Cảm ơn nhà văn Đỗ Bích Thúy đã chia sẻ những thông tin quý giá giúp tôi hiểu hơn sáng tác của chị và có tình cảm sâu sắc với mảnh đất và con người Tây Bắc, để hiểu hơn về văn hóa vùng ca
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐINH LỆ GIANG
TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Đức Phương
HÀ NỘI, 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Đoàn Đức Phương
Đã tận tình giúp đỡ từ định hướng đến hướng dẫn khoa học để tôi có thể hoàn thiện đề tài nghiên cứu trong luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy, dìu dắt tôi suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại đây
Cảm ơn nhà văn Đỗ Bích Thúy đã chia sẻ những thông tin quý giá giúp tôi hiểu hơn sáng tác của chị và có tình cảm sâu sắc với mảnh đất và con người Tây Bắc, để hiểu hơn về văn hóa vùng cao khi nghiên cứu sáng tác của chị bằng phương pháp tiếp cận văn hóa học
Cảm ơn BGH, Tổ Văn Trường THPT Ba Vì đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cảm ơn gia đình, người thân và bè bạn đã luôn động viên giúp tôi vượt mọi trở ngại, hoàn thành đề tài luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội - 2015 Tác giả
Đinh Lệ Giang
Trang 4Tôi xin cam đoan:
Đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi thực hiện và được sự hướng dẫn, định hướng khoa học của PGS TS Đoàn Đức Phương
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi có dựa trên một số kết quả nghiên cứu của các công trình khác nhưng luôn đảm bảo yêu cầu về trích dẫn tài liệu theo quy định
Những kết quả đạt được trình bày trong luận văn đã trải qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu với các phương pháp khoa học được sử dụng trong nghiên cứu văn học Tôi cũng đã áp dụng phương pháp tiếp cận văn hóa học
để có cái nhìn bao quát, có cách đánh giá khách quan và đảm bảo tính khoa học, tính trách nhiệm trong phát biểu của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Đinh Lệ Giang
Trang 5Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp của luận văn 8
6 Cấu trúc luận văn 9
NỘI DUNG 10
Chương 1: VẤN ĐỀ TIẾP CẬN VĂN HÓA HỌC VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA ĐỖ BÍCH THÚY 10
1.1 Mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và văn học 10
1.1.1 Sự ảnh hưởng chi phối của văn hóa và văn học 10
1.1.2 Phương pháp tiếp cận văn hóa học 18
1.2 Sáng tác của Đỗ Bích Thúy 21
1.2.1 Hành trình sáng tác 21
1.2.2 Quan điểm nghệ thuật 26
Chương 2: BẢN SẮC VĂN HÓA TÂY BẮC TRONG NỘI DUNG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY 33
2.1 Khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc 33
2.1.1 Thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội 34
2.1.2 Thiên nhiên lãng mạn, mơ mộng 39
2.2 Đời sống vùng cao Tây Bắc 43
2.2.1 Đời sống sinh hoạt vật chất 44
2.2.2 Đời sống văn hóa tinh thần 48
2.3 Con người vùng cao Tây Bắc 52
2.3.1 Những người đàn ông vùng cao 53
2.3.2 Người phụ nữ Tây Bắc 59
Trang 6TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY 69
3.1 Ngôn ngữ và giọng điệu 69
3.1.1 Ngôn ngữ đặc trưng của văn hóa Tây Bắc 70
3.1.2 Giọng điệu trữ tình 79
3.2 Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật 88
3.2.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật 89
3.2.2 Nghệ thuật khắc họa tâm lý nhân vật 96
3.3 Thời gian không gian nghệ thuật 104
3.3.1 Thời gian nghệ thuật 105
3.3.2 Không gian nghệ thuật 111
KẾT LUẬN 116
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa và văn học có mối quan hệ hữu cơ không tách rời, văn hóa chi phối đến mọi mặt đời sống văn học nhưng chính văn học cũng góp phần làm nên các giá trị văn hóa tinh thần Nếu văn hoá thể hiện quan niệm và cách ứng xử của con người trước thế giới, thì văn học là hoạt động lưu giữ những thành quả đó một cách sinh động nhất Để có được những thành quả đó, văn hoá của một dân tộc cũng như của toàn thể nhân loại từng trải qua nhiều chặng đường tìm kiếm, chọn lựa, đấu tranh và sáng tạo để hình thành những giá trị trong xã hội Văn học vừa thể hiện con đường tìm kiếm đó, vừa là nơi định hình những giá trị đã hình thành Cũng có thể nói văn học là văn hoá lên tiếng bằng ngôn từ nghệ thuật
Văn học biểu hiện văn hóa nên trong các tác phẩm văn học, người đọc thấy được diện mạo của nền văn hóa một cộng đồng, một quốc gia, dân tộc trong từng thời kì lịch sử Đó là những giá trị văn hóa cộng đồng, đời sống tinh thần của nhân dân được thể hiện trong các câu ca dao, tục ngữ, dân ca, các truyện thần thoại, ngụ ngôn, cổ tích… Đó là những nét đẹp văn hóa một thời còn vang bóng trong các sáng tác của Nguyễn Tuân: uống trà, thưởng hoa, thả thơ, chơi chữ… Đó là những tín
ngưỡng, phong tục trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh:
đạo Mẫu và tín ngưỡng phồn thực, tục thờ Thần Chó đá, Thần Cây đa, Thần Thành hoàng, cách lên đồng, hát chầu văn, tục kết chạ, ma chay, cưới hỏi…
Văn hoá tác động đến văn học từ hoạt động sáng tạo của nhà văn cho đến hoạt động tiếp nhận của người đọc Không gian văn hoá chi phối cách xử lý đề tài, thể hiện chủ đề, xây dựng nhân vật, sử dụng thủ pháp nghệ thuật… trong quá trình sáng tác; đồng thời cũng chi phối cách đánh giá, thưởng thức… trong quá trình tiếp nhận
Do đó, việc nghiên cứu văn học không thể tách rời các vấn đề văn hóa và tiếp cận tác văn học dưới góc nhìn văn hóa học luôn là một hướng đi đúng đắn, một
xu hướng nghiên cứu khoa học
Trang 8Đỗ Bích Thúy là một trong những cây bút nữ xuất sắc nhất văn học Việt Nam đương đại Cùng với các cây bút nữ: Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu, Di Li, Thuận… Đỗ Bích Thúy có thể coi như một “đặc sản” văn học của vùng cực bắc Tổ quốc, góp một giọng điệu mới mẻ, vừa trẻ trung mà vừa đằm thắm cho văn học Việt Nam hiện đại Bắt đầu xuất hiện với chùm truyện ngắn đoạt
giải nhất cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1999, đến nay,
Đỗ Bích Thúy đã khẳng định được chỗ đứng của mình trong lòng bạn đọc
Mặc dù thành công với nhiều thể loại như: truyện vừa Người đàn bà miền
núi (2007), tản văn Trên căn gác áp mái (2011), tiểu thuyết Dưới bóng cây sồi
(2005), Cửa hiệu giặt là (đoạt giải Văn học Nghệ thuật Thủ đô 2013-2014), tiểu thuyết lịch sử Cánh chim kiêu hãnh (2013)… kịch bản sân khấu Cô gái xinh đẹp,
Quá khứ đòi nợ, Diễm 500 đô… nhưng có thể nói, thành công nhất trong sáng tác
của Đỗ Bích Thúy là thể loại truyện ngắn, những tác phẩm viết về con người và mảnh đất nơi chị sinh ra Truyện ngắn của chị mang người đọc đến với mảnh đất Hà Giang, với hương vị của núi rừng; của con suối chảy ra từ khe đá lạnh; của mây trời đặc sánh “như một bầy trăn trắng đang quấn quyện vào nhau”; của mùi ngải đắng, mần tang; của những nét ăn, nét ở, phong tục tập quán còn giữ nguyên vẻ hoang sơ, thuần phác; của ánh trăng “cứ rọi vào nhà cả đêm, trăng đi một vòng cửa trước ra cửa sau”; của những trái tim con gái vật vã, cháy bùng tiếng khèn gọi tình dưới thung xa; của bếp lửa nhà sàn và tiếng mõ trâu gõ vào khuya khoắt… Tìm hiểu, nghiên cứu truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy là tìm hiểu những nét riêng trong văn hóa của vùng cao Tây Bắc
Nghiên cứu truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy từ góc độ văn hóa là việc làm thiết thực, giúp người đọc thấy được rõ hơn những tín hiệu văn hóa đặc trưng của vùng núi cao “đỉnh trời” trong sáng tác của chị và hiểu rõ thêm mối quan hệ hai chiều giữa văn hóa và văn học Đồng thời cũng là một dịp để chúng tôi hiểu kĩ, hiểu sâu hơn những khía cạnh lí thuyết về phương pháp nghiên cứu văn hóa học, đồng thời rèn luyện, nâng cao kĩ năng vận dụng những tri thức lý luận trong nghiên cứu văn học
Trang 92 Lịch sử vấn đề
Trong phạm vi đề tài luận văn này, chúng tôi xuất phát từ mối quan hệ hữu
cơ giữa văn hóa và văn học để đi sâu khảo sát truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, tìm hiểu và đánh giá những giá trị nội dung và các yếu tố nghệ thuật tác phẩm của chị dưới góc nhìn văn hóa
Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa học đã là điều tất yếu nên xu hướng chung đó đã được thể hiện đậm chất và rõ nét trong những công trình nghiên cứu văn học từ xưa đến nay Tìm hiểu và đánh giá về nội dung tác phẩm hay những giá trị nghệ thuật, những đóng góp của Đỗ Bích Thúy với nền văn học đương đại, hay nhìn nhận, đánh giá những điều đó dưới góc độ văn hóa đã có không ít công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học Sau đây, chúng tôi xin liệt kê những công trình, bài báo nghiên cứu liên quan đến nội dung đề tài ở các phương diện sau:
Lịch sử nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa:
Có thể khẳng định rằng, trước một xu hướng rộng lớn và chung nhất trong phương pháp nghiên cứu văn học từ xưa đến nay thì thật khó để liệt kê đầy đủ những công trình nghiên cứu văn học trên góc nhìn văn hóa, chúng tôi chỉ xin liệt
kê những biểu hiện tiêu biểu trong xu hướng nghiên cứu chung đó và gần gũi nhất với nội dung đề tài đang nghiên cứu
Có thể thấy rằng, trên thế giới, ngay từ thế kỉ XIX, trường phái văn hóa – lịch sử và triết học thực chứng ở Pháp đã vừa ảnh hưởng sâu sắc, vừa chi phối nhiều mặt đến khuynh hướng chung trong vấn đề nghiên cứu văn học Chủng tộc, địa điểm và thời điểm là những yếu tố cơ bản, chi phối sâu sắc đến sáng tác của nhà văn H.Taine, người đứng đầu của trường phái này đã khẳng định, đại ý: mọi nhà văn, mọi tác phẩm đều chịu ảnh hưởng của ba yếu tố này!
