1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

quản lý nhà nước về tôn giáo phật giáo ở việt nam

27 507 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 108,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôn giáo tham gia vào rất nhiều lĩnh vực của đời sống tinh thần, các Tôn giáolớn trên thế giới như Ấn Độ giáo, Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Hồi giáo… không chỉ ảnhhưởng sâu sắc trong phạm

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Đinh Thị Diệu Thúy

Nguyễn Thị Thúy Quỳnh

Hà Nội, năm 2015TIỂU LUẬN

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

I Tổng quan về Tôn Giáo và Phật Giáo 2

1 Tôn Giáo 2

2 Phật Giáo 3

II Phật Giáo ở Việt Nam 8

1 Sự du nhập và hình thành Phật Giáo ở Việt Nam(từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ V) 8

2 Quá trình phát triển 10

3 Sự ảnh hưởng của Phật Giáo đối với Việt Nam 12

III Quản lý nhà nước về Phật Giáo 14

1 Thực trạng quản lý nhà nước về Phật Giáo 17

3 Sự ảnh hưởng của quản lý nhà nước về Phật Giáo 21

4 Giải pháp trong quản lý nhà nước về Phật Giáo 22

KẾT LUẬN 25

Trang 3

MỞ ĐẦU

Tôn giáo – một vấn đề tưởng chừng như vô cùng cũ kĩ, nhưng thực chất nó luôn luônmới mẻ Cũng bởi vì tôn giáo nằm trong một bộ phận cấu thành của xã hội thế nên cùng với

sự thay đổi của loài người, tôn giáo cũng có những sự biến đổi dù là về nội dung hay chỉ là

về hình thức Tôn giáo tham gia vào rất nhiều lĩnh vực của đời sống tinh thần, các Tôn giáolớn trên thế giới như Ấn Độ giáo, Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Hồi giáo… không chỉ ảnhhưởng sâu sắc trong phạm vi một quốc gia riêng lẻ mà tầm ảnh hưởng còn mang tính quốctế

Việt Nam không đứng ngoài tầm ảnh hưởng đó Tôn giáo tại Việt Nam có mối liên hệvới nền văn minh Trung Hoa và văn minh Ấn Độ nhưng người Việt còn kết hợp yếu tốtruyền thống đạo đức dân tộc mình vào đó để hình thành tôn giáo mang bản sắc riêng.Cáctôn giáo lớn ở Việt Nam như Phật giáo, Tin Lành, Công giáo, Hồi giáo… đã phát triển và cónhững tác động khác nhau đối với đời sống con người

Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, vấn đề tôn giáo đãđược Đảng và Nhà nước ta xem xét, đánh giá lại trên quan điểm khách quan hơn, không xoá

bỏ một cách duy ý chí như trước nữa mà nhìn nhận trên quan điểm phát huy những mặt tíchcực, gạt bỏ những mặt tiêu cực trong các tôn giáo Bên cạnh đó, với sự phát triển ngày càngnhanh của xã hội, đặt ra thách thức để nhà nước quản lý các tôn giáo sao cho thống nhất, gópphần xây dựng đất nước giàu mạnh, ổn định, hòa bình

Xét riêng về Phật giáo_tôn giáo lớn nhất ở Việt Nam hiện nay, Nhà nước ta cũng cầnphải rất quan tâm và chú trọng để quản lý sao cho tốt Chính vì vậy, để hiểu hơn về Phậtgiáo ở Việt Nam cũng như cách Nhà nước quản lý về Phật giáo từ trước đến nay, nhómchúng em muốn chia sẻ đến cô và các bạn những thông tin về “Quản lý nhà nước về Phậtgiáo” Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của cô và các bạn để bài làm được hoànthiện hơn

Trang 4

NỘI DUNG

I Tổng quan về Tôn Giáo và Phật Giáo

1 Tôn Giáo

Có nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo:

- Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người”

- Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: “Tôn giáo là niềm tin vào cái siêunhiên”

- Khái niệm mang khía cạnh bản chất xã hội của tôn giáo của C.Mác: “Tôn giáo là tiếngthở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinhthần của trật tự không có tinh thần”

với tự nhiên và xã hội, nó còn gieo niềm hi vọng vào con người, dù có phần ảo tưởng đểyên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công

và khổ ải

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về Tôn Giáo như sau:

“Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau”.

