Trong vòng chưa đầy 8 năm 1980 đến 1988 Lưu Qung Vũ đã cho ra đời hơn 50 vở kịch được công chúng yêu thích và đón nhận một cách nồng nhiệt, được diễn đi diễn lại nhiều lần trên khắp cả n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-& -TRẦN THẾ TUÂN
ĐẶC ĐIỂM THƠ TRỮ TÌNH LƯU QUANG VŨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Đăng Xuyền
HÀ NỘI – 2015
Trang 2Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc tới GS.TS Trần Đăng Xuyền, người thầy
đã dành cho em sự quan tâm, hướng dẫn tận tình và những gợi ý quý báu trong quá trình em thực hiện luận văn này.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS Lưu Khánh Thơ đã cho em những ý
kiến cùng với những tài liệu liên quan đến tác giả Lưu Quang Vũ.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam hiện đại, khoa Ngữ văn, phòng quản lý khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã quan tâm, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Giáo Dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên Trường THPT Trần Can – Điện Biên Đông – Điện Biên, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập.
Xin được biết ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Trần Thế Tuân
Trang 3MỤC LỤC
(Lá bưởi lá chanh) 94
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Lưu Quang Vũ một con người, một số phận, một ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Việt Nam cuối thế kỷ XX Mấy ai từng biết rằng con người ấy đã âm thầm, lặng lẽ vượt lên chính mình, vượt qua bao bão giông của cuộc đời để miệt mài lao động nghệ thuật, để được thỏa lòng đam mê và tình yêu đắm đuối với nghệ thuật
chân chính, “nghệ thuật vị con người”.
Vào những năm 80 của thế kỷ XX trên sân khấu của kịch nói Việt Nam như bước vào thời kỳ hồi sinh, khởi sắc Hầu hết các rạp chiếu phim suốt từ bắc đến nam đều lung linh ánh đèn trở lại Những bước chân tấp nập, vội vã của hàng nghìn khán giả đứng chờ xếp hàng mua vé vào xem những vở kịch làm xôn xao dư luận
của Lưu Quang Vũ như: Lời nói dối cuối cùng; Nàng Xi-ta; Chết cho điều chưa có;
Nếu anh không đốt lửa; Lời thề thứ 9…
Có thể nói rằng, bằng chính tài năng, tâm huyết và khát khao bỏng cháy của mình Lưu Quang Vũ đã đem đến cho sân khấu kịch nói Việt Nam lúc bấy giờ một
sự hồi sinh thật sự mạnh mẽ Trong vòng chưa đầy 8 năm (1980 đến 1988) Lưu Qung Vũ đã cho ra đời hơn 50 vở kịch được công chúng yêu thích và đón nhận một cách nồng nhiệt, được diễn đi diễn lại nhiều lần trên khắp cả nước, mở ra một thời
kỳ phát triển huy hoàng của sân khấu Việt Nam Hàng chục vở kịch của anh đã được xướng tên cho các giải vàng trong các hội diễn sân khấu toàn quốc Đó là thời
kỳ mà kịch của Vũ đã thực sự chiếm lĩnh được sân khấu, thậm chí là “làm mưa làm
gió trên sân khấu nhất là sân khấu hội diễn”- (Lý Hoài Thu) Có lẽ chỉ chừng ấy
thôi cũng đủ để nói lên năng lực và sức sáng tạo dồi dào của một con người có tài năng bẩm sinh này Kịch của Lưu Qung Vũ không chỉ dừng lại là những trăn trở, suy tư sâu lắng về lẽ sống và lẽ làm người mà đó còn là tiếng lòng thiết tha, đồng vọng thấm đẫm chất thơ trong đề tài của anh Có những vở kịch của Lưu Quang Vũ
đã đứng vững trước thời gian, vượt lên trên tính thời sự của một thời để hướng tới cái muôn đời, cái vĩnh hằng của cuộc sống
Nhắc đến Lưu Quang Vũ còn phải nhắc đến mảng truyện ngắn của anh Tuy
Trang 5không gây được những tiếng vang và sự ồn ào như kịch, nhưng những tác phẩm của anh cũng mang đến cho người đọc xúc cảm riêng mang đậm phong cách của Vũ Bởi đó là những câu chuyện luôn rất đời, rất thật và thấm đẫm hồi ức, là những suy
tư, trăn trở về cuộc đời, về lẽ sống Anh khiến cho người đọc phải suy nghĩ nhiều hơn về trách nhiệm của mình Dường như qua những trang viết của Lưu Quang Vũ người đọc nhận thấy rằng họ phải sống tốt hơn, phải có trách nhiệm hơn đối với con người và cuộc sống Mặc dù những sáng tác truyện ngắn không nhiều nhưng cũng
đã kịp hé lộ ở Lưu Quang Vũ một cây bút có tiềm năng trong lĩnh vực này, như một
nhận xét đầy tinh tế và mang tính tiên đoán của nhà văn Nguyễn Minh Châu: “Nếu
một lúc nào đó…anh bỏ kịch và thơ, đi hẳn vào văn xuôi, chắc là anh vẫn giữ cái ngòi bút chừng mực dung dị và những truyện ngắn của anh chắc chắn sẽ có sức nặng hơn nhiều và giới văn xuôi lại như giới kịch bây giờ, cứ ngớ ra mà nhìn anh tung hoành” [1].
Hai nhà nghiên cứu Lý Hoài Thu và Lưu Khánh Thơ đã rất có lý khi cho rằng: văn xuôi của Lưu Quang Vũ là cầu nối giữa kịch và thơ, bởi truyện ngắn của
anh là “những truyện ngắn mang dư vị thơ” và “hàm chứa nhiều chất kịch” Đúng như đã có lần chính Lưu Quang Vũ cũng đã từng tâm sự: “Trong quan niệm của
tôi, thơ và kịch rất gần nhau” và “chất thơ phải là linh hồn của kịch”.
Tháng 9 năm 2000, Lưu Quang Vũ vinh dự nhận giải thưởng Hồ Chí Minh
về văn học nghệ thuật cũng bởi những đóng góp to lớn ấy của anh cho nền sân khấu nước nhà Anh là tác giả trẻ tuổi nhất được vinh dự nhận giải thưởng cao quý này
Như vậy, trước hết và sau cùng người ta vẫn thấy Lưu Quang Vũ là con người của thi ca Từ thẳm sâu trong con người anh, tâm hồn anh vẫn là tình yêu mãnh liệt, bỏng cháy dành cho thơ Thơ là nơi để anh gửi gắm, ký thác những nỗi niềm, những uẩn khúc sâu thẳm, thầm kín nhất của lòng mình mà nhiều khi anh không thể nói bằng kịch hay truyện Tình yêu ấy vẫn luôn nung nấu và không ngừng lớn mạnh trong trái tim của Lưu Quang Vũ, khiến cho anh luôn dành thời gian và một sự quan tâm đặc biệt cho thơ, mặc dầu vẫn còn đó những vất vả, lo toan
Trang 6bộn bề của cuộc sống Thậm chí trong những ngày tháng cay đắng nhất của cuộc đời khi tình yêu và hạnh phúc tan vỡ thì thơ như là người bạn tri kỷ để tâm hồn anh neo đậu, trú ngụ, để anh tìm thấy sự an ủi, vỗ về và xoa dịu những vết thương lòng
để anh sống “…Và anh tồn tại” Điều đó lý giải vì sao đã rất nhiều lần Lưu Quang
Vũ đã tâm sự với bạn đọc: “thơ mới là tình yêu của tôi”; “Tôi muốn sẽ làm thơ
mãi, nếu như mình còn làm được” [33].
Trên cuộc hành trình tìm đến với “nàng thơ”, Lưu Quang Vũ như một chàng
trai đa tình, lãng tử yêu thơ bằng một tình yêu đắm đuối, nồng nàn và tha thiết nhất
Để rồi từ đó anh vượt lên chính mình, vượt qua cả những cảnh ngộ của bản thân, những xót xa, cay đắng, lầm lỡ của cuộc đời để lặng lẽ và bền bỉ sáng tạo
Thơ Lưu Quang Vũ đã mang đến cho người đọc một giọng điệu riêng, một thế giới nghệ thuật khá đặc sắc và mới mẻ Chính vì vậy mà thơ anh có sức hút bao nhiêu thì cũng có chừng bấy nhiêu điều bí ẩn Tuy nhiên, từ trước tới nay chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào tìm hiểu những đặc điểm mang tính hệ thống và nổi bật nhất về thơ trữ tình của Lưu Quang Vũ
Vì những lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài “Đặc điểm thơ trữ tình Lưu Quang
Vũ” với mong muốn đưa ra một cái nhìn trọn vẹn hơn, hệ thống hơn về thế giới thơ
trữ tình Lưu Quang Vũ Bởi hành trình tìm đến với thơ của Vũ cũng chính là hành trình tìm đến với con người anh, đến với tiếng lòng thiết tha, sâu lắng, dung dị mà thầm kín của người nghệ sĩ tài hoa này Đó cũng là cách mà hết thảy chúng ta, những người của hiện tại gửi lời tri ân đến anh, một con người luôn đắm đuối và hết mình vì nghệ thuật
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lưu Quang Vũ chính thức bước vào con đường thơ ca của mình vào
cuối thập niên sáu mươi của thế kỷ trước với phần thơ đầu tay “Hương cây” được
in chung với nhà thơ Bằng Việt trong tập “Hương cây – Bếp lửa” (1968) Các tập thơ như: Mây trắng của đời tôi (1989); Bầy ong trong đêm sâu (1993); Lưu Quang
Vũ – Di cảo thơ và nhật ký (2008); Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (2010),
cũng lần lượt được ra đời sau khi anh mất
Trang 72.2 Cùng với thời gian những công trình nghiên cứu của giới chuyên môn về thơ Lưu Quang Vũ ngày một nhiều hơn và nó đã thu hút được sự quan tâm của nhiều độc giả trên cả nước Tiêu biểu như các công trình nghiên cứu, các bài viết của các tác giả sau đây.
Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ tình yêu và sự nghiệp (Lưu Khánh Thơ sưu
tầm và biên soạn), tập hợp nhiều bài viết của nhiều tác giả
Lưu Quang Vũ thơ và đời (Lưu Khánh Thơ biên soạn) Là tập hợp những tác
phẩm tiêu biểu của tác giả cùng với những lời nhận xét của người thân, bạn bè, đồng nghiệp về cuộc đời và sự nghiêp của nhà thơ
Lưu Quang Vũ tài năng và lao động nghệ thuật (Lưu Khánh Thơ chủ biên),
được ra đời nhân dịp tác giả được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật
Lưu Quang Vũ - về tác gia và tác phẩm (Lý Hoài Thu – Lưu Khánh Thơ
tuyển chọn và giới thiệu), là tuyển tập những bài nghiên cứu của nhiều tác giả về thơ, kịch, truyện ngắn của Lưu Quang Vũ
Hoài Thanh trong bài viết “Một cây bút trẻ nhiều triển vọng”, được đăng trên Tạp chí văn học (số 12/1966), đã có nhiều phát hiện tinh tế, mới mẻ về thơ Lưu
Quang Vũ Ông cho rằng thơ Lưu Quang Vũ có một giọng điệu rất riêng, rất độc
đáo đó là “Một tiếng nói nhỏ nhẹ mà sâu” Đặc biệt tác giả đã khẳng định: “Lưu
Quang Vũ đã có nhiều câu, nhiều đoạn đúng là thơ, lại có cả một bài thơ rất hay Năng khiếu của anh đã rõ Miễn anh đi đúng, nhất định anh sẽ đi xa”.
