Mối quan hệ giữa trình độ học vấn, thu nhập của gia đình và các biểu hiện hành vi cảm xúc của con với nhận thức của cha mẹ về tên gọi các bệnh tâm thần/ tổn thương SKTT .... Mục tiêu ngh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐẶNG THỊ THANH TÙNG
MỐI QUAN HỆ GIỮA NHẬN THỨC CỦA CHA MẸ
VỀ BIỂU HIỆN VÀ NGUYÊN NHÂN TỔN THƯƠNG SỨC KHỎE TÂM THẦN TRẺ EM VỚI HÀNH VI ỨNG XỬ CỦA HỌ
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐẶNG THỊ THANH TÙNG
MỐI QUAN HỆ GIỮA NHẬN THỨC CỦA CHA MẸ
VỀ BIỂU HIỆN VÀ NGUYÊN NHÂN TỔN THƯƠNG SỨC KHỎE TÂM THẦN TRẺ EM VỚI HÀNH VI ỨNG XỬ CỦA HỌ
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC Chuyên ngành: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên
Mã số: Thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: TS Amie Polack
TS Trần Thành Nam
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu, nhiệt tình của các thầy cô, các anh chị, các
em và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lời cảm
ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu, các phòng ban, các khoa, các thầy cô và các cán bộ tại Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Trần Thành Nam và Tiến sĩ Amie Polack đã dành rất nhiều thời gian quý báu hướng dẫn, chỉ bảo
và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn tập thể thầy giáo, cô giáo trong ban giám hiệu, Ban phụ huynh các trường và đặc biệt là cha mẹ của các em học sinh thuộc các trường tiểu học: Kim Giang, Định Công, Đoàn Thị Điểm, Thăng long Kidsmart đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu, phục vụ cho quá trình nghiên cứu của đề tài
Xin cảm ơn các cô bác, anh chị tại Trung tâm tư vấn, điều trị tâm bệnh
và tự kỷ - Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong công việc cũng như tạo điều kiện cho tôi có thời gian để hoàn thành đề tài này
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn các bạn đồng môn lớp Tâm lý học lâm sàng trẻ em và Vị thành niên Khóa 4 – Đại học giáo dục cùng những người thân đã luôn bên cạnh tôi: giúp đỡ, ủng hộ về mọi mặt để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà nội, ngày 25 tháng 6 năm 2015
Trang 4DANH MỤC TÊN VIẾT TẮT
ADHD Attention Deficit Hyperactivity Disorder – Tăng động giảm
chú ý
CFA Confirmation factor analysis – Phân tích nhân tố khẳng định
DSM- IV Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 4th
Edition – Sổ tay chẩn đoán và thống kê rối loạn tâm thần, phiên bản 4
ICD – 10 International Statistical Classification of Disease and Related
Mental Health Problem 10th Revision – Bảng phân loại bênh quốc tế về Sức khỏe tâm thần lần thứ 10
SDQ25 Strength and Difficulties Questionnaire – Bảng hỏi điểm mạnh
và điểm yếu của trẻ
SKTT Sức khỏe tâm thần
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục tên viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1 Quan niệm về tổn thương SKTT và các tiếp cận về nguyên nhân gây tổn thương SKTT 7
1.1.1 Quan niệm về tổn thương SKTT 7
1.1.2 Các tiếp cận về nguyên nhân gây tổn thương SKTT 10
1.1.3 Tổng quan kết quả nghiên cứu đi trước liên quan đến nhận thức của cộng đồng về biểu hiện, nguyên nhân tổn thương SKTT và hành vi ứng xử. 17 1.2 Các khái niệm công cụ của đề tài 24
1.2.1 Khái niệm về SKTT 24
1.2.2Khái niệm tổn thương SKTT và nguyên nhân 26
1.2.3 Những vấn đề SKTT thường gặp ở trẻ em 27
1.2.4 Khái niệm chăm sóc SKTT 30
1.2.5Vệ sinh và dự phòng các tổn thương SKTT 30
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 33
2.1.1 Trường tiểu học Kim Giang: 33
2.1.2 Trường tiểu học Định Công: 33
2.1.3 Trường tiểu học dân lập Đoàn Thị Điểm : 35
2.1.4 Trường tiểu học Dân lập Thăng Long Kidsmart : 36
2.2 Qui trình nghiên cứu 37
2.3 Phương pháp nghiên cứu 38
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 38
2.3.2 Phương pháp chuyên gia 39
Trang 62.3.3 Phương pháp điều tra bảng hỏi 39
2.3.4 Phương pháp thống kê áp dụng trong xử lý số liệu 45
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
3.1 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 47
3.2 Nhận thức của cha mẹ về các biểu hiện tổn thương SKTT 51
3.2.1 Kiến thức/Nhận thức của cha mẹ về các dấu hiệu tổn thương SKTT 51
3.2.2 Nhận thức của cha mẹ về tên các bệnh tâm thần (tên vấn đề tổn thương SKTT)… 53
3.2.3 Nhận thức về các nguyên nhân gây nên tổn thương SKTT 55
3.3 Hành vi ứng xử của cha mẹ trước các biểu hiện tổn thương SKTT ở trẻ và niềm tin của phụ huynh vào các hình thức trị liệu 59
3.3.1 Hành vi ứng xử của các cha mẹ Việt Nam khi con cái họ tổn thương về sức khỏe tâm thần. 59
3.3.2 Niềm tin của cha mẹ về các loại hình dịch vụ can thiệp trị liệu vấn đề tổn thương SKTT 64
3.4 Mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu. 66
3.4.1 Mối quan hệ giữa trình độ học vấn, thu nhập của gia đình và các biểu hiện hành vi cảm xúc của con với nhận thức của cha mẹ về các dấu hiệu bệnh tâm thần ở trẻ 71
3.4.2 Mối quan hệ giữa trình độ học vấn, thu nhập của gia đình và các biểu hiện hành vi cảm xúc của con với nhận thức của cha mẹ về tên gọi các bệnh tâm thần/ tổn thương SKTT 72
3.4.3 Tương quan giữa trình độ học vấn, thu nhập của gia đình và các biểu hiện hành vi cảm xúc của con với nhận thức của cha mẹ về nguyên nhân gây tổn thương SKTT. 73
3.4.5 Tương quan giữa nhận thức của cha mẹ về nguyên nhân các biểu hiện tổn thương SKTT và niềm tin của cha mẹ về hiệu quả của các mô hình trị liệu…… 76
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
Trang 71 Kết luận: 79
2 Khuyến nghị: 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 85
Trang 8MỞ ĐẦU 1
Bảng 2.1: Thời gian và nội dung triển khai nghiên cứu 38
Bảng 2.2: Kết quả phân tích nhân tố khẳng định (CFA) theo 11 nhóm nguyên nhân cơ bản của tổn thương SKTT 41
Bảng 2.3: Độ nhậy và độ đặc hiệu của bộ công cụ SDQ25 theo các phương thức thực hiện đánh giá 45
Bảng 3.1: Mô tả đặc điểm khách thể nghiên cứu 47
Bảng 3.2: Kết quả sàng lọc các biểu hiện tổn thương SKTT ở trẻ do bố mẹ báo cáo 50
Bảng 3.3: Tỉ lệ cha mẹ nhận diện các dấu hiệu tổn thương SKTT 51
Bảng 3.4: Nhận thức của cha mẹ về tên các bệnh tâm thần/tổn thương SKTT 53
Bảng 3.5: Điểm trung bình và độ lệch chuẩn nhận thức của cha mẹ theo các nhóm nguyênnhân 55
Bảng 3.6: Tỉ lệ % các bậc cha mẹ lựa chọn nguyên nhân lý giải tại sao con họ lại có cảm giác và hành vi ứng xử tương ứng với mô tả trong từng tình huống 57
Bảng 3.7: Tỷ lệ % cha mẹ chọn cách cha mẹ ứng xử khi con có vấn đề SKTT 60
Bảng 3.8: Tỉ lệ % các ý kiến đồng ý và hoàn toàn đồng ý với hình thức can thiệp trị liệu tương ứng 64
Bảng 3.9: Sự khác biệt giữa trình độ học vấn, thu nhập của gia đình và các biểu hiện hành vi cảm xúc của con trong nhận thức của cha mẹ về các dấu hiệu bệnh tâm thần ở trẻ (kiểm định independent–t-test) 66
Bảng 3.10: Sự khác biệt giữa trình độ học vấn, thu nhập của gia đình và các biểu hiện hành vi cảm xúc của con trong nhận thức của cha mẹ về tên bệnh tâm thần ở trẻ (kiểm định independent –t-test) 67
Bảng 3.11: Tương quan Pearson giữa trình độ học vấn, thu nhập của gia đình và các biểu hiện hành vi cảm xúc của con với nhận thức của cha mẹ về nguyên nhân tổn thương SKTT 68
Bảng 3.12: Tương quan Pearson giữa trình độ học vấn, thu nhập của gia đình và các biểu hiện hành vi cảm xúc của con và niềm tin của cha mẹ về hiệu quả của các mô hình trị liệu 69
Bảng 3.13: Tương quan Pearson giữa nhận thức của cha mẹ về nguyên nhân các biểu hiện tổn thương SKTT và niềm tin của cha mẹ về hiệu quả của các mô hình trị liệu 69
