1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo dục, tâm lý và sức khỏe tâm thần trẻ em việt nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên ngành

537 206 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 537
Dung lượng 10,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trần Văn Nhung nội dung cuốn sách chia làm 2 phần lớn: Phần những vấn iề chung bao gồm các bài về sự cần thiết của nghiên cứu liên ngành âm lý học, giáo dục học, tâm thần học để giải quy

Trang 1

TT TT-TV * ĐHỌGHN

155.4

G IA

2007

Trang 4

LỜI N H À X U Á T B Ả N

Cuốn sách “Giáo dục, tâm lý, sức khoẻ tâm thần trẻ em Việt

Sam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên ngành” là kết quả của

:ông trình nghiên cứu hợp tác giữa một số nhà chuyên môn Việt Nam /à các chuyên gia nước ngoài liên qụan đến các lĩnh vực nêu ở tên

;ách Công trình nghiên cứu được Các Viện sức khoẻ quốc gia Hoa Kỳ

us National Institutes o f Health - NIH) tài irợ và do Trường Đại học Vanderbilt (Hoa Kỳ) phối hợp với Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục nay là Viện Chiến lược và chương trình giáo dục) thực hiện Sau lời giới thiệu của Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, GS TSKH Trần Văn Nhung nội dung cuốn sách chia làm 2 phần lớn: Phần những vấn

iề chung bao gồm các bài về sự cần thiết của nghiên cứu liên ngành

âm lý học, giáo dục học, tâm thần học để giải quyết những vấn đề sức íhoé tâm thần trẻ em mà chủ yếu là học sinh các cấp bậc học; cách bảo

vệ và chăm sóc sức khoẻ tâm thần trẻ em; chương trình nghiên cứu sức

íhoẻ tâm thần trẻ em Việt Nam và việc tồ chức đào tạo, bồi dưỡng về

âm lý học lâm sàng để nâng cao năng lực lý luận cũng như thực tiễn rong việc đánh giá, dự phòng và can thiệp sớm đối với những vấn đề ỉức khoẻ tâm thần trẻ em nẩy sinh ở nước ta Phần những nghiên cứu :ụ thể gồm 8 bài là kết quả nghiên cứu của 8 nhóm cán bộ tâm lý học, 'iáo dục học, tâm thần học để giải quyết các vấn đề nhu trấc nghiệm

;hẩn đoán; tham vấn học đường; những khó khăn về giao tiếp, ứng xử

;ủa học sinh; những vấn đề của trẻ lang thang kiếm sống; nguy cơ Ìghiện ma tuý trong trường học Các nghiên cứu cụ thể này được hực hiện bàng phương pháp luận thống nhất mà những người tham gia

;hương trình đã được tập huấn Các bài viết bằng tiếng Việt có tóm tắt

Trang 5

tương đối chi tiết bằng tiếng Anh (thường dài khoáng 1/3 khối lượng phần tiếng Việt) đế các bạn đọc dùng tiếng Anh có thế tham khảo Mai đồng chú biên cuốn sách là hai đồng giám đốc Chương trình liựp tác: PGS TS Đặng Bá Lãm, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triền giáo dục và PGS.TS Weiss Bahr, Đại học Vanderbilt (Hoa Kỳ).Cuốn sách này có ích cho những người hoạt động nghiên cứu, đào tạo, can thiệp, chữa trị nlũmg vấn đề liên quan đến sức khoé tâm thần trẻ em; những giáo viên và những người quản lý giáo dục hàng ngày tiếp xúc với học sinh và thường gặp những vấn đồ gây cấn trong cảm xúc, hành vi cùa các em Cuốn sách cũng rất cần thiết cho những ai muốn tham gia các chương trình đào tạo sau đại học về tâm lý học lâm sàng, trong dó có các khoá đào tạo tổ chức tại Khoa Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội, phối hựp với Đại học Vanderbilt trong khuôn khổ kế hoạch hợp tác đang được tiếp tục thực hiện.

Nhà xuất bản Đại học Ọuốc gia Hà Nội xin trân trọng cảm ơn những người đã dóng góp cho cuốn sách ra đời và xin bạn đọc lượng thứ nếu có những thiếu sót

Trang 6

L Ờ I G I Ớ I T H I Ệ U C Ủ A T H Ú T R Ư Ở N G B Ộ G D & Đ T

T R Ầ N V Ă N N H U N G V È C U Ố N S Á C H

N G H I Ê N C Ứ U L I Ê N N G À N H G I Á O D Ụ C , T Â M L Ý ,

S Ứ C K H O Ẻ T Â M T H Ầ N T R Ẻ E M V I Ệ T N A M

Hệ thống giáo dục nước ta đang không ngừng mở rộng về phạm vi

và gia tăng về số lượng Trong 83 triệu dân cư cả nước hiện nay có xấp

xỉ 23 triệu người đang học tập trong các loại hình trường lớp khác nhau, trong đó hằng ngày có 18 triệu trẻ em và vị thành niên cắp sách đến trường Nhiệm vụ của hệ thống giáo dục là cùng với gia đình và xã hội chăm lo cho thế hệ trẻ phát triển lành mạnh về thể chất và tinh thần, bao gồm các phương diện sức khoè, trí tuệ, cảm xúc, thái độ, hành vi, ứng xử để các em trở thành những công dân hữu ích cho đất nước, cho xã hội tương lai Hồ Chù tịch đã nhắc nhở: Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người Chúng ta ý thức rằng

sự nghiệp trồng người là lâu dài đồng thời cũng vô cùng phức tạp và tinh tế, đòi hỏi sự tham gia tích cực cùa nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lực lượng xã hội trong đó ngành giáo dục đóng vai trò nòng cốt

Kể từ khi bắt đầu sự nghiệp Đổi mới của Đảng (1986), giáo dục nước ta, cùng với một sổ ngành liên quan đến phát triển xã hội khác như y tế, chăm sóc trẻ em đã đạt được nhiều thành tựu lớn lao, làm cho chi số HDI cùa nước ta trong bảng xếp hạng quốc tế đứng ở vị trí cao hơn so với chỉ số phát triển kinh tế Tuy nhiên giáo dục nước ta còn có những yếu kém làm cho xã hội lo lắng, người học và gia đình còn kêu ca phàn nàn, các nhà lãnh đạo chưa yên tâm, các phương tiện truyền thông phàn ánh các hiện tượng bức xúc Có thể nêu ra ở đây

Trang 7

một số hiện tượng đã được nhấc đến như quá tải về trí dục trong thực hiện chương trình giáo dục phổ thông, dạy thêm học thêm tràn lan, bạo lực, ma tuý xâm nhập vào trường học Những hiện tượng đó có lúc là biểu hiện, có lúc là nguyên nhân của sự tổn thương về sức khoé tâm thần Đe giải quyết những tổn thương đó một cách có căn cứ khoa học, đảm bảo cho tính vững chắc của những giải pháp thực thi cần tiến hành các nghiên cứu làm rõ cơ chế, nguyên nhân nảy sinh những hiện tượng nói trên và thiết kế các giải pháp can thiệp có hiệu quả Chính vì lý do đó Bộ GD và ĐT khuyến khích và tạo điều kiện cho sự hợp tác giữa các cơ sở đào tạo và nghiên cứu nước ta với nước ngoài và các tổ chức quốc tể trong lãnh vực này và đã phê duyệt Thoả thuận họp tác giữa Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục trước đây do

GS Đặng Bá Lãm làm Viện trưởng (nay là Viện Chiến lược và Chương trinh giáo dục) với Chương trình nghiên cứu về sức khoẻ tâm thần trẻ em do GS Weiss Bahr thuộc Trường ĐH Vanderbilt (Hoa Kỳ) làm Giám đốc Đây là một dự định họp tác lâu dài, thiết kế những bước đi thích hợp, nhằm tạo ra nền tảng vững chắc cho sự phát triển những nghiên cứu liên ngành giữa giáo dục, tâm lý và sức khoẻ tâm thần trẻ em ở Việt Nam Chúng tôi cũng đánh giá cao lòng nhiệt thành của GS Weiss Bahr đã quan tâm nghiên cứu những vấn đề phát triển của trẻ em VN, đã dày công tìm hiểu, học tập văn hoá và ngôn ngữ Việt Nam và cùng với GS Đặng Bá Lãm đã tập hợp quanh mình nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước từ các trường, khoa, viện nghiên cứu, bệnh viện, các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức phi chính phù liên quan, đã lựa chọn những đơn vị và cá nhân thích hợp

tham gia như GS Đặng Lâm Sang (Trường Đại học Tây úc), TS

Hoàng Cẩm Tú (Viện Nhi Quốc gia), TS Văn Thị Kim Cúc (Viện Tâm

lý học), TS Nguyễn Ánh Hồng (Đại học Quốc gia tp HCM ), TS Lê Vân Anh (Viện Nghiên cứu Phát triển giáo dục) để tiến hành những hoạt động nghiên cứu, đào tạo về những vấn đề liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học và thực tiễn Trong thời gian 2001 - 2004 Ban chi đạo và tập thể nghiên cứu đã giải quyết những vấn đề về phương pháp