Tác giả Lê Đình Kỵ trong bài “Hương cây – Bếp lửa – Đất nước và đời ta”, đăng trên báo Văn nghệ ngày 15/5/1969, đã có một cái nhìn khá thú vị về thơ Lưu Quang Vũ: “Thơ Lưu Quang Vũ có một điệu tâm hồn riêng và không thiếu tâm
tình, một tâm tình sâu sắc, tự nhiên không rứt ra được, nó như có tự bao giờ và được đem san sẻ cho các bài thơ”.
Vũ Quần Phương lại nhận thấy: “Đọc thơ anh có cảm giác anh viết kịch để
sống với mọi người, và làm thơ để sống với riêng mình” (Tạp chí Văn học, số 1989).
4-Năm 1996, trong bài viết “Tình yêu – đau xót và hi vọng”, kể về những
Trang 8chuyện tình trong cuộc đời của Lưu Quang Vũ, những mối tình đã trở thành nguồn cảm hứng chính trong nhiều sáng tác của anh, tác giả Lưu Khánh Thơ cho rằng:
“Lưu Quang Vũ là một người đàn ông may mắn Trong cuộc đời long đong, vất vả của anh, hầu như ở giai đoạn nào anh cũng gặp một tình yêu lớn Cho dù cái mà tình cảm đó đem lại có thể là một vết thương, một nỗi đau suốt đời”.
Ngoài ra còn có rất nhiều những bài viết khác của các nhà phê bình nghiên cứu về thơ Lưu Quang Vũ như Vũ Từ Trang, Anh Ngọc, Nguyễn Thị Minh Thái, Nguyễn Trọng Tạo, Bích Thu Tất cả đã cho thấy sức hút của thơ anh trong đời sống văn học của ngày hôm nay
Nhìn chung, trong các bài viết, các công trình nghiên cức của các tác giả về thơ Lưu Quang Vũ đã có sự đánh giá khách quan và công bằng hơn so với cái nhìn
về thơ Vũ ở thời kỳ trước Các tác giả tiếp cận thơ Lưu Quang Vũ ở nhiều vấn đề, nhiều góc độ khác nhau Có người chú ý đến giọng điệu của thơ, có người lại quan tâm đến những biểu tượng hay có người lại nhìn nhận thơ anh và con người anh từ phương diện tình yêu Nhưng đáng chú ý hơn cả là những nghiên cứu về thơ Lưu
Quang Vũ ở các nội dung lớn như: về quê hương, đất nước; hiện thực chiến tranh
và cuộc sống con người; về tình yêu và hạnh phúc.
Tình yêu đối với quê hương, đất nước luôn luôn là một thứ tình cảm thiêng
liêng, cao đẹp trong thơ Lưu Quang Vũ Ở phương diện này tác giả Hoài Thanh đã
phát hiện ra tình yêu của anh được thể hiện một cách rất cụ thể là: “Yêu Tổ quốc
trước hết cũng là yêu thành quả của người lao động”.
Nhận xét về những bài thơ tình của Lưu Quang Vũ, tác giả Lý Hoài Thu cho
rằng: “Trước sau, dấu ấn sâu đậm nhất về một thi sĩ tài hoa, đa cảm ở Lưu Quang
Vũ vẫn là những bài thơ tình”.
Việt Nga cũng có chung một cảm nhận: “Tình yêu trở thành đức tin lớn nhất
của Lưu Quang Vũ giữa cuộc đời đầy rẫy những biến động và phức tạp”.
Xét ở phạm vi nghiên cứu trong trường đại học, đã có một số các công trình nghiên cứu, tìm hiểu về thơ Lưu Quang Vũ Có thể kể tên cụ thể như sau:
Về luận văn thạc sĩ gồm có: Đặc sắc thơ trữ tình Lưu Quang Vũ (Nguyễn Thị
Trang 9Kim Chi, 2004); Phong cách thơ Lưu Quang Vũ (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2008); Thơ tình Lưu Quang Vũ (Dương Ngọc Thúy, 2010); Cảm hứng thế sự và cảm hứng đời
tư trong thơ Lưu Quang Vũ (Phạm Thị Minh Huệ, 2011); Cảm thức cô đơn trong thơ Lưu Quang Vũ (Trần Thị Hương Giang, 2013).
Về khóa luận tốt nghiệp có: Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ giai
đoạn 1971-1973 (Hà Thị Hạnh, 2005).
Về báo cáo khoa học: Người phụ nữ trong thơ Lưu Quang Vũ (Hà Thị Hạnh,
2003); Cảm thức cô đơn trong thơ Lưu Quang Vũ giai đoạn 1971- 1973 (Đỗ Thị Hà Anh, 2007); Biểu tượng gió trong thơ Lưu Quang Vũ (Trương Thị Mai Hương, 2010).
Nhìn chung, ở các công trình nghiên cứu trên ít nhiều đều đã đề cập đến một vài đặc điểm của thơ Lưu Quang Vũ, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và đi sâu vào những đặc điểm nổi bật nhất của thơ trữ tình Lưu Quang Vũ Xuất phát từ những khoảng trống ấy và từ những nhận định, đánh giá của các nhà nghiên cứu phê bình đi trước là những gợi ý quý báu cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nhằm chỉ ra những đặc điểm nổi bật nhất về nội dung và nghệ thuật của thơ trữ tình Lưu Quang Vũ Từ đó thấy được những đóng góp của Lưu Quang Vũ về thơ ca cho nền văn học nước nhà
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này bao gồm tất các tập thơ đã xuất bản của Lưu Quang Vũ:
- Hương cây – Bếp lửa (in chung với Bằng Việt, năm 1968)
- Mây trắng của đời tôi (1989)
- Bầy ong trong đêm sâu (1993)
- Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ, NXB Hội nhà văn, 1994.
- Lưu Quang Vũ thơ và đời, Lưu Khánh Thơ biên soạn, NXB Văn hóa Thông tin,1997.
- Lưu Quang Vũ thơ và truyện ngắn, NXB Hội nhà văn, 1998.
Trang 10- Di cảo: Nhật ký: Mùa hoa phượng và nhật ký lên đường – Thơ: Những bông hoa không chết, NXB Lao động, 2008.
- Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, NXB Hội nhà văn, (2010).
5 Phương pháp nghiên cứu
Khi thực hiện luận văn này người viết đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây
- Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại
- Phương pháp thống kê phân loại
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
6 Đóng góp của luận văn
Khi lựa chọn và thực hiện luận văn này người viết mong muốn đem đến cho người đọc một cái nhìn có hệ thống về những đặc điểm cơ bản nhất ở phương diện nội dung và nghệ thuật của thơ trữ tình Lưu Quang Vũ
Đồng thời, luận văn cũng góp phần làm rõ diện mạo, phong cách riêng của thơ Lưu Quang Vũ trong dòng chảy xuyên suốt của thơ ca Việt Nam thời hiện đại Từ đó chúng ta càng hiểu hơn về thơ và đời của người nghệ sĩ đầy tài năng và bí ẩn này
7 Cấu trúc của luận văn
Trong luận văn này, ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo nội dung của luận văn được triển khai gồm 3 chương:
Chương 1: Thơ chống Mỹ và hành trình sáng tạo nghệ thuật của Lưu
Quang Vũ.
Chương 2: Những hình tượng tiêu biểu trong thơ Lưu Quang Vũ.
Chương 3: Một số nét đặc sắc về nghệ thuật trong thơ Lưu Quang Vũ.
Trang 11
-Chương 1
THƠ CHỐNG MỸ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT
CỦA LƯU QUANG VŨ 1.1 Phác thảo diện mạo chung của thơ thời kỳ chống Mỹ
Có thể nói rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta được bắt đầu kể từ sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết Không lâu sau đó với âm mưu và giã tâm muốn xâm lược đất nước ta, đế quốc Mỹ cùng với chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đã ra sức phá hoại hiệp định Giơ-ne bằng cách đơn phương gây chiến với quân ta ở nhiều nơi, chúng cũng ban hành nhiều đạo luật, chính sách phản động hà khắc, tiêu biểu như sự ra đời của đạo luật 10/59, lê máy chém đi khắp miền Nam để đàn áp, giết hại đồng bào ta Những hành động dã man đó của kẻ thù đã làm xuất hiện đội quân tóc dài của quê hương Bến Tre với phong trào Đồng khởi (1959 - 1960) nhanh chóng lan rộng ra khắp miền Nam, sức nóng của cuộc chiến đã được đẩy lên
một cao trào mới Cuối cùng người Mỹ đã dựng lên cái gọi là “sự kiện vịnh Bắc Bộ”
tháng 8/1964, để mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ra miền Bắc Lòng căm hờn đối với giặc Mỹ xâm lược của nhân dân hai miền Nam-Bắc ngày càng trở nên sôi sục
Cũng chính thời điểm ấy đã có biết bao nhiêu thế hệ, lớp lớp những thanh
niên, những người con ưu tú theo tiếng gọi tha thiết của non sông đất nước đã “xếp
bút nghiên theo nghiệp binh đao”, lên đường tòng quân bảo vệ Tổ quốc Cả dân tộc
bước vào một cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại trên mọi phương diện, ở mọi nơi
Đối với văn học nghệ thuật, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã thúc
đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền thơ ca Bởi vì “Viết về cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của nền văn học nói chung và thơ ca nói riêng thời kỳ chống Mỹ Đó không chỉ là đòi hỏi của thời đại mà còn là
sự thôi thúc bên trong của chính các nhà thơ”[15,346] Đây cũng chính là sự kế tục
và phát triển liền mạch của thơ ca cách mạng Việt Nam có từ trước đó
Nhìn vào bức tranh tổng quát của thơ ca thời kỳ chống Mỹ chúng ta có thể nhận ra rằng nhiều thế hệ nhà thơ đã chung tay xây dựng nên bề dày của nền thơ ca
ấy Chưa bao giờ mà đội ngũ các nhà thơ lại được tập hợp nhiều những thế hệ và nhiều phong cách như ở giai đoạn này Sự đa dạng ấy vừa có tính chất kế thừa, lại
Trang 12vừa thống nhất và bổ sung cho nhau để cùng làm nên một diện mạo mới cho thơ Việt Nam thời chống Mỹ Đó là thế hệ các nhà thơ đã từng nổi danh và được đông
đảo công chúng đón nhận từ trước Cách mạng như: Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận,
Chế Lan Viên…đến nay bút lực của họ vẫn còn sung mãn và tiếp tục gặt hái được
nhiều thành công trên con đường sáng tạo nghệ thuật của mình Đó là một hệ quả
tất yếu của cuộc hành trình “tìm đường, nhận đường”, từ bỏ cái tôi riêng lẻ, bế tắc,
cô đơn để đến với đất nước, với nhân dân, với cội nguồn sáng tạo nghệ thuật Một
cuộc hành trình đầy khó khăn, gian khổ nhưng cũng thật vẻ vang “từ thung lũng
đau thương ra cánh đồng vui” để có được những thay đổi lớn lao, cần thiết trong
cuộc đời, “người thay đổi đời tôi, người thay đổi thơ tôi”- (Chế Lan Viên).
