Sức khỏe thể chất, tâm thần và xã hội phát triển cân bằng, hài hòa là cơ sở cho một cá nhân có tri thức, có nhân cách đưa lại các hiệu quả của lao động có hữu ích cho phát triển xã hội và cá nhân. Nếu sức khỏe tâm thần có vấn đề sẽ dẫn tới thiếu hứng thú trong học tập, vui chơi, suy nghĩ không hợp lý, thiếu thực tế và dẫn đến các hành vi lệch lạc, quấy nhiễu cuộc sống của cá nhân và các thành viên trong gia đình và xã hội, cản trở sự phát triển chung. Vì thế, hiện nay trên thế giới, chương trình sức khỏe tâm thần cho trẻ em là một trong ba chương trình lớn của chăm sóc sức khỏe (tai nạn, nhiễm khuẩn, sức khỏe tâm thần), cùng với những biến động về kinh tế, văn hóa, xã hội, đô thị hóa nhanh, toàn cầu hóa về thông tin, nền công nghiệp phát triển, cạnh tranh thị trường…đã tác động nhiều đến tâm lý con người nói chung và trẻ
Trang 1Nâng cao sức khỏe tâm thần cho học sinh tại
trường học
Sức khỏe thể chất, tâm thần và xã hội phát triển cân bằng, hài hòa là cơ sở cho một
cá nhân có tri thức, có nhân cách đưa lại các hiệu quả của lao động có hữu ích chophát triển xã hội và cá nhân Nếu sức khỏe tâm thần có vấn đề sẽ dẫn tới thiếuhứng thú trong học tập, vui chơi, suy nghĩ không hợp lý, thiếu thực tế và dẫn đếncác hành vi lệch lạc, quấy nhiễu cuộc sống của cá nhân và các thành viên trong giađình và xã hội, cản trở sự phát triển chung Vì thế, hiện nay trên thế giới, chươngtrình sức khỏe tâm thần cho trẻ em là một trong ba chương trình lớn của chăm sócsức khỏe (tai nạn, nhiễm khuẩn, sức khỏe tâm thần), cùng với những biến động vềkinh tế, văn hóa, xã hội, đô thị hóa nhanh, toàn cầu hóa về thông tin, nền côngnghiệp phát triển, cạnh tranh thị trường…đã tác động nhiều đến tâm lý con ngườinói chung và trẻ em nói riêng làm cho tỷ lệ rối loạn tâm thần tăng cao gây ra gánhnặng cho toàn xã hội
Theo tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) sức khoẻ tâm thần được xem như gánh nặngkhông xác định, giấu mặt Hiện nay có 25% dân số thế giới bị rối loạn tâm thần tạimột thời điểm nào đó trong cuộc đời, và có 54 triệu người trên thế giới mắc các rốiloạn về sức khỏe tâm thần, ngoài ra còn có 154 triệu người mắc chứng trầm cảm.Hiệp hội Y học Anh Quốc cũng đưa ra con số trên 50% thanh niên có rối loạn hành
vi, tâm lý có nguồn gốc từ stress ở tuổi 15 mà không có can thiệp hỗ trợ
Trang 2Trầm cảm
Môi trường - Tự nhiên- Xã hội Dịch vụ y tế
Yếu tố sinh học Hành vi lối sống
Mô hình các yếu tố quyết định sức khỏe của Lalonde (Marc Lalonde, 1981)
+ Yếu tố liên quan đến kết bạn:
+ Yếu tố liên quan đến sự quan tâm của giáo viên:
Trang 3- Thầy cô ít quan tâm đến học sinh
+ Yếu tố học tập:
+ Yếu tố cộng đồng:
quanh có nhiều tội phạm, bạo lực, hư hỏng, không có mối liên hệ vớicộng đồng
Trang 4- Thức khuya, ngủ dậy muộn
- Tuổi