Trang 8

hận và tiến hành 8 đề tài nghiên cứu cụ thể với các kết quả đã được bto cáo và thào luận tại Hội thảo mở rộng có sự tham gia cùa nhiều tổ ciức trong nước và auốc tế liên quan đến việc giáo dục, bảo vệ và ciăm sóc sức khoẻ trẻ em Việt Nam Để phổ biến những kết quả rghiên cứu bổ ích đó đến đông đảo bạn đọc GS Đặng Bá Lãm và GS Veiss Bahr đã được tập thể tác giả uỷ nhiệm biên tập lại kết quà íghiên cứu thành cuốn sách trong tay bạn đọc hôm nay Tôi rất vinh

cự thay mặt lãnh đạo Bộ GD và ĐT giới thiệu cuốn sách với bạn đọc tong cả nước

Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

GS.TSKH Trần Văn Nhung

Trang 9

PHAN MQT NHtTNG VAN DE CHUNG

Trang 10

Đồng Giám đốc Chương trình giai đoạn th ử nghiệm

1 Nhờ những tiến bộ khoa học-kỹ thuật trong hơn nửa thế kỷ qua

nà nhân loại đã có những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất và đời sống, 'lăng suất lao động được nâng cao, người ta sản xuất được một khối ượng của cải lớn trong một thời gian ngắn, nhờ đó con người vừa có

hể thoà mãn nhu cầu ngày càng lớn của mình, vừa có nhiều thời gian

lể vui chơi giải trí Tuổi thọ trung bình gia tăng Trong sản xuất, máy nóc thay cho lao động cơ bắp, các bộ phận điều khiển bằng máy tính hay một phần cho lao động trí óc Các dịch vụ hết sức thuận tiện Ngồi nột nơi mà có thể có được thông tin khẳp nơi trên trái đất, thậm chí từ 'ũ trụ Qua mạng có thể sử dụng mọi dịch vụ từ học tập đến giải trí, ịiao lưu, mua hàng Cuộc sống hiện đại thuận lợi cho con người rất ìhiều so với trước đây

Tuy nhiên cuộc sống hiện đại cũng đặt con người trước những hách thức lớn Nhịp độ sản xuất và đời sống nhanh làm cho thần kinh

on người căng thẳng Thông tin nhanh chóng và tràn ngập làm cho Ìgười ta có lúc không định hướng để lựa chọn và ra quyết định, trở nên lối rối, hoang mang Cạnh tranh để có một vị trí thuận lợi trong công 'iệc ngày càng trở nên khốc liệt

Trang 11

Đa số dân cư hiện nay tập trung ở các đô thị lớn, sống giữa những khối bê tông sắt thép, trong bầu không khí bị ô nhiễm vì các chất thải của các quá trình sản xuất và dịch vụ, thiếu môi trường thiên nhiên trong lành.

Những điều đó tác động đáng kể đến tàm trí con người, gây nên nhiều vấn đề: rối loạn hành vi, nghiện các chất kích thích, trầm cảm, chán sống, tự sát

Để giúp con người có thể vượt qua được các thử thách đó, để giảm thiểu các nguy cơ, tạo được một cuộc sống hạnh phúc trong một thế giới ngày càng tiến bộ, các lãnh vực và các tổ chức liên quan đang tiến hành các hoạt động nghiên cứu, dự phòng và can thiệp sớm để khắc phục các hiện tượng trên

2 Trước hết công tác nghiên cứu phải giúp xác định những biểu hiện cùa tổn thương sức khoẻ tinh thần, làm sao để tránh các biểu hiện đó? Còn khi có biểu hiện thì xử lý thế nào?

Trước đây việc chăm sóc y tế đặt trọng tâm ở mặt thể chất và thường là chỉ nẩy sinh vấn đề khi trong cơ thể có bộ phận hoạt động không bình thường, có biểu hiện bệnh lý Đau đâu chữa đấy Đó là trường họp các bệnh thực thể và khi nói về sức khoè con người ta thường hiểu đó là sức khoẻ thể chất

Ngày nay người ta càng thấy vai trò lớn lao của mặt tinh thần trong sức khoẻ con người Trạng thái tinh thần, tâm lý, cảm xúc một mặt có tác dụng quan trọng, có khi quyết định lên tình trạng thể chất, đến diễn biến cùa những tổn thương thực thể, mặt khác bàn thân trạng thái tinh thần tạo thành một mặt trong sức khoẻ con người Do đó cần phải hiểu sức khoe con người một cách toàn diện hơn bao gồm sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tinh thần Theo WHO (2002), cũng như về sức khoẻ thể chất, về sức khoẻ tinh thần (SKTT) con người có thể ở một trong hai trạng thái: Hoặc là sức khoẻ tinh thần bình thường khi con người có sự phát triển tâm lý cân bàng, theo chuẩn mực chung đối với tùng lứa tuổi, từng môi trường sống và hoạt động; Hoặc trạng thái

Trang 12

tinh thần bị tổn thương, khi sự phát triển tâm lý lệch lạc, không phù hợp với chuẩn mực chung, có những rối loạn ở các mức độ khác nhau trong suy nghĩ, cảm xúc, hành vi, ứng xử.

Ví dụ như có người lúc nào, ở đâu cũng nghĩ ràng mình giỏi hon hết mọi người, coi thường hết thày, từ đó mà không làm việc việc được với ai, cám thấy cô độc, buồn chán Hoặc có người trong hoàn cảnh chưa đáng khóc đã khóc, trong hoàn cảnh chưa đáng cười đã cười; chợt khóc, chợt cười; uỷ mỵ hoặc hưng phấn quá mức Đố chính là những biểu hiện bất thường về SKTT

Như vậy việc nghiên cứu phải giúp xác định một chuẩn mực trong suy nghĩ, cảm xúc, hành vi, ứng xử để có thể căn cứ vào đấy mà đánh giá một con người đang ờ trạng thái tinh thần bình thường hay bất bình thường

Ví dụ: về sức khoẻ thể chất, chuẩn của người có tim hoạt động bình thường là nhịp đập 60/phút Thế thì trong sức khoẻ tinh thần, trong một nền văn hoá nhất định ứng xử thế nào là bình thường? Thế nào là bất bình thường? Đó là điều phức tạp vì chuẩn ứng xừ phụ thuộc môi trường xã hội, phụ thuộc văn hoá Ví dụ trong văn hoá phương Tây khi gặp nhau việc ôm hôn !à bình thường, trong văn hoá phương Đông thì việc vồ vập về thể xác bị coi là bất bình thường Ví dụ khác, trong tiếng Việt đại từ nhân xưng rất phong phú và phân ngôi thứ rất chặt chẽ, nên khi giao tiếp, phải tùy từng quan hệ mà sử dụng ngôi thứ cho thích hợp mới là bình thường Còn đối với các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, đại từ nhân xưng ít ngôi thứ hơn, nên khi học và dùng tiếng Việt họ chi dùng 2 ngôi "mày, tao" và khi giao tiếp, đối với họ gọi nhau như thế, dù với người trên hay người dưới đều là bình thường

về thuật ngữ, lĩnh vực sức khoẻ này trong tiếng Việt người ta còn gọi là sức khoẻ tâm thần, muốn thống nhất vào đây cả "tâm" và "trí" Khoa học hiện đại chỉ ra rằng điều khiển cả cảm xúc và tư duy, hành vi

là hệ thần kinh, còn thế giới bên ngoài và bên trong con người chia làm

2 phạm trù vật chất và tinh thần, cho nên có thể gọi phần sức khoẻ ta đang bàn đến là sức khoẻ tinh thần

