1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thông điệp về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa

125 481 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Hàng loạt các tờ báo in và các hãng tin tức trong nước và quốc tế đã truyền đi một thông điệp đầy quyến rũ và mê hoặc về một trong những doanh nhân vĩ đại của nhân loạ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ LÀ

THÔNG ĐIỆP VỀ DOANH NHÂN TRÊN BÁO IN

DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học

Hà Nội – 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ LÀ

THÔNG ĐIỆP VỀ DOANH NHÂN TRÊN BÁO IN

DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học

Mã số: 60.32.01.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Minh Thái

Hà Nội – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “Thông điệp về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn văn

hóa” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS TS

Nguyễn Thị Minh Thái Các tài liệu sử dụng tham khảo, trích dẫn trong Luận văn đều đảm bảo rõ nguồn, trung thực Các kết quả nghiên cứu được công bố trong Luận văn là hoàn toàn chính xác, không trùng lặp bất kỳ công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước

Hà Nội, ngày 05 tháng 4 năm 2016

Tác giả

Phạm Thị Là

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Thị Minh Thái - người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô giảng dạy bộ môn đã tận tình dạy dỗ những kiến thức nền tảng, nâng cao về nghề báo và các lĩnh vực liên quan trong suốt những năm học vừa qua và tạo điều kiện để tôi hoàn thành Luận văn này

Xin cảm ơn các anh, chị trong tòa soạn Thời báo Kinh tế Việt Nam, báo Diễn đàn Doanh nghiệp, tạp chí Doanh nhân Sài Gòn đã giúp đỡ tôi về tư liệu nghiên cứu đề tài

Xin được cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên tinh thần trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Hà Nội, ngày 05 tháng 4 năm 2016

Tác giả

Phạm Thị Là

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 9

7 Kết cấu luận văn 10

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ TRUYỀN THÔNG GIỮA BÁO CHÍ VÀ DOANH NHÂN TRÊN BÁO IN 11

1.1 Hệ thống các khái niệm 11

1.1.1 Báo chí, báo in, tạp chí 11

1.1.2 Truyền thông 16

1.1.3 Thông điệp truyền thông 16

1.1.4 Doanh nhân 17

1.1.5 Văn hóa 21

1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về doanh nhân 22

1.3 Góc nhìn văn hóa truyền thông về doanh nhân 25

1.3.1 Góc nhìn văn hóa tích cực và góc nhìn văn hóa phản biện 26

Ba là, thông điệp về doanh nhân sáng tạo – đổi mới “Không ngừng sáng tạo thì sẽ không sợ bị diệt vong”, Henry Ford [13, tr.138] 29

1.3.2 Mối quan hệ giữa báo chí và văn hóa 33

Tiểu kết Chương 1 35

Chương 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THÔNG ĐIỆP VỀ DOANH NHÂN TRÊN BÁO IN DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA 37

2.1 Về các tờ báo lựa chọn khảo sát 37

Trang 6

2.1.1 Thơ ̀ i báo Kinh tế Việt Nam 37

2.1.2 Báo Diễn đàn Doanh nghiệp 38

2.1.3 Tạp chí Doanh nhân Sài Gòn 40

2.1.4 Tiêu chí và số lượng bài báo khảo sát 41

2.2 Phân tích thông điệp về doanh nhân 41

2.2.1 Góc nhìn văn hóa tích cực - góc nhìn đẹp 42

2.2.2 Góc nhìn văn hóa phản biện 69

2.3 Đánh giá thông điệp về doanh nhân từ hai góc nhìn văn hóa trên các tờ báo khảo sát 70

2.3.1 Ưu điểm 70

2.3.2 Hạn chế 77

Tiểu kết Chương 2 84

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG ĐIỆP VỀ DOANH NHÂN TRÊN BÁO IN 86

3.1 Nâng cao văn hóa doanh nhân 86

3.1.1 Giải pháp từ quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước 86

3.1.2 Sự chủ động của doanh nhân 94

3.2 Nâng cao trình độ và đạo đức của nhà báo 97

Tiểu kết Chương 3 105

KẾT LUẬN 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC 114

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

WTO Tổ chức thương mại thế giới

TPP Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hàng loạt các tờ báo in và các hãng tin tức trong nước và quốc tế đã truyền đi một thông điệp đầy quyến rũ và mê hoặc về một trong những doanh nhân vĩ đại của nhân loại: Tỷ phú Mark Zuckerberg, người sáng lập mạng xã hội Facebook với hơn 1,5 tỷ người trên hành tinh tham gia, đã tuyên bố hiến

45 tỷ USD (chiếm 99%) tài sản cuộc đời mình để kêu gọi người khác cải thiện cuộc sống vì tương lai Tỷ phú Bill Gates, một doanh nhân huyền thoại của thế giới, nhiều năm liền là người giàu có nhất trái đất, từ nhiều năm trước đã quyết định đem 95% tài sản làm từ thiện và kêu gọi các tỷ phú khác cùng tham gia Thông điệp về họ xuất hiện dày đặc và liên tục trên các mặt báo Hình ảnh người giàu có hiến tài sản kếch xù của mình cho hoạt động từ thiện được đăng tải trên báo chí đã trở nên quen thuộc với công chúng ở các nước phát triển, nhưng chưa bao giờ là thừa đối với nhân loại Dưới góc nhìn văn hóa, thông điệp trên đã truyền cảm hứng cho công chúng, khiến chúng ta tin tưởng vào tình thương yêu con người Nó thôi thúc con người, nhất là những người trẻ khởi nghiệp, làm giàu và sống có trách nhiệm với cộng động để xây dựng một thế giới an toàn, bình đẳng, nhân ái hơn

Thông điệp về doanh nhân trên báo chí như đã nêu trên đã mang lại niềm đam mê cho những ai ước muốn làm nên điều kỳ diệu của cuộc sống, trong đó có các doanh nhân tương lai

Năm 1986, Việt Nam quyết định đổi mới đất nước, một dấu mốc “lịch sử” đầy ấn tượng của dân tộc, hứa hẹn những thay đổi kinh ngạc cho nền kinh

tế nước nhà Quyết định này còn là mảnh đất màu mỡ để lực lượng doanh nhân ươm mầm, nảy nở Đảng và Nhà nước công nhận nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế tư nhân Tiếp theo, Việt Nam tiếp tục thực hiện cam kết hội nhập với thế giới khi gia nhập WTO, mới đây nhất là TPP Các động thái

Trang 9

này đã mang lại cơ hội vàng cho doanh nhân Việt Nam cất cánh, vươn ra biển lớn Nhưng nó cũng chứa đựng những tiềm ẩn khó lường của hội nhập, các tập đoàn đa quốc gia sẽ thâu tóm thị trường bán buôn và bán lẻ nếu các doanh nhân trong nước chưa chuẩn bị mọi tiềm lực tham gia vào sân chơi thế giới Chúng ta cũng chưa có nhiều thương hiệu, doanh nhân mang tầm quốc tế như Honda, Samsung… Điều đòi hỏi doanh nhân nước nhà phải nỗ lực không biết mệt mỏi và sự sát cánh của Nhà nước, xã hội, trong đó có báo chí để tiếp sức cho doanh nhân nước nhà vươn xa

Hiện nay, doanh nhân được coi là đội quân tiên phong, người lính xung kích trên mặt trận kinh tế Đóng góp của doanh nhân đã góp phần làm bộ mặt kinh tế Việt Nam tươi sáng hơn Chỉ đơn cử doanh nhân Phạm Nhật Vượng, Chủ tịch Tập đoàn Vingroup đã giải quyết việc làm cho trên 17.000 lao động

và là doanh nghiệp tư nhân đóng thuế nhiều nhất hiện nay Bản thân ông cũng

là tỷ phú USD Việt Nam đầu tiên được thế giới công nhận với tài sản lên đến 1,7 tỷ USD Doanh nhân đã góp phần đưa con thuyền đất nước tránh bị tụt hậu so với sự phát triển của thế giới Dó đó, doanh nhân cần được quan tâm nhiều hơn, nhất là công tác truyền thông trên báo chí để xây dựng hình ảnh và thương hiệu

Trên con đường khởi nghiệp và phát triển của doanh nhân thì báo chí luôn là người bạn đồng hành không thể thiếu Có thể nói báo chí, trong đó có báo in là cánh tay nối dài đưa doanh nhân đến với khách hàng, đến với công chúng Những thông điệp về doanh nhân trên báo chí đã góp phần tạo ra hình ảnh và thương hiệu bền vững, đó là những doanh nhân dám chấp nhận mạo hiểm để khởi nghiệp, giàu sức sáng tạo, làm việc chăm chỉ, có trách nhiệm với xã hội Dưới góc nhìn văn hóa thì đó là những hình ảnh đẹp, đầy sức lôi cuốn, mang lại cảm hứng và chứa đựng các giá trị tình thần và giá trị vật chất

Trang 10

Tuy nhiên, trong thực tế, thông điệp về doanh nhân trên báo chí vẫn còn những bất cập, hạn chế cần bàn đến Đó là báo chí có “tô hồng” doanh nhân quá mức để lấy hợp đồng quảng cáo, viết theo đơn đặt hàng của doanh nhân hoặc đó còn là sự sách nhiễu của báo chí với doanh nhân… Tất cả những tồn tại đó cần được nhìn nhận thẳng thắn, nghiêm túc và đưa ra các giải pháp khắc phục

Từ những lý do trên, được sự đồng ý hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn

Thị Minh Thái, tác giả đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Thông điệp về doanh

nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa” Đây là đề tài truyền thông viết về

đội ngũ doanh nhân mà chính tác giả cũng là người trong cuộc nên tác giả luận văn rất tâm huyết, dồn nhiều công sức, có những trăn trở trong quá trình thực hiện Luận văn hứa hẹn mang lại một số giá trị lý luận và thực tiễn

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Đến thời điểm hiện nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào thực

hiện đề tài: “Thông điệp về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa”