Hiện nay, ở nước ta có sáu Tôn giáo lớn đã được nhà nước thừa nhận về tổ chức là:

- Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, Hồi Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo với khoảng 20 triệu tín

đồ

- Tín ngưỡng truyền thống dân gian mà nổi bật là phong tục thờ cúng tổ tiên đã dunghợp với các Tôn giáo, góp phần tạo nên đặc điểm tình cảm, tâm hồn, tính cách ngườiViệt Nam

Trang 5

2 Phật Giáo

2.1 Giáo chủ

- Người sáng lập ra đạo Phật là Thái tử Tất Đạt Đa sinh năm 624 trước công nguyên thuộcdòng họ Thích Ca trị vì nước Ca Tỳ La Vệ xứ Trung Ấn Độ lúc đó Dù sống trong cuộc đờivương giả nhưng Thái tử vẫn nhận ra sự đau khổ của nhân sinh, vô thường của thế sự nênThái tử đã quyết tâm xuất gia tìm đạo nhằm tìm ra căn nguyên của đau khổ và phương phápdiệt trừ đau khổ để giải thoát khỏi sinh tử luân hồi Sau nhiều năm tìm thày học đạo, Thái Tửnhận ra rằng phương pháp tu hành của các vị đó đều không thể giải thoát cho con người hếtkhổ được Cuối cùng, Thái tử đến ngồi nhập định dưới gốc cây Bồ đề và thề rằng “Nếu Takhông thành đạo thì dù thịt nát xương tan, ta cũng quyết không đứng dậy khỏi chỗ này” Sau

49 ngày đêm thiền định, Thái tử đã đạt được Đạo vô thượng, thành bậc “Chánh đẳng chánhgiác”, hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni Đó là ngày 08 tháng 12 năm Đức Phật 31 tuổi

- Giáo chủ của đạo Phật được gọi là Đức Đạt Lai Lạt Ma (Daila Lama) – nghĩa là đại sư vớitrí tuệ như biển cả

- Vị Đạt Lai Lạt Ma hiện nay là vị thứ 14, sống lưu vong tại Ấn Độ từ 1959 đến nay Sưđược trao giải Nobel Hòa bình năm 1989 đồng thời là người đại diện Phật giáo xuất sắc hiệnnay trên thế giới

2.2 Niềm tin của Phật giáo

Tư tưởng chủ đạo của đạo Phật là dạy con người hướng thiện, có tri thức để xây dựng cuộcsống tốt đẹp yên vui trong hiện tại Đạo Phật không công nhận có một đấng tối cao chi phốiđời sống của con người, không ban phúc hay giáng hoạ cho ai mà trong cuộc sống mỗingười đều phải tuân theo luật nhân - quả, làm việc thiện thì được hưởng phúc và làm việc ácthì phải chịu báo ứng

2.3 Giáo pháp

Giáo pháp đạo Phật được tập hợp trong Tam tạng:

- Kinh tạng: là những sách ghi chép lời Phật giảng dạy về giáo lý, còn gọi là Khế kinh,

có nghĩa như là một chân lý

- Luật tạng: là sách ghi chép những giới luật của Phật chế định dành cho 2 chúng xuấtgia và 2 chúng tại gia phải tuân theo trong quá trình sinh hoạt và tu học, đặc biệt là các quy

Trang 6

- Luận tạng: là sách giảng giải ý nghĩa về kinh, luật; chứa đựng các quan niệm đạoPhật về triết học và tâm lí học.

2.4 Giáo lý

Giáo lý của đạo Phật có rất nhiều nhưng đều xuất phát từ thực tế cuộc sống, không trừutượng, siêu hình, giáo điều hay khiên cưỡng, không ép buộc mà hoàn toàn chỉ mang tínhđịnh hướng để cho mọi người tuỳ điều kiện, hoàn cảnh, nhận thức áp dụng linh hoạt để dù tutheo cách nào trong 84.000 pháp môn tu Đức Phật đã chỉ ra thì cuối cùng cũng đạt đến mụcđích sống yên vui, ấm no và hạnh phúc cho mỗi người, cho gia đình và xã hội

Giáo lý cơ bản của đạo Phật có 2 vấn đề quan trọng, đó là Lý Nhân duyên và Tứ Diệu

đế (4 chân lý).

