1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyền thông về mất cân bằng giới tính khi sinh trên báo in ( khảo sát báo gia đình và xã hội, phụ nữ việt nam và phụ nữ thủ đô từ tháng 6 2012 tháng 6 2014)

139 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phiếu điều tra, phân tích số liệu từ tổng điều tra dân số để tìm ra nguyên nhân của thực trạng MCBGTKS ở Việt Nam và khuyến nghị các chính sách như giải quyết việc phân biệt đối xử với t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN VIỆT QUỲNH

TRUYỀN THÔNG VỀ MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH TRÊN BÁO IN

(Khảo sát báo Gia đình và Xã hội, Phụ nữ Việt Nam và

Phụ nữ Thủ đô từ 6/2012 - tháng 06/2014)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ

Chuyên ngành: Báo chí học

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN VIỆT QUỲNHTRUYỀN THÔNG VỀ MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH TRÊN BÁO IN

(Khảo sát báo Gia đình và Xã hội, Phụ nữ Việt Nam và

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Tiến sỹ Lê Cảnh Nhạc Các thông tin, số liệu được sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và xác thực

Các kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được công bố trong công trình khoa học nào trước đây

Tác giả

Nguyễn Việt Quỳnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn TS Lê Cảnh Nhạc, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Sự chỉ dẫn, góp ý tận tình, cùng những lời nhắc nhở, động viên của thầy đã giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô tại Khoa Báo chí – Truyền thông, Trường ĐH KHXH&NV – ĐH QGHN, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ

Tôi cũng xin được trân trọng cảm ơn các phóng viên, nhà báo Nguyễn Ngọc Đức (Phó Tổng biên tập báo Gia đình & Xã hội), Trần Tuấn Linh (Tổng thư ký tòa soạn báo Gia đình & Xã hội), Nguyễn Thu Hà (Phó ban Hôn nhân

& Gia đình Báo Phụ nữ thủ đô), Nguyễn Văn Hải (Phó trưởng đại diện Báo Tuổi Trẻ TP.HCM tại miền Bắc), Nguyễn Lan Anh (báo Tuổi Trẻ), Võ Thu (báo Gia đình và Xã hội), Nguyễn Tiến Hưng (báo An ninh thủ đô), Nguyễn Hằng (báo Lao động), nhà báo Nguyễn Trọng Tùng (báo Kinh tế và Đô thị)

và bà Đặng Thị Bích Thuận – Vụ phó Vụ Truyền thông giáo dục, Tổng cục DS-KHHGĐ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn thạc sĩ này

Tôi xin chân thành cảm ơn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10

7 Kết cấu luận văn 11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG BÁO CHÍ VÀ GIỚI TÍNH KHI SINH 12

1.1 Báo chí và chức năng của báo chí 12

1.1.1 Các khái niệm 12

1.2 Đặc điểm, nguyên nhân và hệ luỵ của mất cân bằng giới tính khi sinh 13

1.2.1 Các khái niệm 13

1.2.2 Đặc điểm, nguyên nhân và hệ lụy 17

1.3 Lý thuyết về giới và phát triển 22

1.4 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về bình đẳng giới và kiểm soát thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh 23

1.5 Báo chí với công tác truyền thông về dân số và vấn đề MCBGTKS 25

1.5.1 Tăng cường phổ biến, giáo dục chính sách pháp luật 25

1.5.2 Nâng cao hiệu quả thông tin cho lãnh đạo các cấp 25

1.5.3 Nâng cao hiệu quả các hoạt động truyền thông 26

Tiểu kết chương 1 27

Chương 2: THỰC TRẠNG PHẢN ÁNH TRÊN BÁO IN VỀ VẤN ĐỀ MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH 29

2.1 Giới thiệu khái quát 3 tờ báo khảo sát 29

Trang 6

2.1.1 Báo Gia đình và Xã hội 29

2.1.2 Báo Phụ nữ Việt Nam 32

2.1.3 Báo Phụ nữ thủ đô 33

2.2 Thực trạng phản ánh vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh trên báo Gia đình và Xã hội, Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ thủ đô từ 6/2012 đến tháng 6-2014 .35

2.2.1 Nội dung thông tin 35

2.2.2 Hình thức thông tin 50

2.3 Đánh giá mặt được và chưa được của báo chí trong truyền thông kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh 59

2.3.1 Nội dung 59

2.3.2 Hình thức 62

2.4.Khảo sát ý kiến độc giả về hiệu quả thông tin vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh trên báo in 64

Tiểu kết chương 2 72

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG TRÊN BÁO IN VỀ VẤN ĐỀ KIỂM SOÁT MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH 74

3.1 Nâng cao chất lượng nội dung truyền thông 74

3.2 Đổi mới hình thức thể hiện 75

3.3.Đổi mới cách tiếp cận, khai thác thông tin 76

3.4.Ngành Dân số, Y tế cần chủ động tổ chức cung cấp thông tin về MCBGTKS 77

3.5 Nhóm giải pháp phối hợp 77

3.6 Đầu tư nguồn lực 81

3.6.1 Đầu tư nguồn lực về công nghệ 81

3.6.2 Đầu tư nguồn lực về nhân sự 81

Tiểu kết chương 3 84

Trang 7

TSGTKS – Tỉ số giới tính khi sinh TTĐC – Truyền thông đại chúng UBND - Ủy ban nhân dân

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.2.1.1 Số lượng tin, bài của các tờ báo được khảo sát về vấn đề

MCBGTKS trong 2 năm 36

Bảng 2.4.1 Tần suất độc giả đọc tin bài về vấn đề MCBGTKS trên báo in: 65

Bảng 2.4.2 Đánh giá của công chúng về việc chuyển tải thông tin về vấn đề MCBGTKS trên báo in: 66

Bảng 2.4.3 Đánh giá sự hài lòng của công chúng về việc chuyển tải thông tin về vấn đề MCBGTKS trên báo in: 67

Bảng 2.4.4 Nguyên nhân dẫn đến MCBGTKS: 68

Bảng 2.4.5 MCBGTKS ảnh hưởng đến gia đình, xã hội: 69

Bảng 2.4.6 Sự lựa chọn của công chúng 70

Bảng 2.4.7 Ý kiến công chúng về các biện pháp nâng cao hiệu quả truyền thông kiểm soát MCBGTKS: 70

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS) là vấn đề mang tính toàn cầu tác động nghiêm trọng đến cơ cấu dân số ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, được các quốc gia và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc rất quan tâm MCBGTKS ở Việt Nam xảy ra muộn hơn so với một số nước khác

có nền văn hóa tương đồng với Việt Nam, nhưng diễn biến với tốc độ nhanh Xuất hiện từ năm 1999 ở nước ta nhưng đến năm 2006, vấn đề MCBGTKS mới trở nên “nóng” Từ năm 2006 đến nay, tỉ số giới tính khi sinh (TSGTKS – số trẻ trai trên 100 trẻ gái) luôn trong xu hướng tăng và tăng mạnh; có năm tăng tới 1 điểm phần trăm – tức là gấp 10 lần so với trước đây và hiện nay là 113/100 [43] Vấn đề này hiện được Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo ngành Dân số triển khai quyết liệt các giải pháp nhằm kiểm soát MCBGTKS; sớm đưa về mức sinh học bình thường Theo Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân

“Tình trạng MCBGTKS nếu không được can thiệp một cách quyết liệt sẽ để lại hệ lụy nặng nề trong tương lai, không chỉ về mặt xã hội mà còn cả về mặt kinh tế, an ninh chính trị và trật tự xã hội…” Các chuyên gia về lĩnh vực này

đã dự báo nếu không can thiệp mạnh để làm giảm TSGTKS, Việt Nam sẽ “dư thừa” khoảng 2,3 đến 4,3 triệu nam giới trong tương lai [41]

Để kiểm soát TSGTKS có hiệu quả và bền vững, trong những năm qua Ban tuyên giáo Trung ương đã phối hợp với Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) định kỳ cung cấp thông tin về giới tính khi sinh trong các cuộc giao ban báo chí với đại diện lãnh đạo các báo để kịp thời đăng tin, thông điệp và định hướng tuyên truyền liên quan đến giới tính khi sinh Bên cạnh đó còn tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, bộ, ngành liên quan (Cục Báo chí, Bộ thông tin – truyền thông; Vụ Báo chí, Ban tuyên giáo Trung ương…) trong việc chấn chỉnh các cơ quan báo chí, nhà xuất bản về tuyên

Trang 10

truyền, phổ biến các phương pháp và kỹ thuật về lựa chọn giới tính Tổng cục DS-KHHGĐ hàng năm đều ký kết các chương trình hợp tác truyền thông với nhiều bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội như Bộ Công An, Bộ Quốc phòng, Hội Nhân dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam…

Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, các phương tiện truyền thông hiện đại đang là công cụ tốt nhất để giúp cho báo chí truyền tải một lượng thông tin khổng lồ đến với công chúng Trước sự phát triển mạnh mẽ của báo in, báo điện tử, các trang mạng xã hội, ở Việt Nam, báo in đến nay vẫn là phương tiện truyền thông đại chúng hết sức quan trọng trong việc truyền tải những thông tin thời sự đến với đông đảo công chúng Đặc điểm nổi bật của báo in chính là tính công khai và sự lan tỏa nhanh chóng, rộng khắp Sự phản ánh và phân tích, mổ xẻ đối với thông tin thời sự, những sự kiện diễn ra hàng ngày, hàng giờ trên toàn thế giới và trên cả nước luôn có tác động với bạn đọc

Kiểm soát MCBGTKS hiện nay là vấn đề quan trọng của quốc gia trong thời kỳ khoa học – kỹ thuật phát triển, thời kỳ công nghệ số Vì vậy, công tác truyền thông, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi trong công tác DS-KHHGĐ, nhất là giảm thiểu MCBGTKS càng phải được chú trọng Tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn đề MCBGTKS được đề cập trên báo chí chưa được quan tâm nhiều

Từ lý do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Truyền thông trên báo in về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh” (Khảo sát Báo Gia đình và

Xã hội, Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô từ 6/2012 đến 06/2014) cho luận văn của mình

Trang 11

những năm 1980 và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước bắt đầu xuất hiện từ những năm 2000 Theo khảo sát của người thực hiện nghiên cứu này, có hai hướng đi chính khi nghiên cứu vấn đề MCBGTKS là nghiên cứu

về thực trạng và nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến thành công trong việc kiểm soát MCBGTKS

Nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân dẫn đến MCBGTKS

Nghiên cứu ngoài nước

Hầu hết các nghiên cứu về MCBGTKS từ trước đến nay cả trong và ngoài nước chủ yếu tập trung khảo sát thực trạng, nhằm tìm ra giải pháp giải quyết vấn đề từ nhiều phía

Các nghiên cứu ngoài nước thực hiện tại các vùng lãnh thổ, quốc gia như Mỹ, Châu Á, Ấn Độ, Trung Quốc xuất bản từ năm 2004 đến năm 2009

Có thể kể đến một số tác phẩm như “Tỷ số giới tính có xu hướng nhiều nam hơn nữ trong Tổng điều tra Dân số nước Mỹ năm 2000” (Douglas Almond và Lena Edlund) xuất bản năm 2008 Tài liệu này điều tra khu vực người Hàn Quốc, Trung Quốc và Ấn Độ di cư sang Mỹ, phương pháp nghiên cứu là tính toán các bảng số liệu tương quan của cuộc Điều tra dân số ở Mỹ năm 2000, qua đó xây dựng chiến lược nhằm hạn chế việc quảng cáo thương mại về các

kỹ thuật xác định giới tính trước sinh

Cũng năm 2008, nhóm tác giả Mary E John, Ravinder Kaur, Rajni Pairiwala, Saraswati Raju và Alpana Sagar xuất bản cuốn sách “Kế hoạch hoá gia đình, kế hoạch hoá về giới, tỷ số giới tính trẻ em đảo ngược ở một số huyện thuộc các bang Madhya Pradesh, Rajasthan, Himachal Pradesh, Haryana and Punjab” Cuốn sách kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính, điều tra 6.500 hộ gia đình ở các bang miền Bắc và miền Trung Ấn Độ, phòng vấn sâu 12 hộ, qua đó đã khuyến nghị nhiều chính sách có giá trị như các chương trình nâng cao giá trị trẻ em gái, hỗ trợ tiền mặt kịp thời; các chương

Trang 12

trình hướng vào tầng lớp trung lưu và các gia đình giàu có; tách bạch KHHGĐ khỏi những sáng kiến nhằm ngăn chặn lựa chọn giới tính; quy định

rõ ràng về việc phá thai sau khi siêu âm sàng lọc giới tính và phá thai không

vì mục đích đó; mở rộng các cơ sở y tế công cộng để hạn chế các cơ sở y tế tư nhân; chương trình mở rộng và nâng cao giáo dục công; chương trình nhằm bình đẳng hoá cơ hội việc làm cho nữ giới

Năm 2009, tác giả Christophe Guimoto xuất bản cuốn sách “Thời kỳ quá độ của Tỷ số giới tính ở Châu Á”, khu vực địa lý nghiên cứu là Đông Á, Nam Á và Tây Á Tác giả đã rà soát so sánh về đăng ký khai sinh hoặc các ước tính về lịch sử sinh từ các cuộc điều tra lớn và số liệu tổng điều tra Từ

đó, tác giả xây dựng các chiến lược nhằm hạn chế việc cung cấp các dịch vụ lựa chọn giới tính, các quy định của chính phủ về cấm lựa chọn giới tính và tổ chức các chiến lược truyền thông nâng cao nhận thức

