1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

CẢM THỨC cô đơn TRONG THƠ lưu QUANG vũ

142 1,1K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 665 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như một cơn mưa đến giữa trời nắng hạn, làm thỏa cơn khátcủa tâm thức số đông nên rất dễ hiểu khi người ta đón nhận nó nồng nhiệt.Song hành với những tiếng nói mới trong kịch Lưu Quang V

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

 TRẦN THỊ HƯƠNG GIANG

CẢM THỨC CÔ ĐƠN TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại

Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS TRỊNH THU TUYẾT

Trang 2

MỤC LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Lưu Quang Vũ là một ngôi sao có số phận đặc biệt trên bầu trời

văn học Việt Nam hiện đại Ngôi sao lặng lẽ vượt mình, vượt thời đại, vượtqua bao bão giông để tỏa sáng rực rỡ sau một chặng đường dài, rồi lại đến vớithế giới vĩnh hằng giữa lúc đang ở trên đỉnh cao huy hoàng nhất Ngôi sao đótừng tỏa ánh sáng chói lọi trên sân khấu kịch Việt Nam trong thập kỉ 80,nhưng sức ám ảnh dư ba mãnh liệt nhất lại là những tiếng lòng cô đơn u ẩntrong thơ

Nói về vị trí của Lưu Quang Vũ trên sân khấu kịch Việt Nam hiện đại,không ai có thể phủ nhận những thành công và những cống hiến lớn lao củaanh Hơn 50 vở kịch viết trong vòng 8 năm được công chúng đón nhận nồngnhiệt, trong số đó hàng chục vở nhận huy chương vàng trên các hội diễn toànquốc Sân khấu sáng đèn hàng đêm giữa những tràng pháo tay vang dội củakhán giả bởi những vở kịch hấp dẫn, nhiều suy tư trăn trở về lẽ đời và cuộcsống nhân sinh thế sự mang dấu ấn tài tài năng và tâm huyết Lưu Quang Vũ

Có thể nói nền kịch trường những năm 80 thực sự đã được hồi sinh bằng tàinăng kì diệu của “Moliere ở Việt Nam”

Tuy nhiên, dẫu có tung hoành ngang dọc với kịch, dẫu được ngợi canồng nhiệt với vai trò một tác gia sân khấu xuất sắc của thời đại, Lưu Quang

Vũ vẫn đau đáu nỗi niềm với thơ : “tôi muốn sẽ làm thơ mãi, nếu như mình

còn làm được” “thơ mới là tình yêu của tôi” [33,180] Nếu kịch là tiếng nói

hướng ra thế giới bên ngoài, hướng tới người đọc, người xem thì thơ mớichính là tiếng nói của thế giới nội cảm, tiếng nói nhỏ dành cho mình, tiếng nóikhát khao đồng vọng của những tâm hồn tri kỉ Khi công cuộc đổi mới vừa

Trang 4

manh nha những bước đi đầu tiên, Lưu Quang Vũ đã đến rất nhanh, rất hàohứng với kịch, có lẽ bởi kịch chính là thể loại hữu dụng nhất giúp anh nói tonhững điều bao lâu nay trăn trở mà chỉ có thể nói thầm trong thơ, giúp anhnhanh chóng gửi tới cuộc đời những thông điệp nóng hổi tính thời sự ở mộtphạm vi rộng khắp Những vở kịch của Lưu Quang Vũ khi ấy đã chạm vàonhững điều trước đó dường như luôn là bất khả xâm phạm trong tư duy truyềnthống, mở ra những cánh cửa lâu nay vẫn đóng kín, giúp mọi người có thểnhìn thấu những bề xa, bề sâu, những góc khuất của hiện thực xã hội và tâmhồn con người Như một cơn mưa đến giữa trời nắng hạn, làm thỏa cơn khátcủa tâm thức số đông nên rất dễ hiểu khi người ta đón nhận nó nồng nhiệt.

Song hành với những tiếng nói mới trong kịch Lưu Quang Vũ là sự đổimới trên nhiều thể loại văn học Hành trình đổi mới của văn học Việt Namkhởi đầu từ giai đoạn 1975-1985 và sôi nổi nhất trong những năm 1986-1991

Bài phát biểu nổi tiếng của Nguyễn Minh Châu “Hãy đọc lời ai điếu cho một

giai đoạn văn nghệ minh họa’’ (1986) đã thể hiện nhiệt tình đổi mới triệt để,

mãnh liệt, làm dấy lên một làn sóng đổi mới mạnh mẽ và rộng khắp

Cùng với sự đổi mới của tư duy thời đại, khát vọng nói thẳng, nói thậtđược bày tỏ đầy phấn khích trên mọi diễn đàn Với sự xuất hiện hàng loạtnhững phóng sự của Hoàng Hữu Cát, Xuân Ba, Phùng Gia Lộc, Trần HuyQuang…; tiểu luận, truyện ngắn, tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu, NguyễnHuy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Dương Thu Hương, Nguyễn QuangLập, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường, TạDuy Anh …; kịch Lưu Quang Vũ bớt dần sức nóng thống trị và lặng lẽ hoànhập, thấm sâu vào mạch nguồn văn chương thời đổi mới Khi ấy, con ngườinhà thơ bên trong Lưu Quang Vũ bình tâm hơn, thâm trầm xúc cảm hơn, trởlại lắng nghe tiếng lòng mình, trở lại với thơ để kiếm tìm những đồng vọng tri

kỉ Chính lúc ấy, với tâm thế thời đại và độ chín của xúc cảm, suy tư, tiếng

Trang 5

thơ da diết dội lên từ trái tim thành thực của Lưu Quang Vũ nhận được rấtnhiều sự đồng cảm, sẻ chia để càng ngày càng khẳng định sức sống mãnh liệttrong tâm hồn bao thế hệ.

Như vậy, trước hết và sau cùng, Lưu Quang Vũ sẽ mãi là con người củathi ca Sâu thẳm trong tâm hồn nghệ sĩ, anh luôn dành trái tim đầy si mê, lãngmạn, nhiều suy ngẫm, ưu tư của mình cho thơ Tình yêu đó in dấu trên nhữngtrang viết nồng nàn cảm xúc khiến những tâm hồn đồng điệu yêu thơ anh

không khó nhận ra: “Tôi thấy trước sau cốt cách thi sĩ vẫn là nét trội nhất

trong tâm hồn anh Tôi trộm nghĩ về lâu dài, sự đóng góp của Lưu Quang Vũ

về thơ còn lớn hơn về kịch” (Vũ Quần Phương) [30,33] Anh “ là một nhà thơ thuộc loại bẩm sinh, dễ dàng giãi bày mọi vui buồn của mình trên trang giấy” (Vương Trí Nhàn) [30,63] Nguyễn Thị Minh Thái cũng đồng cảm

nhận: thơ “là hồn cốt thâm hậu nhất”, “ là nơi ẩn náu cuối chót của chàng

thi sĩ buồn này Thơ với Lưu Quang Vũ là tất cả sự hàm ơn và trang trải riêng tư của tâm hồn chàng với đời sống” [30,92].

1.2 Sống hết mình với thơ, sống thật nhất với mình, Lưu Quang Vũ đã

mang đến một “cá tính thơ độc đáo trong dòng thơ Việt Nam hiện đại nửa

cuối thế kỉ XX” (Lý Hoài Thu) [33,25] Hành trình thơ Lưu Quang Vũ là một

quá trình vận động, chuyển biến không ngừng theo những thăng trầm của thờiđại và của chính cuộc đời anh Giai đoạn 1963-1970, tiếng thơ Lưu Quang Vũdẫu mơ mộng, tươi trong song đã thấp thoáng bóng dáng của nỗi cô đơn trênhành trình sáng tạo Đến chặng 1971-1973, hồn thơ anh thấm đẫm nỗi cô đơn,hoài nghi, khắc khoải Giữa dòng chảy cuồn cuộn hào khí cộng đồng, trong

tâm thế “dẫu một cây chông trừ giặc Mĩ/ Hơn nghìn trang giấy luận văn

chương”(Tố Hữu), “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Phạm Tiến Duật), cái tôi công dân trong Lưu Quang Vũ trăn trở

với thời cuộc theo cách nhìn riêng của anh Anh khắc khoải với thân phận con

Trang 6

người, day dứt về tồn tại, về ý nghĩa cuộc sống nên nhiều khi cô đơn đếntuyệt vọng Ở giai đoạn cuối 1974-1988, cái tôi dẫu cập bến tình yêu đồngthời có được sự vững vàng tin tưởng trong sáng tạo và cống hiến, nhưng vẫnkhông khỏi có những phút cô đơn, hoài nghi về hạnh phúc, ám ảnh bởi những

“giấc mơ điên rồ, những ngọn lửa không có thật”… 3 chặng thơ - 1 hành

trình , xuyên suốt tất cả những vận động, chuyển biến của hồn thơ, cô đơn đãtrở thành một cảm thức nổi bật trong trang viết của anh

Cái tôi cô đơn Lưu Quang Vũ đã có lúc phải đứng một mình lẻ bóngtrong một thời gian dài Người ta nhìn nó bằng ánh mắt xa lạ, dè chừng, nhiềunghi ngại vì nó lạc xa với dòng chung của thời đại Văn học Việt Nam nhữngnăm chống Mĩ là nền văn học sử thi của cái ta hào hùng, hào sảng Âm hưởngngợi ca, cổ vũ, khích lệ đấu tranh là âm hưởng chính thống chiếm lĩnh vănđàn Dường như tất cả các nhà văn, nhà thơ đều nhìn chung một lăng kính,nói chung một tiếng nói, cùng nhau viết nên bản hùng ca chung của cả dântộc Thơ Vũ lúc đó không được đón nhận cũng bởi nó là một âm điệu riêng,được phối theo một bè riêng với những dấu ấn bi thương, cay đắng của cánhân anh Chỉ đến thời kì sau đổi mới, khi văn học được "cởi trói" trên mọiphương diện, cái tôi cô đơn trong thơ Lưu Quang Vũ mới được nhìn nhận,đánh giá lại Khi đó, tất cả đều ngỡ ngàng nhận ra tiếng thơ cô đơn ấy mớichính là phần tài hoa, tinh tế, mãnh liệt nhất của hồn thơ Vũ, cũng là nétphong cách rất riêng mà anh mang đến góp thêm một màu vẻ mới cho thi caViệt Nam đương thời

1.3 Xuất phát từ mong muốn đánh giá xác đáng và sâu hơn một nét

phong cách nghệ thuật độc đáo cũng như những đóng góp không nhỏ của LưuQuang Vũ với diện mạo chung của thơ ca đương thời, chúng tôi lựa chọn vấn

đề “Cảm thức cô đơn trong thơ Lưu Quang Vũ” làm đề tài nghiên cứu của

luận văn Hi vọng luận văn sẽ góp thêm một cái nhìn toàn diện và sâu sắchơn về tài năng thiên bẩm, tâm hồn cao đẹp và tầm tư tưởng vượt thời đại củaanh - người nghệ sĩ nhiều hoài bão và luôn trăn trở trên hành trình nghệ thuật

Trang 7

2 Lịch sử vấn đề

Ngay từ khi mới xuất hiện với tập “Hương cây- Bếp lửa” (in chung với

Bằng Việt), Lưu Quang Vũ đã được các nhà phê bình uy tín như Hoài Thanh,

Lê Đình Kị đánh giá cao về bản sắc và tài năng “Đến lượt mình, Lưu Quang

Vũ đã góp tiếng nói của anh Một tiếng nói nhỏ nhẹ mà sâu Anh đã cảm thấy bước đi của năm tháng, hơn nữa đã để tâm hồn mình hòa theo, quyện theo bước đi riêng của năm tháng trên đất nước kỳ diệu của chúng ta” [30,8].

