1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

dạy học thơ hồ chí minh ở lớp 7 và 8 trung học cơ sở (miền núi) theo đặc trưng thơ trữ tình

99 381 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thơ Hồ Chí Minh được đưa vào chương trình SGK trong nhà trường với mục đích giáo dục cao đẹp đó là: góp phần bồi dưỡng tình cảm thẩm mỹ và cách làm người cho thế hệ trẻ Việt Nam.Và dạy h

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Nguyễn Huy Quát

Thái Nguyên - 2010

Trang 3

Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện cho em trong suốt thời gian qua

Tác giả luận văn Đinh Thị Luyến

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Cấu trúc luận văn 7

NỘI DUNG 8

Chương một: Những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài 8

1.1 Cơ sở lý luận 8

1.2 Cơ sở thực tiễn 28

Chương hai: Thực trạng dạy học thơ Hồ Chí Minh ở lớp 7 và 8 THCS (miền núi) và một vài định hướng cần thiết đối với giáo viên 38

2.1 Về thiết kế dạy học thơ Hồ Chí Minh của giáo viên THCS (miền núi) 38

2.2 Định hướng đối với giáo viên khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu Tức cảnh Pác Bó, Cảnh khuya, Rằm tháng giêng theo đặc trưng thơ trữ tình 47

Chương ba: Thiết kế thực nghiệm và đánh giá kết quả thực nghiệm 61

3.1 Thiết kế thực nghiệm 61

3.2 Nhận xét, đánh giá kết quả thực nghiệm thực nghiệm 78

3.3 Một vài kết luận được rút ra sau khi thực nghiệm 81

KẾT LUẬN 82

Tài liệu tham khảo 85

Trang 5

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

1.1 Thơ văn Hồ Chí Minh giữ vị trí quan trọng trong văn học dân tộc nói chung và văn học nhà trường nói riêng

Sinh thời, Hồ Chí Minh không xem mình là một nhà thơ Người không

coi thơ văn là phương tiện để lập thân, để “lưu danh hậu thế” Người đã từng

tán thưởng câu thơ của Viên Mai:

“Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch, Lập thân tối hạ thị văn chương”

Tuy quan niệm về thơ như thế nhưng thơ của Người lại là những tác phẩm vô giá trong kho tàng văn học Việt Nam hiện đại

Có người nhận xét: Chất thép và chất tình luôn hoà quyện trong thơ,

nhất là thơ chiến khu của Hồ Chí Minh Thật vậy, không ít bài thơ của Hồ Chí

Minh vừa đậm chất trữ tình lại vừa mang tính cách mạng, tính tư tưởng cao Chính vì thế, đã từ lâu thơ Hồ Chí Minh có mặt trong sách giáo khoa từ bậc tiểu học đến bậc đại học Thơ Hồ Chí Minh được đưa vào chương trình SGK trong nhà trường với mục đích giáo dục cao đẹp đó là: góp phần bồi dưỡng tình cảm thẩm mỹ và cách làm người cho thế hệ trẻ Việt Nam.Và dạy học sinh cách làm người qua thơ Bác phải là một quá trình lao động nghệ thuật không mệt mỏi, rất công phu của nền giáo dục Việt Nam

1.2 Thơ Hồ Chí Minh trong chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn

THCS có tập “Nhật ký trong tù” (trích giảng) và ba bài thơ Người viết ở chiến khu Việt Bắc: Tức cảnh Pác Bó, Cảnh khuya, Rằm tháng giêng

Tuy đã có mặt khá lâu trong chương trình THCS và được giáo viên, học sinh yêu thích, nhưng hiệu quả dạy học những bài thơ này đến nay vẫn chưa đạt yêu cầu mong muốn theo tinh thần đổi mới Việc dạy học thơ trữ tình Hồ Chí Minh ở THCS đến nay vẫn còn những hạn chế như: Đa số các em vẫn

Trang 6

chưa hiểu sâu sắc chất trữ tình, và nhất là mối quan hệ giữa chất thép và chất

tình trong những bài thơ của Bác Từ đó, dẫn tới hạn chế là học sinh chưa

hiểu được đầy đủ giá trị nội dung và nghệ thuật ở những bài thơ giản dị nhưng sâu sắc của Bác

1.3 Ba bài thơ Tức Cảnh Pác Bó, Cảnh khuya, Rằm tháng giêng của Hồ

Chí Minh được ra đời ở căn cứ địa Việt Bắc – nơi học sinh các dân tộc thiểu

số sinh sống Từ ngữ, hình ảnh trong các bài thơ này có nét gần gũi với các

em Tuy nhiên, hàng rào ngôn ngữ vẫn là một vấn đề mà các trường học miền

núi dễ vấp phải Đó là việc dạy ý tứ thơ Bác đằng sau những ngôn từ giản dị như chính con người Bác cho các em ở độ tuổi 13, 14 Do đó, GV cần có cách vận dụng các biện pháp, phương pháp dạy - học thích hợp để đạt hiệu quả mong muốn Đây là những băn khoăn, trăn trở và đồng thời là lý do khiến

chúng tôi chọn đề tài: “Dạy - học thơ Hồ Chí Minh ở lớp 7 và 8 trường THCS (miền núi) theo đặc trưng thơ trữ tình”

2 Lịch sử vấn đề

- Vài nét về lịch sử nghiên cứu thơ ca chiến khu của Hồ Chí Minh

Thơ trữ tình của Hồ Chí Minh đã được quan tâm, nghiên cứu ở những góc độ khác nhau Riêng về thơ ca chiến khu của Bác có một số nhà nghiên

cứu giàu kinh nghiệm tìm tòi, khảo cứu như: Hoàng Xuân Nhị, Tìm hiểu thơ

Hồ Chủ Tịch, Nxb ĐH và THCN, 1976; Hà Minh Đức, Hồ Chí Minh, nhà thơ lớn của dân tộc, Nxb KHXH, 1979; Nguyễn Đăng Mạnh, Mấy vấn đề phương pháp tìm hiểu phân tích thơ Hồ Chủ Tịch, Nxb GD 1981

Thơ ca chiến khu của chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Thanh Niên, 2000,

của hai tác giả Vũ Châu Quán và Nguyễn Huy Quát là những phát hiện, những thông tin khoa học đáng quý về thơ Bác trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp gian khổ

Trang 7

Là một người quan tâm đến vẻ đẹp trong thơ của Hồ Chủ tịch, tác giả

Thư Trai đã có bài viết khá sắc sảo về bài thơ Nguyên Tiêu với nhan đề Trăng

xưa ngời sáng với xuân này đăng trên tạp chí Thơ, số 1, năm 2006 Trong bài

viết của mình, tác giả phân tích, bình giá vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại trong bài

thơ “Nguyên Tiêu” của Hồ Chí Minh

Vấn đề hoàn cảnh ra đời của những bài thơ Bác viết ở chiến khu Việt Bắc những năm chống Pháp cũng được nhiều người quan tâm Với nhan đề

“Cách mạng, trăng và thơ”, Văn nghệ số 3 (20-1-2007) của Hoàng Quảng Uyên và bài báo “ Tìm hiểu xuất xứ hai bài thơ của Bác”, Văn nghệ số 1 (6-

1-2007) của tác giả Trần Hành, đều nói về hoàn cảnh ra đời của hai bài thơ

Cảnh rừng Việt Bắc và Cảnh khuya Tuy nhiên, những suy luận của hai tác

giả trên vẫn mang tính chủ quan, thiếu chứng cứ lịch sử và chưa có sức thuyết phục người đọc PGS.TS Nguyễn Huy Quát đã có bài trao đổi, đính chính về

vấn đề này qua bài “ Bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc và Cảnh khuya được ra đời

ở đâu?” [30, 151 - 158]

Là một nhà giáo, một người say mê nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh,

tác giả Nguyễn Huy Quát có một công trình khoa học mang tên Nghiên cứu

văn học và đổi mới phương pháp dạy học văn, Nxb ĐHTN, 2008 Cuốn sách

này đã có những bài nghiên cứu về thơ ca chiến khu của Hồ Chí Minh Một phần trong công trình nghiên cứu là cảm nhận về những bài thơ trữ tình ở chiến khu của Bác, và tác giả đã khảo cứu, sưu tầm những bản dịch khác nhau

về bài thơ Nguyên tiêu của Hồ Chí Minh

Ngoài ra còn có khá nhiều bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành

phân tích, bình giá vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại trong bài thơ “Nguyên Tiêu” của Hồ Chí Minh Ví dụ như: Ngày Thơ Việt Nam đọc lại Nguyên Tiêu của

Bác Hồ” của tác giả Bùi Công Thuấn (Văn nghệ, số 8, ra ngày 23.8.2008) Ngày xuân đọc Nguyên Tiêu của Bác Hồ” của tác giả Nguyễn Quang Tuyên

Trang 8

(Văn nghệ, số 6, ngày 07.02.2009) “Tính cách mạng trong những bài thơ

mang phong vị cổ thi của Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Huy Quát, (Văn

nghệ Thái Nguyên, số 270+271+272, năm 2009)

- Về nghiên cứu dạy - học thơ chiến khu của Hồ Chí Minh ở lớp 7 và

8 THCS

Trong cuốn sách về tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Vũ Dương

Quỹ (Nxb Giáo Dục, 1998) có gợi ý tìm hiểu phân tích những bài thơ trữ tình

của Bác, như: Tức cảnh Pác Bó, Cảnh khuya và Rằm tháng giêng Đặc biệt hai bài thơ Cảnh khuya và Rằm tháng giêng được tác giả bình giảng kỹ hơn

cả

Cuốn sách Đến với những bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh của tác giả