Ngoài những tác phẩm trên, còn có các tác phẩm như “Nhận xét về chiến dịch chống lựa chọn giới tính và thăm dò các biện pháp đối phó trong tương lai” (Joseph, Josantony; Mattam, Matthew; Mathew, Sofy; Siradhna, Kavita; Patkar, Rohini; Kulkarni, Vidya; Radhakrishnan, E.M.), “Sự mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh và các biện pháp can thiệp phổ biến ở Trung Quốc” (Li, Shuzhuo), "Lựa chọn giới tính thông qua y học cổ truyền ở nông thôn miền Bắc Ấn Độ" (Attané l C.Z Guilmoto), "Sự thiếu hụt trẻ em gái ở Trung Quốc hiện nay" (Banister, Judith), Về chiều hướng mức sinh giảm không ngừng ở Nam Á (Basu D., A.M.) Các tài liệu trên là những nghiên cứu tại Châu Á, Ấn Độ, Trung Quốc, chỉ ra thực trạng MCBGTKS nghiêm trọng ở các nước này và đưa ra nhiều khuyến nghị như can thiệp thúc đẩy

Trang 13

Những nghiên cứu có liên quan đến tình trạng MCBGTKS ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện từ năm 2002 với nhiều tác phẩm như "Sự ưa thích con trai ở một làng quê nông thôn Việt Nam" (Danielle Bélanger), "Chế độ phụ hệ và

mô hình định cư ở nhà chồng và tỷ lệ sinh giảm ở Việt Nam" (John Bryant) Trong đó, tác giả Danielle Bélanger đã phân tích số liệu thứ cấp từ cuộc Khảo sát về Mức sống ở Việt Nam giai đoạn 1992-1993 của hơn 1.600 cặp vợ chồng trẻ trong độ tuổi người vợ 15-49 qua đó kết luận về tâm lý ưa thích con trai ở nông thôn Việt Nam Tác phẩm còn lại trong năm 2003 "Chế độ phụ hệ

và mô hình định cư ở nhà chồng và tỷ lệ sinh giảm ở Việt Nam" nghiên cứu theo hướng định tính, rà soát số liệu nhân khẩu học và nghiên cứu dân tộc học, qua đó để xuất chiến dịch truyền thông nhằm nâng cao nhận thức về giá trị bình đẳng của con gái so với con trai

Năm 2007, nhóm tác giả Tine Gammeltoft và Nguyễn Thị Thúy Hạnh xuất bản tài liệu "Tình trạng của thai nhi và những quyết định sinh tử: Vấn đề đạo đức trong việc sử dụng siêu âm ở Việt Nam", khảo sát mẫu 30 phụ nữ với các phương pháp quan sát người tham gia, phỏng vấn với câu hỏi đóng, mở, thảo luận Qua đó nhóm tác giả đã đề xuất các Chiến lược nhằm tổ chức hoặc cải thiện đào tạo cho cán bộ y tế; tập huấn nâng cao nhận thức về TSGTKS; các phương pháp nhằm tăng cường giám sát và các quy trình chuyên môn tại các cơ

sở y tế; dịch vụ tư vấn cho phụ nữ muốn sàng lọc GTKS và nạo phá thai

Ngoài ra, còn nhiều tác phẩm của các tác giả trong và ngoài nước như:

“Phân tích các thực hành y tế và chính trị-xã hội có ảnh hưởng đến Tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam” (Nguyen Pham Bang; Wane Hall; Peter Hill; Chalapati Rao), “Sự gia tăng gần đây về Tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam” (Christophe Guilmoto; Xuyen Jang; Ngô Văn Toàn), “Tỷ số giới tính khi sinh

ở Việt Nam cao: Thực tế hay chỉ là cường điệu” (Viện nghiên cứu phát triển

xã hội) Các nghiên cứu này dùng nhiều phương pháp như phỏng vấn, phát

Trang 14

phiếu điều tra, phân tích số liệu từ tổng điều tra dân số để tìm ra nguyên nhân của thực trạng MCBGTKS ở Việt Nam và khuyến nghị các chính sách như giải quyết việc phân biệt đối xử với trẻ em gái, truyền thông nâng cao nhận thức về vị thế bình đẳng của con gái đối với con trai, nâng cao nhận thức của cán bộ y tế về TSGTKS, tăng cường giám sát dịch vụ tư vấn cho phụ nữ muốn sàng lọc giới tính và nạo thai…

Báo cáo tổng quan về MCBGTKS ở Việt Nam của Tiến sỹ Dương Quốc Trọng (Tổng cục trưởng tổng cục DS-KHHGĐ) đã chỉ ra tình hình và đặc điểm của MCBGTKS ở Việt Nam, từ đó nêu ra một số nhóm giải pháp giúp khắc phục tình trạng này, trong đó có nhóm biện pháp liên quan đến truyền thông như phối hợp các cơ quan truyền thông đại chúng ở Trung ương

và địa phương nhằm tuyên truyền phản ánh tình hình về giới tính khi sinh [6] Các nghiên cứu, báo cáo như: “Mất cân đối giới tính khi sinh trong 5 năm qua

ở một số địa phương – thực trạng và giải pháp” [9], “Vai trò của hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong công tác tuyên truyền nhằm góp phần hạn chế tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” [9, tr 51], “Thực trạng và giải pháp can thiệp tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trên địa bàn tỉnh Nam Định” [9, tr 69], “Kết quả bước đầu và một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện đề án “Can thiệp giảm thiếu mất cân bằng giới tính khi sinh” tại tỉnh Bắc Ninh” [9, tr 78], “Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ khuyến khích phụ nữ và trẻ em gái góp phần giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh tại Quảng Ngãi” [9, tr 95], “Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Hà Nội – Thực trạng và giải pháp” [9, tr 105]… cũng chỉ ra tình hình MCBGTKS cụ thể của từng địa phương trong cả nước, đề xuất biện pháp giảm thiểu tình trạng này

Trang 15

Nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến thành công trong việc kiểm soát MCBGTKS

Trong các nghiên cứu về MCBGTKS ở ngoài nước, chúng tôi tách riêng các nghiên cứu tại Hàn Quốc do đến thời điểm này đây là quốc gia duy nhất thành công trong việc đưa TSGTKS trở về mức cân bằng tự nhiên Tình trạng MCBGTKS ở Hàn Quốc diễn ra và lên đến đỉnh điểm vào năm 1990 khi TSGTKS là 116 trẻ trai/100 trẻ gái, nhưng đến năm 2010 thì tỷ số này đã ở mức 106 trẻ trai/100 trẻ gái

