1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp hỗ trợ của Công tác xã hội đối với vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em tại trường trung học cơ sở Tân Trường-Cẩm Giàng-Hải Dương

145 984 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 722,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lê Thị Ngọc Dung ngiên cứu ‘Can thiệp và phòng ngừa các vấn đề sức khoẻ tinh thần trẻ em ở TP Hồ Chí Minh.” Các công trình nghiên cứu trên đã phân tích về vấn đề sức khoẻ tâm thần trẻ em

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp là kết quả nghiên cứu của sinh viên, mang tính khoa học

và tổng hợp, thể hiện kết quả tập và khả năng nghiên cứu của sinh viên trong suốt thời gian theo học tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trong suốt quá trình làm khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội với đề tài “Một số biện pháp hỗ trợ của Công tác xã hội đối với vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em tại trường Trung học cơ sở Tân Trường-Cẩm giàng-Hải Dương”

em đã nhân được sựu giúp đỡ quý báu của các thầy cô, bạn bè Với lòng kính trọng

và biết ơn sâu sắc em xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới: Ban chủ nhiệm khó Công tác xã hội trương Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận Dặc biệt

em xin gửi lời cám ơn sâu ắc tới cô Nguyễn Thị Mai Hương, if đã hướng dẫn, giúp

đỡ em trong suốt thời gian làm và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.(lỗi chính tả quá nhiều)

Đồng thời em xin gửi lời cám ơn tới Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo, các phụ huynh, sinh viên tại trường đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận Do kinh nghiệm còn hạn chế, thời gian có hạn nên trong quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận mặc dù đã cố gắng nhưng khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhân được sự đóng góp của các thầy

Trang 2

ĐỀ TÀI

“ Một số biện pháp hỗ trợ của Công tác xã hội đối với vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em tại trường trung học cơ sở Tân Trường-Cẩm Giàng-Hải Dương”

Danh mục chữ viết tắt

THCS: Trung học cơ sở

SKTT: Sức khỏe tâm thần

SKTTTE: Sức khỏe tâm thần trẻ em

RLTT: Rối loạn tâm thần

CTXH: Công tác xã hội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Sức khỏe tâm thần của trẻ em là nguồn lực giúp các em sống khỏe mạnh, là nền tản cho chất lượng cuộc sống, giúp cá nhân ứng phó một cách tự tin và hiệu quả trước những thách thức, nguy cơ trong cuộc sống Sức khỏe tâm thần giúp các

em có một sinh khí để hoạt động tích cực, thành đạt trong cuộc và trong các mối quan hệ xã hội trên nền tảng công bằng và tôn trọng lẫn nhau

Ngày nay chăm sóc sức khỏe tâm thần cho trẻ em là một trong ba chương trình lớn của chăm sóc sức khỏe cho trẻ em (Tai nạn, Nhiễm khuẩn và Sức khỏe tâm thần) Cùng với những biến động về kinh tế, văn hóa, xã hội, đô thị hóa nhanh, quá trình toàn cầu hóa về thông tin … đã tác động nhiều đến tâm lý con người nói chung và đặc biệt là trẻ em nói riêng Tỷ lệ trẻ em bị rối loạn tâm thần và các bệnh liên quan đến sức khoẻ tâm thần ngày càng tăng cao tạo gánh nặng phải giải quyết cho xã hội Tại các trường học, do áp lực học tập và các vấn đề về tâm lý lứa tuổi mới lớn nên học sinh gặp rất nhiều vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần, như: stress, lo âu, ám ảnh, trầm cảm, rối loạn hành vi, tự sát, các biểu hiện suy nhược và rối loạn dạng cơ thể khác

Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay việc chăm sóc sức khỏe tâm thần cho trẻ em và thanh thiếu niên chưa được nhà nước và các ban ngành quan tâm, đặt ngang tầm quan trọng mà nó cần có Nên vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại và hạn chế trong việc chăm sóc nâng cao sức khoẻ tâm thần nói riêng và sức khoẻ nói chung

Trường THCS Tân Trường – Cẩm Giàng – Hải Dương là một trường nằm ở trung tâm của Huyện Cẩm Giàng có điều kiện kinh tế phát triển Ở địa bàn của trường có các khu công nghiệp, dịch vụ mới được xây dựng và phát triển đã khiến đời sống của người dân ngày càng khá giả, tuy nhiên họ cũng phải đối mặt với một

số vấn đề xã hội cấp bách: tệ nạn xã hội nảy sinh, nhiều lao động dư thừa… Điều này ảnh hưởng đến quá trình giáo dục cho thế hệ trẻ của Huyên Trường THCS Tân Trường là ngôi trường có truyền thống dạy tốt – học tốt của tỉnh Hải Dương Trong

Trang 4

những năm qua, nhà trường đã có những hoạt động thi đua học tốt, phát động học sinh tham gia tích cực các hoạt động ngoại khoá, các phong trào Đoàn – Hội, thông qua những hoạt động này đã bồi đắp tinh thân hiếu học, và nâng cao sức khoẻ thể chất cũng như tinh thần cho các em học sinh trong trường Nhưng do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, xã hội, áp lực học tập, thi cử, hiện tượng thương mại hoá giáo dục… điều này đã tạo nên những áp lực đối với học sinh và nảy sinh các vấn

đề về sức khoẻ tâm thần của học sinh tại trường Tỷ lệ học sinh trong trường có những biểu hiện về sức khoẻ tâm thần như trầm cảm, lo âu hoặc bị rối loạn hành vi: bạo lực, nghiện game … ngày càng tăng lên Điều đó đã ảnh hưởng đến kết quả học tập cũng như sức khoẻ, tương lai của các em Vấn đề này được nhà trường rất quan tâm và đã có nhiều biện pháp khắc phục, nhưng đều chưa đạt hiệu quả

Là một sinh viên ngành công tác xã hội, trước thực trạng và lý do trên nên tôi

chọn đề tài nghiên cứu: “ Một số biện pháp hỗ trợ của Công tác xã hội đối với vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em tại trường THCS Tân Trường-Cẩm Giàng- Hải Dương” nhằm góp phần nâng cao nhận thức về vấn đề sức khỏe tâm thần cho

các em học sinh tại trường THCS Tân Trường tỉnh Hải Dương Qua đó phần nào giúp nhà trường, phụ huynh học sinh có các biện pháp chăm sóc nâng cao chất lượng sức khoẻ tâm thần của các em

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Vấn đề sức khoẻ tâm thần nói chung và sức khoẻ tâm thần trẻ em nói riêng đã được nhiều nhà khoa học, tổ chức trong và ngoài nước nghiên cứu Có thể kể đến một số công trình và tác giả tiêu biểu:

- Hoàng Cẩm Tú, Quách Thuý Minh, Nguyễn Hồng Thuý nghiên cứu về “ Nguyên nhân rối loạn hành vi và bị ngược đãi của trẻ em và vị thành niên” - đề tài cấp

Bộ, 1999.

Trang 5

- Hoàng Cẩm Tú “Nghiên cứu cơ sở lý luận khoa học, thực tiễn đề xuất chiến lược chăm sóc sức khoẻ tâm thần trẻ em Việt Nam từ 2001-2010”

- TS Nguyễn Thị Thanh Bình (Trường ĐHSP TP HCM) nghiên cứu về “sức khoẻ tâm thần trẻ em.” Tháng 12, 2007.

- TS Lã Thị Bưởi, CN Lã Linh Nga, CN Đặng Thanh Hoa (Trung tâm nghiên cứu và phát triển cộng đồng) nghiên cứu về ‘Bước đầu nhận xét các hoạt động chăm sóc sức khoẻ tâm thần trẻ em dựa vào phòng khám TUNA” Năm 2007.

- TS Văn Thị Kim Cúc nghiên cứu “vài suy nghĩ qua một số ca trầm cảm ở sinh viên”

- TS Lê Thị Kim Dung, TS Lã Thị Bưởi, TS Đinh Đăng Hoè và cs ( Trung tâm nghiên cứu và phát triển cộng) nghiên cứu về một số yếu tố ảnh hưởng đến SKTT của học sinh ở một số trường THCS.

- ThS Lê Thị Ngọc Dung ngiên cứu ‘Can thiệp và phòng ngừa các vấn đề sức khoẻ tinh thần trẻ em ở TP Hồ Chí Minh.”

Các công trình nghiên cứu trên đã phân tích về vấn đề sức khoẻ tâm thần trẻ em, những nguyên nhân tác động, và tìm hiểu về những hoạt động chăm sóc sức khoẻ tâm thần trẻ em tại một số trung tâm và bệnh viên cũng như đưa ra những biện pháp can thiệp phòng ngừa các vấn đề sức khoẻ tâm thần trẻ em tại Việt Nam, như: can thiệp dựa vào cộng đồng phòng chống rối nhiễu tâm trí, nghiên cứu thử nghiệm tìm kiếm chiến lược với chi phí giá thành hiệu quả trong chăm sóc sức khoẻ tâm thần cho người dân tại các vùng nghèo và bất lợi, chăm sóc sức khoẻ tâm thần, qua sử dụng thực phẩm phi hoá chất và phòng chống thiếu hụt vi chất, và nghiên cứu định hướng chính sách cho chăm sóc sức khoẻ tâm thần tại Việt Nam

Những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ

em ở các khía cạnh, mức dộ khác nhau Tuy nhiên chưa có đề tài nào đi sâu nghiên

Trang 6

cứu vấn đề vai trò của Công tác xã hội trong việc giải quyết các vấn đề sức khỏe

tâm thần trẻ em Do đó tôi chọn đề tài “Một số biện pháp hỗ trợ của Công tác xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em tại trường THCS Tân Trường–Cẩm Giàng–Hải Dương” để làm đề tài khoá luận tốt nghiệp Nhằm phân

tích tình hình sức khỏe tâm thần trẻ em, và vận dụng phương pháp của Công tác xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em

