Trong hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng, báo điện tử là một loại hình ra đời muộn nhất nhưng lại có tốc độ phát triển nhanh chóng nhờ sự hỗ trợ của công nghệ thông tin hiện
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRƯƠNG THỊ HỢP
THÔNG ĐIỆP VỀ TRẺ EM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ
DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
HÀ NỘI – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học và chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu của ai khác
Tác giả luận văn
Trương Thị Hợp
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Phạm Duy Đức - người đã chỉ bảo, hướng dẫn tận tình về mặt khoa học trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ và giúp đỡ về mọi mặt của các thầy cô giáo tại Khoa Báo chí, Trường ĐHKHXH&NV
Cuối cùng tôi xin được cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã chia sẻ mọi khó khăn và tao mọi điều kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này
Hà Nội, tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn
Trương Thị Hợp
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5
MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Tình hình nghiên cứu 8
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
5 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu 12
6 Ý nghĩa của đề tài 13
7 Kết cấu luận văn: 14
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU THÔNG ĐIỆP VỀ TRẺ EM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA 15
1.1 Các khái niệm cơ bản 15
1.1.1 Truyền thông và truyền thông đại chúng 15
1.1.2 Trẻ em và quyền thông tin về trẻ em 17
1.1.3 Thông điệp và thông tin: ý nghĩa và tầm quan trọng của thông điệp 23
1.2 Thông điệp về trẻ em trên báo điện tử 30
1.2.1 Khái niệm và quá trình phát triển của báo điện tử 30
1.2.2 Ưu và nhược điểm của báo điện tử trong việc truyền tải thông điệp 33
1.3 Góc nhìn văn hóa đối với thông điệp trẻ em trên báo điện tử 35
1.3.1 Góc nhìn văn hóa đối với thông điệp về trẻ em 35
1.3.2 Đặc điểm của thông điệp về trẻ em dưới góc nhìn văn hóa trên báo điện tử 42 1.4 Tiểu kết 45
Chương 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ THÔNG ĐIỆP VỀ TRẺ EM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA 46
2.1 Thực trạng thông điệp về trẻ em trên báo điện tử 46
1.1.1 Vài nét về các tờ báo lựa chọn khảo sát 46
2.1.1.1 Báo điện tử Dân trí (http://dantri.com.vn/) 46
2.1.1.2 Báo điện tử Vietnamnet (http://vietnamnet.vn/) 48
2.1.1.3 Báo điện tử Tuổi trẻ (http://tuoitre.vn/) 50
Trang 62.1.2 Về số lượng và nội dung thông điệp 51
2.1.1.1 Trẻ có hoàn cảnh khó khăn 54
2.1.1.2 Trẻ gặp tai nạn 55
2.1.1.3 Nạn bạo hành 57
2.1.1.4 Bạo lực học đường 58
2.1.1.5 Trẻ bị xâm hại 59
2.1.1.6 Vấn đề Giáo dục 60
2.1.1.7 Vấn đề sức khỏe 62
2.1.1.8 Trẻ vi phạm pháp luật 63
2.1.2 Về hình thức thể hiện thông điệp 64
2.2 Đánh giá thực trạng thông điệp về trẻ em trên báo điện tử dưới góc nhìn văn hóa 70
2.2.1 Giá trị khách quan, trung thực của thông điệp 70
2.2.2 Giá trị đạo đức của thông điệp 77
2.2.3 Giá trị thẩm mỹ của thông điệp 83
2.3 Những vấn đề đặt ra đối với thông điệp về trẻ em trên báo điện tử 88
2.4 Tiểu kết 91
Chương 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI THÔNG ĐIỆP VỀ TRẺ EM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 92
3.1 Dự báo về xu hướng phát triển của báo điện tử và mối quan tâm của xã hội 92
3.1.1 Dự báo về xu hướng phát triển của báo điện tử 92
3.1.1.1 Xu hướng đa phương tiện và kết hợp nhiều loại hình 94
3.1.1.2 Xu hướng tương tác giữa tòa soạn và công chúng 96
3.1.1.3 Xu hướng truyền tải thông tin thông qua điện thoại di động 98
3.1.1.4 Xu hướng kết nối với mạng xã hội 100
3.1.2 Dự báo về sự quan tâm của xã hội đối với thông tin về trẻ em 102
3.1.2.1 Trẻ em là nạn nhân 103
3.1.2.2 Hình ảnh trẻ em vui vẻ, hạnh phúc 105
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả của thông điệp về trẻ em trên báo điện tử 106
3.2.1 Giải pháp từ chính sách của Đảng, Nhà nước 106
3.2.2 Giải pháp từ phía các cơ quan báo chí 110
3.2.2.1 Về đội ngũ phóng viên, biên tập viên 110
3.2.2.3 Về số lượng, nội dung và hình thức đưa tin 117
Trang 73.3 Tiểu kết 118
KẾT LUẬN 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
PHỤ LỤC 1 126
PHỤ LỤC 2 127
PHỤ LỤC 4 131
PHỤ LỤC 5 133
PHỤ LỤC 6 135
PHỤ LỤC 7 136
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CRC The United Nations Convention on the Rights of the Child
Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền trẻ em
Học viện BC&TT Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Luật BVCS&GD TE Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Nxb Nhà xuất bản
ĐH KHXH&NV Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tỷ lệ tin bài có liên quan đến trẻ em trên báo Dân trí năm 2014 52 Bảng 2.2: Tỷ lệ tin bài có liên quan đến trẻ em trên báo Vietnamnet năm 2014 52 Bảng 2.3: Tỷ lệ tin bài có liên quan đến trẻ em trên báo Tuổi trẻ năm 2014 53 Bảng 2.4: Tỷ lệ các nội dung về trẻ em năm 2014 54
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà thông tin được cập nhật liên tục hàng ngày, hàng giờ trên các phương tiện thông tin đại chúng Điều này thể hiện nhu cầu
to lớn của toàn xã hội trong việc tìm hiểu thông tin ở tất cả các lĩnh vực Tuy nhiên trong những năm gần đây, nhu cầu thông tin về trẻ em nổi lên như một mối quan tâm đặc biệt và cần thiết cho sự phát triển xã hội Điều này một phần xuất phát từ những tin bài gây “sốc” như trẻ bị bạo hành tại trường mẫu giáo, việc mua bán trẻ
em, những cái chết bất thường hay số phận bi thảm của trẻ… Đây chính là “hồi chuông” cảnh tỉnh cho toàn xã hội trong việc chăm sóc và nuôi dạy con trẻ Điều này đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với “người cầm bút”- về trách nhiệm
và đạo đức - trong việc truyền tải thông tin về trẻ em tới công chúng
Điều 1 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em nêu: “Trẻ em được xác định là người
dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật Quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm” Còn Luật
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam năm 1991 quy định: “Trẻ em là
công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”
Ở độ tuổi này trẻ em cần được chăm sóc và giáo dục đặc biệt tại gia đình, trong nhà trường và ngoài xã hội Bản thân trẻ em là những người dễ bị tổn thương và khơi nguồn cho nhiều thứ tình cảm thiêng liêng của con người Chính vì vậy mong muốn của mỗi người cũng như toàn xã hội là nắm bắt được nhiều thông tin có liên quan đến trẻ em để từ đó có những hướng điều chỉnh phù hợp trong cuộc sống Báo chí với chức năng thông tin đã làm rất tốt trong việc phản ảnh các tin tức liên quan đến trẻ em Mỗi tin bài về trẻ em có thể nói là một bức tranh hiện thực được tái hiện với mục đích đảm bảo các lợi ích xã hội dành cho trẻ theo tinh thần CRC Đặc biệt những tin tức về trẻ em trên các phương tiện thông tin đại chúng phải luôn được nhìn nhận dưới góc độ văn hóa để ngày càng nâng cao chất lượng và phát huy các mặt tích cực
Trang 11Trong hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng, báo điện tử là một loại hình ra đời muộn nhất nhưng lại có tốc độ phát triển nhanh chóng nhờ sự hỗ trợ của công nghệ thông tin hiện đại Số lượng tin bài nhiều, tốc độ cập nhật nhanh và sự tích hợp đa phương tiện là những ưu thế vượt trội của báo điện tử so với các loại hình truyền thông khác Công chúng của báo điện tử cũng ngày một đông đảo và phát triển không ngừng Với thế mạnh đó, những tin bài trên báo điện tử có tốc độ lan tỏa và gây hiệu ứng xã hội mạnh mẽ Những thông tin về trẻ em nổi bật trong những năm gần đây có thể nói đều xuất phát hoặc tạo hiệu ứng dư luận từ các trang báo điện tử như vụ tiêm vắc xin gây ra cái chết cho nhiều trẻ em, trẻ bị bạo hành ở trường mẫu giáo, những tấm gương hi sinh thân mình để cứu bạn…
Với đề tài về trẻ em, các trang báo điện tử đã khai thác được nhiều khía cạnh mà
xã hội đang quan tâm như vấn đề giáo dục, sức khỏe, tái hiện cuộc sống hiện thực của trẻ em ở trong nước và quốc tế, từ thành thị đến nông thôn… với nhiều hiệu quả tích cực tác động tới xã hội Có lẽ nhiều người trong chúng ta còn nhớ tấm gương hi sinh của em Trần Văn Nguyên ở Quãng Ngãi đã quên mình 3 lần cứu bạn khỏi chết đuối Lần cuối cùng trong khi cố cứu một em bé lớp 6 bị đuối nước trên sông, em đã không qua khỏi và ra đi ở độ tuổi 14 Hành động của em được Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan trao tặng Huân chương dũng cảm Sự kiện này đã tác động lớn đến xã hội, dấy lên niềm thương cảm và tự hào trong mỗi con người Việt Nam Chính hành động đó có sức lan tỏa mạnh mẽ, khiến mọi người thấy mình nên hi sinh nhiều hơn, nên yêu thương đùm bọc những người xung quanh nhiều hơn Có được điều này, một phần là do sự nhanh nhạy, kịp thời của báo chí Ở đây trẻ em được quan tâm đúng mực, được bảo vệ và tôn vinh dưới ngòi bút của các tờ báo, nhà báo có tâm, có đức