Lý Nhân duyên

Phật giáo quan niệm các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ luôn luôn vận động và biếnđổi không ngừng theo quy luật Thành - Trụ - Hoại – Không: mỗi sự vật đều có quá trìnhhình thành, phát triển và tồn tại một thời gian, rồi biến chuyển đi đến huỷ hoại và cuối cùng

là tan biến (ví như một làn sóng, khi mới nhô lên gọi là “thành”, khi nhô lên cao nhất gọi là

“trụ”, khi hạ dần xuống gọi là “hoại”, đến khi tan rã lại trở về “không”) và đều bị chi phốibởi quy luật nhân - duyên, trong đó nhân là năng lực phát sinh, là mầm để tạo nên quả vàduyên là sự hỗ trợ, là phương tiện cho nhân phát sinh, nảy nở

Nhân - duyên ở đây được Phật giáo khái quát thành một chuỗi 12 nhân duyên (thậpnhị nhân duyên), là sợi dây liên tục nối tiếp con người trong vòng sinh tử luân hồi: Vô minh;Hành; Thức; Danh sắc; Lục nhập; Xúc; Thụ; Ái; Thủ; Hữu; Sinh; Lão tử Phật giáo chorằng 12 nhân duyên có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, cái này là quả của cái trước nhưnglại là nhân, là duyên cho cái sau

Phật giáo quan niệm mọi sự vật luôn luôn biến chuyển, đổi thay, mọi thứ ta có, ta nhìnthấy đều chỉ là vô thường Khi đầy đủ nhân duyên hội hợp thì sự vật hiện hữu, gọi là "có";khi nhân duyên tan rã thì sự vật biến diệt, lại trở về là "không" Muôn vật từ nhân duyên màsinh và cũng do nhân duyên mà diệt Lý nhân duyên làm cho ta thấy con người là một đấngtạo hoá tự tạo ra đời sống của mình, con người làm chủ đời mình, làm chủ vận mệnh củamình Từ cách nhìn nhận đó, Đức Phật khuyên con người sống hướng thiện, thực hiện tâm từ

bi, biết yêu thương và chia sẻ, vì hạnh phúc của mọi người và hạnh phúc của mình, sống tự

Trang 7

tại an lạc, không cố chấp bám víu vào sự vật, hiện tượng, không bị ảnh hưởng, chi phối bởi

sự vô thường của cuộc sống

Tứ diệu đế

Tứ diệu đế đã trở thành giáo lý căn bản, xuyên suốt trong toàn bộ kinh điển Phật giáo

Tứ diệu đế bao gồm: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế

- Khổ đế: Đức Phật chỉ ra rằng, con người ta sống ở trên đời ai cũng phải gặp những

điều đau khổ Ngài đã khái quát cái khổ của con người thành 8 loại khổ: Sinh; Lão;Bệnh;Tử; Ái biệt ly khổ; Oán tăng hội khổ; Cầu bất đắc khổ;Ngũ ấm xí thịnh khổ Đức Phậtnói Khổ đế không phải để làm cho con người buồn chán, bi quan mà trái lại, làm cho mọingười nhìn rõ về quy luật và thực tế của cuộc sống để trân trọng những gì mình có, khi gặpcảnh khổ cũng không hoảng loạn mà điềm tĩnh đón nhận, không bị hoàn cảnh chi phối, tìmphương án giải quyết cho tốt đẹp

- Tập đế: nguyên nhân tạo thành những nỗi khổ hiện hữu ở đời, Đức Phật khái

quát nguyên nhân nỗi khổ thành “Thập kết sử”, đó là: tham (tham lam), sân (giận dữ), si (simê), mạn (kiêu ngạo), nghi (nghi ngờ), thân kiến (chấp ngã), biên kiến (hiểu biết không đầy

đủ, cực đoan), tà kiến (hiểu không đúng, mê tín dị đoan…), kiến thủ (bảo thủ về ý kiến củamình), giới cấm thủ (làm theo lời răn cấm của tà giáo)

- Diệt đế: Đức Phật chỉ ra kết quả an vui, hạnh phúc đạt được khi con người diệt trừ

hết những nỗi khổ, muốn diệt khổ phải diệt tận gốc, đó là diệt cái nguyên nhân gây ra đaukhổ