Tuy nhiên, có nhiều công trình nghiên cứu gồm: Sách, luận văn và các bài báo, viết về văn hóa, doanh nhân, doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp và thông điệp Đó là các công trình:

2.1 Các luận văn: Một số luận văn trước đó có liên quan một chút đến đề tài, như:

Nguyễn Thanh Hương, “Tác động của báo chí đối với doanh nghiệp”,

Luận văn thạc sĩ năm 2010, Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn này tập trung vào tác động của báo chí đối với doanh nghiệp, bao gồm tác động tích cực và tiêu cực Tác động tích cực là báo chí cung cấp thông tin cho doanh nghiệp về chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, thông tin về thị trường, về đối thủ cạnh tranh, báo chí cổ vũ các doanh nghiệp tiêu biểu và phê phán các doanh nghiệp vi phạm pháp luật để từ đó giúp các doanh nghiệp

Trang 11

phát triển sản xuất kinh doanh Tác giả luận văn còn phân tích tác động tiêu cực là báo chí sách nhiễu doanh nghiệp, tống tiền doanh nghiệp, không trung thực trong tiếp nhận thông tin, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, làm cho nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong kinh doanh

Lê Ngọc Hường, “Hoạt động PR của Doanh nghiệp và báo in tại TP

HCM”, Luận văn thạc sĩ năm 2011, Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học

Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Trong luận văn này, tác giả đã đưa ra các khái niệm về doanh nghiệp, quan hệ công chúng Luận văn tập trung vào vấn đề hoạt động truyền thông, quan hệ công chúng của doanh nghiệp trên báo in ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Luận văn cũng đề cập đến vai trò của báo trong truyền thông, quan hệ công chúng đối với doanh nghiệp Đồng thời, tác giả luận văn đã đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng truyền thồng, quan hệ công chúng cho doanh nghiệp trên báo in

2.2 Sách, báo: Một số cuốn sách của các nhà nghiên cứu có liên quan đến đề

tài, như:

Cuốn sách “Doanh nhân và văn hóa doanh nhân Việt Nam, của Nguyễn

Viết Lộc (Chủ biên), (2015), do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Trong cuốn sách này, các tác giả đã tổng hợp các khái niệm về doanh nhân, văn hóa doanh nhân của nhiều học giả, nhà nghiên cứu nổi tiếng ở nhiều nước trên thế giới Đồng thời cũng đưa vào cuốn sách quan điểm của các nhà nghiên cứu Việt Nam về doanh nhân, văn hóa, văn hóa doanh nhân Từ quan điểm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, các tác giả cuốn sách đã đưa ra khái niệm về doanh nhân và văn hóa doanh nhân

Cũng từ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước trước đó, các tác giả cuốn sách này đã đưa ra các tiêu chí văn hóa doanh nhân Việt Nam

Trang 12

Cuốn sách còn đề xuất các giải pháp để phát triển lực lượng doanh nhân Việt Nam trong tương lai

Cuốn sách “Những điển hình trong xây dựng văn hóa doanh nhân –

doanh nghiệp, của Hoàng Hải (Chủ biên), (2011), Nhà xuất bản Lao động

Cuốn sách tập hợp các bài viết về các doanh nhân điển hình của đất nước, bao gồm các doanh nhân làm chủ các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nhân

là chủ các doanh nghiệp tư nhân Các bài viết về doanh nhân điển hình trong cuốn sách chủ yếu nhấn mạnh về quá trình khởi nghiệp, nắm bắt cơ hội kinh doanh, tinh thần vượt qua khó khăn, thử thách, thành quả đạt được của các doanh nhân, trách nhiệm xã hội Đồng thời, cuốn sách cũng nói lên quan điểm, triết lý sống của các doanh nhân thành đạt của đất nước trong thời gian qua

Ngoài những cuốn sách trên, một số cuốn sách khác cũng viết về doanh

nhân và văn hóa doanh nhân, như cuốn “Vai trò của báo chí trong phát triển

doanh nghiệp” của Phạm Thắng, Hoàng Hải, Nhà xuất bản Lao động…

Bên cạnh đó, cũng có một số bài viết liên quan đến đề tài được đăng

trên báo chí Đơn cử như bài viết “Văn hóa doanh nhân khác với doanh nhân

làm văn hóa” của tác giả Dương Phương Vinh, đăng trên báo Tiền phong

ngày 20/10/2015 Bài viết trao đổi với ông Lê Quốc Vinh, một doanh nhân, đồng thời là người làm truyền thông nổi tiếng ở Việt Nam Trên cơ sở Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đảng lần XII có đề cập phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng và hoàn thiện thị trường văn hóa Ông Lê Quốc Vinh đã đưa ra quan điểm về công nghiệp văn hóa, sáng tạo; văn hóa doanh nhân, trong đó nổi bật là văn hóa ứng xử, làm việc, lối sống của doanh nhân

Bài nghiên cứu của PGS, TS Mai Quỳnh Nam trên Tạp chí Xã hội học,

số 2, 2002, “Thông điệp về trẻ em trên báo hình, báo in”, là một phần kết quả nghiên cứu phân tích quốc tế về Hình ảnh trẻ em trên báo chí do Trung tâm

Trang 13

truyền thông ASIAN (AMIC) phối hợp với Viện Xã hội học thực hiện năm

1999 Nghiên cứu này tiến hành quan sát các thông điệp về trẻ em được thông báo trong tháng 10 năm 1999 về 10 tờ báo in và trên 2 đài truyền hình Tác giả bài viết chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu: nội dung thông điệp về cả: số lượng tờ báo có bài liên quan đến trẻ em, về vị trí, về thể loại, về chuyên mục; cách đưa tin về các vấn đề liên quan đến trẻ em trên truyền hình và báo in; vấn đề trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên báo hình, báo in

Như vậy, vấn đề về văn hóa, doanh nhân, doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp và thông điệp về trẻ em đã có nhiều công trình nghiên cứu bao gồm: Sách, luận văn và bài báo đề cập cả phương diện lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu tập trung vào thông điệp về doanh

nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa Các công trình nghiên cứu trên đã ít

nhiều cung cấp cho tác giả luận văn các khái niệm và kiến thức về văn hóa, doanh nhân, doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp và thông điệp để tác giả

thực hiện luận văn này Với đề tài “Thông điệp về doanh nhân trên báo in

dưới góc nhìn văn hóa”, tác giả sẽ phân tích và đánh giá thực trạng các bài

viết mang thông điệp về doanh nhân trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, báo Diễn đàn Doanh nghiệp và tạp chí Doanh nhân Sài Gòn trên các nội dung:

Thông điệp về doanh nhân nắm bắt cơ hội kinh doanh, dám chấp nhận rủi ro, sáng tạo - đổi mới, đạt thành quả bền vững trong kinh doanh Sự tác động của

những bài viết về doanh nhân ảnh hưởng như thế nào đến xã hội và qua các bài báo viết về doanh nhân, các tác giả muốn gửi thông điệp gì đến cho đội ngũ doanh nhân, bạn đọc và những thông điệp ấy đã được soi chiếu dưới cái nhìn văn hóa như thế nào?

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả luận văn gặp rất nhiều khó khăn Trên thế giới, lý luận về thông điệp đã rất quen thuộc với các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nhà nghiên cứu phương Tây Nhưng tại Việt Nam

Trang 14

các tài liệu tham khảo đề cập đến lý thuyết về thông điệp bằng tiếng Việt không có nhiều, và ít nhiều đã lạc hậu, không còn phù hợp với môi trường

truyền thông mới hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ lý luận thông điệp về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa, luận văn tập trung phân tích và đánh giá các bài viết mang

thông điệp về doanh nhân trên báo in hiện nay Từ đó tác giả luận văn đưa ra

giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp về doanh nhân trên báo in

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn

cần phải giải quyết các yêu cầu cụ thể là:

- Làm rõ cơ sở lý luận và các khái niệm liên quan đến thông điệp về doanh nhân trên báo in từ góc nhìn văn hóa;

- Phân tích, đánh giá các bài viết mang thông điệp về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa từ khảo sát 575 bài viết của Thời báo Kinh tế

Việt Nam, báo Diễn đàn Doanh nghiệp và tạp chí Doanh nhân Sài Gòn trong

thời gian 2,5 năm từ tháng 6/2013 đến tháng 12/2015;

- Đánh giá ưu điểm và hạn chế của những bài viết mang thông điệp về doanh nhân từ đó đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng các bài viết thông điệp

về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các bài viết mang thông điệp về doanh nhân trên Thời báo

Kinh tế Việt Nam, báo Diễn đàn Doanh nghiệp và tạp chí Doanh nhân Sài Gòn

Trang 15

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn tập trung khảo sát các bài viết mang thông điệp về doanh nhân

trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, báo Diễn đàn Doanh nghiệp và tạp chí

Doanh nhân Sài Gòn Đây là các tờ báo lớn chuyên biệt dành cho doanh nghiệp, doanh nhân rất có uy tín, với 575 bài viết mang thông điệp về doanh nhân trong thời gian 2,5 năm từ tháng 6/2013 đến tháng 12/2015 Khoảng thời gian khảo sát chính là để nhìn nhận và đánh giá chặng đường 10 năm (2004-

2014) Thủ tướng Phan Văn Khải ký quyết định chọn ngày 13/10 là ngày

Doanh nhân Việt Nam Thời gian này cũng đánh dấu nhiều sự kiện nổi bật

của đất nước ảnh hưởng đến lực lượng doanh nhân như Việt Nam ký kết các Hiệp định thương mại tự do với Liên minh Châu Âu, Hàn Quốc, Nga… Việt Nam gia nhập TPP Các sự kiện này mở ra nhiều cơ hội cho doanh nhân nước nhà vươn lên