Tuy nhiên bên cạnh đó cũng tồn tại không ít các bài báo vì mục đích “câu view”,
vì sự hiểu biết có hạn của nhà báo mà gây nên hậu quả xấu cho xã hội, làm ảnh hưởng đến cuộc sống và tâm lý của những trẻ em được phản ánh, như nêu đích danh
và chụp rõ mặt trẻ em trong các “clip nóng”, trẻ em bị hiếp dâm, trẻ bị tự kỉ, trẻ bị nhiễm HIV Chính vì điều này trong những năm vừa qua, nhiều cuộc hội thảo bàn
Trang 12về cách thông tin về trẻ em trên báo chí đã được tổ chức, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp của nhà báo và nhấn mạnh tiêu chí đạo đức của người cầm bút Đặc biệt để tránh tình trạng nhiều tờ báo chỉ viết cái tốt, có tờ báo lại chỉ phản ánh về cái xấu, nhất thiết cần có một cái nhìn tinh tế, tỉnh táo và toàn diện về diện mạo của trẻ
em trên báo chí
Thông tin về trẻ em trên báo chí không chỉ lấy trẻ em làm đối tượng phản ánh đơn thuần mà nó còn mang tính xã hội sâu sắc Viết về đề tài trẻ em, nhà báo cần thiết phải nghiên cứu cả trẻ em lẫn người lớn liên quan đến trẻ em vì những tin bài
đó sẽ góp phần điều chỉnh nhận thức, thái độ và hành vi của người lớn đối với việc giải quyết các vấn đề trẻ em Đấy chính là ý nghĩa nhân văn của những tin bài này
Chính vì những lẽ đó tôi chọn: “Thông điệp về trẻ em trên báo điện tử dưới góc
nhìn văn hóa” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học
2 Tình hình nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài “Thông điệp về trẻ em trên báo điện tử dưới góc
nhìn văn hóa”, tôi đã có tham khảo một số tài liệu có liên quan và nhận thấy đề tài
trẻ em trên báo chí là khá phong phú, các thông tin về báo mạng điện tử cũng đa dạng với các tài liệu bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài
2.1 Tài liệu trong nước
Trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông”, các tác giả: Dương Xuân
Sơn – Đinh Văn Hường – Trần Quang đã khái quát hóa các vấn đề chung của báo chí, trong đó đã chỉ rõ vai trò và vị trí của báo chí trong xã hội Cuốn sách khẳng
định: “Thông tin trong báo chí là một quá trình liên tục, xuyên suốt trong mối quan
hệ chặt chẽ giữa Cuộc sống – Nhà báo – Tác phẩm – Công chúng.” [31, tr.24]
Về chủ đề báo chí viết về trẻ em, đáng chú ý có cuốn “Báo chí với trẻ em”
của Nxb Lao động (2004) do PGS.TS Nguyễn Văn Dững chủ biên Cuốn sách này cung cấp những thông tin, trí thức nền cần thiết có liên quan đến quyền trẻ em; nghiên cứu công chúng – nhóm đối tượng trẻ em; diện mạo trẻ em trên báo chí và những vấn đề đặt ra… Những nội dung tri thức, kỹ năng và kinh nghiệm nghề
Trang 13nghiệp báo chí tham gia giải quyết vấn đề trẻ em trong cuốn sách này là những gợi
ý bổ ích để tác giả luận văn tham khảo nhằm thực hiện đề tài này
Bên cạnh đó, cuốn “Sổ tay phóng viên báo chí với trẻ em” của đồng tác giả
đã cung cấp cho các phóng viên báo chí làm việc với trẻ em những kiến thức cơ bản
về nghiệp vụ báo chí và những vấn đề liên quan đến trẻ em Đồng thời cũng chia sẻ những kinh nghiệm và kỹ năng trong hoạt động nghiệp vụ báo chí với trẻ em của những nhà báo lâu năm làm việc cùng trẻ em, của những nhà hoạt động xã hội, của các chuyên gia nghiên cứu báo chí với trẻ em
Để nhìn nhận vấn đề thông tin về trẻ em theo những “lát cắt nhỏ” hơn, tôi có
tham khảo cuốn “Vấn đề Hôn nhân – gia đình và trẻ em qua góc nhìn báo chí” của tác
giả Nguyễn Thu Nguyệt Cuốn sách này cho chúng ta thấy sự tương tác của những biến đổi kinh tế xã hội tới những vấn đề quan hệ gia đình, trẻ em – giúp xác định những vấn
đề cần phải định hướng nghiên cứu sâu hơn, phục vụ cho chiến lược phát triển gia đình, chăm sóc trẻ em của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn mới
Bài nghiên cứu “Thông điệp về trẻ em trên báo hình và báo in” của PGS.TS
Mai Quỳnh Nam đăng trên tạp chí Xã hội học số 2 năm 2002 đã cho thấy sự quan tâm của truyền thông đại chúng trong việc phản ánh các vấn đề có liên quan tới trẻ
em Thông qua việc phân tích văn bản trên một số báo in, tác giả đưa ra những nội dung thông điệp liên quan tới đối tượng trẻ em mà các loại hình báo chí này đăng tải
Gần đây nhất có cuốn sách chuyên khảo “Nhà báo với trẻ em: Kiến thức và
kĩ năng” xuất bản năm 2014 của TS Nguyễn Ngọc Oanh – Giảng viên Học viện
Báo chí và Tuyên truyền Cuốn sách đã cung cấp những kiến thức và kĩ năng viết báo trên cơ sở tôn trọng quyền trẻ em Bên cạnh đó tác giả còn đưa ra các số liệu nghiên cứu chuyên sâu từ khảo sát thực tế các thể loại báo chí dành cho trẻ em
Trong năm 2014, hội thảo: “Báo chí với quyền trẻ em: Đạo đức và Kĩ năng”
do Hội Nhà báo Viêt Nam phối hợp với Hội bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam xuất bản Kỷ yếu Hội thảo trong đó tập hợp hơn 20 bài tham luận của các nhà báo đến từ các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương Những bài tham luận đã đề cập tới
Trang 14sự phản ánh vấn đề trẻ em trên các phương tiện truyền thông đại chúng dưới góc độ quyền trẻ em và nhận thức của các nhà báo trong vấn đề viết báo về trẻ em
Ngoài ra còn có các tài liệu khóa luận, luận văn, luận án tại các trường ĐH
KHXH&NV và Học viện BC&TT có liên quan đến đề tài như luận văn “Báo in với
vấn đề quyền tham gia của trẻ em hiện nay” của tác giả Trần Thị Thúy Hảo năm 2005
tại trường ĐH KHXH&NV; khóa luận “Báo chí với vấn đề bạo hành trẻ em (Khảo sát
trên báo điện tử Dân trí từ 1/1/2008 đến 12/6/2010)” của tác giả Nguyễn Thị Hương
Duyên tại trường ĐH KHXH&NV; luận văn “Giáo dục nhân cách cho trẻ vị thành
niên trên báo chí hiện nay (khảo sát báo Thiếu niên Tiền phong và Hoa học trò năm 2005/2006)” của tác giả Trần Thị Dung năm 2006 tại trường Học viện BC&TT 2.2 Tài liệu của nước ngoài
Đáng chú ý nhất có cuốn “Truyền thông, đạo đức nghề nghiệp với trẻ em” của
tác giả Helena Thorfinn, do Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản vào năm 2003 Đây là cuốn sách đúc kết những phẩm chất cần thiết của nhà báo viết về trẻ em Cuốn sách nghiên cứu mối quan hệ giữa trẻ em với truyền thông nhằm mục đích giảm tác hại, tăng lợi ích của các phương tiện truyền thông đối với trẻ, nâng cao đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực truyền thông, đồng thời tập trung phân tích ba vấn đề lớn: trẻ
em có quyền tiếp nhận, có quyền cùng tham gia, vừa có quyền được bảo vệ trước các phương tiện truyền thông
Ngoài ra có cuốn sách tham khảo “Quyền trẻ em và phương tiện thông tin đại
chúng” của Tổ chức Radda Barnen – Tổ chức cứu trợ trẻ em của Thụy Điển, là tập
hợp một số chuyên đề viết về mối quan hệ giữa việc thực hiện Công ước về quyền trẻ em và trách nhiệm của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc bảo vệ quyền trẻ em
Trong cuốn “Children in the News” (Trẻ em trong truyền thông) do trường Đại
học Công nghệ Singapore và Học viện Thông tin và Truyền thông châu Á phát hành năm 2001 lại cho thấy sự thiếu thốn thông tin về trẻ em và dành cho trẻ em đã phần nào thể hiện sự thiếu quan tâm của cộng đồng và bộ luật truyền thông nhằm đem lại lợi ích cho trẻ em ở các nước châu Á
Trang 15Như vậy về đề tài báo chí, truyền thông vì trẻ em, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cả phương diện lý luận và thực tiễn Tuy nhiên các công trình này chủ yếu tập trung nghiên cứu về quyền trẻ em trên báo chí hoặc báo chí cho trẻ em (tức là hướng đối tượng tiếp nhận là trẻ em như các tờ báo Hoa học trò, Nhi đồng ) Còn hướng nghiên cứu báo chí vì trẻ em (tức hướng đối tượng tiếp nhận thông tin là người lớn) thì hầu như rất ít ỏi Luận văn cũng sẽ đi tiên phong trong việc khảo sát nội dung, hình thức của những thông điệp về trẻ em trên báo điện tử Đồng thời đánh giá chúng dưới những giá trị văn hóa như giá trị khách quan, trung thực; giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ Không những thế đề tài còn tập trung khảo cứu thông điệp trẻ em trên báo điện tử - một loại hình thông tin điện tử mới và phát triển mạnh trong thời gian gần đây nhưng chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu Chính
vì vậy có thể nói đây là lần đầu tiên có đề tài Luận văn nghiên cứu về vấn đề này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
và cơ quan báo chí nhằm nâng cao chất lượng thông điệp về trẻ em trên báo điện tử hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn đã thực hiện các nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận và các khái niệm liên quan đến thông điệp về trẻ em trên báo điện tử từ góc nhìn văn hóa
- Khảo sát thực trạng các thông điệp về trẻ em trên 3 tờ báo điện tử: Dân trí, Tuổi trẻ, Vietnamnet trong năm 2014 trên các phương diện: số lượng tin bài, chất lượng tin bài, nội dung tin bài; từ đó đánh giá dưới góc độ văn hóa: về mặt tích cực, tiêu cực và tầm ảnh hưởng của những tin bài đó tới xã hội
Trang 16- Luận văn đưa ra những dự báo về sự phát triển của báo điện tử, về mối quan tâm của xã hội tới vấn đề thông điệp về trẻ em cũng như các giải pháp để việc thông tin về trẻ em trên các trang báo điện tử được thực hiện đúng đắn, có hiệu quả
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