- Đạo đế: là những phương pháp Đức Phật hướng dẫn để chúng sinh thực hành diệt

khổ, được vui Đạo đế có 37 phẩm chia làm 7 loại, đó là:

+ Tứ niệm xứ (bốn điều mà người tu hành thường xuyên nghĩ đến): quán thân bất tịnh; quántâm vô thường; quán pháp vô ngã; quán thọ thị khổ

+ Tứ chánh cần (bốn phép siêng năng chân chính để tinh tấn tu hành): tinh tấn ngăn ngừanhững điều ác chưa phát sinh; tinh tấn dứt trừ những điều ác đã phát sinh; tinh tấn phát triểnnhững điều lành chưa phát sinh; tinh tấn tiếp tục phát triển những điều lành đã phát sinh.+ Tứ như ý túc (bốn phép thiền định để việc tu hành được phát triển): Dục như ý túc, tinh tấnnhư ý túc, nhất tâm như ý túc và quán như ý túc

Trang 8

+ Ngũ căn (năm điều căn bản giúp người tu hành đạt chính quả): Tín căn, tấn căn, niệm căn,định căn, huệ căn.

+ Ngũ lực (năm năng lực để cùng ngũ căn giúp người tu hành đạt chính quả): Tín lực, tấnlực, niệm lực, định lực và huệ lực

+ Thất bồ đề phần (bảy pháp tu tập giúp người tu hành thành tựu đạo quả đại giác): Trạchpháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, niệm, định, xả

+ Bát chính đạo (8 con đường chân chính hợp với chân lý Tứ đế để tiến tới đạo Niết bàn,thoát khỏi khổ đau): Chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chínhtinh tiến, chính niệm và chính định)

Đây là phần quan trọng nhất trong Tứ diệu đế, vì khi biết rõ đau khổ, nguyên nhân của đaukhổ, mong muốn được thoát khổ để đạt đến cảnh giới an vui nhưng nếu không có phươngpháp hiệu nghiệm để thực hiện ý muốn ấy thì không giải quyết được vấn đề và càng thêmđau khổ

2.5 Giáo luật

Giáo luật Phật giáo được Đức Phật chế ra xuất phát từ thực tế trong khi điều hànhTăng đoàn với những điều quy định, cấm nhằm duy trì tổ chức tăng đoàn, hướng mọi ngườitới chân - thiện - mỹ, phát triển hạnh từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha, biết làm lành lánh dữ để đạttới giác ngộ và giải thoát

Cốt lõi của giáo luật Phật giáo là “Ngũ giới” và “Thập thiện”:

- Ngũ giới là 5 giới cấm: không sát sinh; không nói sai sự thật; không tà dâm; không

trộm cắp; không uống rượu

- Thập thiện là mười điều thiện nên làm, trong đó:

+ Ba điều thiện về thân (không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm).

+ Bốn điều thiện về khẩu (không nói dối, không nói hai chiều, không nói điều ác, khôngnói thêu dệt)

+ Ba điều thiện về ý (không tham lam, không giận dữ, không tà kiến)

Trên cơ sở của quy định Ngũ giới và Thập thiện, Phật giáo đã quy định chi tiết và cụthể đối với từng loại xuất gia

Có thể nói, giáo luật của Phật giáo có nhiều điểm tương đồng với truyền thống vănhoá của các dân tộc, đặc biệt là ở các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam Giáo luật

Trang 9

của Phật giáo đã có đóng góp không nhỏ vào việc điều chỉnh hành vi, hình thành nhân cách,đạo đức lối sống của một bộ phận đông đảo nhân dân Việt Nam.