Trang 13

Nghiên cứu trong lĩnh vực sức khoẻ tinh thần còn phải giúp xác

định nguyên nhân cùa những bất thường về sức khoẻ tinh thần Tuỳ

từng trường hợp cụ thể mà có những nguyên nhân khác, nhưng về tổng thể có thể xếp các nguyên nhân đó vào 5 nhóm lớn sau đây:

a) Những nguyên nhân do sinh đẻ: Có những người không may đã phải chịu tổn thương lúc sinh nở Ví dụ như đẻ khó, từ đó để lại di chứng trong sự phát triển não bộ Có người lúc sinh ra bị ngạt nếu không được cấp cứu kịp thời, sự phát triển của đầu óc về sau có thể không bình thường

b) Những nguyên nhân về nuôi dưỡng: Có người do chế độ ăn uống lúc bé không hợp lý mà có có thể bị suy dinh dưỡng Ví dụ như thiếu can xi hoặc không chuyển hoá được can xi, xương cốt của não

bộ thiếu vừng chắc Não bộ là cơ quan tư duy, cảm xúc Não bộ không phát triển bình thường thì tư duy, cảm xúc không thể trưởng thành như những người bình thường được, từ đó mà có biểu hiện không đúng chuẩn

c) Quan hệ gia đình: Đời sống gia đình không êm đẹp cũng để lại nhiều tổn thương về tinh thần cho con người Nếu cha mẹ thường xuyên xử dụng roi vọt, đánh đập lúc dạy con thì có thể làm cho trẻ

em bắt chước và về sau dễ trở thành hung hãn Nếu bố mẹ gây áp lực quá mức đối với việc học tập, thi cử thì có thể làm cho trẻ em lo sợ, hốt hoảng, v.v Nếu trong gia đình bố mẹ thường xuyên to tiếng, cãi

vã, đánh chửi nhau thì có thể gây cho nhau những tổn thương không những về thể xác mà còn cả về tinh thần và sỗ để lại những dấu ấn trong sự phát triển tinh thần của con cái Có những trẻ em có biêu hiện bất thường về tinh thần là do xuẩt thân trong những gia đình cha mẹ bất hoà

d) Giáo dục nhà trường cũng tạo ra nguyên nhân quan trọng và phổ biến, có thể gây nên những tổn thương tinh thần cho trẻ em Đó là cách giáo dục áp đặt làm cho trẻ em thiếu tự tin Nội dung chương trình quá tải, áp lực thi cử nặng nề làm cho trẻ em lúc nào cũng căng thẳng, lo sợ dẫn đến những rối loạn về cả thể xác lẫn tinh thần

Trang 14

e) Môi trường xã hội nơi sinh sống, làm việc, quan hệ trong cộng đồng không thuận lợi cũng có thể tạo ra những bất thường về tinh thần

Rõ rệt nhất là những căng thẳng trong sàn xuất công nghiệp và đời sống đô thị là nguyên nhân của nhiều rối loạn tinh thần

4 Trong các đối tượng có biểu hiện bất thường về sức khoẻ tinh thần, cần đặc biệt quan tâm đến trẻ em vì trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai Trẻ em hôm nay sỗ có một quãng thời gian dài trong tương lai để sống, làm việc Trẻ em hôm nay phát triển tốt thì thế giới trong tương lai sẽ có lợi rất to lớn

Tuy nhiên những cuộc khảo sát, nghiên cứu cho những con số đáng lo ngại về trạng thái sức khoẻ tinh thần trẻ em Điều tra cùa Viện Nhi Quốc gia tiến hành ở Hà Nội và các vùng lân cận năm 1999 cho thấy tỷ lệ trẻ em bị tổn thương sức khoé tinh thần nằm trong khoảng 10-24%, điều tra năm 2003 cho con số 20-30% Điều tra của Sở GD&ĐT tỉnh Đồng Nai, tiến hành ở Biên Hoà năm 2000, cho biết tỷ lệ trẻ em bị tổn thương sức khoẻ tinh thần nằm trong khoảng 10-24% Điều tra ở các nước trong khu vực và trên thế giới cũng cho con sổ trung bình là 20% trẻ em bị tổn thương sức khoẻ tinh thần dưới các hình thức khác nhau

Các hình thức tổn thương sức khoè tinh thần trong độ tuổi đi học thường là:

- Tăng động, giảm chú ý Trẻ luôn chân luôn tay, ngọ nguậy, không yên, không thể tập trung chú ý để học tập Từ đó mà không hiểu bài, không theo kịp bạn Ket quả học tập kém, mất hứng thú học tập Đối với các em đó, nếu không có biện pháp để giải quyết tình trạng này một cách kịp thời thì các em sẽ có cảm giác sợ học, từ đó trốn học,

bò trường đi lang thang Cha mẹ tưởng các em vẫn đến trường đều đặn, nhưng trong thực tế các em chi dời nhà đúng giờ nhưng là để gia nhập các nhóm trẻ lêu lổng

- Một số trẻ em có hành vi phản ứng gay gắt, chống đối người lớn, chống đối tổ chức Một số em thích đánh đấm, dùng bạo lực để trấn lột Một số trẻ phạm tội hình sự

Trang 15

- Một sô trẻ em có biêu hiện trâm cảm, buôn râu, ngại giao tiêp, chán đời Nghiêm trọng hơn đã có hiện tượng tự sát riêng lẻ hoặc tập thể.

- Trong tình trạng chưa ngăn chặn được một cách triệt để việc

sử dụng ma tuý trong xã hội, một số em đã bị rù rê, hoặc bị nhóm bạn hư hỏng cưỡng bức sử dụng ma tuý, từ đó mà đi vào con đường nghiện ngập, rồi trộm cap, trấn lột để có tiền thoả mãn cơn nghiện, dẫn đến phạm tội

Nước ta đang cố gắng thực hiện phổ cập giáo dục ở trinh độ THCS Hầu hết trẻ em dưới 15 tuổi đều được vận động đi học, còn sau đó phần lớn các em đều tham gia học tập dưới một hình thức nào đó Vì thế trẻ em hoàn toàn gấn liền với học tập, với nhà trường Nhà trường có vai trò hết sức lớn lao đổi với đổi với tình trạng sức khoẻ về thể chất và tinh thần cho các em Tuy nhiên một số điều trong thực tiễn sau đây góp phần tạo ra những rối loạn về tinh thần của trẻ em:

- Tình trạng phổ biến là quá tải trong học tập Chương trình học tập từ nội dung đến phương pháp và cách chuyển tải đều nặng nề Đối với một số học sinh, nhất là ở nông thôn và miền núi, vùng sâu, vùng

xa học hành như nước đổ đầu vịt Chương trình nặng hay nhẹ các em

đó cũng trơ, không phản ứng gì Còn đối với các em quan tâm đến việc học và muốn học tốt thì việc học thật là vất vả Ngoài học trên lớp lại phải học thêm với chính thầy cô ở trường, ngoài ra còn phải học thêm

để vượt qua trong các kỳ thi tuyển, nhất là tuyển sinh vào đại học Học ngày, học đêm, học ở trường, học ở các trung tâm luyện thi, không còn thời gian đâu để rèn luyện thân thể, vui chơi, giải trí, con người dễ bị

mụ mị và có những hành vi bất thường

- Trong hoạt động dạy học, giáo dục ở trường thì phương pháp phổ biến là áp đặt một chiều, thầy nói trò nghe, thầy đọc trò chép, ít khuyến khích học sinh tham gia trao đổi, thảo luận, bộc lộ cảm nghĩ cùa mình Học sinh có chỗ ấm ức không nói lên được Tích luỹ những điều không vừa ý trong lòng lâu ngày có thể sỗ có lúc bộc phát, bùng nổ

Trang 16

- Việc rèn luyện sức khoẻ tinh thân và sức khoẻ thê chât không dược thực hiện một cách hài hoà để hỗ trợ cho nhau Điều kiện ròn luyện thể chất ở trường như sân chơi, bãi tập thiếu, hoạt động thể dục thể thao không dược tiến hành thường xuyên và có chất lượng để rèn luyện sức chịu đựng, để tạo ra sự thư giãn, để làm cho sinh hoạt ở trường học trở nên hứng thú, hấp dẫn hơn.

- Nhà trường chưa quan tâm đúng mức đến việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng giao tiếp, ứng xử, kỹ năng sống để đối phó và vượt qua những thách thức trong cuộc sống hiện đại

Nhũng điều nêu trên cho thấy nhà trường có vai trò hết sức quan trọng trong việc cải thiện sức khoé tinh thần cho các em Nhà trường cần

đề ra mục tiêu và biện pháp rõ ràng về việc cải thiện sức khoẻ tinh thần cho học sinh Để thực hiện được sứ mệnh đó nhà trường cần được sự phối họp chặt chẽ của gia đình và các lực lượng xã hội khác Vì như đã nói ở trên, một số nguyên nhân gây ra rối loạn sức khoè tinh thần ở trẻ

em xuất phát từ gia đình và từ môi trường xã hội nơi các em sinh sống Trong các lực lượng đó nhà trường là nơi có điều kiện nhất để hiểu biết tình trạng và cách giãi quyết vấn đề, vì vậy phải chủ động đề xuất và tư vấn cho gia đình và các lực lượng xă hội khác trong việc giải quyết những vấn đề về sức khoẻ tinh thần trẻ em nẩy sinh

So với việc chăm sóc sức khoẻ thể chất việc chăm sức khoè tâm thẩn là một lĩnh vực mới mẻ, gần đây mới được đặt ra một cách nghiêm túc, lại liên quan rộng rãi đến nhiều lĩnh vực khác Đây là vấn

đề sức khoẻ nên nằm trong sự quan tâm của ngành y tế, lại là lĩnh vực tinh than nên lại thuộc phạm vi cùa các khoa học nghiên cứu tinh thần con người là tâm lý học và giao ngành giữa 2 lĩnh vực y học và tâm lý học là tâm lv học lâm sàng Kết quả nghiểti cứu được ứng dụng vào giáo dục trẻ em nên nó liên quan đến giáo dục học, đặc biệt giáo dục những trẻ khác thường, có những phẩm chất tinh thần trên chuẩn (có năng khiếu) hoặc dưới chuẩn (chậm phát triển)