3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Một số biện pháp hỗ trợ của Công tác xã hội đối với vấn đề sức khỏe tâm thần

trẻ em tại trường THCS Tân Trường–Cẩm Giàng–Hải Dương

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu hệ thống lý luận có liên quan đến việc chăm sóc sức khỏe tâm thần.Tìm hiểu thực trạng các vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em tại trường THCS Tân Trường

Trang 7

Biện pháp can thiệp của Công tác xã hội trong việc giải quyết các vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em

5. Giả thuyết khoa học

Việc chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em tại trường THCS Tân Trường chưa được quan tâm đúng mức

Những hoạt động trợ giúp của nhân viên Công tác xã hội sẽ có tác động tích cực trong việc chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em của Trường THCS Tân Trường

6. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài cần sử dụng phối hợp các hệ thống phương pháp sau:

6.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Nghiên cứu và phân tích các tài liệu liên quan gồm:

- Các tư liệu, tạp chí thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần cho trẻ em

- Các bài viết nghiên cứu của các cơ quan về vấn đề chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em

6.2 Phương pháp quan sát

Quan sát nhằm thu thập thông tin , quan sát xung quanh nhà trường để xem nhà trường đã có những biện pháp nào để nâng cao kiến thức cho học sinh về sức khỏe tâm thần như các hoạt động vui chơi giải trí,lồng ghép vào các môn học …

6.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu để điều tra thông tin về các vấn đề SKTT trẻ

em tại trường THCS Tân Trường-Cẩm Giàng- Hải Dương, các dịch vụ chăm sóc SKTT trẻ em tại đây từ trước cho tới nay Và những nhu cầu của các em học sinh trong vấn đề chăm sóc SKTT

6.4 Phương pháp Công tác xã hội

7. Đóng góp khoa học của đề tài

7.1 Ý nghĩa lý luận

Trang 8

Nghiên cứu có ý nghĩa về mặt lý luận sâu sắc Thông qua nghiên cứu này, nâng cao kiến thức sức khỏe tâm thần cho gia đình, nhà trường, xã hội; nhìn nhận của toàn xã hội về vấn đề chăm sóc sức khỏe tâm thần cho trẻ em được tốt hơn Vấn đề phòng ngừa những hành vi rối loạn tâm thần trẻ em từ góc độ khoa học, mô

tả và đánh giá vấn đề bằng những lý thuyết của khoa học công tác xã hội Góp phần vào hệ thống nghiên cưu sức khỏe tâm thần trẻ em

Đồng thời, những kiến thức từ thực tế được bổ sung làm phong phú thêm kho tàng kiến thức lý thuyết Công tác xã hội trong việc nâng cao sức khỏe tâm thần trẻ em

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Công tác xã hội là một khoa học mang tính ứng dụng cao, thông qua mô hình công tác xã hội phát triển cộng đồng có thể thấy Công tác xã hội giúp ích nhiều cho quá trình cải thiện những vấn đề xã hội trong thực tiễn, hỗ trợ các chương trình chăm sóc sức khỏe cho người dân nói chung và sức khỏe tâm thần trẻ

em Đồng thời, từ thực trạng vấn đề chăm sóc sức khỏe tâm thần cho trẻ em tại trường THCS Tân Trường–Cẩm Giàng–Hải Dương có thể đưa ra những khuyến nghị nhằm giúp các cơ quan chức năng và ban nghành liên quan có những biện pháp tốt hơn chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em, ngăn ngừa các hành vi rối loạn liên quan ảnh hưởng đến quá trình học tập của các em

8.3 Bố cục đề tài

Chương 1 Cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2 Thực trạng hoạt độngchăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em tại trường THCS Tân Trường-Cẩm Giàng-Hải Dương

Chương 3 Một số biện pháp Công tác xã hội nhằm nâng cao sức khỏe tâm thần trẻ em tại trường THCS Tân Trường-Cẩm Giàng-Hải Dương

Trang 9

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Những vấn đề cơ bản về vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em

1.1.1. Khái niệm sức khỏe tâm thần

1.1.1.1. Sức khỏe

Kh¸i niÖm søc kháe: Søc kháe lµ mét tr¹ng th¸i khoÎ m¹nh hoµn h¶o vÒ thÓ

chÊt, tinh thÇn vµ chøc n¨ng x· héi cña mçi con ngêi trong suèt qu¸ tr×nh sinh

Trang 10

trởng, tồn tại và phát triển mà không đơn thuần chỉ là không ốm đau hay bệnh tật.

Một ngời khỏe mạnh phải đảm bảo ba yếu tố: Có thể lực tốt, tinh thần tốt và thực hiện đợc các chức năng xã hội

+ Thứ nhất, con ngời có thể chất và tình trạng thể lực tốt: tức là đợc đảm bảo về dinh dỡng, các chỉ số về cơ thể (chiều cao, cân nặng) và các cơ quan của cơ thể phát triển bình thờng, cân đối, phù hợp với lứa tuổi, giới theo mức chuẩn thểlực chung của xã hội Nh vậy, ngời quá béo, quá gầy, quá cao, quá thấp đều có sức khỏe thể chất không tốt

Từ sự phát triển khỏe mạnh về thể lực là điều kiện cơ bản để có thể thực hiện chức năng duy trì nòi giống của con ngời với các thế hệ kế tiếp khỏe mạnh và

là điều kiện để học tập, tiếp nhận tri thức, rèn luyện kỹ năng đảm bảo thực hiện lao động sản xuất ra của cải vật chất, của cải tinh thần cho xã hội

+ Thứ hai, con ngời có đời sống tinh thần và tâm lý ổn định, lành mạnh: Không

bị đe dọa, ép buộc làm những điều mà bản thân không muốn hay làm những

điều có hại cho chính mình vì sự thiếu hiểu biết; Đợc sống trong môi trờng an toàn, không có áp lực về tâm lý và tình cảm, đợc tự do quyết định những vấn đề liên quan đến cuộc sống, công việc, hạnh phúc gia đình dựa trên giá trị xã hội

và đặc điểm nhận thức, tâm sinh lý của họ

+ Thứ ba, đợc đảm bảo về giá trị và thực hiện đầy đủ chức năng xã hội: Con

ngời đợc tạo điều kiện và đảm bảo thực hiện những mong muốn, hành động để

đạt đợc những giá trị xã hội cao nhất mà họ có thể đạt đ ợc về học vấn, văn hóa, tay nghề, việc làm, quan hệ và vị trí xã hội Các giá trị xã hội mà cá nhân đạt đ-

ợc là cơ sở để họ có ý thức, thái độ, trách nhiệm đúng đắn với bản thân, cộng

đồng, trong đó có thái độ, hành vi dân số, hoạt động tình dục cũng nh thực hiện quá trình sinh sản phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội

Như vậy, sức khỏe bao gồm một trạng thỏi vật lý và tinh thần miễn nhiễm

Trang 11

cách tốt nhất có thể trong môi trường sống của mình Có sức khỏe tức là có khả năng thích ứng với môi trường hoặc chịu đựng được trước những biến đổi của nó (René Dubos).

1.1.1.2. Sức khỏe tâm thần

Với thuật ngữ đơn giản nhất, sức khỏe tâm thần là khả năng "đương đầu và

thích ứng với những căng thẳng của cuộc sống theo một cách thức có thể chấp nhận được" (Anderson, 1994) Những con người có sức khỏe tâm thần lành mạnh

có khả năng thực hiện thành công những hoạt động trong cuộc sống hàng ngày, giải quyết các vấn đề, thiết lập các mục tiêu, thích ứng với thay đổi và yêu thích cuộc sống Họ hiểu được chính mình, tự đinh hướng và chịu trách nhiệm về những hành động của mình Nói tóm lại, người có sức khỏe tâm thần lành mạnh có khả năng đương đầu tốt.

Sức khỏe tinh thần biểu hiện ở chỗ con người cảm thấy hài lòng, thỏa mãn, vui tươi, yêu đời, tự tin, từ đó mà quản lí được hành vi của mình và cư xử đúng mực và tôn trọng mọi người xung quanh trên cơ sở ý thức đầy đủ về giá trị của bản thân…, có ý nghĩa quan trọng vô cùng trong đời sống con người nói riêng và xã hội nói chung Về phần mình, sức khỏe tinh thần tác động trở lại đến sức khỏe thể chất : con người lạc quan, mãn nguyện với mình và với môi trường xung quanh sẽ

có một sức khỏe tốt hơn Con người có sức khỏe thể chất và tinh thần tốt sẽ làm cho xã hội lành mạnh, ít tệ nạn; tránh được bệnh tật và đặc biệt là các bệnh tâm thần; và ngược lại, một xã hội lành mạnh, tươi đẹp sẽ làm cho các cá nhân trong xã hội đó có nhiều cơ hội thụ hưởng một sức khỏe tinh thần tốt Sức khỏe tinh thần không chỉ ảnh hưởng lên cuộc sống cá nhân mỗi người, mà còn làm cho họ có khả năng ứng phó nhanh nhẹn và thích hợp với các khó khăn của cuộc sống Khi ấy, con người sẽ hạnh phúc với cuộc sống gia đình, thành công trong công việc, hài hòa trong diện mạo, lạc quan yêu cuộc sống, yêu đồng loại, yêu thiên nhiên…

Trang 12

Sức khỏe tâm thần gắn liền với sức khỏe thể chất, và cũng quan trọng như sức khỏe thể chất nhằm đem lại sự khỏe mạnh cho các cá nhân, xã hội và đất nước Những hành vi liên quan đến sức khỏe tồn tại trên một phạm vi rất rộng, thường có

liên quan đến thể liên tục của sức khỏe - bệnh tật.