“Thơ Lưu Quang Vũ có một điệu tâm hồn riêng và không thiếu tâm tình, một tâm tình sâu sắc, tự nhiên không dứt ra được, nó như có tự bao giờ và được đem san sẻ cho các bài thơ’’ [30, 29].

Sau khởi đầu thuận lợi đó, thơ Lưu Quang Vũ dường như bị lãng quên

vì tiếng thơ buồn của anh không hòa được vào dàn đồng ca hào tráng của thờiđại Nhưng vượt lên trên cách nhìn phiến diện của một thời, những giá trịchân chính sẽ luôn được khẳng định và nhìn nhận lại Thơ Lưu Quang Vũ đãthực sự tìm lại được vị trí đích thực trên thi đàn qua một loạt những nghiêncứu có giá trị của các nhà phê bình uy tín

Các tác giả đã khai thác vẻ đẹp của tâm hồn và phong cách Lưu Quang

Vũ trên nhiều phương diện Song có một điểm nhất quán là dù khai thác ởkhía cạnh nào, các nghiên cứu vẫn cảm nhận được nét riêng trong thơ LưuQuang Vũ Đó là nỗi cô đơn thăm thẳm tràn lên mọi giới hạn, canh cánh mọigóc nhìn, mọi hướng đi

2.1 Nghiên cứu phương diện nội dung, các nhà phê bình đã nhìn ra

cảm thức cô đơn bao trùm lên tất cả các đề tài, cảm hứng thơ Lưu Quang Vũ

Lưu Quang Vũ trong tình yêu là một Lưu Quang Vũ say đắm, nhiệtthành mà vẫn luôn day dứt, cô đơn Thơ tình với anh là cuộc đời Cuộc đời

nhiều đau thương kết lại thành những sáng tạo thăng hoa đầy trăn trở:“ Lưu

Quang Vũ là một người đàn ông may mắn Trong cuộc đời long đong vất

Trang 8

vả…, hầu như ở giai đoạn nào anh cũng gặp một tình yêu lớn Cho dù cái mà tình cảm ấy đem lại có thể là một vết thương, một nỗi đau suốt đời” (Lưu Khánh Thơ) [30,54] song đó chính là nguồn cảm hứng dào dạt cho những

trang thơ tình da diết, đắm say

Những vần thơ tình yêu đó hướng đến hình tượng người tình thật đặc

biệt trong thơ anh như phát hiện của Nguyễn Thị Minh Thái: “em” “ vừa có

thể là người tình, vừa có thể là nỗi khao khát không đạt đến, sự cứu rỗi linh hồn buồn đau của chàng; em còn mang những tên gọi khác nhau đầy âu yếm, thương cảm” [33,108].

Theo cảm nhận của Việt Nga: “…trong thơ tình Lưu Quang Vũ …có

bóng dáng một người đàn ông từng trải, đã nếm nhiều cay đắng của cuộc đời, đã từng trải nỗi đau tan vỡ nên có cách nhìn đa chiều với tình yêu, nên trong đắm đuối vẫn gợi lên những xót xa tê tái, thậm chí nghi ngờ… Tâm lý thất vọng thường trực sau mỗi đổ vỡ nên Lưu Quang Vũ nhìn đâu cũng thấy hồ nghi, quay hướng nào cũng thấy mình cô đơn trước cuộc đời thăm thẳm.” [33,136]

Với Lưu Quang Vũ, tình yêu là số phận Và cô đơn lại là số phận dànhcho anh trong tình yêu Bởi con tim yêu quá đắm đuối, nồng nàn, quá nhiềukhát vọng và trăn trở sẽ khó tránh được những đau đớn khi đối diện với thực

tế nghiệt ngã của đời sống

Cùng với cảm hứng tình yêu, cảm hứng dân tộc cũng in dấu ấn đậm néttrong thơ Lưu Quang Vũ Con người công dân đầy trách nhiệm trong anhkhám phá hiện thực đất nước ở một góc nhìn mới trăn trở, suy tư, tách biệtkhỏi dàn đồng ca sử thi hào tráng, nên không tránh khỏi những cô đơn, bi lụy,xót xa

Vũ Quần Phương khẳng định: “Cảm hứng dân tộc… là một cảm hứng

bền chắc trong thơ Lưu Quang Vũ Ca ngợi hay phê phán gì, anh cũng yêu

Trang 9

thương thành kính, cảm phục, xót xa… Anh bình giá về nhân dân, ca ngợi tầm vóc vĩ đại, hy sinh cao cả của những người dân vô danh và cũng thấy hết những nhược điểm của họ, thấy để xót thương.” [30,47]

Phạm Xuân Nguyên cảm nhận sâu sắc nỗi đau đớn của Lưu Quang Vũ

trước đất nước bi thương trong chiến tranh: “Cơn bão lớn vẫn đang lồng lộn

thổi trên thân mình đất nước, cơn gió hồn anh vẫn đang vật vã, anh không thể yên lòng khi nhắc đến hai tiếng thiêng liêng Việt Nam.” [33,103]

Tìm cho mình con đường đi riêng giữa dòng chung, Lưu Quang Vũ

“riêng mình đau và lo cho đất nước’’ “giữa dàn đồng ca hào hùng tụng ca đất nước thời trận mạc.” [33,103]

Như vậy, cảm hứng về đất nước trong thơ Lưu Quang Vũ cũng mangđậm màu sắc phong cách riêng của cá nhân anh Cảm hứng yêu nước trongthơ Lưu Quang Vũ không thiên về ngợi ca với giọng điệu hào hùng, hào sảng

mà khắc khoải trong những âu lo đầy trách nhiệm về đất nước, nhân dân.Hình như con người càng nặng lòng với Tổ quốc sẽ càng cô đơn trong cáchnhìn, cách ngẫm của cá nhân mình

Có thể nói, khắc khoải trong mọi cảm hứng thơ Lưu Quang Vũ là nỗi

cô đơn Nỗi cô đơn đó đã được xoáy sâu trong nhiều trang viết về anh đểngười đọc nhận diện rõ nét hơn chân dung người thi sĩ tài hoa

Vũ Quần Phương đọc mà sửng sốt: “đây là một Lưu Quang Vũ khác,

một Lưu Quang Vũ mà bạn bè còn ít biết tới Ở đây anh cô đơn hơn, cay đắng hơn…Có lúc lòng anh thật hoang vắng thật rêu phong…” [30,34]

Vương Trí Nhàn đồng cảm nhận: “những vần thơ sau đây cho thấy một

Lưu Quang Vũ khác, Vũ của dằn vặt, đau xót, lầm lỡ, cô đơn mà cũng là Vũ của những tha thiết muốn vượt lên trên mọi mệt mỏi, mọi hoài nghi để sống,

để tồn tại.” [30,64]

Trang 10

Huỳnh Như Phương đọc “Những vần thơ thấm đẫm băn khoăn”

để thấy “tâm hồn Lưu Quang Vũ là một thể phức hợp của những đối

cực và nghịch lý” “Anh nói rất nhiều về sự cô đơn bằng cảm nghiệm riêng của mình” [33,191]

Với Phan Trọng Thưởng, tâm trạng bi kịch của Lưu Quang Vũ ghi lại

một ám ảnh sâu sắc: “Nhiều lúc anh chỉ là một thực thể cô đơn, trống rỗng

giữa cuộc đời…Dường như điều mà anh hằng tìm kiếm ở thời điểm lúc đó chưa hiện hữu, định hình Cho nên, những cuộc nổi loạn tâm hồn, những cô đơn, những ngờ vực ở anh thật khó tìm căn nguyên, khó giải thích…Một sự

cô đơn đến lạnh người.” [33,194]

Lưu Khánh Thơ nhận định:“Bản năng thi sĩ của anh giàu có trong những

nỗi buồn, cô đơn, tuyệt vọng Những khoảnh khắc bị dồn đẩy đến cùng, thơ anh luôn muốn tung bứt lên để đối mặt với chính cảnh ngộ của mình.” [30,59]

Thực sự cô đơn đã trở thành một dấu ấn riêng mà Lưu Quang Vũ gópvào dòng mạch chung của thơ ca đương thời

2.2 Cảm thức cô đơn còn in dấu ở những phương thức nghệ thuật đặc

trưng làm nên thế giới thơ Lưu Quang Vũ

Giọng điệu là yếu tố được quan tâm đặc biệt trong thơ anh Anh có một

chất giọng riêng, khó lẫn - chất giọng “thủ thỉ tâm tình giàu chất tự sự Anh

kể lại bằng ngôn ngữ thơ những xúc động, những phát hiện của mình trong cái chuỗi ngày mệt mỏi và lận đận” (Nguyễn Việt Chiến) [33,201]

Lý Hoài Thu cảm nhận sự chuyển biến trong giọng điệu thơ Lưu Quang

Vũ: “Giọng điệu thơ… bớt đi sự ngọt ngào, êm ái, hiền lành, thay vào đó là

sắc điệu tự vấn đầy trăn trở, suy tư và đau đớn.” [33,29]

Vũ Quần Phương đã phát hiện ra nét độc đáo nhất trong giọng điệu của

anh: “Đắm đuối là bản sắc cảm xúc của Lưu Quang Vũ.’’ “Vui hay buồn, tin

cậy hay hoang mang…bao giờ anh cũng đắm đuối’’ Đắm đuối “tạo nên sức lôi cuốn ma quái ở thơ anh” [30,38]

Trang 11

Cùng với giọng điệu đắm đuối, day dứt, xót xa là hệ biểu tượng giàusức ám ảnh in dấu đậm nét cái tôi cô đơn của Lưu Quang Vũ

Với Phan Trọng Thưởng: “Hơn một lần Lưu Quang Vũ nhận mình là

con ong Hình như anh cảm thấy có một sự đồng thân, đồng phận nào đấy giữa mình với con ong…đến “Bầy ong trong đêm sâu”, cái buồn ở Lưu Quang Vũ là cái buồn rã rời vì cô đơn, vì mất tin yêu, vì một sự vào đời không trọn vẹn Bầy ong thực sự trở thành bầy ong mơ.” [33,194]

Vương Trí Nhàn chú ý biểu tượng mưa: “Trong các thi sĩ đương thời,

Vũ là người nhạy cảm với mưa, thân thuộc với mưa hơn ai hết Ở anh, mưa cho thấy sự trôi qua của thời gian mà con người bất lực, không sao níu kéo nổi Mưa làm cho hiện tại trở nên vô nghĩa và tương lai trở nên lờ mờ, không xác định.” [30,69]