Sang thế kỉ XX, người ta chủ trương rằng: Văn hóa là một hệ thống kí hiệu
và nghiên cứu văn học là nghiên cứu biểu tượng của nó Trong rất nhiều xu hướng nghiên cứu thì xu hướng đó đã nổi bật lên và thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Trên thế giới, người ta chú ý đến tính chất hóa trang, ngôn ngữ diễn xướng, môi trường văn hóa của tác phẩm văn học… như một yếu tố quan trọng thì
Trang 10ở Việt Nam, việc gắn với môi trường phát sinh, tồn tại và phát triển của tác phẩm văn học đã có không ít những công trình đề cập đến như các công trình nghiên cứu văn học dân gian và các tác giả nổi bật trong văn học trung đại Có thể kể đến hàng loạt những công trình, vừa ảnh hưởng của tư tưởng của H.Taine, vừa mang tư tưởng mới của thế kỉ XX và vừa cho thấy sự ảnh hưởng sâu sắc cũng như sự phá cách,
mang đậm nét riêng, dấu ấn cá nhân của tác giả như: Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh – Hoài Chân, Nhà in Nguyễn Đức Phiên, 1942); Quan niệm con người trong
sáng tác Nguyễn Khuyến, trong sách Nguyễn Khuyến, đời và thơ (Trần Đình Sử,
NXB Giáo dục Hà Nội – 1995); Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam (thời kì cổ - cận đại) (Nguyễn Huệ Chi, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội – 1983), Suy nghĩ về phong cách
lớn và phân kì lịch sử văn học Việt Nam (Đỗ Đức Hiểu, Tạp chí Văn học, số 3 –
1985), Văn học trung đại Việt Nam – quan niệm con người và tiến trình phát triển (Nguyễn Hữu Sơn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội – 1995), Nhà Nho tài tử và văn
học Việt Nam (Trần Ngọc Vương, NXB Giáo dục, Hà Nội – 1995), Vấn đề “ngã”
và “phi ngã” trong văn học Việt Nam trung cận đại (Nguyễn Đình Chú, Tạp chí Văn học, số 5 – 1999)…
Những năm cuối của thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI, rất nhiều những xu hướng nghiên cứu văn học nổi lên và đã có một thời, giới nghiên cứu cũng như độc giả đã thực sự bị “nhiễu loạn” vì điều đó Tuy nhiên, những giá trị thực, những hướng đi đúng thì tự thân đã khẳng định được vị thế của mình Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa vẫn là một hướng đi đúng, khoa học và sâu sắc Đã có không ít những
công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học cho thấy rõ điều đó như: Nguyễn Bính –
hành trình sáng tạo thi ca (Đoàn Đức Phương, Nxb Giáo dục, 2005); Văn hoá nghệ thuật dưới góc nhìn xã hội học (Đoàn Đức Phương, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số
10/2005); Con người nhân văn trong thơ ca Việt Nam (Đoàn Thị Thu Vân, NXB Giáo dục, Hà Nội – 2007), Trào lưu trữ tình trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII –
đầu thế kỉ XIX và dấu vết ảnh hưởng của sách “Thế thuyết tân ngữ” (Trần Nho
Thìn, Nghiên cứu Văn học, số 12 – 2007), Văn học trung đại Việt Nam dưới góc
nhìn văn hóa (Trần Nho Thìn, NXB Giáo dục Hà Nội – 2008)…
Trang 11Như vậy, có thể khẳng định rằng: Nghiên cứu những vấn đề văn học từ góc nhìn văn hóa đã và vẫn là một hướng đi đúng đắn, khoa học Văn hóa và văn học không thể tách rời và không thể nhìn nhận, đánh giá hay nghiên cứu về một tác giả, tác phẩm văn học một cách đầy đủ, chính xác lại không gắn với các yếu tố văn hóa nảy sinh, hình thành, tồn tại và phát triển của một phong cách nghệ thuật hay một tác phẩm cụ thể
Lịch sử nghiên cứu về tác phẩm của Đỗ Bích Thúy từ góc nhìn văn hóa
Trong lời mở đầu giới thiệu tập truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của Đỗ
Bích Thúy, nhà phê bình Lê Thành Nghị đã viết: "Những khát vọng về hạnh phúc, những tâm sự cháy bỏng về lẽ sống, ý thức về những ngày hiện tại ở một vùng độc đáo, đầy kỷ niệm, đã tạo ra trong ngòi bút của Đỗ Bích Thúy niềm xúc động chân thành, chảy dạt dào trên trang viết" [37;tr.3] Phải chăng vì thế mà khi nhìn nhận, đánh giá về tác phẩm của chị, các nhà nghiên cứu luôn đứng ở góc nhìn văn hóa để thấy được chiều sâu văn hóa trong mỗi câu chuyện, mỗi nhân vật, mỗi cảnh huống, hay hình ảnh, ngôn ngữ… của quê hương Hà Giang được tái hiện lại Có thể thấy một điều rằng, không ít nhà nghiên cứu đã tiếp cận tác phẩm của Đỗ Bích Thúy dưới nhiều góc độ khác nhau, ở nhiều khía cạnh nội dung và nghệ thuật Như:
Truyện ngắn về đề tài dân tộc miền núi phía bắc qua các tác phẩm của Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Huy Thiệp (Nguyễn Minh Trường, Luận văn Th.s ĐH
KHXH & NV HN, 2009); Tiếp cận sáng tác của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư
từ phương diện giá trị văn học - văn hóa (Dương Thị Kim Thoa, Luận văn Th.s ĐH
KHXH& NV- HN, 2008); Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
(Ngô Thị Yên, Luận văn Thạc sĩ Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
2011); Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy nhìn từ góc độ thể loại (Nguyễn Thị Thu, Luận
văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 2012)…
Trên báo Văn nghệ trẻ, số ra ngày 11/3/2001, Điệp Anh có bài Gặp hai nữ
thủ khoa truyện ngắn trẻ đã nhận xét: “Thế mạnh của Đỗ Bích Thúy là đời sống của
người dân Tây Bắc, với những không gian vừa quen vừa lạ, những phong tục tập quán đặc thù khiến người đọc luôn cảm thấy tò mò và bị cuốn hút (…) Trong truyện
Trang 12ngắn của Đỗ Bích Thúy, không gian Tây Bắc hiện lên đậm nét, để lại dư vị khó quên trong lòng độc giả.” [2; tr.3]
Trong bài viết Cảm hứng cảm thương trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy và
Nguyễn Ngọc Tư đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội (661) tháng 1/2007, tác giả
Phạm Thùy Dương cho rằng truyện ngắn Đỗ Bích Thúy luôn có cái nhìn nhân ái về con người Tác giả thấy rõ trong truyện ngắn của chị “đằng sau cuộc sống, khí chất của con người mỗi vùng đất là tình cảm cảm thương sâu sắc của nhà văn tới những con người bất hạnh.” [8; tr.102]
Nhà văn Trung Trung Đỉnh trong bài viết Đọc truyện ngắn Đỗ Bích Thúy in trên báo Văn nghệ số 5, ra ngày 3/2/2007 cảm nhận khá sâu sắc về văn phong Đỗ
Bích Thúy: “Đỗ Bích Thúy có khả năng viết truyện về cảnh sinh hoạt truyền thống của con người miền cao một cách tài tình Không truyện nào là không kể về cách sống, lối sinh hoạt, nết ăn ở và cả quang cảnh sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán Truyện nào cũng hay cũng mới, cũng lạ mặc dù các tác giả không hề cố ý đưa vào chi tiết lạ Thế mà đọc đến đâu ta cũng sững sờ và bị chinh phục bởi những chi tiết rất đặc sắc chỉ người miền cao mới có.” [14; tr.58]
Nhà văn Lê Thành Nghị trong bài báo Từ truyện ngắn của một người viết trẻ đăng trên báo Văn nghệ trẻ (số 3/2005), đã có cảm nhận tinh tế của mình: “Chúng ta
sẽ bước vào một không gian lạ, không gian có núi cao, trời rộng của vùng núi phía Bắc, nơi từ đó nhìn xuống, dòng sông Nho Quế chỉ còn bé như sợi chỉ dưới chân núi Mã Pí Lèng Một không gian đầy hoa lá rừng, có tiếng gà gáy tách te trong bụi rậm, có những dòng suối trong suốt với những viên cuội đỏ, có những chàng trai thổi sáo theo sau các cô gái khoác quẩy tấu xuống chợ; những nồi thắng cố nghi ngút khói trong phiên chợ vùng cao đầy màu sắc; những đêm trăng sóng sánh huyền
ảo, những cụm mần tang mọc trong thung lũng; tiếng đàn môi réo rắt sau bờ rào đá;
lễ hội gầu tào với điệu hát gầu Plềnh mê đắm của các cô gái, chàng trai người Mông trên đỉnh núi…”
Ngoài ra, trên các trang báo điện tử, Đỗ Bích Thúy cũng được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình và độc giả quan tâm với nhiều bài viết trên nhiều trang báo
Trang 13Tác giả Hà Anh với bài viết Đỗ Bích Thúy: nếu làm độc giả thất vọng tôi thà chịu
cũ được đăng tải trên trang http://evan.vnexpress.net ngày 25/12/2005 Tác giả
Dương Bình Nguyên có bài viết Nhà văn Đỗ Bích Thúy: viết vì nhu cầu nội tâm trên trang http://evan.vnexpress.net 21/6/2006 và bài viết Nhà văn Đỗ Bích Thúy –
sự mềm mại quyết liệt trên trang http://www.cand.com.vn Trên trang phongdiep.net
có bài viết Đỗ Bích Thúy – tôi đã không nghĩ rằng người phụ nữ có thể hi sinh
nhiều đến thế, ngày 23/1/2009 Tại địa chỉ http://tapchinhavan.vn ra ngày
23/11/2009 có bài Đường đến với văn chương của một người viết trẻ của tác giả Lê
Hương Thủy… Đỗ Bích Thúy vùng với những tác phẩm của mình đã tạo được những ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả
Những công trình, bài viết đó đã tiếp cận và nghiên cứu tác phẩm của nhà văn dưới góc độ văn hóa, tuy nhiên, để nhìn nhận và nghiên cứu một cách sâu sắc
và chuyên biệt ở góc nhìn văn hóa thì qua sự khảo sát của chúng tôi, chưa có một công trình nào thực hiện Từ đó thôi thúc chúng tôi thực hiện đề tài luận văn này
3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn chúng tôi là truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy cụ thể là những biểu hiện văn hóa Tây Bắc trong tác phẩm ở cả phương diện nội dung và nghệ thuật
Mục đích nghiên cứu đề tài này chúng tôi hướng tới việc tìm hiểu, khảo sát mối quan hệ giữa văn học và văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy Thông qua tác phẩm của Đỗ Bích Thúy, hiểu hơn về văn hóa Tây Bắc và từ các tín hiệu văn hóa để tìm hiểu sâu hơn, đánh giá chính xác hơn về truyện ngắn của chị
Phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài luận văn chúng tôi chỉ tập trung vào
nghiên cứu một số truyện ngắn trong các tập: Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (NXB CAND, Hà Nội, 2005); Mèo đen (NXB Thời đại, 2011); Đàn bà đẹp (NXB Văn