Những hoạt động cải thiện sức khoẻ tinh thần trẻ em gắn kết các khâu nghiên cứu, can thiệp, trị liệu, đào tạo trong đó:

Trang 17

- Đào tạo: Trang bị kiến thức, rèn luyện kỹ nãng cho những người làm việc trong lĩnh vực này để họ có năng lực phát hiện và giãi quyết những rối loạn trên;

- Nghiên cứu đánh giá thực trạng sức khoẻ tinh thần trẻ em, phát hiện những bất thường, tìm nguyên nhân và thiết kế cách can thiệp có hiệu quả;

- Nghiên cứu dự phòng, theo phương châm chung cùa ngành y là phòng bệnh hơn chữa bệnh;

- Tổ chức can thiệp sớm Nếu phát hiện có những hiện tượng bất thường thì cần thiết kế và tổ chức can thiệp sớm;

- Can thiệp lâm sàng để giải quyết kịp thời, có hệ thống và có kết quả vững chắc các rối loạn trên

Các khâu này đòi hỏi liên kết các tổ chức y tế, giáo dục, các tổ chức xã hội để tạo thành một mạng lưới chăm sóc sức khoẻ tinh thần trẻ em Trong mạng lưới đó nhà trường đóng vai trò nòng cốt vì phần lớn hoạt động của các em diễn ra ở nhà trường, nhà trường cũng có nhiều khả năng và điều kiện nhất để tiến hành hoạt động này Đáng tiếc là ở nước ta nhà trường chưa quan tâm đến các bước dự phòng và các hoạt động thường xuyên mà chỉ mới đối phó khi xẩy ra các hiện tượng gây cấn, bức xúc làm náo động dư luận

Vì hoạt động này là mới mẻ, ngành giáo dục cần có sự ủng hộ của những người lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo các ngành, các tổ chức xã hội, các cơ quan, đoàn thể, các cơ quan truyền thông

5 Một số nước đã nhận ra tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khoẻ tinh thần cho trẻ em và vai trò của nhà trường trong hoạt động này nên đã thực thi một số giải pháp cơ bản

Ví dụ như Pháp đã đào tạo một đội ngũ chuyên gia tâm lý học và giao cho họ vai trò tư vấn lâm lý-giáo dục ở các trường phổ thông, về

những vấn đề nẩy sinh trong đời sống tinh thần cùa học sinh và cách giải quyết các vấn đề đó, các giáo viên và lãnh đạo nhà trường đều trao

Trang 18

đổi với chuyên gia này Nếu có sự bất đồng thì phải báo cáo cấp trên Không dể xẩy ra tình trạng tuỳ tiện đưa học sinh ra công an như ở một địa phương cùa Việt Nam.

Hoa Kỳ cũng là nước quan tâm nhiều đến đời sổng tinh thần của học sinh và một nhóm các nhà nghiên cứu đã cộng tác và giúp đỡ các đồng nghiệp Việt Nam trong hoạt động này GS TS Bahr Weiss là một nhà tâm lý học, giảng viên Trường Đại học Vanderbild (bang Teenesee), đã có quá trình nghiên cứu lâu dài về tâm lý, văn hoá Việt Nam và đã dụng công tìm tòi các đối tác Việt Nam Nhờ các thông tin trên diễn đàn khoa học quốc tế mà GS tìm thấy người thích họp để cộng tác triển khai chương trình này ở Việt Nam là TS Hoàng c ẩ m

Tú, bác sĩ, nguyên Chủ nhiệm Khoa Tâm bệnh học, Viện Nhi Quốc gia Vì nghiên cứu và điều trị các rối loạn tinh thần phụ thuộc vào các đặc điểm văn hoá, thông qua ngôn ngừ nên GS đã dụng công học tiếng Việt và tìm cách giao tiếp bàng tiếng Việt GS đã tập hợp một đội ngũ cộng tác viên hiện đang sổng và làm việc ở nước ngoài nhưng có gốc Việt và am hiểu con người Việt Nam như GS TS David Đặng Lâm Sang, ĐH Tây ú c , Perth (Australia), người đã tiến hành nhiều nghiên cứu, khảo sát ở Việt Nam, TS Vicky Ngô Khánh Vinh, TS Jane Trâm, người Canada gốc Việt cùng hợp tác nghiên cứu Giáo sư có ý định hợp tác lâu dài vì những lý do sau:

- Đây là một hoạt động có mục đích làm thay đổi thái độ, hành vi cúa một số lớn người cỏ biểu hiện bất thường (chiếm khoảng 1/5 tổng

số trẻ em) và ngăn ngừa các tác hại cho tất cả trẻ em, lại là một hoạt động xuyên văn hoá, xuyên quốc gia;

- Trong việc họp tác và giúp đỡ đồng nghiệp Việt Nam GS theo phương châm cung cấp cái cần câu thay vì con cá Đẻ làm điều đó GS

có ý giúp các đồng nghiệp Việt Nam nghiên cứu lý thuyết tiên tiến về tâm lý học lâm sàng và làm thích nghi vào hoàn cảnh Việt Nam, nẳm được phương pháp nghiên cứu, chẩn đoán, thiết kế, can thiệp

Hoạt động hợp tác sẽ bao gồm các lĩnh vực khảo sát, hội thảo, xémina, nghiên cứu các đề tài, đào tạo chuyên sâu ở các trình độ thạc

sĩ tiến sĩ, thực tập sau tiến sĩ

ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 19

Chính vì vậy coi đây là một kế hoạch hợp tác lâu dài nên trong tài liệu mô tả chương trinh GS viết :"Chúng tôi coi đây không phái là một

dự án mà là một phần quan trọng cua cuộc đời chúng tôi"

Trirớc mất, kế hoạch hợp tác trài qua 2 giai đoạn:

Giai đoạn tliir nghiệm 2001-2004, hợp tác với Viện Nghiên cứu phát trien giáo dục đà hoàn thành tốt dẹp

Giai tỊoạn chính thức 2006-2010 Sau I năm chuẩn bị dự án cũng

dã được cơ quan tài trợ phê duyệt và đang triển khai công việc với nhiều hứa hẹn Cơ quan hợp tác ớ Việt Nam là Khoa Su phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội

Ngoài dụ án này, GS Weiss và các cộng sự còn tiến hành nhiều công việc khác liên quan đến SKTT ở cá 3 miền Bấc, Trung, Nam

mà hoạt động cũng như kết quả cua nó sẽ rất lâu dài

về GS Bahr Weiss xin đọc bài báo rất lý thủ cua GS Mạc Văn Trang đăng trên báo Nhân dàn hằng tháng, tháng 5/2003

Tài liệu tham kháo

1 Chiến lược Chăm sóc sức khoẻ trẻ em 2001 -2010.

2 Chiến lược Phát triển giáo dục 2001-20lơ.

3 Đặng Bá Lãm, Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu TK

X X I Chiến lược phát triển, NXB Giáo dục, 2003.

4 Philip c Kendall, Constance Hammen, Abnormal Psychology.

5 Schrocder Gordon, Assessment and Treatment o f Childhood

Problems

6 Hoàng Cẩm Tú, Bước đầu nghiên cứu SK TT của học sinh tại

một số trường THCS, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ, 2004 .

7 Nguyễn Khắc Viện, Tâm lý lâm sòng trẻ em Việt N am , Nhà xuất

bản Y học - Trung tâm nghicn cứu tâm lý tre em, 1999

Trang 20

This chapter reviews the W.H.O.'s concept o f (a) normal mental lealth state as balanced psychological development, relevant to the age ind social circumstance, and (b) abnormal mental health as a state as inbalanced psychological development, with disorder in thinking, eeling, and / or behavior.