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam, theo những nghiên cứu mới nhất cho biết tỉ lệ tổn thương SKTT ở trẻ em và vị thành niên có xu hướng tăng lên trong vài thập kỷ qua Nghiên cứu của Bahr Weiss, Đặng Hoàng Minh và Nguyễn Cao Minh (2013) cho thấy tỉ lệ trẻ trong độ tuổi từ 6 – 16 tuổi bị tổn thương SKTT lên đến khoảng 12-13 % Tỉ lệ này ngày càng có xu hướng gia tăng và trẻ hóa do trẻ
em càng ngày càng phải đối mặt với những biến động xã hội như vấn đề đô thị hóa nhanh chóng dẫn đến ô nhiễm môi trường, phá vỡ cấu trúc gia đình, di
cư – chỗ ở không ổn định Những thay đổi của hệ thống kinh tế vĩ mô cũng kéo theo các xung đột văn hóa xã hội như phân hóa giàu nghèo, xung đột giá trị giữa các thế hệ… Đến hiện nay, ước tính ở Việt Nam có khoảng 2,7 triệu người có nhu cầu được chăm sóc SKTT
Công tác chăm sóc SKTT ở Việt Nam vẫn đang trong những bước đầu xây dựng nên hiệu quả chăm sóc và can thiệp là chưa cao Theo báo cáo Hội nghị về SKTT lần thứ 3 (2012) cho thấy một số cá nhân, tổ chức đã bắt đầu quan tâm đến công tác chăm sóc SKTT, tuy nhiên hoạt động nhiều nơi còn mang tính tự phát, thiếu đồng bộ, chưa có sự kết nối, và thường bị động vì giới hạn về tài chính và thời gian của các chương trình tài trợ Hơn nữa, sự quan tâm của Nhà nước thể hiện trong chính sách về SKTT mới chỉ dừng lại trên phương diện Y tế, chủ yếu dành cho người lớn và tập trung vào một số loại bệnh tâm thần nặng như Tâm thần phân liệt, động kinh, chậm phát triển tâm thần Công tác chăm sóc SKTT tập trung vào điều trị do các bác sỹ tâm thần đảm nhiệm Chính những điều này cũng góp phần ảnh hưởng đến nhận thức nói chung của người dân về vấn đề tổn thương SKTT còn nhiều hạn chế, mang tính định kiến và bị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa tín ngưỡng đã cản trở việc tiếp cận với các cơ sở chăm sóc SKTT và góp phần làm cho vấn
đề càng trở nên trầm trọng hơn
Trang 11Trong mỗi gia đình, cha mẹ có thể có những quan điểm nhìn nhận khác nhau về biểu hiện và nguyên nhân của tổn thương SKTT ở trẻ cũng như nhận thức về sự phát triển của những vấn đề này qua thời gian Hiểu được nhận thức và quan điểm của cha mẹ về vấn đề này có thể giúp định hướng giáo dục cho cha mẹ về các hình thức can thiệp trị liệu khoa học, định hướng cho họ tìm kiếm những dịch vụ hỗ trợ đúng đắn và động viên họ tham gia các dịch vụ trị liệu phù hợp, có niềm tin vào hiệu quả trị liệu [14][Greenberg, Constantino, & Bruce, 2006; Nock & Photos, 2006] Cụ thể hơn, nhận thức về những nguyên nhân tổn thương SKTT có thể ảnh hưởng đến quyết định của cha mẹ về việc lựa chọn hình thức chữa trị nào và ai là người được chữa trị Chẳng hạn, cha mẹ có con chuyên quậy phá và bắt nạt các bạn ở trên lớp nghĩ rằng do con mình thừa năng lượng và quá hiếu động nên tìm đến bác sỹ tâm thần để uống thuốc điều trị tăng động giảm chú ý Hoặc họ có thể tìm đến nhà tâm lý với mong muốn giúp con mình kiểm soát các hành vi xâm kích và xung động Khi nhà trị liệu đề xuất một tập huấn kỹ năng làm cha mẹ và mời cha mẹ đến tham gia các buổi trị liệu, cha mẹ sẽ không hiểu được tại sao người phải tham gia chữa trị là họ mà không phải là con cái họ, tại sao không phải dạy con họ kỹ năng mà lại dạy cha mẹ kỹ năng Vì ý nghĩa này, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Mối quan hệ giữa nhận thức của cha mẹ
vể biểu hiện và nguyên nhân tổn thương sức khỏe tâm thần trẻ em với hành vi ứng xử của họ” nhằm mục tiêu như sau:
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Tìm hiểu nhận thức của cha mẹ về các biểu hiện tổn thương SKTT, khả năng nhận diện các bệnh tâm thần và nguyên nhân của chúng
Tìm hiểu niềm tin của cha mẹ Việt nam về những hình thức can thiệp trị liệu khi con họ có các biểu hiện tổn thương SKTT
Tìm hiểu mối quan hệ giữa nhận thức của cha mẹ về tổn thương SKTTvới niềm tin và hành vi ứng xử của họ
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Trang 123.1 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là 221 cha mẹ có con trong độ tuổi từ 6-8 tuổi
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức của cha mẹ về các biểu hiện hành vi cảm xúc của tổn thương
SKTT
Phản ứng của cha mẹ khi con có các biểu hiện tổn thương SKTT
Mối quan hệ giữa nhận thức và phản ứng của cha mẹ
4 Giả thuyết khoa học
Nhận thức của các bậc cha mẹ về biểu hiện tổn thương SKTT vẫn tập trung vào các biểu hiện của loạn thần và các hành vi cảm xúc trầm trọng
Khả năng nhận diện các bệnh tâm thần của cha mẹ chưa cao, tập trung vào các rối loạn tâm thần nghiêm trọng như tâm thần phân liệt
Nhận thức của cha mẹ về nguyên nhân gây tổn thương SKTT còn hạn chế, tập trung nhiều vào nguyên nhân và cơ chế sinh học
Niềm tin của cha mẹ vào hiệu quả của hình thức trị liệu bằng thuốc được kê theo đơn của bác sỹ tâm thần chiếm tỷ trọng lớn
Nhận thức về các dấu hiệu tổn thương SKTT, nguyên nhân gây ra tổn thương SKTT, niềm tin vào hiệu quả trị liệu của các hình thức can thiệp có tương quan với các biến số tuổi, trình độ học vấn, thu nhập gia đình và có tương quan với nhau
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu và phát triển bộ công cụ nghiên cứu Dựa trên quá trình điểm luận tài liệu, tham khảo bộ công cụ của các công trình nghiên cứu
đi trước có liên quan kết hợp với phỏng vấn chuyên gia, chúng tôi phát triển từng câu hỏi, thử nghiệm trên một số đối tượng và hiệu chỉnh trước khi tiến hành khảo sát
Trang 13Thu thập số liệu điều tra
Phân tích số liệu và viết báo cáo kết quả nghiên cứu
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về địa bàn và khách thể nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên
221 khách thể được lựa chọn từ 4 trường tiểu học trên địa bàn Hà Nội (gồm
02 trường công lập và 02 trường tư thục)
Về thời gian nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu được điều tra trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2014
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lý thuyết
Tìm kiếm và điểm luận các công trình nghiên cứu có liên quan đến (a) nhận thức của người dân Việt Nam nói chung về SKTT, và nguyên nhân tổn thương SKTT; (b) các công trình nghiên cứu về tỉ lệ tổn thương SKTT trẻ em Việt Nam; (c) các công trình nghiên cứu liên quan đến thái độ và hành vi tìm kiếm các loại hình chăm sóc SKTT; (d) các công trình nghiên cứu về sự kỳ thị đối với các bệnh tâm thần trong và ngoài nước
Tìm hiểucác bộ công cụ nghiên cứu của các đề tài đi trước về nhận thức của cha mẹ trong các nghiên cứu đi trước để học tập kinh nghiệm và phát triển bộ công cụ phù hợp với văn hóa Việt Nam sử dụng cho đề tài
6.2 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia cũng được chúng tôi sử dụng để xây dựng và phát triển các tình huống sử dụng trong phần 2 của bộ công cụ điều tra
6.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Đây là phương pháp chủ yếu để tìm hiểu về nhận thức của các bậc cha
mẹ về tổn thương SKTT trẻ em Bộ công cụ được tác giả xây dựng phục vụ cho đề tài gồm các phần như sau:
- Phần 1: Thông tin chung bao gồm các các thông tin về nhân khẩu học như: giới, tuổi, nghề nghiệp, học vấn, kinh tế
Trang 14- Phần 2: Xây dựng 9 tình huống hành vi ứng xử có thể gặp ở trẻ em cũng như các câu hỏi về nguyên nhân nguồn gốc của những hành vi này? Bố
mẹ nên ứng xử như thế nào khi con cái có những hành vi như vậy?