học, 2013), và một số truyện ngắn đăng trên các báo, tạp chí và trang cá nhân của chị
Trang 144 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài luận văn này chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp tiếp cận văn hóa học
Sử dụng phương pháp này, trước hết chúng tôi xem xét những ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa của vùng đất có ảnh hưởng đến các yếu tố nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Đỗ Bích Thúy Đồng thời cũng lý giải những tín hiệu văn hóa
có trong truyện ngắn của chị
Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phân tích là thao tác nhằm chỉ ra sự ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa trong tác phẩm của chị Còn thao tác tổng hợp nhằm khái quát lên những đặc điểm nổi bật
Phương pháp so sánh, đối chiếu
- So sánh đồng đại: So sánh với các tác giả, tác phẩm cùng thời để thấy những nét tương đồng và khác biệt trong nội dung, đề tài, tư tưởng thẩm mỹ, nghệ thuật thể hiện của các nhà văn, những nét giống và khác nhau trong việc phản ánh hiện thực đời sống
- So sánh lịch đại: So sánh đối tượng với các tác phẩm trước để thấy được sự tiếp nối và đổi mới của Đỗ Bích Thúy trong việc thể hiện con người, cuộc sống vùng cao Tây Bắc
Phương pháp nghiên cứu tác giả:
Sử dụng phương pháp này, chúng tôi nghiên cứu để thấy phong cách nghệ thuật của Đỗ Bích Thúy, những yếu tố văn hóa nào đã ảnh hưởng đến phong cách nghệ thuật, thấy được ý nghĩa, giá trị, những mối quan hệ liên quan đến phong cách nghệ thuật nhà văn
5 Đóng góp của luận văn
Đóng góp về mặt lý luận: Thông qua việc khảo sát truyện ngắn của Đỗ Bích
Thúy từ góc nhìn văn hóa, luận văn góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý thuyết
Trang 15liên quan đến phương pháp văn hóa học trong việc tiếp cận tác giả và tác phẩm văn học
Đóng góp về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần đi sâu tìm hiểu những đặc
điểm văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy, tiếp cận tác phẩm của chị từ góc nhìn văn hóa Công trình sẽ góp phần trong việc nghiên cứu văn học bằng phương pháp tiếp cận văn hóa học
6 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Vấn đề tiếp cận văn hóa học và hành trình sáng tác của Đỗ Bích Thúy
Chương 2: Bản sắc văn hóa Tây Bắc trong nội dung truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
Chương 3: Bản sắc văn hóa Tây Bắc trong nghệ thuật thể hiện truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
Trang 16Chương 1 VẤN ĐỀ TIẾP CẬN VĂN HÓA HỌC
VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA ĐỖ BÍCH THÚY
1.1 Mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và văn học
1.1.1 Sự ảnh hưởng, chi phối của văn hóa và văn học
Quá trình phát triển của nhân loại, cải tạo tự nhiên, cải tạo đời sống của cá nhân và của cả cộng đồng xã hội vừa dựa trên những quy luật chung của thế giới tự nhiên, vừa xây dựng những quy luật riêng của thế giới loài người là một quá trình sáng tạo văn hóa Trong sự sáng tạo và phát triển văn hóa này, chủ thể là con người, khách thể là tự nhiên, mà văn hóa là sự thống nhất của các mặt đối lập con người và
tự nhiên, giữa khách thể và chủ thể Cái gọi là “tự nhiên” ở đây, không chỉ nói về giới tự nhiên tồn tại bên ngoài và đối lập với bản thân con người, mà còn là bản năng con người, các tính chất của thân thể con người, tính tự nhiên nội tại Xuất phát điểm của văn hóa là dựa vào hoạt động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, tiến đến cải tạo con người Con người sáng tạo văn hóa, đồng thời văn hóa cũng sáng tạo con người Do vậy, hàm nghĩa thực chất của văn hóa là “người hóa”, là quá trình chủ thể con người thông qua hoạt động thực tiễn, thích ứng, lợi dụng, cải tạo khách thể giới tự nhiên mà dần dần hình thành quan niệm giá trị của mình
Văn hóa nghĩa rộng là chỉ tất cả của cải vật chất và tinh thần do con người sáng tạo nên Nó nói lên sự khác biệt về bản chất giữa con người và động vật nói chung, giữa xã hội loài người và giới tự nhiên, nói lên phương thức sinh tồn đặc biệt của con người cao hơn giới tự nhiên Do nội hàm phong phú của nó mà có những phân loại rất khác nhau Có khi văn hóa được phân thành hai loại văn hóa vật chất
và văn hóa tinh thần; có khi văn hóa được phân thành ba loại: văn hóa vật chất, văn hóa chế độ, văn hóa tư tưởng; cũng có khi văn hóa được phân thành năm loại: văn hóa mang tính sinh sản, văn hóa mang tính đời sống, văn hóa mang tính giao tế, văn hóa mang tính chế độ, và văn hóa mang tính quan niệm
Văn hóa nghĩa hẹp chủ yếu bao gồm văn hóa chế độ và văn hóa tư tưởng mà con người sáng tạo ra Trong nhiều sách viết rằng văn hóa theo nghĩa hẹp chỉ thiên
Trang 17về mặt văn hóa tư tưởng Nó loại trừ xã hội loài người – bộ phận hoạt động sáng tạo vật chất và kết quả của hoạt động sáng tạo vật chất trong đời sống lịch sử, nó chuyên về hoạt động sáng tạo tinh thần và kết quả của hoạt động sáng tạo tinh thần
Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm phong phú được nhiều nhà khoa học tìm tòi nghiên cứu Đã có nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa, mỗi học giả đều dựa trên những cứ liệu riêng, góc độ riêng và vấn đề mình nghiên cứu mà đưa
ra
Năm 1871, E.B Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa
rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [75; tr.13] Theo định nghĩa này thì văn
hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Có người ví, định nghĩa này mang tính “bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người
F Boas định nghĩa “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và
những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau” [76; tr.149] Theo định nghĩa này, mối quan hệ giữa
cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người
Một định nghĩa khác về văn hóa mà A.L Kroeber và Kluckhohn đưa ra là
“Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên
những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người… Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo” [77; tr.357]…
Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau Hồ Chí Minh cho
rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và
Trang 18phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [32, tr.431]
Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra Cũng giống như định nghĩa của Tylor, văn hóa theo cách nói của Hồ Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người
Phạm Văn Đồng cho rằng “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng
phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [74; tr 22] Theo định nghĩa này
thì văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên và do con người sáng tạo nên từ
tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc
Dưới đây, chúng tôi xin trích dẫn khái niệm của UNESSCO về văn hóa trong bản tuyên bố những chính sách về văn hóa trong Hội nghị quốc tế tổ chức từ 26 tháng 7 đến 6 tháng 8 năm 1982 tại Mêhicô:
- Văn hóa là tổng thể các nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội
- Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền
cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa làm cho con người có khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có
óc phê phán và dấn thân một cách có đao lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý
Trang 19nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân
Như vậy, tựu chung lại thì văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển và hoàn thiện bản thân, xây dựng những giá trị quy chuẩn chung cho cả xã hội Ngược lại, văn hóa cũng góp phần cải tạo con người, định hình các giá trị, định hướng lối sống, cách cảm, cách nghĩ và chi phối
cả những hoạt động đời sống mọi mặt của con người trong đời sống, xã hội
Giữa văn hóa và văn học có mối quan hệ hữu cơ không tách rời Văn học nằm trong văn hóa và chịu sự tác động chi phối của toàn bộ nền văn hóa một dân tộc và nền văn hóa đó luôn mang tính lịch sử, thời đại nhất định Nói cách khác, văn học nằm trong văn hóa và phản ánh, thể hiện những đặc điểm, giá trị văn hóa của một cộng đồng, dân tộc, một thời kì, giai đoạn lịch sử Cho nên, có thể nói rằng, văn học là biểu hiện của văn hóa, là tấm gương phản ánh văn hóa, tái hiện lại những lớp văn hóa vốn ẩn chìm trong chiều dài thời gian, chiều rộng không gian Văn hóa đa sắc màu bao nhiêu thì văn học cũng phong phú, đa dạng bấy nhiêu
Thông qua văn học hay có thể nói văn học mang đến cho người đọc những hiểu biết về các nền văn hóa, tiếp cận với các giá trị văn hóa của các quốc gia, dân tộc, các vùng đất trên khắp thế giới Những vùng đất phủ đầy băng tuyết, những nhóm người mạo hiểm kéo nhau đi tìm vàng, họ chống chọi với thú dữ, những đàn sói hung dữ và thuần hóa nó, thậm chí gắn bó ân tình với nó được hiện lên trong các tác phẩm của Jack London Vùng sông Đông đầy êm đềm thơ mộng, những con người cá tính mạnh mẽ, khao khát tự do, khao khát yêu hiện lên đầy đủ, chân thực
trong Sông Đông êm đềm, Thảo nguyên xanh hay Truyện sông Đông của
Sholokhov Hay với văn học Việt Nam, người đọc được thưởng thức những đặc sản văn hóa vùng đất Nam Bộ trong các sáng tác của Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Ngọc Tư thì Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Duy lại cho ta cảm nhận được nét nghĩ, cách cảm và cả tâm hồn đằm thắm, sâu sắc của vùng văn hóa Trung Bộ; Nam Cao, Nguyễn Tuân, Thạch Lam đưa ta về vùng đồng bằng Bắc