To prevent and to treat these mental health disorders, it is necessary

o determine (a) what the norm is for a ‘balanced state’ and (b) the :auses of the disorders

In mental health research and intervention, particular attention -hould be given (a) to children because “the children o f today are the vorld o f tomorrow", and to (b) schools because they are the setting in vhich children spend the majority o f their waking time

Trang 21

In Vietnam, various research studies suggest that approximately 20% o f school children have mental health problems such as disinterest

in academic studies, depression, suicide, drug use, violence, etc

There are many reasons for these problems, some o f which include:

- Parents spending long hours working, and not having sufficient time to be with their children

- Exposure to poor role models

- Parents using discipline techniques that were effective when they (the parents) were young but that are no longer effective in today’s society

- Excessive focus and stress around studying and examinations

- Parents requiring their children to participate in after-school study classes, which means that children have no time to relax or enjoy themselves

- A lack o f physical education or exercise

- Schools do not help students learn in communication skills, life skills, etc

To solve these problems requires cooperation between the school, the family and the community, to implement measurements covering research, treatment and training

Tác giả: PGS.TS Đặng Bá Lãm

Nghiên cứu viên cao cấp Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục

Trang 22

Sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nhanh đã làm nảy sinh nhiều yếu tố tác động lớn đến phát triển và tổn thương SKTT của trẻ, dẫn đến các rối loạn stress, trầm cảm, tự tử, hành vi chống đối (như bỏ nhà, trốn học, trộm cắp, hung dừ, tàn bạo, đánh nhau, phá vỡ các qui tắc xã hội ), nghiện hút, mại dâm Các hiện tượng trên ngày một gia tăng, thậm chí đến mức báo động và đã trở thành mối lo ngại chung cho

Trang 23

từng gia đình, tô chức, nhà nước cùa nhiêu quôc gia trên thê giới Nước ta, với sự biến động của nền kinh tế thị trường, quá trình đô thị hoá, mở rộng giao lưu văn hoá liên quốc gia, mồi người dàn nói chung

và tré em nói riêng đòi hỏi phải theo kịp nhịp điệu phát triển của xã hội Nảy sinh gia tăng mâu thuẫn quan điểm giữa các thế hệ, mâu thuẫn giữa nhu cầu bản thân và sự đáp ứng của xã hội, gia dinh; cấu trúc gia đình bị phá vỡ, chuẩn mực xã hội thay đổi Đây là những stress tâm lý xã hội tác động không nhỏ đến tâm lý và gây tổn thương SKTT cùa trẻ em và vị thành niên

Việc nghiên cứu để dự phòng sớm các tổn thương SKTT của trẻ

em là cần thiết nhằm hạn chế các rối loạn tâm thần nặng ở tuổi vị thành viên và người lớn, giảm gánh nặng cho xã hội

2 Một số khái niệm liên quan đến SKTT

- SK toàn diện có 3 thành phần: SK thể chất, SKTT và sức khoẻ xã

hội (SKXH ) Ba thành phần này quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau Cơ thể bị tổn thương (tổn thương thể chất hoặc bệnh thực thể) sẽ gây tâm trạng lo âu, bi quan, buồn phiền, cáu gắt, uể oải, giảm hứng thú ) tức là gây tổn hại đến SKTT Ngược lại, khi trạng thái tâm lý không thoải mái, lo âu, sợ hãi, buồn chán hoặc bị rối loạn tâm thần nặng đều kéo theo những rối loạn cơ thể (rối loạn thực vật - nội tạng, giảm miễn dịch ) Như vậy, trong SK của mỗi cá nhân đều có mặt SKTT như là một thành phần chính yếu

- SK TT là một trạng thái không chi không có rối loạn hay dị tật

tâm thần mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái, cân bằng về cảm xúc, hoà hợp giữa các mối quan hệ gia đình, xâ hội, có cảm xúc tình cảm và hành vi ứng xử phù hợp với nhu cầu của xã hội

Muốn vây, phải có chất lươne nuôi- day tốt.

Như vậy SKTT cùa một người được đánh giá là tốt bao gồm:

+ Có cảm giác sống thực sự thoải mái, tin vào giá trị bàn thân và tin vào phẩm chất và giá trị của người khác;

Trang 24

+ Có khả năng kiểm soát dược cảm xúc tình cảm, nhận thức hành

vi, ứng xử để vượt qua mọi thử thách cùa cuộc sống;

+ Có khả năng tạo dựng, phát triển và duy trì các mối quan hệ thích hợp;

+ Có khả năng tự hàn gắn sau các choáng tâm lý hay stress

- SK X H : là trạng thái thể hiện khả năng hoà nhập của một cá thể

vào môi trường xã hội (gia đình, trường học, cộng đồng ) và khả năng tác động nhằm cải biến môi trường đó Không hoà nhập được hoặc khó hoà nhập thể hiện SKXH yếu, nếu hoà nhập dễ dàng, phát huy được khả năng đóng góp tích cực để phát triển xã hội thì SKXH tốt Nếu trạng thái xã hội ổn định về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, ít có biến động, xung đột gây stress tâm lý thì sẽ tạo sự thoải mái, thuận lợi cho

sự phát triển tiềm năng của từng cá thể Ngược lại, xã hội có nhiều biến động, nhiều stress sẽ làm cho SKTT con người dễ bị tổn thương

SK TT & SKXH quan hệ rất khăng khít với nhau, nên nhiều rối loạn

chung được gọi là rối loạn tâm lý xã hội như nghiện hút, rượu, rối loạn hành vi, chống đối của thanh thiếu niên, các rối loạn liên quan đến stress Các rối loạn tâm lv-xẩ* hội có liên quan đến tình hình ổn định chính trị và an toàn xã hội Vì vậy, hiện nay chính phủ nhiều nước trên thế giới rất quan tâm den SKTT và có chính sách quốc gia đặc biệt đối với SKTT

Như vậv, quan niệm về SKTT trẻ em ngày nay được xem là một thể liên tục từ phát triển tâm lý bình thường về các mật đến bất thường bệnh lý, từ nhẹ đến nặng, có tính chất nhất thời hoặc kéo dài, bao gồm các trạng thái:

+ SK TT tốt: Đạt các mốc phát triển tâm lý thuộc giai đoạn cùa lứa tuổi mình và không có biểu hiện lệch lạc.

+ SK TT bị tốn thương: Không chi bó hẹp ờ một tỳ lệ nhỏ của các

rối loạn tâm thân (10-20%) như những bệnh tâm thần nặng, mạn tính hoặc các khuyết tật về tâm thần, mà còn bao gồm các trạng thái không thoải mái về tám lý do căng thẳng bởi các stress tâm lý từ phía môi trường sống gia đình, trường học, cộng đồng xã hội, như rối loạn

Trang 25

ngủ, biếng àn, mệt mỏi, học giám sút, thiếu hứng thủ, xa lánh, ngại giao tiếp, lo sợ hốt hoảng, buồn chán đến rối loạn hành vi chong đối.

3 Yếu tố ảnh hưỏng đến phát triển sức khỏe tâm thần

Trẻ em không phải là người lớn thu nhò lại, mà Jà một cá thể khác biệt đang đà phát triển Quá trình phát triển đó là liên tục, giai đoạn sau

kế thừa cái đã có của giai đoạn trước, nhưng chín muồi hơn, thành thục hơn Sự phát triển tâm lý trẻ em là cả một quá trình trẻ em lĩnh hội kinh nghiệm của loài người trong nền văn hoá xã hội

3.1 Nền văn hoá xã hội

Nền văn hoá xã hội chứa đựng toàn bộ kinh nghiệm, những tri thức của loài người, những bản sắc dân tộc, chứa đựng những chuẩn mực đạo đức, những giá trị thẩm mĩ Đó là nội dung cơ bản để trẻ em tiếp nhận trong khi phát triển trí tuệ, nhân cách Môi trường văn hoá nào, thì tâm lý trẻ em mang sẳc thái của nền văn hoá đó

3.2 Văn hoá gia đình

Vai trò cùa gia đình rất quan trọng trong sự phát triển của trẻ, đặc biệt trẻ tuổi trước học đường Lúc mới sinh ra tất cả trẻ em được bố mẹ nuôi dưỡng trong tổ ấm gia đình, đến tuổi trưởng thành mới ra đờì, mới hoà nhập vào cộng đồng xã hội Tổ ấm gia đình là môi trường văn hoá, được tạo dựng nên trên cơ sở tình thương yêu, đùm bọc lẫn nhau cùa những người ruột thịt sống trong gia đình Đó là môi trường trẻ cần được chăm sóc, nuôi dạy an toàn và thoả mãn được các nhu cầu thích hợp cho trẻ phát triển toàn diện Với môi trường như vậy, trẻ có được cảm giác an toàn, giúp trẻ yên tâm, vui vẻ hồn nhiên, mạnh dạn thăm dò, thử nghiệm, tìm cách”tác động lên sự vật, học hành Nó phát huy được tiềm năng về cơ thể, tâm lý đang sinh sôi nảy nở Ngược lại, trong môi trường thiếu nuôi dưỡng, thiếu tình thương, đe nẹt, xung đột, bạo lực thì trẻ không có được cảm giác an toàn, luôn lo sợ, trẻ co mình lại, giảm linh hoạt, tăng thụ động và dẫn đến nghi ngờ cuộc sống, buồn chán, các chuẩn mực xã hội bị phá vờ, khi đỏ sự phát triển tâm lý bị cản trở, trở nên lệch lạc

Trang 26

3.3 Trường học với s ự nghiệp giáo (lục

Trường học là một môi trường cho trẻ tiếp nhận phát triển tri thức, hình thành nhân cách Sự giáo dục không hợp lý, áp đặt, quá tải, thiếu khuyến khích hoặc hạn chế tính năng độc lập của trẻ đều sai qui luật phát triển của chủng Điều đó sẽ hạn chế năng lực sinh học và tính hứng thú, sáng tạo, cống hiến

4 Các phuong pháp nghiên cứu SKTT

Nghiên cứu về SKTT là một khoa học về con người, đặc biệt là trẻ

em, đòi hỏi phương pháp nghiên cứu khoa học Các vấn đề của trẻ em đều phải được xem xét trong điều kiện lịch sử cụ thể, toàn diện, trong mối liên hệ phổ biến và phát triển

