tộc Sán Chỉ); múa sư tử, múa võ dân tộc, trò sĩ - nông - công - thương trong lễ hội Lồng Tồng, thi nấu món ăn dân tộc; nghề nhuộm chàm, thêu, dệt thổ cẩm và nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác Không chỉ có giá trị trong công tác giáo dục tri thức, hình thành nhân cách con người nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của tỉnh đã và đang phát huy vai trò, tiềm năng, thế mạnh của mình trong việc quảng bá hình ảnh quê hương Xứ Lạng, phát triển kinh tế du lịch, thu hút du khách, các nhà đầu tư đến Lạng Sơn tìm hiểu khám phá và lựa chọn cơ hội đầu tư
Nhận thức rõ những lợi ích, tiềm năng to lớn của nền văn hoá dân tộc Xứ Lạng trong phát triển kinh tế, văn hóa, giao lưu, đối ngoại Trong thời gian qua thực hiện tinh thần Nghị quyết Trung ương V khóa VIII
của Đảng về “xây dựng văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc”; Quyết
định số 124/2003/QĐ – TTg, ngày 17/6/2003 của Thủ tướng chính phủ về việc
Trang 8phê duyệt Đề án bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số; Nghị quyết số
13 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn; Đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 – 2015…
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đã có nhiều hoạt động, giải pháp tích cực để khơi dậy, bảo tồn và phát huy vốn di sản văn hóa đặc sắc của dân tộc và đã đạt được một số thành tựu cụ thể như: Công tác bảo tồn, phát huy tinh hoa văn hóa truyền thống các dân tộc được quan tâm, chú trọng
Từ năm 1998 đến nay, tỉnh Lạng Sơn đã triển khai thực hiện 14 dự án nghiên cứu, phục dựng, bảo tồn và phát huy các loại hình lễ hội, dân ca, dân vũ cùng nhiều phong tục tập quán truyền thống của đồng bào nhân dân các dân tộc trên địa bàn Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ngày một nâng cao, các thiết chế văn hóa thông tin từng bước được cải thiện
Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa từ tỉnh đến cơ sở được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, các phong trào văn hóa, văn nghệ ở cơ sở phát triển mạnh, việc khai thác sử dụng các làn điệu dân ca, dân vũ để dàn dựng, cải biên, đặt lời viết thành các tiết mục biểu diễn nghệ thuật được quan tâm, chú trọng…Qua đó, bước đầu xây dựng được một diện mạo về đời sống văn hóa phong phú, góp phần thu hẹp khoảng cách đời sống văn hóa giữa nông thôn và thành thị, giữa các tầng lớp dân cư, khơi dậy tinh thần bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc trong đông đảo tầng lớp nhân dân, đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư
2.2 H ạn chế và nguyên nhân
Trang 9Tuy nhiên, do đặc thù của di sản văn hóa phi vật thể là tồn tại trong trí nhớ, được lưu truyền chủ yếu bằng con đường truyền miệng và đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ; cùng với sự giao lưu, hội nhập toàn diện đã tác động một cách sâu rộng đến đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào nhân dân các dân tộc Lạng Sơn nói riêng và cả nước nói chung
Do vậy, cũng như ở các địa phương khác trên cả nước, vấn đề bảo tồn
và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Lạng Sơn được đặt ra còn muộn, chưa được như mong muốn, việc sưu tầm, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể chưa, tương xứng với tiềm năng hiện có; công tác nghiên cứu sưu tầm còn mang tính dàn trải, chưa sâu và còn mang tính phiến diện, nhiều di sản văn hóa phi vật thể đã được sưu tầm nhưng chưa được đưa vào khai thác, sử dụng trong đời sống, nhiều nếp sống sinh hoạt văn hóa không còn phù hợp với đời sống hiện tại, các tệ nạn mê tín dị đoan ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn tồn tại; các loại hình ngũ văn dân gian, văn học nghệ thuật truyền thống như: truyện cổ tích, thần tích, thần phả, sắc phong, ca dao, tục ngữ, văn học dân gian… đã được nghiên cứu, sưu tầm tuy nhiên chưa được tổng hợp, biên tập một cách khoa học và có hệ thống; trang phục, tiếng nói chữ viết của đồng bào các dân tộc đang có nguy cơ mai một…Nếu tình trạng trên tiếp tục diễn ra thì trong tương lai không xa những đặc trưng văn hóa truyền thống tiêu biểu của các dân tộc sẽ bị “hòa tan” dưới ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường cùng sự du nhập của những “nền văn hóa ngoại lai” Đặc trưng văn hóa truyền thống của dân tộc sẽ dần mai một và biến mất, thay vào đó là sự pha tạp, lai căng của nhiều nền văn hóa khác nhau và mỗi dân tộc sẽ tự đánh mất hình ảnh của tổ tiên, đánh mất bản sắc văn hóa, dân tộc mình và sự tồn tại của chính mình
Nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại
Trang 10Thu nhat, Là do đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân
tộc ở nhiều nơi còn nghèo nàn, khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế mới
Thu hai, Sự xâm nhập của nền văn hóa bên ngoài từ nhiều luồng đã tấn
công vào nền văn hóa dân tộc vốn đã yếu sức đề kháng Lứa tuổi thanh niên chưa ý thức đầy đủ về nền văn hóa dân tộc của mình nên dễ tiếp thu văn hóa bên ngoài không có sự chọn lọc, có biểu hiện xu hướng vọng ngoại, quay lưng lại với những sinh hoạt văn hóa dân tộc.Việc kế thừa, phát huy nền văn hóa của các dân tộc thiểu
số trong tỉnh mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn
Thu ba, Công tác quản lý còn bộc lộ nhiều yếu kém, thiếu những giải
pháp khả thi, chưa có được những mô hình, những phương thức tổ chức sinh hoạt văn hóa thực sự hiệu quả ở cơ sở Các sinh hoạt lễ hội, văn nghệ dân gian nhiều lúc còn mang tính hình thức và việc biến nó thành những sinh hoạt bổ ích, lành mạnh
có tính thường xuyên và tính xã hội còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong khâu
tổ chức
Thu tu, Thiếu những công trình nghiên cứu khoa học mang tính thực
tiễn cho các mục tiêu giữ gìn và phát huy vốn văn hóa, văn nghệ dân gian vào đời sống xã hội; nguồn kinh phí, ngân sách, phương tiện, con người cần đầu tư, bố trí cho lĩnh vực này còn ít ỏi và khó khăn, đặc biệt là sự thiếu hụt lực lượng cán bộ làm công tác văn hóa là người các dân tộc thiểu số ở địa phương
Thu nam, Những sáng tác, những tác phẩm, những công trình nghệ thuật,
những tài năng lớn thừa kế và nâng cao được các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc để có thể tạo được sức lôi cuốn hấp dẫn công chúng vào các sinh hoạt văn hóa truyền thống còn hạn chế Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc dù đã có nhiều tiến