Lê Xuân Đức là kết quả nghiên cứu khoa học rất công phu Trên cơ sở phân tích những bài thơ cụ thể, tác giả đã bước đầu khái quát, đúc kết phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh Việc chuyên tâm phân tích từng bài thơ của Bác với số lượng như của cuốn sách này thể hiện niềm say

mê đặc biệt trong nghiên cứu, thưởng thức văn học của tác giả Cuốn sách gồm hai phần:

I- Đọc thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh Phần này trình bày cách thức phân tích thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh Đó là, từ một quan niệm về thơ đến một thực

tế thơ và phương pháp đọc thơ Hồ Chí Minh

II- Đến với những bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh Phần này đi sâu phân tích những bài thơ cụ thể, bao gồm phần thơ chữ Hán và thơ tiếng Việt - những bài thơ tiêu biểu có giá trị về nhiều mặt

Ở cuốn sách này, mảng thơ trữ tình của Hồ Chí Minh được nghiên cứu với nhiều bài tiêu biểu Trong đó có ba bài thơ đã nói ở luận văn này: “Cuộc

đời cách mạng thật là sang” (Tức cảnh Pác Bó), “Chưa ngủ vì lo nỗi nước

Trang 9

nhà” (Cảnh khuya), “Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền” (Nguyên tiêu

- Rằm tháng giêng)

Khi bàn về giải pháp dạy học thơ trữ tình hiện đại với bài viết “Đọc -

hiểu thơ trữ tình hiện đại Việt Nam trong SGK Ngữ Văn 7”(2003,Văn học tuổi

trẻ số 12) TS.Nguyễn Trọng Hoàn có đề cập đến việc hướng dẫn học sinh đọc

- hiểu thơ trữ tình hiện đại Việt Nam trong đó có hai bài Cảnh khuya và bài

Rằm tháng giêng, nhưng mới chỉ dừng lại ở những gợi ý cơ bản, chưa đi vào

khai thác sâu và có những câu hỏi gợi dẫn xác thực

Vấn đề hoàn cảnh cảm hứng của thơ trữ tình đã được một số nhà nghiên cứu chọn làm xuất phát điểm cho quá trình tìm hiểu và phân tích thơ Hồ chủ

Tịch “Đọc - hiểu thơ trữ tình trong mối quan hệ với hoàn cảnh cảm hứng của

tác giả” của tác giả Nguyễn Huy Quát là một bài viết thể hiện sâu sắc điều đó

[30, 232] Ở bài viết của mình, tác giả đã xác minh hoàn cảnh ra đời một số

bài thơ của Bác, trong đó có bài Cảnh khuya Tác giả khẳng định: “Hoàn

cảnh cảm hứng là yếu tố có liên quan mật thiết với nội dung tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ Đọc hiểu, phân tích, bình giá thơ trữ tình trong nhà trường cần phải hiểu rõ điều này để khỏi làm mất đi giá trị đặc sắc của nó.” [30,

232]

Mặc dù những bài thơ Bác viết ở chiến khu đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu, nhưng vấn đề dạy những bài thơ đó theo đặc trưng thể loại vẫn có những khía cạnh cần được tiếp tục giải quyết Trong đó, mục đích chính của chúng tôi là làm thế nào để giúp học sinh miền núi có cách tiếp cận với những bài thơ trữ tình của Hồ Chí Minh đạt hiệu quả cao hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tế dạy - học thơ Hồ Chí Minh

ở THCS, chúng tôi đề xuất một số biện pháp để góp phần nâng cao hiệu

Trang 10

quả dạy - học ba bài thơ: Tức Cảnh Pác Bó, Cảnh khuya, Rằm tháng

giêng theo đặc trưng thơ trữ tình

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về đổi mới phương pháp dạy học văn ở trường phổ thông và lý luận về thơ trữ tình kết hợp với việc nghiên cứu lịch sử vùng căn cứ địa kháng chiến chống Pháp (ATK)

- Khảo sát tình hình dạy - học ba bài thơ của Hồ Chí Minh ở THCS: Tức

cảnh Pác Bó, Cảnh khuya, Rằm tháng giêng theo đặc trưng thơ trữ tình

- Đề xuất định hướng hoạt động dạy - học ba bài thơ Tức cảnh Pác Bó,

Cảnh khuya, Rằm tháng giêng theo đặc trưng thể loại

- Đề xuất một số giải pháp và thiết kế thực nghiệm dạy ba bài thơ Tức

cảnh Pác Bó, Cảnh khuya, Rằm tháng giêng theo hướng đổi mới phương

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Dạy học ba bài thơ Tức cảnh Pác Bó, Cảnh khuya, Rằm tháng giêng của

Hồ Chí Minh ở trường THCS miền núi Cao Bằng theo đặc trưng thơ trữ tình

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

5.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh tài liệu

5.3 Phương pháp khảo sát thực tế

5.3.Phương pháp thực nghiệm sư phạm

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:

Trang 11

Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài Chương 2: Thực trạng dạy học thơ Hồ Chí Minh ở lớp 7 và 8 THCS

(miền núi) và một vài định hướng cần thiết đối với giáo viên

Chương 3: Thiết kế thực nghiệm và đánh giá kết quả thực nghiệm

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÓ

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Vài nét về thơ

1.1.1.1 Quan niệm về thơ

a) Định nghĩa về thơ: Thơ là một trong những dạng cổ xưa nhất của văn học và tồn tại cùng với con người qua hàng ngàn năm lịch sử Nhưng để tìm một định nghĩa đầy đủ về thơ lại là điều hầu như không thể làm được, cho dù người ta cũng đưa ra hàng ngàn định nghĩa về thơ Chúng tôi xin trích dẫn

một định nghĩa về thơ như sau: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh

cuộc sống với những cảm xúc chất chứa, cô đọng, những tâm trạng dạt dào, những tưởng tượng mạnh mẽ, trong ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất

là có nhịp điệu” [37, 452]

b) Đặc trưng của thơ

Theo tác giả Trần Thanh Đạm trong cuốn “Vấn đề giảng dạy tác phẩm

văn học theo loại thể”, thơ gồm có ba đặc trưng cơ bản:

- Thơ ra đời là do nhu cầu đặc biệt của con người trong khi dùng lời nói: Muốn cho lời nói diễn đạt triệt để tình ý của mình sao cho có hiệu quả, có sức mạnh, có tác động sâu sắc thấm thía; Muốn diễn tả hết những ngõ sâu của xúc cảm tâm hồn, người ta thường dùng những lời nói có sức lay động lòng người Lời nói đó đã trở thành thơ Người nói đó trở thành thi sĩ Tuy nhiên, thơ khác lời ở chỗ: Thơ không chỉ nói ý mà còn tỏ tình, không những thông tin mà còn truyền cảm Vì vậy, thơ phải phát huy tất cả khả năng của ngôn ngữ để đạt được mục đích ấy

- Thơ có nhiều cách tạo nên hình ảnh Hình ảnh đập vào trí tưởng tượng và trí tuệ của ta gây nên những chuỗi liên tưởng tạo hình Vì vậy, thơ có đặc

Trang 13

trưng “Thi trung hữu hoạ” Cách tạo hình ảnh trong thơ do ngôn ngữ cung cấp

hoặc bằng miêu tả trực tiếp Ngôn ngữ có nhiều cách chuyển nghĩa tạo ý Thơ thường dùng cách đó để miêu tả cuộc sống Cái hay của thơ thường là ở chỗ

“ý tại ngôn ngoại”

- Thơ có nhiều cách tạo nhạc điệu

“Thơ là lời nói bằng ngôn ngữ cách điệu hoá về mặt âm thanh Sự cách

điệu hoá bằng cách này hay cách khác về âm thanh tạo nên cái mà ta thường gọi là nhạc điệu của thơ Nhạc điệu thấm vào cảm xúc và tình cảm cuả ta tạo nên một giá trị biểu cảm của thơ.” [ 4, 33]

Các cách tạo ra nhạc điệu của thơ là do bản thân ngôn ngữ cung cấp cho thơ Âm thanh, nhịp điệu, vần, vốn có trong tiếng nói của con người nhưng chỉ khi lời nói muốn phát đi sức mạnh tình cảm và hiệu quả tâm lý thì vai trò của các yếu tố đó mới tăng lên Khi lời nói trở thành thơ, thành lời văn tức là lời nói nghệ thuật thì vai trò của chúng càng đặc biệt quan trọng

Từ ba đặc trưng cơ bản về thơ như trên, tác giả Trần Thanh Đạm đã lấy

quan niệm của nhà thơ Sóng Hồng để tóm tắt một định nghĩa về thơ: Thơ là

sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp…Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là tình cảm và lý trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ, qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường [4, 35-36]

Thơ có nhiều loại, nhưng khi nói đến thơ, người ta mặc nhiên hiểu rằng

đó là thơ trữ tình Bởi vì thơ, về cơ bản thuộc loại hình trữ tình, dù trong thơ có thể chứa đựng những yếu tố tự sự, kịch hay nghị luận Chúng tôi xin trích dẫn một vài quan niệm về thơ trữ tình để làm điểm tựa cho đề tài này

Trang 14

1.1.1.2 Thơ trữ tình

Thơ trữ tình là “thuật ngữ dùng chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình

trong đó, những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp” [10, 317]

Nguồn gốc thơ trữ tình chính là ở cảm xúc và suy tư của nhà thơ trước

các hiện tượng đời sống Bằng trái tim rung cảm chân thành của người nghệ

sĩ, nhà thơ đã viết nên những vần điệu nhịp nhàng để trực tiếp bộc lộ những

suy nghĩ, cảm xúc của mình trước thực tại Do đó, thơ trữ tình là tiếng hát của

tâm hồn Thơ có khả năng thể hiện những nỗi niềm sâu kín từ trong ngõ

ngách của tâm hồn con người, cho đến những vấn đề khách quan, chân lý của cuộc sống như những tư tưởng triết học,…

Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng: những suy cảm của nhà thơ được

biểu hiện nhờ vào các hiện tượng đời sống một cách trực tiếp Tức là hoàn

cảnh ra đời của những suy cảm bằng thơ ấy đóng vai trò quan trọng đối với việc làm nên yếu tố trữ tình trong thơ

a) Phân loại thơ trữ tình

Có thể phân loại thơ trữ tình theo nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào truyền thống văn học cụ thể

Nếu như trước đây, trong văn học châu Âu người ta phân loại thơ trữ

tình dựa vào cảm hứng chủ đạo gồm có: bi ca, tụng ca, thơ trào phúng, thì

ngày nay, người ta dựa vào đối tượng đã tạo nên cảm xúc của nhà thơ hoặc

nhân vật trữ tình mà phân chia thành: thơ trữ tình tâm tình, thơ trữ tình phong

cảnh, thơ trữ tình thế sự, thơ trữ tình công dân

Nhưng tất cả các cách phân loại trên cũng chỉ là tương đối, đơn thuần cũng chỉ là cách phân loại để giúp người nghiên cứu có thể phân biệt các loại thơ trữ tình một cách dễ dàng hơn

Trang 15

b) Đặc điểm của thơ trữ tình

Dưới góc độ lý luận, thơ trữ tình có những đặc điểm sau:

- Xét ở phương diện đặc trưng nội dung, thơ trữ tình có khả năng: “Biểu

hiện tư tưởng, tình cảm của con người đối với thế giới, là sự hiện diện của cái tôi, là sự tự ý thức của chủ thể.” [11,106]

Cái tôi cá nhân, bản ngã của nhà thơ được thể hiện trong thơ Nhưng không

nên nghĩ rằng thơ trữ tình biểu hiện thế giới chủ quan, cá nhân mà khái quát những vấn đề mang ý nghĩa nhân sinh rộng rãi Ta có thể nhận ra một cái tôi, một

tư tưởng, tình cảm mang dấu ấn cá nhân hoà lẫn trong nhân loại bao la, rộng lớn

- Ngôn ngữ trong thơ trữ tình

Thơ trữ tình là một kiểu ngôn ngữ đặc biệt, khác với các thể loại khác

“Đây là một kiểu ngôn ngữ đặc biệt mà các đặc điểm của nó như phân dòng, điệp vần, ngắt nhịp, ngữ pháp trong câu thơ, nhiều hình ảnh ví von, ẩn dụ, điển cố,… đều nhằm mục đích thể hiện sắc thái xúc cảm, tư tưởng không thể nói được theo cách thông thường ” [11,107]

Thông qua nhận định trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy ngôn ngữ thơ trữ tình có hai đặc điểm riêng để phân biệt với ngôn ngữ trong tự sự hay

kịch Đó là: ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính và bão hoà cảm xúc Nhà thơ Pháp Pôn Valêry đã từng cho rằng: Thơ là sự ngập ngừng vĩnh viễn giữa âm thanh

và ý nghĩa Tức là ngôn ngữ thơ có cách tổ chức khác thường, trong đó đặc

biệt chú trọng đến nhịp điệu và sự hàm súc, khả năng biểu đạt đặc biệt của từ ngữ ở phương diện âm thanh và phương diện tạo hình

- Nhân vật trữ tình

Nhân vật trong thơ trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tình cảm, nguyên nhân trực tiếp khơi dậy nguồn tình cảm của tác giả Tình cảm riêng của nhà thơ luôn gắn với tình cảm chung có ý nghĩa phổ quát

Trang 16

Biêlinxki nói: “Bất cứ thi sĩ nào cũng không thể vĩ đại nếu chỉ do ở mình, và chỉ miêu tả mình - dù là miêu tả nỗi khổ đau của mình hay những hạnh phúc của mình Bất cứ thi sĩ vĩ đại nào, sở dĩ họ vĩ đại là bởi vì những đau khổ và hạnh phúc của họ bắt nguồn từ khoảng sâu thẳm của lịch sử xã hội; bởi vì họ là khí quan và đại biểu của xã hội, của thời đại và của nhân loại” [37, 240]

Tuy vậy, trong thơ trữ tình, “cái tôi” có vai trò đặc biệt quan trọng và

“gắn bó chặt chẽ với cuộc đời tác giả”

Cái tôi trữ tình được tạo ra ở chính cuộc đời tác giả, tức là nhà thơ thể hiện

những cảm xúc suy nghĩ về riêng mình “Thơ trữ tình là phương diện để con

người tự khẳng định bản chất tinh thần của mình so với mọi vật chất, là phương tiện để tự đồng nhất mình, xây dựng hình tượng về mình, xác định ý chí, chí hướng lập trường giá trị trước cuộc sống, đồng thời là phương tiện để xây dựng

thế giới tinh thần phong phú cho con người.” [5, 140]

Cái tôi trữ tình là hình tượng người trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc tâm trạng trong tác phẩm

- “Tác phẩm thơ trữ tình thể hiện những cảm xúc thơ, tức là những cảm xúc trước tính phổ quát vũ trụ và lý tưởng nhân sinh tạo nên đời sống tâm hồn con người.” [10,107]

Các ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu về thơ trữ tình đều gặp nhau ở chỗ: thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc, là tiếng nói, là khúc hát của tâm hồn Tố Hữu đã dùng hai chữ “điệu hồn” để nói về tiếng thơ: “Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí” Trong ý kiến này, Tố Hữu không chỉ khẳng định tính chất chủ quan của tình cảm, cảm xúc trong thơ mà còn nhấn mạnh đến sự đồng cảm, đồng điệu giữa chủ thể nhà thơ và người tiếp nhận, đó là điều cần chú

ý khi tìm hiểu, phân tích tác phẩm thơ trữ tình

Trang 17

Nhưng cảm xúc thơ không tách rời với tư tưởng Và tư tưởng trong thơ không phải là một lý luận trừu tượng, nó chỉ được rút ra từ chính tâm hồn nhà thơ, nên luôn là một tư tưởng thấm nhuần và hoà tan trong cảm xúc và tình cảm

Nhà thơ Sóng Hồng nhấn mạnh sự mãnh liệt của cảm xúc, sự tập trung dồn nén cao độ: “Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng”

Nhân đây, chúng tôi nói thêm bốn đặc điểm của thơ trữ tình hiện đại do

GS Đỗ Đức Hiểu nêu ra: Cảm hứng mãnh liệt, nghệ thuật trùng điệp, khoảng

trống, âm vang Với bất kỳ bài thơ hay nào cũng thể hiện lần lượt, thứ tự bốn

đặc điểm đó Còn Th.sĩ Phùng Hoài Ngọc cho rằng, ngoài bốn đặc điểm mà

GS Đỗ Đức Hiểu đã nói đến, thơ trữ tình cần phải bàn thêm một đặc điểm

nữa, đó là cái ảo trong thơ

Riêng thơ trữ tình trung đại thì tính cô đọng, ngắn gọn, hàm súc là nét nổi bật, nhất là những bài thơ viết bằng chữ Hán hoặc Nôm theo thể thất ngôn bát cú và thất ngôn tứ tuyệt Thơ trung đại có những đặc điểm cơ bản sau: + Cảm hứng thơ thường được khơi gợi từ ngoại cảnh, làm thơ để tức cảnh, tức sự, cảm hoài, để bộc lộ nỗi lòng của thi nhân

+ Kết thúc bài thơ thường mang tính tuyên ngôn, công bố lập trường thái

độ gần với lời cách ngôn giáo huấn

+ Chủ thể nhà thơ được biểu hiện khá độc đáo, thơ thường vắng chủ thể tạo ra sự cảm nhận mơ hồ, phiếm chỉ Cũng có khi chủ thể xuất hiện với tư cách vừa là chủ thể, vừa là khách thể

+ Hình thức thơ do lấy cảm xúc từ nghe, nhìn nên giàu yếu tố hoạ và nhạc Ngữ điệu nghi vấn, nghị luận, cảm thán là ở thơ chữ Hán, điệu nói trong đời sống thường ở thơ chữ Nôm

Trang 18

+ Thơ trung đại không chia khổ, bài thơ liền mạch, nhiều bài tiếp ý tạo nên chùm thơ liên hoàn Ví dụ: chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến

Từ những đặc điểm trên, có thể tóm nêu khái lược nhất về đặc trưng cơ bản của thơ trữ tình là:

Thơ và thơ trữ tình cũng mang đặc trưng chung của văn học là tính hình tượng trong ngôn ngữ; Thơ và thơ trữ tình có thể nói được những điều hết sức lắng đọng kết tinh mà nhiều khi văn xuôi không nói được

Đặc trưng thứ hai của thơ trữ tình là sự hòa hợp, nhịp nhàng (nhịp điệu của lời thơ), thơ vừa có “hình”, vừa có “nhạc” Ngôn ngữ Việt có đặc tính âm thanh được tạo nên bởi các âm tiết tách rời nhau (ngôn ngữ đơn lập) và hệ thống thanh điệu gồm sáu thanh rất giàu chất thơ, chất nhạc Ngôn ngữ thơ có nhịp điệu riêng của nó Tính nhịp điệu là nét đặc thù rất cơ bản của tác phẩm trữ tình Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng nhận xét: “Người ta ngâm thơ gần như hát và các bà mẹ ru con mà hát, chính ra là họ ngâm thơ”

Thơ trữ tình Hồ Chí Minh là nét gạch nối giữa thơ trữ tình trung đại và thơ trữ tình hiện đại, cho nên chúng tôi dựa vào đặc trưng, đặc điểm của thơ trữ tình nói chung và thơ trữ tình trung đại, thơ trữ tình hiện đại nói riêng, dưới góc độ lý luận để làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài này Đặc biệt, để tìm hiểu kỹ hơn những vấn đề phục vụ cho đề tài, chúng tôi quan tâm đến thể loại thơ tuyệt cú hay còn gọi là thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh

1.1.1.3 Khái niệm - đặc trưng thể thơ tứ tuyệt

a) Khái niệm thơ tứ tuyệt

“ Thơ tứ tuyệt về nghĩa rộng là những bài thơ bốn câu, mỗi câu có năm chữ hoặc bảy chữ Loại câu có năm chữ gọi là “ngũ ngôn tuyệt cú” hay “ngũ tuyệt” Theo nghĩa hẹp là một dạng của thơ Đường luật có quy định bằng, trắc, niêm, đối Loại này còn gọi là “Luật tuyệt” để phân biệt với “Cổ tuyệt”

là những bài thơ tuyệt cú không làm theo thể thơ Đường luật” [10, 318]

Trang 19

b) Đặc trưng của thơ tứ tuyệt

Thơ tứ tuyệt là một thể loại đặc sắc, được các nhà thơ hết sức ưa chuộng

và được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu Thơ tứ tuyệt có nguồn gốc từ Trung Quốc Nó ra đời từ lâu nhưng đến thời Đường, thơ tứ tuyệt mới đạt đến đỉnh cao

c) Cấu trúc của thơ tứ tuyệt

- Cấu trúc của một bài thơ tứ tuyệt rất đa dạng:

+ Các câu đẳng lập với nhau: 1 - 1 - 1- 1

+ Bốn câu chia hai phần rõ rệt: Hoặc 1 - 3; Hoặc 2 - 2; Hoặc 3 - 1 trong

đó kết cấu 2- 2 là phổ biến nhất

- Câu thơ thứ nhất: Câu mở đầu bài thơ tứ tuyệt có vị trí là một câu

“khai”, tạo ra duyên cớ cho bài thơ

- Câu thơ thứ hai có hai chức năng

+ Cùng với câu 1 hoàn thiện thêm một ý và tạo mối liên kết câu thơ thứ nhất với câu thơ thứ hai

+ Hé lộ nội dung tư tưởng của bài thơ

- Câu thơ thứ ba có vị trí đặc biệt quan trọng trong thơ tứ tuyệt Nó vừa

là sự chuyển hai câu thơ trước vừa đóng vai trò quyết định với câu thứ tư, cũng có nghĩa là sự thành bại của cả bài

- Câu thơ thứ tư thâu tóm ý toàn bài, bộc lộ tư tưởng của tác giả, theo cấu trúc: Khai - thừa - chuyển - hợp Ở mức độ sâu hơn, câu thứ tư đóng vai trò tư tưởng

d) Phép đối trong thơ tứ tuyệt

Theo cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” (sđd), có ba cách đối:

- Cắt lấy bốn câu trên của bài thất ngôn bát cú: Trường hợp này hai câu

dưới phải đối nhau

Trang 20

- Cắt lấy bốn câu dưới của bài thất ngôn bát cú: Trường hợp này hai câu trên phải đối nhau

- Cắt lấy hai câu đầu và hai câu cuối của bài thất ngôn bát cú: Trường hợp này không phải đối

Đây là lối được nhiều người sử dụng và ít bị gò bó

e) Đề tài trong thơ tứ tuyệt

Theo tác giả Nguyễn Sĩ Đại trong cuốn “Một số đặc trưng nghệ thuật

của thơ tứ tuyệt Đường” (NXB Văn Nghệ - 1996) thì thơ tứ tuyệt thường có 6

loại đề tài:

- Về đề tài muôn thuở: sống - chết, vô cùng và hữu hạn;

- Về tình bằng hữu quê hương;

- Về tuổi xuân, tình yêu thân phận người phụ nữ;

- Về chiến tranh, số phận con người và số phận đất nước;

- Tố cáo giai cấp thống trị và nỗi thống khổ của nhân dân lao động;

- Về thiên nhiên

Đó là các loại đề tài có thể được chọn, còn việc xử lý đề tài đó như thế nào mới là quan trọng Cũng theo cuốn sách trên của Nguyễn Sĩ Đại thì thơ tứ tuyệt luật Đường có mấy biện pháp sau đây trong cách xử lý đề tài và tổ chức hình ảnh:

- Đẩy lùi cái cụ thể sang hàng thứ yếu;

- Sự chọn lọc chi tiết mang tính điển hình tuyệt cao;

- Sự lựa chọn chi tiết đặc sắc;

- Sử dụng thi pháp giả tưởng, mộng tưởng;

- Tổ chức hình ảnh dồn nén nhưng ẩn dụ

Thơ tứ tuyệt là loại thơ ngắn, ít lời nhưng ý nhiều và có sức khái quát cao Thơ tứ tuyệt mang vẻ đẹp tự nhiên, trau chuốt nội dung, vừa có sức rung cảm mạnh mẽ lại vừa thể hiện rõ cá tính sáng tạo của tác giả Hồ Chí Minh

Trang 21

thường sử dụng thể thơ tứ tuyệt trong sáng tác thơ, nhất là những bài viết bằng chữ Hán

1.1.2 Thơ trữ tình Hồ Chí Minh

1.1.2.1 Đặc điểm thơ trữ tình Hồ Chí Minh

Khi Hélène Toumaire, nhà văn, nhà báo phương Tây nói: “Ở Hồ Chí

Minh kết hợp được đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của một người chủ gia tộc.” [5, 94] là khi xác nhận “những phẩm chất cốt lõi, thường trực trong thế giới quan và nhân sinh quan” [34, 84] của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với

tư cách là tác giả của những tác phẩm báo chí, những áng văn chính luận nổi tiếng, những truyện và ký mang tính hiện thực sâu sắc, tập nhật ký bằng thơ và những vần thơ trữ tình độc đáo Những sáng tác của Người là kết tinh của trí tuệ, xúc cảm, tính dân tộc sâu lắng trong tính thời đại Theo những số liệu tổng

hợp được thì thơ trữ tình Hồ Chí Minh bao gồm: Nhật ký trong tù với 127 bài thơ viết bằng tiếng Hán; tập Thơ Hồ Chí Minh bao gồm 67 bài thơ viết bằng

tiếng Việt (sử dụng thể thơ dân tộc và truyền thống, lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn, cả hợp thể và tự do), thơ viết bằng chữ Hán có 16 bài (hầu hết là thơ

tứ tuyệt)

Theo tổng hợp của nhà nghiên cứu Lê Xuân Đức trong cuốn “Đến với

những bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh” thì “Về số lượng, căn cứ vào những

tập thơ mà các nhà xuất bản đã in và một số bài thơ được báo chí công bố

những năm gần đây, nếu tính từ bài thơ “Thư gửi Hy Mã bá đại nhân” ký tên

Nguyễn Tất Thành, viết năm 1913 ở Luân Đôn ghi trên một tờ bưu thiếp gửi cho cụ Phan Châu Trinh đang ở Pháp, do NXB Nôvôxti (Liên Xô trước đây) và NXB Thông tin – Lí luận (Hà Nội) công bố năm 1990, đến hai bài thơ cuối

cùng Người viết năm 1969: Mừng xuân 1969, Chúc tết các đồng chí cán bộ

đang công tác ở Paris, thì tổng số thơ Bác đã được sưu tầm, công bố là gần

Trang 22

300 bài.” Trong thành tựu sáng tác vĩ đại của Người, thơ chỉ là phần rất nhỏ nhưng lại có một giá trị rất lớn lao

Nhận xét về thơ của Người, nhà thơ Đỗ Trung Lai viết:

“ Chưa biết mai sau thơ Người làm ra lửa Thứ lửa cháy rồi thì để lại tự do.”

Để hiểu rõ hơn về đặc điểm thơ trữ tình của Hồ Chí Minh, chúng tôi đã đọc và lĩnh hội những nhận định của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước,

từ đó có cái nhìn toàn diện, chân thực hơn về những vần thơ của Người Có thể tóm gọn lại đặc điểm thơ trữ tình Hồ Chí Minh ở hai phương diện sau: a)Về nội dung:

Nội dung trữ tình trong thơ Hồ Chí Minh cũng rất phong phú và đa dạng như nhận định của PGS.TS Nguyễn Huy Quát: “Khi là tâm sự kín đáo về tương lai của cách mạng; khi nhớ bạn, nhớ chiến sĩ với tấm lòng của người cha; khi vui với công việc, với bạn cao niên, với trẻ nhỏ, lúc mừng tin thắng trận báo về; Khi lạc quan yêu đời, say việc nước mà không nghĩ mình tuổi đã cao…”[30, 122]

Thơ Bác là sự thể hiện tâm hồn cao đẹp, là tư tưởng lớn, là hành động cách mạng, là vũ khí đấu tranh Phạm vi đề tài trong thơ Bác rất rộng Chất liệu thơ chủ yếu lấy từ cuộc sống, từ thực tế cách mạng sôi nổi của dân tộc Tác phẩm của Bác đều hướng vào những vấn đề cấp thiết của cuộc sống, bởi

vì hơn lúc nào hết, hoàn cảnh ấy phải tập trung cho nhiệm vụ chính trị của cách mạng: chống thực dân, chống đế quốc, chống phong kiến, giành độc lập

tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội Chính vì vậy, thơ trữ tình Hồ Chí Minh, ngoài việc mang đầy đủ những đặc điểm của thơ trữ tình nói chung, còn có những nét riêng rất độc đáo Trước tiên, với vị trí của một người lãnh đạo toàn dân giành lại tự do cho đất nước, thơ Người có hai loại rõ rệt: Thơ tuyên truyền vận động cách mạng và thơ mang cảm hứng trữ tình Thơ trữ tình Hồ