Hiện nay, tại Việt Nam, tỷ lệ mắc các rối loạn tâm thần học đường ngày càngcao, đặc biệt là trầm cảm(16%), là một vấn đề ngày càng được quan tâm Có rấtnhiều nguyên nhân dẫn đến trầm cảm như: áp lực học căng thẳng, nhất là vàomùa thi Nhiều bậc cha mẹ kỳ vọng quá nhiều ở con cái và điều này cũng tạo áplực cho các em; Sự thay đổi các mối quan hệ bạn bè là những yếu tố stress dẫnđến các bệnh lý về tâm thần Ngoài ra, những thói quen không lành mạnh, ví dụnhư hút huốc lá, uống rượu, không hoặc ít tập luyện thể dục thể thao hoặcnhững thói quen không tốt khi ngủ: thức quá khuy, ngủ dậy muộn, nghiêngame, chơi điện tử quá nhiều dẫn đến ảnh hưởng chất lượng học hành, sứckhỏe, là một mắc xích trong vòng xoắn bệnh lý của các rối loạn tâm thần
Trang 5- Áp lực học nhiều, ít có các hoạt động vui chơi giải trí
Trầm cảm là một trong những rối loạn phổ biến nhất đã được phát hiện từ rấtlâu Theo những số liệu của hiệp hội các nhà tâm thần học Mỹ (1987) thì 10 ngườidân sẽ có một người một lúc nào đó đã từng trãi qua trạng thái trầm cảm Nhìnchung, trầm cảm được hiểu như các rối loạn tâm thần, nó tác động lên những chứcnăng thể chất, sinh lý và xã hội của cá thể Mức độ biểu hiện trầm cảm có phạm virất lớn, từ những thay đổi không đáng kể của tâm trạng đến những rối loạn tâm lý –tâm thần, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến việc tự sát hay nâng cao tỷ lệ tử vong ởnhững đối tượng có bệnh thực thể, cơ thể Trong thực tế, nhiều em học sinh phổthông bậc trung học gởi thư đến các bệnh viện nhờ tư vấn đều có tâm trạng chung:kêu buồn quá, chán quá, không muốn học hành, làm việc gì cả, nhiều khi còn nghĩđến những chuyện bậy bạ và nguy hiểm khác Chính vì vậy việc giúp các em tựphát hiện, điều trị bệnh cho mình để lấy lại sự hoạt bát, vui vẻ, yêu đời vốn có củatuổi mới lớn thiết nghĩ đây là điều cần thiết
Ở Mỹ, thống kê cho thấy hàng năm có từ 4 đến 8 triệu người bị trầm cảm nặng vàchừng 10 triệu người trầm cảm nhẹ hơn, thoáng qua Tỷ lệ bệnh nhân bị trầm cảmtại Trung tâm sức khỏe tâm thần thành phố Hồ Chí Minh hàng năm không phải làthấp Hiện nay, theo thông báo của WHO và trung tâm dịch tễ học Hoa kỳ, hàngnăm có tới khoảng 5% dân số thế giới rơi vào trạng thái trầm cảm, 12% đàn ông và25% đàn bà trên hành tinh có nguy cơ trong cuộc đời sẽ xuất hiện một giai đoạn rốiloạn trầm cảm
Theo nghiên cứu cộng tác của WHO với WB trong 4 năm ( 1998 – 2002 ), tạp chí
“The Global Burden of Disease Study” đưa ra dự báo: năm 2020, trầm cảm sẽ trởthành một trong những nguyên nhân chủ yếu gây chết người và làm mất khả năngduy trì cuộc sống bình thường ở những nước đang phát triển Ở nước ta, chưa cóđiều tra dịch tễ học một cách hệ thống nên chưa đưa ra con số chính xác Song,trong thực hành lâm sàng, các bác sỹ tâm thần, các nhà trị liệu tâm lý nhận thấy sốbệnh nhân rối loạn trầm cảm chiếm tỷ lệ khá cao từ 1 – 1,5% dân số
Chỉ khoảng hơn 10 năm trở lại đây, vấn đề này mới được các nhà nghiên cứu đểtâm tới vì vấn đề này ngày càng trở nên trầm trọng đặc biệt ở các nước côngnghiệp ỞViệtNam,chođếnnayđãcó mộtsốnghiêncứuvềsứckhỏetâmthầntrẻemvị
Trang 6thànhniênnóichung,trầmcảmnói riêng,cóthểkếtquảởmỗigiaiđoạnnghiên cứulà