Tiếp đến là thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong đạn lửa của cuộc kháng
chiến chống Pháp: Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Vũ Cao, Trần
Mai Ninh, Hồng Nguyên, Chính Hữu, Quang Dũng, Hoàng Cầm… cũng thực sự đang
trong thời kỳ khởi sắc trên con đường sáng tạo nghệ thuật của mình
Tuy nhiên, với những cách nhìn, cách nghĩ và cách cảm nhận về chiến tranh như vậy vẫn còn chưa đáp ứng được những kỳ vọng và mong mỏi đến từ bạn đọc Bức tranh tổng quát về cuộc chiến tranh ấy dường như vẫn còn thiếu đi một mảng rất
quan trọng để có thể giúp người đọc hiểu một cách đầy đủ hơn về “những ấm lạnh”
của người lính đang ngày đêm lăn lộn trên chiến trường chống Mỹ đầy cam go, quyết
liệt “Người đọc vẫn khao khát, mong đợi sự xuất hiện của những nhà thơ, không
phải chỉ bộc lộ cái tình đối với những người đang đổ máu ngoài tiền tuyến, làm người chứng kiến những cuộc tiễn đưa hay cắm thêm những cành ngụy trang cho
những đoàn quân trùng trùng ra trận mà là những nhà thơ trực tiếp cầm súng, thật
sự xông vào nơi mưa bom bão đạn, từng giờ từng phút đối mặt với cái chết để nói về
chiến tranh, để tự nói về mình và đồng đội của mình ”[15,347].
Trước những đòi hỏi của hoàn cảnh lịch sử và nhu cầu phát triển tất yếu của nền thơ chống Mỹ ấy, chỉ trong vòng mười năm, thơ ca chống Mỹ đã chứng kiến sự
xuất hiện của rất nhiều những gương mặt trẻ như Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Vũ Quần
Phương, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Mỹ, Lê Anh Xuân, Thanh Thảo, Hoàng Nhuận Cầm, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Khoa Điềm, Lưu Quang
Trang 13Vũ, Phan Thị Thanh Nhàn, Trần Đăng Khoa Và “đó là những gương mặt tiêu biểu đem lại vinh quang cho cả thế hệ thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ”[15,348].
Giá trị xuyên suốt và nổi bật của thơ ca kháng chiến chống Mỹ là ở nội dung
tư tưởng – cảm xúc Vì nó đã tập trung biểu hiện những tư tưởng, tình cảm lớn của thời đại, phát hiện, sáng tạo và xây dựng nên những hình tượng cao đẹp, kỳ vĩ, lớn lao về Tổ quốc, Dân tộc, Nhân dân…Về những thế hệ con người Vệt Nam đang đứng lên chiến đấu anh dũng với giặc Mỹ xâm lược để bảo vệ quê hương, đất nước thân yêu của mình
Tiếp nối truyền thống yêu nước của thơ ca ở những giai đoạn trước, chủ nghĩa yêu nước trong thơ ca thời kỳ kháng chiến chống Mỹ vẫn tiếp tục phát triển, đồng thời được nâng lên tầm cao mới và được biểu hiện hết sức phong phú
và đa dạng
Cảm hứng sử thi là cảm hứng chủ đạo trong thơ ca thời kỳ này Để thể hiện được một cách sinh động và thành công cảm hứng chủ đạo ấy các nhà thơ đã không ngần ngại hòa mình vào dòng thác chung của thời đại, đi sâu, đi sát và thực hiện
“cùng ăn, cùng ở, cùng làm”, cùng nhân dân chiến đấu với phương châm “sống đã rồi hãy viết”, bởi nghệ thuật từ cuộc sống mà ra và cũng là để phục vụ cho cuộc
sống, nên phải mang tiếng nói của nhân dân, của thời đại đó Họ đã ý thức được
rằng: “Trong hoàn cảnh lịch sử và khí quyển tinh thần ấy, thơ không thể không trở
thành tiếng nói chung của cả cộng đồng, phát ngôn cho ý chí, khát vọng tình cảm chung rộng lớn và thống nhất của mọi người, của toàn dân tộc Đó là lúc mà như cách nói của Chế Lan Viên: Những năm Đất nước có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt Nụ cười tiễn đưa con nghìn bà mẹ như nhau Bởi vậy không có con đường nào khác cho thơ ngoài con đường bay theo đường dân tộc đang bay”, [10]
Chính vì vậy mà họ đã nhanh chóng có được một vị trí trang trọng và vững chắc trong lòng của quần chúng nhân dân:
Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi.
(Chế Lan Viên)
Trang 14Trước khi trở thành những nhà thơ, những người nghệ sĩ, họ đã là những chiến sĩ cầm súng ngày đêm lăn lộn, chiến đấu trực tiếp với quân thù trên chiến
trường Họ là “những chàng trai xuất thân từ nông dân, mặc áo lính, đánh giặc và
làm thơ…Hầu hết trong số họ, khi bắt đầu cầm bút làm thơ chưa bao giờ nghĩ mình
sẽ trở thành nhà thơ và đoạt giải thưởng này nọ Đơn giản là lúc nghỉ chân trên chặng đường hành quân hay khoảng lặng giữa hai trận đánh, họ cầm bút ghi lại những gì mình đã và đang làm, những tâm tư, tình cảm, nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, nơi có những người thân yêu ở đó…” – (Thơ chống Mỹ - Một diễn ngôn thời đại, Đỗ Ngọc Yên).
Vì vậy, họ cũng ý thức rất rõ trách nhiệm của một người công dân đối với
quê hương, đất nước thân yêu của mình khi bị quân thù giày xéo Lớp lớp những
thanh niên năm ấy đã lên đường với một nhiệm vụ nặng nề nhưng cao đẹp biết bao:
“Cả thế hệ dàn hàng gánh đất nước trên vai” - (Bằng Việt).
Những năm tháng ấy mọi người con của quê hương không kể già trẻ, gái trai tất cả họ đều có chung một ước mơ cháy bỏng, một khát khao mãnh liệt và một câu trả lời duy nhất khi tổ quốc kêu gọi:
Lớp tuổi hai mươi, ba mươi điệp trùng áo lính Trùng điệp áo màu xanh là một tiếng trả lời.
(Thanh Thảo)
Trên những con đường ra trận, vượt qua mưa bom bão đạn của quân thù, các nhà thơ đã kịp thời ghi lại rất nhiều những khuôn mặt, những bức chân dung của
những con người “gánh đất nước trên vai”, đang làm nên lịch sử ấy một cách cụ
thể, sinh động Họ là những cô gái thanh niên xung phong, những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn đạn lửa mà vẫn hồn nhiên, yêu đời đến lạ
Người tinh nghịch là anh dễ thân Bởi vì thế có em đứng gần
Em ở Thạch Kim sao lại lừa anh nói là "Thạch Nhọn"
Ðêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón.
(Phạm Tiến Duật)
Trang 15Lưu Quang Vũ xuất hiện và nhập cuộc lần đầu tiên trên văn đàn thời kỳ
chống Mỹ bằng phần thơ “Hương cây” trong tập thơ “Hương cây – Bếp lửa” in
chung với nhà thơ Bằng Việt Ngay từ những buổi đầu xuất hiện ấy, thơ Lưu Quang
Vũ đã kịp gieo vào lòng người đọc những ấn tượng khó phai và được đánh giá là
“một cây bút trẻ có nhiều triển vọng”[26] Bằng tài năng và tâm huyết của mình
Lưu Quang Vũ đã đóng góp một tiếng nói rất riêng, rất độc đáo vào dàn đồng ca hào hùng, hào sảng ấy của thời đại
Như vậy, nếu quan niệm “Diễn ngôn” là sự thông qua lớp ngôn ngữ của tác
phẩm thi ca để diễn đạt tinh thần thời đại, mà khi người ta nhắc đến giai đoạn văn chương của thời đại ấy, không thể không nhắc đến những gì mà họ từng trải nghiệm thì thơ ca kháng chiến chống Mỹ đã thực sự trở thành một diễn ngôn của thời đại mang tính lịch sử, gắn liền với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta
1.2 Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ là một người đa tài và thành công trên nhiều thể loại của văn học, nghệ thuật như: thơ ca, truyện ngắn, phê bình sân khấu và từ năm 1980 anh
được biết đến như một “hiện tượng” của sân khấu kịch nói Việt Nam.
Khi tìm hiểu về Lưu Quang Vũ ta nhận thấy điều khiến anh luôn trăn trở, luôn đau đáu trong tâm can mình lại chính là thơ “Vũ rất yêu thơ Ngày đó thơ anh đã hay nhưng anh nói: Phải khi nào viết được hết những gì của mình mới có thể gọi là thơ” [12] Tác giả Nguyễn Thị Minh Thái cũng đã từng nhận xét: “Trong tính cách sáng
tạo của con người tài hoa trẻ trung Lưu Quang Vũ thì Thơ là hồn cốt thâm hậu nhất, chứ không phải là kịch nghệ, báo chí, văn xuôi hay hội hoạ - những mảnh đất
mà chàng đã từng thử nghiệm, gieo trồng và gặt hái”[39].
Lưu QuangVũ xuất hiện và nổi danh trên văn đàn Việt Nam với tư cách là
một nhà thơ khi còn khá trẻ Năm 20 tuổi anh bắt đầu ra mắt với tập thơ “Hương
cây – Bếp lửa” (in chung với nhà thơ Bằng Việt) Như vậy, trước khi tỏa sáng và
tạo cho mình một “kịch pháp” sừng sững trên sân khấu Viêt Nam trong những năm
80 của thế kỷ XX, Lưu Quang Vũ đã là một nhà thơ, là người của thơ
Lưu Quang Vũ cũng như một số nhà thơ trẻ ngày ấy, họ là những người lính
đã “đi thẳng từ cánh cửa nhà trường đến chiến trường chống Mỹ”, nên trong những
Trang 16hành trang đời lính của mình các anh đã mang theo thật nhiều kỷ niệm của quê hương, của tuổi thơ với mái trường yêu dấu.
Chính vì vậy, khi đọc “Hương cây” chúng ta còn bắt gặp ở đó chút rung
động đầu đời vừa thơ ngây, vụng dại vừa trong trẻo tươi mát của tuổi học trò
“Võng nào êm bằng võng ru ngày ấy Trang giấy nào thơm bằng giấy khai trường Câu thơ nào hay bằng câu ca dao tập đọc
Ai xinh bằng cô bạn nhỏ mến thương”
(Tuổi thơ)
Cũng như khi anh ngất ngây, đắm đuối với tình yêu và hạnh phúc đầu tiên của mình
“Em vụt đến trong lòng anh chói lọi
Em vụt đến trong lòng anh bối rối”
(Em)
Những hình ảnh lá bưởi, lá chanh, hay cô bạn nhỏ cùng lớp thuở còn cắp sách đến trường và những góc phố, hàng cây xào xạc lá, cùng với những cảm xúc trong trẻo, đắm đuối của buổi đầu trong thơ, đã đưa Lưu Quang Vũ lọt vào những con mắt xanh của những người yêu thơ và cả giới nghiên cứu về thơ như Hoài Thanh, Vũ Quần Phương, Lê Đình Kỵ…Bởi lúc này anh vừa rời ghế nhà trường
vào bộ đội, mà “anh bộ đội này khá nhiều mơ mộng, mỗi bước đường hành quân,
mỗi làng mạc đi qua gợi lên trong anh bao cảm xúc còn nhiều dấu vết của sách vở nhà trường: thiêng liêng, trong trẻo, đầy tin cậy” [22]
Sau “Hương cây”, đánh dấu một thời kỳ khác của thơ Lưu Quang Vũ, “thời
kỳ của dằn vặt, đau xót, cô đơn đến cùng cực Đó là thời kỳ đầu những năm 70 của thế kỷ trước” [19] Cũng giống như tác giả Lưu Khánh Thơ, Lê Minh Khuê cũng có
chung một cảm nhận về Lưu Quang Vũ trong thời kỳ này: “Nồng nhiệt, chu đáo, ân
cần…đó là Vũ của những năm 70…Vũ của thời kỳ thơ và truyện buồn” [13].