Trang 23

Chí Minh là sự gắn kết chặt chẽ giữa thơ trữ tình thế sự và thơ trữ tình công dân Vì vậy, thơ Hồ Chí Minh đậm chất trữ tình

Một nội dung lớn trong thơ trữ tình của Hồ Chí Minh là tình cảm của Bác đối với thiên nhiên Cũng như trong truyền thống Á Đông, tình cảm của chủ thể trữ tình đối với thiên nhiên có một vị trí đặc biệt Thiên nhiên hữu tình làm nền cho thơ Bác, ngược lại, tình cảm của Bác đối với thiên nhiên thắm thiết, nhuần nhị, tươi đẹp, gắn bó Viết về thiên nhiên, thơ Bác có hai loại, đa

số là những bài thơ tả thiên nhiên để gửi gắm tâm hồn, tình cảm, biểu thị một thái độ, một quan niệm nào đó Thiên nhiên được thể hiện tập trung ở ba

mảng thơ: thơ viết ở trong tù, thơ viết ở chiến khu Việt Bắc và thơ viết nhân

những chuyến viếng thăm nước bạn Thiên nhiên trong thơ bác là sự tiếp nối thiên nhiên trong thơ truyền thống của dân tộc, của phương Đông về sự hoà quyện giữa con người với thiên nhiên, xem thiên nhiên như bầu bạn Song, cái nhìn của một người luôn đấu tranh vì hai chữ tự do cho dân tộc thì thiên nhiên trong thơ Bác lại khoẻ khoắn và ấm áp hơn bao giờ hết Thế giới hình tượng trong thơ Bác luôn vận động, sự vận động ấy luôn hướng về phía ánh sáng,

hướng về phía mặt trời hồng Những điều đó làm nên chất hiện đại trong thơ

trữ tình Hồ Chí Minh

Nhân vật trữ tình trong thơ Bác có phong thái hiền triết thời xưa, ung dung, nhàn tản giữa thiên nhiên giống như Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Bạch Vân am vậy, nhưng đằng sau phong thái thanh thản đó lại toát lên vị trí của chủ thể trữ tình giữa thiên nhiên Con người trong thơ Bác luôn làm chủ thiên nhiên Tâm hồn của Hồ Chí Minh không bao giờ vượt ra khỏi đường ray của những lo toan thời đại kể cả khi đang chìm đắm trong giấc mộng thu:

Trăng vào cửa sổ đòi thơ, Việc quân đang bận xin chờ hôm sau;

Trang 24

Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu,

Ấy tin thắng trận liên khu báo về

Cùng với phẩm chất cách mạng của người chiến sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn ngời sáng một tâm hồn nghệ sĩ Đó là một tâm hồn phong phú, nhạy cảm khoáng đạt, dễ rung động trước những biến đổi của cuộc sống, đặc biệt là thiên nhiên…Ở mỗi thời kỳ, thiên nhiên trong thơ Bác có một ý nghĩa sắc thái riêng Qua việc tìm hiểu những vần thơ Bác viết ở chiến khu Việt Bắc, chúng ta sẽ bắt gặp một Hồ Chí Minh với tâm hồn nghệ sĩ vô song

Từ những đặc điểm trên có thể nói khái quát: tư tưởng bao trùm trong nội dung thơ Bác là tình cảm của Bác đối với Tổ quốc, với nhân dân, con người và nhân loại cần lao Tổ quốc là lý tưởng, là cuộc đời của Người, nên là chủ đề xuyên suốt trong thơ Người Tổ quốc trong thơ Bác luôn là hình ảnh tha thiết và ngời sáng lòng tự hào dân tộc Những hình ảnh thường trở đi trở lại trong thơ Bác là hình anh Con Rồng cháu Tiên, giang san Tiên Rồng, con Lạc cháu Hồng, nước non Hồng Lạc Nói đến Tổ quốc, đến con người, Bác thường nói đến độc lập tự do Đó là khát vọng lớn, một nội dung lớn trong thơ

Bác Khát vọng ấy cháy bỏng trong suốt cuộc đời của một trái tim bảy mươi

chín mùa xuân: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất

cả những điều tôi muốn nói, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”

Thơ Hồ Chí Minh thấm nhuần lòng nhân ái, phong cách sống tích cực,

luôn hướng về tương lai với tư thế ung dung, hồn nhiên; Thơ Hồ Chí Minh có

giá trị nhiều mặt: nhưng trước hết nó là cánh cửa mở ra cho các thế hệ nối tiếp nhìn thấy một tâm hồn, một trí tuệ lớn của dân tộc và thời đại [37, 241]

b)Về nghệ thuật

R Đơnuy đã viết về phong cách thơ Hồ Chí Minh trên một tạp chí châu

Âu của Pháp như sau: “Thơ Người nói ít mà gợi nhiều, là loại thơ có màu sắc thanh đạm, có âm thanh trầm lặng, không phô diễn mà cứ cố khép lại trong

Trang 25

đường nét để cho người đọc tự thưởng thức lấy cái phần ý ở ngoài lời Phải yên lặng một mình ngồi đọc thơ Người, phải thỉnh thoảng ngồi lại để suy nghĩ mới cảm thấy được hết âm vang của nó và nghe những âm vang ấy cứ ngân dài mãi” Chỉ là một nhận định ngắn như vậy, nhưng đã nói được một số đặc điểm nghệ thuật thơ trữ tình Hồ Chí Minh

Theo nhận định của GS Nguyễn Đăng Mạnh thì phong cách thơ trữ tình

Hồ Chí Minh được thể hiện nổi bật ở những điểm sau:

Thứ nhất, khiêm tốn, giản dị, hồn nhiên, tự nhiên

Thứ hai, Sự hoà hợp giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại

Thứ ba, chất thép là chất thơ, bản chất chiến sĩ ẩn trong hình tượng thi sĩ Thứ tư, một nụ cười hồn nhiên, trẻ trung, thoải mái ẩn hiện qua những vần thơ

Thơ Bác là sản phẩm của một tài năng nghệ thuật đa dạng, một tâm hồn nghệ sĩ độc đáo Thơ Bác đạt đến mức trác tuyệt “Bác là một nhà thơ lớn với một phong cách thơ độc đáo,kết hợp một cách tài hoa giữa hiện thực và lãng mạn, dân gian và bác học, cổ điển và hiện đại, trào phúng mà trữ tình, tình mà thép” [7, 27]

Thơ Bác giản dị, dễ hiểu, thân ái nôm na đi vào lòng người, hướng con

người đến Chân,Thiện, Mĩ Cái tôi trữ tình trong thơ Người có cảm xúc tự

nhiên đằm thắm và sâu đậm về đất nước, con người và cuộc sống

Có một nét phong cách chỉ thể hiện trong thơ trữ tình Hồ Chí Minh, đó

là sự hoà hợp giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại Hai thứ ấy hoà quyện trong nhau nhuần nhị, tự nhiên

Thơ trữ tình của Hồ Chí Minh thường dùng thể tứ tuyệt cổ điển nên bài thơ rất ngắn Mặt khác trong thơ luật, thể tuyệt cú vẫn tự do phóng túng hơn Thơ ngắn nên phải đòi hỏi tính hàm xúc cao Khi đọc thơ Bác có nghĩa là tìm hiểu một tâm hồn vĩ đại chứa đựng một cách hết sức tập trung trong một

Trang 26

khuôn khổ rất hạn chế Giải quyết mâu thuẫn này, về mặt kết cấu không gian thơ Bác phải xây dựng nhiều tầng ý nghĩa và hình tượng

Tuy vậy, ngôn ngữ thơ của Bác lại rất trong sáng, giản dị Cấu tứ cũng chịu ảnh hưởng của thơ trung đại, đó là tạo dựng các mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại, giữa động và tĩnh, giữa hư và thực, giữa cảnh và tình…gợi nên ở người đọc những liên tưởng và có mối đồng cảm với thi nhân Thơ trung đại rất hàm súc, có những ý nghĩa rộng lớn sâu xa được thể hiện bằng những bài thơ ngắn gọn Thơ Bác cũng mang những đặc điểm đó và còn vượt ra khỏi thi pháp thơ trung đại để hướng tới thi pháp thơ hiện đại Đó là ngôn ngữ thơ không hề bị gò

bó mà rất linh hoạt, giản dị, có khi như lời nói thường, chỉ cần lột tả được cái cần nói là Bác không ngại ngần để đưa vào trong thơ Ngôn ngữ thơ Bác giàu hình ảnh và nhạc điệu, hàm súc mà bình dị, cổ kính hoa lệ mà tự nhiên hóm hỉnh Thơ Bác còn là tiếng cười, là nụ cười hài hước châm biếm trong việc phát hiện những mâu thuẫn, những nghịch lý của con người và sự việc Cấu tứ trong thơ Bác cũng vậy, có nhiều bài không tuân theo luật thơ Đường Bác là người đưa bạch thoại, ngôn từ địa phương vào thơ chữ Hán, khi cần, Bác phiên âm ngay trong bài thơ Để làm được điều đó, không ai khác ngoài Hồ Chí Minh Bởi với Người, thơ không phải là nghiệp mà chỉ là phương tiện để thể hiện cảm xúc, chí hướng của mình

Thơ Bác là sự kết hợp kỳ diệu giữa nội dung và hình thức, giữa hiểu biết, khám phá và sáng tạo Các mặt đó lại được thể hiện tổng hoà trong một

vẻ đẹp giản dị hết mực Thơ Bác là đẹp như sự nghiệp vĩ đại của Bác Cuộc

đời, sự nghiệp của Bác là những vần thơ tuyệt đẹp Vậy mà, những vần thơ ấy

không bao giờ được Bác coi là nghiệp Bác vẫn nói một cách khiêm tốn rằng:

“Trong khi đuổi giặc vẫn làm thơ”, chứ không nhận thơ của mình có sức mạnh đuổi giặc (thoái lỗ thi) như thơ văn Nguyễn Trãi

Trang 27

1.1.2.2 Thơ trữ tình ở chiến khu của Hồ Chí Minh

Ngày 28 tháng 01 năm 1941, Nguyễn Ái Quốc sau ba mươi năm bôn ba

ra nước ngoài đã trở về nước lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam Cao Bằng - Mảnh đất địa đầu của Tổ quốc là nơi đầu tiên đón dấu chân Người về Khi bước tới cột mốc 108 – biên giới Việt Trung, Bác đứng lặng hồi lâu, xúc động ngắm một dải non sông, đất nước

Để ghi lại thời khắc thiêng liêng này, nhà thơ Tố Hữu viết:

Ôi sáng xuân nay, xuân 41 Trắng rừng biên giới nở hoa mơ

Bác về… Im lặng Con chim hót, Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ

( Trích Theo chân Bác – Tố Hữu)

Và cũng tại đây, những tháng ngày tuy gian khổ, thiếu thốn nhưng thật

hào hùng ở Pác Bó được Bác tái hiện lại trong những bài thơ: Pác Bó hùng vĩ

và Tức cảnh Pác Bó (1941)và bài Thướng sơn (1942)…

Tháng 8.1942, Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam Sau

mười bốn trăng tê tái gông cùm (lời thơ của Tố Hữu) ở Trung Quốc, Người

trở lại Pác Bó và đến tháng 5.1945, chuyển về Tân Trào – Tuyên Quang Những ngày cuối tháng 8.1945, Hà Nội rực cờ hoa đón Bác về

Sau ngày toàn quốc kháng chiến, chính quyền cách mạng non trẻ gặp nhiều khó khăn, bị vây giữa vòng vây của kẻ thù Tháng 3.1947, Bác lại trở

về với Việt Bắc - thủ đô kháng chiến Chính trong chặng đường gian khổ này, Bác viết được rất nhiều bài thơ hay, vừa vịnh cảnh, vừa cổ vũ phong trào cách mạng lại vừa là những chiêm nghiệm mang tính thời đại sâu sắc Đó là những

bài thơ như: Cảnh rừng Việt Bắc, Cảnh khuya, Tặng các cụ du kích Cao

Bằng, Tặng hai cháu liên lạc trong bộ đội chiến khu I, Rằm tháng giêng, Tặng Bùi Công, Đêm thu, Báo tiệp, Sáu mươi tuổi, Đăng sơn…

Trang 28

Trong tập thơ Thơ Hồ Chí Minh của nhà xuất bản Văn học năm 1970,

có in tất cả 84 bài thì 52 bài Bác viết ở Việt Bắc và trong số 16 bài tiếng Hán

ở tập thơ ấy cũng có tới 11 bài được sáng tác tại Việt Bắc Nhận xét về số lượng những bài thơ Bác viết tại Việt Bắc, GS Nguyễn Đăng Mạnh, tác giả

của cuốn Mấy vấn đề về phương pháp tìm hiểu, phân tích thơ Hồ chủ tịch có

nhận xét: “Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, làm việc giữa núi rừng Việt Bắc, Bác cũng làm một loạt bài thơ cảm hứng trữ tình chủ yếu là tức cảnh, khoảng hai chục bài Có thể coi đây là thời kỳ thứ hai, thơ nghệ thuật của Bác phát triển tương đối dồi dào…”

Những bài thơ Bác viết tại chiến khu Việt Bắc tái hiện khung cảnh cuộc sống kháng chiến thật bình dị, nên thơ, có lúc khẩn trương nhưng bình tĩnh chủ động

“Qua thơ Bác, ta thấy khá rõ sức vang dội mạnh mẽ của hiện thực, trước

hết là hiện thực sinh động của Việt Bắc [27, 213]

Có thể nói mảng thơ ca Hồ Chí Minh viết ở chiến khu Việt Bắc là một phần rất đặc sắc và ngày càng được bạn đọc trong nước và nước ngoài tìm hiểu với tấm lòng ngưỡng mộ sâu sắc

1.1.3 Vài nét về định hướng dạy học thơ trữ tình Hồ Chí Minh ở trường THCS

Thơ Bác là sự kết tinh tài hoa của tâm hồn, trí tuệ và đạo đức của Người Bác là bậc vĩ nhân mà lại cũng là con người bình thường như muôn người bình thường Chính vì vậy, đọc thơ Bác, lĩnh hội thơ Bác vừa dễ lại vừa khó Dễ vì thơ Bác giản dị mà khó cũng vì nó giản dị mà tinh tế, hàm súc cao độ Vậy làm sao để tiếp thu được ánh sáng của trí tuệ, của tâm hồn, của tình cảm, đạo đức cao đẹp trong thơ Bác một cách chân thực mà không khiên cưỡng? Đó là vấn đề đã được rất nhiều nhà nghiên cứu về phương pháp dạy học Văn quan tâm, ví dụ

như: “Mấy vấn đề về phương pháp, phân tích thơ Hồ chủ Tịch” của GS Nguyễn

Trang 29

Đăng Mạnh, “Đến với những bài thơ của Hồ chủ Tịch” của tác giả Lê Xuân

Đức…

Đọc và lĩnh hội những những ý kiến phân tích, tìm hiểu thơ Hồ Chủ tịch của các nhà nghiên cứu cũng là nguồn tư liệu có tính lý luận cho đề tài luận văn của chúng tôi

- Trước tiên, để có thể hiểu sâu sắc thơ Bác, người phân tích cần có một quá trình tích luỹ, phấn đấu tự nâng mình lên về tư tưởng, về nhận thức, về đạo đức, về năng lực thẩm mĩ…nghĩa là phải có vốn tri thức,văn học, văn hoá…để làm cơ sở tiếp nhận thơ trữ tình Hồ Chí Minh Đây chính là vấn đề lý thuyết chung nhưng lại là vấn đề tiên quyết khi bắt tay vào việc phân tích những tác phẩm thơ của Bác

- Một điều kiện nữa là, với bất cứ tác phẩm nào khi phân tích cũng cần

có những hiểu biết về sự nghiệp, con người tác giả Với thơ Bác, điều này lại càng quan trọng hơn cả Bởi thơ Hồ Chí Minh là sự kết tinh trí tuệ, tâm hồn, đạo đức của Người Cuộc đời Bác là sự tích tụ những gì cao đẹp của lý tưởng cách mạng.Vì thế thơ Bác là sự biểu hiện một cách sinh động, sâu sắc thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng của Người

Quá trình phân tích một tác phẩm là quá trình tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm, cũng là quá trình tiếp xúc, nhận biết cuộc sống Quá trình này phụ thuộc rất nhiều vào nhân tố chủ quan, vào năng lực cụ thể của chủ thể phân tích Bên cạnh những yếu tố chủ quan đó, phân tích tác phẩm văn học vừa là việc làm khoa học vừa là việc làm mang tính nghệ thuật với những đặc trưng riêng Tuy không có phương pháp phân tích chung cho mọi tác phẩm nhưng nhất thiết phải xác lập những nguyên tắc phân tích tác phẩm và đảm bảo tuân thủ nguyên tắc đó một cách triệt để trong quá trình phân tích Trong cuốn

“Đến với những bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Lê Xuân Đức có xác định ba nguyên tắc phân tích sau: “Thứ nhất, phân tích một tác phẩm văn học

Trang 30

phải đảm bảo tính toàn vẹn của tác phẩm như một chỉnh thể nghệ thuật trong

sự thống nhất chặt chẽ, sinh động giữa nội dung và hình thức, giữa hình thức

và nội dung tác phẩm; Thứ hai, phải đặt tác phẩm trong hoàn cảnh lịch sử - xã hội mà nó phản ánh và hoàn cảnh cấu tứ tạo nên tác phẩm; Thứ ba, phải đảm

bảo tính thống nhất giữa trực cảm và phán đoán logíc để khám phá tác phẩm” Trên cơ sở nguyên tắc phân tích tác phẩm đã được xác định, người viết luận văn này căn cứ vào đối tượng phân tích và những điều kiện cần thiết để

tự tìm con đường tiếp cận tác phẩm Dựa vào những cơ sở đó có thể có những hướng tìm hiểu, phân tích thơ Bác như sau:

- Trước tiên tìm cảm xúc chủ đạo của bài thơ trước sự kiện cuộc sống

mà nhà thơ biểu hiện Trong thơ, quan điểm chính trị, lý tưởng thẩm mĩ, bản chất của cuộc sống, thiên hướng cá nhân…được bộc lộ trực tiếp, cụ thể qua cảm xúc mãnh liệt của nhà thơ Làm sao khi phân tích thơ, người phân tích có

được điệu hồn đồng điệu với điệu hồn của nhà thơ Trực cảm được coi là yếu

tố đầu tiên giúp chúng ta đi vào tác phẩm văn học

- Sau khi đã nắm được cảm xúc chủ đạo của bài thơ, người phân tích phải tìm ra cái “thần” của bài thơ Cái thần của bài thơ thường ẩn kín nhưng lại hé mở lung linh, lúc có thể nhận ra, lúc có thể nắm được nhưng lại rất khó

nhận ra Ví dụ như trong bài Mộ của Hồ chủ Tịch thì cái thần của bài thơ tập trung vào chữ cuối cùng Đó là nhãn tự “hồng” Chữ hồng làm tan biến mọi

mệt mỏi, làm thay đổi diện mạo tinh thần toàn bài thơ Sự chuyển biến này chính là cái lớn lao của tâm hồn, của tấm lòng vì sự sống trong hoàn cảnh bị đày đoạ nhưng vẫn hướng về bình minh