Việc lựa chọn Thời báo Kinh tế Việt Nam, báo Diễn đàn Doanh nghiệp

và tạp chí Doanh nhân Sài Gòn để khảo sát còn nhằm nêu bật được thông điệp

về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa trên cơ sở thực chứng các

bài viết về doanh nhân

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên văn bản, phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp thống kê, phương pháp

phỏng vấn sâu, phương pháp điều tra xã hội học truyền thông

5.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản: Là phương pháp căn bản và phù hợp với báo in Đó là những tác phẩm báo chí do nhà báo viết được in ấn, xuất bản có liên quan đến đề tài

5.2 Phương pháp phân tích tài liệu: Tác giả sử dụng nguồn thông tin, các kết quả nghiên cứu trước đó đã được công bố để làm sáng tỏ cho vấn đề mình nghiên cứu

Trang 16

5.3 Phương pháp thống kê: Là phương pháp dùng để thu thập, xử lý số lượng tin bài trong 2,5 năm từ tháng 6/2013 đến tháng 12/2015 của Thời báo

Kinh tế Việt Nam, báo Diễn đàn Doanh nghiệp và tạp chí Doanh nhân Sài

Gòn viết về doanh nhân

5.4 Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn phóng viên, biên tập viên viết về doanh nghiệp, doanh nhân, phỏng vấn doanh nhân để làm rõ hơn vấn

đề nghiên cứu của đề tài luận văn

5.5 Phương pháp điều tra xã hội học truyền thông: Bằng bảng hỏi anket đối với công chúng với số phiếu phát ra là 300 phiếu Kết quả thu về là 300 phiếu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần củng cố lý luận thông điệp về doanh

nhân trên báo in; Kết quả khảo sát thực trạng các bài viết mang thông điệp về

doanh nhân trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, báo Diễn đàn Doanh nghiệp và

tạp chí Doanh nhân Sài Gòn để thấy được những ưu điểm và hạn chế của thông điệp về doanh nhân, từ đó tác giả luận văn đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng tác phẩm báo chí viết về đề tài doanh nhân trên báo in

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đối với các cơ quan báo chí, luận văn là một tài liệu tham khảo đối với các nhà báo khi viết về đề tài doanh nhân Các phân tích bài viết về doanh

nhân trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, báo Diễn đàn Doanh nghiệp và tạp chí

Doanh nhân Sài Gòn, đánh giá ưu điểm và hạn chế của các bài viết này là căn

cứ để nhìn ra các thế mạnh trong quá trình viết về doanh nhân, cũng như khắc phục hạn chế để thông điệp về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa được thể hiện tốt hơn, hấp dẫn công chúng hơn Các giải pháp trong luận văn

sẽ là các gợi mở để các tờ báo khảo sát nâng cao chất lượng thông điệp về

doanh nhân dưới góc nhìn văn hóa

Trang 17

Đối với các doanh nhân thì luận văn khẳng định giá trị tốt đẹp của doanh nhân Đồng thời cho thấy được vai trò, vị thế hàng đầu của lực lượng doanh nhân trong quá trình hiện đại hóa đất nước Luận văn góp thêm tiếng nói đối với cơ quan quản lý nhà nước nhận rõ tầm quan trọng của doanh nhân, góp phần làm thay đổi các chính sách phù hợp để thúc đẩy đội ngũ doanh nhân phát triển làm giàu cho đất nước Những thông điệp về doanh nhân dưới góc nhìn văn hóa tích cực - góc nhìn đẹp, trên các phương diện: Nắm bắt cơ hội kinh doanh, dám chấp nhận rủi ro, sáng tạo - đổi mới và đạt thành quả bền vững, là những góc nhìn đẹp về doanh nhân cần được truyền thông để lan tỏa giá trị nhân văn đó ra cộng đồng và xã hội, còn góc nhìn văn hóa phản biện thông điệp về doanh nhân trốn thuế, làm hàng giả, hàng kém chất lượng, xả thải ra môi trường…, đó là sự góp ý thẳng thắn để doanh nhân nhận ra sai lầm, điều đó giúp doanh nhân hoàn thiện hơn, khắc phục yếu kém để phát triển

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm

03 chương:

Chương 1: Lý luận chung về quan hệ truyền thông giữa báo chí và

doanh nhân trên báo in

Chương 2: Phân tích và đánh giá thông điệp về doanh nhân trên báo in

dưới góc nhìn văn hóa

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp về doanh nhân

trên báo in

Trang 18

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ TRUYỀN THÔNG GIỮA

BÁO CHÍ VÀ DOANH NHÂN TRÊN BÁO IN 1.1 Hệ thống các khái niệm

1.1.1 Báo chí, báo in, tạp chí

* Báo chí:

Báo chí bao gồm các loại sau: Báo in, báo nói, báo hình, báo mạng điện tử Báo chí (Journalism) theo quan điểm truyền thống, được coi là phương tiện truyền thông đại chúng truyền tải những thông tin thời sự có tính định kỳ đến với đông đảo công chúng Báo chí là một bộ phận của truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng và có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng Do đó, trong nhiều trường hợp, có thể dùng báo chí để chỉ truyền thông đại chúng và ngược lại, nói đến truyền thông đại chúng, trước hết phải nói đến báo chí

Trong cuốn sách “Vai trò của báo chí trong định hướng dư luận xã

hội”, tác giả Đỗ Chí Nghĩa có đưa ra định nghĩa về báo chí như sau: “Báo chí

là loại hình các phương tiện truyền thông đại chúng được cơ quan thẩm quyền cấp phép hoạt động, có nhiệm vụ chuyển tải thông tin nhanh nhất, mới

mẻ nhất đến cho đông đảo công chúng nhằm tích cực hóa đời sống thực tiễn”

[14, tr.17]

* Báo in: Báo in là loại hình báo chí xuất hiện sớm nhất trong các loại

hình báo chí, hình thức thể hiện được in trên giấy, có hình ảnh minh họa, là một trong 4 loại hình báo chí: Báo in, báo nói, báo hình, báo mạng điện tử Báo in là phương tiện truyền thông cơ bản không thể thiếu của đời sống xã hội Đến nay, đã có nhiều quan niệm khác nhau về báo in

Trang 19

Theo Tiến sĩ Hà Huy Phượng, “Báo in là thuật ngữ chỉ một loại hình

báo chí định kỳ thông tin thời sự các sự kiện, các vấn đề trong đời sống xã hội thông qua việc sử dụng ngôn ngữ chữ viết và kỹ thuật in ấn để truyền tải thông tin”

Báo in còn được hiểu là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, đăng tải các

sự kiện, vấn đề thời sự, phát hành rộng rãi nhằm phục vụ công chúng - nhóm đối tượng nào đó với mục đích nhất định

Báo in bao gồm: Báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn, chuyển tải nội dung thông tin thông qua chữ in, ký tự, hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ được

in trên giấy Toàn bộ nội dung thông tin của báo in xuất hiện đồng thời ngay trước mắt độc giả Việc tiếp nhận thông tin của công chúng đối với báo in chỉ qua thị giác, qua cái đọc Chính vì vậy báo in có những đặc trưng, đặc điểm sau:

Báo in là ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời

sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội

Định kỳ của báo in có nhiều loại khác nhau như: hàng ngày, thưa kỳ (2,

3, 5 ngày một số), hàng tuần Định kỳ của báo in chính là sự xuất hiện theo chu kỳ đều đặn và cố định của sản phẩm báo Chu kỳ xuất nhiện của báo in có

ý nghĩa quan trọng đối với báo in vì nó quy định thời điểm mà công chúng đón nhận sản phẩm báo in Ví dụ: Cứ 6 giờ sáng hàng ngày người ta có thể mua các tờ nhật báo buổi sáng ở bất kỳ quầy bán báo nào trong thành phố Nên định kỳ của báo in bị phá vỡ có nghĩa là phá vỡ luôn cả thói quen mua báo in vào giờ đó của người đọc và người đọc sẽ đi tìm loại hình truyền thông khác để thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình

Tính thời sự của báo in được hiểu là sự phản ánh nhanh chóng những

sự kiện mới xảy ra, vấn đề mới nảy sinh hoặc vừa mới được phát hiện trong đời sống xã hội

Trang 20

Sản phẩm báo in được phát hành rộng rãi trong xã hội, từng loại báo, từng tờ báo in đều có công chúng riêng Ví dụ: báo Nhân dân, công chúng đích là cán bộ Đảng viên, báo Diễn đàn Doanh nghiệp, công chúng đích là doanh nhân Nội dung thông tin trong các tờ báo đó mặc nhiên chỉ quan tâm đến công chúng của mình Như vậy mỗi tờ báo in đều có công chúng tiếp nhận khác nhau và công chúng thực hiện phương thức tiếp nhận theo những hướng khác nhau

Báo in chuyển tải nội dung thông tin thông qua văn bản in gồm: chữ in, hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ… Toàn bộ các yếu tố thể hiện nội dung thông tin của các tác phẩm báo in xuất hiện đồng thời trước mắt người đọc hầu như ngay trên cùng một trang báo Sự đồng hiện của báo in được thể hiện bằng những thông tin cùng xuất hiện đồng thời trên trang báo in thông qua việc trình bày tổ chức trang báo, bao gồm các phần: tên chuyên mục, tiêu đề, tít, sapô hoặc những dòng chữ gây chú ý, tít phụ cùng sự hỗ trợ của hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ… Công chúng đọc một bài báo in có thể do tít và sapô hấp dẫn hay cũng có thể do tranh ảnh, biểu đồ minh họa gây chú ý cho

họ Cũng chính vì vậy mà có thể nói sự đồng hiện thông tin của bài viết trên cùng một trang báo in là một trong những lợi thế nhất định của báo in Công chúng có thể cùng lúc lướt mắt trên toàn bộ bài báo và sau đó có thể tìm những thông tin thú vị hoặc cần thiết cho mình Cũng chính sự đồng hiện các yếu tố thể hiện của một bài báo trên một trang báo cũng làm ảnh hưởng lớn đến công tác biên tập nội dung tít, sapô và phần chính văn của một bài báo in

Do phương thức thông tin đặc thù trên, báo in có những đặc điểm ưu việt sau:

Một là, công chúng tiếp nhận thông tin trên báo in thông qua thị giác,

giác quan quan trọng nhất của con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh nên người đọc hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin từ báo

in Sự chủ động bao gồm từ việc bố trí thời điểm đọc, lựa chọn trình tự đọc

Trang 21

đến việc chủ động về tốc độ đọc, cách thức đọc khi trong tay có một tờ báo in

cụ thể Buổi sáng người ta có thể mua một tờ báo in của một cơ quan báo chí nào đó, đọc lướt qua các tin tức, bình luận quan trọng rồi chiều tối về nhà mới đọc tiếp những bài báo dài và đáng quan tâm như phóng sự, phản ánh, các loại ký… Khi đọc các tờ báo in, người ta hoàn toàn có thể đọc lướt nhanh những nội dung quen thuộc, đọc kỹ hay đọc lại những nội dung phức tạp mà đọc lần đầu chưa rõ Đặc điểm này tạo cho báo in khả năng thông tin những nội dung sâu sắc, phức tạp Nhà báo có thể trình bày, lý giải các nội dung thông tin với những mối quan hệ đan chéo, những biểu hiện trên nhiều bình diện, nhiều tầng lớp khác nhau Những thông tin có thể được tổ chức theo nhiều cách khác nhau mà người đọc vẫn có thể hiểu, miễn là những thông tin, nội dung bài viết là bổ ích, đáp ứng được nhu cầu của người đọc

Hai là, vì sự tiếp nhận thông tin báo in của công chúng là quá trình chủ

động, đòi hỏi người đọc phải tập trung cao độ, phải tập trung làm việc tích cực của trí não Vì thế làm tăng khả năng ghi nhớ thông tin, giúp người đọc có thể nhận thức sâu sắc những mối quan hệ bên trong phức tạp Nội dung thông tin đề cập các vấn đề, sự kiện trong cả một chu kỳ xuất bản Thông tin về các vấn đề, sự kiện thời sự diễn ra trong chu kỳ sau đó chỉ có thể được đề cập trong sản phẩm được xuất bản vào thời điểm định kỳ sau Vì thế trong báo in bao giờ cũng tồn tại một khoảng thời gian trống thông tin, hay nói cách khác,

độ nhanh, tính thời sự của báo in bị hạn chế hơn so với các loại hình phát thanh và truyền hình và đặc biệt là báo mạng điện tử Để khắc phục hạn chế này người ta đưa ra các tờ báo buổi chiều

Phạm vi tác động của báo in đôi khi có hạn chế vì chỉ có người biết chữ mới có thể đọc báo Riêng về mặt này, phát thanh và truyền hình có ưu thế hơn so với báo in khi mà hầu như tất cả các thành viên của xã hội bất kể trình

độ văn hóa như thế nào đều có thể tiếp nhận thông tin do chúng mang lại

Trang 22

Việc phát hành báo in được thực hiện trao tay, vì thế việc báo in đến với người đọc sớm hay muộn phụ thuộc vào trình độ phát triển giao thông và các phương tiện chuyên chở, phân phối báo Đối với các nước chậm phát triển, báo in chủ yếu chỉ được phát hành ở các thành phố, thị xã, thị trấn đông dân cư, thuận lợi về giao thông đi lại Ở các địa phương xa trung tâm, báo in thường đến muộn, tin tức trở thành lạc hậu Vì thế ở khu vực này, ảnh hưởng của thông tin từ báo in rất hạn chế Đối với những người đi công tác xa theo những lộ trình đặc biệt, như các đoàn khảo sát địa chất, các đoàn thám hiểm địa lý, phục vụ trên các con tàu trên đại dương… việc phát hành báo in hầu như không thể thực hiện được

* Tạp chí: Tạp chí là loại ấn phẩm khổ nhỏ hơn báo, đóng thành tập, có

bìa, chuyển tải các loại thông tin có tính tổng hợp, chuyên sâu, xuất bản định

kỳ ở một thời điểm nhất định, có thể định kỳ một tuần một lần, một tháng 2 lần, hoặc 6 tháng một lần

Tạp chí khác với báo in ở chỗ tính thời sự của tạp chí thấp hơn báo nhưng nội dung vấn đề và sự kiện đưa ra phân tích, bình luận sâu hơn, đầy đủ hơn Thông tin của tạp chí có tính khái quát cao Tạp chí xuất bản theo tuần hoặc nửa tháng một kỳ thường có lượng xuất bản lớn, mang tính đại chúng Các tạp chí khoa học và các tập kỷ yếu xuất bản theo quý hoặc một hai năm một số được coi như các tạp chí khoa học chuyên ngành Có thể phân loại tạp chí theo độ tuổi, sở thích, giới tính, chuyên ngành…

Ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ tạp chí cũng có những điểm khác nhau Đối tượng bạn đọc có ý nghĩa quyết định đến phong cách ngôn ngữ Trên các bài báo được thể hiện bằng ngôn ngữ chuẩn nhưng mang tính phổ cập, cụ thể,

dễ hiểu Tạp chí thường sử dụng ngôn ngữ khoa học, lấy yếu tố khoa học làm chủ đạo để phân tích, lý giải lôi cuốn bạn đọc Tạp chí sử dụng phương pháp

tư duy logic, có hệ thống, trình bày từ đơn giản đến phức tạp, từ lý luận đến

Trang 23

thực tiễn hoặc có thể là phản biện vấn đề để chứng minh, lập luận quan điểm của mình Đối tượng bạn đọc của tạp chí là những người có trình độ lý luận,

am hiểu chuyên môn nghiệp vụ, hoặc có nhận thức sâu về các lĩnh vực liên quan được phản ánh trên tạp chí Vì vậy, đòi hỏi chất lượng thông tin, nội dung và ngôn ngữ thể hiện của tạp chí phải chọn lọc, sử dụng cho phù hợp

1.1.2 Truyền thông

Chúng ta có thể thống nhất khái niệm truyền thông như sau: “Truyền

thông là quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết, hiểu biết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi nhận thức, thái

độ và hành vi” [15, tr.13]

1.1.3 Thông điệp truyền thông

Theo Từ điển tiếng Việt năm 1992 của Viện Ngôn ngữ học, “Thông

điệp” có các lớp nghĩa sau: 1, Công văn ngoại giao quan trọng do nước này

gửi cho một hay nhiều nước khác; 2, Báo cáo do tổng thống gửi cho quốc hội

để trình bày tình hình và chính sách Thông điệp của tổng thống Mỹ gửi Quốc hội

Theo cuốn sách “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” của PGS TS

Dương Xuân Sơn, PGS TS Đinh Văn Hường, Trần Quang: Thông điệp là tin

tức được thể hiện bằng tín hiệu, ký hiệu, mã số, bằng mực trên giấy, sóng trên không trung hoặc bằng bất cứ tín hiệu nào mà người ta có thể hiểu được và được trình bày ra một cách có ý nghĩa Điều quan trọng là thông điệp phải được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ mà người cung cấp và người tiếp nhận hiểu được Có thể là ngôn ngữ giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày, ngôn ngữ kỹ thuật trong khoa học, hay ngôn ngữ văn học trong nghệ thuật

Cuốn sách nổi tiếng viết về báo chí “News Reporting and Writing”, (Nhà báo hiện đại) của The Missouri Group, tác giả cuốn sách khẳng định:

“Với mỗi thông điệp bạn viết, trước hết bạn phải hy vọng sẽ đạt được điều gì,

Trang 24

ngay cả khi mục đích của bạn chỉ là thông tin Báo in thì tốt cho thông điệp phức tạp và đôi khi là những thông điệp tế nhị Một vài người cho rằng báo in vẫn là phương tiện đáng được tín nhiệm hơn các phương tiện khác và rằng người ta có thể trở đi trở lại đọc thông điệp trên báo in” [48, tr 440, 441] Còn trong cuốn “Giáo trình cơ sở lý luận báo chí” của tác giả Nguyễn Văn Hà, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm

2012, có đề cập đến mô hình truyền thông của Wilbur Schramm đưa ra năm

1982 thì thông điệp là nội dung thông tin, là tin tức được đưa ra trao đổi Đó

là những tín hiệu, mã số, ký hiệu được thể hiện bằng mực trên giấy, bằng sóng trên không trung… Thông điệp phải được diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ quy ước, mang tính cộng đồng, khiến người gửi và người nhận có thể hiểu nhau

Trong cuốn “Tạo ra thông điệp kết dính” của hai tác giả người Mỹ là Chip Heath và Dan Heath, do Vũ Công Hùng dịch, Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2008, các tác giả cho rằng để tạo ra được thông điệp kết dính thì cần các yếu tố đơn giản, bất ngờ, cụ thể, đáng tin cậy, gợi cảm xúc và những câu chuyện

Từ những quan điểm trên, theo tác giả luận văn thì thông điệp là thông tin cốt lõi có mục đích được diễn đạt bằng một ngôn ngữ quy ước để người nhận và người gửi có thể hiểu được nhau Thông điệp cần thể hiện một cách

cô đọng, đơn giản, bất ngờ, gây được cảm xúc cho người nhận Cụ thể trong luận văn này, tác giả tập trung vào các bài viết mang thông điệp về doanh

nhân trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, báo Diễn đàn Doanh nghiệp và tạp chí Doanh nhân Sài Gòn

1.1.4 Doanh nhân

Nếu hiểu doanh nhân là những người làm nghề buôn bán, sản xuất và trao đổi háng hóa thì khái niệm doanh nhân xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử loài người Ở phương Tây, từ doanh nhân của tiếng Anh là “Enterpreneur” xuất hiện từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ Vào thời trung cổ, “Enterpreneur” được

Trang 25

cho là những người quản lý các dự án sản xuất lớn Đến đầu thế kỷ XVII, công nghiệp và thương nghiệp phát triển mạnh ở các nước, đặc biệt là Châu