mà nhiều sự kiện về trẻ em trên các phương tiện thông tin đại chúng gây đươc sự chú ý lớn từ dư luận
5 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở hệ thống lý luận và quan điểm nền tảng
Từ đó kết hợp với các nghiên cứu cụ thể để đánh giá thực trạng cũng như giải pháp cho thông điệp về trẻ em trên báo điện tử
5.1 Cơ sở lý luận
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về hoạt động của báo chí
- Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về báo chí và trẻ em
- Các quan điểm tiến bộ và hiện đại của thế giới hiện nay về báo chí về trẻ em
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này nhằm khai thác những
tài liệu có sẵn có trên văn bản pháp luật của Việt Nam và Công ước Quốc tế về quyền trẻ em Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến
Trang 17trẻ em và quyền thông tin về trẻ em hiện nay trên báo chí nói chung Ngoài ra luận văn cũng tìm hiểu thông tin từ các báo cáo, kỷ yếu hội thảo được ban hành bởi các
cơ quan Nhà nước và một số tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
- Phương pháp phân tích văn bản (phân tích nội dung và hình thức): Đây là
phương pháp chính được sử dụng trong luận văn Luận văn sẽ xác định các khái niệm và từ khóa có liên quan như “trẻ em”, “thông điệp”, “báo điện tử” Sau đó phân tích những nội dung và hình thức thông điệp trong các bài báo được cố định trong các chuyên trang, chuyên mục đó Từ việc phân tích các bài báo nằm trong ba
tờ báo điện tử là Dân trí, Tuổi trẻ, Vietnamnet, luận văn sẽ đưa ra những đánh giá
về thông điệp dưới góc nhìn văn hóa
- Phương pháp phân tích định tính: phỏng vấn các nhà báo để tìm hiểu về
nhận thức của đối tượng đối với các quyền thông tin về trẻ em trên báo chí hiện nay cũng như mục đích khi sáng tạo các thông điệp có liên quan tới trẻ em Đó là nhà báo Lâm Hoài – phóng viên báo Tuổi trẻ; nhà báo Kiên Trung – phóng viên báo Vietnamnet và ông Nguyễn Anh Tuấn – thư kí tòa soạn báo Dân trí
- Phương pháp thống kê: Từ việc thống kê số lượng các bài viết về các vấn đề
khác nhau ở mỗi báo, luận văn sẽ đưa ra các số liệu tổng quát về những nội dung được đề cập trong báo như các chuyên mục có tỷ lệ tin bài về trẻ em lớn, số lượng các tin bài về trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em gặp tai nạn hay vấn đề giáo dục cho trẻ Từ đó sẽ có cái nhìn tổng quát về số lượng bài viết mà các báo quan tâm và đánh giá được những giá trị văn hóa của những tin bài đó
6 Ý nghĩa của đề tài
6.1 Về mặt lý luận
- Đây là đề tài đầu tiên khảo sát thông tin về trẻ em trên báo điện tử dưới góc nhìn văn hóa Đề tài không chỉ góp phần làm rõ diện mạo, nội dung và hình thức của các tin bài về trẻ em trên báo điện tử mà còn đánh giá vai trò của nhà báo cũng như phương thức truyền tải thông tin tới công chúng qua kênh phát: báo điện tử
Trang 18- Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy về những vấn đề có liên quan đến thông điệp về trẻ em trên báo chí nói chung và thông điệp về trẻ em trên báo điện tử dưới góc nhìn văn hóa nói riêng
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng, giảng viên và học viên ở các trường đào tạo chuyên ngành báo chí, tạo tiền đề cho các công trình nghiên cứu tiếp theo
7 Kết cấu luận văn:
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, những nội dung chủ yếu của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu thông điệp về trẻ em trên báo điện tử dưới góc
nhìn văn hóa
Chương 2: Khảo sát thực trạng và đánh giá thông điệp về trẻ em trên báo điện tử
dưới góc nhìn văn hóa
Chương 3: Một số khuyến nghị đối với thông điệp về trẻ em trên báo điện tử hiện nay
Trang 19Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU THÔNG ĐIỆP VỀ
TRẺ EM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Truyền thông và truyền thông đại chúng
Từ khi lịch sử ra đời cho đến nay, báo chí đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm và dù “bộ mặt” có thay đổi nhưng mục tiêu dường như vẫn bất biến Mục tiêu chính yếu nhất của báo chí là cung cấp cho công dân thông tin mà họ có để trở thành tự do và dân chủ Theo như James Carey, phóng viên báo Daily News của
New York: “Có lẽ đến cuối cùng, báo chí chỉ có nghĩa đơn giản là truyền tải và
phóng đại cuộc đối thoại của chính nhân dân” [2, tr 23]
Con người vốn dĩ có khao khát tìm hiểu những gì xảy ra bên ngoài kinh nghiệm trực tiếp của mình Những thông tin mới cho phép con người xây dựng một cuộc sống an toàn và phát triển toàn diện Sự trao đổi thông tin trở thành nền tảng cho việc tạo dựng cộng đồng, kiến tạo những mối quan hệ nhân văn Đây là những hoạt động tự nhiên mà sau này chúng ta gọi chung đó là “truyền thông”
Thuật ngữ “truyền thông” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Commune” có nghĩa là chung hay cộng đồng Nó bao gồm tất cả những gì liên quan đến nội dung, cách thức, con đường, phương tiện để tạo thành sợi dây liên kết giữa các cá nhân trong xã hội, biến con người tự nhiên trở thành con người xã hội
Trong tiếng Anh “truyền thông” là “communication” có nghĩa là sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc, giao thông
Trong từ điển tiếng Việt, “truyền thông” với nghĩa động từ có nghĩa là truyền
dữ liệu theo những quy tắc và cách thức nhất định Nó cũng có thể hiểu là thông tin
và tuyên truyền, là phương tiện truyền thông
Như vậy có thể thấy rõ bản chất của “truyền thông” gắn liền với sự phát triển của con người và xã hội Nó vừa “tự nhiên” lại vừa “không tự nhiên”, tức là vận động theo ý muốn của con người hoặc không Mặt khác tính chất của nó cũng thay đổi tùy môi trường truyền thông ở mỗi giai đoạn lịch sử
Trang 20Trong cuộc sống thường ngày, khi chúng ta trò chuyện, trao đổi, điều đó có nghĩa quá trình truyền thông đã được thực hiện Nó đến một cách tự nhiên vì những mục đích chung, nhu cầu chung Tiếng nói là nền tảng quan trọng cho quá trình hình thành phát triển, tăng cường truyền thông – giao tiếp trong xã hội loài người Khi truyền thông gắn liền với các phương tiện truyền thông đại chúng thì tính mục đích được thể hiện và lên kế hoạch rõ ràng
Quá trình truyền thông khởi đầu từ những hình thức đơn giản như nói trực tiếp, ban hành giấy tờ và đến bây giờ đã có những sự phát triển vượt bậc là sử dụng điện thoại, truyền hình, vệ tinh nhân tạo, internet Các phương tiện hiện đại này trở thành một phần không thể thiếu để đảm bảo cho xã hội phát triển và ổn định
Nghiên cứu về “truyền thông” đã có một quá trình dài và liên tục cho đến ngày nay với sự tham gia của nhiều ngành, nghề Điều này cho thấy sự phức tạp cũng như cần thiết phải hiểu rõ “Truyền thông” – một yếu tố quan trọng trong tiến trình phát triển của con người
Trong truyền thông, người ta phân chia ra các dạng thức, loại hình khác nhau nhằm khu biệt các mô hình, mô thức, cách thức tổ chức liên kết các yếu tố hoạt động truyền thông Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau sẽ có các cách phân loại khác nhau như truyền thông nội cá nhân, truyền thông liên cá nhân, truyền thông nhóm, truyền thông đại chúng
Truyền thông đại chúng là dạng thức truyền thông – giao tiếp với công chúng
xã hội rộng rãi, được thực hiện thông qua các phương tiện kĩ thuật và công nghệ truyền thông Trong truyền thông đại chúng, các loại hình báo chí như báo in, phát thanh, báo mạng, truyền hình có vai trò quan trọng, chi phối sức mạnh, bản chất và khuynh hướng của truyền thông đại chúng Như vậy có thể hiểu, truyền thông đại chúng là hệ thống các phương tiện truyền thông phát đi các thông tin nhằm chia sẻ, lôi kéo và tập hợp đông đảo quần chúng tham gia giải quyết các vấn đề mà xã hội đang đặt ra
Nói về truyền thông đại chúng, điều đặc biệt quan trọng đó là tính chất “đại chúng” Có nghĩa đối tượng tác động của truyền thông đại chúng là đông đảo công
Trang 21chúng trong xã hội không phân biệt trình độ, giai cấp, giới tính Một thông tin được truyền đi có nghĩa là hướng tới hàng triệu người đang theo dõi Khi quá trình truyền thông càng mạnh thì sức ảnh hưởng của nó tới công chúng càng khổng lồ Điều này dẫn đến sự quy định về nội dung các thông tin được phát ra phải thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của đại đa số nhân dân Thông tin phải luôn đặt lợi ích của công chúng lên trên, vừa giúp họ mở mang tầm nhìn, lại vừa là cầu nối để họ bộc bạch, sẻ chia tâm tư, tình cảm Tính chất “đại chúng” không chỉ thể hiện sự đa dạng trong đối tượng tiếp nhận mà còn là sự phong phú về đề tài thông tin sự kiện Mỗi
cá nhân trong xã hội đều có nhu cầu riêng chính vì vậy sự đa chiều thông tin là cần thiết Thế nên không có gì lạ khi cùng một vấn đề, mỗi phương tiện lại tiếp cận theo một góc độ khác nhau Nhờ đó thông tin vừa công khai, vừa thỏa mãn được trí tò
mò của dư luận
Bên cạnh đó, các yếu tố khác cũng cần được chú trọng như thông điệp đưa ra phải dễ nhớ, dễ hiểu, dễ làm theo; quá trình truyền thông phải diễn ra liên tục và thường xuyên; thông tin phải xuyên suốt mọi mặt của đời sống như sản xuất, giải trí, tâm lý tình cảm