2.6 Nghi lễ Phật giáo

Phật giáo không có một số nghi lễ như những tôn giáo khác Nghi lễ, với việc thựchiện phức tạp và rườm rà, không có vị trí trong Phật giáo Chúng ta không tìm thấy bất cứtrường hợp nào mà ở đó Đức Phật đặt ra những luật lệ và phương cách thực hiện các nghi lễdành cho người tại gia Cá nhân mỗi người thực hiện hay không thực hiện các nghi lễ là tùy

ý Có một điều duy nhất mà mỗi người cần phải cân nhắc, đó là việc thực hành nghi lễ củamình không được trái ngược với giáo pháp của Đức Phật

Nghi lễ của Phật giáo thể hiện sự trang nghiêm, tôn kính tới người sáng lập Ban đầu,nghi lễ của Phật giáo khá đơn giản và đồng nhất, song cùng với quá trình phát triển, Phậtgiáo phân chia thành nhiều tông phái và du nhập vào các dân tộc khác nhau, hoà đồng cùngvới tín ngưỡng của người dân bản địa, lễ nghi của Phật giáo dần có sự khác biệt giữa các khuvực, vùng miền…

Một số ngày lễ, kỷ niệm lớn trong năm của Phật giáo (tính theo ngày âm lịch):

- Tết Nguyên đán

- Rằm tháng giêng: lễ Thượng nguyên

- Ngày 08/02 : Đức Phật Thích Ca xuất gia

Trang 10

2.7 Tổ chức Phật giáo

Phật giáo chủ trương không có giáo quyền, không công nhận thần quyền, không có tổchức theo hệ thống thế giới Ban đầu Phật giáo chỉ có những nhóm người cùng nhau đitruyền giáo, gọi là Tăng già hoặc Tăng đoàn hay Giáo đoàn Tăng già có từ 4 người trởlên Thành phần của đoàn thể Tăng già có thể bao gồm cả 2 chúng xuất gia và 2 chúng tạigia

Đứng đầu đoàn thể Tăng già là một vị Trưởng lão đạo cao đức trọng nhất trong đoànthể được tập thể các sư suy tôn để quản lý, điều hành Tăng đoàn Ngoài ra còn một số vịtrong hàng Trưởng lão có đạo hạnh và tài năng đứng ra giúp việc

Tuy nhiên, sau này trong quá trình du nhập và phát triển đến các quốc gia, Phật giáo

đã theo tinh thần Khế lý - Khế cơ để có những hình thức tổ chức, sinh hoạt tăng đoàn chophù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cũng như truyền thống, văn hoá của mỗi nơi

II Phật Giáo ở Việt Nam

1 Sự du nhập và hình thành Phật Giáo ở Việt Nam(từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ V)

Ngày nay, căn cứ các tài liệu và các lập luận khoa học của nhiều học giả, giới nghiêncứu hầu hết đều đồng ý rằng Ðạo Phật đã được truyền vào Việt Nam rất sớm, nhất là từ cuốithế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III Tây Lịch qua hai con đường Hồ Tiêu và Ðồng Cỏ

1.1 Phật Giáo du nhập qua con đường Hồ Tiêu:

- Con đường Hồ Tiêu tức là đường biển, những thương nhân Ấn Độ đã đi buôn trênnhững con thuyền buồm Trong các chuyến đi viễn này, các thương nhân thường cungthỉnh một hay hai vị tăng để cầu nguyện cho thủy thủ đoàn và các vị tăng này nhờ đó

mà đến truyền bá Ðạo Phật vào các dân tộc ở Ðông Nam Á

- Giao Châu tiêu biểu bấy giờ là trung tâm Luy Lâu, là nơi tụ điểm nghỉ chân giao lưucủa các thương thuyền Lịch sử chính thức xác nhận năm 240 trước Tây lịch, Mahinda

- con vua A dục (Asoka) đã đưa Ðạo Phật vào Việt Nam Tư liệu trong Lĩnh NamChính Quái cho biết một dữ kiện chứng tỏ sự có mặt của Ðạo Phật vào đời HùngVương thứ 3 (triều đại thứ 18 Vua Hùng kể từ trước công nguyên 2879-258) Ðó là câuchuyện công chúa Tiên Dung, con gái vua Hùng Vương thứ 3 lấy Ðồng Tử Chuyện kểrằng Ðồng Tử và Tiên Dung lập phố xá buôn bán giao thiệp với người nước ngoài Mộthôm Ðồng Tử theo một khách buôn ngoại quốc đến Quỳnh Viên và tại đây Ðồng Tử đã

Trang 11

gặp một nhà sư Ấn Ðộ ở trong một túp lều Nhờ đó mà Ðồng Tử và Tiên Dung đã biếtđến Ðạo Phật Qua dữ kiện này ta thấy sự hiện diện của Phật Giáo do các tăng sĩ Ấn