Phạm Xuân Nguyên có những phát hiện giàu sức thuyết phục khi khám

phá biểu tượng gió bao trùm thế giới nghệ thuật thơ Lưu Quang Vũ: “Bởi như

gió, anh phóng túng, tự do Dám sống đúng mình, dám nghĩ đúng mình Anh không thể yên ổn trong những cái mực thước, khuôn phép, vừa phải, lưng chừng…Cơn gió mạnh của thời cuộc xoay quật đất nước, thổi thốc vào hồn anh đôi khi khiến anh choáng váng, nghiêng ngả…Anh bực bội bỏ nhà ra đi như ngọn gió nhưng ngọn gió âm thầm quằn quại vẫn yêu em.” [30,78]

Như vậy, có thể nói, ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật đã cókhá nhiều các ý kiến của các nhà phê bình uy tín khơi mở phần cô đơnthẳm sâu trong tâm hồn Lưu Quang Vũ Song đó hầu hết là các bài viếtnhỏ lẻ có tính chất định hướng khái quát gợi cảm hứng cho những ngườiviết trẻ hôm nay

2.3 Xét ở phạm vi nghiên cứu trong trường đại học, đã có một số các

công trình tìm hiểu thơ Lưu Quang Vũ Có thể kể đến các luận văn “Đặc sắc

thơ Lưu Quang Vũ” (Nguyễn Thị Kim Chi, 2004), “Phong cách thơ Lưu

Trang 12

Quang Vũ” (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2008), “Thơ tình Lưu Quang Vũ”

(Dương Ngọc Thúy, 2010), “Cảm hứng thế sự và cảm hứng đời tư trong thơ

Lưu Quang Vũ” (Phạm Thị Minh Huệ, 2011); và khóa luận “Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ giai đoạn 1971-1973” (Hà Thị Hạnh, 2005).

Nhìn chung các công trình trên chỉ đề cập đến cái tôi cô đơn trong thơLưu Quang Vũ ở phạm vi một khía cạnh nhỏ trong phong cách của anh Chưa

có một công trình nào nghiên cứu vấn đề này một cách toàn diện, có hệ thống,trong khi cô đơn không chỉ là bi kịch mà còn là nhân cách, là phẩm chất, làmnên giọng điệu đặc trưng cho một nghệ sĩ Chính những khoảng trống đó vànhững nhận định, đánh giá của những người đi trước đã gợi ý cho chúng tôinhiều định hướng quý báu khi thực hiện đề tài nghiên cứu này

3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

- Chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt giữa cái tôi cô đơn của LưuQuang Vũ với dòng chảy thơ ca đương thời

- Tìm hiểu những biểu hiện đặc sắc, đa dạng về nội dung và hình thứchình làm nên cảm thức cô đơn trong thơ Lưu Quang Vũ

- Khẳng định phong cách riêng của Lưu Quang Vũ cũng như nhữngđóng góp về tư tưởng và nghệ thuật của anh với nền văn học Việt Namhiện đại

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trước hết, chúng tôi nghiên cứu các tập thơ trong suốt hành trình nghệthuật của Lưu Quang Vũ:

“Hương cây - Bếp lửa” (in chung với Bằng Việt, 1968).

“Mây trắng của đời tôi”, NXB Tác phẩm mới, 1989.

“Bầy ong trong đêm sâu”, NXB Tác phẩm mới, 1993.

Bên cạnh đó là các tập thơ tương đối hoàn chỉnh mà một số bài trong

đó được giới thiệu ở các tuyển thơ như: “Cuốn sách xếp lầm trang” và “ Cỏ

tóc tiên”.

Trang 13

Ngoài ra, chúng tôi tìm hiểu các tuyển tập thơ đã được biên soạn:

Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ, NXB Giáo dục, 1994.

Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ, NXB Hội nhà văn, 1994.

Thơ tình Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ, NXB Văn học, 1994.

Lưu Quang Vũ thơ và đời, Lưu Khánh Thơ biên soạn, NXB Văn hóa

Thông tin, 1997

Lưu Quang Vũ thơ và truyện ngắn, NXB Hội nhà văn, 1998.

Di cảo: Nhật kí: Mùa hoa phượng và nhật ký lên đường - Thơ: Những bông hoa không chết, NXB Lao động, 2008.

Lưu Quang Vũ, gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, NXB Hội nhà

văn, 2010

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Sử dụng phương pháp thống kê phân loại để khảo sát toàn diện thơ Lưu

Quang Vũ trên góc độ cảm thức cô đơn

4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp giúp đưa ra các nhận định có sức thuyết

phục về nét phong cách độc đáo nêu trên của Lưu Quang Vũ

4.3 Phương pháp so sánh và tiếp cận hệ thống được sử dụng để thấy những

biểu hiện đa dạng mà thống nhất của cảm thức cô đơn trong thơ Lưu Quang

Vũ cũng như nét bản sắc riêng mà anh mang đến trong dòng chảy thi cađương thời

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luậnvăn được triển khai gồm 3 chương:

Chương 1: Khái lược về cảm thức cô đơn và cảm thức cô đơn trong thơ

Lưu Quang Vũ

Chương 2: Những biểu hiện nội dung của cảm thức cô đơn trong thơ

Lưu Quang Vũ

Chương 3: Những phương thức nghệ thuật thể hiện cảm thức cô đơn

trong thơ Lưu Quang Vũ

Trang 14

Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ CẢM THỨC CÔ ĐƠN

VÀ CẢM THỨC CÔ ĐƠN TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ

1.1 Một số khái niệm và quan niệm

1.1.1 Cô đơn

“Từ khi có thế giới, từ khi con người sống với nhau thành cộng đồng, gắn với nhau trong lợi ích tập thể, cái cô đơn đã có mặt.” (Lê Nguyên Cẩn)

[2,6] Cô đơn gần như đã là định mệnh của con người Vậy cô đơn nên được

hiểu thế nào và có những biểu hiện cụ thể ra sao?

Về ý nghĩa từ vựng, có thể chiết tự từng chữ tiếng Hán như sau: “cô” nghĩa gốc là mồ côi cha sớm, sau chuyển nghĩa là “trơ trọi một mình”, “không

ai giúp đỡ” Nó còn có nghĩa là sự “vượt khỏi vị trí của vật này so với vật khác”, cao hơn hay thấp hơn đều khiến nó trở nên trơ trọi ( cô sơn, cô thụ…).

Chữ “ đơn” có nghĩa là “lẻ”, là “riêng” và “chỉ có một” Hợp lại “cô đơn”

chỉ sự lẻ loi, đơn chiếc, cô độc của con người Cũng có thể hiểu như từ điển

Tiếng Việt, “cô đơn” là “chỉ có một mình, không nương tựa được vào đâu.”

[25,212]

Triết học Mác quan niệm: “Bản chất con người là tổng hòa các mối

quan hệ xã hội” - từ đó có thể thấy rằng khi một quan hệ nào đó bị đứt gẫy, là

có thể xuất hiện trạng thái cô đơn Con người cô đơn khi tự tách hoặc bị tách

ra khỏi cộng đồng cùng các mối quan hệ xã hội Trong thực tế, cuộc sốngluôn luôn vận động, biến đổi, đó là xu hướng bản chất mang tính tuyệt đối củathế giới; bởi vậy, bất cứ lúc nào cũng có thể xuất hiện những đứt gẫy và vìthế, bất cứ lúc nào con người cũng có thể thấy cô đơn

Tuy nhiên, kể cả khi không có sự đứt gẫy, con người vẫn luôn ở trongtrạng thái cô đơn Theo một số quan điểm triết học, cô đơn thuộc về vô thức,

Trang 15

cô đơn tồn tại như một thuộc tính bản năng của con người - nó “tập trung

những ý hướng, những động cơ, những ham muốn vĩnh viễn và bất biến mà ý nghĩa của chúng được quyết định bởi bản năng còn ý thức thì không thể biết được” [21,1359] Cũng có nghĩa là trong bất kì hoàn cảnh nào, dưới sự quy

định của bất kì ý thức xã hội nào, con người vẫn có thể bộc lộ thuộc tính bảnnăng là cô đơn Cô đơn thuộc về vĩnh viễn, nó gắn bó với con người từ khisinh ra đến khi chết đi, từ khởi thủy tới khi sự sống bị triệt tiêu

Ở góc nhìn phân tâm học, Sigmung Freud cho rằng cô đơn thuộc trạng

thái “tinh thần bất an” và “sự lo sợ phập phồng” Nỗi hoảng sợ cô đơn thuộc

về bản năng “chứng sợ đầu tiên còn tồn tại trong suốt cuộc đời…Cô đơn là

đặc trưng cuối cùng của thân phận con người” (Octviopaz) [6,82]

Chủ nghĩa hiện sinh quan niệm cái cô đơn luôn có sẵn trong bản thểcon người Theo triết gia Đan Mạch Soren Kierkeggard, mỗi con người là mộthiện sinh độc đáo Mỗi con người luôn là duy nhất, độc lập và cô lập trướcmọi quan hệ xã hội Con người luôn tồn tại như những vũ trụ đóng kín, không

ai hiểu nổi và cũng không thể tự thông báo trọn vẹn, chính xác cái nội tâmphức tạp của mình cho bất cứ một ai Nhà thơ nổi tiếng người Ý SavatoreQuasimodo cũng đưa đến cách cảm nhận độc đáo về nỗi cô đơn của conngười khi mỗi cá thể luôn là một vũ trụ riêng biệt và vũ trụ ấy hoàn toàn khéplại, hoàn toàn mất đi khi con người vào cõi hư vô:

Mỗi người đứng trên trái tim trái đất Lòng xuyên qua một tia nắng mặt trời

Và chưa chi, chiều đã tắt

Bi kịch cô đơn của sự bất khả tri cũng được Tagor thể hiện ngay trong

Trang 16

Đó cũng là niềm trăn trở đầy bất lực trong thơ Xuân Diệu:

Dầu tin tưởng: chung một đời, một mộng

Em là em, anh vẫn cứ là anh

Có thể nào qua Vạn Lý Trường Thành Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật.

Thực sự mỗi cá nhân là một vũ trụ cô đơn cách biệt Dẫu trong tìnhyêu, con người luôn có xu hướng bày tỏ, chia sẻ, khám phá, hiến dâng… đếntận cùng, song vẫn còn nguyên đó những giới hạn không thể vượt qua, những

bí mật không thể khơi mở Con người cô đơn vẫn mãi cô đơn

Bên cạnh đó, bình diện tâm lý học cũng cho ta những kiến giải về côđơn như một trạng thái tâm lý bao gồm các cấp độ:

Thứ nhất, cô đơn tồn tại dưới dạng cảm xúc, là những rung động riêng

lẻ, rời rạc, thoáng qua Đó có khi là nỗi cô đơn rất tinh tế, thoảng nhẹ màmong manh, sâu kín trong tâm hồn được chớp lấy trong một vài khoảnh khắc:

Hôm nay trời nhẹ lên cao Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn

(Xuân Diệu)

Nỗi buồn vô cớ tự nhiên đến như một làn gió nhẹ, không do tác động củangoại cảnh, cũng không thể lý giải căn nguyên Chỉ biết rằng trong phút chốc cáitôi nhạy cảm của chàng thi sĩ trẻ cảm nhận mơ hồ về một thoáng cô đơn

Thứ hai, cô đơn tồn tại dưới dạng cảm giác, là một quá trình tâm lý,xuất hiện khi có các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh tác động trựctiếp vào con người Nữ sĩ Xuân Quỳnh, người phụ nữ đa cảm luôn ám ảnh về

sự mong manh của tình yêu đã thảng thốt cô đơn khi thoáng nghe một tiếngcòi tàu vang vọng xa xôi:

“Vừa thoáng tiếng còi tàu Lòng đã Nam đã Bắc”

(Xuân Quỳnh)

Trang 17

Thứ ba, cô đơn tồn tại ở dạng tâm trạng, được hiểu là những biểu hiệntâm lý tồn tại trong một khoảng thời gian tương đối ổn định và trực tiếp chiphối người mang tâm trạng đó về nhiều mặt Có thể kể đến tâm trạng cô đơntuyệt vọng của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích, sau bao nhiêu biến cố, trước

bao nhiêu đoạn trường, để bâng khuâng Buồn trông cửa bể chiều hôm/…Hoa

trôi man mác biết là về đâu?