Bộ và Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy lại đưa ta lên với vùng đất có những con người
Trang 20mang trong mình hơi thở của núi rừng, của suối lũ mưa nguồn Tây Bắc Không chỉ mỗi quốc gia, dân tộc mà ngay cả mỗi vùng lãnh thổ, miền quê cũng mang trong mình những đặc điểm văn hóa khó trộn lẫn, phải chăng đó là cái “hồn đất” ngấm vào mỗi con người để toát lên thành những nét văn hóa riêng Văn học như cỗ máy
kì diệu, đưa người đọc vượt không gian để được biết đến những vùng miền văn hóa khắp nơi trên thế giới để ngấm cái “hồn đất” ấy
Văn học còn đưa người đọc vượt thời gian để trở về với quá khứ xa ngái, để thấy và hiểu được cả một thời kì văn hóa, xã hội của nhân loại Illiade và Odyssée hai bản trường ca bất hủ của Homere không chỉ đưa người đọc về quá khứ xa xôi của nước Hy Lạp để biết về cuộc chiến thành Troie mà ở phương diện nào đó còn cho thấy sự phát triển đi lên của nền văn hóa lục địa già, sự văn minh của con người nơi đó Nếu Illiade ca ngợi sức mạnh thể lực của con người thì Odyssée ca ngợi vẻ đẹp trí tuệ và phải chăng sức mạnh vô bờ, vẻ đẹp rực rỡ nhất của con người chính là trí tuệ Lev Tolstoi không chỉ cho người đọc được thấy con người Nga kiên cường, nhân hậu trong cuộc kháng chiến vệ quốc mà đó còn là sự trưởng thành, quá trình thức tỉnh của cả một thế hệ trẻ nước Nga hay châu Âu khi đó đang mất phương hướng, đang thần thánh hóa Napoléon Ca dao, tục ngữ, truyện cổ Việt Nam cho thấy những đặc trưng của nền văn hóa lúa nước, nền sản xuất phụ thuộc vào thiên nhiên và còn thấy được mối quan hệ xã hội, những mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp
bị trị với giai cấp thống trị Văn học thời Trần cho ta thấy khí thế hào sảng của một
thời “Hào khí Đông A” Hoàng Lê nhất thống chí đưa người đọc trở lại lịch sử của
những năm thế kỉ XVIII, để thấy được những bức chân dung lịch sử, để thấy được cái ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo đến nền văn hóa, xã hội nước ta khi đó Văn học trong thời kì hai cuộc chiến tranh cho người đọc thấy hết được chủ nghĩa anh hùng cách mạng sôi sục mọi nơi trên Tổ quốc, lòng yêu nước, lòng căm thù giặc cháy bỏng như thế nào trong lòng mỗi người dân, đủ mọi tầng lớp
Văn học có thể mang đến được cho người đọc những hiểu biết văn hóa đó chính là do sự ảnh hưởng chi phối sâu sắc, tác động đến chiều sâu, đặc biệt đến cả tâm thức sáng tạo của nhà nghệ sĩ bởi văn hóa Vậy nên, văn hóa không chỉ thể
Trang 21hiện, hiện diện trên bề mặt các sáng tác văn học Điều này rất dễ hiểu, bởi phản ánh hiện thực xã hội, đời sống văn hóa nhưng văn học không đơn giản là chiếc gương phản chiếu những hình ảnh trần trụi mà được phản ánh qua lăng kính cá nhân của người sáng tác, mỗi người nghệ sĩ lại chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những đặc điểm văn hóa của cộng đồng, dân tộc trong thời kì lịch sử đó Không cần bàn cãi, chúng
ta luôn phải công nhận sự ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo đến văn hóa, xã hội và chính trị nước ta suốt thời kì phong kiến, điều đó ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý sáng tạo của nhà văn Vậy nên, trong sáng tác của nhà thơ xứ Đồng Nai – Nguyễn Đình Chiểu, mặc dù triều đình nhà Nguyễn đã mục ruỗng, hèn nhát đầu hàng kẻ thù xâm lược và ông đứng về phía nhân dân, ca ngợi những người anh hùng của nhân dân, những người nông dân đánh giặc nhưng đâu đó, tư tưởng “trung quân” vẫn còn, ông vẫn mong chờ một bậc “minh quân thánh đế” (Chừng nào thánh đế soi ân thấu/ Một
trận mưa nhuần rửa núi sông – Xúc cảnh) Thế nên, dù mỉa mai, chua xót thốt lên
“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng/ Nỡ để dân đen mắc nạn này” – (Chạy giặc), và
ca ngợi những người nông dân nghĩa sĩ dám xả thân vì nghĩa lớn thì ông vẫn viết
“Sống thờ vua, thác cũng thờ vua/ Lời dụ dạy đã rành rành một chữ ấm đủ đền ơn
đó” – (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc) Và cái “ngất ngưởng” tưởng coi trời bằng vung, coi mình là hơn hết thảy thì trong Bài ca ngất ngưởng Nguyễn Công Trứ vẫn đinh
ninh “nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung” Như vậy, văn học có thể được coi là biểu hiện của tâm thức văn hóa dân tộc Các hiện tượng văn học thường ẩn chứa trong nó những yếu tố văn hóa bền vững, hiện diện trên bề mặt của hiện thực đời sống hoặc trong sâu thẳm tâm thức văn hóa của con người
Sáng tác văn học chính là một hành vi văn hóa cao đẹp của người nghệ sĩ Trong đó, nhà văn sẽ phải chọn lọc các cách xử lý mối quan hệ phức tạp của con người với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình bằng những tâm thức văn hóa
của chính mình Vậy nên, chưa người Việt nào lại chê chị Dậu trong tác phẩm Tắt
đèn của Ngô Tất Tố, hay đem so sánh với Fantine trong Những người khốn khổ để
phê phán như Trần Đăng Khoa trong cuốn Chân dung và Đối thoại Chị Dậu buộc
phải bán con để chuộc chồng bởi cái quan niệm văn hóa đã ăn sâu và trong tiềm
Trang 22thức của người Việt chúng ta hàng bao nhiêu thế kỷ mà không dễ gì lý giải nổi Cái
tư tưởng “xuất giá tòng phu” của Nho giáo chi phối hành động của chị hay cái quan niệm rất thuần Việt “giàu bán chó, khó bán con”, và cái chuyện “bán vợ, đợ con” đã
có một thời như là phổ biến, điều bình thường trong xã hội đã khiến chị hành xử như thế? Nhưng rõ ràng, cách hành xử của chị Dậu và Fantine khác nhau hay của hai nhà văn: Ngô Tất Tố và V.Hugo khác nhau thể hiện những đặc trưng khác nhau của hai nền văn hóa Và nếu so sánh chị Dậu với hàng loạt các nhân vật nữ khác trong văn học Việt Nam người đọc mới thấy hết những giá trị văn hóa đã lắng đọng lại thành một hệ thống chuẩn mực cho người phụ nữ Việt Nam qua nhiều thời kì lịch sử
Như vậy, văn hóa tác động sâu sắc đến văn học thông qua sự cảm nhận, thẩm thấu những giá trị văn hóa của người nghệ sĩ sáng tác Do đó, bên trong cá tính sáng tạo nghệ thuật, những nét đặc trưng rất riêng của mỗi người cầm bút thì trong cách
xử lý các tình huống, lựa chọn các tình tiết và lớn hơn là xây dựng các hình tượng nghệ thuật, tư tưởng thẩm mỹ đều thể hiện những đặc trưng văn hóa của cộng đồng dân tộc trong thời kì lịch sử đó
Chịu ảnh hưởng chi phối của văn hóa nhưng chính văn học cũng có tác động trở lại đối với nền văn hóa Văn học được ví như chiếc lưới lọc lại những giá trị văn hóa của xã hội, lọc lại và có thể nâng nó lên một tầm cao mới, làm giàu, làm đẹp hơn cho những giá trị văn hóa Lối sống nhân nghĩa, thủy chung của cha ông ta từ ngàn đời đã được tích lũy, lưu giữ lại bởi ca dao, dân ca, những câu chuyện cổ và
nó đã ngấm vào máu thịt của mỗi con người Việt Nam để trở thành những giá trị gọi là truyền thống văn hóa Đó là lòng biết ơn trân trọng những người đi trước như
“ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, đó là yêu thương đùm bọc lẫn nhau bởi chúng ta là
“đồng bào” cùng sinh ra trong một bọc trứng, vậy phải biết “lá lành đùm lá rách”,
đó là tinh thần quật cường thể hiện lòng yêu nước sâu sắc mỗi khi có giặc ngoại xâm Như vậy, “những tác phẩm văn học góp phần làm rõ vẻ đẹp của văn hóa dân tộc, nhấn mạnh và làm sâu đậm thêm những nét đẹp văn hóa đó, làm mới thêm những nét văn hóa dân tộc dựa trên chính những nét mới mẻ của chất liệu hiện thực
Trang 23và sự mới mẻ trong cách nhìn, cách chiêm ngưỡng về hiện thực” [45; tr.23] Nói cách khác, văn học chính là một bộ phận quan trong, thiết yếu của nền văn hóa
“Nếu coi văn chương Việt Nam là một trong những bộ môn chính yếu của nghệ thuật, là một hiện tượng văn hóa xã hội có giá trị cao Nếu gạt các tác phẩm văn học
ra khỏi di sản văn hóa dân tộc thì một số nền văn hóa trong đó có Việt Nam trở nên trống rỗng” [32; tr.124]
Chọn lọc những giá trị văn hóa và bảo vệ nó, đấu tranh loại bỏ những hành
vi, biểu hiện phi văn hóa, phản văn hóa cũng chính là vai trò, tác dụng của văn học đối với văn hóa Những nhà văn tiên phong của dân tộc bao giờ cũng là những nhà văn hoá lớn Bằng nghệ thuật ngôn từ, họ đấu tranh, phê phán những biểu hiện phản văn hoá, đồng thời khẳng định những giá trị văn hoá dân tộc, nhân bản và khai phóng Dù là phản ứng trước những làn sóng văn hoá tiêu cực hay cổ vũ cho sự tiếp biến văn hoá, giới trí thức sáng tác tinh hoa bao giờ cũng là những người tiên phong
mở ra hướng mới của văn hoá dân tộc Nói như học giả Đinh Gia Trinh trong Lời
phi lộ đăng trên Văn học tạp chí số 1 năm 1932 thì: “Muốn giữ cho cái quốc hồn
của mình đừng siêu lạc, cái quốc túy của mình khỏi thất tán, cái quốc hoa của mình ngày một thêm rực rỡ tốt tươi thì thế nào cũng phải trau chuốt, sửa sang, sắp đặt, gom góp, chỉnh đốn thứ tiếng nói ấy thành văn thành vẻ, thành riêng hẳn, là đặc sản của dân tộc mình mới được” Trau chuốt, sửa sang, sắp đặt, gom góp, chỉnh đốn vốn ngôn ngữ của dân tộc thì người đóng vai trò to lớn chính là đội ngũ những người nghệ sĩ sáng tạo văn học Giữ cho cái quốc hồn, quốc túy, quốc hoa đó chính là những giá trị văn hóa
Không chỉ là một thành tố của văn hóa, một phương tiện lưu giữ các giá trị văn hóa mà văn học còn góp phần làm giàu hơn cho nền văn hóa ở khả năng sản sinh ra các giá trị văn hóa mới, các giá trị tinh thần mới và ở các nhà văn, nhà thơ lớn, tư tưởng ấy còn có khả năng vượt qua các giới hạn thời gian và không gian