Ðộ truyền vào Việt Nam khá lâu trước Tây lịch

- Sử sách viết rằng, khi trả lời vua Tùy Văn Đế về tình hình Phật giáo Giao Châu, nhà sưĐàm Thiên đã nói rằng: “Xứ Giao Châu có đường thông sang Thiên Trúc Phật giáotruyền vào Trung Hoa chưa phổ cập đến Giang Đông, mà xứ ấy đã xây ở Luy Lâu hơn

20 bảo tháp, độ được hơn 500 tăng và dịch được 15 bộ kinh rồi Thế là xứ ấy theo đạoPhật trước ta”

- Qua nhiều tài liệu lịch sử và dựa vào địa lý, thiên nhiên, cư dân, lịch sử có thể chochúng ta một kết luận chắn chắc rằng Ðạo Phật đã được truyền trực tiếp vào Việt Namchứ không thông qua Trung Hoa, bằng con đường Hồ Tiêu Tuy nhiên, cũng có nhiều

cứ liệu lịch sử chứng minh rằng Ðạo Phật đồng thời được truyền vào Việt Nam qua conđường Ðồng Cỏ

1.2 Phật Giáo du nhập qua con đường Ðồng Cỏ:

- Con đường Ðồng Cỏ tức là đường bộ còn gọi là con đường tơ lụa Con đường này nốiliền Ðông Tây, phát xuất từ vùng Ðông Bắc Ấn Ðộ các thương nhân và tăng sĩ có thểqua vùng Tây Tạng và các triền sông Mekong, sông Hồng, sông Ðà mà vào Việt Nam

- Cuốn Lịch sử Phật Giáo Việt Nam (Hà Nội, 1988) có nói rõ: "Các thương nhân xuấtphát từ Trung Ấn có thể dùng tuyến đường bộ ngang qua đèo Ba Chùa và theo sôngKanburi mà xuống Châu Thổ Mênam, bằng tuyến đường hiện nay vẫn nối liền cảngMoulmein với thành phố Raheng, nằm trên một nhánh của con sông Mênam ( ) chínhtuyến đường này dẫn tới vùng Bassak ở trung lưu sông Mekong, địa bàn của vươngquốc Kambijan Vương quốc này có thể là do những di dân Ấn Ðộ thành lập trướccông nguyên Rất có thể các tăng sĩ Ấn Ðộ vào đầu công nguyên đã theo con đườngnày mà đến đất Lào, rồi từ đây vượt Trường Sơn sang Thanh Hóa hay Nghệ An"

Công nguyên Luy Lâu, trụ sở quận Giao Chỉ, đã sớm trở thành một trung tâm phật giáo quan trọng

Trang 12

 Sang thế kỷ thứ III, có ba nhà truyền giáo nước ngoài đến hoằng Pháp tại Giao Châu

là các ngài Khương Tăng Hội (gốc người Sogdiane, Khương Cư); ngài Chi CươngLương Tiếp (người xứ Nhục Chi) và ngài Ma Ha Kỳ Vực (người Ấn Ðộ)

Việt) Thiền sư Ðạt Ma Ðề Bà là người Ấn Ðộ đến Giao Châu vào giữa thế kỷ thứ V

để giảng dạy về phương pháp thiền học Thiền sư Huệ Thắng là người địa phương làmột trong những học trò của ông

Do sự du nhập trực tiếp từ Ấn Độ nên danh từ Buddha, ngôn ngữ cổ Sanskrit đã được phiên

âm thành chữ Bụt và được truyền khẩu trong dân gian Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia,

“Phật giáo Việt Nam lúc ấy mang màu sắc của Tiểu thừa Nam tông, Bụt được coi như một vịthần luôn có mặt ở khắp nơi, sẵn sang xuất hiện cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu”

2 Quá trình phát triển

2.1 Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ VI đến hết thế kỉ IX, thời kì phát triển.

- Từ Trung Hoa, có ba tông phái Phật giáo được truyền vào Việt Nam: Thiền tông, Tịnh

Đồ tông, Mật tông

Thiền tông: “Thiền” chủ trương tập trung trí tuệ suy nghĩ để tự mình tìm ra chân lý.