số bệnh nhi có ý tưởng và hành vi tự sát Các triệu chứng cơ thể của trầm cảmchiếm tỷ lệ cao (71,25%) Các rối loạn khác ở trẻ vị thành niên bị trầm cảm nhiềunhất là rối loạn lo âu (63,75%), rối loạn hành vi (45%), rối loạn giao tiếp và ứng xử
xã hội Đã có 80% các trường hợp ảnh hưởng đến thành tích học tập.Các hình tháitrầm cảm: giai đoạn trầm cảm chiếm tỷ lệ cao nhất (73,75%), tiếp đến là trầm cảmtái diễn 17,5%.Trầm cảm mức độ vừa là chủ yếu khi đến viện (61,25%), trầm cảmnặng chiếm tới 28,75%
Ở tuổi lớn, trầm cảm có thể dẫn đến tiêm chích ma túy, nghiện rượu, có thai ngoài
ý muốn, thậm chí phá thai, phạm pháp Mặt khác nó còn có thể dẫn đến nhữnghành vi liều lĩnh khác như lái xe bạt mạng, tự tử do bế tắc cách giải quyết Vìvậy, việc nghiên cứu, chẩn đoán, điều trị cho mọi người đặc biệt cho đối tượng vịthành niên là điều rất cần thiết
Học sinh THCS có tuổi đời ứng với tuổi thiếu niên, do vậy các em còn có tên gọikhác là thiếu niên Cách đây khoảng 20 năm, theo kết quả nghiên cứu của các nhà
Trang 7khoa học, học sinh đầu bậc THCS, về phát triển cơ thể không có gì khác so với trẻcuối bậc Tiểu học; Các em chỉ “lớn vọt” lên ở các năm tiếp theo Nhưng đến thờiđiểm hiện nay, quy luật trên không còn tồn tại trong số đông trẻ em Việt Nam cả ởthành phố lẫn nông thôn, bởi lẽ, tuổi dậy thì của các em đã được “kéo xuống” ởđầu bậc THCS (em trai thường chậm hơn em gái 2 năm) Với hiện tượng dậy thì-một hiện tượng sinh lý trong phát triển, nhưng do liên quan đến biến đổi nội tiếtnên cũng dễ dẫn đến các rối loạn, biến đổi “giao thời” trong đời sống tâm sinh lýcủa các em Đối với tuổi thiếu niên, có một số các rối loạn tâm lý mang tính chấtđặc trưng Nếu như có rối loạn phát triển tâm lý từ trước, thì đến tuổi thiếu niên,chúng cũng sẽ có những biến đổi nhất định.Tuổi thiếu niên ở trong khoảng từ 11-
14 tuổi (2 năm) Đây là thời gian xảy ra rất nhiều các biến đổi ở các mức độ khácnhau trong cơ thể trẻ; sự hình thành nhân cách được hoàn thiện Ở góc độ nội tiết,
sự họat hóa của tuyến yên, của các tuyến sinh dục, của tuyến thượng thận đượctăng cường, dẫn đến sự tăng trưởng mạnh về chiều cao, trọng lượng cơ thể, các dấuhiệu sinh dục phụ xuất hiện Tuy nhiên, người lớn (cha mẹ, thầy, cô giáo, ngườinuôi dưỡng trẻ) phải ý thức rằng, những phát triển trong cơ thể trẻ lúc này diễn rachưa đồng bộ và với diện mạo “to cao” bên ngoài như vậy, các em vẫn chưa làngười lớn thực thụ về tất cả các chức năng trong cơ thể Về trí tuệ, ở giai đoạn lứatuổi này, tiếp tục diễn ra sự phát triển của trí nhớ, đặc biệt trí nhớ ý nghĩa, chú ý cóchủ định, và vận động, tư duy lôgic và trừu tượng cũng phát triển mạnh Trẻ- thiếuniên hoàn toàn có khả năng tiếp thu các khái niệm Toán học, Vật lý học và Triếthọc trừu tượng
Mặt khác, sự thay đổi trong lĩnh vực động cơ của nhân cách cũng diễn ra cùng vớiđộng cơ học tập( động cơ số 1), nhu cầu trong giao tiếp bạn bè, việc lĩnh hội cácchuẩn mực và giá trị môi trường của thiếu niên cũng bắt đầu diễn ra Trong quan