Hình tượng nhân vật Jeann Val Jean trong Những người khốn khổ quả thực đã lay
động không ít thế hệ độc giả và “lẽ sống tình thương” là tư tưởng văn hóa, nhân văn cho mọi con người, mọi thời đại Tinh thần Thơ mới mang đến cho con người ý
Trang 24thức về tự do, về khát vọng hạnh phúc cá nhân, làm thay đổi cách nghĩ, cách sống của con người trở nên tích cực hơn, nhân văn hơn Nhưng cũng có thể nói, tư tưởng của Thơ mới, tinh thần đó đã được xuất hiện trong sáng tác thơ ca của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ Nghĩa là chính các nhà nghệ sĩ
vĩ đại của dân tộc đã không cần đến luồng gió mới của phương Tây, của châu Âu
mà đã tự bản thân mình sáng tạo ra cái giá trị văn hóa đầy nhân văn, nhân bản ấy
Văn học thực sự đã đi vào đời sống văn hóa, đó là sự đóng góp dễ nhận thấy thông qua nhiều cách thức diễn đạt của văn học đã trở thành lời nói quen thuộc của nhân dân, nhiều hình tượng văn học đã đi vào đời sống xã hội trở nên gần gũi, thân thuộc với nhân dân Người Việt ta sử dụng ca dao, tục ngữ, những câu Kiều trong lời ăn tiếng nói hàng ngày đã trở thành một nét đẹp văn hóa rất riêng Trong xã hội những hình tượng như Sở Khanh, Tú Bà, chị Dậu, Chí Phèo, Thị Nở đã trở thành những danh từ chung để chỉ một lớp người, loại người, kiểu người
Như vậy, giữa văn học và văn hóa có mối quan hệ hữu cơ, hai chiều Văn hóa tác động đến mọi mặt giá trị của nền văn học, chi phối chủ đề, đề tài, tư tưởng thẩm mỹ, cách xây dựng các hình tượng nghệ thuật của người sáng tác Ngược lại, văn học cũng có tác động trở lại đối với nền văn hóa Không chỉ là thành tố quan trọng của nền văn hóa, góp phần lưu giữ, bảo tồn các giá trị văn hóa mà văn học còn sáng tạo, đóng góp thêm các giá trị văn hóa mới
1.1.2 Phương pháp tiếp cận văn hóa học
Giữa văn học và văn hoá có mối quan hệ hữu cơ mật thiết nên việc tìm hiểu văn học dưới góc nhìn văn hoá là một hướng đi cần thiết và có triển vọng Cùng với những cách tiếp cận văn học bằng xã hội học, mỹ học, thi pháp học…, cách tiếp cận văn học bằng văn hoá học giúp chúng ta lý giải trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ thuật với hệ thống các tín hiệu, các giá trị văn hoá được bao hàm bên trong nó Những yếu tố văn hoá liên quan đến thiên nhiên, địa lý, lịch sử, phong tục, tập quán, ngôn ngữ… có thể được vận dụng để cắt nghĩa những phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm Hơn thế, không chỉ dừng lại ở một cách tiếp cận, cách nhìn nhận và
Trang 25đánh giá văn học mà thực sự đó là một phương pháp nghiên cứu văn học, phương pháp tiếp cận văn hóa học
Văn học không phải là tấm gương phản ánh đơn thuần những gì cuộc sống
xã hội đang diễn ra mà được phản chiếu qua lăng kính của văn hóa, qua cách nhìn nhận thể hiện tâm thức văn hóa của nhà văn Do đó, trong tác phẩm ngôn từ, từ hình tượng nghệ thuật, mỗi phương thức thể hiện đến cách lựa chọn sự việc, tình tiết, ngôn ngữ nhân vật đều thể hiện những đặc trưng văn hóa Người ta gọi đó là quá trình thẩm thấu và truyền đi của văn học và văn hóa, và quá trình đó diễn ra theo cả hai chiều: lịch đại và đồng đại Một mặt, những giá trị từ nguồn văn hoá truyền thống thẩm thấu, chảy trong mạch ngầm của nó và thấm vào thế giới hình tượng và ngôn từ của tác phẩm mà đôi khi chủ thể sáng tạo không ý thức một cách tự giác Mặt khác, những giá trị văn hoá mới hình thành vào lúc đương thời không thôi cám
dỗ, kêu gọi, thách thức, đòi hỏi nhà văn phải trả lời, trực tiếp hay gián tiếp, bằng
ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm của mình Đặng Thai Mai trong cuốn Văn học
khái luận đã cho rằng: “Giữa các cơ cấu hyền diệu của văn hóa vẫn có những sợi
dây liên lạc bất di bất dịch, để hỗn hợp những ảnh hưởng của thổ nghi, khí hậu, trú trạch dân cư và thần thánh của giống người thành một khối cố định mà trí tính có thể nhận thấy rõ là dính líu chặt chẽ với nhau Vậy nên lịch sử là một tập “dư địa chí” hay đi, thì văn học có thể xem như một pho “dân sinh trí” biết nói và biết mơ mộng” Vậy nên, đó là cơ sở quan trọng để chúng ta tin rằng, không thể xem xét, đánh giá đầy đủ mọi phương diện, giá trị, tư tưởng của một tác phẩm văn học nếu không đặt nó trong mối tương quan với văn hóa
Văn hóa là một hệ thống tổng thể bao gồm nhiều thành tố tạo thành thì văn học là một thành tố quan trọng và như chúng tôi đã đề cập ở phần trên, giữa văn hóa
và văn học có mối quan hệ hữu cơ không tách rời Vậy phương pháp tiếp cận văn hóa học được hiểu là phương pháp nghiên cứu văn học dựa trên mối quan hệ hữu cơ
đó và xem xét, nghiên cứu văn học trong một hệ thống tổng thể các giá trị văn hóa Nói như M.Bakhtin thì: “Cần phải nghiên cứu văn học và tác phẩm văn học như những hệ thống chỉnh thể ở hai cấp liên đới Hệ thống chỉnh thể của tác phẩm gia
Trang 26nhập hệ thống chỉnh thể của văn học; hệ thống chỉnh thể của văn học, đến lượt nó, lại gia nhập hệ thống chỉnh thể của văn hóa; và chỉ có hệ thống văn hóa mới quan
hệ trực tiếp với những lĩnh vực khác của đời sống xã hội Không thể tách rời văn học ra khỏi hệ thống văn hóa và “vượt mặt” văn hóa liên hệ trực tiếp với các nhân
tố chính trị, kinh tế, xã hội Những nhân tố ấy tác động trực tiếp đến văn hóa trong chỉnh thể của nó và chỉ thông qua nó mà ảnh hưởng đến văn học” (6; tr.182.)
Trong hệ thống văn hóa, nhất là văn hóa Việt Nam, yếu tố chủ đạo đó thường
là văn học Là yếu tố chủ đạo, văn học có mối quan hệ với tất cả các thành tố khác trong hệ thống Văn học phản ánh và thể hiện hiện thực cuộc sống, tác động đến người đọc thông qua các giá trị văn hóa hay đó chính là ảnh hưởng của văn hóa đến văn học Nhưng ngược lại, chúng ta có thể thấy văn học cũng tác động trở lại văn hóa thông qua việc lưu giữ những giá trị văn hóa và sáng tạo ra những giá trị mới Hơn thế nữa, nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng: “là một yếu tố mạnh, văn học luôn biết tiếp thu những gì ngoài hệ thống để phát triển Tiếp thu những cái ngoài hệ thống đến một mức độ nào đó, yếu tố văn học sẽ không còn phù hợp với hệ thống văn hóa nữa, nó chống lại hệ thống, làm cho hệ thống phải thay đổi cùng với nó”
Ví như, văn học trung đại, nhất là bộ phận văn học của các nhà nho tài tử, dưới sự ảnh hưởng của văn hóa đô thị và ý thức cá nhân tỉnh thức, đã làm rạn nứt hệ thống văn hóa trung đại, góp phần đưa nó chuyển đổi lên từ văn hóa trung đại sang văn hóa hiện đại Trong sáng tác của các nhà nho tài tử, không chỉ sự phá vỡ tính quy phạm ở nội dung thể hiện mà ở cả hệ thống thi pháp, tư tưởng thẩm mỹ Thoát khỏi cái “ta” chung chung, các nhà nho tài tử khẳng định tài năng cá nhân, thể hiện khát vọng hạnh phúc đời thường, tình yêu đôi lứa và dám nói đến những hình ảnh, xây dựng những hình tượng mà với quan điểm của Nho giáo là cấm kị Sau hai cuộc chiến tranh, khi đất nước chưa đi vào thời kì đổi mới nhưng rõ ràng, văn học đã đặt
ra một yêu cầu bức thiết cho xã hội, cho nền văn hóa Với những sáng tác của Lưu
Quang Vũ (Hồn Trương Ba da hàng thịt, Tôi và chúng ta, Sống mãi tuổi mười
bảy ); của Nguyễn Minh Châu (Chiếc thuyền ngoài xa, Bến quê ) con người
được nhìn ở cái nhìn đa chiều, đa phương diện hơn, nó thoát khỏi cách nhìn nhận,
Trang 27cách xây dựng các hình tượng quen thuộc, con người một chiều, nhìn nhận sự việc theo một hướng duy nhất của giai đoạn văn học chúng ta quen gọi là văn học thời chiến hay văn học cách mạng
Như vậy, nghiên cứu văn học bằng phương pháp tiếp cận văn hóa học là đi
từ cái tổng thể, toàn diện đến cái thành phần, chi tiết bằng phương pháp loại suy khoa học, hoặc đặt tác phẩm, tác giả trong mối quan hệ với toàn bộ hệ thống văn hóa, với các thành tố khác: ngôn ngữ, phong tục tập quán, lối sống, cách nghĩ của con người Sử dụng phương pháp tiếp cận văn hóa học trong quá trình thực hiện đề tài luận văn này là chúng tôi đặt tác phẩm của Đỗ Bích Thúy trong mối quan hệ chi phối, quy định bởi các đặc điểm, các thành tố, các đặc trưng văn hóa của vùng cao Tây Bắc và cũng đánh giá được phần nào, sự đóng góp của nhà văn với những giá trị văn hóa vùng cao Tây Bắc
1.2 Sáng tác của Đỗ Bích Thúy
1.2.1 Hành trình sáng tác
Sinh ngày 13 tháng 04 năm 1975, Đỗ Bích Thúy thuộc thế hệ các nhà văn trẻ của văn học đương đại Việt Nam Quê gốc tại Nam Định, vùng đất nổi tiếng với truyền thống hiếu học và truyền thống văn chương nên phải chăng cái bản sắc văn hóa của vùng đất đó đã ẩn sâu bên trong để dù sau nhiều hướng đi của cuộc đời, chị lại tìm về với văn chương, nghệ thuật
Gốc gác ở Nam Định, nhưng Đỗ Bích Thúy lại sinh ra và lớn lên ở Hà Giang những ngày tháng gian nan, cơ cực Tuổi thơ chị gắn với cuộc sống khó khăn, thiếu thốn và cả chiến tranh biên giới, gắn với cuộc sống còn quá nhiều thiếu thốn, quá nhiều khổ cực của đồng bào nơi đây Nếu nhiều nhà văn khác cùng viết về vùng cao Tây Bắc chỉ là những kỉ niệm, những ấn tượng, những tình cảm của một lần đến thăm, một lần trải nghiệm thì chị viết như viết về một phần đời mình, một phần máu thịt Nếu nhiều nhà văn sinh ra, lớn lên và sống ở vùng cao này, viết về quê mình với đầy đủ hiểu biết, vốn sống thì chị viết bằng nỗi nhớ, niềm khao khát khám phá
và một tình yêu cũng không kém phần sâu đậm Nhà văn Trung Trung Đỉnh trong