Âu như Anh, Pháp, Đức , các hợp đồng của chính phủ giao cho các doanh nhân thực hiện ngày càng nhiều kéo theo sự phát triển của tầng lớp những ông chủ - những doanh nhân Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thứ kỷ XX, cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ và quá trình mở rộng giao thương quốc tế, lúc này mô hình doanh nghiệp, tập đoàn trở thành hình thức tổ chức SXKD phổ biến thì khái niệm doanh nhân đã có nhiều thay đổi Sau đây là quan điểm của một số nhà nghiên cứu tiêu biểu về doanh nhân

Trong cuốn sách “Doanh nhân và văn hóa doanh nhân Việt Nam”, của

tác giả Nguyễn Viết Lộc (Chủ biên) do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành năm 2015, có đưa ra một số quan niệm của các nhà nghiên cứu nước ngoài về doanh nhân như sau:

- Theo Mark Casson , doanh nhân (entrepreneur) có sự khác biệt căn bản với nhà quản trị (manager) Casson cho rằng, xét về bản chất của kinh doanh, trong khi nhà quản trị là người điều hành doanh nghiệp trong điều kiện

ổn định và thiên về chức năng quản lý thì doanh nhân được coi là người có khả năng khám phá, khai thác cơ hội đang tồn tại hay sẽ xuất hiện của thị trường; phối hợp sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp một cách sáng tạo-các yếu tố sản xuất một cách hiệu quả nhất; là những người (1) dám chấp nhận rủi ro và (2) có đầu óc sáng tạo để thành lập những doanh nghiệp mới, tạo dựng lĩnh vực kinh doanh mới, tung ra những sản phẩm mới, tìm ra quy trình công nghệ mới nhằm theo đuổi khát vọng tìm kiếm lợi nhuận

- Theo Jonheph Schumpeter, một doanh nhân đúng nghĩa không chỉ là một doanh nghiệp (businessman) mà trước hết là một người giàu thông qua các (1) sáng kiến và (2) chấp nhận đối phó với những rủi ro Schumpeter quan niệm rằng kinh doanh không chỉ là một nghề, nhà kinh doanh - doanh nhân có

Trang 26

thể là một tầng lớp hay một nhóm xã hội có một số đặc trưng nhất định Song theo ông, các nhà kinh doanh không phải là một giai cấp hiểu theo nghĩa là một tầng lớp xã hội và những người sản xuất, các kỹ nghệ gia, các thương nhân, các cổ đông của một công ty hay kể cả các nhà tư bản không nhất thiết phải là doanh nhân; doanh nhân tạo ra việc làm, còn nhà tư bản thì sử dụng việc làm

- Max Weber (nhà xã hội học người Đức) cho rằng, khắp thế giới, đâu cũng có thương nhân, những người cho vay, những ông chủ đồn điền, “những

kẻ đầu cơ chuyên đi săn các cơ hội để kiếm tiền: “những kẻ phiêu lưu tư bản” nhưng phần lớn hoạt động của những người này “đều mang tính chất thuần

túy phi lý tính và đầu cơ, hoặc thiên về chiếm hữu bằng bạo lực” Theo

Weber thì “những doanh nhân có nét đặc trưng không chỉ nằm ở chỗ ham

muốn doanh lợi mà còn ở chỗ nung nấu ham muốn tích lũy không ngừng ngày càng nhiều và do vậy ý chí sản xuất của ông ta trở nên không giới hạn”

- Robert L.Formaini, trong bài “Động cơ của quá trình tư bản chủ

nghĩa: Doanh nhân trong lý luận kinh tế” (The Engine of Capitalist Process:

Entrepreneur in Economic Theory), đã phân tích: doanh nhân là người am

hiểu và có khả năng nắm bắt cơ hội thị trường, khai thác chúng; Là người dám chấp nhận rủi ro, là người sáng tạo, là người dám từ bỏ cái đang ổn định để tìm cái mới Doanh nhân không phải là người lên kế hoạch kinh doanh cụ thể, ra các quyết định quản lý mà họ là người có khả năng phán đoán, có tầm nhìn xa mang tính cá nhân, dám chịu rủi ro mà những người khác không dám

- Peter F.Drucker đã cho rằng, tinh thần kinh doanh được hiểu là hành

động của doanh nhân “người tiến hành việc biến những cảm nhận nhạy bén

về kinh doanh, tài chính và sự đổi mới, sáng tạo thành những sản phẩm hàng

Trang 27

hóa mang tính kinh tế Kết quả của những hành động này là tạo nên những tổ chức mới hoặc góp phần tái tạo lại những tổ chức đã “già cỗi””

Tóm lại, các nhà nghiên cứu nước ngoài, nhất là các nhà nghiên cứu phương Tây có quan điểm thống nhất rằng, khái niệm doanh nhân được gắn với doanh nghiệp (bởi doanh nghiệp là hình thức tổ chức SXKD chủ yếu và phổ biến ở các nước phát triển) Do vậy, doanh nhân được nhận diện và phân biệt với những người làm nghề kinh doanh khác như nhà quản trị, thương gia bởi các yếu tố: Khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh, sự khởi nghiệp, thái độ dám chấp nhận rủi ro, sự đổi mới và sáng tạo đến những thành quả có tính bền vững Những yếu tố này được cho là những đặc trưng cơ bản nhất của người kinh doanh

Các nhà nghiên cứu trong nước cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau

về doanh nhân Theo GS Trần Ngọc Thêm, doanh nhân cũng như nông dân là khái niệm phân loại theo nghề nghiệp Doanh nhân là người làm nghề kinh

doanh Nhưng ông cho rằng “doanh nhân” khác với “thương nhân”, bởi khái

niệm thương nhân gắn với thương nghiệp, còn khái niệm doanh nhân thì rộng hơn, gắn với kinh doanh gần hơn [17]

Theo Lê Quý Đức, khi gọi tên một người làm nghề kinh doanh là

“doanh nhân” tức là đã tôn vinh một giá trị xã hội Người đó không chỉ thành

công trong sự nghiệp kinh doanh mà còn có một uy tín xã hội rất cao [13, tr.22]

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (trong Đề án “Phát huy

vai trò của doanh nhân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”), đã đề xuất khái niệm doanh nhân như sau: Doanh nhân là

người chủ sở hữu hoặc đại diện chủ sở hữu trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động sản xuất của doanh nghiệp và các hình thức tổ chức sản xuất khác; sáng tạo, dám chấp nhận mạo hiểm, rủi ro, có trách nhiệm xã hội; là lực lượng chủ

Trang 28

yếu tạo lập và phát triển một mô hình tổ chức kinh doanh mới, đại biểu cho lực lượng sản xuất mới, đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường

Như vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về doanh nhân Tuy nhiên, tác

giả luận văn đồng thuận với khái niệm doanh nhân như sau: Doanh nhân là

những người làm nghề kinh doanh mang những đặc trưng nghề nghiệp nhưng

có mức độ cao về khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh, dám chấp nhận rủi ro, khả năng sáng tạo - đổi mới, đạt được thành quả bền vững và được xã hội thừa nhận [13, tr.89, 90]

1.1.5 Văn hóa

Theo UNESCO định nghĩa về văn hóa tại Hội nghị quốc tế do

UNESCO chủ trì từ ngày 26/7 đến ngày 6/8/1982 ở Mexico: “Văn hóa hôm

nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong

xã hội văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí Chính nhờ văn hóa con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”

- Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus" mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng ruộng đất" và Cultus Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là

"sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người"

Trang 29

Có nhiều khái niệm về văn hóa, tác giả luận văn thống nhất với khái

niệm văn hóa của GS Trần Ngọc Thêm như sau: “Văn hóa là hệ thống hữu

cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [13, tr.58]

1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về doanh nhân

Ở mỗi thời kỳ, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về doanh nhân lại có sự khác nhau Điều này cũng chi phối thông điệp

về doanh nhân trên báo chí dưới góc nhìn văn hóa Bởi lẽ hoạt động của doanh nhân, của báo chí và văn hóa đều bị chi phối bởi quản lý của Nhà nước, của pháp luật Chúng ta không khó để nhận ra điều đó

Trước năm 1986, khi nước ta chưa tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng

và Nhà nước chưa chấp nhận thành phần kinh tế tư nhân Lúc này, chúng ta

coi kinh tế tư nhân như “con ngáo ộp” hay một thứ gì đó là nguy hiểm, kinh

tế tư bản là bóc lột Chúng ta không có bộ phận doanh nhân là chủ các doanh nghiệp tư nhân Và thông điệp về doanh nhân xuất hiện ít trên báo chí, nếu có thì là sự e dè, hạn chế

Thế nhưng mọi thứ đã thay đổi, lịch sử đã đưa lực lượng doanh nhân làm chủ doanh nghiệp tư nhân vào đúng vị trí xứng đáng Đất nước quyết tâm đổi mới, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước cũng

thay đổi về doanh nhân Đó là những bước “đột phá” trong lãnh đạo, điều

hành Mọi thứ đảo chiều, từ sự sợ hãi, cấm đoán, chúng ta đã thừa nhận và khuyến khích doanh nhân ở các công ty tư nhân phát triển bên cạnh các doanh nghiệp Nhà nước

Mốc quan trọng đầu tiên trong sự thay đổi đó là Đại hội VI của Đảng (năm 1986), đã thừa nhận sự tồn tại khách quan của kinh tế tư nhân Đây là

Trang 30

tiền đề cho cộng đồng doanh nhân lớn mạnh hiện nay Nghị quyết Trung ương 3 (12/1987) về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã khẳng định quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước, mở rộng quyền tự

do kinh doanh của khu vực tư nhân Nghị quyết Trung ương 16 (ngày 17/7/1988) cho phép mở rộng phạm vi hoạt động của các cơ sở kinh tế tư nhân trong các ngành công nghiệp, xây dựng, vận tải

Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (tháng 3/1989), chủ trương thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, coi chính sách này có ý nghĩa chiến lược lâu dài, các hình thức kinh tế tư nhân, cá thể, tiểu thủ công nghiệp,

tư bản tư nhân là cần thiết cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu nền kinh tế hàng hóa đi lên chủ nghĩa xã hội; tư nhân được tham gia nhiều lĩnh vực trước đây là độc quyền của Nhà nước, kể cả ngoại thương

Quốc hội và Chính phủ Việt Nam cũng có nhiều thay đổi về luật và chính sách để kinh tế tư nhân ra đời và hoạt động Tháng 12/1987, Quốc hội thông qua Luật Đầu tư nước ngoài, chính thức chấp nhận hoạt động đầu tư nước ngoài ở Việt Nam Nghị định số 27 của Chính phủ về kinh tế tư doanh Nghị định số 388/ HĐBT và các Quyết định số 90/TTg, 91/TTg (tháng 11/1991) về sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân (4/1991) ra đời Ngay trong Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định quyền tự do kinh doanh của người dân quy định tại Điều 57

Các chính sách trên là tiền đề cơ bản định hình và phát triển cộng đồng doanh nhân trong thời kỳ đổi mới

Đại hội VIII của Đảng (6/1996) tiếp tục khẳng định vai trò của kinh tế

tư nhân, trong đó kinh tế cá thể và tiểu thủ công nghiệp có vị trí quan trọng, lâu dài, kinh tế tư bản, tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước Quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đã được cụ thể hóa, ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp năm 1999

Trang 31

Đến Đại hội IX của Đảng (4/2000) nhấn mạnh thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần Vai trò của doanh nhân lần đầu tiên được nêu trong Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương khóa IX (tháng 3/2003): Coi trọng vai trò của doanh nhân trong phát triển kinh tế - xã hội Hoàn thiện khung pháp lý chung để các doanh nghiệp yên tâm phát triển sản xuất [20]

Đại hội X của Đảng (4/2006) cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân – một bước tiến mới về nhận thức kinh tế tư nhân Đồng thời tiếp tục làm thay đổi tư duy, nhận thức về doanh nhân, coi trọng doanh nhân, tôn vinh doanh nhân thành đạt, có đức, có tài Đặc biệt, Quyết định số 990/2004/QĐ-TTg (ngày 20/9/2004) của Thủ tướng Phan Văn Khải lấy ngày 13/10 là ngày truyền thống của Doanh nhân Việt Nam Đó là sự ghi nhận xứng đáng vị trí của doanh nhân trong đời sống chính trị - xã hội Trong lịch sử hơn 80 năm, lần đầu tiên Đảng có một Nghị quyết về doanh nhân, đó là Nghị quyết 09-NQ/TW, ngày 9/12/2011 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết khẳng định vai trò quan trọng của đội ngũ doanh nhân và đặt mục tiêu xây dựng đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có tinh thần dân tộc, giác ngộ chính trị, văn hóa kinh doanh, trách nhiệm xã hội Đặc biệt, Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2020 nước ta có một số doanh nhân có thương hiệu tầm cỡ khu vực Đông Nam Á

Trong Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đã hiến định vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam

Trong lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 70 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, đoàn doanh nhân được chọn dẫn đầu trong lễ diễu hành Qua đây, thấy rõ quan điểm của Đảng trong giai đoạn hiện nay rất coi trọng và kỳ vọng vào đội

Trang 32

ngũ doanh nhân Chính đội ngũ doanh nhân góp phần tạo công ăn việc làm cho xã hội, đóng góp lớn cho ngân sách Nhà nước, là đội quân tiên phong và người lính xung kích trên mặt trận kinh tế.

Sự thay đổi trên là bước tiến dài kỳ diệu của Đảng và Nhà nước đối với doanh nhân, mở toang cánh cửa cơ chế, chính sách, xóa bỏ rào cản để doanh nhân phát triển không ngừng

Đến năm 2012, cả nước có hơn 2 triệu doanh nhân, khu vực doanh nghiệp đóng góp 70% nguồn thu ngân sách Nhà nước; thu hút 7,4 triệu lao động, chiếm 81,7% lực lượng lao động nông nghiệp hay 16,3% lực lượng lao động toàn xã hội [13, tr.189] Đó là những con số chứng minh cho sự lớn mạnh của đội ngũ doanh nhân Việt Nam

Cùng với sự đổi mới quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, báo chí cũng có sự thay đổi trong thông tin về khu vực kinh tế tư nhân, về doanh nhân làm chủ doanh nghiệp tư nhân Hình ảnh doanh nhân xuất hiện thường xuyên trên báo chí, được khuyến khích và cổ vũ Các tạp chí chuyên viết về doanh nhân ra đời Ví dụ như: Tạp chí Doanh nhân Sài Gòn,

ấn phẩm Doanh nhân, số cuối tuần của báo Diễn đoàn Doanh nghiệp

1.3 Góc nhìn văn hóa truyền thông về doanh nhân

Góc nhìn văn hóa truyền thông về doanh nhân là thái độ tiếp cận, đánh giá các sự kiện và vấn đề liên quan đến doanh nhân

Nhà báo là người sáng tạo ra tác phẩm báo chí chứa đựng thông điệp Nhà báo là chủ thể truyền thông thông điệp về doanh nhân dưới góc nhìn văn hóa Chủ thể truyền thông trước hết phải tạo nên những thông tin trung thực, phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng, nhu cần của công chúng Nhà báo phải thể hiện được góc nhìn văn hóa khi lựa chọn, xử lý thông tin để sáng tạo nên những tác phẩm báo chí chứa đựng các thông điệp về doanh nhân có tính nhân đạo, nhân văn Khi đã tiếp cận được sự kiện, vấn đề thì nhà báo cần lựa

Trang 33

chọn góc tiếp cận có tác dụng đánh thức những giá trị nhân bản Tiếp theo đó là lựa chọn các chi tiết phản ánh vừa chân thực lại vừa nhân văn

Văn hóa Việt Nam bắt nguồn từ văn hóa nông nghiệp, dần chuyển sang văn hóa hiện đại với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa Trong quá trình đó, lực lượng doanh nhân đóng vai trò quan trọng hàng đầu Không nền văn hóa nào lại không dùng báo chí để truyền thông cho nền văn hóa đó

Trong luận này, thông điệp về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa trên hai góc nhìn, đó là góc nhìn văn hóa tích cực, góc nhìn đẹp về doanh nắm bắt cơ hội kinh doanh, dám chấp nhận rủi ro, sáng tạo - đổi mới, đạt thành quả bền vững trong kinh doanh nhằm lan tỏa giá trị để thay đổi nhận thức đến thay đổi hành vi của công chúng, góc nhìn phản biện về các doanh nhân trốn thuế, làm hàng giả, hàng kém chất lượng, xả thải ra môi trường…

1.3.1 Góc nhìn văn hóa tích cực và góc nhìn văn hóa phản biện

* Góc nhìn văn hóa tích cực: Đó là góc nhìn đẹp về doanh nhân Các

doanh nhân làm việc tốt, có ích cho xã hội, đất nước thì báo chí ca ngợi, nhân rộng cái đẹp Nhà báo và cơ quan báo chí với góc nhìn này nhằm tán dương, khích lệ các mặt tích cực, việc làm hay, có ý nghĩa xã hội của doanh nhân Ở góc nhìn này, tác giả luận văn tập trung vào các thông điệp sau:

Một là, thông điệp về doanh nhân nắm bắt cơ hội kinh doanh Đối với

một doanh nhân thì nắm bắt cơ hội kinh doanh là khởi đầu, là những bước đi đầu tiên trên con đường dài để trở thành một doanh nhân thành đạt Nó cũng diễn ra trong suốt quá trình hoạt động của doanh nhân Trong nắm bắt cơ hội kinh doanh thì bất cứ doanh nhân nào cũng không ngừng có khát vọng kinh doanh – khát vọng về thành quả và khát vọng đó được trở thành hiện thực khi doanh nhân có khả năng tìm kiếm, tạo dựng và nắm bắt cơ hội kinh doanh

“Khát vọng sâu thẳm và mãnh liệt trong bạn chính là con người bạn Khát vọng sẽ hình thành ý chí Ý chí sẽ hình thành hành động Hành động sẽ

Trang 34

hình thành vận mệnh”, Brihadaranyaka Upanisha khẳng định [13, tr.127]

Doanh nhân luôn thôi thúc ước muốn, khát vọng làm giàu Lẽ dĩ nhiên, ước muốn làm giàu thì ai cũng có, song vấn đề là ước muốn đó được dẫn đường bởi lý tưởng kinh doanh hay triết lý làm giàu Dưới góc nhìn văn hóa thì triết

lý, lý tưởng làm giàu của doanh nhân đã tạo nên văn hóa doanh nhân Trong cuốn “Văn hóa kinh doanh – Những góc nhìn” do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành

năm 2007, tác giả Trần Hữu Quang và Nguyễn Công Thắng cho rằng: “Ước

muốn làm giàu không phải là biểu hiện của văn hóa doanh nhân mà là triết

lý, lý tưởng kinh doanh mới là biểu hiện rõ rệt của văn hóa doanh nhân, đánh dấu một trình độ phát triển về nhận thức xã hội của doanh nhân”

Ước mơ làm giàu là nguyện vọng đơn thuần, còn lý tưởng là nguyện vọng ở mức độ cao của doanh nhân, trở thành khát vọng, định hướng hành động và gắn nó với nỗ lực đạt được của doanh nhân Theo đó, doanh nhân có văn hóa cao chính là người không chỉ làm ăn bình thường mà phải có triết lý làm giàu, có lý tưởng cao rộng trong kinh doanh, sản xuất Lý tưởng ấy không chỉ kiếm thật nhiều tiền cho bản thân, gia đình mà nó còn gắn với xã hội