hệ với cha mẹ, xuất hiện các dấu hiệu từ phản ứng, muốn thoát khỏi sự áp đặt quanđiểm của người lớn về các vấn đề khác nhau đến việc bỏ trốn khỏi nhà Liên quantới việc hình thành tính tích cực nhân cách trong giai đoạn này là việc đẩy nhanhtính chất mạnh mẽ trong hình thành các đặc điểm nhân cách ở trẻ Chính sự đẩynhanh tốc độ cả về cơ thể lẫn nhân cách là bước chuyển từ trạng thái trẻ em sangngười lớn Sự phụ thuộc vào cha mẹ và người lớn dần phải được thay thế địnhhướng cho trẻ hướng tới tương lai của chính bản thân nó Sự chuyển dịch này đưa
ra yêu cầu khá cao không chỉ đối với hệ thần kinh trung ương, mà cả hệ thống giátrị, chuẩn mực, niềm tin vốn đã được hình thành trước đó ở trẻ
Trang 9Phân tích:
thành phố, mà trên qui mô cả nước, nhà trường ở các cấp vẫn đang đảmtrách nhiệm vụ rất nặng nhọc Từ trước đến nay, chúng ta thường đánh giámột trường học tốt nghiêng về tiêu chí: tỷ lệ học sinh khá giỏi, tỷ lệ tốtnghiệp cao Dần dần trong hệ thống giáo dục hình thành “ căn bệnh thànhtích”, “báo cáo sai” dẫn đến toàn cảnh giáo dục bị sai lệch Đã có nhiềutrường hợp, trẻ phải nhập viện do phải học nhồi, học nhét, học cho nhuầnnguyên tất cả các kiến thức để chuẩn vị cho kì kiểm tra cuối cùng do mộtphần của bệnh thành tích mà ra Ví dụ như sở giáo dục TP HCM đã có chủtrương giao cho các phòng GD-ĐT chịu trách nhiệm thực hiện việc đề rachung cho 2 môn học tiếng việt và toán đối với các em lớp em Thế những,tâm lý chung của nhiều giáo viên lo ngại khi phòng GD-ĐT ra đề khó hơn vìchỉ lấy mặt bằng chung của quân Vì vậy, các thầy cô chuẩn bị tâm thế chocác em học sinh bằng cách yêu cầu các em phải giải những bộ đề mà cácthầy cô tự soạn hay sưu tầm này ngoài việc vẫn đảm bảo học đủ các môntrong chương trình với mong muốn sẽ nhớ bài lâu hơn, sẽ có nhiều em đạtđiểm cao Tâm lý chung này dẫn đến các em học sinh lớp 5 phải căng thẳng
để vận động não làm việc từ khi tới trường cho đến tối khi trở về nhà, giáoviên cũng thêm một vài đề nữa để các em đánh vật với những dạng bài tậpkhác nhau Đó là căn bệnh thành tích vẫn còn âm ỉ đâu đó trong cách nghĩ vàcách làm của giáo viên hiện nay cũng như một số trường muốn có tên trongbảng khen của việc chạy đua với các phong trào như vậy Thực tế, càng ngày
có càng nhiều trẻ bị rối loạn stress do áp lực học hành Theo các bác sĩ Sứckhỏe Tâm nguyên nhân của những áp lực tâm lý đó là do bố mẹ ép họcnhiều Bố mẹ quá kỳ vọng ở con cái mình, tạo nên áp lực cho con, buộc conphải cố gắng Nhiều đứa trẻ vốn học kém, nhưng chịu áp lực kỳ vọng của bố
mẹ nên trước những kỳ thi, cơ thể những đứa trẻ có những phản ứng như lêncơn co giật, tự nhiên mắt mù không nhìn thấy, ngất xỉu.Tỷ lệ trẻ bị trầm cảm
do học hành càng ngày càng gia tăng, ở nông thôn nhiều hơn thành thị Có lẽ
do họ làm ăn vất vả, muốn con học bằng thầy bằng bạn để thoát khỏi nghèo
mà tạo áp lực cho con Còn ở thành phố, hầu hết những đứa trẻ bị sang chấnstress này thường do nhân cách yếu đuối, được chiều chuộng và toại nguyệnmọi yêu cầu nên khi gặp một khó khăn nào đó chúng thường gục ngã Với
Trang 10những trường hợp này, rất cần sự hiểu biết và hợp tác của bố mẹ, hãy để conmình phát triển tự nhiên và bằng lòng với những gì con mình đạt được,