bài viết Đọc truyện ngắn Đỗ Bích Thúy có kể một câu chuyện cảm động về tuổi thơ
Trang 28của nhà văn như thế này: “Một đôi vợ chồng trẻ nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của
Tổ quốc đã xung phong lên miền núi vời vợi, nghìn trùng xây dựng quê hương Đôi
vợ chồng trẻ sinh hạ được ba người con, hai trai, một gái Tiếng khóc dạ đề của cô con gái út èo uột, còi cọc ấy đã vang vào tận trong rừng núi Những bà mẹ H’Mông
đã vào lâm trường cho cô bé bú Cô bé lớn lên với dòng sữa của những bà mẹ H’Mông nơi núi rừng thâm u yêu dấu kia, và sau đó cô được cắp sách tới trrường
Cô nói được tiếng địa phương, ăn mèn mén và cô đã “ăn” được cả cái văn hóa vùng cao từ thuở lọt lòng để đến bây giờ, chúng ta có được cô ấy: cô ấy là nhà văn Đỗ Bích Thúy” Vâng! Dòng sữa của những bà mẹ H’Mông hay dòng sữa của văn hóa Tây Bắc đã chảy trong cô từ thuở lọt lòng, vậy nên cái ân tình sâu nặng ấy sao không khiến khi phải đi xa nhớ đến cháy bỏng, nao lòng chứ Trong bài trả lời
phỏng vấn báo Quân đội nhân dân ngày 23/04/2011 "Điểm tựa" và "đích đến" của
một cây bút nữ chị tâm sự: “sinh ra và lớn lên ở Hà Giang rồi làm báo địa phương
nhưng đến khi là sinh viên, viết truyện gửi tạp chí Văn nghệ Quân đội tôi mới viết
về đề tài miền núi Cho đến nay, đó vẫn là vùng thẩm mỹ mà ngòi bút tôi đắm đuối
Có lẽ vì xa nơi chôn rau, cắt rốn, nỗi nhớ khắc khoải về miền núi đã khiến tôi muốn viết về nơi ấy” Như vậy, chính mảnh đất, con người, những nết ăn nết ở, cách nói cách nghĩ, những phong tục, những lễ hội và cả hơi thở của núi rừng nơi đây đã tạo tác nên hồn văn Đỗ Bích Thúy Một tâm hồn văn chương cũng cần được nuôi dưỡng, vun trồng bởi một vùng đất là những vùng văn hóa là như vậy
Đỗ Bích Thúy đến với văn chương như một cái duyên tiền định Văn chương vốn không phải là một cái nghề mà là một cái “nghiệp”, nhưng để có cái “nghiệp”
đó cũng cần phải một cái duyên, một cái tâm và cái tài Cái tâm để cảm, để nhận và
để sẻ chia, cái tài để thể hiện ra được trên trang giấy bằng ngòi bút thì cái duyên để đến được, gắn bó được với công việc không kém phần khổ ải đó Cái duyên ấy bén
khi truyện ngắn Chuỗi hạt cườm màu xám của cô sinh viên đang theo học ngành tài chính kế toán 19 tuổi, được đăng trên báo Tiền Phong và đạt giải A cuộc thi Tác
phẩm tuổi xanh năm 1995 Chị tâm sự “Đúng là cuộc đời tôi đã có những biến động
không ngờ và tất cả đều dẫn dắt tôi đến với con đường văn chương Là học sinh giỏi
Trang 29văn (từng đi thi học sinh giỏi văn toàn quốc), nhưng tôi thất vọng với ý định sẽ trở thành cô giáo Học xong Cao đẳng Tài chính - Kế toán, chưa kịp nhận việc thì có một vị khách tìm đến tận nhà “mời” tôi về làm việc tại Hội Văn nghệ Hà Giang sau
khi ông đọc truyện ngắn của tôi trên Báo Tiền Phong Các chú trên tỉnh đến Hội
Văn nghệ chơi nói: “Cháu còn trẻ thế, ngồi đây làm gì cho phí, sang làm báo đi” Tôi chuyển sang làm phóng viên Báo Hà Giang Bốn năm trời lăn lộn với nghề báo, thường xuyên phải đi công tác vùng sâu, vùng xa nhưng tôi thấy yêu nghề Tôi tự nhủ, mình sẽ gắn bó lâu dài với nghề báo nên đi học tiếp tại Phân viện Báo chí Tuyên truyền” (36) Cái duyên đã đến và chị liên tục gặt hái được những thành công, khẳng định chỗ đứng của mình trong nền văn học đương đại khi chùm ba
truyện ngắn: Sau những mùa trăng, Đêm cá nổi, Ngải đắng trên núi đạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1998 - 1999 Sau khi cô
sinh viên “già nhất” khóa 16 của Phân viện Báo chí tuyên truyền ra trường, cánh
cửa “nhà số 4” (cách gọi thân mật Tạp chí Văn nghệ Quân đội) đã rộng mở chào
đón Và môi trường làm việc mới đó đã giúp chị hoàn thiện lối viết, khẳng định
phong cách nghệ thuật của mình Năm 2003 – 2004, tham gia cuộc thi sáng tác Văn
học tuổi trẻ do Nxb Thanh niên và báo Văn nghệ tổ chức, chị đạt giải ba với tiểu
thuyết Bóng của cây sồi Năm 2005, truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của chị được đạo diễn Đỗ Quang Hải chuyển thể thành phim Chuyện của Pao và đạt
giải Cánh diều vàng của Hội điện ảnh Việt Nam thì người ta thực sự chú ý đến một luồng gió mới mang hương vị đặc trưng của núi rừng Tây Bắc, tiếng nói, hơi thở của con người Tây Bắc
Với giọng văn trong trẻo, khi mềm mại, khi cứng cỏi, khi nhẹ nhàng, khi buồn thương, với cách kể chuyện cuốn hút rất tự nhiên, rất bình dị mà không kém phần khéo léo, Đỗ Bích Thúy không chỉ mang đến một không gian văn hóa mới mà còn mang tới một tiếng nói mới, một hơi thở mới cho văn học Việt Nam đương đại
Hiện là Phó tổng biên tập của tạp chí Văn nghệ Quân đội, người phụ nữ hai con ấy,
giữa bộn bề bao nhiêu công việc vẫn dành dụm từng khoảng thời gian quý báu cho
Trang 30sánh: “Và với riêng tôi thì những giờ phút dành cho văn chương ngày một bị khoanh lại, bé tí, nhưng như thế thì giống như kiểu một đứa bé được ăn một chiếc bánh ngon ấy, miếng còn lại bao giờ cũng là miếng ngon nhất, thì thời gian bé tí còn lại đó với tôi cũng là thời gian quý nhất Phải tận dụng và tiết kiệm nó Và từng mẩu một, chữ nghĩa theo đó mà ra Tất nhiên, cũng ít đi nhiều ” Vâng, “những giờ phút dành cho văn chương ngày một bị khoanh lại, bé tí” nhưng những thành công của chị hay những đóng góp của chị cho văn chương mới thấy thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc và tình yêu vô bờ bến của chị cho văn chương Người đọc hoàn toàn có thể tin và chờ đợi những tác phẩm thành công hơn nữa của chị trong tương lai
Nhìn lại hành trình sáng tác của Đỗ Bích Thúy có thể thấy rằng, chị đến với
văn đàn khá sớm khi còn là cô sinh viên 19 tuổi và có thể coi Chuỗi hạt cườm màu
xám là truyện ngắn đầu tay của chị Và như chị nói vui trong bài trả lời phỏng vấn
báo Công an nhân dân “Nhà văn Đỗ Bích Thúy: Tác phẩm đầu tay hay “ám” vào
số phận văn chương” thì: “truyện đầu tay mà viết buồn thì văn chương sau đó cứ
viết buồn mãi, mà viết vui cũng khó hay; hoặc thậm chí là cái tên truyện thôi, đôi khi nó cũng giống như một “định mệnh” Tôi thấy cái cách đúc kết ấy rất thú vị Cho đến giờ, gần hai chục năm sau khi viết truyện ngắn đầu tay, tôi cảm thấy đúng
là văn chương của mình khó mà viết hay về những điều vui vẻ được Tôi viết vui, viết hài nó vô duyên lắm” Nhưng phải chăng cái giọng văn đó đã sớm là một sự thống nhất, thường xuyên, liên tục trong tác phẩm của chị để trở thành một đặc điểm gọi là phong cách nghệ thuật!
Ba truyện ngắn đạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ
Quân đội càng thể hiện rõ hơn sự thống nhất trong giọng văn, cách kể và đề tài sáng
tác của chị Và quả thật chị đã mang đến một sắc màu mới, một hương vị mới cho
văn đàn Nói như nhà phê bình văn học Bùi Việt Thắng trong bài viết Văn nghệ trẻ
sau chiến tranh thì: “Đỗ Bích Thúy là một bông hoa trong rừng hoa đa sắc màu mới
ươm trồng” Nhưng lúc ấy, có lẽ khái niệm nhà văn vẫn chưa hoàn toàn có trong cô
sinh viên Phân viện báo chí tuyên truyền Đỗ Bích Thúy chia sẻ “Tôi đã viết Ngải
Trang 31đắng trên núi, như đã viết nhiều cái khác, trên giường tầng, trong một căn phòng
chật hẹp ở kí túc xá đại học Tôi đã phải ngồi khoanh chân trên giường, viết trên một cái mặt bàn rất bé, trước mặt luôn là bức tường có treo ảnh cha mẹ Bên ngoài bức tường là Hà Nội nhộn nhịp và náo động Tôi đã chỉ có một bức tường gạch để cách ly với phố xá - thế giới xa lạ với những trang viết của tôi, càng xa lạ với nỗi hoài niệm không bao giờ dứt trong tôi Song hình như, chính trong bối cảnh bấp bênh, mong manh ấy tôi viết thuận hơn, xuôi hơn thì phải " (http://dobichthuy.vnweblogs.com/post/5774/102613 ) Nhà thơ Chế Lan Viên đã chính xác khi phát biểu một quy luật như của muôn đời “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”, chính cái hồn đất, hồn người Tây Bắc đã làm nên mạch nguồn, cái hồn văn Đỗ Bích Thúy
Cho đến nay, trong sáng tác truyện ngắn của chị có thể kể đến các tập truyện
ngắn tiêu biểu: Sau những mùa trăng (NXB Văn nghệ Quân đội, Hà Nội, 2001);
Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (NXB CAND, Hà Nội, 2005); Người đàn bà miền núi (NXB Phụ nữ, 2008); Mèo đen (NXB Thời đại, 2011); Đàn bà đẹp (NXB Văn
học, 2013) Không chỉ thành công vang dội ở thể loại truyện ngắn, Đỗ Bích Thúy
còn sáng tác và thành công ở nhiều thể loại khác như: Tiểu thuyết: Dưới bóng cây
sồi (NXB Thanh niên, 2005), Cửa hiệu giặt là (NXB Phụ Nữ, 2014), Cánh chim kiêu hãnh (NXB Quân đội, 2014) Tản văn: Trên căn gác áp mái (NXB Phụ nữ), Đến độ hoa vàng (NXB Phụ nữ) Nhưng có lẽ, thành công nhất trong những sáng
tác của Đỗ Bích Thúy vẫn là truyện ngắn và người ta biết nhiều đến chị là những truyện ngắn viết về vùng núi cao Tây Bắc, về mảnh đất Hà Giang nơi chị chôn rau cắt rốn, với những nét đặc trưng văn hóa nơi đây Một lần nữa xin mượn lời của nhà
văn Chu Lai trong bài viết Cái duyên và sức gợi của hai giọng văn trẻ được đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội tháng 7/2001 để nói về những “đặc sản” trong
truyện ngắn của chị “Đọc Thúy người ta có cảm giác như được ăn một món lạ, được sống trong một mảnh đất lạ mà ở đó tràn ngập những cái rất riêng đậm chất dân gian của hương vị núi rừng, của con suối chảy ra từ khe đá lạnh, của mây trời đặc sánh “như một bầy trăn trắng đang quấn quyện vào nhau”, của mùi ngải đắng,
Trang 32mần tang, của những nét ăn, nét ở, phong thục tập quán còn giữ nguyên vẻ hoang