Ngày nay khi truyền thông ngày càng phát triển, hai xu hướng đại chúng và phi đại chúng đang đan xen và cùng phát triển Tuy nhiên với mục đích to lớn là tác động và làm thay đổi hành vi thái độ của công chúng, truyền thông đại chúng trở thành vị trí trung tâm và làm nền tảng trong việc quyết định sức mạnh, bản chất và khuynh hướng chính của truyền thông chung
1.1.2 Trẻ em và quyền thông tin về trẻ em
Mỗi người sinh ra đều có quãng thời gian là “trẻ em” nên hơn ai hết chúng ta thấu hiểu sự mong manh và yếu ớt của nó Trẻ em luôn cần sự chăm sóc và bảo vệ đặc biệt của người lớn
Điều 1 Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em nêu: “Trẻ em được xác định là người
dưới 18 tuổi, trừ khi luật pháp quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm” [1, tr.12]
Các văn bản Pháp luật của Việt Nam quy định: “Những người dưới 16 tuổi gọi là
trẻ em” “Những người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên”, “Những người từ đủ 15 tuổi trở lên có giao kết hợp đồng lao động gọi là người lao động” [23, tr 102]
Trang 22Như vậy trẻ em được hiểu trước hết là một con người được hưởng mọi quyền
và mọi tự do đã được nêu ra trong các Công ước Quốc tế về quyền con người mà
“không bị bất cứ một sự phân biệt đối xử nào vì chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc mối tương quan khác” [1, tr.8]
Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới và là nước đầu tiên ở châu Á phê chuẩn CRC Để đạt được những mục tiêu mà Chương trình hành động quốc gia và CRC đặt ra, Việt Nam đã đầu tư nhiều vào việc bồi dưỡng năng lực và vận động xã hội Quyền trẻ em và việc thực hiện Quyền trẻ em đã trở thành một vấn đề chung cho mọi người, mọi nhà, mọi cơ quan và tổ chức trong cả nước, dưới sự lãnh đạo chung của Chính phủ
Tuy nhiên về thực tế, ở mỗi nơi trên thế giới, không phải trẻ em nào cũng được đối xử theo đúng những quy tắc trên Không những thế trẻ em còn là nạn nhân của sự nghèo đói, thất học, bị bóc lột sức lao động, dịch bệnh Vậy nên trong mối quan tâm chung của toàn xã hội là làm thế nào để bảo vệ được trẻ em, báo chí truyền thông không thể đứng ngoài cuộc Không những vậy, với chức năng thông tin, giám sát xã hội, báo chí còn được xem là yếu tố cơ bản để tiến trình đòi quyền lợi cho trẻ em được tiến hành nhanh và có hiệu quả Việc thông tin về trẻ em trên báo chí chính là một phần để nước ta tiến gần hơn đến việc thực hiện đầy đủ các Quyền trẻ em
Trong môi trường báo chí, thông tin về “trẻ em” luôn là một vấn đề nhận được sự quan tâm đặc biệt Dưới góc độ là đối tượng phản ánh, trẻ em có thể là đề tài cho hoạt động báo chí đa dạng và phong phú Đối tượng này bao gồm trẻ sơ sinh, nhi đồng, thiếu niên Lấy trẻ em làm trung tâm, đặt quyền lợi của trẻ em lên trước, tiếp cận vấn đề từ trẻ em sẽ cho ra đời những tác phẩm báo chí có giá trị, có sức lan tỏa lớn trong cộng đồng Có thể nói thông tin về trẻ em trên báo chí không đơn thuần là sự phản ánh mà còn liên quan sâu sắc tới vấn đề nhân văn, nhân ái giữa con người với con người trong xã hội
Trang 23Hiện nay trẻ em thường xuất hiện trên các phương tiện truyền thông với một vài chân dung lặp đi lặp lại, bao gồm trẻ em bạo lực, trẻ em nghèo, trẻ em là nạn nhân, trẻ em và giới, trẻ em ngây thơ trong trắng Viết về trẻ em với những đề tài nhạy cảm như mại dâm, HIV nếu nhà báo không có đạo đức, thiếu hiểu biết thì đôi khi tác phẩm đó lại là nguyên nhân khiến trẻ bị xâm phạm lần thứ hai
Vậy quyền thông tin về trẻ em trên các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay như thế nào?
Hiện nay, ngay trong Luật báo chí (bổ sung, sửa đổi năm 1999) cũng chưa có điều khoản nào quy định trách nhiệm của các cơ quan báo chí trong việc đảm bảo thực thi quyền trẻ em Và trong nhiều văn bản liên quan tới trẻ em cũng chưa có những điều khoản nào quy định cụ thể về quyền được bảo vệ, quyền trẻ em, trách nhiệm rõ ràng cụ thể của các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong đảm bảo quyền trẻ em Duy chỉ có tại văn bản Luật BVCS&GD TE năm 2004, Điều 29 có quy định về trách nhiệm của các đơn vị sản xuất thông tin khuyến cáo về những nội dung không
phù hợp với trẻ em: “Trên xuất bản phẩm, đồ chơi, chương trình phát thanh, truyền
hình, nghệ thuật điện ảnh nếu có nội dung không phù hợp với trẻ em thì phải thông báo hoặc ghi rõ trẻ em ở lứa tuổi nào không được sử dụng” [23, tr 15]
Tại nhiều nước, tự do báo chí là một quyền cơ bản Hơn nữa các nhà báo có trách nhiệm thường không đặt mục tiêu viết bài theo kiểu xâm phạm đến quyền con người của mỗi cá nhân Tuy nhiên để so chiếu, đánh giá, những điều khoản trong Công ước về Quyền trẻ em sẽ là những công cụ quan trọng đối với nhà báo trong việc ứng xử trước những thông tin có liên quan về trẻ em
CRC đòi hỏi trẻ em phải được nhìn nhận như những chủ thể quan trọng với truyền thông đại chúng Trẻ em phải được miêu tả chân thực, sâu sắc hơn trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là báo chí Các phương tiện truyền thông phải luôn coi trẻ em là đề tài vô tận để khai thác thông tin với ý nghĩa hướng đến mục tiêu giành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ như CRC nêu
Nhìn chung những quy tắc ứng xử liên quan đến trẻ em trên các phương tiện truyền thông được đặc biệt quan tâm có lẽ chỉ bắt đầu từ sau Hội nghị về Công ước
Trang 24của Liên hợp quốc về quyền trẻ em được tổ chức tại Geneva năm 1996 Dựa trên những khuyến nghị của các thành viên tham dự, Ủy ban của Liên hợp quốc về quyền trẻ em đã thành lập một tổ công tác tìm hiểu những vấn đề giữa trẻ em với truyền thông, đặc biệt thúc đẩy việc thực hiện Điều 17 trong Công ước Hiện nay CRC đang kêu gọi việc cần thiết phải xây dựng nên những đường lối chỉ đạo để bảo vệ trẻ em khỏi những thông tin, tài liệu gây tổn thương cho trẻ Trong Điều 17, mục a có nhắc
đến: “Khuyến khích các cơ quan thông tin đại chúng phổ biến những thông tin và tư
liệu có lợi về xã hội và văn hóa cho trẻ em phù hợp với tinh thần của Điều 29”
CRC nói một cách ngắn gọn là quy đinh việc đối xử với trẻ em như thế nào, điều gì nên làm và không nên làm Đối tượng chính của Công ước là các Chính phủ
và Công ước không định can thiệp vào hoạt động độc lập các phương tiện truyền thông Tuy nhiên Công ước cũng có những thông điệp gián tiếp đến các tổ chức báo chí mà qua đó người ta hi vọng những vụ vi phạm các quyền của trẻ em sẽ bị nêu công khai trên báo chí; nhân phẩm trẻ em được tôn trọng; tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các hoạt động của các phương tiện truyền thông và bảo vệ trẻ em khỏi những ảnh hưởng có hại từ các phương tiện truyền thông
Trong Điều 16 của CRC có quy định các phương tiện truyền thông phải tôn trọng việc riêng tư của các em, phải được bảo vệ khỏi sự can thiệp từ bên ngoài Đây chính là vấn đề đạo đức quan trọng nhất trong lĩnh vực truyền thông và trẻ em Điều này có thể hiểu như là quy định về việc không được công bố tên của các em nếu không được phép, các em phải được mô tả một cách tôn trọng trong các bài viết hoặc bức ảnh, cũng như quyền của các em được từ chối khi không muốn tham gia vào các hoạt động của các phương tiện truyền thông Rất nhiều nhà báo vì muốn thể hiện tính trung thực và chính xác của thông tin đã vô tình để lộ tên, địa chỉ của trẻ trong các vụ xâm hại tình dục, trẻ trộm cắp mà không lường trước được hậu quả nào về mặt tâm lý, xã hội có thể xảy ra cho trẻ đó
Tháng 5/1998, các Hiệp hội báo chí của 70 nước đã thống nhất về đề cương Bản Quy tắc ứng xử tại Hội nghị tư vấn quốc tế lần đầu tiên được tổ chức tại Recife, Brazin với chủ đề báo chí và quyền trẻ em Tiếp theo đó Tổ chức từ thiện của Anh
Trang 25là Presswise và Liên đoàn các nhà báo quốc tế đã chỉ định một điều phối viên về Quyền trẻ em – ông Mike Jempsen làm việc tại tổ chức Presswise ở Anh Năm
2001, bản sơ thảo được đề nghị thảo luận và điều chỉnh bổ sung để sau đó sẽ trở thành một khuyến nghị chính thức đối với các nhà báo khi làm việc với trẻ em
Các nhà báo và các tổ chức truyền thông sẽ đấu tranh để duy trì những tiêu chuẩn đạo đức cao nhất khi đưa tin bài về những câu chuyện của trẻ em Các tổ chức truyền thông coi việc xâm phạm quyền trẻ em và những vấn đề liên quan đến
sự an toàn, tính riêng tư, an ninh, giáo dục, sức khỏe, phúc lợi xã hội và mọi hình thức bóc lột kể cả những tập tục cổ truyền nguy hại, như những vấn đề quan trọng cần tìm hiểu và tranh luận công khai Hoạt động báo chí khi đề cập đến cuộc sống
và quyền lợi của trẻ em cần được tiến hành với một sự hiểu biết về đặc điểm dễ bị tổn thương ở trẻ, đặc biệt là trẻ em gái
Các phương tiện truyền thông không nên coi và đưa tin bài về điều kiện, hoàn cảnh của trẻ với tư cách như những sự kiện, mà cần phải không ngừng đưa tin về quá trình có khả năng dẫn tới hoặc thực sự dẫn tới những sự kiện đó