như di truyền, cân bằng sinh hóa trong cơ thể, tổn thương hệ thần kinhT.Ư… Ngoài ra, việc học sinh học quá nhiều đó là do khả năng học tập củahọc sinh chưa tốt nên phải học nhiều để có thể theo kịp tiến độ của thầy côgiáo đề ra Hầu hết các học sinh có một niềm tin chắc chắn rằng bố mẹ sẽ hàilòng và sau này sẽ có công việc tốt nếu như em học hành tốt, đó có thể cũng
là một động lực cho các em học hành nhưng cũng có thể là một áp lực nếurất lớn khi mà bản thân các em học hành chưa tốt
những mối quan tâm hàng đầu của xã hội Bên cạnh công tác chăm sóc sứckhỏe thể chất cho trẻ đã được đầu tư khá tốt trong thời gian qua, Chính phủViệt Nam cũng có nhiều nỗ lực đáng kể trong công tác chăm sóc sức khỏetâm thần (SKTT) trẻ em và vị thành niên Chương trình Mục tiêu Quốc gia
về SKTT được bắt đầu từ năm 1999 Chương trình mục tiêu quốc gia phòng,chống một số bệnh xã hội giai đoạn 2006-2010 trong đó có “Dự án bảo vệSKTT cộng đồng” đã được phê duyệt Năm 2006, Bộ Y tế đã ban hành “Kếhoạch tổng thể quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của vịthành niên và thanh niên Việt Nam, giai đoạn 2006-2010 và tầm nhìn 2020”.Trong đó, “Sang chấn về tâm thần và các vấn đề khác liên quan đến SKTT”được coi là một trong các nguy cơ chính đối với sức khỏe của vị thành niên
và thanh niên Việt Nam Năm 2011, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hộiphê duyệt đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho những người córối loạn tâm thần dựa vào cộng đồng Đồng thời, sức khỏe tâm thần đượcxếp là một trong 5 vấn đề ưu tiên cần giải quyết của Kế hoạch trong giaiđoạn 2006-2010.Hiện nay, công tác chăm sóc SKTT trong nhà trường cònđang bỏ ngỏ tại Việt Nam Trong những năm gần đây, có một số trường phổthông như trường dân lập Đinh Tiên Hoàng, trường THPT Trần Hưng Đạo,THPT Nguyễn Tất Thành đã có trung tâm tư vấn, hỗ trợ tâm lý Một số cácnghiên cứu cũng đã bắt đầu đánh giá tỉ lệ học sinh có vấn đề về SKTT và thửnghiệm can thiệp (Ngô Thanh Hồi và cs, 2005, Hoàng Cẩm Tú và cs 2004,
Lê Thị Kim Dung, 2007) Tuy nhiên, công việc này có tính đơn lẻ, chưa cótính hệ thống và chưa được pháp luật, thể chế giáo dục, y tế và xã hội quyđịnh Gần đây, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã có hướng dẫn các trường triển
Trang 11Cá nhân
Môi trường Hành vi
khai tư vấn việc làm và các vấn đề tâm lý xã hôi trong các trường Tuy vây,việc đơn giản nhất là nhân sự cho công tác này thì cũng chưa được quy định
và công nhận hợp pháp Các trường cũng chưa có biên chế cho các chuyêngia tâm lý để thực hiện nhiệm vụ này Rõ ràng, để xây dựng một mô hìnhchăm sóc SKTT trong nhà trường một cách đồng bộ cần có sự đầu tư về thờigian, công sức, tài chính, bao gồm các yếu tố như đội ngũ cán bộ và tập huấncán bộ, nâng cao nhận thức về SKTT, phối hợp liên ngành