Thiền tông Việt Nam luôn đề cao cái Tâm Phật tại tâm, tâm là niết bàn, là Phật Tutheo Thiền tông đòi hỏi nhiều công phu và khả năng trí tuệ, do vậy chỉ phổ biến ở giớitrí thức thượng lưu

Tịnh Độ tông chủ trương dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài để cứu chúng sinh thoát

khổ Họ định ra một đích đến ở cõi niết bàn gọi là Tinh Độ; còn tượng Phật và niệmdanh Phật là để thường xuyên nhớ đến những lời dạy của Người mà ráng làm theo.Nhờ cách tu đơn giản như vậy, Tịnh Độ tông trở thành Phật giáo của giới bình dân vàphổ biến khắp cõi Việt Nam

Mật tông là phái chủ trương sử dụng những phép tu huyền bí như dùng linh phù, mật

chú, ấn quyết… để thu hút tín đồ và mau chóng đạt đến giác ngộ và giải thoát VàoViệt Nam, Mật tông không tồn tại độc lập như một tông phái riêng mà nhanh chónghòa vào dòng tín ngưỡng dân gian với những truyền thống cầu đồng, dùng pháp thuật,yểm bùa trị tà ma và chữa bệnh…

2.2 Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIII : thời kì cực thịnh

Trang 13

Do thâm nhập một cách hòa bình, ngay từ thời Bắc thuộc, Phật giáo đã phổ biến rộngkhắp.

- Năm 971, vua Ðinh Tiên Hoàng định giai cấp cho tăng sĩ và chính thức tiếp nhậnPhật Giáo làm nguyên tắc chỉ đạo tâm linh cho chính sự Cũng chính trong thế kỷ nàyvua Lê Ðại Hành đã mời thiền sư Pháp Thuận và thiền sư Vạn Hạnh của thiền phái

Tỳ Ni Ða Lưu Chi làm cố vấn chính sự Các thiền sư Khuông Việt, Pháp Thuận vàVạn Hạnh cũng đã tiếp tục trợ giúp vua Lý Thái Tổ trong thế kỷ kế tiếp

- Phật Giáo VIệt Nam trong thời kì này phát triển tới mức toàn vẹn và cực thịnh Doảnh hưởng tư tưởng của vua Trần Nhân Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ đầu thế kỉXIII, ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường sát nhập tạothành một và đưa tới sự phát triển của thiền phái Trúc Lâm là thiền phái duy nhấtdưới đời Trần Vì vậy đời Trần có thể gọi là thời đại thống nhất của Phật giáo các hệphái trước đó Tăng sĩ đời Trần không trực tiếp đóng góp vào sự nghiệp chính trị nhưcác thiền sư đời Lý nhưng Phật giáo là một yếu tố quan trọng để lien kết nhân dân.Phật giáo trong trong đời Trần la quốc giáo, mọi người dân trong xã hội đều hướng vềPhật giáo

- Rất nhiều chùa tháp có quy mô to lớn hoặc kiến trúc độc đáo được xây dựng trongthời gian này như chùa Phật Tích, chùa Dạm (chùa Đại Lãm), chùa Diên Hựu (MộtCột); chùa Phổ Minh, chùa Quỳnh Lâm, chùa Hương Lãng, chùa Linh Xứng, chùaBối Khê, chùa Thái Lạc, hệ thống chùa Yên Tử, tháp Bình Sơn…

2.3 Phật giáo Việt Nam trong thế kỉ XX : thời kì phục

hưng

- Sang đời Lê, nhà nước tuyên bố lấy Nho giáo làm quốc giáo, Phât giáo dần dần suythoái Đầu thế kỷ XVIII, vua Quang Trung có quan tâm chấn hưng đạo Phật, xuống chiếuchỉnh đốn việc cất chùa, chọn các tăng nhân có học thức và đạo đức cho coi chùa, song vìvua mất sớm nên việc này ít thu được kết quả Triều đại nhà Nguyễn truyền đến đời vua

Tự Đức thì mất chủ quyền, nước ta rơi vào vòng đô hộ của Pháp Phật giáo Việt Namvốn đã suy yếu nay còn điêu tàn hơn

- Những năm 30 của thế kỷ XX, các hội Phật giáo ở Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ lần

Ngày đăng: 25/03/2017, 20:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w