Từ những khái niệm, quan niệm nói trên, ta hiểu cô đơn là thuộc tínhbản chất của con người Thuộc tính này tồn tại trong mỗi người từ khi sinh ra,trước khi nó tồn tại trong cộng đồng Môi trường sống luôn luôn thay đổikhông ngừng khiến các mối quan hệ giữa con người với con người, con ngườivới cộng đồng, con người với tự nhiên bị đứt gãy Và con người trở lại khépkín trong nỗi cô đơn bản thể

Không chỉ là thuộc tính bản chất của con người, cô đơn còn là bi kịchđối với những cá nhân ý thức sâu sắc về thân phận và giá trị bản ngã Khi ýthức được vị thế của mình có sự vênh lệch với thế giới xung quanh, hoặc thấphơn, hoặc cao hơn những giá trị mặt bằng, con người sẽ bị tách ra hoặc tựtách ra khỏi cộng đồng trong mặc cảm hay khinh bạc

Nỗi cô đơn vì mặc cảm thân phận nhỏ bé, hèn mọn, vì bị chà đạp khôngthương tiếc đã được thể hiện sâu sắc trong văn học Việt Nam qua tiếng kêuthương nghiệt ngã của các số phận bi kịch Nếu trong sâu thẳm cô đơn, nàng

Kiều của Nguyễn Du đau đớn tự khóc thương cho thân phận: “Khi sao

phong gấm rủ là/ Giờ sao tan tác như hoa giữa đường”; thì Chí Phèo trong

tác phẩm cùng tên của Nam Cao điển hình cho con người cô đơn tuyệt vọng

vì bị ruồng bỏ, khai trừ khỏi xã hội loài người Sau khi trở thành công cụ tội

ác bị điều khiển bởi cường quyền phong kiến, trở thành con quỷ dữ của làng

Vũ Đại, sự tồn tại của Chí Phèo với tư cách là một con người đã không cònđược thừa nhận trong cộng đồng Đến khi được thức tỉnh bởi tình thương của

Trang 18

Thị Nở, khát vọng lương thiện trỗi dậy mãnh liệt trong Chí Phèo, cũng là lúc

hắn ý thức rõ nét về tình trạng bi kịch bế tắc của bản thân: “Không được! Ai

cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa” Chí Phèo tự kết thúc kiếp

sống cô độc của một kẻ lạc loài chính bởi khát vọng được sống như conngười, được thừa nhận và hòa nhập vào cộng đồng người Cái chết là sự lựachọn nghiệt ngã duy nhất của con người tuyệt vọng cô đơn

Bên cạnh ý thức về thân phận, ý thức về giá trị và bản ngã cá nhân bịchà đạp, bị bóp nghẹt trong một xã hội phi nhân tính cũng khiến con người côđơn trăn trở Giữa mênh mông đêm trường trung cổ, một Nguyễn Du chới vớitìm kiếm tri âm, kiếm tìm sự đồng cảm, đồng vọng trong câu hỏi lớn đã thànhnỗi hận của muôn đời:

Cổ kim hận sự thiên nan vấn Phong vận kỳ oan ngã tự cư.

Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

Đó là câu hỏi về nỗi oan khiên lớn của người khách phong lưu có tàinăng, chí khí, bản lĩnh, tự tin khẳng định giá trị cá nhân, khẳng định sự tồn tại

của một Tố Như giữa đời Trong xã hội phong kiến nhiều bất công, ngang trái,

tài năng và cái đẹp luôn bị dập vùi, người có tài, có tâm luôn phải gánh chịu

số phận bi kịch, thậm chí bị đọa đầy thảm khốc Nỗi đau bởi quy luật nghiệt

ngã “tài mệnh tương đố” ám ảnh Nguyễn Du trong nhiều sáng tác lớn như

Truyện Kiều, Độc Tiểu Thanh kí, Phản chiêu hồn, Long thành cầm giả ca…

Đau đáu mỏi mong một tiếng khóc sẻ chia, một sự thấu hiểu nơi hậu thế, đóchính là sự phản chiếu đầy nhức nhối bi kịch cô đơn trong hiện tại của con

người có đôi mắt nhìn thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời.

Trang 19

Đến thời đại Thơ Mới 1930-1945, Xuân Diệu là thi sĩ có ý thức sâu sắc

về bản ngã:

Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta

Người thi sĩ của tình yêu khẳng định bản ngã duy nhất, độc nhất và cao

nhất của mình một cách đầy kiêu hãnh Nhưng chính trên tầm cao tựa như Hi

Mã Lạp Sơn ấy, Xuân Diệu cũng nhận ra mình cô độc hơn bao giờ hết Ở đó,

con người vốn khát khao giao cảm tuyệt đích với cuộc đời không có được sựthấu hiểu, sẻ chia, đồng điệu Chỉ mình chàng còn lại đó trên đỉnh vòi vọi của côđơn

Tựu chung lại, xét ở góc độ bi kịch cá nhân, cô đơn cũng là một thước

đo cho sự trưởng thành ý thức của con người Khi con người tự ý thức cao độ

về cá nhân, đồng thời đi tìm ý nghĩa sự tồn tại của mình giữa cuộc đời cũng làlúc con người thấu cảm bi kịch cô đơn

Ở một bình diện khác, có thể thấy cô đơn là một phẩm chất nhất thiếtcần có của sự sáng tạo Khi con người tự xác định tâm thế tách biệt với cộngđồng, để tư duy về bản thân và xã hội cũng là lúc con người có thể thăng hoa

trong những sáng tạo nghệ thuật “Không có cô đơn sẽ không có tác

phẩm”(Marguerite Duras) Thiếu cô đơn, người ta không thể quan sát thế

giới bằng con mắt riêng, cũng không thể biểu hiện thế giới bằng tiếng nói củariêng mình Chỉ nhìn theo hướng mọi người nhìn, nói theo điều mọi ngườinói, con người sẽ bị nhấn chìm trong thế giới vô bản sắc mang tên tập thể!

Cô đơn đưa con người trở về với chính bản thân mình, thiết lập tự do

và quyền năng cá nhân một cách đầy đủ, trọn vẹn Nhà triết học nổi tiếng của

Pháp Rousseau, trong tác phẩm “Những mơ mộng của người đi dạo cô

độc” khẳng định giá trị của cô đơn: “Những giờ cô độc và trầm tư này là những giờ duy nhất trong ngày, lúc tôi trọn vẹn là tôi và thuộc về tôi không

Trang 20

hề bị phân tán, không có trở ngại, lúc tôi thực sự có thể như là những gì mà

tự nhiên mong muốn” Theo nghĩa này cô đơn là một sức mạnh tích cực, làtiền đề để sáng tạo Chỉ cô đơn mới giúp mỗi nghệ sĩ sống trong không gianriêng đích thực của hồn mình, tự xác lập giá trị cá biệt của bản thân, để mangđến một tiếng nói mới độc đáo cho nghệ thuật

Nhà phê bình văn học Việt Nam Inrasara trong tiểu luận “Chưa đủ cô

đơn cho sáng tạo” đã khẳng định vai trò quan trọng của cô đơn trong sáng tạo

nghệ thuật: “Thiếu, không phải người viết văn làm thơ hôm nay chưa thâm

nhập đầy đủ vào thực tiễn cuộc sống; không phải do ta dốt, không đọc nhiều, kém tri thức về các trào lưu văn chương thế giới; không phải bởi thế hệ mới còn quá mỏng kinh nghiệm; mà thiếu, nguyên nhân chính – sâu xa và nền tảng hơn – do kẻ sáng tạo chưa đầy đủ cô đơn Cô đơn đầu tiên và cuối cùng… Dấn mình vào văn chương chữ nghĩa, không ít nhà văn dũng cảm tìm khai phá sự độc đáo, dũng mãnh thể hiện cái độc đáo ấy lên trang giấy Dũng cảm, nhưng ta cứ sợ – sợ cô đơn, một cô đơn toàn diện cho sáng tạo Từ đó, văn chương ta cứ na ná nhau.” [11]

Cũng bởi thế, để hướng tới những sáng tạo nghệ thuật đích thực, cô đơntrở thành sự lựa chọn tất yếu của người nghệ sĩ, dù hành trình đơn độc ấy luônthật mệt mỏi, gian truân:

đi lang thang về miền đơn độc với vầng trăng chếnh choáng trên yên ngựa mỏi mòn

(Thanh Thảo)

Câu thơ đầu miên man với những thanh bằng mở ra không gian bao lacủa hành trình khai phá những miền đất mới, những chân trời mới của nghệthuật Miền đất đơn độc đó là nơi chưa có dấu chân người, là nơi người nghệ

sĩ khao khát ghi lại những dấu ấn sáng tạo đầu tiên của cá nhân Dẫu con

Trang 21

đường đó đầy chông gai, dẫu thời gian có chảy trôi dằng dặc, mỏi mòn, songcon người khao khát chinh phục những đỉnh cao vẫn kiên trì vững bước cùng

hành trang mang theo là “vầng trăng chếnh choáng”- vầng trăng tràn đầy hứng khởi của men say cống hiến, vầng trăng của cái đẹp và phút chếnh

choáng xuất thần trong hành trình nghệ thuật.