- Phần 3: Bao gồm các câu hỏi đánh giá kiến thức của cha mẹ về các dấu hiệu và triệu chứng của tổn thương SKTT
- Phần 4: Bao gồm tập hợp các câu hỏi liên quan đến nguyên nhân và cách điều trị các vấn đề tổn thương SKTT Để phát triển các câu hỏi cho phần này, chúng tôi có tham khảo bộ công cụ nghiên cứu của Shanley [12, tr.207 - 212]vàLia Vanderham, Võ Văn Thắng & cộng sự [15]làm cơ sở để xây dựng
- Phần 5 là bảng hỏi về điểm mạnh và điểm yếu (nguyên bản từ thang
đo Strengths and Difficulties Questionnaire - SDQ25) Thang đo này đã được Bahr Weiss và cộng sự Việt hóa và sử dụng trên khách thể trẻ em Việt Nam Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng bản dịch tiếng Việt của thang đo này với sự cho phép của nhóm tác giả
6.4 Phương pháp thống kê xã hội học
Áp dụng các nguyên tắc thống kê xã hội học, số liệu của đề tại được mã hóa và sử lý bằng chương trình SPSS phiên bản 21.0 Trong giới hạn của đề tài, tác giả sử dụng chủ yếu các phép thống kê mô tả với các giá trị điểm trung bình, độ lệch chuẩn, tỉ lệ %, giá trị tương quan Pearson, phép kiểm định so sánh trung bình hai mẫu độc lập (independent – t – test)
7 Đóng góp mới của luận văn
Nghiên cứu chỉ ra thực trạng nhận thức của các bậc cha mẹ về các biểu hiện và nguyên nhân tổn thương SKTT ở trẻ cũng như thực trạng hành vi ứng
xử của cha mẹ trước tổn thương SKTT ở con em mình Nghiên cứu chỉ ra mối tương quan thuận chiều giữa nhận thức của cha mẹ về tổn thương SKTT và hành vi ứng xử của họ Kết quả của nghiên cứu sẽ giúp khuyến cáo và xác định nội dung trong chiến lược giáo dục nhận thức về tổn thương SKTT,
Trang 15nguyên nhân tổn thương SKTT và dịch vụ và cách thức can thiệp, phòng tránh tổn thương SKTT cho cộng đồng
8 Kế hoạch nghiên cứu
- Tháng 01 – 02/ 2014: Đăng kí đề tài, lập đề cương nghiên cứu
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn dự kiến sẽ được trình bày trong 3 chương như dưới đây:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan niệm về tổn thương SKTT và các tiếp cận về nguyên nhân gây tổn thương SKTT
1.1.1 Quan niệm về tổn thương SKTT
Trong lịch sử, khi nghĩ đến một cá nhân bị tổn thương SKTT, cộng đồng thường suy nghĩ đến các biểu hiện bất thường mà cá nhân đó thể hiện ra bên ngoài qua “hành vi”, qua “suy nghĩ” hoặc qua “cảm xúc” Tuy vậy, ở mỗi cộng đồng, mỗi nền văn hóa lại có định nghĩa về sự bất thường là rất khác nhau Ví dụ: Ở một nền văn hóa mà trẻ được tự do quyết định mọi hành vi của mình và tự chịu trách nhiệm về hành vi đó thì việc trẻ quyết định nói với ai, tham gia việc gì đó là quyền của trẻ lựa chọn hết sức bình thường, nhưng ở những nền văn hóa trọng đạo lý, tình cảm, trẻ con phải làm theo lời người lớn thì rất có thể các quyết định của trẻ đều là có vấn đề nếu nó đi ngược lại quy định của nhóm người lớn hơn đó Vì thế, những định nghĩa như vậy chỉ có thể phản ảnh một khía cạnh nào đó chứ không bao phủ hết các khía cạnh của tổn thương SKTT Chẳng hạn theo tác giả Rorbet S.Feldman [21, tr 512-513]có một số cách tiếp cận về bất thường được sử dụng trong thời điểm này hoặc thời điểm khác trong cộng đồng Theo ông, đó là:
(a) Sự lệch hướng khỏi trung bình (tức là xem tính bất thường như
sự lệch khỏi số đông, mang tính chất thống kê) Tuy nhiên, có một số hành vi được xem là hiếm không thể được coi là bất thường Mỗi người có một sở thích đặc biệt nào đó về món ăn hoặc thói quen đi lại riêng thì cũng không thể coi đó là bất thường Ví dụ: nhiều người thích ăn mỳ trứng còn tôi thích ăn bánh mỳ rán thì không vì thế mà nói tôi là người bất thường được
(b) Sự lệch hướng khỏi lý tưởng “Hành vi được xem là bất thường
nếu đi lệch khỏi một số loại tiêu chuẩn hay lý tưởng” [16] Tuy nhiên, cách tiếp cận này còn mang nghĩa chủ quan độc đoán và khắt khehơn cách tiếp cận trên vì có một số lý tưởng của xã hội này không phải là tiêu chuẩn của xã hội
Trang 17khác, hơn nữa phạm trù này sẽ bị thay đổi bởi thời gian Ở khía cạnh nào đó,
nó mang màu sắc chính trị tôn giáo
(c) Bất thường như “cảm giác lo lắng chủ quan” Cách tiếp cận này
xem hànhvi là bất thường nếu nó tạo ra một cảm giác đau khổ, lo âu hay tội lỗi ở một cá nhân, hay bằng nhiều cách gây hại đối với những người khác Nhưng ngay cả một định nghĩa dựa vào sự lo lắng chủ quan cũng có khuyết điểm, vì trong một số hình thức tổn thương SKTT đặc biệt, con người mô tả lại cảm giác lâng lâng sung sướng khi họ thực hiện được hành vi mong muốn của bản thân mặc dù hành vi của họ có thể gây tổn thương và khó chịu cho người khác Do đó cảm giác lo lắng bất thường chưa thể là yếu tố nói lên sự bất thường một cách đầy đủ được
(d) Tính bất thường như sự bất lực trong “hoạt động chức năng hiệu quả” Theo quan điểm này, con người nếu không thể có được các hoạt động
chức năng hiệu quả và không thích nghi với yêu cầu xã hội thì được xem là bất thường (Ví dụ: như một cá nhân không có khả năng duy trì chú ý trong quá trình học tập dẫn đến kết quả học tập kém và không thể cải thiện thì được xem là có biểu hiện bất thường về SKTT)
Một số nhà nghiên cứu khác như Trull (2013) còn bổ sung thêm quan
niệm về tổn thương SKTT có thể được xác định qua “sự khiếm khuyết ở một
khía cạnh quan trọng đối với cuộc sống” Ví dụ như việc cá nhân uống rượu
mãn tính dẫn tới mất việc làm, khiếm khuyết trong khía cạnh sinh học…Những mô hình phức tạp hơn về sự bất thường còn cho rằng những biểu hiện bất thường này chỉ trở thành tổn thương SKTT khi (i) nó là hậu quả của những quá trình tâm lý bị sai lệch; (ii) nó là nguyên nhân hoặc hậu quả của rối loạn stress hoặc rối loạn chức năng; (ii) nó vượt ra ngoài tầm kiểm soát thông thường của cá nhân trong những tình huống cụ thể Một số tác giả khác thì cố gắng tóm lược các cách tiếp cận về sự bất thường liên quan đến SKTT con người bằng 4 chữ D là (Deviance - lệch chuẩn; Distress - rối loạn stress; Dysfunction - rối loạn chức năng và Dangerous - nguy hiểm)
Trang 18Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Công Khanh [4] cũng tiếp thu những quan điểm của các tác giả nước ngoài và Việt hóa thành 6 dấu hiệu để nhận diện bất thường trong SKTT của một cá nhân bao gồm các dấu hiệu về: Buồn chán; Kém thích nghi; Khó dự đoán; Vô lý – phi logic; Phi thông lệ - hiếm thấy; Gây khó chịu cho người xung quanh
+ Buồn chán: Có cảm giác buồn chán, đau khổ, thất vọng hoặc lo hãi khó rứt bỏ
+ Tính kém thích nghi: Hành động theo những cách làm ảnh hưởng xấu đến việc đạt mục đích, đến sự bình an của cá nhân cũng như gia đình, xã hội
+ Tính khó dự đoán: Hành động hoặc nói năng theo những cách khó đoán trước, kỳ cục, lập di hoặc làm người khác khó hiểu từ tình huống này sang tình huống khác Thân chủ dường như trải nghiệm thường xuyên sự mất kiểm soát bản thân
+ Tính vô lý (hay phi lý): thân chủ nói năng hành động theo cách mà người khác đánh giá là phi lý không thể hiểu được
+ Tính phi thông lệ và hiếm thấy: thân chủ hành động theo những cách rất kỳ cục, hiếm thấy về mặt thống kê và vi phạm các chuẩn mực, hay tiêu chuẩn về cái gì được chấp nhận về mặt đạo đức hoặc được mong muốn
+ Luôn gây cảm giác khó chịu cho người xunh quanh: thân chủ hành động theo những cách làm cho người xung quanh cảm thấy khó chịu
Thông thường xác định vấn đề SKTT, các bác sĩ lâm sàng thường cảm thấy tin tưởng hơn nếu ở thân chủ xuất hiện rõ rệt từ hai dấu hiệu trên trở lên
Và để được coi là bất thường các biểu hiện này phải lặp đi lặp lại trong một khoảng thời gian nhất định
Với các cách tiếp cận khác nhau về tổn thương SKTT của các tác giả được nêu trên, ít nhiều đều có điểm hợp lý Tuy vậy, những quan điểm đó chưa thực sự bao quát được hết và đầy đủ về tổn thương SKTT, bởi vì trong thực tế có những tổn thương về SKTT biểu hiện ở dạng này hay dạng khác nó
Trang 19là khái niệm khó cân đong đo đếm được một cách chính xác Vì vậy, chỉ khi chúng ta đi tìm hiểu sâu và kỹ về nó mới có cái nhìn khách quan hơn
1.1.2 Các tiếp cận về nguyên nhân gây tổn thương SKTT
Khi nói về nguyên nhân của những vấn đề tổn thương SKTT, các tài liệu nghiên cứu đều khẳng định có nhiều yếu tố trong đó có cả yếu tố sinh học
và môi trường Những yếu tố này không tác động một cách riêng lẻ mà có sự kết hợp tác động qua lại với nhau tạo thành các nhóm nguy cơ làm tăng khả năng tổn thương SKTT Trong phần này chúng tôi sẽ điểm qua các mô hình nguyên nhân gây tổn thương SKTT chính theo những tổng hợp của Paul Bennett[18].Đó là:
(a) Mô hình di truyền tập trung vào các yếu tố di truyền ảnh hưởng như thế nào đến nguy cơ xuất hiện tổn thương SKTT Các yếu tố di truyền đã được xem xét trong một số bệnh khác nhau như Tâm thần phân liệt, bệnh Alzheimer và trầm cảm
(b) Mô hình sinh học tập trung vào những quá trình hoá - sinh, đặc biệt là các chất dẫn truyền thần kinh (DTTK), những chất trung gian của cảm xúc và hành vi Mô hình này cũng nhằm lí giải mối liên quan giữa những tổn thương não và tổn thương SKTT
(c) Mô hình tâm lí tập trung vào những quá trính tâm lí bên trong có ảnh hưởng đến cảm xúc và hành vi Không giống với mô hình hoá - sinh hoặc
di truyền, ở đây không có một khuôn mẫu giải thích duy nhất mà ngược lại có nhiều cách lí giải tâm lí khác nhau về tổn thương SKTT Đó chính là lí giải của những trường phái tâm lí nổi tiếng như: phân tâm, nhân văn, hành vi và hành vi nhận thức
(d) Tiếp cận văn hoá - xã hội tập trung vào vai trò các yếu tố văn hoá
và xã hội trong các biểu hiện tổn thương SKTT
(e) Mô hình hệ thống tập trung vào các hệ thống xã hội thu nhỏ, đó thường là gia đình Ở đây rối loạn được xem như là hệ quả của sự tương tác không hiệu quả giữa các thành viên dẫn đến làm tăng stress hoặc các chức
Trang 20năng, vai trò của các thành viên trong gia đình bị đảo lộn Sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình kém bền vững
(f) Mô hình sinh – tâm – xã hội nhằm mục đích tích hợp các yếu tố khác nhau như trên vào một mô hình nguyên nhân tổng thể Tiếp cận này cho rằng yếu tố di truyền hoặc các yếu tố sinh học khác có thể làm tăng thêm nguy cơ xuất hiện tổn thương SKTT Tuy nhiên các rối loạn có xuất hiện hay không còn phụ thuộc vào việc cá nhân “đang có nguy cơ” đó tiếp xúc, tương tác như thế nào với những yếu tố như stress gia đình và xã hội Hoặc nó còn phụ thuộc vào cách cá nhân đó đối phó như thế nào với stress, với các tình huống cụ thể đó ra sao và có những nguồn hỗ trợ nào để có thể giúp cá nhân đối phó với những stress
Để giải thích cụ thể cho các mô hình mà Paul Bennett nêu ra phía trên Trong phần dưới đây chúng tôi sẽ lần lượt bàn luận trở lại về từng mô hình
1.1.2.1 Mô hình di truyền
Đối với mỗi cá thể thì đều được hợp thành từ các yếu tố gen của cả cha
mẹ Mỗi một cặp cha/mẹ lại cho trẻ sự di truyền về gen là khác nhau, vì thế có thể nói sự ảnh hưởng của gen khá lớn đến việc quyết định những đặc điểm về
cơ thể và cả sức khỏe tâm thần của mỗi cá nhân
Đã có không ít các nghiên cứu các tác giả tập trung vào nghiên cứu các nguyên nhân mang tính di truyền ảnh hưởng đến các vấn đề sức khỏe tâm thần của con người Từ đó nhằm giải thích cho việc: liệu có kiểu di truyền nào
có thể ảnh hưởng và có nguy cơ gây ra tổn thương về sức khỏe tâm thần cho các cá nhân Nếu có thì mức độ gây ra của kiểu di truyền đó với mỗi cá nhân
sẽ như thế nào?