Sức khỏe tâm thần bị ảnh hưởng bởi 3 yếu tố: những đặc điểm vốn có của bản thân mỗi người (thể chất, tinh thần), sự nuôi dưỡng thời thơ ấu và hoàn cảnh sống Khi rắc rối nảy sinh ở bất kỳ một trong ba lĩnh vực này, nguy cơ hình thành những hành vi đương đầu không hiệu quả gia tăng Nếu những hành vi không hiệu quả hay không thích nghi tốt gây cản trở các hoạt động thường ngày, suy giảm khả

năng phán xét, hay biển đổi thực tế, thì người đó được coi là bị bệnh tâm thần

Một rối loạn tâm thần (hay bệnh tâm thần) là sự xáo trộn khả năng đương đầu hiệu quả của một người gây ra những hành vi không phù hợp và các chức năng bị suy giảm

SKTT bao gồm hai khía cạnh:

• SKTT tốt: Đạt các chuẩn phát triển tâm lý bình thường của lứa tuổi mình, và không có biểu hiện tổn thương về nhận thức-cảm xúc và hành vi

• SKTT bị tổn thương có 2 nhóm rối loạn:

- Các rối loạn tâm thần nặng, mãn tính hoặc các khuyết tật về tâm thần như tâm thần phân liệt, loạn thần cảm xúc, tự kỷ, di tật tâm thần…(10-20%)

- Các trạng thái không thoải mái về tâm lý do căng thẳng bởi các chấn thương tâm lý từ phía môi trường sống gia đình, trường học, văn hoá xã hội, cộng đồng

nh rối loạn ngủ, biếng ăn, mệt mỏi, giảm chú ý, quá hiếu động, giảm sút học tập, thiếu hứng thú, xa lánh, ngại giao tiếp, lo sợ hốt hoảng, buồn chán, tự tử đến rối

Trang 13

loạn hành vi chống đối, làm trái pháp luật, nghiện hút (chiếm tỷ lệ lớn từ 80-90% trong SKTT).

Như vậy rối loạn SKTT có rất nhiều dạng, cũng giống như các rối loạn thực thể Các rối loạn SKTT là rất thông thường Theo số liệu của WHO năm 2001, cứ bốn người thì có 1 người có vấn đề về SKTT ở một thời điểm nào đó trong cuộc đời Dưới sự giúp đỡ của WHO, các quốc gia đã xây dựng chiến lược chăm sóc SKTT toàn diện, bao gồm cả việc tuyên truyền để nâng cao nhận thức của người dân và giảm bớt các định kiến không hợp lý Ở Việt Nam, năm 2000, Bộ Y tế đã xây dựng chương trình quốc gia về chăm sóc SKTT cộng đồng cũng như đưa ra

mô hình chăm sóc sức khỏe toàn diện cho con người

Như vậy, sức khỏe tâm thần là một khái niệm rộng hơn bệnh tâm thần Mỗi nền văn hóa lại có những định nghĩa khác nhau về bệnh tâm thần Việc xác định bệnh tâm thần sẽ tác động đến cách thức trị liệu [7]

1.1.2. Sức khỏe tâm thần trẻ em

1.1.2.1. Khái niệm sức khỏe tâm thần trẻ em

Trẻ em:

Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2005 tại Điều 1 quy định:

“Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” Theo quy định, trẻ em có hai đặc trưng, một là công dân Việt Nam và hai là độ tuổi được xác định là dưới 16 Như vậy, những người có quốc tịch Việt Nam dưới 16 tuổi là đối tượng điều chỉnh của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam

Hiệp ước về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa một đứa trẻ là

"mọi con người dưới tuổi 18 trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em, tuổi trưởng thành được quy định sớm hơn Về mặt sinh học, một đứa trẻ là bất kỳ ai trong giai đoạn phát triển của tuổi thơ ấu, giữa sơ sinh và trưởng thành.

Trang 14

Trẻ em được có bốn nhóm Quyền

• Quyền được sống còn

• Quyền được bảo vệ

• Quyền được phát triển

• Quyền được tham gia

Sức khỏe tâm thần trẻ em:

Sức khỏe tâm thần trẻ em không chỉ là một trạng thái sức khỏe không có rối loạn hay dị tật về tâm thần, mà còn là trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái, có hành vi lành mạnh phù hợp với chuẩn mực xã hội và có được sự cân bằng và hòa hợp giữa bản than trẻ em với môi trường xung quanh và môi trường xã hội

Đặc điểm của SKTTTE:

1 Trẻ có một cuộc sống thật sự thoải mái

2 Trẻ đạt được niềm tin và giá trị vào bản thân, vào phẩm chất và giá trị của người khác

3 Trẻ có khả năng ứng sử bằng cảm xúc, hành vi hợp lý trước mọi tình huống

4 Trẻ có khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển một cách thỏa đáng các mối quan hệ

5 Trẻ có khả năng tự hàn gắn để duy trì, cân bằng khi có các sự cố gây mất thăng bằng, căng thẳng, stress

Chăm sóc SKTT cho trẻ em là một trong ba chương trình lớn của chăm sóc sức khoẻ (tai nạn, nhiễm khuẩn, SKTT) cùng với những biến động về kinh tế, văn hoá, xã hội, đô thị hoá nhanh, toàn cầu hoá về thông tin, nền công nghiệp phát triển, cạnh tranh thị trường đã tác động nhiều đến tâm lý con người nói chung và trẻ em nói riêng làm cho tỷ lệ RLTT tăng cao gây ra gánh nặng cho toàn xã hội Một số nghiên cứu cho thấy trầm cảm, lo âu ở Mỹ là 10-18%, úc 10%, Singapo 13,5% RLHV ở Mỹ 13%, úc 9%, Singapo 10% Tự sát : trong số những người tự sát có 10% trẻ em(Mỹ) Ở Việt Nam, nhu cầu chăm sóc SKTT của trẻ em đang có

xu hướng gia tăng theo nhịp độ phát triển của xã hội Gần đây, những rối loạn hành

vi tập thể như đua xe, ngất tập thể (120 học sinh ở Xuân Ang), tự tử tập thể ở Hải Dương khiến mọi người chúng ta phải giật mình lo lắng

Trang 15

Tuy nhiên ở nước ta hiện nay, việc chăm sóc SKTT cho trẻ em và TTN chưa được nhà nước và các ngành liên quan, đặt ngang tầm quan trọng mà nó cần có Sức khỏe tinh thần của trẻ em có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sức khỏe xã hội Rối nhiễu tâm trí trẻ em tại Việt Nam cũng đang ngày càng gia tăng và tỷ lệ khá cao, chiếm khoảng 20% trẻ em (Trần Tuấn và cs, 2003).

Sức khoẻ tâm thần trẻ em là nguồn lực giúp các em sống khoẻ mạnh, là nền tảng cho chất lượng cuộc sống, giúp cá nhân ứng phó một cách tự tin và hiệu quả trước những thử thách, nguy cơ trong cuộc sống Sức khoẻ tinh thần giúp các em

có một sinh khí để hoạt động tích cực, thành đạt trong cuộc sống và trong các mối quan hệ xã hội trên nền tảng công bằng và tôn trọng lẫn nhau

Những rối loạn cảm xúc (emotinal disorder) như lo âu (anxiousness), trầm cảm làm giảm sút đáng kể sự phát triển và khả năng học tập của học sinh Các rối loạn hành vi (behavioral disorder) phá vỡ nghiêm trọng sự phát triển về mặt xã hội

và có thể dẫn tới mắc các chứng bệnh tâm thần về lâu dài Thông thường thời điểm các gia đình phát hiện ra con em mình bị bệnh thì đã quá muộn Các em đã bị mắc các chứng bệnh về tâm thần khó chữa trị Chính vì vậy, điều quan trọng là chúng ta cần can thiệp sớm giải quyết các xung đột gia đình, nhà trường, những rắc rối trong quan hệ của bố mẹ, thầy cô giáo, những người xung quanh với trẻ Giải tỏa xung đột sẽ giúp ngăn ngừa hữu hiệu những hậu quả có hại cho sức khoẻ tinh thần trẻ

em trong tương lai

1.1.2.2. Các giai đoạn phát triển tâm thần trẻ em

Giai đoạn 0-36 tháng tuổi

Đây là giai đoạn bứt phá lần thứ nhất trong cuộc đời và là lần bứt phá nhanh nhất Về thể chất, trẻ đạt các thành tựu cơ bản khi 2 tuổi, tạo cơ sở sinh lí để hình thành và phát triển các chức năng tâm lí của trẻ lên ba

Trang 16

Các thành tựu tâm – sinh lý của trẻ trước 3 tuổi là sự hình thành và vận hành các phản xạ có tính bẩm sinh; sự trưởng thành các giác quan; sự hình thành và phát triển các cấu trúc nhận thức giác - động, phát triển tri giác, trí nhớ và tư duy hành động với đồ vật; sự hình thành và phát triển mối tương tác giữa trẻ với người chăm nuôi và đồ vật xung quanh, qua đó hình thành các mối quan hệ mẹ con, các xúc cảm – tình cảm xã hội ban đầu; sự hình thành và phát triển ngôn ngữ ban đầu; sự hình thành và phát triển ý thức về bản thân, dẫn đến sự khủng hoảng của trẻ lên ba.Đặc điểm nổi bật trong sự hình thành và phát triển tâm lí của trẻ giai đoạn từ 0 đến 3 tuổi là sự hình thành các cấu trúc tâm lí sơ đẳng, riêng lẻ, không ổn định, được bắt đầu từ các chức năng tâm – sinh lí mang tính bẩm sinh Các tác nhân ảnh hưởng chủ yếu là sự trưởng thành của cơ thể, đặc biệt là hệ thần kinh và các tương tác giữa trẻ với người thân (đặc biệt là người mẹ) và với đồ vật xung quanh Vì vậy, thái độ và sự chăm sóc của người lớn, môi trường dinh dưỡng và vận dộng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của trẻ.