Có sự thay đổi đó là do anh đã trải nghiệm nhiều hơn, nhận thức rõ hơn về bản chất thật của cuộc chiến tranh Mặt khác, hoàn cảnh đời tư của Vũ trong giai đoạn này cũng gặp nhiều những trắc trở, đa đoan (ra bộ đội, nghề nghiệp chưa ra sao, xin mãi
Trang 17không được việc làm, hạnh phúc gia đình tan vỡ, con thì nhỏ…), nên thơ anh dần chuyển sang giọng điệu cay đắng, u buồn, hoài nghi và có phần lạc điệu với thơ ca cùng thời.
Nhưng cũng chính trong thời gian này anh làm thơ nhiều hơn cả Bởi “Lưu
Quang Vũ có một tài thơ bẩm sinh Bản năng thi sĩ của anh giàu có trong những nỗi buồn, những cô đơn và khổ hạnh Khi bị dồn vào chân tường trong những khoảnh khắc chập chờn sáng tối những vần thơ ám ảnh tung bứt lên như muốn đối mặt với buồn đau Nhưng anh là một người yếu đuối và đa cảm, bởi thế tình yêu và thi ca như một cứu cánh” [7] Những ngày ấy Vũ làm thơ như để ghi nhật ký về cuộc đời mình, chẳng vì ai và cũng chẳng cho ai cả mà trước hết là cho riêng anh
Có lẽ với anh lúc này thơ như những lời ru, như bàn tay êm đềm của mẹ hiền vỗ về lòng anh trong cơn bĩ cực Thơ như một liều thuốc an thần giúp anh tìm lại trạng thái cân bằng, nó cũng làm lành dần những vết thương lòng đang rỉ máu trong anh
“Giữa dòng thơ chống Mỹ ngày ấy, không theo quy ước chung, Vũ lặng lẽ tìm
“tín ngưỡng” riêng cho thơ mình Ngòi bút anh hướng vào bên trong khám phá nội tâm, khai thác triệt để “cái tôi” của chính mình: “Tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh”, “Anh
xé lòng anh những đêm mất ngủ”, “Anh khờ dại anh tự làm mình khổ”, “Có những lúc tâm hồn anh rách nát”.[25]. Cũng chính trong những ngày tháng gian nan ấy anh đã nhận ra nhiều điều quý giá từ cuộc sống, đồng thời cũng giúp anh khám phá ra chính mình, anh hiểu và đã nhận thức được đến tận cùng con người của mình Để rồi cuối cùng người ta thấy một Lưu Quang Vũ vẫn với những ước nguyện thiết tha, vẫn luôn khao khát vượt lên trên tất cả những khó khăn của cuộc sống đời thường để sống và viết, muốn rũ bỏ hoài nghi để gieo mầm cho những niềm tin và hi vọng ở cuộc đời Vì vậy, thơ anh ở giai đoạn tiếp theo bên cạnh những nét rất riêng, rất độc dáo của Vũ còn có nét chung, cái âm hưởng chung của thời đại Những cảm hứng về quê hương, đất nước, nhân dân…tươi đẹp, hồn hậu đã làm giàu có và phong phú thêm cho thơ Lưu Quang Vũ
“Những ban mai xanh biếc tiếng đàn bầu
Bà hiền hậu têm trầu bên chõng nước
Em đi gặt trên cánh đồng cổ tích Lúa bàng hoàng chín rực những triền sông”
(Đất nước đàn bầu)
Trang 18Sinh thời, Lưu Quang Vũ mới chỉ được in nửa tập thơ, đó là phần Hương
cây in chung với Bằng Việt trong tập Hương cây - Bếp lửa Hai tập thơ Mây trắng của đời tôi (1989) và Bầy ong trong đêm sâu (1993) được ra đời sau khi anh mất.
Trong lĩnh vực truyện ngắn, Lưu Quang Vũ cũng để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc Bởi lẽ, những tác phẩm truyện ngắn của anh ngày ấy được bắt nguồn từ chính những câu chuyện của đời anh, là những điều anh thường suy tư, trăn trở hay ấp ủ bấy lâu, giờ đây anh muốn đem ra kể, muốn được tâm sự
cùng mọi người Hay “có lẽ anh không nói hết bằng thơ Anh viết truyện ngắn” [9] Chính vì vậy mà tác giả Lê Minh Khuê trong bài viết “Truyện ngắn Lưu Quang
Vũ” đã khẳng định: “Lưu Quang Vũ của năm 1972, Vũ là của thơ Vài năm sau Vũ
là người của truyện ngắn” Chỉ trong một thời gian ngắn những tác phẩm truyện
ngắn của Vũ đã để lại dấu ấn trên văn đàn và dành được những mến mộ từ bạn đọc
Bằng tài năng, sự tâm huyết và lòng đam mê của mình, Lưu Quang Vũ đã có được một vị trí thật vững vàng, trang trọng trên văn đàn lẫn trong lòng dộc giả yêu
văn chương nghệ thuật “Có thể nói rằng bước đầu là thơ: sau đó là truyện ngắn:
Vũ đã đứng như một tác giả có bút pháp riêng biệt, khó trộn lẫn”[12] Những tác
phẩm như: Đêm giao thừa năm ấy, Người kép đóng hổ, Đứa con, Anh Thình, Anh
Y…đã mang đến cho bạn đọc những ấn tượng khó phai.
Trong những truyện ngắn của anh người ta thấy “ngòi bút của Lưu Quang
Vũ không ồn ào Nhưng nhẹ nhàng và nghiêm khắc”.Ở đó có rất nhiều những nhân vật mà khi đọc xong truyện rồi người đọc cứ cảm thấy ngờ ngợ rằng đó như một bức chân dung tự họa của Vũ Hay nói một cách khác, cái tôi trữ tình của Lưu Quang Vũ hằn in rất đậm nét lên từng trang viết, trong từng nhân vật của mình
Giống như Lê Minh Khuê cũng đã từng nhận xét: “Truyện ngắn Vũ có những nhân
vật nhân hậu như chính tác giả của nó, con người của những năm sôi động”.
Với hai tập truyện Người kép đóng hổ; Mùa hè đang đến - (1983) và sau này
là tuyển tập 15 truyện ngắn, Lưu Quang Vũ đã cho chúng ta thấy được tài năng, sức sáng tạo dồi dào và quá trình lao động nghệ thuật không biết mệt mỏi của mình
Lĩnh vực tiếp theo mà Lưu Quang Vũ đã gieo trồng và gặt hái là Kịch Đây
Trang 19là lĩnh vực đã đem lại cho anh nhiều vinh quang và thành công hơn cả Chính Kịch
đã đưa anh đứng vào hàng ngũ những người nghê sĩ lớn trong làng văn nghệ Việt Nam vào những năm 80 của thế kỷ XX Lưu Quang Vũ đến với ánh đèn sân khấu đúng lúc sân khấu Việt Nam đang cần những làn gió mới để có thể làm thay đổi và hồi sinh sức sống của Kịch trên sân khấu nước nhà
Có thể nói rằng, “chọn cho mình con đường viết kịch, Lưu Quang Vũ đã tìm
ra con đường ngắn nhất để đến với công chúng khán giả, để dịp bộc lộ những gì mình ấp ủ” [11,14].
Vẫn là những mạch nguồn cảm xúc đã được phát hiện từ sớm, nhưng có lẽ ở kịch người ta thấy Vũ chín chắn hơn, tỉnh táo hơn trong cách cảm, cách nghĩ của mình Cũng chính vì thế những tác phẩm của anh ngày càng được đón nhận và mến
Đằng sau những thành công vang dội ấy người ta vẫn thấy một Lưu Quang
Vũ “Khiêm nhường, không bị thế giới sân khấu ồn ào làm thay đổi nếp sống, không
choáng ngợp trước những thành công, gần như bao giờ Vũ cũng an phận làm một người lao động khổ sai Tính cả nể, không hiếu thắng, Vũ cứ lặng lẽ sống, lặng lẽ làm việc”[34]
Có thể nói: “Bằng tâm huyết và sức lao động của mình, Lưu Quang Vũ đã
tạo nên một khối lượng tác phẩm vượt xa tất cả các tác gia sân khấu đi trước… nói tới sân khấu thập niên 80 này, một thập niên sân khấu có những thành tựu đặc sắc, không thể thiếu Lưu Quang Vũ trong các tác giả hàng đầu”[34].
Như vậy, chỉ trong khoảng thời gian 25 năm nhưng Lưu Quang Vũ đã tạo được dấu ấn khá đậm nét trên cả ba thể loại mà anh tham gia sáng tác là thơ, truyện ngắn và kịch Điều đó đã phần nào nói lên được tài năng và tâm huyết của người nghệ sĩ này đối với văn học nghệ thuật nói chung
Trang 201.3 Lưu Quang Vũ với những quan niệm về thơ
Dẫu đã có lúc được xem như là một nhà viết kịch tài ba, một “Moliere” từng làm mưa làm gió trên kịch trường Việt Nam, hay là một cay bút truyện ngắn “có
nhiều triển vọng” - (Hoài Thanh); song điều cuối chót còn đọng lại trong tâm trí
của người đọc vẫn là một Lưu QuangVũ con người của thơ ca và đó là điều không
ai có thể phủ nhận
Tác giả Nguyễn Thị Minh Thái trong bài viết “Thơ tình Lưu Quang Vũ” đã cho rằng: “Thơ là những gì để lại tinh tuý nhất của chàng Dường như chàng thi sĩ đã thấu
suốt hết cả và đã kịp làm hết cả những gì chàng có thể dâng tặng cho Đời”[39].
Nhà thơ Vũ Quần Phương cũng có chung một cảm nhận: “Nhưng tôi vẫn
nghĩ, với anh, thơ mới là chủ yếu vì nó nói được anh nhiều nhất và cũng nói được chuyện đời nhiều hơn”[22]. Nếu như kịch là đã giúp anh đến được với đông đảo quần chúng, là tiếng nói chung để anh có thể sống với mọi người thì thơ lại là tiếng nói riêng của cõi lòng anh Vũ làm thơ là để đối diện với chính lòng mình Nó là tiếng nói của nội cảm, của cái tôi trữ tình mà nhiều khi Vũ chỉ có thể nói, chỉ có thể
bộc bạch được ở trong thơ Vì thế thật là có lí khi cho rằng: “Đọc thơ anh có cảm
giác anh viết kịch để sống với mọi người, và làm thơ để sống với riêng mình”[22].
Giữa những năm tháng mà cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đang diễn ra hết sức cam go và quyết liệt, trong bầu khí quyển chung của thời đại ấy, thơ ca trở thành tiếng nói chung của cộng đồng, là phát ngôn cho ý chí và khát vọng của toàn dân tộc Trong hoàn cảnh ấy thơ phải là thứ vũ khí chiến đấu và người nghệ sĩ cũng là người chiến sĩ xông ra giữa trận tiền:
Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy.
Bên những chiến sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi.
(Chế Lan Viên)
Trong hoàn cảnh ấy hiện thực tàn khốc của chiến tranh và những đau thương, mất mát của đất nước và nhân dân phần nào bị che dấu, bị khỏa lấp Để rồi những năm tháng sau đó nhìn nhận lại người ta bổng thấy tiếc nuối về một thời đã đánh mất chính mình trong mỗi trang thơ, bị hòa tan trong biển lớn cuộc đời:
Trang 21Đã có thời nỗi đau ta phải dấu
Ta đánh mất ta trong mỗi con người.
(Trần Nam Hương)
Hay:
Câu thơ đã viết xong rồi Vẫn như thấy thiếu một lời ở trong Một lời thốt tự đáy lòng
Một lời vẽ được chân dung của mình.