Song song với quá trình này, Chính phủ Na Uy và Unicef tại Oslo đã có những động thái trước lời kêu gọi ở tầm quốc tế lần đầu tiên được phát đi năm 1996 và đã khởi xướng một quá trình dẫn đến sự ra đời của Thách thức Oslo vào ngày 20/3/1999 Thách thức Oslo có đoạn: Những người làm việc trong lĩnh vực truyền thông đứng trước nhiều thách thức, trong đó có thách thức phải làm việc một cách có đạo đức và có thể thực hiện được những chương trình thực sự hữu ích và tránh những khuynh hướng giật gân, rập khuôn (bao gồm cả rập khuôn về giới tính), coi nhẹ trẻ
em và quyền trẻ em
Unicef có một cuốn sổ tay lớn trong đó mỗi điều khoản trong CRC đều được bổ sung một bản kiểm tra đối chiếu cho người làm báo cũng như những định hướng tin bài – tức là những đề xuất về việc tập trung đến những vấn đề thích đáng Đây là cuốn sổ tay được viết một cách hoàn chỉnh nhất, do chính các nhà báo viết ra và do
đó không gây đụng chạm đến các vấn đề khác, chẳng hạn như quyền tự do báo chí
Trang 26Tóm lại những nhiệm vụ cơ bản mà những quy tắc ứng xử đặt ra đối với các nhà báo là phải đưa tin bài về những thất bại và sao nhãng trong việc thực hiện Công ước về quyền trẻ em; Cung cấp thông tin và đưa ra những thách thức chứ không phải chạy theo những trò giật gân; Đặc tả những vấn đề của trẻ em một cách chính xác hơn, sâu sắc hơn; Coi trẻ em là những chủ thể quan trọng đối với truyền thông; Tôn trọng và coi trẻ em như những công dân có ích
Hội nghị thượng đỉnh châu Á về quyền trẻ em và thông tin đại chúng lần đầu
tiên được tổ chức tại Manila từ ngày 2 – 5/7/1996 cũng đưa ra Tuyên bố: Các
phương tiện truyền thông vì lợi ích trẻ em hay đề cập đến trẻ em nên: tạo điều kiện cho tất cả trẻ em được tiếp nhận thông tin; Truyền thông dành cho trẻ em gái, chống lại sự phân biệt đối xử đối với trẻ em gái; Dành cho trẻ em đặc biệt nghèo túng, trẻ em sống trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em bản địa và trẻ em trong xung đột vũ trang
Thông tin đại chúng về trẻ em cũng nên: Thực hiện những chính sách tuân theo
những nguyên tắc về chống phân biệt đối xử và phục vụ những lợi ích tốt nhất cho tất cả trẻ em; Nâng cao nhận thức và huy động tất cả các thành phần xã hội bảo đảm quyền được sống, phát triển, được bảo vệ và quyền tham gia của trẻ em; Ngăn chặn tất cả các hình thức bóc lột về kinh tế, thương mại và tình dục đối với trẻ em và lạm dụng trẻ em trong khu vực và đảm bảo rằng những nỗ lực đó không vi phạm quyền trẻ em, đặc biệt là quyền riêng tư của trẻ; Bảo vệ trẻ em khỏi bị ảnh hưởng của những tài liệu về bạo lực, tình dục, xung đột và tội ác; Đề cao những giá trị quý báu
và chấm dứt phân biệt đối xử và dập khuôn
Ngoài ra, truyền thông về trẻ em cũng nên: Có chất lượng cao, chuyên về trẻ
em, không bóc lột trẻ em; Hỗ trợ sự phát triển về thể chất, tinh thần, xã hội, đạo lý, tâm linh cho trẻ; Tạo điều kiện cho trẻ được nghe, được nhìn và được thể hiện bản thân, thể hiện văn hóa ngôn ngữ và kinh nghiệm sống thông qua truyền thông nhằm làm tăng thêm tinh thần cộng đồng cho trẻ, đồng thời nâng cao nhận thức và đề cao các loại hình văn hóa khác; Nội dung hình thức đa dạng nhưng không bao gồm các hình ảnh về bạo lực, tình dục; Tạo điều kiện cho trẻ dễ dàng tiếp cận vào bất kì lúc nào các em cần
Trang 27Association Nacional dos Direitos da Infancia-ANDI, là một tổ chức phi chính phủ tại Brazin chuyên hoạt động nhằm khuyến khích các phương tiện truyền thông quan tâm đến các vấn đề khác nhau của trẻ em Họ đã bắt đầu bằng việc đấu tranh chống lại cách đặc tả trẻ em đường phố trên báo chí, từng bước tạo chuyển biến cho các bài tường thuật từ khuynh hướng giật gân sang những bài viết mang tính xây dựng hơn, trong đó tập trung đến việc phân tích và đề xuất các giải pháp Nhiệm vụ của họ là thúc đẩy một hệ thống nghiệp vụ báo chí điều tra mới, dựa trên ý tưởng rằng một khi báo giới quan tâm nhiều hơn đến thực trạng sống của trẻ em và thanh thiếu niên thì sẽ có thể tiến gần hơn đến những lý do hiển thị và ẩn chứa đến những bất công trong xã hội hiện nay
Ngoài ra còn nhiều tài liệu cũng nhắc đến quyền thông tin về trẻ em trên báo chí
như “Tài liệu Bắc Kinh về Phụ nữ và Truyền thông”; “Những quy tắc tiêu chuẩn về
cơ hội bình đẳng cho người khuyết tật” (Đã được Đại Hội đồng Liên hợp quốc
thông qua tại phiên họp thứ 48 ngày 20/12/1993); “Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của
Liên hợp quốc về việc quản lý tư pháp người chưa thành niên” (Quy tắc Bắc Kinh);
“Hướng dẫn của Liên hợp quốc về việc phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (Hướng dẫn Riyadh)
Tóm lại mối quan hệ giữa truyền thông và trẻ em là một mối quan hệ rất khăng khít Trẻ em là đề tài vô tận cho báo chí khai thác nhưng báo chí cũng phải có nghĩa
vụ bảo vệ các em trước các phương tiện truyền thông Viết về trẻ em, trước hết phải
vì lợi ích của nhóm công chúng đặc biệt này Mỗi nét bút đặt xuống phải xuất phát
từ tình yêu thương và sự trân trọng đặc biệt Có như vậy, mỗi tác phẩm báo chí khi truyền tải tới công chúng mới có sức mạnh làm biến chuyển sự việc theo hướng có lợi cho trẻ Đó cũng chính là nhiệm vụ mà báo chí phải luôn đeo bám và thực hiện
1.1.3 Thông điệp và thông tin: ý nghĩa và tầm quan trọng của thông điệp
Báo chí là loại hình hoạt động thông tin chính trị - xã hội Sự vận động của báo chí chính là sự truyền phát của thông tin Thông tin càng nhiều thì hoạt động của báo chí càng đa dạng Điều này có nghĩa là sự “sống còn” của báo chí nằm chính trong nội dung “thông tin”
Trang 28Khái niệm “Thông tin” được bắt nguồn từ chữ Latinh – informetio, gốc của
từ tiếng Anh “Information” Trong báo chí, thông tin được dùng để nói về chất liệu ngôn ngữ sống, là sự miêu tả, câu chuyện kể về thực tại Khái niệm “thông tin” vừa có nghĩa là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc sống; vừa có nghĩa là sự loan báo cho mọi người biết
Theo Từ điển tiếng Việt thì thông tin với nghĩa là động từ là truyền tin cho nhau để biết; và với nghĩa danh từ là điều được truyền đi cho biết, tin truyền đi
Những cách hiểu này cũng phù hợp với khái niệm thông tin nêu trong phần
mở đầu: “Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010” ban hành kèm theo quyết định số 219/2005/QĐ - TTg ngày 9/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ: "Thông tin
được coi là một nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội, là công cụ để điều hành, quản lý, chỉ đạo của mỗi quốc gia, là phương tiện hữu hiệu để mở rộng giao lưu hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc, là nguồn cung cấp tri thức mọi mặt cho công chúng và là nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội"
Trong hoạt động báo chí, thông tin là công cụ chủ yếu để nhà báo thực hiện mục đích của mình Thông tin trở thành cầu nối giữa báo chí và công chúng Thông tin đa dạng từ nội dung đến cách thức sử dụng Trong bất cứ tác phẩm báo chí nào cũng đều chứa đựng thông tin Nó không chỉ biểu hiện trong nội dung mà còn ở cách trình bày như hình ảnh, cỡ chữ Thông tin không tồn tại và có sẵn mà chúng được các nhà báo kiến tạo từ cuộc sống thường ngày
Thực hiện chức năng thông tin, báo chí cung cấp cho công chúng về tất cả các vấn đề, sự kiện của đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu khám phá, tìm hiểu thế giới tự nhiên, xã hội Ngoài ra báo chí còn góp phần hình thành thế giới tinh thần của con người theo mục tiêu nhất định của xã hội Báo chí chứa đựng một hoạt động thông tin đại chúng rộng rãi và năng động nhất mà không một hình thái ý thức
xã hội nào có được
Trong truyền thông đại chúng, các thành viên của nó hoạt động chủ yếu dựa trên nội dung của các thông điệp, nhất là khi tiếp xúc với công chúng Người ta gọi
đó là thông tin chất lượng Thông tin chất lượng là thông tin phải có tính độc đáo,
Trang 29đại chúng và hợp thời Một trang nhất hoặc một bản tin vui vẻ và hấp dẫn nhưng không bao hàm điều gì đó có ý nghĩa, theo một định nghĩa hợp thời, thì cũng chỉ là một sự méo mó
Những thông tin có chất lượng hay còn gọi là thông điệp mang một sức mạnh phi thường, giúp người sử dụng đạt mục đích nhanh chóng và hiệu quả Những thông tin có chất lượng không chỉ góp phần tạo uy tín cho tác giả mà danh tiếng của người lãnh đạo, của cơ quan báo chí đó cũng được nâng cao Ngày nay, khi sự cạnh tranh giữa các loại hình báo chí và trong cùng một loại hình trở nên khốc liệt thì những thông tin có chất lượng, đảm bảo được các yếu tố: mới, độc, dễ hiểu, hợp thời – luôn được ưu tiên số 1 Đặc biệt khi những thông tin đó tạo được làn sóng dư luận, trở thành những thông tin nổi trội, được bàn tán quan tâm thì về
cơ bản những thông tin đó đã truyền tải được thông điệp tới đối tượng đích
Theo Giáo sự Mindy McAdam (cựu biên tập viên tờ báo The Washington Post, Giáo sự, Khoa Báo chí – Đại học Tổng hợp Florida Gainesville Florida, Mỹ), một bài viết hay thì phải đáp ứng được các tiêu chí: thuyết phục chúng ta về một điều gì đó; làm chúng ta thắc mắc về điều chúng ta vẫn đinh ninh; thúc dục chúng ta hành động; khai sáng chúng ta mang lại nhận thức mới; gây xúc động; kết nối tính nhân văn của chúng ta; các con số có thể làm thành bài viết hay tuyệt không?