- Thơ Bác là sự kết hợp kì diệu giữa nội dung và hình thức, hình tượng thơ là hình tượng biểu hiện, hình tượng cảm nghĩ Nghệ thuật thơ Bác là nghệ thuật tự ẩn mình để cho nội dung trực tiếp đến với người đọc Chính vì vậy

Trang 31

mà cấu tứ thơ Bác rất linh hoạt, những cảm hứng khác nhau có những cấu tứ khác nhau, thể hiện tính đa dạng, phong phú của thơ Bác

- Một vấn đề nữa, khi phân tích thơ ca của Bác (cũng như các tác phẩm khác) chúng ta tuyệt nhiên không được bỏ qua mà phải coi trọng về thể loại

Có những bài thơ của Bác mang cảm hứng trữ tình, song thường biểu hiện theo phương thức tự sự Đặc biệt là khi phân tích và tìm hiểu những bài thơ chữ Hán của Người ta lại phải hiểu được vị trí của bộ phận thơ này trong nền văn học cách mạng hiện đại Việt Nam Đó là dấu gạch nối giữa cổ điển và hiện đại, là những bài thơ bộc lộ nội tâm sâu kín nhất của Hồ Chí Minh

- Đề tài và nội dung trong thơ chữ Hán của Bác rất phong phú và đa dạng Có những bài thơ xuất phát từ một sự việc, hiện tượng chẳng nên thơ chút nào nhưng đi vào thơ Bác lại thành hay và độc đáo, mới lạ Ngôn ngữ thơ không hề bị gò bó mà rất linh hoạt, giản dị, có khi như lời nói thường chỉ cần lột tả, truyền đạt được cái cần nói

- Về thể tài, thơ thất ngôn tứ tuyệt chiếm đại đa số và những bài thơ chữ Hán của Bác đã đạt đến đỉnh cao với nhiều bài bất hủ Cho nên khi phân tích thơ chữ Hán của Bác cần phải nắm chắc thi pháp thơ thất ngôn tứ tuyệt, một loại thơ kiệm lời mà đa ý, một loại thơ thiên về gợi hơn tả, một loại thơ coi trong tứ thơ hơn ý thơ, một loại thơ đòi hỏi tư duy khái quát cao mà vẫn phải

có những chi tiết điển hình để nắm bắt cuộc sống mà phản ánh, biểu hiện Song, cái kì diệu nhất, đóng góp lớn nhất vào kho tàng thơ chữ Hán là hình tượng văn học – con người chủ động, làm chủ cuộc sống in đậm nét trong những trang thơ của Người

Như vậy, để đọc, tìm hiểu và phân tích tác phẩm thơ Hồ Chí Minh cần phải nắm vững những nguyên tắc phân tích tác phẩm văn học nói chung, phương pháp phân tích thơ, quan niệm của Bác về thơ và đặc điểm thơ Hồ Chí Minh rồi tự xác định cách thức, con đường trực tiếp đi vào từng bài thơ cụ thể

Trang 32

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Khảo sát thực trạng dạy học thơ Hồ Chí Minh ở SGK THCS

- SGK Ngữ văn 7 được biên soạn theo hướng tích hợp Thơ được đưa

vào chương trình với những tác phẩm thơ trữ tình trung đại và thơ trữ tình

hiện đại Thơ trữ tình hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ Văn 7 gồm có ba bài:

Cảnh khuya và Rằm tháng giêng (bài 12), Tiếng gà trưa (bài 13) Ở trong

phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ khảo sát hai bài thơ trữ tình của Hồ Chí

Minh viết tại chiến khu Việt Bắc được đưa vào chương trình SGK Ngữ văn 7 Thông qua cách cấu tạo một bài học thơ trữ tình ở SGK Ngữ Văn 7, chúng

tôi thấy vấn đề dạy học theo đặc trưng thể loại đã được chú trọng Ở phần kết

quả cần đạt khi dạy học bài thơ Cảnh khuya và Rằm tháng giêng, những người biên soạn SGK Ngữ Văn 7 tập 1, viết:

• Cảm nhận được tình yêu thiên nhiên gắn liền với lòng yêu nước của

Hồ Chí Minh biểu hiện trong hai bài thơ Cảnh khuya và Rằm tháng giêng

• Nắm được thể thơ và những nét đặc sắc nghệ thuật của hai bài thơ

Đặc biệt, qua hệ thống câu hỏi ở phần đọc - hiểu văn bản, khái niệm thể loại đã được thể hiện rõ Giáo viên bám sát hệ thống câu hỏi này là có thể soạn bài đúng hướng, đạt yêu cầu ở mức độ nhất định

Bài thơ Cảnh khuya được đưa vào chương trình SGK Ngữ Văn 7 với bốn

câu thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh Nhân đây, chúng tôi cũng đề cập tới những vấn đề xung quanh bài thơ này Đó là, không ít nhà nghiên cứu và người biên

soạn sách giáo khoa nghĩ rằng, bài thơ Cảnh khuya (tên do người biên tập cuốn Thơ Hồ Chí Minh đặt) là bài thơ tứ tuyệt, vẻn vẹn có bốn câu thơ mà thôi Thật ra, bài thơ Cảnh khuya vốn không phải là một bài thơ tứ tuyệt Hai

nhà nghiên cứu Vũ Châu Quán và Nguyễn Huy Quát đã có cuộc gặp gỡ quý báu với luật sư Phan Anh, người có điều kiện gần gũi với Bác trong thời kỳ

kháng chiến ở Việt Bắc thì được luật sư đính chính lại là bài thơ Cảnh khuya vốn

Trang 33

có 10 câu gồm ba khổ, khổ đầu có hai câu lục bát, khổ giữa và khổ cuối mỗi khổ

có bốn câu thất ngôn Văn bản toàn vẹn của bài thơ đó như sau:

“Đêm khuya nhân lúc quan hoài Lên câu thơ thẩn chờ ai hoạ vần

Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà

Nước nhà đương gặp lúc gay go Trăm việc ngày công đều phải lo Giúp đỡ nhờ anh em gắng sức

Sức nhiều thắng lợi lại càng to.”

Đó cũng là một vấn đề mà chúng tôi muốn bổ sung khi thực hiện đề tài này Nếu biết toàn bộ văn bản bài thơ gồm mười câu sẽ giúp giáo viên và học sinh tìm hiểu ý nghĩa bài thơ đầy đủ, toàn vẹn hơn Tuy nhiên, cũng cần phải

thừa nhận rằng khi chưa có phát hiện về mười câu thơ trong bài Cảnh khuya thì bốn câu thơ hay nhất đã được công bố từ rất lâu Cho nên SGK Ngữ Văn 7 đặt

câu hỏi như thế là đúng đắn, bám sát đặc trưng thể loại

Sách giáo khoa Ngữ Văn 8 đã giúp học sinh tích hợp kiến thức từ những

cấp học trước Thơ trữ tình của Hồ Chí Minh được đưa vào với ba bài thơ,

trong đó có hai bài trích ở tập Nhật ký trong tù (Vọng nguyệt và Tẩu lộ) và

một bài thơ Người viết khi trở về nước lãnh đạo phong trào cách mạng Việt

Nam những năm tiền khởi nghĩa đó là bài Tức cảnh Pác Bó Ở phạm vi đề tài này chúng tôi cũng chỉ khảo sát việc dạy học bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập hai

Trang 34

Ở phần kết quả cần đạt, SGK nêu:

• Cảm nhận được niềm vui của Bác Hồ trong cuộc sống cách mạng đầy

gian khổ ở Pác Bó được diễn ta bằng những vần thơ tứ tuyệt bình dị

Qua hệ thống câu hỏi, sách giáo khoa đã giúp học sinh tìm hiểu về thể thơ, sau đó gợi ý học sinh phát hiện ra tâm trạng của Bác Hồ ở Pác Bó qua bài thơ Điều này thể hiện sự quan tâm đến đặc trưng thể loại trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình của người soạn sách

Tóm lại, điểm qua vài nét về sách giáo khoa Ngữ văn 7 và 8 THCS với

ba bài thơ của Hồ Chí Minh, chúng tôi thấy có những ưu điểm và hạn chế nhất định Song nhìn chung hệ thống câu hỏi này đã giúp giáo viên và học sinh tìm hiểu tác phẩm thuận lợi hơn khi lên lớp, góp phần nâng cao hiệu quả cảm thụ các bài đọc - hiểu này

1.2.2 Khảo sát thực trạng việc dạy học thơ của Hồ Chí Minh ở THCS (miền núi) theo đặc trưng thơ trữ tình

1.2.2.1 Mục đích khảo sát:

Tìm hiểu thực tiễn việc dạy - học ba bài thơ trữ tình của Hồ Chí Minh như:

Tức cảnh Pác Bó, Cảnh khuya và Rằm tháng giêng Từ đó tìm ra giải pháp để

phát huy những gì đã đạt được và khắc phục những mặt còn hạn chế

1.2.2.2 Nội dung khảo sát:

Luận văn tập trung khảo sát hai yếu tố:

+ Thực tế dạy - học ba bài thơ của Hồ Chí Minh (Cảnh Khuya, Rằm tháng

giêng, Tức cảnh Pác Bó) ở THCS miền núi theo đặc trưng thơ trữ tình

+ Hiệu quả tiếp nhận của HS về ba bài thơ trên

1.2.2.3 Thời gian và địa bàn khảo sát:

+ Từ tháng 9.2009 đến tháng 6.2010

Trang 35

+ Tiến hành khảo sát một số tiết học ba bài thơ nói trên ở trường THCS Tiên Hoàng( huyện Thạch An – Cao Bằng) và trường THCS thị trấn Đông Khê (huyện Thạch An – Cao Bằng)

1.2.2.4 Phương pháp khảo sát:

+ Quan sát tiết học (dự giờ)

+ Trò chuyện, trao đổi với GV và HS

+ Dùng phiếu điều tra

1.2.2.5 Kết quả khảo sát

a) Khảo sát về tình hình dạy của giáo viên

- Chúng tôi đưa ra một số câu hỏi thăm dò:

+ Câu hỏi 1: Hiện nay anh (chị) đang áp dụng những phương pháp nào

khi dạy học thơ trữ tình Hồ Chí Minh (cụ thể là ba bài thơ: Tức cảnh Pác Bó,

Cảnh khuya, Rằm tháng giêng) theo đặc trưng thể loại?