Giai đoạn 3-6 tuổi (tuổi mẫu giáo)

Cấu trúc nhận thức của trẻ mẫu giáo phát triển theo logic hình ảnh tinh thần – kí hiệu – biểu tượng Vốn biểu tượng về sự vật là thành tựu nổi bật trong nhận thức Hoạt động tri giác có vai trò chủ đạo Vốn ngôn ngữ cơ bản phong phú về ngữ nghĩa và ngữ pháp Số lượng từ rất lớn Câu hoàn chỉnh, đủ để trẻ độc lập trong giao tiếp và chuẩn bị cho học tập trong trường phổ thông

Tính duy kỉ là đặc trưng nổi bật trong sự phát triển tâm lí tuổi mẫu giáo Nó

có trong mọi lĩnh vực phát triển: nhận thức, thái độ và hành vi của trẻ, ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hoạt động của trẻ Tác nhân chủ yếu để khắc phục tính duy kỉ là quá trình xã hội hóa trẻ em thông qua sự tương tác tích cực giữa trẻ với người lớn

Trang 17

Tính hay sợ hãi chiếm vị trí trong tình cảm của trẻ mẫu giáo, nhất là ở những trẻ hay bị dọa dẫm, chúng thường rơi vào tình trạng căng thẳng và lo sợ Sự sợ hãi

ở trẻ có thể bị lây nhiễm từ người lớn Sự sợ hãi ảnh hưởng đến tình trạng thể lực

và tâm lí của trẻ trong quá trình phát triển Tuy nhiên sự lo sợ cho người khác lại là biểu hiện một khả năng đồng cảm rất cần được phát triển ở trẻ em

Giai đoạn 6-12 tuổi (tuổi nhi đồng)

Tốc độ phát triển thể chất diễn ra chậm hơn so với các lứa tuổi trước Quá trình phát triển êm ả, đồng đều theo xu hướng hoàn thiện về giải phẫu và chức năng của cơ thể, để chuẩn bị bước sang giai đoạn thứ hai với sự nhảy vọt là tuổi dậy thì Ảnh hưởng của sự phát triển thể chất đến phát triển tâm lí của tuổi nhi đồng không lớn và không trực tiếp như ở tuổi ấu nhi và mẫu giáo

Đối với trẻ tiểu học, thầy, cô giáo là người có đầy quyền lực và là thần tượng trực tiếp Trẻ có nhu cầu cao được bắt chước và noi theo các hành vi ứng xử của thầy cô giáo Học tập và tương tác xã hội là tác nhân quan trọng nhất chi phối sự phát triển tâm lí nhi đồng Sự cải tổ hoạt động và tương tác dẫn đến cải tổ lại hoạt động nhận thức: Chuyển trọng tâm từ duy kỉ sang nhận thức thế giới theo chuẩn bên ngoài Tính có chủ định chiếm ưu thế Các hành động nhận thức được tổ chức theo mục đích xác định Hình thành và phát triển các thao tác trí tuệ (thao tác tư duy) cụ thể

Sự phát triển lòng vị tha và hung tính là hai mặt trong sự hình thành và phát triển xúc cảm – tình cảm của học sinh tiểu học Sự phát triển đặc trưng tâm lí này gắn với các chuẩn mực đạo đức, trên cơ sở đó hình thành các hành vi đạo đức đúng đắn của trẻ em

Trẻ em phát triển với tốc độ nhanh chóng và liên tục thay đổi những khả năng tinh thần, xã hội và cảm xúc Mỗi giai đoạn cuộc đời bắt chuyển tiếp sang

Trang 18

giai đoạn khác Trong thực tế, không có sự phân chia rõ ràng về thời gian hay sự phát triển Nhiều vấn đề tâm thần - cảm xúc được chẩn đoán trong giai đoạn trưởng thành có nguồn gốc từ những trải nghiệm thời thơ ấu Trong các xã hội ngày nay,

"một số lượng lớn trẻ em và trẻ emcó những rối loạn hành vi hay cảm xúc nghiêm trọng không nhận được trị liệu tâm thần hay trị liệu không phù hợp với những nhu cầu của các em" Các chuyên gia làm việc trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần đóng một vai trò quan trọng trong việc nhận biết và trị liệu những vấn đề sức khỏe tâm thần bởi vì không có yêu thương và hỗ trợ của mọi người chúng ta nhiều trẻ phải chịu thất bại

Những vấn đề sức khỏe tâm thần ở thời thơ ấu được nhóm vào 7 loại bao gồm:

1.Những vấn đề môi trường: Nghèo đói, vô gia cư, xâm hại trẻ em, bạo lực 2.Những vấn đề trong những tương tác giữa cha mẹ - con cái: Mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái, cha mẹ không có khả năng đáp ứng những nhu cầu của trẻ

3.Những vấn đề về cảm xúc: Lo lắng, trầm cảm, những rối loạn thực thể (những dấu hiệu/ triệu chứng với những nguyên nhân tâm lý), rối loạn căng thẳng sau sang chấn

4.Những vấn đề về hành vi: Rối loạn tăng động giảm tập trung, rối loạn ứng

Trang 19

Giai đoạn 12-18 tuổi

Tong giai đoạn này trẻ phải đạt được sự hiểu biết và tự kiểm soát và đồng thời học cách đương đầu với việc sống và trưởng thành trong một thế giới biến động Hầu hết những vấn đề phổ biến của tuổi vị thành niên đều thuộc hai loại: những vấn đề nảy sinh từ chính bản thân trẻ và những vấn đề có nguồn gốc từ môi trường bên ngoài

Giai đoạn này là giai đoạn để trẻ em phát triển những sức mạnh cá nhân và những kỹ năng xã hội mà thúc đẩy hoạt động chức năng hiệu quả trong thế giới của người trưởng thành Đó là một giai đoạn liên quan đến những khuynh hướng cảm xúc to lớn, một trọng tâm tập trung vào bản thân, và những khuynh hướng tình dục

và hung hăng gia tăng Trong nỗ lực để đương đầu với những thay đổi này, trẻ em tham gia vào một loạt các hành vi Một số giúp các em thích nghi thành công, trong khi những hành vi khác lại đưa đến những kết quả tiêu cực Đây là thời gian

"thử nghiệm" những hành vi mới, và bất kỳ một định nghĩa nào về sức khỏe tâm thần phải cân nhắc thực tế này Định nghĩa về sức khỏe tâm thần, đặc biệt với trẻ

em bao gồm hai phần:

- Có sự bất thường trong những lĩnh vực tâm lý, cảm xúc, hành vi và xã hội

- Hoạt động chức năng tối ưu hay tình trạng hạnh phúc trong các lĩnh vực tâm lý và

xã hội

Từ bất thường có nghĩa là một suy yếu trong cuộc sống hàng ngày Điều đó cho thấy rằng những vấn đề mà trẻ em phải đối mặt quá nghiêm trọng đến nỗi không thể hay sẽ không tham gia vào các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày Khi những khó khăn của thanh thiếu niêm làm suy giảm kết quả học tập ở trường, biểu hiện xã hội, công việc hay de dọa đến sức khỏe, sẽ tồn tại một vấn đề về sức

Trang 20

khỏe tâm thần Những rối loạn tâm thần tác động đến trẻ em được liệt kê trong bảng dưới đây:

Những rối loạn hành vi: Rối loạn ứng xử, rối loạn tăng động giảm chú ý

Những rối loạn cảm xúc: Rỗi nhiễu lo âu, những rối loạn tâm trạng (trầm cảm, rối loạn căng thẳng sau sang chấn, những ý định và dự tính tự tử)

Những rối loạn ăn uống: Chứng biếng ăn, chứng cuồng ăn

Lệ thuộc hóa chất: Lạm dụng rượu, chất kích thích, caffein, cần sa, cocain, nicotine, chất gây ảo giác, thuốc phiện

Những rối loạn nhân cách: Rỗi nhiễu chống đối, rỗi nhiễu ranh giới, rối loạn

ám ảnh bắt buộc, rối loạn nhân cách ảo

Tâm thần phân liệt: Hoang tưởng, ảo giác

Những rối loạn tình dục: Rối loạn bản sắc giới, những hành vi tình dục không phù hợp

Những rối loạn khác ở tuổi vị thành niên: Rối loạn điều chỉnh, những vấn đề liên quan đến xâm hại hay sao nhãng [7]

Trang 21

Tự kỷ xuất phát từ chữ Hy lạp: Autism, nghĩa là tự động, tự thân trong tâm thần học, được Bleuler sử dụng lần đầu tiên để chỉ một triệu chứng cơ bản của bệnh tâm thần phân liệt Triệu chứng tự kỷ là nét cơ bản của các triệu chứng âm tính trong tâm thần phân liệt Người bệnh mất đi phần lớn các chức năng giao tiếp

và tương tác với môi trường xã hội Biểu hiện như là thu kín vào bên trong, khó giao tiếp, khó tương tác Chứng tự kỷ ở trẻ em biểu hiện bằng sự sút kém nghiêm trọng và lan tỏa các chức năng tâm thần trên các phương diện:

- Các chức năng tương tác xã hội kém phát triển nghiêm trọng

- Chức năng ngôn ngữ phát triển chậm và lệch lạc bất thường

- Hành vi và ứng xử nghèo nàn, định hình, lặp đi lặp lại

Trầm cảm

Hầu như ai cũng có lúc cảm thấy buồn chán và cảm giác buồn chán là chuyện bình thường trong cuộc sống Tuy nhiên, khi một đứa trẻ cảm thấy buồn chán quá thường xuyên, quá nhiều, hoặc quá lâu, em có thể mắc một chứng bệnh rối loạn cảm xúc gọi là trầm cảm

Một số dấu hiệu trầm cảm của trẻ em là học sinh trường THCS Tân Trường có thể biểu hiện dưới dạng tâm trạng buồn chán, cáu giận hoặc cực kỳ nhạy cảm Một

số dấu hiệu của bệnh trầm cảm là:

- Thường xuyên cảm thấy tuyệt vọng, vô dụng, có lỗi hoặc tự ti

- Ít quan tâm hơn tới các hoạt động mà trước đây các em đã từng vui thích

- Thiếu sinh lực và sự nhiệt tình, và thường xuyên cảm thấy chán nản

- Khó tập trung chú ý

- Xa lánh những người lớn hoặc giao tiếp kém

- Thường xuyên cảm thấy khó chịu trong cơ thể, thí dụ như đau đầu, nhức mỏi

cơ, đau bụng, hoặc mệt mỏi

- Có tâm trạng tức giận, cáu gắt, thù hận hoặc các hành vi nguy hiểm nghiêm trọng hơn

- Bật khóc, la hét, kêu la hoặc cáu giận mà không rõ nguyên nhân

- Thường xuyên nghỉ học hoặc có kết quả học tập kém

Suy giảm tâm trí (chậm khôn, tâm trí chậm phát triển)

Trang 22

Suy giảm tâm trí (chậm khôn) là phát triển không đầy đủ những khả năng tâm – vận động và trí khôn.