Vì vậy, một giả thuyết được đặt ra là: khả năng khá cao rằng tổn thương SKTT có thể xuất hiện ở những người có cùng cấu trúc di truyền (sinh đôi cùng trừng) hoặc không có cùng cấu trúc di truyền hoặc sinh đôi khác trứng – những người có khoảng 50% số gen trong cơ thể là giống nhau Những người có cùng huyết thống nhưng có khoảng cách xa về mức độ tương
Trang 21đồng di truyền gen như: cô,dì, chú, bác thì nguy cơ bị rối loạn về SKTT thấp hơn
Nhiều nghiên cứu đã tiến hành tập trung vào nghiên cứu xem sự khác nhau mức độ di truyền ảnh hưởng lên các cặp sinh đôi cùng trứng và khác trứng với cùng một tổn thương
Với những cặp sinh đôi cùng trứng có tỷ lệ tổn thương cao hơn cặp sinh đôi nhưng khác trứng thì điều đó cho thấy là nguy cơ tổn thương về di truyền
là rất cao Tuy vậy, khi tiến hành nghiên cứu như này tác giả cũng gặp phải hạn chế rằng: các cặp sinh đôi cùng trứng ngoài việc họ có yếu tố chung về gen thì các yếu tố chung khác cũng có thể làm nguy cơ tổn thương giống nhau cao là do họ sống cùng trong cùng một môi trường, họ thậm chí cũng cùng có được một sự ứng xử, dạy dỗ giống nhau… vì thế rất có thể yếu tố ảnh hưởng đến họ có đặc điểm khó khăn giống nhau là do yếu tố môi trường hoặc các yếu tố khác nữa chứ không đơn thuần là chỉ có do yếu tố gen
Từ hạn chế của nghiên cứu dạng sinh đôi cùng trứng chưa có sự kiểm soát về môi trường như trên các tác giả đã hướng đến nghiên cứu nhằm tách biệt các yếu tố môi trường với di truyền, nhiều nghiên cứu đã đi xác định tỷ lệ tương đồng ở những cặp sinh đôi cùng trứng nhưng sống ở các môi trường khác nhau Ví dụ một trẻ ở cùng bố mẹ, một trẻ lại được làm con nuôi của nhà khác, có thể khác biệt về vùng kinh tế, văn hóa sinh sống hoặc không
Vì thế giả thuyết của nghiên cứu này được đặt ra là: nếu họ sinh đôi cùng trứng, cùng giống nhau về kiểu di truyền nhưng được sống ở hai môi trường tác biệt khác nhau nhưng nếu họ bị cùng một bệnh nào đó thì có thể kết luận được là do di truyền Tuy vậy, dù biến môi trường được kiểm soát thì vẫn còn các biến phụ khác ảnh hưởng đến họ như: họ có thể đã cùng chịu đựng chung với nhau những chấn thương hoặc những yếu tố gây nguy cơ tổn thương SKTT khi họ còn trong bào thai như: cùng nhiễm hóa chất do mẹ ăn phải khi còn mang thai, bố/mẹ hút thuốc lá, uống rượu hay mẹ bị căng thẳng tâm lý khi mang thai…
Trang 22Vì thế các nghiên cứu này cũng chỉ ra được một cách khá chặt chẽ của các mỗi liên hệ liên quan đến di truyền Từ việc chỉ đánh giá cá nhân qua môi trường sống của họ thì nó còn cho biết một cách rõ ràng hơn các yếu tố di truyền tham gia ở mức độ nào vào mỗi tổn thương của cá nhân.Tuy nhiên nghiên cứu như thế này cũng không thể chỉ ra được rõ ràng hoặc không phân lập được gen nào có thể tham gia hoặc không tham gia vào Chính vì thế mà việc khó khăn để có thể xác định yếu tố di truyền phải trông chờ vào công việc của các nhà khoa học liên quan đến việc nghiên cứu xác nhận bản đồ gen Nhưng cho đến thời điểm này việc chỉ ra gen nào có tham gia vào việc hình thành bệnh còn là một bí ẩn, đa số nghiên cứu thầy rằng việc mặc phải một rối loạn về SKTT nào đó lại liên quan đến việc cá nhân bị thiếu vắng hay khiếm khuyến một số gen nào đó hơn là việc chỉ rõ gen nào tham gia Ví dụ:
có nghiên cứu đưa ra chứng thực rằng có một gen ở nhiễm sắc 4 có thể “bảo vệ” cá nhân chống lại những vấn đề nghiện rượu
Các nghiên cứu đều đã chỉ ra ít nhiều có sự liên quan giữa gen với các tổn thương SKTT, gen có thể là một yếu tố nguy cơ để có thể xuất hiện các tổn thương nhưng không có nghĩa là chúng ta có thể đánh đồng tất cả các tổn thương SKTT đều có liên quan đến gen vì thậm chí đã có đế 89% số người được chẩn đoán là có tổn thương về SKTT nhưng không có mối liên hệ gì đến gen
Dù yếu tố gen có ảnh hưởng nhiều hay ít thì đến thời điểm này chúng ta cũng chưa rõ ràng câu trả lời, nhưng theo tác giả thì việc đưa ra các nghiên cứu kiểm tra mức độ tham gia của gen trên các cá thể ở các quần thể khác nhau đang gây nên một tâm lý hết sức nặng nề cho những người tham gia nghiên cứu ở khoảng thời gian dài, ngắn khác nhau
1.1.2.2 Mô hình sinh học
Mô hình tập trung vào việc nghiên cứu vào các quá trình sinh học ảnh hưởng đến cảm xúc hành vi khi chúng bị rối loạn Đặc biệt là tập trung vào việc chỉ ra vai trò của chất DTTK và các quá trình sinh hóa tham gia vào một
Trang 23số bệnh tâm thần: Ví dụ các loại hormon như melatonin giường như có tham gia vào nguyên nhân của rối loạn cảm xúc theo mùa, một dạng của trầm cảm Những rối loạn khác có thể là hậu quả của những vấn đề tổ chức não Hoặc ví
dụ bệnh tâm thần phân liệt có thể là do thoái triển trong quá trình phát triển não và đã dẫn đến những sai lầm cơ bản cho quá trình xử lí thông tin, rối loạn
tư duy và hành vi Một bệnh khác thường gặp là bệnh Alzheimer cũng là do
sự thoái hoá tiến triển các nơ-ron và hậu quả là sự suy giảm chức năng nhận thức ở giai đoạn tuổi già
Nhìn vào hành vi của một con người thì người ta đều chấp nhận khi giải thích quá trình cử động, vận động của mỗi cá nhân Theo đó thì khi con người cử động không thể thiếu sự kích hoạt một loạt các giác gian vận động
và nơron được dẫn chuyền bởi các chất hóa học,nhưng mặt khác muốn có những cử động có ý nghĩa và phù hợp không thể thiếu sự phối hợp của cảm giác, động cơ thúc đẩy hành vi ( theo tâm lý – Hoạt động diễn ra khi có động
cơ thúc đẩy) Từ đó cho thấy dù giải thích bằng cách này hay cách khác thì đều cho kết quả hợp lý, và vì thế chúng ta không thể kết luận được nguyên nhân gây ra tổn thương SKTT chỉ dựa vào một yếu tố sinh học hay tâm lý được
1.1.2.3 Mô hình tâm lý
Với mỗi một trường phái về tâm lý thì lý thuyết về tổn thương SKTT được quan niệm khác nhau và tương ứng với mỗi quan niệm đó là các hình thức trị liệu tương ứng Khởi nguồn đầu tiên là trường phái phân tâm vào đầu thế kỷ 20 do Freud và các học trò làm tiên phong Trị liệu này dù đã qua 100 năm thăng trầm với những thay đồi khá nhiều song nó vẫn còn được sử dụng Đến đầu những năm 50-60 của thế kỷ 20 xuất hiện liệu pháp hành vi phản đối dạng trị liệu theo nguyên tắc phân tâm tập trung nhiều vào quá trình tinh thần, không khoa học mà cho rằng hành vi chịu sự kiểm soát bởi những yếu tố bên ngoài mỗi cá nhân dựa vào nền tảng khoa học “vững chắc” đó là điều kiện cổ điển và điều kiện tạo tác (operant) Đến 1961 trường phái nhân văn của C
Trang 24Roger xuất hiện lại cho rằng hành vi và cảm xúc lại chịu ảnh hưởng từ những chấn thương trong quá khứ và sự kỳ vọng vào tương lai Vì thế liệu pháp nhằm giúp cá nhân có nhận ra được tiềm năng hoặc có “kỹ năng tự thể hiện” của mình và có thể tự giải quyết vấn đề của bản thân họ chứ không đi giải quyết các chấn thương trong quá khứ