Tài liệu nghiên cứu sớm nhất tại Hàn Quốc do nhóm tác giả Park, Chai Bin, Cho Nam-Hoon thực hiện năm 1995 về tình trạng MCBGTKS ở Hàn Quốc giai đoạn này "Hậu quả của tập quán chuộng con trai ở xã hội có mức sinh thấp: Mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh ở Hàn Quốc Tài liệu này đã trở thành cơ sở để thời gian tiếp theo Hàn Quốc áp dụng các biện pháp kiềm chế MCBGTKS Năm 2007, khi các biện pháp kiểm soát MCGTKS tại Hàn Quốc đã phát huy tác dụng, nhóm tác giả Chung Wonchin và Gupta Das đã thực hiện nghiên cứu "Tại sao sự ưa thích con trai ở Hàn Quốc giảm đi? Vai trò của sự phát triển, chính sách công" đã sử dụng loại hình nghiên cứu định lượng với 7.000 phụ nữ Hàn Quốc từ 15 đến 49 năm 1991 và 6.500 phụ nữ năm 1993, phương pháp nghiên cứu tần suất và kiểm định thống kê chi bình phương, phân tích hồi quy đa biến, đơn biến; phương pháp phân tách dữ liệu Nghiên cứu đề xuất các can thiệp thúc đẩy bình đẳng giới; các chiến dịch tuyên truyền rộng lớn nhằm nâng cao giá trị của trẻ em gái; chiến lược chỉnh sửa hệ thống luật pháp; tài trợ các tổ chức của phụ nữ tuyến cơ sở; chính sách

hỗ trợ tài chính khi nuôi con gái Năm 2011, tác giả Chun Heeran đã mang tới Hội thảo Quốc tế về mất cân bằng TSGT những kinh nghiệm của Hàn Quốc khi ứng phó với tình trạng này, được trình bày trong báo cáo: "Thay đổi TSGTKS và mức độ phổ biến Bằng chứng từ Hàn Quốc"

Trang 16

Nghiên cứu về truyền thông báo chí về vấn đề MCBGTKS

Trên đây là những nghiên cứu khảo sát thực trạng MCBGTKS ở trong

và ngoài nước Tuy nhiên các nghiên cứu về truyền thông báo chí quan tâm đến lĩnh vực này còn hạn chế Trong báo cáo “Báo cáo công tác tuyên giáo với việc giải quyết vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” trình bày tại Hội thảo quốc gia về mất cân bằng giới tính khi sinh, Ban Tuyên giáo tỉnh Vĩnh Phúc đã chỉ ra những biện pháp tuyên truyền như chỉ đạo các phương tiện thông tin đại chúng làm tốt công tác tư tưởng, tổ chức Hội thảo về vấn đề này, kêu gọi sự chung tay của các cấp, các ngành đoàn thể

để tăng cường công tác tuyên truyền… và đưa ra một số kết quả đạt được, hạn chế được tình trạng gia tăng MCBGTKS tiến tới ổn định TSGTKS trên địa bàn [9, tr 90]

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân khoa Báo chí, chuyên ngành Báo in – Học viện Báo chí và tuyên truyền của tác giả Lê Mai Hạnh (2012) với đề tài:

“Báo in tham gia kiểm soát mất cân bằng giới tính ở Việt Nam hiện nay” đã phân tích và mô tả được thực trạng và vai trò của báo chí trong vấn đề kiểm soát MCBGTKS ở Việt Nam hiện nay Khóa luận đã tiếp cận lý thuyết về chức năng báo chí truyền thông trong việc phản ánh thông tin, định hướng dư luận, nâng cao nhận thức chuyển đổi hành vi, đáp ứng nhu cầu kiểm soát MCBGTKS ở Việt Nam hiện nay, qua đó thể hiện được rõ chức năng và vai trò của báo chí [3]

Qua tổng kết lịch sử vấn đề có thể thấy, từ trước đến nay chưa có đề tài nghiên cứu chuyên sâu nào về truyền thông trên báo chí về mất cân bằng giới tính khi sinh Do đó, tôi quyết định chọn đề tài này để triển khai nghiên cứu

Trang 17

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích

- Nghiên cứu thực trạng phản ánh vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh

trên báo in, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông về vấn

đề này trên báo in

Nhiệm vụ

- Hệ thống hóa lý luận về báo chí, truyền thông về MCBGTKS; đường lối,

chủ trương của Đảng, Nhà nước về kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh; phân tích vai trò, trách nhiệm của báo chí trong truyền thông nâng cao nhận

thức về mất cân bằng giới tính khi sinh

- Khảo sát thực trạng truyền thông trên báo in về MCBGTKS thông qua các

tờ báo Gia đình và Xã hội, Phụ nữ Việt Nam và Phụ nữ Thủ đô từ 6/2012 đến tháng 06/2014) nhằm làm rõ những ưu điểm, hạn chế về nội dung, hình thức của các tác phẩm báo chí trong truyền thông về mất cân bằng giới tính khi sinh Đánh giá mức độ, hiệu quả tác động của báo chí về vấn đề này qua điều tra công chúng

- Đề xuất một số giải pháp khắc phục tồn tại và phát huy vai trò, hiệu quả của báo in trong truyền thông về MCBGTKS

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về vấn đề truyền thông trên báo in vấn đề MCBGTKS

- Phạm vi: Đề tài tập trung khảo sát 3 tờ báo: Báo Gia đình và Xã hội, Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô từ 6/2012 - tháng 06/2014

5 Phương pháp nghiên cứu

+ Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm học thuyết Mác – Lê

nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về vai trò, tính chất và nhiệm vụ của báo chí Luận văn còn sử dụng một số lý thuyết về báo chí học và xã hội học truyền thông đại chúng của các

Trang 18

tác giả trong và ngoài nước làm cơ sở nghiên cứu nhằm khái quát, bổ sung hệ thống lý thuyết về nghiên cứu báo chí trong hoạt động truyền thông; phân tích văn bản để xây dựng hệ thống lý thuyết hoạt động báo chí về truyền thông kiểm soát MCBGTKS; so sánh và khảo sát, thống kê, tổng hợp, phân tích các tác phẩm báo chí về về truyền thông kiểm soát MCBGTKS, từ đó rút ra những kết luận khoa học cần thiết cho đề tài Trong 2 năm, luận văn đã nghiên cứu 560 số báo Gia đình và Xã hội, 520 số báo Phụ nữ Việt Nam, 140

số báo Phụ nữ Thủ đô Các tin, bài được khảo sát là tất cả các tin, bài có chứa cụm từ “mất cân bằng giới tính khi sinh” Trong phạm vi nghiên cứu của một luận văn thạc sỹ, tác giả đã tập trung nghiên cứu yếu tố thông điệp của quá trình truyền thông về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh mà các tờ báo in được lựa chọn khảo sát mang đến cho độc giả, qua đó góp phần thay đổi nhận thức của độc giả

+ Lấy ý kiến công chúng bằng bảng hỏi (300 phiếu) để thu thập những nhận xét, đánh giá của công chúng về những vấn đề liên quan đến đề tài

+ Phỏng vấn sâu đối với các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà quản lý, cán bộ dân số nhằm đánh giá ưu, nhược điểm, xác định giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động báo chí trong truyền thông kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: Từ góc nhìn báo chí và xã hội học truyền thông đại chúng soi chiếu vấn đề mới xuất hiện ở Việt Nam: Thực trạng phản ánh về MCBGTKS

- Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá thực trạng truyền thông về MCBGTKS, qua

Trang 19

Với các cơ quan chủ quản: Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò quan trọng của báo chí với việc truyền thông kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh để tăng cường sự chỉ đạo, định hướng, quản lý; tạo mọi điều kiện thuận lợi để các cơ quan báo chí vào cuộc một cách hiệu quả; có hình thức sử dụng báo chí hiệu quả trong hoạt động kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh

Với các cơ quan báo chí: Thấy rõ những ưu điểm, những tồn tại, từ đó

đề ra các phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin, hình thức thể hiện nhằm truyền thông tốt nhất về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh

Với đội ngũ phóng viên: Nâng cao ý thức trách nhiệm của người cầm bút với tờ báo và công chúng; trách nhiệm của báo chí trước xã hội

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba

chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về báo chí và giới tính khi sinh

trong cơ cấu dân số

Chương 2: Thực trạng truyền thông về vấn đề mất cân bằng giới tính khi

sinh trên báo in

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông trên báo in về vấn đề

kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh

Trang 20

Cũng là những kênh TTĐC, nhưng do tính chất và đặc trưng vốn có của mình, báo chí chiếm vị trí trung tâm, nền tảng và có vai trò chi phối, quyết định khuynh hướng, sức mạnh TTĐC nói chung Do đó, trong nhiều trường hợp, người ta dùng khái niệm báo chí để chỉ các phương tiện TTĐC, và ngược lại, khi nói TTĐC thì trước hết và chủ yếu cũng nói đến báo chí [1,5]

Báo in

Trang 21

kiện và vấn đề thời sự, phát hành rộng rãi và định kỳ nhằm phục vụ công chúng, nhóm đối tượng nào đó với mục đích nhất định” [2, 101]

Báo in là hình thức truyền thống và lâu đời nhất của báo chí

1.2 Đặc điểm, nguyên nhân và hệ luỵ của mất cân bằng giới tính khi sinh

1.2.1 Các khái niệm

Để tìm hiểu về vấn đề truyền thông về mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS) trước hết phải thống nhất khái niệm Chúng tôi xin được giới thiệu một số khái niệm cơ bản, thường được sử dụng khi đề cập đến vấn đề này

Giới (Sex)

Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới WHO, “Giới là sự khác nhau giữa nam giới và nữ giới dựa trên những mong đợi, giá trị và chuẩn mực xã hội”

Sự khác nhau giữa con trai và con gái không phải xuất phát từ sự khác biệt trong sinh lý, giải phẫu hay năng lực của con trai và con gái mà hoàn toàn

là dựa trên sự mong đợi của xã hội, sự đánh giá của xã hội về năng lực và giá trị khác nhau của con trai và con gái Tương tự như vậy, con trai thường được hưởng nhiều quyền lợi trong gia đình hơn con gái do con trai được coi trọng hơn Chính sự mong đợi và đánh giá khác nhau này là nguồn gốc của bất bình đẳng giới trong xã hội

Giới tính (Gender)

Cũng theo WHO, định nghĩa về giới tính được hiểu như sau:

“Giới tính là sự khác nhau giữa nam và nữ về mặt sinh học Giới tính là một khái niệm khoa học ra đời từ môn sinh học, chỉ sự khác biệt giữa nam và

nữ về mặt sinh học Sự khác biệt này chủ yếu liên quan tới quá trình sinh đẻ

và di truyền nòi giống Con người khi sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính (nam hay nữ)”

Trang 22

Giới tính khi sinh là chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học của trẻ em khi sinh

Tỷ số giới tính (Sex Ratio)

Nếu phân chia toàn bộ dân số thành hai bộ phận là dân số nam và dân

số nữ thì có cơ cấu dân số theo giới tính Trong nghiên cứu dân số, tiêu thức phân chia này có ý nghĩa hết sức quan trọng Cơ cấu giới tính được xác định thông qua “Tỷ số giới tính” hay tỷ lệ nam hoặc nữ trong tổng số dân

Tỷ số giới tính được định nghĩa là số lượng nam giới trên 100 nữ giới

Kể từ năm 1960 đến nay, tỷ số giới tính của dân số Việt Nam luôn nhỏ hơn

100 Tình trạng này là do nam giới có mức tử vong trội hơn và chịu ảnh hưởng nặng nề của các cuộc chiến tranh chống xâm lược từ những năm 40 đến cuối những năm 70 của thế kỷ trước

Tỷ số (Ratio) quan hệ giữa một phân nhóm dân số này với một phân

nhóm dân số khác thuộc cùng một dân số, tức là một phân nhóm này chia cho một phân nhóm khác

Tỷ lệ (Proportion) quan hệ so sánh một phân nhóm dân số với toàn bộ

dân số, tức là một phân nhóm dân số chia cho toàn bộ dân số

Tỷ số giới tính khi sinh (Sex ratio at birth)

Tỷ số giới tính khi sinh (Sex ratio at birth – SRB) được xác định bằng

số trẻ em trai sinh ra sống trên 100 trẻ em gái sinh ra sống trong một năm

Mức sinh học bình thường được xem là cứ 100 bé gái được sinh ra sẽ

có tương ứng khoảng 103 đến 106 bé trai và nhìn chung là rất ổn định qua thời gian và không gian giữa các châu lục, quốc gia, khu vực và chủng tộc người Bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào của TSGTKS chênh lệch khỏi mức

Trang 23

TSGTKS tăng cao hoặc giảm quá thấp sẽ tác động trực tiếp đến tỷ số giới tính của các nhóm tuổi và toàn bộ dân số

+ Tỷ số giới tính khi sinh theo thứ tự sinh

Để nghiên cứu chi tiết hơn hiện trạng và sự thay đổi TSGTKS, người ta quan tâm đến các thông tin về giới tính của trẻ em theo thứ tự sinh Ở Việt Nam, TSGTKS của trẻ đầu lòng khá cao và ở tất cả các thời kỳ, nó đều cao hơn giá trị trung bình Nói chung, TSGTKS của những đứa con thứ hai đều có giá trị thấp nhất và giá trị này tăng dần theo lần sinh thứ 3 và thứ 4

Mất cân bằng giới tính khi sinh (Imbalanced sex ratio at birth)

Mất cân bằng giới tính khi sinh là số trẻ trai sinh ra còn sống cao hơn hoặc thấp hơn ngưỡng bình thường so với 100 trẻ gái MCBGTKS xảy ra khi

tỷ số giới tính nam khi sinh lớn hơn 106 hoặc nhỏ hơn 103 so với 100 trẻ nữ Theo quy ước, TSGTKS ở một vùng/thành phố từ 110 trở lên là MCBGTKS

Cơ cấu dân số (Population Structure)

Cơ cấu dân số là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác (Pháp lệnh dân số)

Có rất nhiều loại cơ cấu dân số như: Cơ cấu dân số theo tuổi, giới tính, tình trang hôn nhân, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, mức sống, thành thị nông thôn… Việc nghiên cứu cơ cấu dân số cho phép chúng ta nghiên cứu một cách tỷ mỉ và kỹ lưỡng hơn dân số của một địa phương Trong các loại cơ cấu dân số thì hai cơ cấu quan trọng nhất là cơ cấu tuổi và

cơ cấu giới tính Bởi vì cơ cấu theo tuổi và giới tính là các đặc tính quan trọng của bất kỳ nhóm dân số nào, nó ảnh hưởng đến mức sinh, mức chết, di dân trong nước và quốc tế, tình trạng hôn nhân, lực lượng lao động, thu nhập quốc dân thuần tuý, kế hoạch phát triển giáo dục và an sinh xã hội