(Anh Ngọc)
Khi ấy, một vấn đề được đặt ra đối với những người nghệ sĩ cầm bút lúc bấy giờ
là: “Có nên tin ở mắt mình không hay tin theo niềm tin có sẵn”[22] Và đã có “Nhiều
nhà thơ hồi ấy đã chọn cách thứ hai, tiện và lợi” Nhưng cũng đã có những nhà thơ đã
chọn cho mình con đường ngược lại như Lưu Quang Vũ Từ chối nhập vào dàn đồng
ca đang ào ạt ấy của thời đại để tự đi tìm cho mình một lối đi riêng đầy gian nan, thử thách, đầy những sóng gió của cuộc đời đang chờ đón họ ở phía trước Phải chăng đó
là sự lựa chọn không hề dễ dàng Vũ, anh dám dấn thân mình vào con đường đầy chông gai, khổ hạnh để được nói lên tiếng nói thiết tha, chân thật của lòng mình về hiện thực tàn khốc của chiến tranh và số phận mong manh nhỏ bé của con người
Khi lật rở lại từng trang viết của anh ngày ấy, chúng ta bắt gặp rất nhiều lần anh đã thẳng thắn nêu ra những suy nghĩ, quan niệm của mình về văn học nghệ thuật, mà trong đó có không ít những suy nghĩ, những quan niệm của anh ngày ấy
vẫn còn giá trị đối với những người cầm bút của hôm nay, như: “Nhà văn không thể
mong có ích lâu dài nếu không có ích cho thời mình đang sống”, (Tự bạch) Theo
anh, người nghệ sĩ nếu muốn trở thành một người có ích lâu dài thì trước hết anh ta phải là con người có ích đối với thời đại mà mình đang sống Nhà văn (nhà thơ) nếu muốn tồn tại và sống mãi được với thời gian thì trước hết anh ta phải sống và tồn tại được với thời mà anh ta đang sống
Giữa lúc thơ ca đương thời đang mải mê với những dòng ca ngợi, đang say sưa với những niềm vui chiến thắng mà quên đi những mảng tối, những chỗ còn khuất lấp của cuộc sống vẫn còn những nhiều khó khăn, gian khổ thì thơ anh lại là
Trang 22lời nhắc nhở, thức tỉnh con người ta quay về với cuộc sống thực tại Anh luôn tâm niệm rằng:
Cuộc sống còn dở dang Cần đóng góp không cần ngồi ca ngợi.
(Nói với mình và các bạn)
Lưu Quang Vũ luôn cho rằng khi Đất nước và Nhân dân còn nghèo đói, lầm than, cơ cực thì người nghệ sĩ cần phải có những đóng góp thiết thực hơn để dựng xây chứ không phải là ngồi một nơi để viết ra những lời ngợi ca hào nhoáng bằng những mỹ từ sáo rỗng Anh đã chân thành và thẳng thắn chỉ ra:
Nịnh đời dễ, chửi đời cũng dễ Chỉ dựng xây đời là khó khăn thôi.
(Nói với mình và các bạn)
Đây là những câu thơ không chỉ mang ý nghĩa là những quan niệm, những triết lý sâu xa về nghệ thuật của một người ở một thời đại nhất định, mà nó đã trở thành cái triết lý chung của nghệ thuật muôn đời
Trong quá trình sáng tác của mình Lưu Quang Vũ luôn trăn trở, day dứt và suy ngẫm về ngòi bút của mình, về những gì mình đã viết Đối với anh lao động nghệ thuật là một công việc luôn đòi hỏi người cầm bút sự lao động miệt mài, nghiêm túc thậm chí là khắc khổ Đồng thời đó cũng là công việc đòi hỏi người nghệ sĩ phải biết tìm tòi, sáng tạo, luôn làm mới chính mình Đã nhiều lần anh cay
đắng khi phát hiện ra có không ít những kiểu viết máy móc, “giống nhau” đến
nhàm chán, vô vị
Những trầm tư về thế hệ của ta Lắm kiểu nói mà giống nhau đến thế.
Trang 23ấy chẳng mang lại cho đời những tác dụng hay lợi ích gì Đó là loại văn chương
“không đáng thờ” và cần phải bỏ đi, cần phải lên án mạnh mẽ.
“Ta viết những suy tư ngây ngô vờ là trí tuệ Những câu nhạt phèo chiếu lệ
Những lời nhàm tai ai cũng quen rồi
………
Ta viết mãi những điều vô ích
Vô duyên sao ta cứ nhoẻn miệng cười Như phường bát âm thánh thót
Mong cuộc đời xuôi tai…”
(Nói với mình và các bạn)
Lưu Quang Vũ cho rằng: “Đã qua cái thời nhà thơ nhìn đời bằng con mắt
trong veo Con mắt xanh non ngỡ ngàng như mắt trẻ”, điều đó cũng có nghĩa người
nghệ sĩ ấy đã đoạn tuyệt với những lối viết giản đơn, dễ dãi, từ bỏ lý tưởng hóa hiện
thực để nguyện làm “người thư ký trung thành của thời đại” mà mình đang sống
Để thơ anh mãi là tiếng nói chân thành, trung thực của lòng anh
Thơ không phải là chứng minh Không phải hào quang phản chiếu của tấm gương Thơ là bó đuốc đốt thiêu là bàn tay thắp lửa Thơ sinh sự với cuộc đời không cho ai dừng bước cả.
(Nói với mình và các bạn)
Với anh, thơ không cần phải chứng minh, cũng không phải là ánh hào quang
hư vinh trong thoáng chốc, mà ngược lại thơ chỉ có thể là những “bó đuốc” rừng rực cháy thiêu đốt tâm hồn ta, “sinh sự” với ta để không cho ta tự bằng lòng, an
phận hay dừng bước trước cuộc đời nhiều gian khó
Anh luôn đòi hỏi nhà thơ, người nghệ sĩ chân chính trước hết phải là người có lòng tự trọng, phải sống có ước mơ, có hoài bão của riêng mình, không ngừng sáng tạo
và phấn đấu vươn lên Nhà văn không phải là “lũ viết thuê Chạy theo những biển
hàng ngắn ngủi Những khuôn phép những trang in những hư danh một buổi” Để rồi
thứ mà họ nhận lại được từ cuộc đời là những trái đắng, những chua cay:
Trang 24Ta nịnh người để người lại khinh ta Sớm già cỗi, cố quên đi phẩm cách Muốn yên thân ta trở thành hèn nhát Nhân dân có cần thơ của ta đâu.
(Nói với mình và các bạn)
Nếu như trước đây Nam Cao đã từng quan niệm nhà văn “phải đứng trong lao
khổ, mở hồn ra đón lấy những vang động của cuộc đời”; “Nghệ thuật không cần phải
là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” thì đối với Lưu Quang Vũ
anh cũng cho rằng:
Giữa tàn bạo hư vô giữa đấu tranh khốc liệt.
Thơ phải dạy ta nhìn bằng con mắt thật.
(Nói với mình và các bạn)
Cả cuộc đời mình Lưu Quang Vũ luôn sống và viết với một tâm niệm rằng:
thơ phải là “nhịp đập của trái tim trung thực”; “Không hát ta say mà lay ta thức”;
“Không giấu che sự thật của lòng mình” và đặc biệt “Trước đau khổ của nhân dân thơ không gian dối”- (Nói với mình và các bạn).
Đối với anh, văn học nghệ thuật cũng phải tham gia dựng xây đời chứ không phải chỉ biết ngồi hát mãi bài ca quen thuộc, cũ mèm Con người không thể sống với những niềm tin ảo ảnh, bằng những khẩu hiệu, áp phích, pa nô
Người ta không thể sống bằng niềm tin đẹp Bằng áp phích trên tường, bằng những lời đanh thép.
Mà thứ họ cần hơn là:
Phải mang cho mọi người áo mặc cơm ăn.
Phải có nhà trường cửa sổ trời xanh”.
Tác giả Phạm Xuân Nguyên đã rất có lý khi cho rằng “Gần hai mươi năm
sau những điều anh viết ở đây, cơn gió đổi mới thổi lên trên đất nước”[21].
Bằng cảm quan nghệ thuật nhạy bén và tấm lòng nhân hậu của mình anh đã nhanh chóng nghiệm ra một điều thơ văn nhiều khi không cần đến những mỹ từ đẹp
đẽ, bóng bẩy để ru đời, mị đời Anh quyết tâm muốn thay đổi những suy nghĩ cũ kĩ của
Trang 25mình và thay đổi thơ mình bằng cách “bỏ đi những chữ đẹp ngày xưa” mà giữ lại cho mình những trang thơ với những chữ sần sùi, gai góc và lem luốc hơn Còn lại trên
trang giấy mênh mông nhưng chữ trần truồng/chữ như đinh nhìn tôi sắc nhọn/Chữ gầy guộc, chữ bùn lầy, cống rãnh/Từ ho lao, giận dữ, than tro… (Những chữ)
Và Lưu Quang Vũ đã tìm thấy chính mình, tìm thấy niềm vui và hạnh phúc
cho mình trong “những chữ hôm nay” mà anh đã lựa chọn.
Tôi ở cùng những chữ hôm nay Những điều còn lại sau đường dài tôi vượt Những chữ lấm lem đứng dậy từ đời thật Tin yêu cuộc đời theo cách của tôi.
(Những chữ)
Có phải chăng với sự lựa chọn ấy, những con chữ ấy đã đưa anh trở về sống giữa cuộc sống đời thường với bao điều bình dị, anh được gần gũi, gắn bó và hoà mình vào những con người lao khổ, được trở về với nhân dân của anh, với ngọn
nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật Để anh được nói, được “tin yêu cuộc đời”
theo cách của mình
Đó là những câu thơ không chỉ có ý nghĩa thiết thực đối với một thời đại mà
nó đã vượt qua giới hạn nghiệt ngã của thời gian để có ý nghĩa với muôn đời
Tuy chỉ sống và viết trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng Lưu Quang Vũ đã
có được một vị trí vững chắc trên thi đàn văn học hiện đại Việt Nam nửa cuối thế kỷ
XX và cả trong lòng người hâm mộ tài năng cũng như thơ văn của anh Đặc biệt, thông qua những tác phẩm của mình Lưu Quang Vũ đã thể hiện được một cách rõ nét những quan niệm về thơ văn rất tiến bộ và đúng đắn của mình
Dù hôm nay, anh đã trở thành “người trong cõi nhớ”; nhưng vượt lên trên
tất cả, như chòm mây trắng lửng lơ trên bầu trời cao rộng, thơ anh còn quyến luyến mãi trong cuộc đời, trong lòng người như anh đã từng viết:
Trên mái nhà, cao vút rừng cây Trên rừng cây, những đám mây xô giạt Trên ngày tháng, trên cả niềm cay đắng Thơ tôi là mây trắng của đời tôi.
(Mây trắng của đời tôi).
Trang 26Chương 2
NHỮNG HÌNH TƯỢNG TIÊU BIỂU TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ
2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình
Đến với với thơ trữ tình có lẽ ai cũng nhận thấy rằng đó là thể thơ thuộc loại trữ tình dùng để thể hiện những cung bậc cảm xúc, những suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trong thơ trước hiện tượng đời sống Đồng thời thơ trữ tình luôn luôn gắn với cái tôi trữ tình Mặt khác, bằng trái tim nhạy cảm, con mắt tinh tế trong việc quan sát hiện thực cuộc sống, người nghệ sĩ bộc lộ thế giới quan thông qua lăng kính chủ quan của mình Đặc biệt, nhà văn thông qua việc tổ chức các phương tiện để tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt, độc đáo mang giá trị thẩm mỹ và truyền tải thế giới tinh thần ấy đến bạn đọc Vì vậy, cái tôi trong thơ trữ tình cũng chính là chủ thể,
là sự hóa thân của tác giả Be-so cũng đã từng khẳng định rằng: “Bản chất của nhà
thơ trữ tình là ở chỗ, qua thi ca anh ta đã thành hình tượng”.