Để giải quyết vấn đề sức khỏe tâm thần(trầm cảm) của học sinh trường THCS,nhóm chúng tôi chọn mô hình Lý thuyết nhận thức xã hội, do vấn đề sức khỏe tâmthần của học sinh bị ảnh hưởng bởi sự tương tác giữa hành vi và môi trường sốngxung quanh học sinh, những ảnh hưởng này có thể tác động tích cực hay tiêu cựcđến tình trạng sức khỏe tâm thần của học sinh
Mô hình Lý thuyết nhận thức xã hội
Trẻ em sống cùng cha mẹ, người thân và đến trường hàng ngày Do đó, cha mẹ,người thân trong gia đình, các giáo viên, và bạn học của trẻ là những người thườngxuyên tiếp xúc với trẻ Để phát hiện sớm các vấn đề SKTT của trẻ, những thay đổi
Trang 12trong hoạt động hàng ngày của trẻ ở nhà và ở trường cần phải được chú ý quan sát
và theo dõi Các khuyến cáo phát hiện sớm và dự phòng rối loạn SKTT đều chútrọng vào tư vấn cho gia đình các biện pháp theo dõi, hỗ trợ trẻ Tại gia đình, cha
mẹ cần dành thời gian quan tâm, lắng nghe con cái mình nhiều hơn Từ đó, cha mẹthấu hiểu trẻ, có thể giúp giải thích, giảm thiểu những lo lắng, băn khoăn khôngđáng có Thêm vào đó, tại nhiều gia đình, chính cha mẹ làm trẻ cảm thấy khôngthoải mái, tạo nhiều áp lực, yêu cầu quá sức đối với trẻ Các mâu thuẫn, bất hòa,những khó khăn, áp lực của cha mẹ đều ảnh hưởng rất lớn đến con cái Vì vậy, bêncạnh việc hiểu và quan tâm đến con, các bậc cha mẹ cần tạo ra không khí gia đìnhvui tươi, hạnh phúc, tạo môi trường an toàn, thuận lợi cho trẻ Cần thực hiện cácbiện pháp truyền thông cho cha mẹ về các vấn đề SKTT của trẻ em, cách phát hiệnsớm các biểu hiện bất thường, cách dự phòng các rối loạn, cách hỗ trợ, giúp đỡ trẻkhi cần thiết được WHO khuyến cáo áp dụng để CSSKTT cho trẻ em tại cộngđồng.Cùng với cha mẹ, giáo viên là những người hàng ngày tiếp xúc với trẻ, giáoviên lại là những người có trình độ học vấn cao, được đào tạo bài bản, hiểuđược tâm lý lứa tuổi của trẻ và quan tâm đến sự tiến bộ của trẻ về mọi mặt, do đó,giáo viên là những người thực sự quan trọng trong quá trình theo dõi, giúp đỡ, dựphòng các rối loạn SKTT cho trẻ Giáo viên cần tránh để trở thành nhữngngười trực tiếp gây ra lo lắng cho học sinh khi đưa ra những yêu cầu quá mức,những yêu cầu có tính chất đe dọa, những hình phạt ảnh hưởng đến tâm lý và thểchất của trẻ Thay vào đó, giáo viên sử dụng các cách thức mang tính sựphạm, cótính tích cực đến việc giáo dục học sinh bằng cách ứng xử phù hợp với từng emhọc sinh, nhất là với những em học sinh có vấn đề về SKTT (lo lắng, stress, trầmcảm…)
Các hoạt động có hệ thống, đồng bộ của mạng lưới y tế từ trung ương đến địaphương góp phần tích cực trong việc phát hiện sớm, điều trị và dự phòng cácRLTT nói chung và các RLTT trẻ em và thanh thiếu niên nói riêng Tuy nhiên,theo thống kê của WHO, hệ thống y tế của nhiều quốc gia đặc biệt là các quốcgia có thu nhập thấp và trung bình còn nhiều bất cập Một trong các bất cập
đó là thiếu nhân lực trong ngành tâm thần như : thiếu bác sỹtâm thần, điều dưỡngtâm thần, bác sỹ tâm lý và các cán sự xã hội liên quan đến CSSKTT Phần lớn cácquốc gia có thu nhập thấp và trung bình chỉ có một bác sỹ tâm thần / 4 triệu dân.Việc thiếu nhân lực là rào cản chính trong việc cung cấp các dịch vụ CSSKTT chocộng đồng