Là khởi điểm của sáng tạo, tâm thế cô đơn của người nghệ sĩ khichuyển hóa vào trong tác phẩm phải phản ánh được nỗi cô đơn và ước vọng

ẩn sau đó của nhân loại Còn nếu cá nhân chỉ loay hoay trong nỗi cô đơn riêngcủa mình, thì đó là sự cô đơn vô nghĩa, nhỏ bé, khó tìm được sự sẻ chia, đồngcảm Hãy đến với cô đơn như là môi trường cần thiết để người nghệ sĩ đượctrở về với lòng mình, tìm lại chính mình, từ đó hướng tới sáng tạo, hướng tớinhững giá trị chân thiện mĩ vĩnh hằng của đời sống và nghệ thuật, và quantrọng nhất, hướng tới sự hòa nhập, giao cảm với thế giới xung quanh mình

Khái quát lại từ rất nhiều những khái niệm, quan niệm của từ vựng học,triết học, tâm lý học và thi ca, chúng tôi muốn xác định giới hạn vấn đề trước

khi quan sát cảm thức cô đơn trong thơ Lưu Quang Vũ Theo đó, cô đơn là

một thuộc tính bản chất của con người, là một bi kịch trong hành trình sốngcủa mỗi cá thể người và cũng là một phẩm chất nhất thiết phải có trong sángtạo nghệ thuật của nghệ sĩ Và tất cả những bình diện ấy đều xuất hiện trongthế giới nghệ thuật thơ Lưu Quang Vũ

1.1.2 Cảm thức cô đơn

Từ điển Tiếng Việt giải thích: cảm thức là nhận thức bằng cảm quan,nhận thức cảm giác Có thể hiểu, cảm thức là một quá trình phát triển qua haigiai đoạn Xuất phát điểm của nó là những cảm xúc, cảm giác trực quan sinhđộng, cụ thể, chân thực về đối tượng Khi cảm xúc đạt đến độ mãnh liệt, đượctập hợp lại tạo nên một hệ thống có tính ổn định, và có bước chuyển hóathành tư duy thì lúc đó cảm thức được hình thành Cảm thức là sự dung hợp

Trang 22

hài hòa, tinh tế giữa cảm xúc và tư duy Nó cao hơn, sâu hơn cảm xúc, đồngthời mềm mại, phóng khoáng hơn tư duy logic thông thường Chọn cho mìnhmột hình thức đặc biệt, tư duy bằng cảm xúc, nhận thức bởi tiếng nói của tráitim, cảm thức nhờ đó vô cùng mãnh liệt và bền vững.

Trong văn học, cảm thức xuất hiện khi đối tượng thẩm mĩ được chiphối bởi những xúc cảm, suy tư mang tính hệ thống đậm nét và bền vữngtrong sáng tác của tác giả cũng như trong nền văn học dân tộc Thơ Haiku củaNhật Bản làm nên bản sắc riêng khi đến với thế giới bằng cảm thức thẩm mĩaware - niềm bi cảm, xao xuyến trước mọi vẻ đẹp não lòng của sự vật; cảmthức về sự cô tịch sabi; cảm thức wabi nhận ra cái đẹp ở sự bình dị, thanhthoát và cảm thức karumi khẳng định cái thanh cao, ung dung, tự tại Thơ caViệt Nam 1930-1945 ghi dấu ấn của Xuân Diệu với cảm thức thời gian, cảmthức mùa, Huy Cận với cảm thức không gian, Hàn Mặc Tử với cảm thức tôngiáo, Nguyễn Bính với cảm thức thân phận của cánh chim lìa đàn lạc lõng, bơvơ… Tất cả những cảm thức đó đã góp phần làm nên bản sắc riêng, phongcách riêng độc đáo trong văn học Đó cũng là niềm khao khát, niềm tự hàocủa bất kì người nghệ sĩ nào trong sáng tạo nghệ thuật

Trở lại với cảm thức cô đơn, có thể hiểu đó là nỗi cô đơn có sẵn mầmmống và được tự ý thức từ trong bản thể Nó là một thuộc tính cố hữu trongsâu thẳm con người Càng tự nhận thức sâu sắc về trạng thái cô đơn, conngười càng bị đối lập và tách biệt với cộng đồng Cứ như thế, nỗi cô đơn vâybọc con người trong một thành trì vững chắc, chi phối đến mọi cảm xúc, ýniệm, hành vi của cá nhân

Cảm thức cô đơn đã tạo nên một trong những âm hưởng đầy ám ảnh

trong văn học Ngay từ rất sớm, Thần thoại Hi Lạp đã có nhiều trang viết dự

cảm về cái mong manh, đơn độc của kiếp người Đặc biệt, hình tượngPrômêtê bị xiềng là hiện thân cho con người bị tước đoạt tự do, đơn độc, vôvọng chống trả lại hoàn cảnh Văn học Tây Ban Nha thế kỉ XVII với nhân vật

Trang 23

Đôn Kihôtê hoang tưởng trong tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Cervantes đã

mang đến một hình tượng độc đáo về con người dũng cảm, cao quý, cô đơntrên hành trình chiến đấu vì công lý và tình yêu giữa cuộc đời Hamlet củaWilliam Shakespeare cô đơn do nhận thức rõ bản chất thối nát, mục ruỗng của

cả thời đại đang băng hoại, cô đơn vì câu hỏi luôn ám ảnh cả loài người: tồn

tại hay không tồn tại? (tobe or not tobe ?) Đến thế kỉ XX, cảm thức thống trị

văn học phương Tây là ám ảnh về cái cô đơn Thế giới của Kafka là thế giớiphi lý của cô đơn ngự trị với những con người lạc loài, tha hóa, không còn nơi

nào để bấu víu Với văn học Mỹ la tinh, Trăm năm cô đơn của G.Marquez đã

làm cả thế giới sửng sốt trước nguy cơ cô đơn vĩnh viễn của con người Nếunhư văn học Trung Quốc thấm đẫm cô đơn từ những bài thơ Đường, Tống bất

hủ đến những sáng tác hiện đại của Lỗ Tấn, Cao Hành Kiện… thì văn họcNhật cô đơn sâu thẳm từ những vần thơ Haiku đến tác phẩm của Kawabata,Haruki Murakami, Kobo Abe…

Với văn học Việt Nam, ngay ở thời trung đại, cô đơn đã xuất hiện nhưmột dấu ấn cá tính của những tài năng lớn vượt lên mọi khuôn khổ qui phạm.Nguyễn Trãi, người anh hùng có cõi tâm trong sáng cũng là nạn nhân củanhững âm mưu hiểm độc, phải hứng chịu biết bao oan ức, nhiều khi thấy côđơn tê tái giữa sự ngang trái của đời:

Rượu đối cầm đâm thơ một thủ

Ta cùng bóng lẫn nguyệt ba người

Có lẽ Nguyễn Trãi đã tìm thấy sự đồng điệu với Lí Bạch khi cả hai đều

cô đơn, không bạn bầu chia sẻ, đành mượn rượu giải sầu, kiếm tìm ảo giác về

Trang 24

con người để rồi tự thương khóc cho cái tôi cô đơn của mình giữa cuộc đời:

Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

Hồ Xuân Hương, người nữ sĩ tài sắc mà duyên phận hẩm hiu đãvượt lên thói thường cam chịu của phụ nữ xưa để bộc bạch nỗi cô đơnnhức nhối tâm hồn:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non

Với sự tỉnh ý thức cá nhân trong thời đại Thơ Mới, cô đơn trở thànhmột nỗi day dứt thường trực của cái tôi bản thể giữa cuộc đời:

Tôi là con nai bị chiều đánh lưới Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối

(Xuân Diệu)

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu ?

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu ?

(Hàn Mặc Tử)

Đường về thu trước xa lắm lắm

Mà kẻ đi về chỉ một tôi

(Chế Lan Viên)

Trong văn học hiện thực phê phán, Nam Cao là nhà văn luôn khắc

khoải về bi kịch cô đơn của con người Nếu như lão Hạc, Chí Phèo, lang Rận

trong các tác phẩm cùng tên điển hình cho bi kịch của con người cô đơn, bị bỏ

rơi, bị đẩy ra khỏi xã hội loài người thì Thứ trong ‘‘Sống mòn’’, Điền trong

‘‘Giăng sáng’’, Hộ trong ‘‘Đời thừa’’ lại điển hình cho bi kịch của người trí

thức cô đơn bởi những giằng xé về sự sống, sự tồn tại có ý nghĩa của conngười cá nhân trong cuộc đời

Đến giai đoạn 1945-1975, giữa dàn đồng ca sử thi hào tráng của cộng

Trang 25

đồng, thấp thoáng những tiếng thơ cô đơn vang lên như những âm trầm lạcđiệu trên thi đàn Sau 1975, khi đất nước đã hòa bình, văn học hướng tới vấn

đề số phận cá nhân trong một đời sống nhiều rạn vỡ, đứt gẫy, cảm thức cô

đơn trở thành một trong những niềm ám ảnh Nỗi cô đơn thấm đượm những

dòng thơ đời tư - thế sự đồng thời cũng nhức nhối trong văn xuôi Con người

cô đơn trong sáng tác của Chu Lai, Bảo Ninh là những nhân vật đánh mất sợidây liên hệ với thực tại bởi những chấn thương tinh thần do chiến tranh VớiNguyễn Khải, đó là những kẻ lạc thời Với Nguyễn Huy Thiệp, Phạm ThịHoài đó là những con người tha hóa, vong bản, mất khả năng giao tiếp, khước

từ truyền thống…

Ở góc độ khái quát nhất, có thể thấy, cảm thức cô đơn chưa bao giờthôi nhức nhối trong văn học nhân loại nói chung và văn học Việt Nam nóiriêng Cô đơn sẽ mãi là cảm hứng khơi nguồn cho văn học, để khơi mở nhữngtrang viết thành thực và nhân bản nhất về con người

1.2 Cảm thức cô đơn trong thơ Việt Nam cùng thời Lưu Quang Vũ

1.2.1 Những tiếng thơ cô đơn trong thơ Việt Nam 1954-1975

1.2.1.1 Giữa dàn đồng ca sử thi hào tráng của cộng đồng…

Thơ kháng chiến chống Mĩ là thiên anh hùng ca chói lọi của cảm hứngdân tộc và khuynh hướng sử thi Khi những vấn đề lớn lao liên quan đến vậnmệnh sống còn của cộng đồng dân tộc được đặt lên trên tất cả mọi quan tâm,thơ ca đã hợp thành một dàn đồng ca thời đại với hệ qui chiếu thiêng liêng làquyền lợi cộng đồng

Hòa mình vào dàn đồng ca đó, mỗi cá nhân đều vững bước kiên định,phấn khởi, tự hào trên con đường đi theo lý tưởng:

…Ta đi tới, trên đường ta bước tiếp, Rắn như thép, vững như đồng.

Đội ngũ ta trùng trùng điệp điệp

Trang 26

(Tố Hữu)

Không còn những băn khoăn, trăn trở về giá trị bản thân khi con người

sử thi luôn tựa vào cộng đồng để tìm thấy sự an toàn, mạnh mẽ:

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa ,

để thay cho sự vây bọc của nỗi cô đơn là cảm giác ấm áp giữa quần chúng lao khổ:

Mắt ta nhớ người, tai ta nhớ tiếng Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào

Rẽ người mà đi, vịn tay mà đến Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao

(Chế Lan Viên)

Tác giả Lửa thiêng xưa ảo não, cô đơn, rợn ngợp khi đứng trước không

gian vũ trụ mênh mông:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song

(Huy Cận)

nay tự hào, lạc quan bất tận, hòa mình vào “Bài thơ cuộc đời” ấm áp của thời

đại, hứng khởi viết nên những khúc tráng ca của người lao động mới:

Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng

Men say và sinh lực tràn đầy trong không khí xây dựng cuộc sống đãnâng tầm vóc con người sánh ngang tầm thiên nhiên vũ trụ Dạt dào trong mỗihuyết quản là sức mạnh, là chí khí của cả dân tộc, cả lịch sử hào hùng Điểmtựa cộng đồng khiến con người có được sức mạnh phi thường để làm nênnhững điều kì diệu:

Ôi! Trường Sơn vĩ đại của ta ơi!