Nhà triết học nổi tiếng He-ghen cũng có cùng quan điểm: “Nguồn gốc và
điểm tựa của trữ tình là ở chủ thể và chủ thể là người duy nhất mang nội dung”.
Trở lại với thơ Lưu Quang Vũ, ta thấy thơ anh trước hết là những tiếng nói trực tiếp của lòng anh, anh làm thơ giống như trải lòng mình trên những trang giấy Mặc dù cuộc đời anh chỉ vẻn vẹn trải qua bốn mươi năm ngắn ngủi; bốn mươi năm để anh sống, viết và cống hiến hết mình cho văn học nghệ thuật, cùng với những đắng cay, buồn vui lẫn lộn Nhật ký đời anh có những trang khổ đau, những tan vỡ, thất vọng, chán chường, đồng thời có cả những niềm vui, những nụ cười hạnh phúc và thành công rực rỡ Chính vì vậy mà cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ mang nhiều màu sắc
và được thay đổi theo thời gian, theo từng chặng đường thơ của anh
2.1.1 Cái tôi nồng nàn, đắm đuối yêu thương
Lưu Quang Vũ là một chàng trai tài hoa và nhạy cảm, nên lúc nào và ở đâu người ta cũng thấy anh luôn nồng nàn và đắm đuối Như một lẽ thường tình, những yêu thương nồng nàn, đắm đuối đầy ắp ấy đã thấm đẫm vào những trang thơ trữ tình của anh Mỗi bài thơ như một bài ca chan chứa tình yêu thương của Lưu Quang
Trang 27Vũ Thơ trữ tình của Lưu Quang Vũ vì thế mà ít bị gò bó bởi hình thức và những khuôn phép về vần, luật mà mạch thơ chủ yếu tuôn chảy theo dòng cảm xúc dạt dào của anh Chính vì vậy, đọc thơ anh nhiều lúc ta có cảm giác rằng không phải Vũ đang làm thơ mà anh đang để cho những dòng cảm xúc dạt dào và chân thành của mình tuôn trào tràn lan trên mặt giấy Nhưng không vì thế mà thơ Lưu Quang Vũ giảm đi cái hay, cái độc đáo Ngược lại anh chinh phục bạn đọc bằng những dòng
cảm xúc chân thành, nồng nàn, đắm đuối Bời vì: “Đắm đuối là bản sắc cảm xúc
của Lưu Quang Vũ” Và “giàu tưởng tượng nên mới mê đắm, mới thành đắm đuối”[22].
Có thể nói rằng, dù vui hay buồn, dù hạnh phúc hay khổ đau, với quê hương đất nước, với những người thân yêu, hay với bạn bè, đồng đội, và với những thân phận trẻ em bé bỏng lúc nào người ta cũng bắt gặp một Lưu Quang Vũ của những đắm đuối, nồng nàn, thiết tha nhất
2.1.1.1 Trong tình yêu quê hương đất nước
* Đất nước “tươi hoa đẹp nắng”
Cảm xúc về quê hương đất nước luôn dồi dào, vô tận đối với mỗi nhà thơ từ trước đến nay Có thể nói rằng, có bao nhiêu người nghệ sĩ thì cũng có bấy nhiêu
những dòng cảm xúc về quê hương đất nước Như Hoài Thanh đã nói: “Chỉ có một
chuyện mà bao nhiêu nhà thơ, bao nhiêu lớp nhà thơ nói hoài vẫn không trùng, không cạn” [26]
Cũng viết về quê hương đất nước nhưng Lưu Quang Vũ đã tìm ra được một
cách viết riêng của mình để không bị hòa lẫn vào dàn đồng ca của thời đại Cũng nói
về đất nước, nhưng Lưu Quang Vũ với cách nói riêng độc đáo, đặc sắc của mình đã chạm được vào trái tim của độc giả, những người yêu mến thơ văn Tác giả Hoài Thanh đã cho rằng khi viết về quê hương đất nước của mình thơ Vũ không ồn ào mà
âm thầm, sâu lắng Anh đã nói theo cách riêng của mình “Một tiếng nói nhỏ nhẹ mà
sâu Anh đã cảm thấy bước đi của năm tháng, hơn nữa đã để tâm hồn mình hoà theo, quyện theo bước đi riêng của năm tháng trên đất nước kỳ diệu của chúng ta”[26]
Ngay từ những ngày đầu với những bài thơ đầu tiên, thơ Lưu Quang Vũ đã
Trang 28thể hiện là tiếng nói tâm tình của một cái tôi trẻ trung tình nguyện cầm súng lên đường để bảo vệ tổ quốc Những vần thơ mang bầu nhiệt huyết và mang hơi thở chung của thời đại Khi mới bước vào cuộc đời của người lính, thơ anh cũng giống như lòng anh không dấu nổi những hăm hở, náo nức khi được hòa bước cùng đất nước hành quân.
Làm kẻ sinh sau giữa đời rộng mở Mang khối căm hờn ngày trước chưa tan Hờn căm mới lại chồng lên nợ cũ
Lửa cháy bom rơi ta lại lên đường
(Đêm hành quân)
Ngày ấy hình ảnh đất nước còn vẹn nguyên trong con mắt của chàng lính trẻ đang yêu say đắm và chưa từng rơi vào những nghịch cảnh, những tan vỡ, trái ngang trong đời nên chỉ thấy tương lai rạng ngời của đất nước trong muôn khúc hùng ca tráng lệ Tình yêu quê hương, đất nước đằm thắm hòa quyện cùng tình yêu
và hạnh phúc riêng tư mãnh liệt
Em ơi, em là Hà Nội Anh chưa bao giờ yêu Hà Nội như hôm nay.
(Chưa bao giờ)
Lưu Quang Vũ thuộc thế hệ những người lính vừa rời ghế nhà trường đã đi thẳng ra chiến trường chống Mỹ đầy khói lửa, nên ta dễ nhận thấy trong thơ anh ở thời kỳ này còn nhiều vương vấn những hương bưởi, hương chanh, cùng với những
kỷ niệm của tuổi học trò ngây thơ trong trẻo và về một vùng quê yên ả, thanh bình Đến đây ta gặp một cái tôi mang cảm quan thiên nhiên, đất nước trong trẻo và những lưu luyến, bịn rịn của ngày đi trong thương nhớ bất chợt ùa về trên những bước đường hành quân
Nào đâu phải ngày đi không lưu luyến Mắt người trong như giếng nước ban đầu Mảnh trăng liềm nghiêng một nổi nhớ nhau Còn biết mấy hẹn hò dang dở.
Trang 29(Đêm hành quân)
Đó là vùng ký ức đượm mật hương mùa hạ (Qua sông Thương), là khoảnh khắc chợt nhớ tới tiếng Phong cầm (Ngã ba thị xã), một con phố tuổi thơ (Phố
huyện) Ngày ấy, Vũ yêu quê hương đất nước mình đến say mê, đắm đuối không
phải vì những điều to tát, lớn lao, hào nhoáng một ngày, một buổi, mà bởi những cái
rất đơn sơ, dung dị, đời thường, chân chất của quê hương
Cây lá nơi này cây lá quê hương
Ôi những mẹ những em ta hiền hậu Những cô gái cùng ta chiến đấu Giống như người con gái năm xưa.
(Lá bưởi lá chanh)
Không yêu sao được cái hương bưởi, hương chanh, hương nhài nồng nàn từng đêm thanh vắng Không yêu sao đành mảnh đất này có mẹ, có em ta hiền hậu,
có người con gái đang cùng ta chiến đấu mang hình hài của người em gái năm xưa
Đến đây tôi chợt nhớ đến câu nói của một nhà hiền triết: cái đẹp luôn có
trong sự giản dị Qủa thực, những câu thơ của Lưu Quang Vũ không chinh phục ta
bằng những mỹ từ bóng bẩy hay bằng những kỹ xảo của nhà thơ, ngược lại nó làm
ta say, ta đắm đuối cùng tác giả bởi những cái rất dung dị, rất gần gũi, thân quen của cuộc sống đời thường mà đã từ lâu ăn sâu vào vào máu thịt của mỗi con người
Ta bước đi thương nhớ những năm nao
Ơi cái phố tuổi thơ, phố nghèo kháng chiến Hương đất hương cây bồi hồi bao kỷ niệm
Trang 30Trong sâu thẳm tâm hồn của mỗi con người ai mà chẳng có những góc riêng dành cho quê hương, đất nước thân yêu của mình Bởi, đó cũng là vùng trời bình yên nhất để tâm hồn ta neo đậu mỗi khi gặp những sóng gió của cuộc đời Vì vậy, những câu thơ trên của Lưu Quang Vũ đã dễ đi vào lòng ta, nó làm ta say đắm và bâng khuâng cùng tác giả.
Đọc thơ trữ tình Lưu Quang Vũ ta thấy dường như anh yêu hết thảy những gì của quê hương, đất nước này Từng tên núi, tên sông, tên đất, tên làng cũng dễ làm cho lòng anh thương nhớ và bồi hồi xúc động đến lạ lùng
Sao tên sông lại là Thương
Để cho lòng anh nhớ.
(Qua sông Thương) Con đường quê hương, con đường yêu thương.
(Những con đường)
Có phải chăng vì chàng luôn nặng lòng với quê hương, đất nước, luôn đắm
đuối say mê với những cảnh mát trong, “tươi hoa đẹp nắng” của xứ sở này nên thơ
anh mới dạt dào và đằm sâu đến thế
* Đất nước trong truyền thống văn hóa – lịch sử, “Đất nước đàn bầu, đất nước ban mai”
Khi nhìn quê hương, đất nước mình ở phương diện truyền thống văn hóa – lịch sử Lưu Quang Vũ cũng đã có cách nói cũng như có những phát hiện, đóng góp rất riêng của mình Có thể nói thơ văn viết và ngợi ca về truyền thống văn hóa – lịch
sử của dân tộc đã có rất nhiều, thậm chí có thể xem đó là bài ca chung, quen thuộc
của thơ ca muôn đời Giữa cái “muôn năm cũ ấy”, Lưu Quang Vũ đã biết tự làm mới cho thơ mình bằng một giọng điệu “nhỏ nhẹ mà sâu”, “ngọt ngào mà hiền
hậu” hết sức độc đáo của mình.
Với “Đất nước đàn bầu”chúng ta bắt gặp hình ảnh đất nước trong một vẻ đẹp nguyên sơ, kỳ vĩ từ thuở hồng hoang, sơ khai của buổi “mẹ gặp cha” sinh ra dân tộc Việt Ở đó chúng ta thấy thấp thoáng “những rìu đá cổ sơ, những hang động khổng
lồ”/“những bộ lạc mình vẽ đầy rồng rắn/Quần hôn trên bờ bãi sông Hồng”.
Trang 31Bằng ngôn ngữ đậm chất tạo hình và trí tưởng tượng phong phú của mình, Lưu Quang Vũ như đang đưa chúng ta ngược dòng thời gian trở về với thời tiền sử, những ngày đầu thuở cha ông ta đi khai thiên lập địa Những câu thơ lấp lánh ánh tự hào, nồng nàn, tha thiết làm ta rưng rưng nhớ về cội nguồn của dân tộc.
Những con chim lạc mỏ dài Bay qua vầng trăng lớn Cánh sừng sững tắm hoàng hôn đỏ rực Cất tiếng kêu hoang dại dưới đêm nồng.