Trong khám lâm sàng, nhằm chẩn đoán chậm khôn cần chú ý những dấu hiệu sau:

-Chậm tâm – vận động: sau 3 tháng cổ chưa cứng, sau 9 tháng chưa ngồi được, 18-20 tháng vẫn chưa đi được Nhìn toàn thân sẽ thấy đứa trẻ có cách phản ứng kém (chảy dãi, mắt nhìn buồn, thiếu chú ý và thiếu linh lợi đối với môi trường, cử chỉ vụng về )

- Chậm nhận thức – thực hành: Ví dụ, chậm trong nhận biết cá hình dáng, màu sắc, chậm đạt được các hoạt động tinh tế

- Chậm ngôn ngữ

- Không học được

Chậm khôn có nhiều mức độ khác nhau:

- Chậm khôn trầm trọng: chiếm khoảng 7% số trẻ chậm khôn

- Chậm khôn không nặng: có IQ khoảng 20-34 Chiếm khoảng 18% số trẻ chậm khôn

- Chậm khôn vừa: có IQ khoảng từ 35-49 Chiếm khoảng 25% số trẻ chậm khôn

- Chậm khôn nhẹ: có IQ khoảng 50-70 Chiếm 50% số trẻ chậm khôn

Các biểu hiện nhiễu tâm

Nhiễu tâm là một tập hợp các rối loạn tâm lí có những tính chất chung sau đây:

- Có những rối nhiễu hành vi tương đối nhẹ

- Người bệnh ý thức được tính chất bệnh lí của rối loạn

- Các yếu tố tâm lí có vai trò là nguồn gốc phát sinh ra rối nhiễu

- Luôn có một trạng thái lo hãi và lúc này hay lúc khác trong sự tiến triển của bệnh

Theo từ điển Tâm lí học: Nhiễu tâm là những biểu hiện bất thường xuất hiện một cách cố định, kéo dài, ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày, nhưng chưa đến mức rối loạn nhân cách

Các loại nhiễu tâm

Trang 23

Chứng lo âu và lo sợ: thường có mặt trong hầu hết các nhiễu tâm Lo âu là một kích động tâm lý nặng nề và đau đớn do một sự sợ hãi khá rõ gây ra Lo

âu là một sự đau đớn tỉnh táo

Chứng ám sợ - ám ảnh: Chứng ám sợ là một sự sợ sệt mang tính chất lo lắng gây ra bởi một đối tượng hoặc một tình huống nhất định mà trong đó không

có gì nguy hiểm Sự lo sợ, chỉ xuất hiện khi có mặt của những vật hay tình huống gây ám sợ

Loạn tâm là những rối nhiễu tâm lí nặng, gây tan rã nhân cách, làm cho người bệnh mất định hướng, mất khả năng tiếp xúc và cắt đứt mối quan hệ với môi trường, tự co mình lại (tự tỏa), không còn cảm nhận các sự vật, hiện tượng một cách bình thường, có hoang tưởng, có những ứng xử lệch lạc, không ý thức được bệnh của mình, mất thích nghi xã hội

Các dạng loạn tâm ở trẻ em:

- Loạn tâm phát triển: mắc từ các thàng đầu, năm đầu sau khi sinh, luôn mắc phải dưới 3 tuổi

- Loạn tâm thiếu hòa hợp sớm: Mắc phải trong độ tuổi từ 3 đến 6 tuổi

- Loạn tâm tan rã cấu trúc hay tâm thần phân liệt ở trẻ em Trẻ thường mắc phải vào khoảng 5 đến 6 tuổi

Sự co mình lại

Đây là hành vi từ chối tiếp xúc khá rõ một cách có ý thức, mang tính chất phản ứng Sự co mình lại thường do trẻ sợ hãi, hoặc chống đối ẩn mình trong thế giới riêng của mình, hoặc để trừng phạt những người xung quanh hay tự trừng phạt mình Gồm các biểu hiện:

Chứng câm (chứng không nói): chứng câm không nói thường là kết quả của một sự cảm xúc hoặc một sự ức chế, nên chứng câm thường mang tính nhất thời

Trang 24

Từ chối đi học: trẻ từ chối đến trường, thường gặp ở những trẻ bị ức chế sợ phải rời xa gia đình để tiếp xúc với môi trường nhà trường Có những trẻ lúc đầu háo hức được đi học, khi gặp khó khăn trong học tập, trong quan hệ với thầy cô giáo và bạn bè đã từ chối đến trường.

Một số biểu hiện rối loạn hành vi liên quan tới vấn đề SKTT trẻ em:

Để xác định hành vi không bình thường phải căn cứ vào các chuẩn mực như chuẩn mực thống kê, chuẩn mực hướng dẫn (tự so cới những quy định của một tập thể người về đạo đức, xã hội), chuẩn mực chức năng (so với những mục đích mà cá nhân đặt ra) Từ những chuẩn mực trên có thể phán xét về sự bình thường hay dị thường của một hành vi, song cần chú ý đến những khả năng dung nạp của môi trường Ví dụ: Đánh nhau, đua xe, trôm cắp, nói đôi, trốn nhà

- Các rối nhiễu hành vi bản năng: Là các rối loạn có nguồn gốc từ bản thân trẻ em, cộng thêm những yếu tố tác động tiêu cực trong quá trình sống làm cho vấn

đề trở nên nghiêm trọng Ví dụ: Rối loạn giấc ngủ, rối loạn ăn uống, rối loạn tình dục

- Các rối nhiễu hành vi tự động: Là những rối nhiễu hành vi mà bản thân trẻ

em không kiểm soát được Ví dụ: Đái dầm, ỉa đùn

Trang 25

- Các rối nhiễu hành vi vận động: Là một vận động không tự chủ, đột ngột, nhanh, lặp đi lặp lại không có mục đích rõ ràng Các hành vi được cảm nhận nhưng không thể cưỡng lại được Nó có khi tự phát mất đi, có khi tồn tại, kéo dài hay tái phát ở tuổi trưởng thành Ví dụ: Mút ngón tay, cắn móng tay, chứng bứt tóc (nhổ tóc)

Rối loạn nhân cách

Rối loạn nhân cách là sự biến đổi tính nết đến mức làm cho sự thích nghi với môi trường sinh hoạt, học tập và công tác bị cản trở

Những rối loạn nhân cách liên quan chủ yếu đến cảm xúc, hành vi, các trường hợp trí tuệ phát triển ở mức độ cao Sự phát triển tốt trí tuệ cũng không điều chỉnh được các rối loạn tính nết của họ

Các dạng rối loạn nhân cách

Nhóm A: Với dấu hiệu đặc trưng là có những biểu hiện lập dị, nhóm A bao gồm: Rối loạn nhân cách kiểu Paranoid (thường có những biểu hiện rát nhạy cảm), rối loạn nhân cách kiểu phân liệt (thường có những hành vi lập dị)

Nhóm B: Thường có những biểu hiện kịch tính xúc động hoặc bất thường (Rối loạn nhân cách chống đối xã hội, rối loạn nhân cách kịch tính, rối loạn nhân cách

Trang 26

rơi vào một vòng lẫn quẩn Các em tìm cách thoát khỏi những khó khăn, những xung đột nội tâm bằng con đường sử dụng chất gây nghiện

Chất gây nghiện có thể gây ra nghiện ngập thông qua vai trò của nó trong việc tạo ra sự bốc đồng và sự làm chủ rất kém về hành vi Sự gia tăng hoạt động hành vi bôc đồng tạo nên sự khởi động cho các hành vi thích thú các chất gây nghiện Ðây

là một lĩnh vực cần phải được nghiên cứu nhiều hơn Nhưng chác chắn là chúng ta không thể giải thích những hành vi lệ thuộc bằng những yếu tố sinh học [7]

1.1.2.4. Nguyên nhân trẻ em gặp phải những vấn đề về SKTT

Nguyên nhân các rối loạn sức khỏe tinh thần trẻ em thường đa dạng và hết sức phức tạp, có những vấn đề y học chưa hiểu biết hết, nhưng có thể kể ra một số nguyên nhân sau:

- Trẻ có thời gian dài sống trong tình trạng gia đình bất hòa, cha mẹ thường xuyên cãi nhau, hoặc đã ly dị

- Trẻ bị “xâm hại”

- Các em nữ dậy thì sớm và tâm lý yếu đuối hơn trẻ em nam, trong khi đó trẻ nam thường mạnh mẽ hơn nên khi có xáo trộn về mặt tâm lý, các em nam ít chọn hành vi tự tử hơn những em nữ

- bị mắng mỏ, trách móc, sự thờ ơ của người lớn và đa số là bị các áp lực về học hành, khiến cho trẻ bị sốc và cuối cùng chọn một giải pháp kết cuộc cuộc sống

- Tự tử để giải thoát những ức chế tình cảm, tâm lý, giải tỏa được stress

Về phía gia đình:

- Người lớn chưa có đủ kiến thức cần thiết để nuôi dạy trẻ tốt, chưa có khả năng nhận biết những diễn biến tâm - sinh lý của trẻ để nhận ra những khó khăn của chúng và giúp đỡ kịp thời giúp đỡ chúng

- Trong gia đình có những mâu thuẫn giữa các bậc phụ huynh, giữa cha mẹ và con cái, trẻ trở thành nạn nhân bất đắc dĩ trong các cuộc tranh cãi, đổ vỡ