Cùng với ước muốn làm giàu, triết lý làm giàu thì doanh nhân còn đặt

ra mục tiêu về thành quả kinh doanh Mục tiêu đó có thể trở thành người giàu nhất nước, trở thành triệu phú, tỷ phú đô la; chinh phục thị trường trong nước

và quốc tế

Khi báo chí viết về nhiều doanh nhân thành đạt, thông điệp trong bài viết gửi đến là con người biết tạo dựng, tìm kiếm và nắm bắt cơ hội kinh doanh Doanh nhân không phải là những người tin vào số phận hay là sự may rủi, càng không ngồi một chỗ đợi ban phát cơ hội mà họ luôn chủ động tìm kiếm cơ hội và chớp thời cơ, nhanh chóng triển khai cơ hội Quá trình đó đòi hỏi doanh nhân cả về kiến thức và năng lực; kiến thức về thị trường, về khách

hàng; năng lực thu thập; năng lực ra quyết định… “Bạn càng tìm kiếm sự bảo

Trang 35

đảm, bạn càng có ít cơ hội Nhưng bạn càng tìm cơ hội, bạn càng có thể đạt được sự bảo đảm mà mình muốn”, câu nói nổi tiếng của Brian Traccy về cơ

Hai là, thông điệp về doanh nhân dám chấp nhận rủi ro Kinh doanh

luôn là nghề có độ rủi ro cao, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt toàn cầu hiện nay Doanh nhân luôn đứng trước nguy cơ tài sản bị bốc hơi, thậm chí bị phá sản sau một đêm Điều đó đòi hỏi doanh nhân không được phép

hèn nhát, sẵn sàng đương đầu với rủi ro “Doanh nhân phải là người có tính

cách mạnh mẽ, lòng quả cảm, có tính độc lập, quyết đoán, tự tin, để có thể ra quyết định trong điều kiện bất định của thị trường, và phải dám làm, dám chịu, đi lên từ thất bại” [13, tr.132]

Doanh nhân thường là người đứng đầu hoặc chịu trách nhiệm trước sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Vai trò này đòi hỏi họ phải độc lập trong suy nghĩ, quyết đoán trong hành động, họ không được phép lưỡng lự hay do dự khi quyết định Sự do dự, thiếu tự tin sẽ khiến doanh nhân đánh mất cơ hội, đồng thời khiến cấp dưới mất lòng tin vào bản lĩnh của người cầm lái con thuyền doanh nghiệp Tính độc lập, quyết đoán của doanh nhân sẽ tạo niềm tin và truyền cảm hứng cho nhân viên, họ tin ở quyết định của người cầm lái sẽ đưa họ tới đích, do đó họ sẽ nỗ lực, quyết tâm làm việc, nhờ đó hạn chế và loại bỏ được các rủi ro

Trang 36

Theo một kết quả điều tra của hai tác giả Trần Hữu Quang và Nguyễn

Quang Vinh, có tới 80% người được hỏi đồng ý cho rằng “cần chấp nhận rủi

ro thì mới có thành công trong kinh doanh” [19, tr.168]

Thông điệp về doanh nhân là người dám làm, dám chịu trách nhiệm Doanh nhân phải có bản lĩnh dũng cảm dám làm, dám chịu Với đặc trưng nghề nghiệp có độ rủi ro cao, các doanh nhân không phải lúc nào cũng đưa ra quyết định đúng, có lúc họ ra quyết định sai Doanh nhân phải có phẩm chất nhìn thẳng vào sự thật, dám chịu trách nhiệm về hậu quả do mình làm ra và dám đứng lên từ thất bại

“Các doanh nhân thế giới đã đúc kết rằng: với nghề kinh doanh, thất bại luôn đến sớm, thành công cần thời gian Thất bại ban đầu là rất quý giá bởi nó đem lại bài học thấm thía về cái gọi là cơ hội và làm thế nào để nắm bắt chúng Họ ví thất bại trong kinh doanh như thông gió trong ống khói Những người thất bại rút ra khỏi thương trường nhường chỗ cho những bản lĩnh vượt lên” [13, tr.135]

Ba là, thông điệp về doanh nhân sáng tạo – đổi mới “Không ngừng

sáng tạo thì sẽ không sợ bị diệt vong”, Henry Ford [13, tr.138].

Thông điệp này luôn xuất hiện nhiều trên báo chí Đây là một văn hóa đặc trưng của doanh nhân Nếu không đẩy mạnh sự sáng tạo và đổi mới thì doanh nhân có nguy cơ tụt hậu và biến mất trong cạnh tranh Chúng ta nhận thấy các doanh nhân thành đạt trên thế giới luôn đặt vấn đề này lên hàng đầu Ông chủ của Tập đoàn SamSung liên tục đưa ra các dòng sản phẩm mới Hãng Nokia từng vang dội một thời đã mất thương hiệu và vị thế trên thị trường, lý do chính là không có sự sáng tạo để tạo ra những dòng sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu mới của khách hàng

Theo Joseph A Schumpeter thì đặc trưng của tính sáng tạo, đổi mới của doanh nhân thể hiện ở khả năng thích ứng các sáng chế đã có và thiên về

Trang 37

sự kết hợp các yếu tố đã có hoặc sẽ có thành giá trị Nó được thể hiện qua các mặt: Tính linh hoạt, chủ động; luôn có tư tưởng mới, phương pháp mới, hướng giải quyết vấn đề mới [13, tr.136]

Tính linh hoạt và chủ động là biểu hiện cả về mặt tư duy và thái độ của sáng tạo và đổi mới Bàn về vấn đề này, các tác giả Phạm Minh Hạc, Phạm

Thanh Nghị, Vũ Minh Chi cho rằng: “Doanh nhân phải là người có tư duy

linh hoạt, chủ động, năng động mà biểu hiện là khả năng thích ứng nhanh và tính linh hoạt tự phát với môi trường kinh doanh luôn biến đổi Nhờ tính linh hoạt, chủ động, năng động mà doanh nhân có thể đón trước xu hướng phát triển thị trường thông qua nhận thức nhu cầu thị trường tiềm ẩn và chủ động hành động trước một cách sáng tạo để tạo ra cách đi mới, độc đáo Thái độ sáng tạo – đổi mới của doanh nhân biểu hiện qua tính cách tự chủ, tính xung đột, tính kiên định, tính hiếu kỳ, tính mới” [7, tr.300, 301]

Một vấn đề nữa cần bàn đến trong thông điệp về doanh nhân với tinh thần sáng tạo và đổi mới, đó là doanh nhân luôn có tư tưởng mới, phương án mới, hướng giải quyết vấn đề mới Điều này giúp doanh nhân có khả năng kết hợp đa dạng các yếu tố nguồn lực sản xuất ở các phương án khác nhau nhằm tạo nên sức cạnh tranh mới, sản phẩm mới Người tiêu dùng có thể cảm thấy thích thú, không bị nhàm chán bởi các sản phẩm đã lỗi thời Như vậy, sự sáng tạo của doanh nhân không chỉ đáp ứng nhu cầu của thị trường hiện tại mà còn thỏa mãn cả nhu cầu ở thị trường tương lai Bởi thế, đòi hỏi sự nỗ lực không biết mệt mỏi của doanh nhân Có lẽ bạn không cần phải nghi ngờ điều đó

“Tôi tin rằng 50% quyết định của một doanh nhân thành công hay thất bại chỉ đơn thuần là tính kiên trì”, Steve Jobs – một doanh nhân vĩ đại, lãnh đạo huyền

thoại của Apple với câu nói có thể thay đổi sự nghiệp của doanh nhân [28]

Bốn là, thông điệp về doanh nhân đạt thành quả bền vững A Moaria

từng khẳng định: “Thành công là một hành trình chứ không phải là điểm

đến” [13, tr.143]

Trang 38

Thành quả của doanh nhân trước hết là kết quả kinh tế, tiếp đến là vị thế, thị phần và khả năng chi phối thị trường, uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp và doanh nhân Mỗi doanh nhân mới vào nghề có thể gặt hái được thành công nhất đinh, nhưng muốn có vị thế và thương hiệu thì cần có thời gian, cộng đồng doanh nhân và xã hội công nhận Kinh doanh trong bối cảnh toàn cầu hiện nay thì thành quả về kinh tế chưa chắc đảm bảo được sự bền vững của doanh nhân Nhiều nghiên cứu cho thấy muốn có sự phát triển bền vững thì doanh nhân cần có chiến lược xây dựng về đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội; đồng thời bản thân họ phải có ý chí bền bỉ, sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần

Bàn về đạo đức kinh doanh, trong cuốn sách “Văn hóa kinh doanh” do

tác giả Dương Thị Liễu (Chủ biên), Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân

xuất bản năm 2006 cho rằng: “Đạo đức kinh doanh là tập hợp các nguyên

tắc, các chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của chủ thể kinh doanh”

Đạo đức kinh doanh của doanh nhân gắn liền với lợi ích kinh tế mang tính thực dụng, sự coi trọng hiệu quả kinh doanh, song nó là một yếu tố phẩm chất của doanh nhân Bởi vậy, đạo đức kinh doanh của doanh nhân phải chịu

sự chi phối của hệ giá trị chuẩn mực đạo đức chung của môi trường mà doanh nhân hoạt động và sinh sống

Còn trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bối

cảnh Việt Nam gia nhập WTO” của tác giả Lê Thanh Hà, Nhà xuất bản Khoa

học và Kỹ thuật xuất bản năm 2009, đưa ra quan điểm theo Hội đồng Thương

mại thế giới: “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân, doanh nghiệp là sự cam

kết trong việc ứng xử một cách hợp đạo lý và đóng góp vào sự phát triển kinh

tế, đồng thời cải thiện cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ cũng như cộng đồng địa phương, của toàn xã hội”