Trong số các liệu pháp kể đến của mô hình tâm lý không thể không kể đến liệu pháp hành vi nhận thức (Beck 1978) Liệu pháp này tập trung vào quá trình tư duy hoặc nhận thức Đây được xem như là đóng vai trò chủ đạo trong hành vi và cảm xúc Vì thế, mục đích chính của liệp pháp là tập trung vào suy nghĩ của chúng ta để xem nó ảnh hưởng như thế nào đến hành vi và cảm xúc tại một thời điểm cụ thể Lí thuyết chỉ ra rằng do những vấn đề về SKTT nên nhận thức có những “sai sót” và biến đổi chức năng Trên cơ sở xây dựng và thực hành một loạt các chiến lược giáo dục và trị liệu, liệu pháp tập trung vào thay đổi nhận thức sao cho chúng vận hành hợp lí hơn, giảm thiểu những “sai sót” Mặt khác liệu pháp cũng kiên trì tập trung vào hành vi:
có thể thay đổi được nhận thức sai lệch thông qua thực nghiệm hành vi được thiết kế để mô tả/ minh họa những sai lệch trong suy nghĩ
1.1.2.4 Mô hình văn hóa – xã hội
Những mô hình đã được bàn luận đề cập đến ở trên đều dựa trên quan niệm cho rằng nguyên nhân của các vấn đề tổn thương sức khỏe tâm thần nằm trong mỗi cá nhân, đó có thể là do di truyền, hoá sinh hoặc tâm lí Ngược lại,
mô hình văn hoá - xã hội cho rằng nguyên nhân tổn thương SKTT là từ các yếu tố xã hội bên ngoài Các yếu tố văn hoá- xã hội bao gồm những loại ảnh hưởng khác nhau, từ gia đình cho đến các yếu tố kinh tế – xã hội Một số các yếu tố đó đã được xác định trong Tổng quan cơ cấu bệnh tâm thần ở Anh [Jenkins và cs.1998]
Từ những nghiên cứu cũng đã chỉ ra tỉ lệ trầm cảm và lo âu tăng cao ở phụ nữ, những người sống ở thành phố, người thất nghiệp và những người sống li thân, li dị hoặc bị goá hay tỷ lệ cao những người mắc loạn thần lại tập
Trang 25trungcao ở những cư dân sống ở thành phố hơn ở khu vực nông thôn, sốngười
bị Phụ thuộc rượuở trong nhóm thất nghiệp cao gần gấp 2 lần so với những người đang làm việc Những người dân tộc thiểu số hoặc ở vị thế kinh tế- xã hội thấp cũng có tỉ lệ trầm cảm, rối loạn stress không đặc hiệu, TTPL hoặc lạm dụng chất cao hơn so với tầng lớp kinh tế – xã hội bên trên[Ulbrich và cs 1989] Và với mỗi một kết luận trên đều có cách lý giải hợp lý đó là do: phân biệt giàu nghèo, vị thế xã hội, stress xã hội, kém nguồn lực, giao thoa văn hóa…
1.1.2.5 Mô hình hệ thống
Theo mô hình này nhìn nhận gia đình như là một hệ thống khép kín có khả năng gây nên tổn thương SKTT rõ nhất Bởi vì, các thành viên đều có sự tác động và ảnh hưởng nhất định lẫn nhau trong hành vi cũng như cách họ giao tiếp hàng hàng với nhau Một trong những dạng rối loạn gia đình nổi bật
là khi có sự lạm dụng tình dục trẻ em trong gia đình Mức độ lạm dụng tình dục rất cao ở những phụ nữ tìm đến trị liệu tâm lí với các trạng thái khác nhau như: trầm cảm, lo âu và chán ăn tâm lí (Jaffe và cs 2002) Tácđộng qua lại trong gia đình có liên quan đến SKTT được quan tâm đến chính là những người bị TTPL Brown và cộng sự năm 1972 là người đầu tiên xác định những đặc điểm gia đình, bây giờ được gọi với cái tên biểu hiện cảm xúc âm tính cao (NEE) Và theo các nhà trị liệu gia đình, hệ thống gia đình càng phức tạp thì càng ảnh hưởng đến sự phát triển chán ăn tâm lí ở những phụ nữ trẻ[Minuchin 1974]
1.1.2.6 Mô hình tâm sinh xã hội:
Mô hình chủ yếu đề cập đến việc các cá nhân bị một tổn thương SKTT bất kỳ không đến từ một nguyên nhân mà phải có từ hơn một lý do được kết hợp từ các yếu tố: sinh học, tâm lý và cả môi trường sống của họ nữa
Đối với hầu hết những vấn đề SKTT các tổn thương thường được gây
ra bởi nhiều yếu tố, trong số đó có:
Các yếu tố sinh học: gen, nhiễm khuẩn, chấn thương
Trang 26Các yếu tố tâm lí: chấn thương thời thơ ấu, đáp ứng kém đối với các sự kiện môi trường
Các yếu tố xã hội/ môi trường: stress kinh tế – xã hội, các mối quan hệ
cá nhân, mối quan hệ liên cá nhân không tốt, thiếu các nguồn lực hỗ trợ từ xã hội
Cũng cần phải lưu ý rằng ranh giới giữa các yếu tố đó chỉ là tương đối
1.1.2.7 Mô hình thể trạng Stress
Mô hình thể trạng stress là một dạng cụ thể của mô hình sinh – tâm –
xã hội Trong mô hình này yếu tố thể trạng hàm ý đến tính dễ bị tổn thương
về mặt sinh học Stress có trong bất kỳ một sự kiện hoặc trạng thái bệnh lí nào
và cũng tương tác với tính dễ bị tổn thương cũng như chi phối đến nguy cơ xuất hiện các rối loạn Tính dễ bị tổn thương sinh học của cá nhân càng thấp thì stress càng phải lớn mới có thể gây ra rối loạn và ngược lại, tính dễ bị tổn thương sinh học của cá nhân cao thì chỉ cần có một stress nhỏ cũng có thể gây
ra rối loạnvà chúng có thể gây ra các vấn đề khác nhau ở mỗi rối loạn khác nhau
1.1.3.Tổng quan kết quả nghiên cứu đi trước liên quan đến nhận thức của cộng đồng về biểu hiện, nguyên nhân tổn thương SKTT và hành vi ứng xử
Nhận thức về các biểu hiện tổn thương SKTT.Đã có một số nghiên
cứu tìm hiểu về quan niệm, nhận thức của cộng đồng về các biểu hiện và nguyên nhân tổn thương SKTT được tiến hành trên thế giới Về cơ bản, các nghiên cứu đều khẳng định rằng mỗi cộng đồng hay các cha mẹ có nhiều cách tiếp cận khác nhau về vấn đề này Cách tiếp cận của các bậc cha mẹ về vấn đề tổn thương SKTT ở trẻ em thay đổi theo thời gian cũng như thay đổi theo sự phát triển, lớn lên của đứa trẻ Các nghiên cứu cũng khẳng định rằng nếu có thể hiểu được quan niệm, nhận thức và cách tiếp cận của cộng đồng về các biểu hiện tổn thương SKTT thì các nhà khoa học có thể có kế hoạch giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về vấn đề này, giúp tái định hướng cộng đồng trong việc tìm kiếm các dịch vụ chăm chữa phù hợp cũng như thúc đẩy sự
Trang 27cam kết của cộng đồng với quá trình can thiệp, trị liệu để đạt được hiệu quả trị liệu cao nhất [14].Trong phần dưới đây, chúng tôi xin điểm lại một số nghiên
cứu đi trước liên quan đến nhận thức của cộng đồng về biểu hiện, nguyên nhân tổn thương SKTT
Nghiên cứu của, Mc Kenvey và David Sang tiến hành trên 283 bậc cha
mẹ người Việt Nam nhằm xác định các triệu chứng tâm bệnh học và tổn thương sức khỏe tâm thần ở trẻ, nhận thức về nguyên nhân cũng như hiểu biết của họ về các phương thức chữa trị Kết quả nghiên cứu về nhận thức các biểu hiện tổn thương SKTT ở trẻ được hơn 50% bố mẹ xác định theo thứ tự từ cao
xuống thấp gồm (a) mất định hướng; (b) ảo giác; (c) hoang tưởng; (d) ý
tưởng tự sát; (e) rối loạn tư duy; (f) luôn luôn sợ hãi; (g) cảm xúc thay đổi quá nhanh Các biểu hiện hành vi khác được ít hơn 10% bố mẹ xác định là
biểu hiện tổn thương SKTT gồm (a) đánh nhau, (b) rối loạn ăn uống; (c) bỏ
nhà ra đi; (d) ăn cắp; (e) lạm dụng chất; (f) đái dầm[20, tr.207- 212].
Cũng theo nghiên cứu của Mc Kenvey và David Sang , các bậc cha mẹ ViệtNam cũng nhận diện được một số dịch vụ chăm sóc tổn thương SKTT cho con em Tuy nhiên cũng chỉ có khoảng 50% cha mẹ trong mẫu nghiên cứu cho rằng nếu con có các biểu hiện tổn thương SKTT thì cần tìm đến bác
sỹ tâm thần (53,4%), nhà tâm lý (47,5%) các cơ sở chăm chữa SKTT hoặc tâm lý (46%), bệnh viện đa khoa (36,1%) Phần lớn các bậc cha mẹ không cho rằng nhân viên công tác xã hội, giáo viên giáo dục đặc biệt, nhà tâm lý giáo dục có thể giúp đỡ cho các vấn đề tổn thương SKTT đã được nêu Ngoài
ra, cũng còn một số lượng các bậc cha mẹ tin vào các phương pháp không có bằng chứng khoa học như dùng thảo dược, cúng bái, châm cứu,bấm huyệt[20].