Các phương pháp nghiên cứu đều dựa trên cơ sở:

Xem trẻ em là một thực thể đang phái triển, là một thực thể tự vận động theo qui luật tự thân (về sinh học)

- Sự phát triển đó chịu ảnh hưởng cùa môi trường nuôi dạy trong nền văn hoá xã hội, gia đình, trường học

Sự phát triển của mồi chù thể người là sự kết hợp đặc thù giữa các

động qua lại lẫn nhau, đặc biệt đối với trẻ em

Các phương pháp nghiên cứu được ứng dụng phổ biến trong

SK TT là:

- Phương pháp thống kê dịch tễ học

Để giúp đánh giá được sự phát triển SKTT cùa trẻ, các nhà tâm lý học và xã hội học đã xây dựng nhiều trắc nghiệm tâm lý ở các góc độ khác nhau theo tiêu chí để sàng lọc tổn thương SKTT Kết quà cùa điều tra dịch tễ học cho biết tần suất mắc bệnh, các nguy cơ Trên cơ

sờ đó, các nhà chuyên môn và nhà nuớc xây dựng chiến lược CSSKTT

- Phương pháp lâm sàng cá thể

Là phương pháp phỏng vấn - lắng nghe- trao đổi - quan sát trực tiếp kết hợp các trắc nghiệm cho phép nhìn nhận sự phát triển cùa trẻ

Trang 27

một cách tổng thể và từng giai đoạn theo qui luật về mặt sinh học dưới tác động của môi trường nuôi dạy, đồng thời phát hiện các biểu hiện có vấn đề SKTT và yếu tố ảnh hưởng cùa từng giai doạn phát triển Trên

cơ sở đó đánh giá để giải quyết vấn đề này sinh ờ chúng

- Phương pháp điều tra xã hội học

Được thực hiện theo bảng câu hòi, qua đó đánh giá được phát triển SKTT trong bối cảnh nền văn hoá xã hội dân tộc, xuyên văn hoá, phát hiện các yếu tố nguy cơ có hại và các biểu hiện tổn hại đến sự phát triển của SKTT ờ cộng đồng, mang tính đặc trưng dân tộc Dựa vào đó mới quyết định các chính sách, chiến lược dự phòng, hạn chế sự tổn hại SKTT ở tuổi VTN và người lớn

5 Mô hình tổn thưong SKTT và dự phòng

Các tổn thương SKTT, tỷ lệ và các hình thức can thiệp được mô tả bằng sơ đồ sau:

Rỗi loạn tâm thăn nặng

Rõi nhiễu tâm lý

ran thiệp sớm (Y tẽ, tâm lý giáo dục

và xã hội học)

Giảm tỉ lệ

Trang 28

Phát hiện và hồ trợ tâm lý xã hội sớm (tham vấn, tư vấn và trị liệu tâm lý ) giúp giám tỷ lệ các tổn thương SKTT, đặc biệt là nhóm rối loạn tâm thần nặng ở tuổi vị thành niên và người lớn.

Tỷ lệ rối loạn SKTT ở một số nước được trình bày trong bảng sau:Nưóc Lứa tuổi Tỷ lệ mắc (%) rr% rTác giả• *

Bộ SK và Dịch

vụ con người, 1999

15,012,8

- Trầm cảm - lo âu có thể chiếm trên 15-20% các tổn thương

SKTT nói chung, do tác động của nhân tố tâm lý xã hội, mà chù yếu là môi trường gia đình do sự đổ vỡ hôn nhân, xung đột, bạo lực gia dinh tổn thương này có thể dẫn đến tự sát hoặc rối loạn hành vi chống đối, nghiện hút là nguyên nhân tử vong cao

Trang 29

- Rối loạn hành vi là một trong nguyên nhân cùa các tệ nạn xà hội.

Hai hình thức rối loạn trên là nguyên nhân cùa các vấn đề tệ nạn

xã hội như nghiện hút, phạm tội, mại dâm, nhiễm HIV/AID đang trở thành một gánh nặng cho xã hội Đồng thời đó cũng lại là những nhân

tố stress tâm lý xã hội gây nhức nhối cho mọi gia đình, mọi quốc gia

và gia tăng các rối loạn liên quan SKTT Do đó, việc CSSKTT là nhằm

dự phòng các nguy cơ, phát hiện, can thiệp sớm các vấn đề này ngay từ tuổi trước đến trường

Các nhóm (ổn thương SKTT thường gặp ở trẻ em (W HO, 2001)

1 1 3

1 4

1 5 1 6

1 6

1 7

1 8

Rối loạn gắn bó

(A ttachm ent Disorder) + + +

Rối loạn phát triển lan

Các rối loạn dặc trưng

ở tuổi trướng ihành

(Adult type P sych osis)

6 Các yếu tố gây tổn thưong SKTT

Quá trình phát triển về cơ thể và tâm thần của trẻ em, chịu ảnh hưởng bởi 2 loại yếu tố sinh học và môi trường, tác động qua lại lẫn nhau Các nhà tâm lý học cho rằng trong 2 yếu tổ trên, thì yếu tổ môi trường quan trọng hơn Bời lẽ trong yếu tố sinh học, người ta coi trọng

Trang 30

sự di truyền, mà sự di truyền không chi đon thuần là di truyền theo nhiễm sắc thể, mà còn có sự di truyền xã hội của những diều kiện môi trường sống (văn hoá xã hội, gia đình ) Do đó, những yếu tố ảnh hưởng đến SKTT là những tác nhân tâm lý xã hội (gia đình, trường học, xã hội) đóng vai trò quan trọng, then chốt.

6.1 Nhân tố sinh học (chiếm tù 10-20%).

Các nghiên cứu cho thấy nguyên nhân gây tổn hại SKTT do nội sinh chì chiếm từ 10-20%, đó là bệnh rối loạn tâm thần như tâm thần phân liệt, tự kỷ, rối loạn phát triển lan toả , chậm phát triển tâm thần (trong đó có tỷ lệ cao do dị tật não bẩm sinh)

6.2 M ôi trường

- Hoàn cảnh gia đình gãy chẩn thương tâm lý kéo dài

Các yếu tố tâm lý xã hội (gia đình, trường học, văn hoá xã hội) chiếm 80-90% nguyên nhân tổn thương SKTT, trong đó yếu tố gia đình chiếm vai trò chù yếu Sự thiếu gắn bó giữa các thành viên trong gia đình tạo ra các xung dột kéo dài Thế giới ngày càng đi vào thời đại công nghiệp hiện đại, nền kinh tế thị trường phát triển nhanh mạnh đã làm thay đổi cấu trúc xã hội, gia đình Mọi người lao vào học tập, công việc, kiếm tiền Con người nói chung và trẻ em nói riêng được học tập, chãm sóc tốt hơn, nhưng đồng thời cũng nảy sinh những vấn đề tâm lý

xã hội, trong đó cả gia đình Chuẩn mực giá trị xã hội thay đổi Hôn nhàn và sự gấn bó gia đình thiếu bền chặt, bạo lực trong xã hội và gia đình gia tăng Trong khi đó, gia đình chính là môi trường xã hội đầu tiên đứa trẻ tiếp xúc và thông qua gia đình, đứa trẻ sẽ vươn tới thế giới bên ngoài Gia đình được coi là thành luỹ cần được giữ gìn để bảo vệ

sự an toàn cho đứa bé Mọi sự can thiệp đều không có hiệu quà nếu như không dựa vào gia đình

Hoàn cảnh gây chấn thương tâm lý là khi những máu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình không giải quyết được kéo dài Bố mẹ nghiện hút, rượu nặng và các vấn đề xung đột khác trong gia đình thường gây tổn thương cho trẻ

Trang 31

Người ta cũng thấy rõ ràng những bệnh nhân người lớn có tật chứng về SKTT thường có một tiền sừ khá rõ nét là lúc thiếu thời có hoàn cảnh gia đình không thuận lợi như vậy Do dó, vấn đề CSSKTT phải được bắt đầu từ ấu thơ.