Trang 27

Hiện nay, tự tử được xếp vào hàng thứ 3 trong số tác nhân gây tử vong cho trẻ

vị thành niên Vì vậy cần giáo dục, trang bị cho trẻ emcác kiến thức, các kỹ năng và bản lĩnh để vượt qua những chướng ngại đầu đời của trẻ một cách thuận lợi Theo các chuyên gia tâm lý, để giúp ngăn ngừa hữu hiệu những hậu quả có hại cho sức khoẻ tinh thần trẻ em, các bậc cha mẹ ngoài sự quan tâm còn cần phải giáo dục hướng dẫn kỹ năng sống cho trẻ:

- Tập cho trẻ tính tự tin, tự lập ngay từ khi còn nhỏ, kỹ năng lựa chọn các quyết định liên quan đến bản thân, gia đình

- Theo dõi hành động của trẻ, hướng dẫn kịp thời, dạy cho trẻ kỹ năng, kinh nghiệm thực tế để ứng phó với khó khăn, trở ngại trong cuộc sống

- Quan tâm, giúp trẻ phát triển các sở thích, năng khiếu, hướng trẻ đến các giá trị chân, thiện, mỹ; không nên kiểm soát quá nghiêm ngặt, hoặc quá dễ dãi với trẻ; đặt mình vào vị trí của trẻ để hiểu trẻ, trở thành người bạn của trẻ, không nên áp đặt mà nên trao đổi với con một cách thẳng thắng và thoải mái

- Tạo điều kiện và động viên trẻ tham gia các câu lạc bộ, các trò chơi tập thể, sinh hoạt ngoại khóa… giúp trẻ có suy nghĩ tích cực, lành mạnh, đảm bảo sức khoẻ tốt

Điều quan trọng nhất để đề phòng các rối loạn sức khỏe tinh thần trẻ em, chấn thương tâm lý (psychological trauma) ở trẻ em là giáo dục nhân cách cho trẻ Ngay từ khi các em còn nhỏ, gia đình, đặc biệt là các bậc cha mẹ, giúp các em hình thành một nhân cách ổn định để khi gặp phải khó khăn, trở ngại trong cuộc sống, các em có thể tự ứng phó và vượt qua Các bậc phụ huynh nên lắng nghe trẻ, đặt mình vào vị trí của trẻ để thấu hiểu, giúp các em vượt qua những khó khăn tâm lý bằng kinh nghiệm của mình Cha mẹ cần nghiêm khắc với con nhưng không nên khắt khe quá đáng và không được xúc phạm con cái

Chăm sóc cho trẻ em bị những vấn đề về sức khỏe tâm thần rất phức tạp, đòi hỏi sự tinh tế, khéo léo, am hiểu tâm lý trẻ, sự cảm thông sâu sắc Trẻ em rất cần

Trang 28

một dịch vụ chăm sóc sức khỏe tinh thần thân thiện Các em dễ bị khủng hoảng tâm lý và rất muốn được chữa trị trong một cơ sở y tế có đội ngũ nhân viên nhiệt tình, chu đáo, niềm nở, đảm bảo sự riêng tư và bảo mật, không muốn cho cha mẹ biết [7]

1.1.2.5. Một số lý thuyết về vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em

Thuyết phân tâm của S.Freud

Sigmund Freud là cha đẻ của phân tâm cổ điển, ông sinh ngày 6 tháng 5 năm

1856, ở Freiburg, một thị xã nhỏ ở Moravia, hiện nay là phần thuộc cộng hoà Czech Ông cho rằng các hành vi của trẻ em liên quan đến những động lực( dynamics), các khuynh hướng cơ bản , nguồn động cơ khởi đầu của hành vi con người Điều liên quan đến những lực ở bên trong cá nhân tách biệt phân tâm học một cách rõ ràng ra khỏi những thuyết về hành vi, những thuyết này quan tâm đến yếu tố môi trường gọt giũa hành vi đó, khác với các nhà tâm lý nhận thức ở chỗ các nhà tâm lý nhận thức tập trung chủ yếu vào các quá trình nhận thức và lý giải Có hai mặt trong phân tâm cổ điển có liên quan nhiều nhất đến việc hiểu biết

về tâm bệnh học ở trẻ em, đó là mô hình cấu trúc và tâm lý tính dục

Khái niệm 3 thành phần của Freud về bộ máy tinh thần của con người đó là: cái ấy (id) , cái tôi (ego) và siêu tôi (superego), được gọi là mô hình cấu trúc

Học thuyết tâm lý tính dục của Freud giả định rằng có một có một sự tiến triển không thể tránh được trong những phần của cơ thể chiếm ưu thế như là những nguồn gây khoái cảm Có tầm quan trọng như nhau, mỗi sự tiến triển về ham muốn tình dục có kèm theo thay đổi về tâm lý trong những mối liên hệ mật thiết với cha

mẹ hay những người chăm sóc đầu đời

Học thuyết tính dục và mô hình cấu trúc của Freud nói lên mối quan hệ giữa những yếu tố nội lực và ngoại lực có tác động đến SKTT trẻ em, mà quan trọng hơn hết đó là nội lực “cái tôi” chính là tinh thần, tình cảm, tâm lý của trẻ thể hiện

Trang 29

SKTT của trẻ tốt hay có vấn đề, các hành vi mà trẻ thể hiện cũng góp phần đánh giá SKTT trẻ em Học thuyết đã đóng góp những ý tưởng có giá trị đối với những quá trình phát triển tâm lý, tâm thần và những rối loạn liên quan ở trẻ em Trong quá trình phát triển của trẻ em có những xáo trộn tâm lý chúng cản trở sự phát triển

xa hơn hoặc bởi vì chúng làm gia tăng khả năng trẻ có vấn đề SKTT, kém trưởng thành hơn khi trẻ gặp stress

Thuyết gắn bó

Học thuyết gắn bó xuất phát từ Bowlby(1982), ông là người quan tâm đến mặt tập tính học trên hành vi con người Bowlby cho rằng khi được đặt trong môi trường không có sự giúp đỡ, trẻ nhũ nhi có khả năng đáp ứng cao để duy trì sự tiếp xúc gần gũi với người chăm sóc đầu đời, bằng cách gắn bó với người chăm sóc, trẻ nhỏ đảm bảo được an toàn, thức ăn và cuối cùng là sống còn Vì thế mục đích được xác định của gắn bó là để duy trì sự gần gũi với người chăm sóc Hành vi của trẻ được tổ chức xung quanh mục tiêu này và được thiết kế nhằm để làm gia tăng khả năng có thể xảy ra để mối quan hệ với người chăm sóc sẽ là một mối quan hệ khoẻ mạnh Hệ thống gắn bó được hoạt hoá bởi sự khó chịu dưới dạng các nhu cầu bên trong như là đói hay các yếu tố gây stress bên ngoài như sự nguy hiểm

Chúng ta thường nghĩ rằng các trường phái hành vi cấp tiến và phân tâm học

cổ điển không có quan điểm phù hợp với nhau, nhưng khi xem xét mối gắn bó giữa cha mẹ và con, chúng ta thấy có nhiều điểm chung giữa hai trường phái này Cả hai trường phái đều cho rằng trẻ nhũ nhi hình thành mối gắn bó tình cảm với người chăm sóc sau khi người chăm sóc đáp ứng các nhu cầu sinh học của trẻ Cha mẹ những người cung cấp những cần thiết cơ bản cho trẻ như là thức ăn, lúc đó cha mẹ trở thành đối tượng mà trẻ có cảm xúc tích cực do trẻ được những người này cho

ăn uống Thực ra, đây là một mô hình điều kiện cổ điển: Thức ăn là một yếu tố

Trang 30

củng cố không điều kiện cùng đi với sự hiện diện của người chăm sóc Sau một số những lần cùng xuất hiện như thế, người chăm sóc trở nên một đối tượng mang lại cảm xúc tích cực và trở thành một yếu tố củng cố có điều kiện.

Ở mỗi giai đoạn, trẻ em có những kiểu gắn bó khác nhau Nếu trẻ cảm thấy dược gắn bó, được an toàn trẻ sẽ phát triển tốt hơn cả về thể chất và SKTT Các hành vi tích cực hay thói quen tốt trẻ em sẽ học thông qua mối quan hệ gắn bó thân thiết với người chăm soc trẻ Với những trẻ có những biểu hiện có vấn đề về SKTT thì yếu tố gắn bó càng quan trọng để trẻ học hỏi, cải thiện [7]

1.2 Công tác xã hội

1.2.1 Khái niệm Công tác xã hội

Công tác xã hội cá nhân là một ngành được sử dụng để giúp đỡ cá nhân,

nhóm, hay cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện cần thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu ấy

Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau về công tác

xã hội Có hai định nghĩa đáng chú ý là:

Định nghĩa của Hiệp hội quốc gia nhân viên xã

hội Mỹ (NASW - 1970): "Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó

Định nghĩa của Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng 7 năm 2000 tại Montréal, Canada (IFSW)

Trang 31

"Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ”

Các hoạt động thực tiễn của CTXH chỉ có hiệu quả khi nó tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp chuyên môn nhất định, không làm thay mà chỉ hỡ trợ

cá nhân, nhóm, và cộng đồng tự giải quyết vấn đề của mình CTXH không tự giải quyết được vấn đề xã hội mà cần đến sự phối hợp của các ngành khác nhau trong

hệ thống an sinh xã hội (mạng lưới xã hội)

1.2.2 Chức năng của Công tác xã hội

CTXh trực tiếp giải quyết các vấn đề xã hội, hỗ trợ giải quyết vấn đề gặp phải của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng bằng phương pháp tác ngiệp chuyên nghiệp: Đây là chức năng quan trọng hang đầu của CTXH Một mặt nó khẳng định hoạt động trợ giúp xã hội, giúp đỡ những đối tượng có vấn đề xã hội không chỉ là hoạt động nhân đạo, từ thiện mà trở thành trách nhiệm của cơ quan chuyên trách với đội ngũ là nhân viên xã hội

CTXH huy động, liên kết và phát huy nguồn lực trợ giúp đối tượng có hoàn cảnh khó khăn: Các vấn đề gặp phải của đối tượng xét cho cùng là những vấn đề

có liên quan đến mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng xã hội đến nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần CTXH thực hiện việc tìm kiếm, khai thác, huy động, liên kết và sử dụng mottj cách có hiệu quả những nguồn lực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vấn đề

CTXH nghiên cứu dự báo và phòng ngừa nhằm hạn chế sự phát sinh, gia tăng các vấn đề xã hội và đối tượng có vấn đề xã hội: Các kết quả đạt được từ những hoạt động nghiên cứu này được khái quát, kiểm chứng, thừa nhận giá trị khoa học

Trang 32

sẽ được sử dụng làm cơ sở, làm căn cứ để các nhà quản lí xã hội, các nhà hoạch định chính sách đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn.