Như vậy có nghĩa là nếu thông tin mang tính chất trung tính thì thông điệp lại nhấn mạnh đến tính chủ thể và mục đích phát tin, tức là chú ý đến đối tượng tác động Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, người ta dùng chữ "Message" để chỉ "thông điệp" Nó cũng có thể hiểu là lời phán truyền, truyền đạt, truyền thông
Theo từ điển tiếng Việt thì “Thông điệp” có nghĩa là “điều quan trọng muốn
gửi gắm thông qua một hình thức hoạt động, một việc làm mang tính biểu trưng nào đó” [30, tr.253] Trong tiếng Trung chữ “thông điệp” (Tongdie) cũng mang nội
dung tương tự
Trong báo chí, “thông điệp” mang ý nghĩa rộng lớn, có thể bằng chữ viết, hình ảnh, lời nói, kí tự Nhưng điều quan trọng là tùy đối tượng hướng tới, “thông điệp” phải được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ dễ hiểu, dễ nhớ và dễ làm theo Các
Trang 30thông điệp của truyền thông đại chúng mang tính chất công cộng, nghĩa là bất kì ai được tiếp cận thì sẽ biết đến thông điệp đó
Về cơ bản, cấu trúc thông điệp có 2 lớp: “lớp bên ngoài” và “lớp bên trong”
“Lớp bên ngoài” có thể hiểu là hình thức và phương thức truyền tải thông điệp Ở hình thức thể hiện, “thông điệp” bao gồm lời nói, hình ảnh, cỡ chữ, kí tự tức là những tín hiệu học mà chúng ta nhìn thấy được bằng mắt, nghe thấy được bằng tai Còn phương thức truyền tải chính là các phương tiện như báo in, báo mạng điện tử, phát thanh, truyền hình Vào những năm 60, Herbert Marshall McLuhan, một giáo sư Canada nổi tiếng về lý thuyết truyền thông, đã đưa ra biểu thức: Môi trường là thông điệp Thử thách định nghĩa rằng phương tiện truyền thông là thông điệp Với tuyên bố này, ông nhấn mạnh, các kênh khác nhau, không chỉ về mặt nội dung, mà còn liên quan đến cách truyền tải, đánh thức và làm thay đổi suy nghĩ và giác quan của công chúng
“Lớp bên trong” đó chính là nội dung thông tin mà đối tượng tiếp nhận có thể đọc hiểu và thay đổi trong ý thức, hành vi Bản chất nội dung luôn bị chi phối bởi tính mục đích của chủ thể sáng tạo ra tức là sẽ có động cơ hoặc ý định sâu xa của tác giả
“Thông điệp” được nói tới ở đây chính là một yếu tố quan trọng của quá trình truyền thông
Trước đây mỗi khi đề cập tới truyền thông, người ta thường nhắc tới công
thức nổi tiếng của Harold D.Lasswell: “Ai nói cái gì? Bằng kênh nào, cho ai và có
hiệu quả gì?” (Who says What in Which channel to Whom with What effect? Tuy
nhiên giới hạn của công thức này là chỉ hình dung quá trình truyền thông như một đường thẳng giữa một đầu là người phát tin và đầu kia là người nhận tin Người nhận tin vô hình chung trở thành đối tượng tiếp nhận một cách thụ động Tuy nhiên thực tế lại hoàn toàn khác biệt, công chúng luôn có những cách phản ứng khác nhau đối với thông tin được tiếp nhận Vì thế về sau các nhà nghiên cứu thường quan niệm quá trình truyền thông theo một dạng đường vòng khép kín, bao gồm 4 giai đoạn chính: phát tin (emission), truyền tin (transmission), nhận tin (reception) và phản hồi (feedback) Mô hình truyền thông theo chu kỳ này quan niệm rằng: một thông điệp, sau khi được phát ra, luôn luôn gây ra một phản ứng nào đó về phía
Trang 31người nhận tin và do đó người nhận tin sẽ có một thông điệp phản hồi gửi lại người phát tin ban đầu Lúc này người nhận tin sẽ trở thành người phát tin – điều này làm cho quá trình truyền thông trở thành một chu kì khép kín
Thông điệp là những thông tin thực sự được chuyển theo một mạch truyền này hay kênh khác đến đối tượng Bản thân thông điệp mang trong mình những thông tin mã hóa (encode) – tức là tìm tới một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ học nào
đó để diễn đạt nội dung thông điệp Quá trình mã hóa này gồm nhiều công đoạn kế tiếp nhau và liên quan rất nhiều đến khía cạnh kĩ thuật và công nghệ
Vì những thông điệp đó được “mã hóa” nên muốn hiểu chúng, về cơ bản phải “giải mã” nó Hiểu một cách đơn giản kĩ thuật để hỗ trợ quá trình “giải mã” là
ti vi, radio và bất cứ công cụ nào phát ra thông điệp đó và làm bạn biết đến Chính
vì vậy mặc dù “thông điệp” là một nhưng cách tiếp nhận và hiểu biết nó lại phụ thuộc vào từng cá nhân “giải mã” Mỗi cá nhân do trình độ, sở thích, mục đích khác nhau nên thông điệp đó cũng có cách tiếp cận và hiểu biết khác nhau Ngoài ra
sự khác nhau này còn tùy thuộc vào người cung cấp và nội dung thông điệp
Trong truyền thông, thông điệp được hiểu là một phát ngôn hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức dành cho một nhóm đối tượng trong hoàn cảnh cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu của chiến dịch truyền thông
Mỗi thông điệp như một cơ thể sống, có quá trình sinh trưởng, phát triển và suy thoái Môi trường xung quanh và những điều kiện cụ thể là các yếu tố giúp thông điệp “khỏe mạnh” hoặc ngược lại Do đó truyền thông phải chú ý theo dõi để làm mới thông điệp cả về nội dung lẫn hình thức
Sự đa dạng của đối tượng tiếp nhận đã làm cho mỗi thông điệp chuyển từ người khởi xướng đến người tiếp nhận thường giảm độ chính xác và cường độ Nên việc “phủ sóng” thông điệp ở mức độ cao, liên tục là cần thiết để tăng cường thêm sức mạnh và sức ảnh hưởng của nó
Có những thông điệp mà “nguồn” tự nguyện tạo ra và phân phát bởi nhu cầu chia sẻ, muốn thuyết phục người khác mà không cần đến sự đền bù về mặt tài chính Có chăng là mong muốn nhận được sự cổ vũ, khích lệ của người tiếp nhận
Trang 32Đây cũng chính là đặc điểm dễ nhận thấy trong thời kì bùng nổ internet Bên cạnh
đó cũng có thông điệp mà “nguồn” tạo nên để “bán” mà người nhận muốn có phải
bỏ ra một khoản chi phí hoặc thông điệp được đặt hàng từ một “bên thứ 3” khác Tóm lại về cơ bản việc tạo ra thông điệp của nguồn luôn xuất phát từ những mục đích nhất định
Việc thiết kế nên những thông điệp hay cũng đòi hỏi những quy tắc riêng Thông điệp trước tiên phải phù hợp với công chúng, nhóm đối tượng và thể hiện rõ mục tiêu của chiến dịch truyền thông Muốn vậy việc nghiên cứu nhóm đối tượng hướng tới là điều cần thiết Nếu thông điệp hướng tới các nhà hoạch định chính sách thì cần đưa ra được các lý do và hiệu quả của một vấn đề nào đó để tạo được sự ủng
hộ tích cực cho việc hoạch định chính sách Đối với công chúng – nhóm đối tượng, thông điệp cần tập trung hướng tới thay đổi nhận thức, hành vi và thái độ với một vấn đề đưa ra
Mỗi thông điệp đều có mục đích riêng nhưng yêu cầu chung là phải phù hợp với chính sách của Đảng và Nhà nước và các yếu tố như giá trị văn hóa – lối sống dân tộc để tránh những hệ quả ngoài ý muốn đối với nhóm đối tượng không thuộc phạm vi ảnh hưởng Thông điệp nếu được truyền tải một cách tự nhiên thì dễ đi vào lòng người hơn, tức là phải phù hợp với tâm lý, tâm trạng xã hội và thể hiện được lợi ích công chúng Ngôn từ, cách diễn đạt trong thông điệp phải đơn giản, dễ hiểu,
dễ làm theo và phù hợp với từng loại hình báo chí Ví dụ thông điệp trên báo điện tử nên ngắn gọn, súc tích, kèm theo nhiều hình ảnh tĩnh, động kết hợp
Việc tạo thông điệp là sự thể hiện rõ ràng nhất năng lực của người thực hiện
Nó vừa khoa học, vừa nghệ thuật, đòi hỏi năng lực sáng tạo và yếu tố năng khiếu,
sự tinh tế và khả năng thuyết phục của nhà truyền thông
Nếu như báo in, thông điệp có sự kết hợp khéo léo nghệ thuật sử dụng ngôn
từ, hình ảnh, màu sắc nhằm khơi gợi tình cảm, hướng mạnh vào nhận thức, lý trí của nhóm đối tượng; phát thanh khai thác tối đa ấn tượng mạnh từ âm thanh, giọng điệu; truyền hình có ưu thế vượt trội trong việc tạo cảm giác tiếp xúc trực tiếp qua hình ảnh, màu sắc tĩnh động, lời nói, âm thanh; thì với báo mạng điện tử, thông điệp
Trang 33sẽ tận dụng tối đa các lợi thế của sự kết hợp đa phương tiện như hình ảnh, video, audi, đồ họa cùng ngôn ngữ viết chắc gọn
Trong báo chí, thông điệp cũng có nhiều loại: Thông điệp đích là thông điệp của cả chiến dịch truyền thông hướng tới; Thông điệp cụ thể là thông điệp cấu thành thông điệp đích của chiến dịch truyền thông; Thông điệp tài liệu là loại thông điệp
ẩn chứa trong các tài liệu, dữ liệu, có thể dễ dàng nhìn thấy bằng trực quan; Thông điệp ẩn là loại thông điệp mà nhận biết nó cần phải tư duy tích cực, năng lực trừu tượng, tinh tế, có sự liên tưởng sâu xa