Ta tựa vào ngươi, kéo pháo lên đồi

Ta tựa vào Đảng ta, lên tiếng hát,

Trang 27

(Chế Lan Viên)

Dàn đồng ca của thời đại chống Mĩ đã tạo nên một khúc ca khải hoàn

với âm hưởng chủ đạo là khẳng định, ngợi ca, là tha thiết tự hào: “Tổ quốc tôi

như một thiên đường”, “Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi!” (Tố Hữu), “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?” (Chế Lan Viên) Thơ ca là tiếng hát lạc quan,

tin tưởng, tự hào: Hoàng Trung Thông hát “Bài ca vỡ đất”, Chế Lan Viên hát

“Tiếng hát con tàu”, Tố Hữu hát “Bài ca mùa xuân 61”, “Bài ca xuân 71”,

“Một khúc ca xuân”, “Khúc ca vui”, “Bài ca quê hương”, trong thơ Chính

Hữu “… cả nước lên đường” để “hàng ngũ ta đi dài như tiếng hát”…

Cũng bởi “mỗi trang thơ đều dội tiếng ta cười” (Chế Lan Viên) nên

con người tự hào, tin tưởng ngay ở trong đau thương mất mát Hy sinh lớncũng là hạnh phúc Thơ có bi nhưng không bi lụy, có chết chóc nhưng lạichứa đầy hi vọng khi cái chết không đem đến cảm giác não nề, mà là sự khởiđầu để gieo mầm sự sống và niềm tin phơi phới ở tương lai:

Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất

Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân

(Lê Anh Xuân)

Có thể nói, chi phối mọi tiếng thơ là dòng cảm xúc chung đại diện cho

cả cộng đồng dân tộc Con người dù căm giận hay yêu thương cũng khôngbao giờ lạc điệu với cộng đồng bởi trái tim muôn người như một, cùng chungcon đường, cùng chung chí hướng Tất cả tạo nên một bệ đỡ tinh thần lớn lao

để cả dân tộc bước qua gian lao vươn tới đỉnh cao chiến thắng

Trong bầu khí quyển chung sôi sục khí thế quyết chiến, quyết thắng củanhững năm chống Mĩ ác liệt, dàn đồng ca sử thi hào tráng được xây dựng trêntâm thế cộng đồng là phù hợp với yêu cầu bức thiết của thời đại Đó chính là

vũ khí tinh thần sắc bén, biến lòng yêu nước, căm thù giặc, quyết tâm chiếnđấu…thành sức mạnh đại đoàn kết toàn dân để đi đến thắng lợi vẻ vang Tuynhiên, sự ưu tiên tuyệt đối cho nhiệm vụ lớn lao trước mắt cũng là một trong

Trang 28

những nguyên nhân khiến văn học khó có điều kiện phản ánh toàn vẹn nhữngcảm xúc thời đại, cũng như khó bao chứa được những âm trầm, nốt lặng đầynhân bản trong tâm hồn con người.

1.2.1.2 Những âm trầm cô đơn lạc điệu

“Nói thơ chống Mỹ là nói áp lực của thời đại, đưa đến một phong cách thơ bao trùm mọi khuynh hướng, mọi tìm tòi riêng của cá nhân Khiến cho mỗi cá nhân chỉ có thể tìm được giá trị riêng của mình trong âm hưởng chung của nền thơ Khiến cho mỗi sự đi chệch ra khỏi âm hưởng đó, quỹ đạo

đó là khó được chấp nhận.” (Lưu Khánh Thơ) [32]

Bối cảnh hào hùng của dàn đồng ca chống Mĩ không dành chỗ chonhững thanh âm buồn bã, cô đơn bởi trong cách nhìn chung của cộng đồng,

đó là biểu hiện ủy mị, yếu đuối của cái tôi cá nhân làm thui chột ý chí đấutranh Dẫu vậy, đôi khi vẫn vang vọng đâu đó một vài tiếng thơ tách ra khỏidòng chung để bộc bạch nỗi lòng riêng chân thành, trung thực Có thể coi đó

là những âm trầm cô đơn lạc điệu giữa dàn đồng ca hào tráng của cộng đồng.Cũng vì đi chệch khỏi quỹ đạo chung, những tiếng thơ đó tạm thời chưa nhậnđược sự đón nhận trong dòng chủ lưu, thậm chí các tác giả cũng phải hứng

chịu không ít bão giông, phiền lụy Nhưng đến khi văn học được “cởi trói”

và đổi mới trên mọi phương diện, những giá trị thật đã vượt qua được thửthách thời gian để đến với bạn đọc hôm nay

Có những vần thơ cô đơn trước bi kịch nghiệt ngã của chiến tranh.Chiến tranh không chỉ là vầng hào quang của chiến thắng hay là nơi tôn vinhlòng quả cảm mà còn là mất mát hi sinh, là chia lìa xa cách, tổn thất đauthương Đó là những nguyên nhân đẩy con người vào bi kịch cô đơn:

Khói bom lên trời thành một cái vòng đen Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng Tôi với bạn tôi đi trong im lặng

Trang 29

Cái im lặng bình thường đêm sau chiến tranh

Có mất mát nào lớn bằng cái chết Khăn tang vòng tròn như một số không

tượng cho nỗi tang thương mà con người phải hứng chịu trong chiến tranh Cái

im lặng đã trở thành bình thường sau đêm chiến tranh là cái im lặng rợn ngợpgiữa ranh giới vô hình của sự sống và cái chết bao trùm lên bóng dáng đơn độccủa những người sống sót còn ở lại Cái bất thường của đời sống đã trở thành

sự bình thường trong chiến tranh Con người bắt buộc phải chấp nhận và làm

quen với chết chóc, chia lìa; để rồi tất cả cũng chỉ là “số không” rơi vào hư vô.

Tiếng kêu thảng thốt, hụt hẫng khi thấu hiểu và trải nghiệm những bi kịch củachiến tranh là tiếng kêu thương vì quyền sống nhân bản của con người

Trong thời đại chiến tranh binh lửa, con người không chỉ cô đơn trướcnhững đổ vỡ, mất mát mà còn phải gánh chịu cô đơn bởi những hướng đi,

những cách nhìn, cách nghĩ của riêng mình

Phùng Quán khi tuyên chiến với thói nịnh bợ, giả dối, không chịu bẻcong ngòi bút trước mọi sức ép và cám dỗ cũng là khi ông phải chấp nhậnđơn độc trên con đường chân thật:

Tôi muốn làm nhà văn chân thật chân thật trọn đời

Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

Trang 30

Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã Bút giấy tôi ai cướp giật đi Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

Con người dẫu cô đơn song vô cùng cứng cỏi Bởi đó là nỗi cô đơnđược chọn lựa của con người có nghĩa khí, phẩm chất và tài năng luôn vữngbước trước mọi cạm bẫy, mọi đổi thay biến loạn của cuộc đời

Cũng như thế, Việt Phương chấp nhận sự đơn độc khi dám nhìnthẳng và nói thật trước mọi hiện tượng của đời sống, dẫu cách nhìn đó đingược với số đông:

Ta nhất quyết đồng hồ Liên-xô tốt hơn đồng hồ Thuỵ Sĩ

Hình như đấy là niềm tin, ý chí và tự hào Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ

Sự thơ ngây đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao

Từ bỏ màu hồng được tô vẽ bởi niềm tin nhiều khi mù quáng, cuộc sốngđược trả lại màu sắc thực với nhiều mảng sáng tối đan xen Nhưng một mảng

sự thật màu xám không phải ai cũng dám thừa nhận, sai lầm của một cách nhìn,một nếp nghĩ không phải dễ dàng để nhận ra Vì vậy, con người thành thựcnhất, dũng cảm, sáng suốt nhất nhiều khi lại trở thành con người cô đơn nhất

Đến với những tiếng thơ cô đơn trong thơ Việt Nam 1954-1975, tađược cảm hiểu và sẻ chia với những biểu hiện phức tạp trong tâm hồn conngười giữa một giai đoạn lịch sử nhiều biến động Nếu như trước kia, cáchnhìn khiên cưỡng duy ý chí phủ nhận sự tồn tại của những tiếng thơ cô đơn,coi đó là sản phẩm của tư duy lệch lạc, thì thời gian đã trả những giá trị đíchthực về đúng vị trí của mình Cuộc sống bao giờ cũng có những khoảng sáng -tối, bên cạnh cái hùng không thể phủ nhận cái bi, nụ cười chiến thắng không

Trang 31

thể xóa đi những giọt nước mắt của đau thương Thơ ca còn có sứ mệnh nàochân chính hơn sứ mệnh ghi lại chân thực và toàn vẹn gương mặt tinh thầncủa con người thời đại Bởi vậy, dẫu đó không phải là những tiếng thơ đạidiện cho âm hưởng chung của lịch sử hào hùng song nó đã phản ánh chânthực đời sống tinh thần của con người trong một khoảng thời gian khốc liệtnhất Đó là những di sản văn học xứng đáng được trân trọng, lưu giữ, bảo tồntrong tâm thức Việt Nam.

1.2.2 Cảm thức cô đơn trong thơ Việt Nam 1975-1990

Lịch sử dân tộc ta bước sang một trang mới sau năm 1975 Trải qua haicuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, đất nước bước vào kỉ nguyên mới của độc lập

tự do Nhưng trước mắt, bao khó khăn vẫn chất chồng thử thách con ngườiphải đương đầu và vượt lên tất cả

Nếu như thơ Việt Nam 1945-1975 nói tiếng nói sử thi chung cho cảcộng đồng, thì sau 1975, thơ ca trở về với tiếng nói của số phận cá nhân, tựnhiên, khắc khoải mà đầy ám ảnh Như theo tiếng gọi sâu thẳm của hồnngười, cảm thức cô đơn ùa về chảy tràn trên những trang viết thành thực nhất

Sau chiến trận và chiến thắng, con người trở về với đời thường, đối mặtvới những khó khăn, thử thách nghiệt ngã của cuộc sống để rồi chợt nhận ranhiều những khoảng trống đổ vỡ Chiến tranh dần được nhìn toàn diện hơn từmột độ lùi cần thiết của thời gian và của cả những cảm nghiệm Đó không chỉ làtrận chiến hào hùng của lòng yêu nước và tinh thần quả cảm mà còn là cuộcchiến được đổi bằng máu xương và nước mắt Bom đạn dẫu không còn gầm rúsong đau thương vẫn còn đó, nhức nhối, trĩu nặng lên cuộc sống bao người Bởivậy, âm hưởng chủ đạo của thơ ca giai đoạn này không còn là cái ta sử thi hàohùng, hào sảng nữa mà là cái tôi trăn trở, suy tư Nỗi cô đơn ám ảnh thường trựckhi con người tự ý thức rõ nét về hiện thực trần trụi, đổ nát, trống rỗng, mất niềm

Trang 32

tin cũng như tự ý thức sâu sắc về cá nhân mình Đặc biệt, ở thời kì sau đổi mới,khi vấn đề số phận cá nhân cùng với những vấn đề thế sự được xoáy sâu vào tâmthức thời đại, con người càng bị nhấn chìm trong cô đơn bi thiết.