sơ, thuần phác, của ánh trăng “cứ rọi vào nhà cả đêm, trăng đi một vòng của trước
ra cửa sau”, của những trái tim con gái vật vã, cháy bùng tiếng khèn gọi tình dưới thung xa, của bếp lửa nhà sàn và tiếng mõ trâu gõ vào khuya khoắt, của những kiếp sống nhọc nhằn và con bìm bịp say thuốc, say rượu ngủ khì khì bên chân chủ”
Và cho đến tận bây giờ, chị vẫn luôn gắn bó với đề tài thân thuộc, máu thịt
ấy, như chúng tôi đã nói, nó là cái duyên, cái nợ, cái ân tình mà chị phải trả như
chính lời chị trong bài trả lời phỏng vấn trên eVan ngày 5/12/2015 Nếu làm độc giả
thất vọng, tôi thà chịu cũ kỹ: “cũng phải nói lại rằng, không phải chỉ trước đây, bây
giờ mà cả sau này, miền núi vẫn là đề tài thân thuộc của tôi, không phải vì một mục đích nào đó mà vì sự thôi thúc từ gan ruột, thôi thúc chân thành và mãnh liệt.” Chị viết vì sự thôi thúc và dồn hết tâm lực cho công việc ấy để trả ân, trả nghĩa vùng đất, dòng sữa đã nuôi mình khôn lớn: “Mỗi tác phẩm có một tâm trạng riêng, cũng như mỗi nhân vật là một tâm trạng, có khi là nỗi nhớ nhà, nhớ quê, có khi là bức xúc vì một vấn đề nào đó, có khi là một câu chuyện đang dang dở với ai đó Có khi chỉ là một lời nhắn gửi hay ước mong cho vùng đất của mình Nhưng nói chung, tôi luôn bị thúc ép một cách vô hình, rằng mình còn đang nợ nơi sinh thành ra mình một món nợ rất lớn Và nhất định, bằng tất cả sức lực và trí tuệ, mình phải tìm cách trả được” (56; tr.12)
1.2.2 Quan điểm nghệ thuật
Trước tiên, nói về quan điểm nghệ thuât của một nhà văn, chúng ta phải nói đến quan niệm nghệ thuật về con người bởi nói như M.Gorki thì “văn học là nhân học”, văn học là khoa học về con người, phản ánh con người, làm cho “người gần người hơn” (Nam Cao) Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện cái nhìn, cách cảm và sự đánh giá của nhà văn về cuộc sống về con người, nói một cách khác thì
nó thể hiện sự thành công nghệ thuật hay cái “tầm” của nhà văn Quan niệm nghệ thuật về con người là một vấn đề rất quan trọng của sáng tạo nghệ thuật, nếu không
có quan niệm nghệ thuật về con người thì sẽ không có tác phẩm nghệ thuật Vì từ khi con người xuất hiện trên trái đất cho đến nay, con người luôn được coi vấn đề số
Trang 33một Con người luôn trăn trở nghĩ suy, luôn khao khát kiếm tìm con - người mình Heidegger cho rằng: “Con người là kẻ duy nhất có khả năng tự vấn bản thân mình” Bản thân con người vốn vô cùng phức tạp, đa sắc, đa màu và đa diện, nhà văn chỉ chạm đến nó chứ không sờ nắn, nắm bắt được bản thể con người trọn vẹn Vì vậy, nhà văn cũng không thể nào khám phá tận cùng cái bí ẩn bên trong con người Tập
đại sử thi Mahabharata của Ấn Độ có lời như sau: “Này, ta bảo cho các ngươi biết,
bí mật của Mahabharata không có gì quý hơn con người” Văn học lấy con người
làm điểm tựa để nhìn ra thế giới và nhìn vào chính mình Có vô số cách để thăm dò con người, thế nhưng con người vẫn mãi mãi là một bí mật, vì “con người là tận cùng của cái tận cùng” và “tận cùng biến đổi”
Trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy, người đọc có thể dễ dàng nhận thấy hai kiểu con người xuất hiện xuyên suốt và được thể hiện rõ nét là kiểu con người miền núi với bản sắc văn hóa riêng, những đặc trưng văn hóa không thể trộn lẫn, không thể phai mờ của vùng núi cao Tây Bắc và con người thời đại, con người hướng thiện Trước Đỗ Bích Thúy đã có không ít nhà văn viết về đề tài miền núi cao Tây Bắc như Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Ma Văn Kháng nhưng có lẽ các nhà văn đi trước dường như chỉ khám phá cái mới, cái lạ ở nét phong tục, ở vẻ đẹp của thiên nhiên
và con người chứ chưa dành nhiều thời gian và trang viết để thể hiện con người nơi đây Và trong cái đẹp truyền thống vẫn không ít cái nghịch lý dẫn đến những nghịch cảnh, những cuộc đời bất hạnh và trong cái mới mẻ, cái tiến bộ của thời đại vẫn có không ít những sự xô bồ khiến các giá trị văn hóa, nét đẹp truyền thống bị lung lay
Con người miền núi Tây Bắc hiện lên qua bức tranh đời sống sinh hoạt mang không khí, sắc màu và hương vị rất đặc trưng, rất riêng biệt Đó là những lễ hội tưng bừng, đó là đời sống, không gian sinh hoạt, đó là những bộ váy áo của cô gái H’Mông, cô gái Tày mà “thêu bảy màu như cầu vồng”, nó không chỉ đơn thuần là một bộ trang phục mà còn là phương tiện để các cô thể hiện, bộc lộ mình “mỗi năm được một ngày các cô khoe áo xiêm, khoe đường kim mũi chỉ, khoe tài dệt gấm thêu hoa” Vẻ đẹp truyền thống của con người nơi đây có lẽ được bộc lộ rõ nét qua hình ảnh những người phụ nữ chịu thương chịu khó, hi sinh cả cuộc đời cho chồng
Trang 34và hơn thế, cho gia đình nhà chồng Đó không phải cái kiểu như “con trâu con ngựa
trong nhà” thậm chí “không bằng con trâu con ngựa” như cô Mị trong Vợ chồng A
Phủ (Tô Hoài) mà là sự hi sinh tự nguyện, sự hi sinh như một thiên chức của người
phụ nữ vùng cao vậy: Mao (Tiếng đàn môi sau bờ rào đá); Mai (Cạnh bếp có cái
muôi gỗ); Nhẻo (Như một con chim nhỏ), Vá (Tràng A Khánh); Kía (Gió không ngừng thổi) Mỗi người một cách hi sinh, mỗi người một kiểu bất hạnh nhưng họ
toát lên vẻ đẹp rất chung, rất truyền thống của người phụ nữ vùng cao Sự thầm lặng của Mao, sự chấp nhận hoàn cảnh éo le và rồi cái tình thương lớn lao đã làm toát lên
vẻ đẹp khác thường ở người phụ nữ này Nhẻo lại có hoàn cảnh khác, bi kịch theo cách khác, cô mất chồng sớm và cô sống với trách nhiệm làm lụng, chăm sóc cho gia đình nhà chồng
Vẻ đẹp rất nhân văn, rất truyền thống của con người Tây Bắc ấy không chỉ ở hình ảnh những người phụ nữ mà cả ở những người đàn ông Sự mạnh mẽ, bộc trực, cương quyết và cái vẻ gì như thô lậu ở bề ngoài như ẩn giấu đi lòng bao dung, nhân
hậu đến tuyệt vời bên trong Đó là Chúng (Tiếng đàn môi sau bờ rào đá) thúc giục
vợ mang rượu đi bán ở chợ 27/3 bởi biết có một tiếng đàn môi vẫn réo gọi ở phía bên kia bờ rào đá của một mối tình say đắm thời trẻ mà không đến được với nhau
Đó là Sùng trong Gió không ngừng thổi, người đàn ông ấy vẫn biết đứa con trai kia
không phải con mình nhưng vẫn yêu thương, chăm chút cho nó thật lòng và giữ cái
bí mật ấy không nói ra vì sợ vợ buồn và cho đến khi bà Kía sắp nhắm mắt, ông mới nói ra cho vợ an lòng, thanh thản ra đi
Có lẽ nét đẹp truyền thống của con người miền núi với bản sắc văn hóa của
họ chính là vẻ đẹp tâm hồn giản dị, mộc mạc, trong trẻo như nước suối Họ sống chân thật, nồng thắm nghĩa tình Họ yêu thương trân trọng nhau bằng thứ tình cảm mộc mạc nhất mà cũng sâu sắc nhất Cách nghĩ, cách cảm của họ giản dị mà rõ ràng
mà nhân văn sâu sắc
Trước tác động của đời sống mới, sự đi lên của nhiều mặt đời sống nhưng cũng kéo theo đó là sự lung lay các giá trị truyền thống là điều dễ hiểu Thế nên,
cảnh đám cưới linh đình, sự ghen ghét đố kị nhau trong Con dê bốn mắt là một
Trang 35thực tế diễn ra không phải là cá biệt ở nơi đây Sự xung đột, mâu thuẫn giữa hai thế
hệ xảy ra quyết liệt và vấn đề đặt ra là làm sao để thay đổi cách ăn ở, sinh hoạt và một số phong tục lạc hậu mà không để mất đi cái nét đẹp văn hóa cổ truyền vốn có Nhưng trong hầu hết tác phẩm của Đỗ Bích Thúy, chị vẫn hướng tới thể hiện, phản ánh về những con người mới của thời đại mới được học hành, được bay nhảy, không chịu thua kém lớp thanh niên miền xuôi nhưng vẫn yêu quý, gắn bó thủy chung với quê hương, yêu thương mẹ cha, yêu thương quê hương mình Đó là cô
gái có cái tên Din trong Ngải đắng ở trên núi “ghì xiết lấy tấm thân bé nhỏ, khô và
lạnh của mẹ”, xót xa khi nhận ra “đâu hết rồi mẹ ơi những nồng ấm, đầy đặn ăm ắp sức sống? Đâu rồi đôi bầu ngực tròn căng của người vợ góa? ” Đó là nhân vật
xưng “tôi” trong Đêm cá nổi, dù còn rất trẻ nhưng đã nói lên những điều như chiêm
nghiệm: “Tôi sinh ra ở núi rừng Tôi ăn học ở thành phố Núi rừng là tuổi thơ tôi Thành phố là tuổi thanh xuân của tôi Núi rừng ở sau lưng Thành phố ở trước mặt Tôi đang đi từ trước mặt về sau lưng ” Và những người trẻ tuổi ấy thực hiện khát vọng thay đổi quê hương mình, làm đẹp thêm văn hóa quê hương mình bằng hai cách: Din như con chim bay cao bay xa, bay qua bản làng để đón những tầm nhìn mới thì Duân lại ở quê hương, vừa tiếp nhận dần dần văn hóa mới, vừa cố gắng đẩy
lùi những tập tục cũ, lạc hậu (Ngải đắng ở trên núi)
Nói tóm lại, bằng cái nhìn mới mẻ mà không kém phần sâu sắc của mình, Đỗ Bích Thúy đã cho người đọc thấy quan niệm nghệ thuật về con người đầy tính nhân văn và tiến bộ trong những sáng tác viết về người miền núi Tây Bắc Có lẽ cái gốc
rễ là những nét đẹp văn hóa truyền thống, cái nền tảng văn hóa trong tâm hồn họ chính là được hun đúc lên bởi núi rừng, bởi những lời ăn nếp nghĩ, bởi những phong tục truyền từ ngàn đời nên dẫu là kiểu người với những nét văn hóa truyền thống hay kiểu người của thời đại mới thì trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy, người đọc vẫn thấy được niềm tin bất diệt vào những gì tốt đẹp của cuộc sống
Mỗi một nhà văn muốn thành công đều cần một quan điểm sáng tác Có thể nói đó là ngọn hải đăng soi đường để mỗi nhà văn có thể tránh những đảo đá ngầm của cuộc sống, để biết đâu là phương hướng đến mỗi khi chông chênh Với Đỗ Bích
Trang 36Thúy thì quan điểm sáng tác của chị giản dị, chân thành mà thiết nghĩ, cũng là quan điểm, là mục đích của mỗi nhà văn tiến bộ Viết để trải lòng mình, viết vì một sự thôi thúc, viết để tri ân, để trả nghĩa mảnh đất và con người Tây Bắc Xin dẫn lại