Cơ cấu dân số theo tuổi

Trang 24

Cơ cấu dân số theo tuổi là tập hợp các nhóm người được sắp xếp theo những lứa tuổi nhất định Trong dân số học, cơ cấu theo tuổi có ý nghĩa quan trọng vì nó thể hiện tổng hợp tình hình sinh tử, tuổi thọ, khả năng phát triển dân số và nguồn lao động của một quốc gia Có hai loại cơ cấu dân số theo tuổi:

- Cơ cấu tuổi theo khoảng cách không đều nhau Với loại cơ cấu này, dân số được phân chia thành ba nhóm tuổi:

+ Nhóm dưới tuổi lao động: 0 – 14 tuổi

+ Nhóm tuổi lao động: 15 – 59 tuổi (hoặc đến 64 tuổi)

+ Nhóm trên tuổi lao động: 60 tuổi (hoặc 65 tuổi) trở lên

Số người trong nhóm tuổi lao động là nguồn nhân lực quan trọng, là vốn quý của quốc gia, cần phải sử dụng số người trong nhóm tuổi này một cách tối ưu để tạo ra sức sản xuất cao nhất cho xã hội Căn cứ vào ba nhóm tuổi trên, người ta cũng phân biệt dân số ở một quốc gia là già hay trẻ

- Cơ cấu tuổi theo khoảng cách đều nhau Với loại cơ cấu này, dân số được phân chia theo khoảng cách đều nhau: 1 năm, 5 năm hoặc 10 năm

Cơ cấu dân số theo giới

Cơ cấu dân số theo giới biến động theo thời gian và khác nhau ở từng nước, từng khu vực Thông thường ở những nước phát triển, nữ nhiều hơn nam; ngược lại, ở các nước đang phát triển, nam nhiều hơn nữ Nguyên nhân chủ yếu là do trình độ phát triển kinh tế - xã hội, do chiến tranh, do tai nạn, do tuổi thọ trung bình của nữ thường cao hơn nam và do chuyển cư Cơ cấu theo giới có ảnh hưởng đến sự phân bố sản xuất, tổ chức đời sống xã hội và hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia

Trang 25

1.2.2 Đặc điểm, nguyên nhân và hệ lụy

Đặc điểm

Theo kết quả Tổng Điều tra dân số và nhà ở năm 2009 (ĐTDS-2009),

tình trạng MCBGTKS đã xảy ra trên phạm vi cả nước (TSGTKS là 110,6/100), trong đó 45/63 tỉnh, thành phố bị MCBGTKS, thậm chí có tỉnh

như Hải Dương, Hưng Yên tỷ số này vượt trên mức 120/100

Giai đoạn năm 2010 đến năm 2012, ở nước ta tình trạng MCBGTKS

đã xảy ra ở cả khu vực nông thôn, thành thị, cả đồng bằng và miền núi Theo báo cáo năm 2011 của Tổng cục Dân số-KHHGĐ (thu thập riêng theo báo cáo của hệ thống cộng tác viên dân số) cũng phản ánh 1 xu hướng tương tự, đó là 10 tỉnh xảy ra MCBGTKS cao nhất, trong đó có 5 tỉnh đã

xảy ra MCBGTKS từ năm 2009 (Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định, Hòa Bình) và 5 tỉnh mới gia nhập, đó là (Lạng Sơn, Lào Cai, Thanh Hóa, Quảng Bình, Hậu Giang)

Kết quả của 2 cuộc Tổng Điều tra dân số năm 1979 và 1989 cho

thấy TSGTKS đều trong giới hạn bình thường (năm 1979 là 105/100, năm

Ở Việt Nam, mặc dù TSGTKS đã có dấu hiệu gia tăng từ năm 1999, tuy nhiên, bắt đầu từ 2006, tỷ số giới tính khi sinh bắt đầu tăng và trở thành thách thức lớn với công tác dân số và nỗi lo lớn với các nhà hoạch

Trang 26

định chính sách

- Về tác động của điều kiện kinh tế xã hội, theo kết quả ĐTDS-2009, các ông bố, bà mẹ có điều kiện kinh tế khá giả thì sự ưa thích và tỷ lệ sinh con trai cao hơn nhiều so với ông bố, bà mẹ có điều kiện kinh tế khó khăn Đây là thách thức lớn, bởi người càng giàu càng thích đẻ con trai, vì vậy giải pháp khuyến khích về kinh tế sẽ ít tác dụng đối với nhóm người giàu thích

đẻ con trai

Kết quả từ các cuộc Điều tra dân số hàng năm cũng cho thấy có sự chênh lệch rõ nét về MCBGTKS giữa thành thị và nông thôn, theo đó người dân thành phố ưa thích và sinh con trai nhiều hơn so với người dân ở nông thôn

Nguyên nhân

Kết quả các nghiên cứu ban đầu ở Việt Nam cho thấy, có 3 nhóm nguyên nhân dẫn tới tình trạng MCBGTKS là nhóm nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân phụ trợ Về cơ bản, nguyên nhân MCBGTKS ở Việt Nam cũng tương tự như ở một số nước và có thêm một số yếu tố đặc trưng hơn

Nguyên nhân cơ bản

Tâm lý ưa thích con trai ăn sâu trong tâm thức nhiều người Người dân Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng lạc hậu từ chế độ phong kiến và nho giáo đã bám rễ sâu ở người dân cũng như cộng đồng, đó là:

- Coi con trai là người nối dõi tông đường, gia phả dòng họ ở nhiều nơi chỉ có tên con trai, tập quán con trai thờ cúng tổ tiên, cha mẹ

- Coi đàn ông là trụ cột gia đình, con mang họ cha, con trai là người

Trang 27

- Quan niệm con trai là nơi nương tựa của cha mẹ lúc về già “trẻ cậy cha, già cậy con”

- Do thực tế cuộc sống và nghề nghiệp cần phải có nam giới tham gia nên người dân có nhu cầu phải có con trai Điển hình như các vùng biển đảo với nghề chủ yếu là đánh bắt thủy hải sản thì chỉ có con trai mới lên tàu

đi đánh bắt cá ở ngoài khơi, đối diện với nhiều thiên tai, nguy hiểm Do đó,

ở những vùng này, không những có mức sinh vẫn cao mà TSGTKS cũng bị mất cân bằng nghiêm trọng, ví dụ: TSGTKS ở tỉnh Quảng Ngãi 115,1/100, Quảng Ninh 115/100

Như vậy, nhóm nguyên nhân cơ bản chính là điều kiện “cÇn” -

điều kiện tiên quyết để tỷ số giới tính khi sinh tăng lên - tức là MCBGTKS tăng, vì nếu không có nguyên nhân này thì chắc chắn MCBGTKS không tăng lên như hiện nay