1.2.3 Phương pháp của Công tác xã hội

1.2.3.1 Các phương pháp CTXH

Công tác xã hội cá nhân: Là phương pháp can thiệp hỗ trợ đầu tiên của

CTXH, can thiệp để giúp một cá nhân thoát hỏi những khó khăn đời sống vật chất

và tinh thần, chữa trị và phục hồi các chức năng xã hôi của họ, giúp họ tự nhận thức và giải quyết vấn đề xã hội gặp phải bằng khả năng của chính mình

Đặc trưng của CTXH cá nhân là phương pháp mà người làm CTXH vận dụng

lý thuyết, các cách tiếp cận, các kỹ năng chuyên nghiệp để tác nghiệp với đối tượng dựa trên mối quan hệ trực tiếp, sự tương tác hai chiều nhằm hỗ trợ đối tượng nhận diện vấn đề của mình, giải quyết vấn đề

Công tác xã hội nhóm: Là sự vận dụng những kỹ năng chuyên nghiệp dựa tên

nền tảng lý thuyết về sự hình thành, vận động, mối quan hệ tương tác, tâm lý, nhu cầu hành động nhóm để can thiệp để hỗ trợ những nhóm xã hội yếu thế có chung một hay một số mục đích nhằm thay đổi nhận thức, hành vi, khai thác tiềm năng, tăng cường năng lực giải quyết các vấn đề xã hội gặp phải của từng thành viên trong nhóm và của cả nhóm

Như vậy, CTXH nhóm là phương pháp mà người làm CTXH chỉ đóng vai trò xúc tác, hướng dẫn, tổ chức sinh hoạt nhóm để chính thành viên trong nhóm có sự tương tác lẫn nhau và dùng mối quan hệ đó làm công cụ chính để nhận diện và giải quyết vấn đề của cá nhân trng nhóm hay của cả nhóm

Công tác xã hội với cộng đồng – tổ chức phát triển cộng đồng:

Trang 33

Đối tượng tác động của phương pháp này là cộng đồng người, thường là sinh sống trong một địa bàn dân cư có những đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa tương đồng ( hoặc cộng đồng theo một tiêu chí xác định ) có vấn đề xã hội

Mục đích của CTXH cộng đồng là thông qua việc nhận diện vấn đề của cộng đồng, đánh giá các nguồn lực, khai thác và phát huy tiềm năng của cộng đồng, từ

đó tổ chức hoạt động, thực thi những chương trình hành động mang lại những chuyển biến tích cực cho cộng đồng từ chỗ khó khăn kém phát triển trở thành cộng đồng tiến bộ, ổn định

Khi thực hiện phương pháp CTXH với cộng đồng, nhân viên phát triển cộng đồng sẽ hỗ trợ cùng với cộng đồng xác định vấn đề gặp phải, phân tích tìm ra nguyên nhân của các trở ngại khó khăn ảnh hưởng tới sự phát triển của cộng đồng

và tạo ra mối quan hệ, liên kết giữa các thành viên trong cộng đồng, giữa cộng đồng với các cơ quan chức năng, tổ chức thông qua các chương trình, dịch vụ để tiến hành các hoạt động từ yếu kém lên khá và phát triển cộng đồng tự lực

1.2.3.2 Phương pháp CTXH cá nhân (Vận dụng trong đề tài)

Trong phạm vi đề tài, tôi xin đi sâu phân tích về phương pháp CTXH cá nhân Phương pháp này được nhân viên xã hội tác nghiệp trợ giúp cho đối tượng trong chương 3

Khái niệm Công tác xã hội cá nhân

Theo Ms Helene Mathew: CTXH cá nhân là phương pháp giúp đỡ cá nhân thông qua mối quan hệ một – một Phương pháp này được các nhân viên xã hội ở các cơ sở xã hội sử dụng để giúp đỡ cá nhân có vấn đề và về chức năng xã hội cũng như việc thực hiện chức năng xã hội cuả họ

Theo Ms Derlman: CTXH cá nhân là một tiến trình được các cơ quan lo lắng

về an sinh cho con người sử dụng để cá nhân đối phó hữu hiệu hơn với các vấn đề thuộc về chức năng xã hội của họ

Trang 34

Theo Lê Chí An : CTXH cá nhân là phương pháp giải quyết các trường hợp cá nhân và gia đình có vấn đề khó khăn trên cơ sở giúp họ thoát khỏi hoàn cảnh bằng chính năng lực, sức lực của họ Vấn đề là phải giúp cho thân chủ nhận biết vấn đề của mình theo tiến trình Biết – Muốn - Thay đổi

Khái niệm về CTXH cá nhân của tác giả Nguyễn Duy Nhiên ….????

Các lý thuyết tiếp cận trong phương pháp công tác xã hội cá nhân:

Cách tiếp cận tâm lí: Cách tiếp cận này liên quan tới nhiều yếu tố nhận thức,

tâm lý, tình cảm suy nghĩ và hành động của con người trong bối cảnh xã hội mà họ đang sống

Do đó khi tiến hành CTXH với cá nhân cần nghiên cứu môi trường xã hội, nền văn hóa, các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội trong đó cá nhân sống và hoạt động

Nhu cầu của con người không thể tách ra khỏi hệ thống xã hội mà con người

đang tồn tại Bất kỳ ai cũng phải thuộc về một nhóm hoặc một nhóm nào đó Do đó

khi giải quyết vấn đề của cá nhân cần phải đặt trong mối quan hệ tương tác với nhóm mà họ đang là thành viên

Cách tiếp cận giải quyết vấn đề - thân chủ cùng tham gia giải quyết vấn đề:

Cách tiếp cận này nhấn mạnh sự tham gia giải quyết vấn đề hay trị liệu bằng cách thu hút, tạo điều kiện, khích lệ đối tượng trực tiếp, chủ động và tích cực tham gia vào tiến trình giải quyết vấn đề cùng với sự tác động của nhân viên xã hội

Cùng thân chủ giải quyết vấn đề, những khó khăn của thân chủ sẽ từng bước được tháo gỡ, sự tự tin và tích cực tham gia tạo điều kiện cho thân chủ có điều kiện

để vươn lên Cách tiếp cận giải quyết vấn đề làm cho thân chủ đi từ cảm nhận cho tới ý thức, từ ý thức đến suy nghĩ lựa chọn giải pháp từ suy nghĩ lựa chọn đến

Trang 35

Cách tiếp cận chức năng: Cách tiếp cận chức năng là hình thức tác động và

phục hồi chức năng xã hội cá nhân trong giai đoạn khủng hoảng Đây là cách nhìn nhận, trợ giúp cá nhân trong tình huống có vấn đề

Trạng thái khủng hoảng vì nhiều lý do, cá nhân có suy nghĩ và hành vi thiếu chính xác, hay nói cách khác là chức năng hoạt động tâm lý của cá nhân bị suy giảm Nhân viên xã hội tập trung vào việc trợ giúp đối tượng đạt được mục tiêu cụ thể mà họ mong muốn trong một thời gian nhất định sẽ làm giảm tạm thời tình trạng khủng hoảng, làm cơ sở tiếp tục thực hiện các mục tiêu tiếp theo

Cách tiếp cận trong CTXH với cá nhân đã chỉ ra định hướng cho người làm CTXH cần phải quan tâm đến mối quan hệ giữa con người với môi trường xã hội

Vì vậy, khi nhóm và cộng đồng liên quan đến thân chủ có sự quan tâm hỗ trợ, sẵn sàng tham gia cùng giải quyết vấn đề thì sẽ thuận lợi rất lớn cho việc giải quyết vấn đề thân chủ Ngược lại sẽ là những khó khăn, cản trở nhất định trong hoạt động trợ giúp

Cách tiếp cận toàn diện: Một vấn đề gặp phải của cá nhân tại một thời điểm

nào đó không biệt lập mà thường có nguyên nhân nảy sinh vấn đề, tác động của vấn đề đối với đời sống, tình cảm nhận thức, thái độ hành vi của cá nhân

Cách tiếp cận toàn diện đòi hỏi nhân viên xã hội khi trợ giúp đối tượng ở một thời điểm cụ thể phải đặt trong một tiến trình cụ thể; tìm hiểu nguyên nhân phát sinh vấn đề; mối quan hệ giữa các vấn đề và sự kết hợp nguồn lực trợ giúp đối tượng

Cách tiếp cận toàn diện định hướng và yêu cầu nhân viên xã hội nhìn nhận vấn đề của đối tượng phải bao quát, đa chiều, không nhìn nhận và đánh giá, phân tích một cách toàn diện

Trang 36

Cách tiếp cận phát triển: Nhận thức hành vi cụ thể có thể thay đổi tích cực;

hoàn cảnh có khả năng được cải thiện và xu hướng của sự vận động phát triển đi lên Cách tiếp cận phát triển giúp cho nhân viên xã hội và thân chr lạc quan vào giải quyết vấn đề nếu việc giải quyết đó dựa trên sự tương tác, sự nỗ lực tối đa của

cả hai lựa và sự lựa chọn giải pháp phù hợp

Cách tiếp cận phát triển đòi hỏi nhân viên xã hội phải đánh giá đúng vấn đề, khích lệ đối tượng sự tự lực; hoàn cảnh của đối tượng có thể nhất định được cải thiện; suy nghĩ nhận thức và năng lực thực hiện hành động của đối tượng trong giải quyết vấn đề ngày tốt hơn, giá trị cuộc sống đạt được từ chính khả năng của đối tượng

Từ niềm tin có cơ sở vào bản thân, vào sự trợ giúp của một tương lai tốt đẹp, đối tượng sẽ nỗ lực, huy động tiềm năng của bản thân cho việc thực hiện mục tiêu đặt ra [8]

Tiến trình Công tác xã hội cá nhân:

Tiến trình CTXH cá nhân là quá trình thể hiện sự tương tác giữa nhân viên xã hội và thân chủ trong việc trợ giúp, giải quyết vấn đề của thân chủ từ khi bắt đầu tiếp nhận ca cho đến khi kết thúc Quá trình này bao gồm 7 bước [9]:

Tiếp cận thân chủ

Đây là bước đầu tiên quan trọng, tạo tiền đề và có ý nghĩa rất lớn đến sự thành công của CTXH với cá nhân đối với từng trường hợp cụ thể Nga từ bước đầu tiên nhân viên xã hội cố gắng thiết lập mối quan hệ dựa trên sự tin tưởng và hợp tác của thân chủ

Nhận diện vấn đề của thân chủ

Trang 37

Việc nhận diện đúng vấn đề gặp phải của thân chủ, xác định chính xác nguồn gốc nảy sinh vấn đề là cơ sở nhân viên xã hội thực hiện từng bước tiếp theo, nó liên quan đến khả năng đáp ứng nhu cầu cũng như huy động sự tham gia của thân chủ vào giải quyết vấn đề.