lời chị trong bài trả lời phỏng vấn Nếu làm độc giả thất vọng tôi thà cũ kỹ đăng trên
eVan để thấy rõ điều đó: “tôi luôn bị thúc ép một cách vô hình, rằng mình còn đang
nợ nơi sinh thành ra mình một món nợ rất lớn Và nhất định, bằng tất cả sức lực và trí tuệ, mình phải tìm cách trả được” Viết để trải lòng mình nên mỗi trang văn của
Đỗ Bích Thúy là một trang ăm ắp tình cảm nồng ấm, yêu thương trân trọng và cả sự biết ơn cho con người cùng đất nơi đây Vậy nên, dẫu là ở hình ảnh những nhân vật
có mang trong mình những đặc điểm tính cách, suy nghĩ và hành động tiêu cực thì bên trong sâu thẳm vẫn không mất đi vẻ giản dị, mộc mạc, nét đẹp thuần khiết như nước suối đầu nguồn – dẫu chỉ ẩn chứa, chỉ bộc lộ trong những cảnh huống đặc biệt lắm Viết để trải lòng mình nên dù một hình ảnh thiên nhiên hay cả một bức tranh nghệ thuật thì Đỗ Bích Thúy vẫn cho người đọc thấy niềm tự hào, sự gắn bó tha thiết của chị với mảnh đất ấy Và có lẽ vì thế mà người đọc thấu hiểu những tâm sự
trong bài trả lời phỏng vấn Viết trong những mong manh khi chị nói “Sở dĩ thôi
không ngừng viết về miền núi vì đó là mảnh đất của tôi, mỗi khi viết về nó, đắm chìm trong thế giới ấy, tôi lại như người đi xa được trở về nhà, nhìn thấy đàn gà khi mình đi thì mới nở và khi mình về thì chúng đã trở thành những chú gà trống sặc sỡ Cái tâm trạng ấy, nói thực lòng, tôi chưa bao giờ cảm thấy khi viết về một đề tài khác, mảnh đất khác”
Cùng viết về đề tài miền núi nhưng Đỗ Bích Thúy đã sớm ý thức rất rõ con đường đi riêng của mình Chị có quan niệm sâu sắc về chỗ đứng và cách nhìn của nhà văn về điều này Như ai đó cho rằng, nếu các nhà văn như Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Ma Văn Kháng viết về đề tài miền núi là người khách nhìn nhận, đánh giá bằng con mắt khách quan thì Đỗ Bích Thúy là người trong cuộc nhìn nhận, đánh giá bằng ánh mắt vừa của người trong cuộc, người từng sống, từng trải qua và chưa bao giờ vợi bớt lòng yêu thương Chị không ngần ngại khi dám so sánh về tâm thế, về quan điểm sáng tác với các nhà văn khác cùng viết về đề tài miền núi Chị nói:
Trang 37“Một nhà văn miền xuôi lên viết về đề tài miền núi sẽ khác hơn một nhà văn ở đó mấy năm và viết về miền núi, lại càng khác hơn người sinh ra ở đó viết về nơi ấy Nếu những nhà văn miền xuôi viết thành công về đề tài miền núi với tâm thế của người miền xuôi thì tôi lại khác Tôi muốn là người trong cuộc để viết thật tự nhiên
về cuộc sống và con người vùng cao quê tôi.” (Điểm tựa và đích đến của một cây
bút nữ) Và không thể phủ nhận, một nhà văn gốc gác là người miền núi cũng sẽ có
cách cảm, cách thể hiện khác hơn, sẽ khó cái tâm trạng vừa cảm thấy mới lạ, háo hức, bất ngờ Cũng trong bài viết đó, chị chia sẻ : “Họ viết về chính họ, những cái
đã tồn tại, ăn sâu vào văn hóa của họ bao đời nay Còn tôi là người miền xuôi nhưng sinh ra và lớn lên giữa những người miền núi Tôi hiểu họ nhưng không phải là họ
Có lẽ vì vậy mà đối với mình, những nét văn hóa vùng cao vừa thấy nhớ, vừa thấy đặc sắc, vừa thấy lạ” ( )
Không phải dựng lại không gian văn hóa Tây Bắc trên trang sách cũng không phải chỉ bộc lộ những nét riêng biệt như một nét đặc trưng khu biệt của văn hóa cộng đồng mình mà trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy, cái văn hóa ấy được lồng trong một tình cảm tha thiết, mãnh liệt Vậy nên, dù là sự vật, hiện tượng, dù một con người hay một phong tục văn hóa thì Đỗ Bích Thúy cũng tái hiện nó qua lăng kính đầy màu sắc yêu thương của nỗi nhớ nhung Thế nên, thiên nhiên trong tác phẩm chị như có hồn, từ vách núi đá dựng đứng hiểm trở, từ vực thẳm âm u đầy đe dọa, từ những cơn thác lũ đến tảng đá, gốc cây, dòng suối đều mang mang một nỗi buồn man mác như tơ vương Và ở mỗi hình ảnh con người, mỗi thân phận, cuộc đời đều là tình yêu thương con người của chị Đỗ Bích Thúy đã có lần thổ lộ chân thành mà như bộc lộ, thể hiện rõ quan điểm sáng tác của mình: “văn chương (dù là một truyện ngắn hay một đoản văn) phải mang trong nó những ẩn ức về cuộc đời,
về thân phận, và những tác phẩm văn học nghệ thuật ở lại với người thưởng thức lâu nhất bào giờ cũng là những tác phẩm đi sâu vào số phần người, đánh thức lòng nhân ái, trắc ẩn trong họ, lay động được phần tình cảm sâu kín nhất trong tâm hồn
họ” (Nhà văn Đỗ Bích Thúy: Chúng tôi khép kín và… thận trọng hơn An ninh thế
giới cuối tháng 12/05/2010)
Trang 38“Một nhà văn đi trước đã nói với tôi rằng: “Với một người mới sáng tác phải luôn luôn dựa vào cảm xúc, với một người viết chuyên nghiệp phải biết tạo ra cảm xúc cho mình” (11) Tạo ra cảm xúc cho riêng mình hay tạo ra cho mình một miền yêu thương, một nơi chứa cả tâm hồn và tình cảm Có lẽ Đỗ Bích Thúy không phải vay mượn, tìm tòi bởi tình cảm sâu thẳm trong tâm hồn một nghệ sĩ của chị đã có không thiếu một cung bậc cảm xúc yêu thương, nhớ nhung đến đắm đuối vùng đất, nét đẹp văn hóa của vùng đất và những con người Tây Bắc
Trang 39Chương 2 BẢN SẮC VĂN HÓA TÂY BẮC TRONG NỘI DUNG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY
Thiên nhiên đã đi vào văn học nghệ thuật như một hình tượng thẩm mỹ đầy gợi cảm Từ Thần thoại Hi Lạp đến Sử thi Ấn Độ, từ Kinh Thi của Trung Quốc đến
ca dao, tục ngữ Việt Nam… đâu đâu chúng ta cũng thấy hình ảnh của thiên nhiên Lúc thì dữ dội, mạnh mẽ đến cùng tận, ẩn chứa trong mình cả một sức mạnh thần bí của thần linh, lúc đầy tâm địa xảo trá và tàn độc như thứ kẻ thù số một của con người, một thứ trở lực bắt buộc nhưng không dễ gì vượt qua, chiến thắng để con người tồn tại Lúc lại dịu dàng đằm thắm như tình mẹ, như tình yêu lứa đôi nuôi dưỡng cả thể xác lẫn tâm hồn những con người Khi là một vẻ đẹp như ẩn chứa trong chính con người để khám phá, tự tìm hiểu, lúc lại là vẻ đẹp, chuẩn mực về cả thể xác lẫn tâm hồn để con người hướng tới Có lẽ, phải khẳng định rằng, trong văn học chưa bao giờ và không bao giờ có thể thiếu những hình ảnh thiên nhiên Đó là đối tượng khơi gợi cảm xúc thẩm mỹ, đó là đối tượng để gửi gắm tâm tư tình cảm
Đó là ngoại cảnh nhưng cũng chính là để thể hiện nội tâm
Con người không thể tách rời thiên nhiên, nhưng có lẽ, một lúc nào đó, con người hiện đại lại quên mất đi rằng, chúng ta đang sống giữa thiên nhiên chứ không phải chỉ vây bọc bởi khoa học, công nghệ Vậy nên, ít nhiều những nhà văn đương đại dường như quá mải mê khám phá thế giới nội tâm con người mà trong tác phẩm vắng bóng hoặc không đưa được hình tượng thẩm mỹ đầy gợi cảm này vào sáng tác của mình Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, không phải nhà văn nào, nhất là những người trẻ lại được gắn với thiên nhiên, hòa vào thiên nhiên, nhất là một thiên nhiên còn mang đủ vẻ hoang sơ, thuần chất nhất như Đỗ Bích Thúy Cả quãng thời gian tuổi thơ ấu, cả quãng thời gian khi vừa lớn lên trong nhận thức… chị gắn với núi, với rừng, với suối, với gió, với mây… của “đỉnh trời” nên những hình ảnh thiên nhiên đó đã như ngấm vào từng mao mạch trong huyết quản, ngấm vào từng tế bào trong cơ thể Vậy nên, trong sáng tác của chị, hình ảnh thiên nhiên gần gũi và thân
Trang 40thuộc Và như chúng tôi đã nói, đó là phương tiện, đối tượng để chị trải lòng và cũng là đối tượng gợi lên trong những trang văn chị, một tình yêu tha thiết, nồng nàn! Thiên nhiên trong truyện ngắn của chị vừa hùng vĩ, dữ dội mà vừa lãng mạn,
mơ mộng Hẳn đó không phải hai cung bậc khác nhau, hai trạng thái khác nhau mà chỉ là những khía cạnh khác nhau trong một vẻ đẹp rất riêng của mảnh đất chị yêu quý
2.4.1 Thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội
Không gian thiên nhiên Tây Bắc luôn hiện lên trong văn học với vẻ đẹp hùng
vĩ, dữ dội Truyện ngắn của Thế Lữ, Lan Khai cho người đọc cái cảm giác choáng ngợp trước không gian rộng lớn, kì vĩ và rùng rợn, sự bí hiểm của núi, của sông, của
những hang động như chỉ có trong truyền thuyết Đọc Sông Đà của Nguyễn Tuân,
với hình ảnh con sông Đà thôi và những thành vách, những ghềnh thác trên đường
đi, trên dòng chảy của nó, người đọc chắc cũng rùng mình, lạnh toát khi nghĩ đến sự hùng vĩ và hung bạo của nó Thiên nhiên Tây Bắc là thế, đẹp đấy, nhưng là cái đẹp
hùng vĩ và không kém phần dữ dội Tác giả của Vang bóng một thời đã cay nghiệt
mà gọi nó mang tâm địa “thứ kẻ thù số một của con người” Trong con mắt của người lính Tây Tiến, thì cái ấn tượng để lại trong tâm trí họ là “Dốc lên khúc khuỷu,
dốc thăm thẳm/ Heo hút cồn mây súng ngửi trời” (Tây Tiến – Quang Dũng)…
Nhưng, có lẽ từ Thế Lữ, Lan Khai, Nguyễn Tuân, Quang Dũng hay đến Nguyễn Huy Thiệp… thì thiên nhiên Tây Bắc đối với họ là một thứ gì đó lạ lẫm, kì bí cần phải khám phá, một thứ mang đến cảm giác lạ và mạnh cho tác giả và độc giả Đỗ Bích Thúy lại khác, thiên nhiên Tây Bắc vừa lạ vừa quen, vừa mới mẻ, vừa thân thuộc… và hơn hết, trong mỗi cảnh sắc ấy đều chứa đựng một xúc cảm mạnh mẽ, một tình yêu tha thiết của chị với mảnh đất chôn rau cắt rốn
“Khắp vùng cực bắc này, nhìn phía nào cũng thấy núi Núi cao ngang mây trên trời nhiều như sao trên sông ngân hà, ngửa cổ đếm mỏi miệng, mỏi cổ không hết” (63; tr.73) Núi và núi, trùng điệp núi, lớp lớp núi… đó là đặc trưng của vùng đất nơi đây “Núi chồng lên núi, nhấp nhô như răng cưa” (63; tr.74) Núi non tạo nên một không gian cao rộng, kì vĩ và như là rợn ngợp Những bản làng ba mặt giáp