Nguyên nhân trực tiếp

Do lạm dụng tiến bộ khoa học, công nghệ y học để lựa chọn giới tính thai nhi Nhiều người vừa muốn sinh ít con vừa muốn có con trai nên đã lạm dụng công nghệ để thực hiện mong muốn này Áp dụng từ lúc trước khi

có thai, áp dụng chế độ ăn, chọn ngày phóng noãn…; trong lúc thụ thai, chọn thời điểm phóng noãn, phương pháp thụ tinh, lọc rửa tinh trùng để chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y ; sau khi có thai, siêu âm, chọc hút dịch ối để xét nghiệm phát hiện giới tính thai nhi từ sớm, nạo phá thai bé gái

Nếu như tâm lý mong muốn có con trai là điều kiện “cần” thì việc áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ trong y học lại là điều kiện “đủ” dẫn đến thực trạng MCBGTKS ở nước ta hiện nay Nói cách khác, chỉ khi có sự kết hợp hai điều kiện này mới xảy ra tình trạng MCBGTKS cao Bên cạnh đó, cũng phải thấy rằng, các dịch vụ phá thai là hợp pháp và dịch vụ này là một

Trang 28

phần nội dung của chương trình sức khỏe sinh sản được tiếp cận rộng rãi, có chi phí thấp nên hầu hết mọi người đều có thể chi trả được cũng là nhân tố

“hỗ trợ” khá lớn để kết thúc việc lựa chọn giới tính thai nhi trước khi sinh

Nguyên nhân phụ trợ

Có nhiều nguyên nhân phụ trợ dẫn tới tình trạng MCBGTKS như:

- Chính sách, pháp luật chưa đồng bộ, thiếu chính sách an sinh xã hội,

hỗ trợ đối với bé gái, gia đình sinh con một bề là gái, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi… Do chính sách an sinh xã hội chưa đảm bảo nên nhiều người già coi con trai như bảo hiểm tuổi già, là chỗ dựa cho bố mẹ khi về già

- Công tác truyền thông giáo dục thay đổi nhận thức, hành vi của người dân, của cộng đồng về việc ưa thích con trai còn hạn chế

- Công tác thanh tra, kiểm tra các sai phạm còn nhièu bất cập; khó phát hiện và khi phát hiện thì chế tài chưa đủ mạnh để xử lý với trường hợp lựa chọn giới tính thai nhi; yếu kém trong việc triển khai thực hiện quy định của pháp luật về cấm lựa chọn giới tính thai nhi nên chưa đủ sức răn đe

- Thiếu quan tâm, đầu tư và chỉ đạo của lãnh đạo, chính quyền các cấp

Từ những nguyên nhân đó dẫn đến tình trạng MCBGTKS nghiêm trọng Kết quả điều tra biến động dân số năm 2010 cho thấy, 75,2% phụ nữ 15-49 tuổi sinh con trong vòng 24 tháng trước thời điểm điều tra biết giới tính thai nhi trước khi sinh, trong đó 99% biết qua kết quả siêu âm

Hệ lụy của MCBGTKS

Năm 1999, theo tài liệu của Tổng cục DS-KHHGĐ, có 3/8 cùng địa lý kinh tế xảy ra MCBGTKS Năm 2011 chỉ còn 2/6 vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên không xảy ra MCBGTKS Lúc này TSGTKS

Trang 29

năm 2006 là 110, TSGTKS năm 2007 là 111, năm 2008 là 112,1, năm 2009 là 110,5 và thời điểm 01 tháng 4 năm 2010 là 111,2

Tình trạng gia tăng TSGTKS sẽ dẫn tới những hệ lụy khó lường về mặt

xã hội, thậm chí cả an ninh chính trị khi các thế hệ trẻ em sinh ra hôm nay bước vào độ tuổi kết hôn (ở Việt Nam, thời điểm này sẽ xảy ra vào khoảng năm 2025-2030)

Trước hết tình trạng dư thừa nam giới, thiếu phụ nữ trong độ tuổi kết hôn, có thể sẽ dẫn tới những thay đổi trong hệ thống hôn nhân và gia đình, một bộ phận nam giới có thể sẽ kết hôn muộn và nhiều người trong số hộ không có khả năng kết hôn Một giải pháp tình thế đang được một số nước như Trung Quốc, Hàn Quốc áp dụng là kết hôn với người nước ngoài (còn gọi

là nhập khẩu cô dâu) Giải pháp này đã cho thấy một số bất cập như tạo ra luồng di cư quốc tế mới, các biến thái mới của nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em gái dưới hình thức hôn nhân, đám cưới giả và trên hết là nảy sinh các xung đột quốc tế mới giữa các quốc gia “xuất khẩu cô dâu” và các quốc gia “nhập khẩu cô dâu”

Việc gia tăng TSGTKS không những không cải thiện được vị thế của người phụ nữ mà thậm chí còn làm gia tăng thêm sự bất bình đẳng giới Nhiều phụ nữ có thể phải kết hôn sớm hơn, tỷ lệ ly hôn và tái hôn của phụ nữ sẽ tăng cao Người ta quan ngại về sự bạo hành ở một xã hội khi có nhiều nam giới độc thân Ở đó tình trạng bạo hành giới, tình trạng buôn bán phụ nữ vào các

cơ sở mại dâm có thể sẽ gia tăng Vì thế TSGTKS được coi là một trong những chỉ báo quan trọng để đánh giá mức độ của bình đẳng giới trong xã hội

- Ngoài ra, do gia đình nhà chồng hoặc người chồng muốn có con trai, khi người vợ không sinh được con trai theo ý muốn, người chồng bỏ rơi hoặc

ly dị vợ; gia đình chồng ép người chồng bỏ rơi vợ, hay cặp vợ chồng đẻ được

Trang 30

con gái, cho con gái đi làm con nuôi…

Hệ lụy của MCBGTKS ở Việt Nam đã được Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân chỉ rõ “Mất cân bằng giới tính khi sinh nếu không kịp thời giải quyết sẽ để lại tai họa cho dân tộc và đất nước”

1.3 Lý thuyết về giới và phát triển

Trong nhiều năm qua, các vấn đề về giới và phát triển được quan tâm trên bình diện quốc gia lẫn quốc tế; đặc biệt là các vấn đề bình đẳng giới, nâng cao quyền năng phụ nữ, phát triển bền vững Các nhà khoa học xã hội đều thống nhất quan điểm cho rằng giới là một vấn đề của phát triển, rằng không có chiến lược phát triển nào mà không đề cập đến vấn đề giới và bình đẳng giới Quan điểm này lại càng quan trọng trong các chiến lược phát triển của các nước đang phát triển

Sự phân công lao động theo giới: Sự khác biệt giữa nam và nữ giới

trong công việc là yếu tố quan trọng trong quan hệ giới, góp phần tạo ra sự chia rẽ và đôi khi nảy sinh đối kháng giữa nam và nữ giới Sự phân công lao động theo giới có thể khác nhau trong các nền văn hoá hoặc thời đại khác nhau Điều này chứng tỏ các công việc của nam và nữ giới không do giới tính quy định mà là do bối cảnh xã hội, phong tục tập quán, giáo dục và gia đình