- Thiếu sót trong giáo dục gia đình

Thường thường việc xuất hiện các rối loạn tâm lý ở trẻ em là do chấn thương tâm lý kéo dài, trước hết là những mối quan hệ trong gia đình đã bị rối loạn và việc giáo dục sai lầm dưới sự báo trợ quá đáng

và không nhất quán, do sự quá nuông chiều, che chẳn hoặc quá áp đặt Việc học quá sức, áp đặt, triệt tiêu tính độc lập cũng tạo ra những chấn thương về tâm lý

ờ các thành phố lớn đa sổ các gia đình chì có một đến hai con

Do đó, này sinh các vấn đề mà không phải tất cả các bậc cha mẹ đều giải quyết được một cách thoả đáng, trái lại nhiều khi mắc những sai lầm to lớn trong việc giáo dục như kiểm tra quá đáng đối với trẻ, coi thường nhu cầu thể hiện cảm xúc theo lứa tuổi, cách ly chúng với những mối quan hệ không có lợi - theo quan niệm của bổ mẹ-, với những bạn cùng tuổi hoặc sử dụng những khả năng đặc biệt cùa trẻ nhằm mục đích tôn cao lòng kiêu hãnh của cha mẹ Trong khi đó, trẻ lại tôn trọng nhóm bạn, coi trọng tính độc lập, tích cực và dũng cảm Mâu thuẫn đó tạo ra trạng thái xung đột, tạo điều kiện cho các phản ứng chống đối (Xukhareva G.E, 1957, Rutter, Garfinkel, Carlson và Welle, 1990)

- Sự xung đột ở trưcmg học

Việc học quá tải, áp đặt, quan hệ thầy trò thiếu gắn bó, thiếu khích

lệ lòng tự tin, tự học, và sự hứng thú trong học tập, sự độc tôn cùa giáo viên và thiếu sự cảm thông với học sinh trong từng giai đoạn phát triển, mối quan hệ với gia đình lỏng lẻo., ọũng như việc chậm phát hiện các rắc rối để cùng giải quyết làm nảy sinh các xung đột dẫn đến sự chán học, bỏ học, có hành vi chống đối

Trang 32

- Các vắn đề tâm lý xã hội cùa chẩn thương tâm lý cắp

Trong bệnh sinh cùa các rối loạn liên quan SKTT ở trẻ, cơ chế càm ứng đóng vai trò nhất định, trẻ rất dễ dàng tiếp nhận trạng thái cảm xúc, hành vi của những người xung quanh, hoặc trong phim ảnh (Arkin, 1968, Drapkin, 1974) Đặc biệt là bạo lực trong gia dinh hoặc

xà hội, bị đánh đập, tấn công, cưỡng bức về tình dục hoặc các thảm hoạ do thiên tai hoặc tai nạn

7 Kết luận

Cần phát hiện và can thiệp sớm có hiệu quả SKTT cho trẻ (D ự

phòng hoặc phát hiện và can thiệp sớm) bởi vì :

1) Rối loạn tâm thần thường xảy ra ở một số giai đoạn phát triển trong quá trình phát triển của trẻ, cần sàng lọc và can thiệp sớm tập trung, giải quyết vấn đề vào những giai đoạn cụ thể đỏ

2) Những rối loạn ở tuổi nhỏ gần như là sẽ tiếp tục ở tuổi vị thành niên và cả khi trưởng thành, những can thiệp sớm có thể giúp ngăn ngừa hoặc giảm tồn thương lâu dài

3) Can thiệp có hiệu quả giảm bớt gánh nặng bệnh tâm thần gây ra đối với cá nhân và gia đình và làm giảm chi phí cho hệ thống y tế và cộng đồng

8 Đề xuất

1) Đào tạo đội ngũ cán bộ liên ngành trong CSSKTT cho trẻ em,

bao gồm bác sĩ tâm thần nhi, cán bộ tâm lý lâm sàng, cán sự xã hội, giáo viên, cũng như các thành viên khác

2) X ây dựng mạng lưới CSSKTT cho trẻ ở các cơ sở, đặc biệt

mạng lưới CSSKTT học đường, cộng đồng, tạo mối quan hệ mật thiết

và chặt chẽ giữa gia đình- trường học- cộng đồng Đẩy mạnh công tác tham vấn, tư vấn về SK.TT

3) Pho biến các kiến thức về C SSK ĨT cho bố mẹ, giáo viên, cho

cộng đồng Nâng cao các yếu tố phòng tránh được các nguy cơ gây tổn

Trang 33

thương SKTT, giảm yêu tô có haị Nhận biêt được các dâu hiệu tôn thương sớm để có biện pháp can thiệp kịp thời.

4) Cần có một chương trình nghiên cứu sớm, dài hạn về:

- Khí chất và các yếu tố ảnh hưởng đến cảm xúc và hành vi cùa trẻ

em, cũng như các nguy cơ gây tổn thương, để có hướng dự phòng và can thiệp sớm, giảm tỳ lệ rối loạn tâm thần ở tuổi vị thành niên và người lớn

- Thích nghi hệ công cụ sàng lọc các rối loạn SKTT trẻ em vị thành niên vào hoàn cảnhViệt Nam

- Xây dựng chương trình CSSKTT cho trẻ em ở cộng đồng, tập trung ở trường học, bắt đầu từ nhà trẻ mẫu giáo có sự phối họp liên ngành tâm thần trẻ em, tâm lý học, giáo dục, xã hội học

Tài liệu tham khảo

1 Diana Smart, Margot Prior, Ann Sanson, John Toumbourou and

Krank Oberklaid: Longitudinal Pathways to Adolescent Antisocial

Behaviour and Depression Centre for Community Child Health, Royal

Children’s Hospital, Melbourne, Victoria, Australia, 1999

2 Phạm Minh Hạc: Tăm lý học phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại

hoá Hội thảo khoa học Tâm lý học với sự nghiệp công nghiệp hoá,

hiện đại hoá Liên hiệp các hội KH và KT Việt Nam Hội Tâm lý - Giáo dục học Việt Nam, tháng 3/2000 Tr 3-7

3 Đặng Phương Kiệt, Ngó Toàn Định, Vương Văn Hùng: Nhận

diện các yếu tổ nguy cơ gây tệ nạn xã hội trong thanh thiếu niên tại một số địa bàn tỉnh Nam Định và đề xuất giải pháp Đề tài cấp tỉnh do

sở KHCN-MT & Trường Cao đẳng Y tế Nam Định chủ trì, 1993-1997

4 Nguyễn Thu Nhạn và cs: Tinh hình sức khoẻ và bệnh tật trẻ em

Báo cáo tổng kết đề tài NCKH Quốc gia, Bộ KHCN&MT, 2001

5 Robert s Mckelvey, Lisa c Davies, David L Sang, Kevin R

Rickering, Hoang Cam Tu: Problems and Competencies Reported bv

Trang 34

iarents o f Vietnamese Children in Hanoi Journal o f the American

/cademy o f Child and Adolescent Psychiatry

6 Robert s McKelvey, David Dang Lam Sang, Hoang Cam Tu

(1997), Is There a Role fo r Child Psychiatry in Vietnam? Australian

aid New Zealand Journal o f Psychiatry, 31: 114-119

7 Hoàng Cẩm Tú: Nguyên nhân rối loạn hành vi và bị ngược đãi

cia trẻ em và vị thành niên Báo cáo tồng kết đề tài cấp Bộ, 1999.

8 Hoàng Cẩm Tú: Bước đầu nghiên cứu SK TT của học sinh tại

nột số trường THCS Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ, 2004.

9 Hoàng Cẩm Tú: Nghiên cứu cơ sờ lý luận khoa học và thực tiễn

cể xây dựng chiến lược nâng cao SK TT trẻ em 2001-2010 Báo cáo tổng

let đề tài nhánh II cùa đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu cơ sở lý luận kioa học và thực tiễn để xây dựng chiến lược Bảo vệ và Chăm sóc trẻ

en 2001-2010.” 2000, của UBBV&CS Trẻ ein TW

10 Nguyền Khắc Viện, Vũ Thị Chín, Nguyễn Thị Nhất Bùn về

ạtan hệ xã hội cùa trẻ em Tài liệu khoa học, Trung tâm N-T, 46 Trần

ĩưng Đạo, Hà nội

11 Trẻ em trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của Đảng và

mà nước ta Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1999

12 Chương trình CSSKTT cộng đồng

13 Chiến lược CSSK trẻ em 2001-2010

14 Chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em giai đoạn từ 2001-

2) 10.

15 Chiến lược phát triển giáo dục 2001 -2010

16 Đặng Bá Lãm, Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỳ

/X I - Chiến lược phát triển, NXB Giáo dục, 2003.

17 Khảo sát sức khỏe tâm thần học sinh trường Thành phố Hà fội: Dự án hợp tác nghiên cứu: Sở y tế Hà Nội - Bệnh viện Tâm thần lan ngày Mai Hương, Trung tâm SKTT Quốc tế, Trường Đại học Nelboume - Australia, 2004-2006

Trang 35

18 Khoa Y tế công cộng, Tổ chức Cứu trợ trẻ em Thụy Điển Rối

nhiễu tám trí ở học sinh tiểu học tinh Vĩnh Phúc, 2006.

Tóm tắt

Trẻ em là một cá thể phát triển và chịu tác động của các yếu tố sinh học, môi trường gia đình, trường học và xã hội, trong từng giai đoạn phát triển đòi hỏi có sự chăm sóc phù hợp để trẻ có được sức khoẻ tâm thần (SKTT) cân bằng Ngược lại sự chăm sóc không hợp lý

sẽ làm tổn thương tâm lý dẫn đến các nhiễu loạn SKTT từ tuổi ấu thơ đến trưởng thành

Vì vậy, quan niệm về SK TT trẻ em ngày nay được xem là một thế liên tục từ phát triển tâm lý bình thường về các mặt đến bắt thường bệnh lý, từ nhẹ đến nặng, có tính chất nhất thời hoặc kéo dài.