Những ngày hòa bình đầu tiên, trong niềm vui lớn của cả dân tộc, có

bao người mẹ phải đón nhận nỗi đau khủng khiếp khi nhận về “một tờ giấy

mỏng manh nhưng lại nặng hơn ngàn tấn bom trút xuống tuổi già của mẹ” (Trần Đăng Khoa) Mọi hi vọng sự sống vỡ tan, chỉ còn lại mẹ với nỗi đơn

côi khắc khoải

Có biết bao những người vợ mòn mỏi chờ chồng đằng đẵng tháng năm:

“Một mình một mâm cơm Ngồi bên nào cũng lệch Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền”

(Hữu Thỉnh)

Người phụ nữ hiện lên trong nghịch cảnh chua xót, hẩm hiu Nhữngbữa cơm hội tụ, quây quần, thắp lửa hạnh phúc mỗi gia đình lại là tấm gươngphản chiếu rõ nét nhất sự lẻ loi, hiu quạnh Lặng lẽ thu mình chống chếnh,đơn côi vì mất đi điểm tựa, người vợ phải một mình chống chọi với sự trôichảy của thời gian, nếm trải sự nghiệt ngã của đợi chờ vô vọng Nấm mồ chôntuổi xuân cũng là nấm mồ của bao khát vọng về quyền sống và hạnh phúc màchị phải nén chặt, chôn sâu tận đáy lòng Cô đơn chịu đựng trong âm thầm,nỗi cô đơn dai dẳng gặm nhấm tâm hồn, hủy hoại nhan sắc và sự sống khiếncon người càng ngày càng héo úa, tàn phai

Nỗi cô đơn thăm thẳm giữa không gian và thời gian khiến bao người vợhóa đá trông chồng trong tuyệt vọng:

Đá trông chồng Chót vót chon von Thăm thẳm thời gian…

Trang 33

Người ngóng người… Gươm súng ra đi Rồi một ngày máu xương về đất

Chiều - vọng - phu ai phất phơ tóc bạc Mình lại ru mình trong xao xác lá bay

sẽ còn bao lâu nữa trong quĩ thời gian của đời mình để dựng xây?

Không còn bị huyễn hoặc bởi những vầng sáng xa vời, con người trởnên hoài nghi về tất thảy Bao nghịch cảnh ngang trái hiện hữu trong thời kì

Trang 34

khủng hoảng trầm trọng sau chiến tranh khiến con người phải suy tư, day dứttìm câu trả lời:

Xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày

…Xứ sở từ bi sao thật lắm thứ ma

Ma quái - ma cô - ma tà - ma mãnh

Quỷ nhập tràng xiêu vẹo những hình hài

…Xứ sở thông minh Sao thật lắm trẻ con thất học Lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương

…Tuổi thơ bay như lá ngã tư đường

(Nguyễn Duy)

Khi con người hoài nghi cũng có nghĩa là hệ giá trị cũ, niềm tin cũ đã lunglay Con người muốn tìm đến một hệ giá trị mới, một niềm tin mới Trên hànhtrình kiếm tìm không phải dễ dàng đó, con người tách mình ra khỏi lối mòn đểngẫm ngợi, trở trăn và càng hiểu đời, hiểu mình lại càng thấm thía cô đơn

Cô đơn khắc khoải giữa muôn ngàn những câu hỏi chưa có lời đáp vềđời sống xã hội, con người tìm đến sự sẻ chia trong tình yêu Nhưng tình yêucũng không thể hóa giải cô đơn Con người cô đơn da diết trong chính lãnhđịa của thương yêu:

Em đã khóc Trăng từng giọt tan vào anh mặn chát

Em đã khóc Nhưng làm sao tới được Bến bờ anh tim dội sóng không cùng

(Hoàng Hữu)

Những khoảng cách vô hình không bao giờ có thể liền nối đẩy anh và

em ra hai đầu không gian xa vời vợi Trăng khát vọng tình yêu của em cũng là

Trang 35

trăng mặn chát của nỗi đau anh Hai thực thể cô đơn không thể xóa nhòa ranhgiới trong những giọt nước mắt, những giọt trăng.

Tình yêu đẹp có thể là cứu cánh giúp con người vượt thoát bi kịch, có thể

là điểm tựa tinh thần giúp con người mở lòng hòa nhập với thế giới Song nếutình yêu tan vỡ, tuyệt vọng, con người lại bị nhấn chìm trong vực thẳm cô đơn:

Em chết trong nỗi buồn Chết như trong giọt sương Em chết trong nỗi buồn Chết lặng thầm âm ỉ đớn đau Trời cho em nụ cười thật tươi

Ai biết sau nụ cười Giọt nước mắt về đâu!?

(Lâm Thị Mỹ Dạ)

Không tìm được mối dây liên hệ với đời sống cũng như đánh mất sợidây bền chặt trong tình yêu, con người cô đơn nhất khi trở lại đối diện vớichính mình Nghiệt ngã hơn, khi cái tôi đó cũng không còn để soi mình, nỗi

cô đơn chạm đến tận cùng sâu thẳm Ta đã đánh mất ta tự bao giờ?

Hoàng Hưng đi tìm mình trong nỗi đau vừa sục sôi, vừa âm ỉ Giữa thếgiới hỗn độn của màu sắc - đường nét - âm thanh, của thực và mộng, say và tỉnh,con người cô đơn, mệt mỏi, chán chường, day dứt, tự cào xé đến tuyệt vọng:

Đêm xuống rồi?/ Ta lẻn/ Đi tìm mặt mình/ Đi tìm mặt mình đi tìm mặt mình đi tìm mặt mình

Ta đói mặt người, ta khát mặt ta/ Đi tạc mặt vào đêm./ Hút hút.

Đến cuối cuộc hành trình đau đớn, quằn quại, câu trả lời vẫn chỉ là hư

ảo, là tối đêm thăm thẳm không cùng Càng lạc vào vòng xoáy của bóng đenbất tận đó, con người càng không tìm được lối ra, càng tự đánh mất mình:

Trang 36

Soi gương cũng không thấy, Anh lại đi ra phố nửa giờ,

Về thấy, vội lấy giấy bút ra giao lưu với người không quen.

Không quen có một mùi hương vị.

Hương vị từ lâu không thấy ở quen.

Thèm cái mùi không quen này…

Thèm cái không quen, Tới với tôi đi người không quen ạ…

(Đặng Đình Hưng)

Cô đơn triền miên, cô đơn vô vọng để rồi lạc vào thế giới của hư vô.Con người tự vấn mình trong cùng tận cô đơn khiến nhân diện của mình, hìnhhài, hương vị, hồn cốt của mình cũng biến thành của người khác, người xa lạ,

“không quen’’ Bi kịch cô đơn đã đẩy tới đỉnh điểm khi con người không chỉ

xa lạ với thế giới xung quanh mà sự tồn tại vô nghĩa, nhạt nhòa, trống rỗngkhiến con người trở nên xa lạ với chính mình, hoài nghi khắc khoải về chính

sự tồn tại của mình

Từ cô đơn trong đời thực đến cô đơn chìm vào mộng ảo, từ cảm xúc côđơn có thật trong ý thức đến nỗi cô đơn mông lung, mơ hồ trong vô thức, thơViệt 1975-1990 đã trải qua một hành trình dài ghi nhận những biến động dữdội trong tâm hồn con người giữa cơn lốc xoáy của đời sống nhiều thăngtrầm, dâu bể

Nhìn lại chặng đường xa hơn từ 1954 đến 1990, từ khi nỗi cô đơn còn

bị giấu kín đến khi nó trào dâng mãnh liệt, ta hiểu cô đơn là nỗi đau nhân bảncủa con người Khi con người muốn sống thật nhất với chính mình giữa cuộcđời đa diện, bộn bề; khi con người khát khao được yêu thương, giao cảm vớicuộc đời thì cũng là lúc con người phải nếm trải cô đơn Cô đơn từ muôn thuở

đã là định mệnh của kiếp người

Trang 37

Trong thơ Việt Nam giai đoạn 1954-1990, sự hiện hữu của cảm thức côđơn dẫu có lúc chỉ như những tiếng nói nhỏ thì thầm, riêng lẻ hay có khi trởthành một ám ảnh khôn nguôi thì đó cũng luôn là một vùng sâu thẳm trongtâm thức dân tộc Và có lẽ tiếng thơ cô đơn Lưu Quang Vũ đã phần nào chạmtới được cõi miền thăm thẳm ấy của tâm hồn Việt.

1.3 Cơ sở hình thành và sự vận động nhất quán của cảm thức cô đơn trong thơ Lưu Quang Vũ

1.3.1 Những yếu tố chi phối sự hình thành cảm thức cô đơn trong thơ Lưu Quang Vũ

1.3.1.1 Sự chi phối của thời đại và những bi kịch cá nhân

Lưu Quang Vũ sống và viết giữa thời đại máu lửa của những nămkháng chiến chống Mĩ ác liệt Từ đầu năm 1965, cuộc chiến tranh phá hoạibằng không quân và hải quân Mĩ càn quét miền Bắc ngày càng dữ dội Trong

số đó, khủng khiếp nhất là trận B52 kinh hoàng 12 ngày đêm cuối năm 1972.Bom Mĩ điên cuồng trút xuống với dã tâm thâm độc đưa miền Bắc trở lại thời

kì đồ đá Hà Nội khi đó tan hoang đổ nát như một chiến trường lớn sau trậnđánh Không biết bao máu xương đã đổ, bao người đã hi sinh, bao gia đình đãtan nát, bao nhà cửa, công trình bị phá trụi…Dấu ấn kinh hoàng về nhữngngày tháng ấy đến giờ vẫn còn ám ảnh trong tâm thức của những người đã trảiqua Và ngay ở thời điểm đó, nó là một hiện thực khủng khiếp đè nặng lênnhững trái tim nhạy cảm, dễ tổn thương như Lưu Quang Vũ Con người côđơn khắc khoải trước những mất mát quá lớn trong chiến tranh

Trong không khí náo nức chiến đấu vì miền Nam ruột thịt, Lưu Quang

Vũ đã tiễn nhiều bạn thân lên đường ra tiền tuyến, xung kích trên mặt trận đầu

của Tổ quốc Nhớ buổi tiễn Nguyễn Khắc Phục vào chiến trường, “cả bọn

tiễn Phục lên ô tô đầy lá ngụy trang ở công viên Thống Nhất, Vũ mới quay về căn buồng 96 phố Huế của mình với tâm trạng nôn nao khó tả… Vũ rất muốn

Trang 38

hòa nhập vào không khí hành quân hừng hực ấy, nhưng rồi Vũ lại cảm thấy hoang mang không đồng hành được Bi kịch gia đình riêng của Vũ như kéo

Vũ đi theo một hướng khác…’’ [33,124]