Trong giai đoạn nhận diện vấn đề thì việc xác định ai là thân chủ chính- thân chủ trọng tâm

Các thao tác kỹ thuật cơ bản để nhận diện vấn đề, bao gồm: Tiếp xúc ban đầu, quan sát cử chỉ, lời nói, ăn mặc của thân chủ để đánh giá sơ bộ về thân chủ

Nhận diện vấn đề là một bước quan trọng trong tiến trình nhưng chứa hàm nhiều thao tác kỹ thuật và kỹ năng tác nghiệp, đòi hỏi nhân viên xã hội phải thận trọng và linh hoạt

Thu thập và xử lý thông tin

Thu thập và xử lý thông tin là một tập hợp các thao tác kỹ thuật mà nhân viên

xã hội thực hiện nhằm kiểm chứng tính chính xác tình trạng hiện tại, nguyên nhân, các yếu tố tác động đến thân chủ và vấn đề của thân chủ, từ đó đưa ra sự đánh giá toàn diện về thân chủ làm cơ sở trực tiếp cho bước tiếp theo trong tiến trình CTXH

cá nhân

Các thông tin cần thu thập liên quan đến thân chủ là: Thông tin về bản thân thân chủ; Gia đình thân chủ và việc thực hiện, sự tác động từ các chủ trương chính sách, pháp luật của nhà nước.Bối cảnh vấn đề của thân chủ và nguyên nhân dẫn đến vấn đề của thân chủ; Thân chủ và những người khác có hành động gì để giải quyết vấn đề của thân chủ

Thu thập thông tin từ phía bản thân thân chủ, gia đình thân chủ, người bạn của thân chủ, cộng đồng tìm hiểu hồ sơ của thân chủ

Trang 38

Việc thu thập thông tin đòi hỏi độ tin cậy, do vậy nhân viên xã hội cần có kinh nghiệm và có sự theo dõi, xử lý thông tin này.

Xác định vấn đề ưu tiên và trọng tâm vấn đề cần giải quyết

Vấn đề gặp phải của thân chủ có thể là một nhưng không phải là duy nhất nó liên quan nhiều vấn đề hoặc là hệ thống của nhiều vấn đề

Về cơ bản, việc xác định ưu tiên và trọng tâm giải quyết vấn đề là một bước được thực hiện sau các bước tiếp cận thân chủ, nhận diện vấn đề, thu thập và xử lý thông tin Nó là điểm mấu chốt kiểm định lại tính phù hợp, đúng đắn của các bước trước đồng thời là cơ sở quyết định - xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề

Xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề

Xây dựng giải quyết vấn đề vừa là phương pháp, vừa là công cụ quan trọng trong tiến trình CTXH cá nhân Việc lập kế hoạch can thiệp, giải quyết vấn đề thể hiện năng lực và kinh nghiệm của nhân viên xã hội Xây dựng kế hoạch bao gồm nội dung cơ bản: Xác định mục tiêu của việc lập kế hoạch, Xác định nhu cẩu, mong muốn đích thực của thân chủ, mục đích và giải pháp thực hiện Xác định thứ

tự giải quyết vấn đề

+ Mục đích của giải quyết vấn đề là nhằm: Thay đổi hoặc cải thiện hoàn cảnh của thân chủ Gặp gỡ thân chủ có nhận thức đúng đắn, thay đổi thái độ và hành vi trong hoàn cảnh, tình trạng trước mắt

+ Việc lựa chọn các giải pháp giải quyết vấn đề cần xem xét các yếu tố: tính chất của vấn đề, năng lực có được để giải quyết vấn đề, động cơ và năng lực tự nhận và hành động của thân chủ

Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề

Trang 39

Đây là bước thực hiện hóa các hoạt động cụ thể theo các mục tiêu, giải pháp, nhằm hỗ trợ cá nhân giải quyết vấn đề dựa trên kế hoạch đã xây dựng Nhân viên

xã hội là người định hướng, trợ giúp cho thân chủ về huy động nguồn lực, cải thiện môi trường quan hệ xã hội, giúp thân chủ thay đổi trạng thái, hành vi và năng lực giải quyết vấn đề Nhân viên xã hội cần sử dụng những kỹ năng và phát huy kỹ năng chuyên môn của mình để hỗ trợ thân chủ tiếp tục hay cùng tìm một hướng giải quyết khác Thân chủ vừa tiến hành các hoạt động, đồng thời vừa định hướng mục tiêu Tiến độ thực hiện kế hoạch nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhiều yếu tố tình trạng sức khỏe, tình cảm, tâm lý sự nhìn nhận của bản thân họ về vấn đề và biện pháp giải quyết cũng như các tài nguyên, cơ hội mà thân chủ đang có

Lượng giá và kết thúc

Đây là sự đo lường, thẩm định đánh giá toàn bộ các quá trình đã thực hiện trong tiến trình trợ giúp, giải quyết vấn đề đối với thân chủ

Những tiêu chuẩn cụ thể cần lượng giá là:

+ Mục đích chung và các mục tiêu có đạt được hay không, đạt được ở mức độ nào

+ Hoạt động nào đem lại kết quả mong muốn, hoạt động nào chưa đạt được vì sao?

+ Phương pháp, công cụ nào đã được sử dụng trong quá trình can thiệp, trợ giúp giải quyết vấn đề Kết quả, ưu điểm,hạn chế

+ Các nguồn lực huy động tham gia vào các hoạt động giải quyết vấn đề và mức độ tham gia, hiệu quả tác động như thế nào

+ Những bài học kinh nghiệm rút ra sau quá trình tác nghiệp hỗ trợ

Trang 40

Hoạt động lượng giá có hiệu quả và chính xác các mục tiêu đề ra rõ ràng, thể hiện ở khả năng định tính và định lượng, thông tin đầy đủ, có sự phản biện đa chiều, điều quan trọng nhất là sự thay đổi tích cực từ phía thân chủ, trong và sau quá trình tác nghiệp

1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.3.1 Công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em trên thế giới

Ở các nước phát triển, mặc dù có hệ thống cơ sở hỗ trợ tâm lý và chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần lâu đời và phong phú, nhưng người ta đều nhận thấy rằng hầu hết các trẻ em có nhu cầu hỗ trợ SKTT đều không được đáp ứng thỏa đáng.Trên thực tế, trẻ em ở những nước này cũng có thể đến các phòng khám/trung tâm tư vấn để nhận được sự hỗ trợ này nhưng thường khi đó, những khó khăn đã trở nên trầm trọng hơn, có thể đã trở thành bệnh lý và nhiều người rất ngại đến các phòng khám chăm sóc SKTT vì sợ bị định kiến, kì thị Ngoài ra, lợi thế nữa ở trường học là khi thực hiện, các hoạt động này cũng dễ dàng tiếp cận đến số đông Chính vì thế, ở những nước này, chính sách tăng cường cung cấp các dịch vụ hỗ trợ SKTT đã quan tâm đến việc chuyển dịch và hướng các hình thức chăm sóc, hỗ trợ truyền thốngvào cơ cấu nhà trường

Tại Pháp

Công tác chăm sóc SKTT ở các trường từ mẫu giáo đến trường tiểu học luôn dựa vào các nhà tâm lý học đường Nhà tâm lý học đường làm việc trong khuôn khổ mạng lưới hỗ trợ đặc biệt (RASED), cùng với giáo viên phụ trách việc giáo dục lại, nhà giáo dục đặc biệt, nhà chỉnh âm Họ có nhiệm vụ đóng góp vào việc ngăn ngừa và can thiệp các khó khăn học đường Đến nay, chức năng và nhiệm vụ của nhà tâm lý học đường được luật pháp quy định, và bao gồm: (1) phòng ngừa các khó khăn học đường; (2) triển khai và đánh giá công tác hỗ trợ tâm lý, chăm

Ngày đăng: 07/04/2015, 09:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ phả hệ - Một số biện pháp hỗ trợ của Công tác xã hội đối với vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em tại trường trung học cơ sở Tân Trường-Cẩm Giàng-Hải Dương
Sơ đồ ph ả hệ (Trang 91)
Sơ đồ sinh thái - Một số biện pháp hỗ trợ của Công tác xã hội đối với vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em tại trường trung học cơ sở Tân Trường-Cẩm Giàng-Hải Dương
Sơ đồ sinh thái (Trang 96)
Bảng 4.1 Đánh giá vấn đề - Một số biện pháp hỗ trợ của Công tác xã hội đối với vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em tại trường trung học cơ sở Tân Trường-Cẩm Giàng-Hải Dương
Bảng 4.1 Đánh giá vấn đề (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w