Trang 39

Chúng ta có thể hiểu trách nhiệm xã hội của doanh nhân thể hiện ở chỗ trách nhiệm pháp lý quy định (thuế, phí…); thực hiện các tiêu chuẩn liên quan đến việc phát triển xã hội, bảo vệ môi trường và tôn trọng các quyền cơ bản của người lao động, áp dụng một phương thức quản trị công khai, kết hợp hài hòa các lợi ích của những người có liên quan tới doanh nghiệp trong một cách

tiếp cận tổng hợp với chất lượng và sự phát triển bền vững “Trách nhiệm xã

hội của doanh nhân bao gồm: nghĩa vụ kinh tế, nghĩa vụ pháp lý, nghĩa vụ nhân đạo (đạo đức và lòng bác ái)” [13, tr.145] Nghĩa vụ kinh tế đòi hỏi

doanh nhân sản xuất các mặt hàng xã hội cần và muốn; tìm kiếm nguồn lao động, thúc đẩy tiến bộ công nghệ, làm tăng thêm phúc lợi xã hội Nghĩa vụ pháp lý, doanh nhân thực hiện đầy đủ các quy định pháp lý chính thức đối với các bên hữu quan, đó là điều kiện cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường… Về nghĩa vụ nhân văn là hành vi của doanh nhân thể hiện mong muốn đóng góp và hiến dâng cho cộng đồng xã hội Thể hiện ở các mặt: nâng cao chất lượng cuộc sống, san sẻ gánh nặng với chính phủ, nâng cao năng lực lãnh đạo và nhân cách đạo đức của nhân viên, người lao động Ví dụ như thành lập và bảo trợ các tổ chức từ thiện, các hoạt động từ thiện, dự án cộng đồng…

Tóm lại, trên đây tác giả luận văn đưa ra góc nhìn văn hóa tích cực về doanh nhân, khái quát các thông điệp về doanh nhân ở góc nhìn này Đó là thông điệp về doanh nhân nắm bắt cơ hội kinh doanh, dám chấp nhận rủi ro, sáng tạo - đổi mới, đạt thành quả bền vững

* Góc nhìn văn hóa phản biện: Bên cạch góc nhìn tích cực thì góc nhìn

văn hóa còn có góc nhìn phản biện về doanh nhân

Báo chí viết về doanh nhân một cách trung thực và chính xác Dó đó, thông điệp về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa không chỉ là góc

Trang 40

nhìn đẹp, ca gợi việc làm tốt, tích cực của nhân danh mà còn thể hiện góc nhìn phản biện về doanh nhân

Doanh nhân cũng là một con người, trong đó có doanh nhân làm ăn đàng hoàng, đúng pháp luật, đóng góp cho sự phát triển của xã hội Tuy nhiên, có doanh nhân làm chưa tốt, thậm chí vi phạm pháp luật, gây hậu quả cho xã hội Ở góc nhìn văn hóa phản biện là phê bình doanh nhân có hành động, việc làm chưa tốt, ảnh hưởng xấu đến xã hội, đất nước Các nhà báo viết các bài báo mang thông điệp góp ý, phê phán các doanh nhân làm ăn thiếu tử tế

Đó có thể là các bài báo mang thông điệp về doanh nhân, doanh nghiệp trốn thuế, làm hàng giả, hàng kém chất lượng, xả chất thải ra môi trường gây hậu quả nghiêm trọng

Các thông điệp về doanh nhân dưới góc nhìn phản biện của báo chí không phải là nhằm dìm doanh nhân xuống bùn hay triệt tiêu doanh nhân Đó

là sự góp ý thẳng thắn để doanh nhân nhận ra sai lầm điều đó giúp doanh nhân hoàn thiện hơn, khắc phục yếu kém để phát triển hơn nữa, đóng góp cho

sự phát triển của xã hội Đồng thời cảnh tỉnh các doanh nhân có ý định làm ăn trái pháp luật Góc nhìn văn hóa phản biện đó nhằm góp phần giúp doanh nhân phát triển lành mạnh, mang lại giá trị tốt đẹp, có sức lan tỏa trong xã hội

1.3.2 Mối quan hệ giữa báo chí và văn hóa

Báo chí và văn hóa có mối quan hệ với nhau Báo chí - Một bộ phận cấu thành của văn hóa Văn hóa và báo chí có mối quan hệ biện chứng khăng khít Báo chí là một bộ phận của văn hóa, báo chí góp phần sáng tạo và phổ biến văn hóa, lưu truyền văn hóa Báo chí trở thành một bộ phận cấu thành văn hóa, đồng thời là phương tiện thực thi, quảng bá văn hóa Văn hóa nhận rõ vai trò, tác động của báo chí, truyền thông và chủ động phối hợp với báo chí

Ngày đăng: 11/11/2016, 10:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Minh Cách (chủ biên), (2015), Giáo trình quan hệ công chúng, Nxb Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quan hệ công chúng
Tác giả: Ngô Minh Cách (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2015
2. Đỗ Quý Doãn, (2014), Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam, Nxb Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Quý Doãn
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2014
3. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên)- Th.S Đỗ Thị Thu Hằng (2006), Truyền thông lý thuyết”, Nhà xuất bản Lý luận Chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông lý thuyết”
Tác giả: Nguyễn Văn Dững (Chủ biên)- Th.S Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nhà xuất bản Lý luận Chính trị
Năm: 2006
4. Hoàng Hải (Chủ biên), (2011), Những điển hình trong xây dựng văn hóa doanh nhân – doanh nghiệp, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điển hình trong xây dựng văn hóa doanh nhân – doanh nghiệp
Tác giả: Hoàng Hải (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2011
5. Hoàng Hải (Chủ biên), (2013), Doanh nhân văn hóa Việt Nam, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nhân văn hóa Việt Nam
Tác giả: Hoàng Hải (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2013
6. Lê Ngọc Hường, (2011), luận văn “Hoạt động PR của Doanh nghiệp và báo in tại TP. HCM”, Luận văn thạc sỹ tại Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoạt động PR của Doanh nghiệp và báo in tại TP. HCM”
Tác giả: Lê Ngọc Hường
Năm: 2011
7. Phạm Minh Hạc, Phạm Thanh Nghị, Vũ Minh Chi (2004), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực (Niên giám nghiên cứu số 3), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Phạm Thanh Nghị, Vũ Minh Chi
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
8. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2014), Quan hệ công chúng lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ công chúng lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huyền
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
9. Nguyễn Thanh Hương, Tác động của báo chí đối với doanh nghiệp, Luận văn thạc sỹ năm 2010, Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của báo chí đối với doanh nghiệp
10. Đinh Thị Thúy Hằng, (2008), Báo chí thế giới& Xu hướng phát triển, Nxb Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí thế giới& Xu hướng phát triển
Tác giả: Đinh Thị Thúy Hằng
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2008
11. Vũ Thị Hoa, Báo chí phản ánh quá trình Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), Luận văn thạc sỹ năm 2013, Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí phản ánh quá trình Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)
12. Đào Xuân Hưng, Vai trò của Báo chí trong việc bảo vệ và phát triển thương hiệu của doanh nghiệp, Luận văn thạc sỹ năm 2013, Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Báo chí trong việc bảo vệ và phát triển thương hiệu của doanh nghiệp
13. Nguyễn Viết Lộc (chủ biên), (2015), Doanh nhân và văn hóa doanh nhân Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nhân và văn hóa doanh nhân Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Viết Lộc (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
27. Thu Phương, Cứ bỏ học thành tỷ phú?, http://news.zing.vn/Cu-bo-hoc-roi-se-thanh-ty-phu-post472672.html Link
28. Hà Tường, Steve Jobs với các câu nói có thể thay đổi sự nghiệp của bạn, http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/quoc-te/7-cau-noi-cua-steve-jobs-co-the-thay-doi-su-nghiep-cua-ban-3233489.html Link
29. Phạm Tất Thắng, Báo chí và doanh nghiệp: Gắn bó, hợp tác, chia sẻ, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=29858&print=true Link
30. Nhóm phóng viên, Doanh nghiệp nói về báo chí nhân Ngày Báo chí, http://vneconomy.vn/thoi-su/doanh-nghiep-noi-ve-bao-chi-nhan-ngay-bao-chi-20150621032454712.htm Link
31. New.Zing, Việc làm của Mark là động lực cho giới trẻ toàn thế giới, http://news.zing.vn/Viec-lam-cua-Mark-la-dong-luc-cho-gioi-tre-toan-the-gioi-post606629.html Link
32. New. Zing, Nokia đã sai ở chỗ nào? http://news.zing.vn/Nokia-da-sai-o-cho-nao-post535047.html Link
33. Tuổi trẻ, Bỏ học để khởi nghiệp, http://tuoitre.vn/tin/nhip-song-tre/20160112/bo-hoc-de-khoi-nghiep/1036618.html.II. Tài liệu tiếng nước ngoài dịch sang tiếng Việt Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Bảng số liệu thông điệp về doanh nhân dám chấp nhận rủi ro trên - Thông điệp về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa
Bảng 2.2 Bảng số liệu thông điệp về doanh nhân dám chấp nhận rủi ro trên (Trang 62)
Bảng 2.3: Bảng số liệu thông điệp về doanh nhân sáng tạo và đổi mới trên báo - Thông điệp về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa
Bảng 2.3 Bảng số liệu thông điệp về doanh nhân sáng tạo và đổi mới trên báo (Trang 70)
Bảng 2.5: Bảng số liệu thông điệp về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn  văn hóa có tác động như thế nào đối với doanh nhân, doanh nghiệp - Thông điệp về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa
Bảng 2.5 Bảng số liệu thông điệp về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa có tác động như thế nào đối với doanh nhân, doanh nghiệp (Trang 80)
Bảng 2.6: Bảng số liệu sự thay đổi ý thức và hành vi về doanh nhân khi đọc  các bài viết mang thông điệp về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa - Thông điệp về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa
Bảng 2.6 Bảng số liệu sự thay đổi ý thức và hành vi về doanh nhân khi đọc các bài viết mang thông điệp về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa (Trang 81)
Bảng 2.9: Bảng số liệu mức độ hấp dẫn của các bài viết mang thông điệp về - Thông điệp về doanh nhân trên báo in dưới góc nhìn văn hóa
Bảng 2.9 Bảng số liệu mức độ hấp dẫn của các bài viết mang thông điệp về (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w