(Đất nước đàn bầu)
Anh đi tìm “dòng máu” của anh hòa trong dòng máu chung của dân tộc, tìm lại
“dòng sữa ngọt ngào”, “lời ru đầu tiên” đã tạo nên tâm hồn và dáng vóc của người dân đất Việt Đi tìm lại thời gian đã mất…Đã ngọt ngào dòng sữa/Điệu ru con đầu
tiên/Bức tranh đầu tiên khắc mặt người lên đá/Điệu múa đầu tiên theo nhịp thuyền.
Nếu như ai đó đã từng được nghe những câu chuyện kể về những nền văn minh lớn được hình thành từ những dòng sông huyền thoại như sông Ấn, sông Hằng thì ở đây Lưu Quang Vũ cũng kể cho chúng ta nghe câu chuyện về một nền văn minh cổ xưa của một dân tộc được sinh ra bên bờ bãi sông Hồng Con sông
huyền thoại đã chảy suốt bốn nghìn năm, chở nặng phù sa, “dịu dàng như lục bát”
bồi đắp nên dáng hình xứ sở của đất nước Việt và tâm hồn người Việt
một giống nòi sinh tự một dòng sông trăm đứa con xuống biển lên rừng
ở lại Phong Châu, người con thứ nhất vua Hùng Vương thứ nhất nước Văn Lang
(Sông Hồng)
Tình yêu trong anh vốn hiện hữu từ những điều giản dị, gần gũi, giống như đất nước với anh cũng chẳng phải là những gì xa lạ Khi anh cắt nghĩa khái niệm về đất nước khiến người đọc ngỡ ngàng rồi vỡ òa trong cảm xúc thân thương
sóng và phù sa – khái niệm đầu tiên
Trang 32nước và đất để nay thành Đất Nước.
Những cảm nhận ấy cũng đồng cảm với nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm:
Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất nước là nơi ta hò hẹn Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm.
(Đất nước)
Dưới ngòi bút tài hoa và trái tim đắm đuối yêu thương ấy, đất nước còn được hiện ra với những truyền thống văn hóa thật đa dạng và phong phú với những làng
nghề truyền thống, với những người nghệ nhân rất mực tài hoa, cần mẫn: Nón quai
thao, áo màu bay rực rỡ/Những lò rèn phập phù bếp lửa/Phường chạm bạc, phường đúc đồng/Phố Hàng Hài thêu những chiếc hài cong/Những cô gái dệt the
và phất quạt/Những Hàng Điếu Hàng Buồm Hàng Bát/Rùa trao gươm chim lạ đến Tây Hồ/Lụa làng Trúc, rượu Kẻ Mơ/Phố Tràng Thi ngựa hí…Giấy hồng điều phấp phới bút hoa Từng câu thơ như lấp lấp lánh ánh tự hào và đầy niềm kiêu hãnh về
truyền thống văn hóa hết sức phong phú của dân tộc Đó là nơi cất giấu, là nơi gửi gắm đời sống tâm hồn của người dân quê mình từ ngàn đời xưa còn để lại
Lưu Quang Vũ cũng đã khá tinh tế khi chọn tiếng đàn bầu là âm thanh tiêu
biểu, độc đáo tượng trưng cho tiếng lòng tha thiết ân tình của con người Việt Tiếng
đàn bầu nức nở/Chiều chiều ra ngõ/Sông dài cá lội biệt tăm/Thương cha nhớ mẹ/Mênh mông chớp bể mưa nguồn.
Chính vì vậy mà nhà phê bình Hoài Thanh đã có những nhân xét rất hay khi
đọc thơ Lưu Quang Vũ: “Đã đọc rồi cứ muốn đọc lại, đọc mãi ngọt lịm cả người
Câu thơ của Lưu Quang Vũ thường ngọt ngào, hiền hậu”.[26]
Bằng những câu thơ giản dị, tự nhiên, mà chân thành, sâu lắng Lưu Quang
Vũ đã đưa ta về với một không gian đời sống sinh hoạt thật yên bình, thơ mộng của người dân nơi những làng quê Việt Nam quần tụ hai bên bờ bãi sông Hồng
Trang 33thời loạn).
- Những hoa bìm hoa súng nở trên ao
Những ban mai xanh biếc tiếng đàn bầu
Bà hiền hậu têm trầu bên chõng nước
Em đi gặt trên cánh đồng cổ tích Lúa bàng hoàng chín rực những triền sông.
(Đất nước)
Có lẽ chẳng ở nơi đâu có được bức tranh về cuộc sống êm đềm, nên thơ, hiền hòa, trong trẻo đến như thế Ta biết Vũ cũng tự hào, cũng say mê, đắm đuối với cuộc sống ở chốn làng quê ấy lắm Vì đắm đuối, vì da diết nhớ nên anh mới dễ làm
ta say đắm theo bằng những câu thơ đẹp tựa như trong ca dao, cổ tích và ngọt ngào như những lời ru của mẹ năm xưa Lưu Quang Vũ đã khéo léo, tài tình gợi lên từ trong sâu thẳm ký ức của mỗi người chúng ta nỗi nhớ da diết về cái làng quê của riêng mình
Tình yêu nồng nàn, đắm đuối của Lưu Quang Vũ đối với quê hương, đất
nước còn được anh thể hiện trong tình yêu tiếng mẹ đẻ Có thể nói rằng, “Tiếng
Việt” là một trong những bài thơ hay nhất của tác giả Ở đó anh như lắng nghe được
tiếng của dân tộc mình từ “những buổi ngày xưa vọng nói về”, “tiếng mẹ gọi con từ
hoàng hôn tối sẫm”, đến những tiếng làng, tiếng nước thiêng liêng Tiếng Việt là
tiếng nói của tâm hồn, tiếng lòng của dân tộc Việt nên có một sức sống mãnh liệt, phi thường trước những thăng trầm của đất nước
Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi.
(Tiếng Việt)
Với Lưu Quang Vũ thật sướng vui và tự háo biết bao khi “mỗi sáng sớm dậy
nghe bốn bề thân thiết/ Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi” Cái niềm hạnh
phúc, tự hào ấy với anh nhiều khi cũng thật bình dị, gần gũi mà cũng thiêng liêng và
Trang 34cao đẹp Anh nhận ra, tiếng Việt như là sợi dây kết nối giữa triệu triệu người con đất
Việt, từ những “ai thuở trước”, những “ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển” và cả những “ai ở bên kia cầm súng khác” Tiếng Việt như lòng mẹ hiền hòa, ấm áp nuôi
dưỡng tâm hồn ta, là nơi ta có thể nương náu, trở về sau những mỏi mệt của cuộc đời
Thơ Lưu Quang Vũ viết về quê hương, đất nước là những vần thơ hay và giàu cảm xúc Anh luôn dành những từ ngữ đẹp nhất, những tình cảm nồng nàn, đắm đuối nhất để nói về quê hương, đất nước mình Giữa ngổn ngang những đắng cay, những buồn vui lẫn lộn của cuộc đời, nhưng lúc nào ta cũng thấy tâm hồn anh đắm đuối cùng với đất nước muôn quý ngàn yêu của mình
2.1.1.2 Trong tình yêu lứa đôi
Đối với người nghệ sĩ, tình yêu giống như đôi cánh thiên thần nâng bổng tâm hồn họ bay cao và bay xa trên bầu trời nghệ thuật Vì tình yêu cũng giống như một chất xúc tác nhiệm mầu có thể làm thăng hoa bao cảm xúc trong tâm hồn của người nghệ sĩ và tạo ra cảm hứng để sáng tạo nghệ thuật cho họ Có lẽ vì vậy mà tình yêu luôn là một mảnh đất mỡ màu nuôi dưỡng, ươm mầm cho bao áng thi ca
Là một chàng trai tài hoa và nhạy cảm, nên trái tim của Lưu Quang Vũ đã bao lần rung lên trước tiếng gõ cửa của tình yêu Nhưng khi đến với chàng, tình yêu nhiều lúc giống như một người con gái đẹp với tính khí đỏng đảnh, lả lơi; lúc say đắm nồng nàn, khi lại hờn ghen chua chát rồi bỏ chàng mà đi không thương tiếc, để lại cho chàng những tháng ngày cô đơn, đắng cay và những vết thương hằn sâu nhức nhối
Đã có bao nhiêu lần con tim anh vỡ nát và chết đi vì tình yêu tan vỡ thì cũng có bấy
nhiêu lần tình yêu làm cho nó sống lại “Quả là chỉ có tình yêu mới đền bù được cho
tình yêu, chỉ có tình yêu mới băng bó được vết thương của tình yêu”, [29].
Với Lưu Quang Vũ, tình yêu luôn là thứ tình cảm đẹp đẽ, cao quý và có ý nghĩa rất lớn đối với cuộc đời anh Nó là động lực lớn về mặt tinh thần đồng thời cũng là nguồn cảm hứng vô tận cho anh trên con đường sáng tạo nghệ thuật của
mình Có lẽ trong tình yêu, “Lưu Quang Vũ là một người đàn ông may mắn Trong
cuộc đời long đong, vất vả của anh, hầu như ở giai đoạn nào anh cũng gặp một tình yêu lớn Cho dù cái mà tình cảm đó đem lại có thể là một vết thương, một nỗi đau suốt đời Lưu Quang Vũ quan niệm rằng sự đầy đủ của cuộc đời con người là ở
Trang 35chỗ tìm thấy tình yêu, mặc dù tình yêu ấy có thể không ở lại cùng ta suốt đời” [29]
Những rung động đầu đời của Lưu Quang Vũ được được đánh dấu khi anh còn là một cậu bé cắp sách đến trường Tìm lại những trang nhật ký của tuổi học trò được anh ghi ngày ấy, người ta thấy có rất nhiều những cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến, những tình cảm dịu nhẹ, mơ hồ, những ấn tượng về một tình yêu tươi rói tuổi học trò Những rung động đầu đời đã đến với anh hết sức thiết tha và đắm đuối Ngày ấy, anh đã viết về cô bạn nhỏ cùng lớp với tất cả những niềm bâng khuâng, xao xuyến khôn nguôi
Cô bé con có đôi mắt mở to
Đã đánh mất kho vàng và tiếng hát.
Có những kỷ niệm cứ mơn man hoài trong nỗi nhớ khôn nguôi khi ta chạm vào miền ký ức ấy Và cũng lạ lùng thay, trong nỗi bâng khuâng, dạt dào ngày ấy thơ anh cũng đã có những dòng chua chát, đắng cay, một chút buồn thương của người xưa vọng về Dường như đó là một điềm báo cho một cuộc đời đầy đa đoan,
lận đận mà sau này nó đã vận vào anh Chỉ lũ chim xưa vẫn đập cánh bên hè/Hoa
tigôn đẫm nước/Hoa Tigôn của TTKH/Bài thơ thời đi học nhớ không em/Bài thơ đắng cay tuy điệu mà buồn/Nay đọc lại chẳng còn rơi nước mắt/Hoa tigôn như trái tim vỡ nát/Chết âm thầm dưới những bước chân quen (Hoa Tigôn).
Những rung động đầu đời đã nhanh chóng đưa Lưu Quang Vũ bước vào tình yêu Tình yêu đầu đời bao giờ cũng đẹp, cũng nồng nàn, đắm đuối và mãnh liệt hơn tất cả Tình yêu giữa anh lính trẻ phòng không Lưu Quang Vũ với cô diễn viên xinh đẹp Tố Uyên ngày ấy đã làm nức lòng những người hâm mộ Vũ đã yêu bằng tất cả trái tim, bằng tất cả những gì đắm say và rạo rực nhất của lòng mình Nó là động lực, là sức mạnh để anh có thể vượt qua tất cả những giới hạn, những ràng buộc,
những khó khăn của cuộc đời “Vốn là người đa cảm anh đã yêu và bất chấp tất cả,
kể cả thứ kỷ luật gắt gao nhất lúc đó là kỷ luật quân đội”[29].