Tỷ lệ chung cùa các nhiễu loạn SKTT trong trẻ em khoảng 10- 25%, trong đó các nhiễu loạn tâm lý chiếm 80% và chỉ 20% là các rối loạn nặng của bệnh tâm thần Đồng thời người ta cũng đã biết các nhiễu loạn thường mắc đặc trưng cho từng giai đoạn tuổi và các yếu tố tác động

Việc dự phòng, phát hiện và can thiệp sớm có hiệu quả ở tuổi trẻ

em sẽ giúp giảm bớt tỷ lệ của các rối loạn tâm thần ờ tuổi vị thành niên

và người lớn, giảm gánh nặng cho cá nhân và gia đình, giảm chi phí cho hệ thống y tế và cộng đồng

Cần phải đào tạo cán bộ chuyên môn trong hệ thống chăm sóc SKTT liên ngành như tâm lý lâm sàng, cán bộ xã hội, giáo viên, xây dựng mạng lưới chăm sóc SKTT cho trẻ em tại trường học và cộng đồng Thúc đẩy công tác tham vấn và tư vấn về SKTT

Trang 36

At the present, mental health is considered as a continuous dimension, from normal psychological functioning to pathological states ranging from minor to so serious as to be life-threatening, and acute (temporary) or chronic.

The percentage o f children estimated to experience a mental disorder ranges from 10 to 20%, with 80% experiencing psychological disorders (e.g., separation anxiety) and 20% experiencing psychiatric disorders (e.g., schizophrenia)

The assessment, prevention, and effective early intervention of mental health problems among children will help reduce the

Trang 37

percentage of mental disorders among adults, and will decrease the national expenditure for health care for the family, the community and the public health service.

There is an urgent need to train specialists in mental health care, and this training must be multi-disciplinary in nature, as to prevent, treat, and research children’s mental health problems requires the efforts o f clinical psychologists, teachers, social workers and physicians It also will be necessary to develop a menial health care network in schools and communities, providing counseling in environments easily accessible to children and their families

Trang 38

BÀI 3

C H Ư Ơ N G T R Ì N H Đ À O T Ạ O N G H I Ê N cứu

S Ứ C K H O Ẻ T Â M T H Ầ N T R Ẻ E M V I Ệ T N A M

PGS.TS.Weiss Bahr

Đại học Vanderbilt, Giám đốc Chương trình

Báo cáo nàv tổng kết các mục tiêu và việc thực hiện chương trình

à o tạo nghiên cứu sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam cùa chúng tôi.Ngày 13 tháng 2 năm 2001 Trung tâm quốc tế Fogartv thuộc

^iện Sức khoẻ Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) công bố “Các yêu cầu đối với (ề xuất dự án “của Viện đối với Chương trình Trợ giúp đào tạo rghiên cứu về hoạt động sức khoẻ lâm sàng quốc tế (International Clinical Operational Health Research Training Award - ICOHRTA) (hương trình ICOHRTA có mục tiêu xây dựng năng lực cho các rước có thu nhập thấp và trung bình để áp dụng các tiến bộ của nịhiên cứu vào việc chăm sóc và điều trị các bệnh không truyền miềm, bao gồm cả sức khoẻ tâm thần Tổ chức Y tế Thế giới đánh

gá rằng đến năm 2020 các bệnh không lây nhiễm sẽ chiếm tới 60% ginh nặng bệnh tật trên thế giới

Việc chuẩn bị đề xuất xin tài trợ cho dự án này được chúng tôi bắt

ầ u vào tháng 3 năm 2001 Đề nghị đó được đệ trinh lên NIH sau đó 2 tìáng, vào tháng 5 năm 2001 Đề nghị này đã được đưa ra xem xét và piê duyệt về tài chính vào tháng 8 năm 2001 NIH đã phê duyệt 14 dự

ái đào tạo, 3 trong số đó là các dự án phát triển Hợp tác về phía

Trang 39

ICOHRTA bao gồm Peru, Hong Kong, Việt Nam, Nam Phi, Thổ Nhĩ

Kỳ, Ản Dộ, Brazin, Cộng hoà Séc, Ukraina, Ba Lan và Trung Ọuốc Các trường đại học ở Mỹ tài trợ cho chương trình cũ: Trường ĐH John Hopkins, Trường ĐH Rochester, Trường ĐH California L.A, Trường

ĐH Harvard, Trường Y, Trường ĐH Yale, Bệnh viện Nhi Boston, Trường ĐH Washington, Trường ĐH California San Francisco, Trường ĐH California Berkeley, Trường ĐH Alabama Birmingham, Trường ĐH Michigan ở Ann Arbor, Trường ĐH Stanford và Trường

ĐH Vanderbilt

Dự án cùa chúng tôi là một trong ba dự án phát triển (thừ nghiệm ) Do đó, mục đích tổng thể của dự án là xem xét và đánh giá các cách tiếp cận đào tạo khả dĩ khác nhau trong việc nghiên cứu sức khoè tâm thần trẻ em, với mục đích cuối cùng là phát triển và thực hiện chương trình đào tạo toàn diện trong tương lai

Mặc dù NIH vẫn chưa chính thức bắt đầu lại chương trình theo đề xuất mới, (họ dự định thực hiện điều này vào cuối năm 2004), khi họ bắt đầu lại chương trình, dựa theo kinh nghiệm chúng tôi có từ chương trình thử nghiệm, chúng tôi dự định đệ trình một chương trình đào tạo ICOHRTA 5 năm

Sau đây là diễn biến và kết quả giai đoạn thử nghiệm

1 Năm thứ 1

a M ục đích

Trong năm thứ nhất, mục đích của chúng tôi là phát triển các mối quan hệ hợp tác ở Việt Nam và tiến hành các đánh giá về những nhu cầu và nguồn lực của Việt Nam trên phương diện sức khoẻ tâm thần trẻ em và nghiên cứu

b Thực hiện

Tháng 12, Dr David Sang, Ms.Vicky Ngô và Dr Bahr Weiss đến

Hà Nội và cùng với Dr Hoàng c ẩ m Tú và Dr Đặng Bá Lãm có những cuộc thảo luận bước đầu về chương trình Sau đó chúng tôi tiếp xúc

Trang 40

với 27 tô chức khác nhau ở miên Bãc, miên Nam và miên Trung Việt Nam để giới thiệu với các tổ chức trong cả nước và tiếp nhận những phản ứng, nhận xét của họ về Chương trình, tiến hành những đánh giá

về điểm mạnh và các nhu cầu về phát triển các mối quan hệ hợp tác trong nước Các tổ chức sau đây đã giúp chúng tôi tổ chức các cuộc thào luận: Ở Hà Nội có Viện Nhi Quốc gia; Viện Nghiên cứu Phát triển giáo dục; Bệnh viện Tâm thần Trung ương; Khoa Giáo dục đặc biệt - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Viện Tâm lý học- Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia; Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em; UNICEF, Hội Tâm lý và giáo dục Việt Nam; Viện Sức khoẻ tàm thần (Bệnh viện Bạch Mai); Vụ Hợp tác quốc tế - Bộ Y tế, Khoa Tâm lý - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Trung tâm tư vấn và thực hành tâm lý; Các cựu binh Việt Nam của Quỹ Hoa Kỳ Ờ miền Trung có Bệnh viện Tâm thần Đà Nằng; Sở Giáo dục và Đào tạo

Đà Nằng; Đại học Y Huế; Bệnh viện Trung ương Huế Ờ miền Nam có Viện Sức khoẻ tâm thần - chi nhánh c ầ n Thơ; Trung tâm Sức khoẻ Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh; Bệnh viện Tâm thần Biên Hoà; Khoa Tâm lý - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh; Hội Tâm lý và Giáo dục học (Văn phòng phía Nam)

Sau nhũng cuộc gặp gỡ đó, chúng tôi đó có được những kết luận sau:1) Những nhà chuyên môn về sức khoẻ tâm thần và giáo dục hiểu

và chấp nhận một định nghĩa rộng các vấn đề về sức khoẻ tâm thần trẻ

em, tương tự như ờ các nước phương Tây, nơi mà các định nghĩa về sức khoẻ tâm thần là bao gồm cả lạm dụng chất kích thích, phạm tội và

sự ức chế V.V Những người ngoài những lĩnh vực này như các chính trị gia và cộng đồng nói chung, có quan niệm khá cổ điển và hạn hẹp

về sức khoẻ tâm thần, trong giới hạn các lĩnh vực như tâm thần phân liệt và chậm phát triển trí tuệ

2) Những nhà chuyên môn quan niệm các vấn đề sức khoẻ tâm thần trẻ em như là một vấn đề nghiêm túc mà Việt Nam đang đối mặt,

và họ tin ràng lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học có thể có những đóng góp quan trọng để giải quyết những vấn đề đó Những người

Ngày đăng: 20/12/2019, 00:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w