Trong công trình luận án tiến Sĩ của Mohammed S Lodhi Khan năm
2005, tác giả nghiên cứu quan niệm của cộng đồng người Ấn độ về các biểu hiện tổn thương sức khỏe tâm thần cũng như các tiêu chí để xác định thế nào
là một người bình thường Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn cộng đồng
Trang 28xác định một người bình thường là có một sức khỏe tốt và cảm xúc cân bằng,
có thể thực hiện các hoạt động chức năng hàng ngày một cách hiệu quả, có khả năng học tập một cách hiệu quả, có khả năng tự chủ trong các mối quan
hệ xã hội, có mục tiêu và có kế hoạch thực hiện mục tiêu… Ngược lại các dấu hiệu chủ yếu để nhận diện tổn thương SKTT là các hành vi và suy nghĩ mang tính phá hủy hoặc lập dị, không có khả năng kiểm soát và cân bằng cảm xúc
Từ đó, cộng đồng xác định tiêu chí để phân biệt những người bình thường và người tổn thương SKTT và so sánh hành vi cảm xúc của họ đối với các chuẩn mực chung[17].
Nghiên cứu của Trần Thành Nam trong đề tài “Tìm hiểu nhận thức của
các bậc cha mẹ về tổn thương SKTT của trẻ em” cho thấy quan niệm chung
về tổn thương SKTT- nhận thức của cha mẹ về SKTT vẫn còn khá mơ hồ và mang nặng tính quan niệm đó là bệnh lý vì thế mà có đến 78,64% số người cho rằng tổn thương SKTT là các biểu hiện ở thể nặng như các tổn thương về não, viêm não dẫn đến mất ý thức, bệnh nhân không nhận biết được mọi người xung quanh, không nhận biết được người thân, một số khác cho rằng các biểu hiện không giống người khác như hành động đần độn, kích động đập phá, có ảo giác, hoang tưởng, tự kỷ, điên: là các dấu hiệu thường có ở những trẻ bị tổn thương SKTT Đặc biệt một số các bậc cha mẹ cho rằng trẻ bị tổn thương SKTT thường có biểu hiện kích động, co giật Trong khi đó chỉ có 11,97% quan niệm tổn thương SKTT là các biểu hiện hành vi bất thường ở thể nhẹ, bắt đầu có ảnh hưởng đến hoạt động học tập, vui chơi của các em Cũng theo nghiên cứu này, nhận thức về nguyên nhân gây ra các tổn thương SKTT cho thấy khả năng nhận biết các biểu hiện của tổn thương SKTT của các bậc cha mẹ, quan niệm tổn thương SKTT thiên về các biểu hiện nặng, mang tính bệnh lý ảnh hưởng đến nhận thức về nguyên nhân gây ra các tổn thương SKTT Có đến 84,1% số người được hỏi cho rằng nguyên nhân dẫn đến tổn thương SKTT là do mất cân bằng về sinh học và sinh hoá não Đây là nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao nhất Ngoài ra, các bậc cha mẹ cho rằng các
Trang 29chấn thương về mặt cơ thể, các stress tâm lý là nguyên nhân chủ yếu thứ hai (chiếm 71,5 %) Nguyên nhân di truyền đứng thứ tư sau nguyên nhân gia đình bất ổn với 59,9% số người được điều tra Nguyên nhân giáo dục không được các bậc cha mẹ đánh giá chỉ chiếm 36,2% Tỷ lệ thu được phù hợp với quan niệm đánh giá tổn thương SKTT thiên về những bệnh tật tâm thần thì nhiều bậc cha mẹ đề cao những nguyên mang tính di truyền, sinh học Sau đó là các nguyên nhân do bệnh cơ thể, do cú sốc tâm lý (stress), hay các vấn đề của gia đình như bố mẹ ly dị, trẻ bị hành hạ Đó là những nguyên nhân ít nhiều gây ra những tổn thương nặng, dễ nhận ra bằng các hành vi, cảm xúc bất thường của trẻ Bên cạnh đó vẫn còn một số bậc cha mẹ cho rằng tổn thương SKTT là do
số phận (3,9%) hay do bị ma quỷ ám ảnh (13,9%) Nhận thức này cũng có sự chênh lệch mang ý nghĩa thống kê theo giới tính, theo trình độ học vấn hoặc theo cơ cấu đối tượng Như vậy cho thấy rất rõ là trình độ học vấn có ảnh hưởng đến nhận thức về nguyên nhân gây tổn thương SKTT[6].
Gần đây hơn, nghiên cứu của Van der Ham và cộng sự tiến hành năm
2011, sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và thảo luận nhóm trên hơn 200 khách thể sống tại Huế, Việt Nam nhằm đánh giá nhận thức của cộng đồng về các biểu hiện tổn thương SKTT và hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ cho thấy cha mẹ thường quan niệm các dấu hiệu của tổn thương sức khỏe tâm thần là nói những điều vô lý, cười nói một mình, bỏ nhà đi lang thang Các nguyên nhần chủ yếu mà cộng đồng cho rằng dẫn đến tổn thương SKTT là do
áp lực cuộc sống quá lớn hoặc do suy nghĩ/học tập quá nhiều Hầu hết cộng đồng cho rằng trước những biểu hiện tổn thương SKTT như vậy cần tìm kiếm
sự giúp đỡ từ bác sỹ và sử dụng thuốc là cách thức phổ biến nhất để chữa trị[15].
Một nghiên cứu khác của Gur K Sener N, Kucuk L Cetindag Z &Basar
M được tiến hành năm 2012 nhằm tìm hiểu quan niệm của giáo viên về tổn thương SKTT Nghiên cứu đã điều tra trên 260 giáo viên bằng bảng hỏi tự đánh giá về các biểu hiện tổn thương SKTT Kết quả nghiên cứu cho thấy
Trang 30giáo viên đánh giá các biểu hiện mang tính nguy hiểm là biểu hiện tổn thương SKTT nhiều nhất Tiếp sau đó các biểu hiện kỹ năng xã hội kém/ kỹ năng liên
nhân cách kém được đánh giá là tổn thương SKTT xếp thứ 2 Cuối cùng, giáo
viên đánh giá những hành vi thu mình, ngại ngùng, xấu hổ của học sinh ít là
dấu hiệu của tổn thương SKTT nhất Qua kết quả thu được, tác giả rút ra kết
luận rằngnhận thức và thái độ của giáo viên đối với các biểu hiện tổn thương SKTT còn hạn chế và mang tính tiêu cực Tương ứng với nhận thức và thái độ trên, hành vi ứng xử của các giáo viên này là rất khắt khe và thậm chí là không phù hợp với những học sinh có những biểu hiện hành vi cảm xúc như
đã nêu [13].
Nhận thức vềnguyên nhân gây ra tổn thương SKTT.Công trình
nghiên cứu của các tác giả Shirk, Talmi, & Olds [23]cho thấy cha mẹ thường cho rằng nguyên nhân dẫn đến tổn thương SKTT ở trẻ là kết quả của nhiều yếu tố tác động trong đó có các quá trình sinh học, tâm lý và xã hội Trong nghiên cứu khác của Shirk và cộng sự lại cho thấy cha mẹ nhận thức rằng một bệnh tâm thần có thể do nhiều yếu tố nguyên nhân kết hợp lại và một tổn thương trong khía cạnh sinh học, tâm lý hoặc xã hội cũng có thể dẫn đến nhiều dạng tổn thương SKTT.
Một nghiên cứu khác của Yeh, Hough, McCabe, Lau, and Garland cho thấy các bậc cha mẹ thường nhận diện tổn thương SKTT là do các nguyên
nhân thuộc các nhóm (a) tâm sinh lý (ví dụ như các yếu tố thuộc về gia đình
và nhân cách cá nhân); xã hội (ví dụ yếu tố bạn bè, yếu tố văn hóa nhóm/ cộng đồng); (c) tâm linh (ví dụ như những tập tục, niềm tin tôn giáo)[24].
Nhiều cha mẹ cũng cho rằng các yếu tố nguy cơ có thể không gây ra những tổn thương ngay lập tức mà được tích lũy dần qua thời gian Và đến những giai đoạn nhậy cảm hoặc khủng hoảng sẽ bùng phát thành các bệnh tâm thần Cha mẹ cũng nhận thức được rằng các yếu tố nguy cơ có thể ảnh hưởng tới tổn thương SKTT theo một chiều, hai chiều và quá trình ảnh hưởng
Trang 31có thể không đồng nhất trong từng giai đoạn [23], [Kazdin, Kraemer, Kessler, Kupfer, & Offord, 1997]
Trong các nghiên cứu về nhận thức của cha mẹ đối với nguyên nhân tổn thương SKTT, các bậc cha mẹ thường nhận diện tổn thương SKTT theo
mô hình bệnh học (tức là có các triệu chứng nhất định thì sẽ có bệnh) Khi các triệu chứng mất đi thì bệnh cũng được xem là khỏi Và như vậy, các bậc cha
mẹ thường tin tưởng vào việc dùng thuốc để làm biết mất các triệu chứng (Johnston and Freeman, 1997) Với cách tiếp cận này, các bậc cha mẹ thường chủ quan và không nhận diện được các dấu hiệu ban đầu của bệnh Chính vì vậy các bậc cha mẹ thường chỉ quan tâm và có nhu cầu tìm kiếm sự hỗ trợ khi các dấu hiệu bệnh đã trở nên trầm trọng
Còn theo nghiên cứu củaMohammed S Lodhi Khanđã chỉ ra nguyên nhân lớn nhất mà cộng đồng xác định là yếu tố quan trọng dẫn đến các tổn thương SKTT là căng thẳng từ môi trường và cách một cá nhân phản ứng lại với những căng thẳng đến từ môi trường một cách không phù hợp[18]
Nghiên cứu của Shanley trên các bậc cha mẹ về các biểu hiện tổn thương SKTT ở trẻ cũng như nguyên nhân của tổn thương SKTT cho thấy nguyên nhân góp phần tạo ra tổn thương SKTT đến từ nhiều bối cảnh như yếu
tố cá nhân, gia đình và cộng đồng Cha mẹ cho rằng các yếu tố này cùng tác động gây ra nguy cơ tổn thương SKTT một cách tổng hợp chứ không phải đơn lẻ.Nghiên cứu của Shanley cũng chỉ ra các nhóm nguyên nhân gây ra tổn
thương sức khỏe gồm (a) yếu tố sinh học (b) yếu tổ thể chất; (c) yếu tố động
cơ cá nhân, (d) yếu tố cảm xúc cá nhân; (e) yếu tố nhận thức; (f) yếu tố xã hội; (g) những sự kiện căng thẳng trong cuộc sống; (h) sang chấn; (i) yếu tố tâm linh, (j) yếu tố liên quan đến phong cách hành vi của cha mẹ, (k) tương tác liên cá nhân[12, tr 207 - 212].