Những ngày đầu ấy, “Tình yêu đến trong đời không báo động” – (Hoàng
Nhuận Cầm) Anh lạc quan, tin và yêu cuộc đời này đến thiết tha, mãnh liệt Với anh,
tình yêu giống như một trò chơi ú tim đầy thú vị, mà ở đó hai người đã đi tìm nhau
Trang 36trong vô thức và cuối cùng họ nhận ra nhau trong niềm vui và hạnh phúc vỡ òa.
Trong thành phố có một vườn cây mát Trong triệu người có em của ta.
(Vườn trong phố)
Những ngày tháng đắm say, hạnh phúc với tình yêu đầu đời ấy là động lực,
là nguồn cảm hứng chính để Vũ viết “Hương cây” Có thể nói, ở đó anh đã dành
cho người con gái mình yêu tất cả trái tim mình vả cả những vần thơ đẹp nhất Lưu Quang Vũ say sưa, cuồng nhiệt, rối rít biết bao nhiêu khi hai con tim, hai tâm hồn hòa nhịp, như hai dòng sông trong niềm vui gặp gỡ
Như dòng sông gặp gỡ đổi phù sa Nhập luồng nước hòa nhau màu sắc Trao cảm thương hai bàn tay nắm chặt Nghe máu mẹ cha chuyển giữa mỗi tay mình.
(Hơi ấm bàn tay)
Đọc lại những vần thơ của Vũ trong thời gian này ta thấy dường như lúc nào anh cũng ngây ngất, đắm say, lúc nào anh cũng chìm đắm trong cảm giác lâng lâng Hình như anh đang được nâng đỡ, đang được bay trên đôi cánh của tình yêu, của thiên thần hạnh phúc Anh nói, anh viết rất nhiều về nó, nhưng như vậy vẫn còn chưa đủ, chưa hết, chưa cạn được lòng anh nên nhiều lúc ta thấy anh cứ cuống quýt, rốit rít cả lên
Bao nhiêu điều anh còn chưa nói được Ríu rít trong lòng một nỗi em em.
(Vường trong phố)
Từ khi có “em” bên mình anh cảm thấy yêu cuộc đời hơn, cảm thấy cuộc
sống này có ý nghĩa hơn, thấy mình được sống trong tình yêu thương và thấy yêu thêm quê hương, đất nước của mình
Em ơi, em là Hà Nội Anh chưa bao giờ yêu Hà Nội như hôm nay.
(Chưa bao giờ)
Trang 37Anh cũng đã không quên cảm ơn cuộc đời đã dạy cho anh hiểu và biết thêm nhiều điều mới mẻ về quê hương, đất nước mình Có những điều tưởng chừng như rất gần gũi, giản đơn nhưng trước đây anh chưa kịp nhận ra thì giờ đây anh đã cảm nhận được Đặc biệt, Lưu Quang Vũ đã khám phá ra chính mình, đã hiểu mình
nhiều hơn Cảm ơn thời gian, cảm ơn hôm nay/Người chiến đấu mang nụ cười đẹp
nhất/Ngày ấy ta chưa thấy tầm đất nước/Ngày ấy ta chưa hiểu rõ lòng ta/Anh chưa biết yêu em như bây giờ (Ngày ấy)
Có thể nói rằng, tình yêu và hạnh phúc đầu đời đã để lại một dấu ấn vô cùng sâu đậm trong tâm hồn của người nghệ sĩ tài hoa và nhạy cảm này Nó đã ghi dấu một thời không thể nào quên trong cuộc đời của Lưu Quang Vũ và cả trong thơ anh
Nhưng rồi tình yêu và hạnh phúc đầu đầu đời ấy cũng vội vã bỏ anh mà đi,
để lại cho anh một chuỗi ngày dài cô đơn, hoang vắng cùng với niềm đau không thể nói hết bằng lời Nhưng dù cay đắng và khổ đau đến bao nhiêu đi chăng nữa Lưu Quang Vũ vẫn chưa bao giờ thôi khát khao, thôi hi vọng, trái tim anh chưa bao giờ lỗi hẹn với tình yêu
Nỗi đau về một tình yêu và hạnh phúc đầu đời tan vỡ trong anh theo thời gian cũng dần được lắng lại khi anh đã tìm thấy cho mình một tình yêu khác Tình
yêu giữa “thơ và họa”, giữa anh với cô họa sĩ ngày ấy đã làm lòng anh ấm lại
Người phụ nữ ấy tuy không mang một vẻ đẹp rục rỡ, sắc sảo như người con gái đến với anh trước đây, chị với dáng vẻ bề ngoài khắc khổ, tính tình kín đáo và có phần trầm lặng nhưng đã làm trái tim anh rung động Ở tình yêu này người ta thấy Vũ có phần ít đi sự đắm đuối, nồng nàn mà lại thêm phần cay đắng và sâu sắc hơn của một tâm hồn đã qua những trải nghiệm nhất định trong đời
Dẫu yêu thương người con gái ấy cũng thật nhiều, nhưng trong anh vẫn chưa nguôi ngoai hẳn niềm đau cũ, vẫn chưa hết những hoài nghi, những trăn trở, day dứt
từ trong sâu thẳm tâm hồn Có lẽ đó là sự ám ảnh từ cái lần dang dở cùng với những thể nghiệm mất mát, đau thương của chính cuộc đời mình
- Quen thất vọng tôi hồ nghi mọi chuyện
Những bức tranh nổi gió ở trên tường.
Trang 38(Lá thu)
- Tôi sợ lắm mùa đông sương buốt thế
Em có là mãi mãi để tôi yêu.
(Gửi Hiền mùa đông)
Tình yêu mà Vũ thường vẫn gọi là của “những năm đau xót và hi vọng” ấy rồi cũng ra đi Lòng anh lại thêm một vết thương, thêm một lần dang dở, “anh yêu
rất thực và cũng buồn rất thực khi một cuộc tình tan vỡ Mỗi người con gái ra đi để lại trong lòng anh một vết thương”[28] Chia tay là sự kết thúc của một tình yêu vô
vọng, dẫu buồn và cay đắng, xót xa, nhưng có lẽ đó là cái kết cần thiết để cho anh
có cơ hội tìm đến tình yêu khác, một tình yêu có thể đi đến hạnh phúc lâu bền, tình yêu vĩnh hằng của đời anh
Đi qua những ngày mưa gió là những ngày nắng ấm, vượt qua những “năm
đau xót và hi vọng” là những ngày con tim anh vui trở lại “và anh tồn tại” Một
tình yêu lớn lại đến với anh, nó làm sống lại trong anh từng hồng cầu đã chết, giúp anh quên đi những tháng ngày mỏi mệt Tình yêu với nữ sĩ Xuân Quỳnh đã đem lại cho anh một nguồn năng lượng mới Anh vừa có trong tay một tình yêu lý tưởng, lại vừa có một hạnh phúc rất đời thường Chị như là tia nắng sưởi ấm trái tim anh qua
bao ngày đông giá lạnh, như cơn gió mát lành làm dịu cuộc đời anh nắng gắt và “có
em ta sống lại cuộc đời” Anh cũng dành tặng chị những “vở kịch lớn, bài thơ hay nhất” của đời anh.
Đi dọc con đường đời và đường thơ của Lưu Quang Vũ ta thấy có rất nhiều người phụ nữ đã đến với đời anh và thơ anh, nhưng có lẽ những vần thơ anh viết về người bạn đời sau cùng của mình là nữ sĩ Xuân Quỳnh là tròn đầy, là viên mãn nhất Ở đó vừa có sự đắm đuối, say mê, nồng nàn của một tình yêu sâu đậm, lại vừa
có sự hàm ơn sâu sắc, chân thành của anh dành cho người con gái ấy
Dù sao cuộc đời đã giành em lại cho anh Điều mong ước đầu tiên điều ở lại sau cùng Chúng ta đi bên nhau trên mặt đất
Dẫu chỉ riêng điều đó là có thật
Đủ cho anh mãi mãi biết ơn đời.
Trang 39(Em II)
Trong niềm hạnh phúc rưng rưng anh như muốn cảm ơn cuộc đời đã đem chị đến với anh, chị đến và trả lại cho anh tất cả những gì đã mất, mang đến cho anh cả
những điều anh chưa có: Bỗng một ngày em tới em ơi/Anh gặp biển khơi, gặp nhà
ga bóng mát/Anh thấy chân trời tuổi thơ bát ngát/Em dạy anh nhiều cái thật của đời…Em trả lại cho anh hơi thở, dáng hình/Mang niềm tin thầm lặng của bình minh/Em giải thoát cho anh khỏi cô đơn lầm lỗi/Anh trả lại, đời chẳng còn rắc rối/Trước câu trả lời đơn giản: hãy yêu thương (Những ngày chưa có em)
Họ đã đến với nhau như hai mảnh vỡ của cuộc đời, hai mảnh vỡ hoàn hảo tìm thấy nhau, cả hai trở thành nguồn động lực, nguồn cảm hứng bất tận cho nhau trong cuộc sống đời thường và cả trong sáng tạo nghệ thuật Không ồn ào, không khoa trương, náo động, mà âm thầm, lặng lẽ đó là cách mà Xuân Quỳnh đã đến với anh Chị xuất hiện bên anh thật giản dị, bình yên, nhưng là hạnh phúc đời thường có thật; để anh không phải mơ hồ, không phải hồ nghi hay dằn vặt, lo âu như thuở trước Đó là tình yêu và hạnh phúc có thực ở trên đời
Em đến giữa một ngày trong những ngày sống thực của anh
Em trở về đúng nghĩa trái tim em Biết khao khát những điều anh mơ ước Biết xúc động qua nhiều nhận thức Biết yêu anh và biết được anh yêu.
Trang 40(Chiều chuyển gió)
Những vần thơ say đắm, nồng nàn, những lời tin yêu thiết tha nhất của mình cuối cùng anh cũng đã tìm được người tin cậy, xứng đáng để gửi trao Với người phụ nữ ấy anh không chỉ yêu thương mà còn có cả sự hàm ơn chân thành, sâu sắc
Khi những điều giả dối vây quanh Bàn tay ấy chở che và gìn giữ Biết ơn em, em từ miền gió cát
Về với anh, bông cúc nhỏ hoa vàng Anh thành người có ích cũng nhờ em Anh biết sống vững vàng không sợ hãi
………
"Anh yêu em và anh tồn tại".
(…Và anh tồn tại).
Anh khao khát được hiến dâng tất cả những gì đẹp nhất, quý giá nhất cuộc
đời cho người mình yêu thương Chính vì vậy mà khát vọng được “dành cho em”
trở nên cháy bỏng hơn bao giờ hết: Dành cho em, hoa những khu vườn/Dành cho
em, mưa của mùa hè/Dành cho em nồng nhiệt của tình anh/Dành cho em tha thiết của mùa hè/Dành cho em, sức lực của đời anh/Dành cho em, thao thức của đời anh/Dành cho em, im lặng của mùa hè/Dành cho em, những mơ tưởng trong anh/ Dành cho em, mặt trời không giấu che/Dành cho em, mong từng buổi em về/Dành cho em, nỗi nhớ của mùa hè …
Năm 1987, trong một bức thư gửi cho anh, chị đã viết: “Lấy nhau gần mười
bốn năm rồi mà xa nhau em vẫn nhớ thương anh như thế” Còn về phần mình, Lưu
Quang Vũ cũng có những cảm xúc tương tự: “Anh rất nhớ em Chúng ta sống với