Sau những năm tháng đóng quân ở sân bay Đa Phúc, Vũ rời khỏi quânngũ, trở về với đời thường Đây cũng là quãng thời gian mà anh phải nếm trảinhiều nhất những khó khăn, khủng hoảng trong cuộc đời Là một trí thức cótài năng và nhiều khao khát, song Lưu Quang Vũ mãi vẫn chật vật tìm cho

mình một công việc ổn định để chống chọi với nghèo khó “Cho đến ngày

giải phóng năm 1975, Vũ vẫn lang thang tìm việc ở nhiều nơi, từng làm nhiều nghề, từ vẽ áp phích, chữa bản in sách, làm vợt bóng bàn ở xưởng ông Tạ Đình Đề… nhưng với lý lịch một anh lính bị loại ngũ, không tem phiếu, chưa

có bằng tốt nghiệp phổ thông, không nơi nào có thể tiếp nhận chính thức” (Ngô Thảo) [28] Cảm giác thấy mình như một kẻ thừa, một người vô ích là

một trong những cảm giác ê chề nhất, dễ đẩy con người tới cảm giác bị đẩy xakhỏi cộng đồng Lưu Quang Vũ lúc đó thực sự cô đơn, trơ trọi, không biết đihướng nào trên con đường dài mịt mùng, vô định

Tình yêu với Tố Uyên đổ vỡ là một cú sốc đau đớn, hằn một vết thươngkhó lành trong tim anh Cũng bởi tình cảm anh dành cho người con gái ấy quámãnh liệt, nồng nàn nên khi chia tay nỗi đau càng cứa sâu làm trái tim ứamáu Chị là mối tình đầu trong trắng và say đắm của anh, là mối tình bền chặt

từ những ngày thơ còn cắp sách tới trường Hạnh phúc càng viên mãn khi tìnhyêu cập bến bờ của hôn nhân Đám cưới dẫu bình dị song đó đã là niềmngưỡng mộ của biết bao người trước một tình yêu lãng mạn, mê say Có thểnói, tình yêu dành cho Tố Uyên là nguồn cảm hứng dào dạt để Lưu Quang Vũviết nên những lời thơ đẹp nhất Nhưng cuối cùng, tình yêu tưởng như sẽ mãibền chặt ấy lại không kéo dài được lâu Lưu Quang Vũ đang ở trên thiênđường của hạnh phúc chợt bị đẩy sâu xuống vực thẳm của nỗi đau tan vỡ

Trang 39

“Ngày xưa đẹp là thế, vui là thế, trong trắng là thế Tố Uyên ạ, tại sao mọi việc lại đổ vỡ đến thế này Tại hai ta hay tại cuộc sống Chỉ biết rằng đã đổ

vỡ rồi và không còn cách nào nữa…Chỉ biết rằng anh đau đớn lắm và chắc

em cũng vậy…anh thương con, thương em, thương anh, thương cái cuộc sống nghèo nàn thảm hại này…’’ [30,56] Bức thư cuối cùng Lưu Quang Vũ gửi

Tố Uyên đã bày tỏ rất thật những đau đớn, mệt mỏi, chán chường trong anhlúc đó Anh chống chếnh, rã rời như một con thuyền tưởng đã cập bờ mà cuốicùng lại phải đón nhận một cơn bão lớn Sự đổ vỡ này không đơn giản chỉ làđiểm kết thúc của tình yêu và hôn nhân mà còn là sự đổ vỡ của đức tin trongmột trái tim yêu quá đắm say, quá thành thực Con người từ đây đánh mấtniềm tin vào sự sống, vào chính bản thân mình để rồi mãi hồ nghi về tất thảy

Dần dà, theo thời gian, vết thương tình yêu trong trái tim lắng dịuxuống, Lưu Quang Vũ đi tìm sự an ủi ở một tình yêu mới, tìm lại sự cân bằngtrong cuộc sống, làm vợi bớt đi những thảng thốt, chênh chao Nhưng ám ảnhđau thương khiến tình yêu giờ đây luôn khắc khoải, âu lo Dự cảm về tan vỡ

cũng đã trở thành hiện thực “Hai người rất yêu nhau, nhưng có lẽ tình yêu

ấy chưa đủ độ mạnh để vượt qua vô số rào cản lúc bấy giờ Anh yêu rất thực

và cũng buồn rất thực khi một cuộc tình tan vỡ’’ (Lưu Khánh Thơ) [30,59].

Hai lần tan vỡ càng khiến Lưu Quang Vũ mất niềm tin vào cuộc sống, tìnhyêu Mình anh còn lại đó trong nỗi cô đơn thăm thẳm

Hoàn cảnh riêng nhiều bi kịch làm cho Lưu Quang Vũ tự cảm thấy lạc

lõng, bi quan giữa cuộc đời “Cảm xúc của Vũ chưa đồng hành với cảm xúc

của số đông nhân dân ngày bấy giờ Vũ cảm thấy như không ai hiểu mình, nên Vũ càng buồn hơn’’ [33,124]

Có thể nói, chính thời đại chung dữ dội, đầy biến động và hoàn cảnhriêng nhiều bi kịch là những yếu tố trực tiếp chi phối, hình thành nên cảmthức cô đơn trong thơ Lưu Quang Vũ Không hoàn toàn hòa nhập được với

Trang 40

dàn đồng ca chung của thời đại, cũng không thể tìm được sự sẻ chia, đồngđiệu trong đời sống riêng, nỗi cô đơn như càng khoét sâu cõi lòng anh, nhứcnhối và da diết.

1.3.1.2 Sự chi phối của tư chất nghệ sĩ và quan niệm nghệ thuật

Lưu Quang Vũ là một thi sĩ tài hoa thiên bẩm Tư chất nghệ sĩ của anhluôn được thể hiện mạnh mẽ trong mọi hoàn cảnh, nhất là khi cuộc sống khókhăn, hay trong môi trường nghiêm ngặt, gắt gao của quân đội Doãn Châu

trong bài viết “Kỳ nghỉ hè cuối cùng của Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ” đã ghi lại những lời tâm sự của chính nhà thơ về một thời gian khó:“Ngày còn ở

trong quân ngũ, có ông thủ trưởng từng không cho Vũ làm thơ vì cho làm thơ

là yếu đuối và làm giảm sức chiến đấu của người lính Có lần Vũ đã phải viết bản kiểm điểm và hứa: Từ nay không làm thơ nữa! Nhưng Vũ vẫn làm thơ và nhờ một người bạn lính nghỉ phép chuyển về nhà hai cuốn sổ tay… đã có lúc

Vũ từng phải đi vác nứa ở bến Phà Đen, có lúc phải đi chấm công cho một đơn vị ở Tổng cục Đường sắt, rồi đi vẽ tranh Bờ Hồ… để kiếm tiền sinh sống

và làm thơ…” [3] Tình yêu cháy bỏng với thơ ca thực sự luôn là một thôi

thúc mãnh liệt để Lưu Quang Vũ sống và viết hết mình cho thỏa những đam

mê, ước vọng của lòng anh

Người nghệ sĩ sáng tạo là người nghệ sĩ luôn cô đơn Bởi lẽ “cô đơn là

sự tối cần của người viết, nó là một điều kiện hàng đầu của nhà văn Không một người viết hay nào tôi biết mà không cô đơn Không một thần tượng văn chương nào của tôi mà không bị cô đơn dày vò Và để chạy trốn nỗi cô đơn trong giao tiếp đơn thuần mặt nhìn mặt, tay nắm tay, việc viết văn đã dẫn tôi đến sự cô đơn khác, đó là ở giữa đám đông mà họ không thấy tôi, hoặc họ thấy một cái gì đó giống tôi, họ tưởng là tôi, nhưng tôi đang đứng ở một chỗ khác, một mình, chờ một nhịp tim đồng cảm Khi người ta bằng mọi cách chạy trốn sự cô đơn thì tôi, và những đồng nghiệp của tôi lại nuôi cô đơn,

Ngày đăng: 02/04/2017, 08:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi sau 1975, Luận án tiến sĩ khoa học ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của văn xuôi sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
2. Lê Nguyên Cẩn (2001), Cô đơn nghĩa là sự tiêu diệt, Tạp chí văn học và tuổi trẻ số 1 tháng 1, trang 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cô đơn nghĩa là sự tiêu diệt
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Năm: 2001
3. Doãn Châu (2008), Kỳ nghỉ hè cuối cùng của Xuân Quỳnh-Lưu Quang Vũ, http: www.Vnexpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỳ nghỉ hè cuối cùng của Xuân Quỳnh-Lưu QuangVũ
Tác giả: Doãn Châu
Năm: 2008
4. Nguyễn Thị Kim Chi (2004), Đặc sắc thơ Lưu Quang Vũ, Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc sắc thơ Lưu Quang Vũ
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Chi
Năm: 2004
5. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
6. Nguyễn Trung Đức dịch (1994), Octviopaz, Về cái cô đơn, Văn nghệ số 2/ 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cái cô đơn
Tác giả: Nguyễn Trung Đức dịch
Năm: 1994
7. Ngô Thị Thúy Hà (2011), Cảm thức cô đơn trong truyện Nguyễn Ngọc Tư, Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm thức cô đơn trong truyện Nguyễn NgọcTư
Tác giả: Ngô Thị Thúy Hà
Năm: 2011
8. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
9. Hà Thị Hạnh (2005), Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ giai đoạn 1971-1973, Khóa luận tốt nghiệp khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ giai đoạn 1971-1973
Tác giả: Hà Thị Hạnh
Năm: 2005
10. Phạm Thị Minh Huệ (2011), Cảm hứng thế sự và cảm hứng đời tư trong thơ Lưu Quang Vũ, Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng thế sự và cảm hứng đời tư trong thơ Lưu Quang Vũ
Tác giả: Phạm Thị Minh Huệ
Năm: 2011
11. Insara (2006), Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo, http: www. Thegioicf.com 12. Trần Xuân Kiêm dịch, giới thiệu (1971), F. Nietzsche, Zarathustra đãnói như thế, Nxb An Tiêm, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo", http: www. Thegioicf.com12. Trần Xuân Kiêm dịch, giới thiệu (1971), F. Nietzsche, "Zarathustra đã "nói như thế
Tác giả: Insara (2006), Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo, http: www. Thegioicf.com 12. Trần Xuân Kiêm dịch, giới thiệu
Nhà XB: Nxb An Tiêm
Năm: 1971
13. Nguyễn Văn Long (2002), Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam trong thời đại mới
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
14. Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (2006), Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
Tác giả: Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
15. Nguyễn Văn Long, Trịnh Thu Tuyết (2007), Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Văn Long, Trịnh Thu Tuyết
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
16. Phương Lựu (2001), Lý luận phê bình văn học phương tây thế kỷ XX, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận phê bình văn học phương tây thế kỷ XX
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
17. Nguyễn Đăng Mạnh (1994), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
18. Nguyễn Đăng Mạnh (2001), Nhà văn tư tưởng và phong cách, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn tư tưởng và phong cách
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
19. Nguyễn Đăng Mạnh - chủ biên (2002), Lịch sử văn học Việt Nam tập 3, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Việt Nam tập 3
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh - chủ biên
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2002
20. Nhiều tác giả (2002), Từ điển Hán Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2002
21. Nhiều tác giả (1986), Từ điển Triết học, Nxb Tiến bộ Matxcơva, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Triết học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Tiến bộ Matxcơva
Năm: 1986

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w