Nhận thức về hiệu quả can thiệp trị liệu các vấn đề tổn thương SKTT trong cộng đồng Nghiên cứu của nhóm tác giả Rosemarie Kobau; Matthew
M Zack; Cecily Luncheon và cộng sự chỉ ra rằng có hơn 80% người dân cho
Trang 32rằng can thiệp tâm lý ít nhiều có hiệu quả trong việc làm giảm các biểu hiện tổn thương SKTT Nhóm người đã từng đi điều trị bằng tâm lý có xu hướng cho rằng can thiệp tâm lý có hiệu quả với các tổn thương SKTT so với nhóm người chưa bao giờ từng đi can thiệp tâm lý, họ ít tin tưởng vào hiệu quả của trị liệu tâm lý[22]
Nghiên cứu của tác giả Trần Thành Nam [6],cho thấy có 52,8% số người điều tra trả lời là có biết về các cơ sở chăm chữa tổn thương SKTT Tuy nhiên, với những người trả lời rằng có biết các cơ sở chăm chữa tổn thương SKTT thì phần lớn trong số họ chỉ ra các Khoa Tâm thần trong bệnh viện hoặc bệnh viện Tâm thần trên địa bàn chứ không có phương án nêu các trung tâm chăm sóc tâm lý hoặc các trung tâm giáo dục đặc biệt Bên cạnh đó, hành vi, thái độ của các bậc cha mẹ khi con họ có biểu hiện tổn thương SKTT, thì có đến 95,1 % nhờ bác sỹ chuyên khoa tâm thần, cán bộ tâm lý giúp, 46,6 % nhờ chuyên viên y học dân tộc và 52,1; 52, 6 % nhờ họ hàng trong gia đình hoặc nhờ nhà trường giúp đỡ, 8,4% nhờ tổ chức tôn giáo giúp
đỡ
Tóm lại, các nghiên cứu đi trước đã cung cấp bằng chứng cho thấy: phần lớn các đối tượng đều nhận diện được những dấu hiệu của tổn thương SKTT nhưng ở các mức độ về dấu hiệu/ tên bệnh nặng Khả năng nhận biết chủ yếu dựa vào những thuộc tính bề ngoài, chưa nhận diện được một cách chính xác về nguyên nhân cũng như các dấu hiệu, biểu hiện của các tổn thương SKTT Đa số các nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra một điểm rất rõ ràng rằng họ nhận biết về nguyên nhân gây ra bệnh phân theo thái cực hoặc làtheo
mô hình bệnh học, hoặc do hoàn toàn do chấn thương từmôi trường Chính vì nhận biết còn hạn chế dẫn đến cách ứng xử khi người thân của họ có các biểu hiện về tổn thương SKTT thì họ thường có xu hướng tìm đến các bác sỹ (do nguyên nhân theo mô hình sinh lý, bệnh học) hoặc tự chữa bệnh bằng cách nhờ những người thân xung quanh giúp đỡ (do họ quan niệm là do môi trường sống gây ra) Nếu có nhờ đến sự trợ giúp bên ngoài đa số họ tin vào bác sỹ:
Trang 33khám bệnh kê đơnhơn là việc đi khám chữa trị với các liệu pháp tâm lý được giúp đỡ bởi một người được đào tạo bài bản về trị liệu Có một số ít bắt đầu
có ý thức về việc chữa trị bằng tâm lý, nhóm này đa số là những người đã có trải nghiệm trực tiếp hoặc gián tiếp qua người thân của họ đã được tham gia vào quá trình trị liệu họ cho rằng liệu pháp cũng mang lại được một hiệu quả nhất định nào đó
1.2 Các khái niệm công cụ của đề tài
Trong phần này,chúng tôi sẽ trình bày các khái niệm công cụ như SKTT,tổn thương SKTT cũng như nhận thức đúng về các biểu hiện tổn thương SKTT, cách thức vệ sinh, chăm sóc và dự phòng các vấn đề tổn thương SKTT Khái niệm trường công lập, trường tư thục và trường dân lập theo địa bàn khách thể nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm về SKTT
Năm 1998, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra định nghĩa về SKTT, bao gồm sự thỏa mái về thể chất, tâm thần và xã hội Khái niệm này hiện nay được đông đảo các nhà nghiên cứu và chuyên môn sử dụng Theo đó các tiêu chí của SKTT là
- Một cảm giác sống thực sự thoải mái
- Một sự tin tưởng vào giá trị bản thân và vào phẩm chất, giá trị của người khác
- Có khả năng cư xử với thế giới nội tâm về tư duy và về cảm xúc, quản lý cuộc sống và chấp nhận nguy hiểm
- Có khả năng tạo dựng, phát triển và duy trì thoả đáng các mối quan hệ cá nhân
- Có khả năng tự hàn gắn sau các choáng tâm lý hay stress Tổ chức y tế thê giới – Geneva [19]
Tại Việt Nam, GS Nguyễn Việt cũng đưa ra một quan điểm tương tự
về khái niệm này:“SKTT không chỉ là một trạng thái không có rối loạn hay
dị tật về tâm thần, mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thỏa mái”
Trang 34Mỗi một cá nhân muốn có một trạng thái tâm thần hoàn toàn thỏa mái thì cần phải có chất lượng nuôi sống tốt, có được sự cân bằng và hòa hợp giữa chính mỗi cá nhân, giữa các cá nhân với nhau và môi trường xung quanh, môi trường xã hội [Nguyễn Việt – 1999]
Như vậy, một trạng thái SKTT tốt là trạng thái mà con người không những cảm thấy khỏe về mặt thể chất mà còn sảng khoái, thậm chí thăng hoa
về mặt tinh thần
Từ định nghĩa trên, đề tài của chúng tôi quan niệm về SKTTlà khả
năng tự chủ bản thân, khả năng thích nghi với môi trường, hoà hợp và tương tác với xã hội muốn vậy cần phải có chất lượng nuôi sống tốt, có được sự cân bằng giữa cá nhân, người thân xung quanh và xã hội, đồng thời phái có chất lượng cuộc sống tốt
Với khái niệm về SKTT như trên, các tiêu chí đánh giá một người có SKTT tốt theo quan điểm của chúng tôi bao gồm
- Biết yêu thương và cũng cần được yêu thương
- Cảm thấy vững tâm và thích ứng được với môi trường sống xung quanh
- Tin ở người và tin ở chính mình
- Hiểu được những đổi thay trong tình cảm và trong hành động của mình, đồng thời chịu trách nhiệm về những thay đổi đó
- Hiểu mình để tháng và vượt qua những trải nghiệm đau thương (stress)
- Biết rút ra các bài học từ kinh nghiệm
- Đủ khả năng đề biểu lộ ý nghĩ và cảm xúc của mình
- Có óc khôi hài thông minh
Đối với trẻ em, SKTT được đánh giá bằng sự phát triển tâm lý bình thường thể hiện qua:
- Khả năng học tập, năng lực độc lập trong tư duy
- Khả năng thích ứng, linh hoạt trong mọi tình huống
Trang 35- Cảm xúc cân bằng không lo sợ trước mọi tình huống (stress)
- Có hành vi thích hợp với yêu cầu của lứa tuổi, trong các tình huống của cuộc sống
1.2.2.Khái niệm tổn thương SKTT và nguyên nhân
Nhìn chung, có thể thấy người dân vẫn hiểu rất mơ hồ về tổn thương SKTT và vì vậy xã hội vẫn kỳ thị với những người không may có tổn thương SKTT/ mắc bệnh Đó là một trở ngại lớn với công tác phát hiện và chữa trị bệnh kịp thời Vì vậy cần phải thay đổi một cách đồng bộ trong tuyên truyền nhận thức của các tầng lớp người dân về SKTT nói chung, bệnh tâm thần nói riêng mới mong cải thiện được tình hình Rất nhiều bệnh nhân và gia đình đã nhầm lẫn bệnh về SKTT với bệnh về thần kinh nên khi có bệnh thường tìm đến bác sĩ thần kinh và kết quả là bệnh không được phát hiện kịp thời và không chữa khỏi Từ nhiều lần không khỏi sẽ dẫn đến định kiến về bệnh tâm thần là bệnh nan y chưa không khỏi
Theo các bảng phân loại bệnh tâm thần ICD – 10 và DSM-IV, quan điểm đúng về nguyên nhân gây tổn thương SKTT được trình bày như sau[7]:
- Bản chất của hoạt động tâm thần là thông qua bộ não, phản ánh một cách thích hợp thực tại khách quan vào trong chủ quan của mỗi con người Vì vậy rối loạn tâm thần trước tiên là do những nguyên nhân trức tiếp làm tổn thương bộ não hay làm trở ngại hoạt động của não gây ra (não bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc, bị chấn thương…)
- Cơ thể và tâm thần của con người là một khối thống nhất Bộ não và các phủ tạng, tuyến bội, tuyến nội tiết…hoạt động trong mối liên quan qua lại với nhau rất chặt chẽ Vì vậy rối loạn tâm thần còn là một bệnh của toàn bộ cơ thể Các bệnh nội tạng, nội tiết đều gây ra những rối loạn tâm thần nhất định
-Cơ thể, tâm thần và môi trường sinh sống có tác động qua lại với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau Con người hoạt động để cải tạo môi trường đồng thời luôn luôn phải chịu ảnh hưởng của môi trường Vì vậy rối loạn tâm thần cũng
Trang 36là một bệnh do các nhân tố có hại của môi trường sinh sống gây ra (điều kiện
ăn, ở, làm việc không tốt, ảnh hưởng của các tệ nạn xã hội, giáo dục không đúng, tác động của các sang chấn tâm thần…)