Thông điệp khi được sáng tạo xong, qua các phương tiện truyền thông sẽ xâm nhập vào công chúng theo lần lượt các bước: Tiếp nhận thông điệp => Nhận biết nội dung của thông điệp => Chấp nhận thông điệp => Tin tưởng thông điệp => Quyết tâm hành động, thay đổi hành vi cá nhân => Kêu gọi, vận động người khác cùng thực hiện, cùng thay đổi hành vi
Như vậy trong dòng chảy của thông điệp, khâu cuối cùng là cực kì quan trọng vì vậy để tạo nên những thông điệp phù hợp và có ích cho cộng đồng, cần tiến hành từ khâu thử nghiệm đến khâu hoàn thiện và kiểm tra các điều kiện sản xuất thông điệp
Dù việc tạo ra thông điệp với mục đích gì thì nó cũng xuất phát từ lợi ích trước hết là của “nguồn” – của phóng viên, biên tập viên, của cơ quan báo chí
Thông điệp không phải là dạng tài nguyên có sẵn mà được tạo nên từ “khối óc” tài ba của nhà báo Bằng sự nhanh nhạy của người làm báo, những chi tiết, sự việc xảy ra trong cuộc sống thường ngày, có ảnh hưởng và được công chúng quan tâm sẽ được “nhào nặn” để tạo nên thông điệp Báo chí dựa vào thông điệp để tồn tại và công chúng cần thông điệp để hưởng thụ cuộc sống Quá trình truyền thông luôn luôn là quá trình hai chiều
Thông điệp khi được phát ra qua các phương tiện truyền thông đại chúng sẽ được các cá nhân tiếp nhận và giải mã theo nhiều cách khác nhau “Nguồn” muốn đạt mục đích đề ra phải tính toán rất khéo léo, từ việc chọn kênh phát đến hình thức phát, mật độ phát Trong nền kinh tế thị trường, trước tiên “bộ máy” tạo ra thông
Trang 34điệp sẽ thu được các khoản lợi nhuận lớn Ví dụ một cơ quan báo chí khi có nhiều tin bài hay, phát ra được các thông điệp gây được hiệu ứng dư luận thì uy tín ngày càng nâng cao, kéo theo việc thu hút được các hợp đồng quảng cáo; phóng viên, biên tập viên được nâng lương, nhuận bút và đời sống từ đó cũng được nâng cao
Việc tạo nên thông điệp có ý nghĩa không chỉ đối với người khởi xướng mà còn đối với người tiếp nhận
Khi xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông điệp sẽ trực tiếp tác động đến người tiếp nhận và gây hiệu ứng xã hội Thế nên vấn đề đạo đức của nhà báo luôn được đặt lên hàng đầu, đặc biệt càng trở nên cấp thiết trong thời đại thông tin được lan truyền với tốc độ chóng mặt
Mỗi người đều có nhu cầu tìm hiểu về cuộc sống xung quanh và để thỏa mãn, họ sẽ tìm đến các phương tiện truyền thông đại chúng Sự tiếp nhận thông tin
từ đó sẽ giúp họ thay đổi nhận thức và tiến đến là thay đổi hành vi Đây cũng chính
là điều kiện để các kênh truyền thông đại chúng ngày càng nở rộ và cạnh tranh để lôi kéo công chúng
Qua các kênh phát, công chúng tiếp nhận thông điệp một cách “vô thức”, tức
là vô tình mở kênh phát và nhận được thông điệp hoặc “có ý thức” là chủ động tìm thông điệp đó trên các phương tiện truyền thông đại chúng Tuy đến tai công chúng theo hình thức nào thì những thông điệp đó trước tiên sẽ làm thay đổi nhận thức và mạnh mẽ hơn là tạo chuyển biến trong hành vi
Thông điệp là một nhưng việc tiếp nhận thông điệp là tập hợp “n số” công chúng vì vậy dư luận xã hội sẽ là “bài kiểm tra” để đánh giá hiệu quả thực tế của thông điệp
1.2 Thông điệp về trẻ em trên báo điện tử
1.2.1 Khái niệm và quá trình phát triển của báo điện tử
“Báo điện tử” về cơ bản được hiểu là một phương tiện thông tin đại chúng, hoạt động nhờ vào kết nối internet Báo điện tử là sản phẩm gắn liền với sự phát triển của ngành công nghệ thông tin Trong thời đại kĩ thuật số, báo điện tử có
Trang 35những bước phát triển vượt bậc, trở thành mối đe dọa đối với nhiều loại hình báo chí khác
Cũng có không ít người quan niệm báo điện tử là một loại hình báo chí có sự can thiệp của công nghệ cao, được chế tác, xuất bản và chạy trên môi trường điện tử
Tại Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999 đưa ra khái
niệm “Báo điện tử”: “Báo điện tử là loại hình báo chí được thực hiện trên mạng
thông tin máy tính bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài”
Tiến sĩ Thang Đức Thắng, Phó Giám đốc FPT Internet, Tổng biên tập báo
VnExpress định nghĩa loại hình báo chí mới này là "tờ báo thực hiện các chức năng
báo chí bằng phương tiện Internet"
Mặc dù không thống nhất trong một khái niệm nhưng nhìn chung có thể hiểu báo mạng điện tử là loại báo mà người ta đọc trên những công cụ có kết nối internet
Báo mạng điện tử ra đời gắn liền với sự xuất hiện của Internet Đầu những năm 1990, internet thực sự phát triển mạnh mẽ, trở thành cơn bão càn quét hầu khắp các nước lớn trên thế giới Tỷ lệ người sử dụng Internet tăng lên một cách chóng mặt
Năm 1992, Word Wide Web (gọi tắt là web) ra đời đánh dấu một kỉ nguyên cho Internet và báo điện tử
Theo các nhà nghiên cứu thì tờ báo mạng đầu tiên trên thế giới là từ “Diễn đàn Chicago” (Chicago Tribune), ra đời vào tháng 5/1992, máy chủ đặt tại nhà cung cấp dịch vụ American Online Một trong những hãng truyền thông lớn nhất thế giới là CNN (Mỹ) đã chạy thử nghiệm phiên bản báo mạng từ năm 1993 Sau đó BBC (Anh) lên mạng từ 13/9/1994 Đó là những dấu mốc quan trọng của loại hình báo chí này Phần lớn website tin tức hồi đó đều là phiên bản điện tử của báo giấy hoặc truyền hình
Cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, số lượng các tờ báo điện tử cũng nở rộ khắp nơi trên thế giới Thế giới thông tin thực sự bùng nổ khi chỉ cần “lướt web” mọi người tiếp cận được khối lượng tin tức lớn cùng với hình thức thể hiện phong phú đa dạng: tin về kinh tế, chính trị, xã hội , văn hóa, giải trí Tin truyền tải bằng chữ viết, ảnh, video, audi Theo thống kê của Newslink, năm 1996 trên toàn thế giới có 1335 tờ báo mạng điện tử, đến năm 1998 là 4925 tờ và đầu
Trang 36năm 2000 là 8474 tờ Tại các nước châu Á, xu thế phát triển báo mạng điện tử chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ sau năm 2000
Ở Việt Nam, ngày 5/3/1997 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập Ban điều phối quốc gia mạng Internet ở Việt Nam để điều hòa, phối hợp việc quản lý, phát triển dịch vụ Internet tại Việt Nạm Ngày 19/11/1997 Việt Nam chính thức hòa mạng Internet Tuy nhiên phải đến năm 2002, khi các nhà cung cấp dịch vụ xuất hiện, chấm dứt tình trạng độc quyền trong cung cấp dịch vụ hạ tầng kết nối internet thì thị trường này mới thực sự sôi động và mức độ cạnh tranh ngày càng cao
Theo Thứ trưởng Mai Liêm Trực – Nguyên Thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn
thông (cũ) nay là Bộ Thông tin và Truyền thông nhấn mạnh: “Một trong những lý do
sau này giúp Internet ở Việt Nam phát triển hơn đó chính là sự kiện báo điện tử ra đời
Có thể nói sự ra đời của báo điện tử là một dấu mốc lớn, góp phần thay đổi cách thức truyền tải thông tin và thói quen tiếp cận tin tức của đại đa số công chúng”
Đến hết năm 2009, cả nước có khoảng gần 80 tờ báo điện tử và các phiên bản điện tử của báo in; hơn 100 trang tin điện tử và gần 20.000 website (số liệu thống kê của Bộ Thông tin - Truyền thông) Hiện nay quy mô báo mạng điện tử ở Việt Nam ngày càng lớn Theo báo cáo đánh giá công tác báo chí năm 2014, hiện cả nước có 845 cơ quan báo chí, trong đó có 199 cơ quan báo chí in (86 báo Trung ương, 113 báo địa phương), 646 tạp chí (513 tạp chí Trung ương, 133 tạp chí địa phương), 01 hãng thông tấn quốc gia Số lượng các cơ quan báo chí in trong năm
2014 tăng 07 cơ quan đó là các tạp chí nghiên cứu khoa học chuyên ngành của các Trường đại học Số lượng báo điện tử có 98 báo, tạp chí điện tử, tăng 03 báo và 03 tạp chí so với năm 2013
Trải qua gần 20 năm phát triển, báo điện tử ngày càng chứng minh được đây
là một phương tiện thông tin hiệu quả và hữu ích về mọi mặt Tri thức của công chúng trở nên thiếu hụt và nhỏ bé giữa “biển” thông tin khổng lồ mà báo điện tử cung cấp Và để bù đắp những hiểu biết ngoài kinh nghiệm, kiến thức của mình, công chúng truy cập báo điện tử mỗi ngày Hoạt động này vừa “cứu cánh” cho công chúng, vừa giúp báo điện tử phát triển ngày một mạnh mẽ
Trang 371.2.2 Ưu và nhược điểm của báo điện tử trong việc truyền tải thông điệp