Kết quả trả lời được thể hiện ở bảng sau (bảng 1):

Tổng số giáo viên Các phương pháp dạy học Số lượng ý kiến

06

GV thuyết trình, HS lắng nghe và ghi chép

0

Giáo viên hướng dẫn HS đọc sáng tạo, tái hiện, gợi tìm theo đặc trưng thể loại

Trang 36

Kết quả trả lời được thể hiện ở bảng sau (bảng 2):

Tổng số GV Không quan trọng Khá quan trọng Rất quan trọng

+ Câu hỏi 3: Anh (chị) đã áp dụng phương pháp dạy học ba bài thơ Tức

cảnh Pác Bó, Cảnh khuya và Rằm tháng giêng theo đặc trưng thể loại như thế

nào? (tích vào các phương án mà anh chị chọn)

Kết quả thu được như sau (bảng 3):

Phương pháp

Tổng số GV

Nắm chắc đặc trưng thể loại

Bám sát đặc điểm thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh

Am hiểu đặc điểm tâm lý

HS THCS miền núi

Chuẩn bị bài soạn kỹ khi đến lớp

Tất cả các phương

án trên

(16,7%)

0 GV (0%)

0 GV (0%)

2 GV (33,3%)

3 GV (50%)

Chúng tôi còn hỏi thêm giáo viên những câu hỏi sau:

+ Câu hỏi 4: Anh (chị) gặp những khó khăn, thuận lợi gì trong dạy học thơ Hồ Chí Minh ở khu vực miền núi?

+ Câu hỏi 5: Những thắc mắc và kiến nghị của anh (chị) khi dạy học thơ

trữ tình Hồ Chí Minh theo đặc trưng thể loại?( đặc biệt là với 03 bài thơ Tức

cảnh Pác Bó, Cảnh khuya, Rằm tháng giêng)

+ Câu hỏi 6: Để nâng cao chất lượng dạy và học thơ trữ tình Hồ Chí Minh theo đặc trưng thể loại, theo anh (chị) cần tiến hành những phương pháp dạy học như thế nào?

Trang 37

b) Khảo sát, điều tra thực trạng học thơ trữ tình Hồ Chí Minh ở THCS miền núi

+ Câu hỏi 1: Tình hình học thơ Hồ Chí Minh của em đƣợc thể hiện nhƣ thế nào?

Soạn qua

Soạn cẩn thận

khôngchú ý

Ít chú

ý

Chú

ý

Không học

Học qua

Học thuộc Đông

Đọc tài liệu tham khảo

Đọc lại bài giảng ở nhà

Phân loại bài tập học thuộc

Trang 38

+ Câu hỏi 3: Em có khó khăn gì khi học thơ trữ tình Hồ Chí Minh (Tức

Giáo viên và học sinh vẫn còn có những vướng mắc như sau:

a) Về phía giáo viên:

- Vẫn còn một số giáo viên chưa nhận thức sâu sắc ý nghĩa của việc dạy học tác phẩm thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại Họ nghĩ rằng cứ phân tích,

cứ đọc, đưa ra những câu hỏi xoáy vào những hình ảnh, chi tiết cụ thể và học sinh trả lời là đã đạt yêu cầu

- Những tác phẩm thơ trữ tình của Hồ Chí Minh được đưa vào chương trình THCS là những bài thơ ngắn (thơ tứ tuyệt), dạy đúng đã khó nên dạy hay lại càng khó hơn Thậm chí ngôn từ trong các bài thơ ấy rất đẹp và trong sáng nhưng giáo viên không thể nào diễn tả được hết vẻ đẹp của nó

- Hoặc hạn chế của việc phân bố chương trình cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc giúp học sinh cảm và hiểu được những bài thơ “ý tại ngôn ngoại”

của Hồ Chí Minh Ví dụ như: hai bài thơ Cảnh khuya và Rằm tháng giêng

được phân phối dạy trong một tiết ít ỏi Sẽ là rất khó khăn trong việc hướng

dẫn học sinh hiểu sâu được hai bài thơ hay như vậy Đặc biệt là bài Rằm tháng

giêng nếu chỉ đọc một cách hời hợt thì sẽ không hiểu được tầng ý nghĩa sâu sắc

của những vần thơ chữ Hán

Trang 39

Hạn chế trên gây khó khăn trong cảm thụ và tiếp nhận tác phẩm văn chương thông qua con đường tự đọc, tự học của học sinh Bên cạnh đó, việc không đi từ đặc trưng thể loại của văn bản sẽ khiến người dạy định hướng chưa sát với cách tiếp nhận, mà đã như thế thì hiểu bài thơ không đầy đủ cả về nội dung và nghệ thuật

Do những yếu tố khách quan như: vùng miền, dân tộc, điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội còn gặp nhiều khó khăn cho nên giáo viên không thường xuyên được tiếp xúc với những thiết bị dạy học hiện đại, không có nhiều điều kiện để được tham gia những buổi tập huấn nâng cao chất lượng dạy và học Khó khăn nhất vẫn chính là thói quen ỷ lại, tính rụt rè của học sinh dân tộc miền núi Các em vẫn chưa coi việc học là hàng đầu, là con đường tiếp cận với xã hội hiện đại…nên việc tự học của các em chưa thành nền nếp, kỹ năng Theo khảo sát của chúng tôi, vẫn còn tới 9,8% số học sinh không soạn trước bài ở nhà, 3,8% số học sinh không chăm chú học bài trong giờ lên lớp và có tới 16,7% số học sinh không học lại bài sau giờ lên lớp Tức là tình trạng các

em thờ ơ với sách vở cũng là một hiện tượng đáng lo ngại Hơn nữa, tài liệu tham khảo để dạy học tốt hơn vẫn còn rất khan hiếm đối với giáo viên miền núi

Bên cạnh mặt hạn chế, cũng có những thuận lợi: thầy trò học sinh THCS miền núi Cao Bằng sinh ra và lớn lên trên quê hương cách mạng, nên đều thấm nhuần tình yêu của người con Việt Bắc với cụ Hồ Khi tiếp xúc với những bài thơ Hồ Chí Minh viết tại quê hương mình, các em rất hứng thú và thấy thơ

Bác thật gần gũi Đặc biệt là những hình ảnh, ngôn ngữ trong thơ Bác như: suối,

hang, cháo bẹ, rau măng, bàn đá,…lại càng gần gũi và dễ hiểu hơn với các em

Đó cũng là thuận lợi lớn nhất mà thầy trò THCS miền núi Cao Bằng luôn phát huy trong việc tiếp nhận thơ Hồ Chí Minh

Trang 40

b) Những vướng mắc và nguyện vọng của học sinh THCS (miền núi)

trong việc học thơ Hồ Chí Minh trong chương trình SGK Ngữ Văn 7 và Ngữ

văn 8

- Tài liệu tham khảo vẫn còn rất khan hiếm đối với các em

- Chưa hiểu rõ cách thức đọc - hiểu

- Chưa hiểu rõ đặc trưng thể loại, kể cả thể loại thơ trữ tình

- Chưa nhận ra nét tương đồng và khác biệt giữa các thể loại để từ đó tự

so sánh, có nhãn quan rộng lớn hơn về văn học

- Các em gặp khó khăn trong việc so sánh giữa thể loại, đề tài giữa nền văn học nước nhà và văn học thế giới

* Một vài đề nghị của các em:

- Mong muốn được thầy cô giảng kỹ hơn về đặc trưng của từng thể loại

- Muốn được đọc kỹ văn bản và chú thích những từ khó thật dễ hiểu hơn

- Muốn được nghe kể chuyện về Bác Hồ kính yêu Muốn được xem băng, xem tranh ảnh và tư liệu về Hồ Chủ tịch trong giờ học và cả giờ ngoại khoá để hiểu hơn về cuộc đời của một con Người vĩ đại

- Muốn được các thầy cô đa dạng hoá các dạng bài tập để gây hứng thú cho các em trong giờ dạy học thơ Hồ Chí Minh

Do điều kiện chủ quan và khách quan nên việc khảo sát của chúng tôi chưa được tiến hành đầy đủ, kỹ lưỡng Địa bàn khảo sát chỉ thu hẹp ở một số trường THCS trên địa bàn huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng Nội dung, cách thức khảo sát chưa thật phong phú Vì vậy, kết quả khảo sát trên vẫn chưa phải là toàn bộ tình hình dạy học thơ của Hồ Chí Minh ở trường THCS miền núi theo đặc trưng thơ trữ tình Tuy vậy, vấn đề đặt ra là cần làm tốt hơn những khía cạnh sau đây đối với dạy học thơ Hồ Chí Minh ở THCS (miền núi):

- Làm gì để học sinh miền núi dễ hiểu hơn khi học thơ Hồ Chí Minh?

Ngày đăng: 09/11/2014, 16:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  lịch  sử  lúc  bấy  giờ  có  thể  thấy  niềm lạc quan của Bác là rất lớn: cách  mạng tháng Tám 1945 đang đến gần - dạy học thơ hồ chí minh ở lớp 7 và 8 trung học cơ sở (miền núi) theo đặc trưng thơ trữ tình
nh lịch sử lúc bấy giờ có thể thấy niềm lạc quan của Bác là rất lớn: cách mạng tháng Tám 1945 đang đến gần (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w