-Bệnh phát sinh không chỉ do mỗi một nhân tố gây bệnh mà còn phụ thuộc vào sức đề kháng của cơ thể, sức chịu đựng của hệ thần kinh và đặc điểm tâm lý của từng cá nhân Vì vậy rối loạn tâm thần phát sinh còn do những điều kiện không thuận lợi của từng bệnh nhân (sức khoẻ toàn thân, phong cách, loại hình thần kinh, tuổi tác, giới tính, yếu tố di truyền…) Đó là hậu quả của tác động qua lại rất phức tạp giữa các nhân tố ngoại lai và các nhân tố nội sinh của từng bệnh nhân
-Mọi bệnh tâm thần đều có cơ sở vật chất của nó, đều do những biến đổi rõ ràng hay tinh vi trong cơ thể sinh ra Vì vậy đối với những rối loạn tâm thần mà hiện nay căn nguyên không rõ ràng, hướng nghiên cứu đúng đắn nhất
là tìm nguyên nhân ở những biến đổi tinh vi trong cơ thể về các mặt sinh hoá, miễn dịch, di truyền…Các hướng tìm nguyên nhân bệnh tâm thần thuần tuý bằng cách quan sát nội tâm, phân tích tâm lý…cho rằng rối loạn tâm thần là
do một động lực tâm lý nào đó gây ra hay do phản ứng tâm lý con người trước các vấn đề triết học của cuộc sống gây ra…đều là những hướng duy tâm
1.2.3 Những vấn đề SKTT thường gặp ở trẻ em
Theo hiệp hội tâm thần Mỹ đưa ra chẩn đoán về các rồi loạn tâm thần trong DSM – IV [7, tr 35-57]thì có một số rối loạn thường được chẩn đoán ở tuổi trẻ em và thanh thiếu niên cụ thể như sau:
Trang 371.2.3.2 Những rối loạn về học tập bao gồm các rối loạn như:
Rối loạn về đọc, rối loạn tính toán, rối loạn diễn đạt bằng chữ viết, rối loạn về học tập không đặc hiệu
Là những rối loạn được xác định dựa trên các trắc nghiệm được đo lường chẩn hóa để đánh giá mức độ đọc, tính toán, diễn đạt viết hoặc các rối loạn khác được gặp ở trẻ đặc biệt ảnh hưởng đến chất lượng học tập của trẻ
1.2.3.3 Những rối loạn về kỹ năng vận động:
Rối loạn phối hợp vận động: Theo đó trẻ gặp phải khó khăn này khi
nhận thấy trẻ không đạt được sự phối hợp cần thiết hoặc phải rất khó khăn khi cần đến các kỹ năng phối hợp vận động để đáp ứng một yêu cầu nào đó Và những vấn đề này có thể được chẩn đoán xác định nếu nó làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của trẻ cũng như trong các sinh hoạt hàng ngày (loại trừ các bệnh về thực thể như: bại não, liệt bán thân, rối loạn phát triển lan tỏa hoặc chậm phát triển tâm thần)
1.2.3.4 Những rối loạn về giao tiếp:
Bao gồm các rối loạn: Rối loạn ngôn ngữ diễn đạt, rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận và diễn đạt ngôn ngữ hỗn hợp, Rối loạn âm vị, nói lắp hoặc rối loạn giao tiếp không đặc hiệu Những khó khăn này được chẩn đoán bằng các trắc nghiệm được được đo lường chuẩn hóa về các khả năng hiện có có trẻ Những rối loạn được chẩn đoán xác định khi nó ảnh hưởng trực tiếp đên trẻ trong sinh hoạt hàng ngày cũng như kết quả học tập ở trường hoặc trong hoạt động giao lưu của trẻ
1.2.3.5 Những rối loạn phát triển lan tỏa:
Bao gồm: Rối loạn tự tỏa, hộichứng Rett, Rối loạn tan rã ở trẻ em, hội chững Asperger, rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu
Rối loạn tự tỏa (tự kỷ):
Nó bao gồm các đặc điểm để nghi ngờ và nếu 6 hoặc nhiều hơn sáu dấu hiệu được mô tả như:
(1) Biến đổi chất lượng tương tác xã hội như: biến đồi trong sử dụng hành
Trang 38viphingôn ngữ đa dạng, mất khả năng thiết lập quan hệ với các bạn bè cũng lứa, mất đi trao đổi về mặt tương tác xã hội, cảm xúc
(2) Biến đổi chất lượng về sự giao tiếp được biểu hiện bới các yếu tố như: Chậm hoặc mất hoàn toàn sự phát triển ngôn ngữ nói, hoặc nói được thì khó, khởi đầu,duy trì, phát triển giao tiếp với người khác, ít chơi tưởng tượng, nhại hoặc lặp lại lời
(3) Giới hạn hoặc định hình dập khuôn lặp lại trong các hành vi: bận tâm vào một số hành vi bất thường, thói quen cứng nhắc, nghi thức đặc biệt, có hành vi vận động kiểu định hình lặp đi lặp lại như: vỗ tay, vặn xoắn…
1.2.3.6 Những rối loạn: liên quan đếngiảm chú ý và rối loạn hành vi:
Bao gồm rối loạn: Giảm chú ý/tăng động, Giảm chú ý/ tăng động loại hỗn hợp, Giảm chú ý/ tăng động loại mất chú ý chiếm ưu thế, Giảm chú ý/ tăng động loại tăng động – xung động chiếm ưu thế; Rối loạn Giảm chú ý/ tăng động không đặc hiệu, Rối loạn cư xử, Rối loạn chống đối với khiêu khích, Rối loạn hành vi không đặc hiệu
1.2.3.7 Những rối loạn ăn uống và rối loạn về hành vi ăn uống ở trẻ
thơhoặc trẻ embao gồm:Chứng ăn bậy, Rối loạn chứng nhai lại, Rối loạn ăn
uống ở trẻ thơ
1.2.3.8 Các rối loạn Tics
Những tics vận động và/hoặc âm thanh duy nhất hoặc nhiều (tics là một
cứ động hoặc một phát âm xuất hiện bất ngờ, nhanh chóng, tái phát, định hình
và không thành nhịp) Chẩn đoán dựa vào tần xuất xuất hiện trong ngày: ít nhất trong 4 tuần và không quá 12 tháng liên tiếp, không liên quan đến bệnh khác và rối loạn có ảnh hưởng đáng kể trong sinh hoạt của cá nhân
1.2.3.9 Rối loạn khác ở trẻ thơ, trẻ em hoặc thanh thiếu niên:
Rối loạn lo âu chia ly, Câm chọn lọc, rối loạn phản ứng trong sự gắn bó
ở trẻ thơ hoặc trẻ em, Rối loạn: những cử động định hình trước đây, những định hình/ những hành vi lặp đi lặp lại, rối loạn không đặc hiệu ở trẻ thơ, trẻ
em hoặc thanh thiếu niên
Trang 391.2.4 Khái niệm chăm sóc SKTT
Khái niệm chăm sóc SKTT được hiểu là làm sao cho con người có khả năng
- Hoà hợp được với xã hội
- Thích nghi được với môi trường
- Có ích cho môi trường xã hội
Theo Như vậy nội dung chính của chăm sóc SKTT là: (a) Làm tăng SKTT: bằng các biện pháp giáo dục, rèn luyện, tăng hiệu suất lao động và (b) Chống sự phá hoại của SKTT: phòng các bệnh tâm thần và các bệnh cơ thể khác, chống các thói hư tật xấu, chống nghiện ma tuý, lạm dụng các chất kích thích khác…[25]
1.2.5 Vệ sinh và dự phòng các tổn thương SKTT
Tổ chức lao động thích hợp:
Nhằm mục đích phát huy năng lực tâm thần của cá nhân, đồng thời trách mệt mỏi thần kinh, suy nhược cơ thể
Xen kẽ điều hoà lao động trí óc và lao động chân tay, xen kẽ lao động
và nghỉ ngơi, giải trí, thể dục, thể thao
Có chế độ lao động riêng, thích hợp cho từng loại lao động trí óc, có quy chế học tập cho các loại lớp, các loại trường
Giáo dục thích hợp trong gia đình, nhà trường, tập thể và xã hội:
Nhằm mục đích bồi dưỡng một nhân cách mạnh, có khả năng chịu đựng cao, tự kiểm chế tốt
Trang 40Quá nuông chiều hay qúa nghiêm khắc (mắng chửi, đánh đập) đều là hai cách giáo dục không đúng đắn trong gia đình Quá nuông chiều, quá tâng bốc sẽ hình thành tính cách xấu cho đứa bé tạo điều kiện cho rối loạn tâm căn hysteria dễ phát triển sau này Quá nghiêm khắc sẽ làm cho đứa bé nhút nhát, mất sáng kiến, tự ti, tạo điều kiện cho rối loạn tâm căn suy nhược tâm thần dễ phát triển về sau
Cần giáo dục tính tập thể cho trẻ em, tránh giữ con ru rú trong nhà, làm đứa trẻ trở nên vị kỷ, ỷ lại vào bố mẹ
Tuỳ sức, tuỳ tuổi, động viên trẻ em lao động, tự giải quyết khó khăn, rèn luyện tính dũng cảm, chịu đựng gian khổ để khi ra đời đủ sức chống đỡ với các tác nhân của môi trường
Giáo dục của gia đình phải kết hợp chặt chẽ nhịp nhàng với giáo dục của nhà trường và đoàn thể Đối với thanh thiếu niên ở tuổi dậy thì và sau tuổi dậy thì, phải biết kết hợp khéo léo, giáo dục thái độ đúng đắn trong vấn đề tình bạn, tình đồng chí,
Đặc tính của nữ giới, phải giải thích các biến đổi về sinh lý, tâm thần qua các giai đoạn phát triển sinh dục (lúc hành kinh, thai nghén, tắc kinh…), trách những bỡ ngỡ, lo lắng quá độ trước các biến đổi ấy
Hạn chế và loại trừ các sang chấn tâm thần trường diễn xuất hiện trong mối quan hệ thường ngày:
Trong gia đình, tránh cho con em những cảm xúc nặng nề trước cảnh xung đột hay bạo lực giữa cha mẹ hay giữa các thành viên khác trong gia đình
Trong công tác, các cấp lãnh đạo cần liên hệ chặt chẽ với quần chúng, phát hiện và giải quyết kịp thời, thích đáng những thắc mắc, nguyện vọng của quần chúng Giữa những người cùng công tác trông một cơ quan, cùng sống chung trong một tập thể, cần giải quyết tốt những mâu thuẫn, những thắc mắc
và xây dựng một tinh thần đoàn kết, hợp tác xã hội chủ nghĩa