Ngay từ khi mới ra đời, báo điện tử đã chứng minh nó là một loại hình tiên tiến, hiện đại, giúp thỏa mãn nhu cầu và sở thích tìm hiểu tin tức của công chúng Báo điện tử thực sự là mối de dọa đối với các loại hình báo chí khác như báo in, phát thanh, truyền hình trong việc truyền tải thông tin và lôi kéo công chúng Tuy nhiên không phải ngay từ đầu, báo điện tử đã biết phát huy lợi thế của mình Trước đây, những người làm báo mạng chỉ thực hiện nhiệm vụ chuyển tin bài từ báo giấy lên báo mạng và phần đa trong số họ là dân công nghệ thông tin, không được đào tạo về nghiệp vụ báo chí Theo thời gian, khuyết điểm này dần được khắc phục và những ưu điểm được phát huy làm cho báo điện tử ngày càng trưởng thành và có vị thế trước các phương tiện thông tin đại chúng khác
Cũng giống bất kì sự vật, hiện tượng nào tồn tại trong xã hội, báo điện tử mang trong mình những ưu nhược điểm khác nhau
Báo điện tử gắn liền với công nghệ nên những ưu nhược điểm của nó phần lớn cũng xuất phát từ đây
Sự cạnh tranh tin tức ở các loại hình báo chí với nhau chủ yếu ở các yếu tố:
“mới”, “độc” và “nhanh” Riêng yếu tố “nhanh”, báo điện tử đã làm rất “tròn trịa”
và trở thành ưu điểm đáng nói đầu tiên
Khi một sự kiện hiện tượng vừa mới xảy ra, nhà báo có thể “tung” thông tin lên mạng bằng những thao tác rất đơn giản, nhanh chóng Thời lượng cho việc này chỉ mất vài phút Như vậy các loại hình báo chí khác rất khó khăn để cạnh tranh với báo điện tử ở yếu tố này
Nếu như truyền hình có lợi thế truyền tải trực tiếp thì bây giờ báo mạng cũng làm được điều này một cách rất khéo léo Những tin bài tường thuật trực tiếp thường được nhấn mạnh bằng việc thêm các từ “trực tiếp” hoặc “live” ở đầu bài hoặc “nhấn F5 để cập nhật” ở cuối bài Các nhà báo thường sử dụng cách thức này đối với những tin tức quan trọng, được đông đảo công chúng quan tâm, chờ đợi như
“Quá trình cứu các nạn nhân trong vụ sập hầm Đạ Dâng”; “Diễn biến tìm kiếm máy bay Germanwings mất tích”
Trang 38Tin bài trên báo điện tử được viết ngắn gọn và cập nhật ngay mỗi khi có sự việc hiện tượng xảy ra Chính vì vậy báo điện tử là phi định kì, thời gian tin bài xuất bản phụ thuộc vào thời điểm sự kiện, hiện tượng xảy ra Tùy theo cách triển khai thông điệp, số lượng tin bài không giới hạn Độc giả có thể tìm được ngay tin bài ở trang chủ và những tin liên quan ở trang trong Trong mỗi bài viết, mặc dù không giới hạn chữ, hình ảnh, video, audi nhưng để đạt được hiệu quả, mỗi tin bài không nên kéo dài quá hai trang màn hình
Tính thẩm mỹ, đa dạng trong cách thể hiện tin bài là một ưu thế nổi trội khác của báo điện tử Với sự trợ giúp của kĩ thuật công nghệ, hiệu ứng màu sắc, ảnh động, âm thanh được tích hợp một cách khéo léo ngay trong cùng một tin bài Khi thỏa mãn được giác quan “nhìn”, báo điện tử sẽ tiến gần hơn tới đích truyền tải thông điệp và làm thay đổi nhận thức, hành vi của độc giả
Tin bài của báo điện tử dù đồ sộ bao nhiêu cũng được “gói gọn” trong thư viện mạng mênh mông Đó chính là kho lưu trữ khổng lồ không giới hạn số lượng, thời gian Người dùng chỉ cần “click chuột”, đã có hàng loạt thông tin hiển hiện trước mắt Ngoài ra những đường link xuất hiện trong tin bài hoặc bên ngoài là sợi dây siêu liên kết, giúp thông tin mở rộng, phong phú và đa dạng
Khi tin bài là cầu nối giữa cơ quan báo chí với công chúng thì sự tương tác qua lại của hai chủ thể này là cần thiết để khẳng định hiệu quả truyền tin So với các loại hình báo chí khác, báo điện tử đã tận dụng lợi thế này một cách tự tin và nhuần nhuyễn
Tính tương tác của báo điện tử được thể hiện qua các lời bình luận phía dưới tin bài, việc trả lời các câu hỏi khảo sát, gửi thư điện tử của độc giả Việc thiết kế trang báo cho phép độc giả thực hiện các thao tác này một cách đơn giản và dễ dàng Ngoài ra các cơ quan báo chí còn tổ chức các diễn đàn để công chúng tham gia bình luận hoặc tổ chức những cuộc trò chuyện trực tuyến
Quá trình tương tác giúp độc giả thỏa mãn việc nêu ý kiến; còn về phía cơ quan báo chí sẽ hiểu rõ hơn công chúng cũng như rút ra nhiều kinh nghiệm quý báu Đặc biệt, nhiều tờ báo còn lấy những ý kiến của độc giả để sáng tạo nên một tác phẩm báo chí khác, làm cho thông tin trở nên đa dạng và nhiều màu sắc hơn
Bên cạnh nhiều ưu điểm thì báo điện tử cũng tồn tại không ít nhược điểm
Trang 39Vì chạy đua thời gian đưa tin với các loại hình báo chí khác hoặc với các trang báo điện tử khác, những tin bài xuất hiện trên báo điện tử thường ít được kiểm chứng kĩ càng Độ tin cậy vì thế cũng không cao Các thao tác chỉnh sửa tin bài được thực hiện dễ dàng vì vậy người sáng tạo tác phẩm báo chí có phần dễ dãi, có thể đăng lên rồi lại rút về hoặc sửa lại thông tin Điều này khiến độc giả hoang mang và dè dặt hơn khi lấy tin từ báo điện tử
Thông tin trên báo điện tử là khổng lồ tuy nhiên lại là một “mớ thập cẩm”
đủ thứ tốt – xấu, đúng – sai lẫn lộn Người dùng nếu không tỉnh táo và đủ tri thức dễ
bị hoang mang, xao động Vì vậy tìm hiểu nguồn tin là yếu tố quan trọng để khẳng định chất lượng tin bài
Về phía cơ quan báo chí, các hacker là mối đe dọa khi hệ thống tin bài có thể
bị xâm nhập lấy cắp hoặc thay đổi Chính vì vây an ninh mạng là mối quan tâm hàng đầu của những người lãnh đạo cơ quan báo chí Ngoài ra báo điện tử cũng tiềm ẩn những nguy cơ biến thành công cụ can thiệp chính trị, xăm lăng văn hóa từ các nước lớn sang các nước nhỏ hơn
Rõ ràng trong cuộc chiến giành giật công chúng với các phương tiện truyền thông đại chúng khác, báo điện tử còn phải nỗ lực rất nhiều Tuy nhiên phải thừa nhận rằng báo điện tử ngày nay đã trở thành một lực lượng truyền thông quan trọng, lấn át các loại hình báo chí khác ở một số khía cạnh Báo điện tử giữ vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nâng cao dân trí, giáo dục thẩm mỹ nhất là cho thế hệ trẻ Tuy báo điện tử ra đời sau nhưng nó vẫn là một lực lượng trong đội quân xúc kích trên lĩnh vực thông tin - văn hóa của Đảng, là diễn đàn tin cậy của nhân dân Báo điện tử có chức năng, nhiệm vụ của báo chí nói chung và một số chức năng riêng Báo điện tử đã trở thành một loại hình báo chí phát triển nhanh và ngày càng có vị trí quan trọng trong hệ thống thông tin đại chúng ở Việt Nam
1.3 Góc nhìn văn hóa đối với thông điệp trẻ em trên báo điện tử
1.3.1 Góc nhìn văn hóa đối với thông điệp về trẻ em
Con người có một nhu cầu nội tại – một bản năng – muốn biết những gì đang
xảy ra bên ngoài kinh nghiệm trực tiếp của mình Một nhà văn đã gọi đó là “cơn
Trang 40đói khát tri thức của con người” Báo chí chỉ đơn giản là một hệ thống xã hội tạo ra
để cung cấp tin tức, nhằm thỏa mãn nhu cầu đó của con người
Chúng ta cần tin tức để sống, để tự bảo vệ mình, gắn bó với nhau, nhận ra bạn bè hay kẻ thù Tin tức giúp con người hoàn thiện tri thức và thúc đẩy sự phát triển xã hội
Tìm hiểu thông tin về trẻ em cũng nằm trong nhu cầu chung đó của loài người Tuy nhiên thông tin này đặc biệt hơn bởi lẽ nó liên quan đến trẻ em – lớp người còn non nớt, cần được chở che, là thế hệ măng non trong mỗi gia đình và xã hội Những gì liên quan đến trẻ em đều gắn liền với sợi dây tình cảm, tính nhân văn, nhân ái Người ta nói rằng, dễ đi vào lòng người nhất chính là những thông tin làm nảy sinh tình cảm, vậy nên thông tin về trẻ em từ bước đầu đã trở thành mối quan tâm đặc biệt của công chúng
Thông tin về trẻ em ở đây là những tác phẩm báo chí viết về trẻ em, hướng đối tượng tiếp nhận là người lớn Đây là một dạng “báo chí vì trẻ em”
Những năm gần đây, tin tức về trẻ em ngày càng được chú trọng trên báo chí Điều này thể hiện sự quan tâm của xã hội trong vấn đề bảo vệ quyền lợi trẻ em theo tinh thần Công ước Quốc tế về quyền trẻ em Những tin bài này không phải là dạng tin tức đơn thuần mà ẩn chứa trong nó những thông điệp được gửi gắm tới người lớn, tới toàn xã hội
Trong thông tin về trẻ em và thực hiện quyền trẻ em, báo chí có vai trò đi đầu và có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong xã hội Những bài viết về trẻ em nếu tràn trề tình yêu thương sẽ góp phần đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cho toàn xã hội Nhưng ngược lại sẽ gây tổn hại tới trẻ và gây bức xúc dư luận Đó chính là tình trạng thông tin thiếu tính văn hóa vẫn xuất hiện nhiều trên các trang báo mạng điện tử hiện nay
Công chúng dựa vào báo chí để nắm bắt thông tin và gửi gắm niềm tin vậy nên báo chí phải là chỗ dựa tinh thần để công chúng tìm thấy niềm vui trong cuộc sống, tin tưởng vào tương lai tươi sáng Điều này đặc biệt quan trọng hơn khi xã hội xuất hiện nhiều tiêu cực và tệ nạn xã hội Do đó tính văn hóa của báo chí trở thành