Nhu cầu giới: Trong các loại nhu cầu của phụ nữ (hay của dân cư nói

chung) thường phân ra 2 loại: nhu cầu thiết thực và nhu cầu chiến lược Nhu cầu thiết thực liên quan đến điều kiện sống và làm việc của phụ nữ Các nhu cầu này xuất phát từ điều kiện sống và làm việc khó khăn, thiếu thốn nguồn lực và tàu nguyên Nhu cầu chiến lược của phụ nữ xuất phát từ vị trí lệ thuộc, thiệt thòi của họ trong gia đình và ngoài xã hội Nhu cầu chiến lược là lâu dài

Trang 31

chú ý của các nhà làm chính sách Mỹ đối với khái niệm này

Phụ nữ và phát triển: Là cách tiếp cận tân mác-xít về nữ quyền mới

xuất hiện vào nửa sau của thập niên 1970 Theo cách nhìn này thì phụ nữ luôn luôn là một phần của các quá trình phát triển Xuất phát điểm của cách tiếp cận này là phụ nữ luôn là một tác nhân kinh tế quan trọng trong xã hội, công việc mà phụ nữ thực hiện trong gia đình và ngoài gia đình đóng vai trò trung tâm trong việc duy trì xã hội

1.4 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về bình đẳng giới và kiểm soát

thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

Việt Nam là một trong những nước tiến hành công tác DS-KHHGĐ từ rất sớm Tuy nhiên do chúng ta phải tiến hành song song hai nhiệm vụ rất cấp bách là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên những kết quả đạt được trong giai đoạn 1961-1991 còn thấp so với yêu cầu Năm 1993, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) đã chỉ rõ: “Sự gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển về mặt trí tuệ, văn hóa và thể lực của giống nòi Nếu xu hướng này cứ tiếp tục diễn ra thì trong tương lai không xa đất nước ta sẽ đứng trước những khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt” Như vậy, ngay từ năm 1993, Đảng ta đã xác định mối quan hệ giữa dân số và sự phát triển của đất nước, trước khi Hội nghị ICPD được tổ chức ở Cairô năm 1994, thể hiện sự sáng suốt, tầm nhìn xa trông rộng của Đảng ta

Năm 2003, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh dân số, được sửa đổi vào năm 2008, 2010 Pháp lệnh dân số chỉ rõ lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức là hành vi bị nghiêm cấm Ngày 22-3-2005, Bộ Chính trị (khóa IX) ban hành Nghị quyết số 47-NQ/TW về việc “Tiếp tục đẩy

Trang 32

mạnh thực hiện chính sách DS-KHHGĐ” Ngày 01/4/2009, Bộ Chính trị (khóa X) ban hành Kết luận số 44 KL/TW về “Kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22-3-2005 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS-KHHGĐ” Như vậy, ngay khi chưa xuất hiện tình trạng MCBGTKS, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến vấn đề lựa chọn giới tính thai nhi và những hệ luỵ của nó

Thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng, Chính phủ đã ban hành Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000, Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010 với mục tiêu chủ yếu là khống chế tốc độ gia tăng dân

số, từng bước nâng cao chất lượng dân số

Như vậy, giải quyết tốt các vấn đề dân số là một trong những quan tâm của Đảng và Nhà nước ta Vấn đề MCBGTKS bắt đầu xuất hiện và nóng lên tại Việt Nam đã ngay lập tức được Đảng và Nhà nước quan tâm và ban hành chính sách đối phó Năm 2006, Chính phủ ban hành Nghị định 114/2006-NĐ/CP do Chính phủ ban hành quy định xử phạt hành chính về dân số và trẻ

em, cụ thể là quy định về các quy tắc trong việc lạm dụng kỹ thuật cao để lựa chọn giới tính thai nhi Năm 2008, Bộ Y tế ban hành Hướng dẫn quy định về

dự án can thiệp giảm thiểu sự mất cân bằng giới tính khi sinh Năm 2009, Bộ

Y tế ban hành Công văn số 3121/BYT-BMTE về việc nghiêm cấm lạm dụng

kỹ thuật cao để lựa chọn giới tính thai nhi Năm 2010 Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định 20/2010/NĐ-CP nhằm hướng dẫn các trường hợp cụ thể về sinh con nhưng không được coi là vi phạm Pháp lệnh dân số

Có thể nói, vấn đề dân số luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đến, đây cũng là giải pháp cơ bản để đạt tới mục tiêu phát triển bền vững Đó

Trang 33

là chủ thể phát triển…” Đại hội cũng chỉ rõ quan điểm phát triển nhanh và bền vững trong Chiến lược đến năm 2020, đặt ra nhiệm vụ “Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phtas triển bền vững” [3,23]

1.5 Báo chí với công tác truyền thông về dân số và vấn đề MCBGTKS

Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được một số thành công trong công tác dân số Trong đó, công tác truyền thông đóng vai trò quan trọng nhằm chuyển đổi nhận thức, thái độ, hành vi của các cấp lãnh đạo và người dân trong việc hoàn thành các mục tiêu về dân số Khi báo chí triển khai có hiệu quả các hoạt động truyền thông với nội dung, hình thức và cách tiếp nhận phù hợp với từng vùng, từng nhóm đối tượng, chú trọng khu vực khó khăn, đối tượng khó tiếp cận; mở rộng giáo dục về DS và SKSS, MCBGTKS, tăng cường sự tham gia của đối tượng và cộng đồng trong việc lập kế hoạch, thực hiện, giám sát và phản hồi về các hoạt động truyền thông sẽ thu được hiệu quả đáng mừng

Báo chí vừa đóng vai trò giám sát thực hiện các quan điểm, chính sách, pháp lệnh về dân số, nhất là Pháp lệnh Dân số, vừa là nguồn thông tin quan trọng để phổ biến kiến thức, nâng cao kỹ năng cho công chúng trong việc giáo dục nâng cao nhận thức về giới, phát hiện những hành vi can thiệp giới tính khi sinh, nhất là các cơ sở y tế tư nhân để giúp các cơ quan y tế ngăn chặn kịp thời, cũng như nêu lên công luận để cảnh báo và ngăn chặn

1.5.1 Tăng cường phổ biến, giáo dục chính sách pháp luật

Báo chí có nhiệm vụ tăng cường phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật về DS và SKSS, đặc biệt là chính sách, pháp luật về kiểm soát MCBGTKS làm cho từng cá nhân trong các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân hiểu đúng và đủ những nội dung chủ yếu về chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực này

1.5.2 Nâng cao hiệu quả thông tin cho lãnh đạo các cấp

Trang 34

Báo chí có nhiệm vụ thường xuyên cung cấp thông tin cập nhật, có chất lượng về các vấn đề DS và SKSS, giới tính khi sinh, bình đẳng giới đến lãnh đạo các cấp, những người có uy tín trong cộng đồng nhằm tạo sự ủng hộ, cam kết mạnh hơn về chính sách, nguồn lực và tạo dư luận xã hội thuận lợi cho công tác DS và chăm sóc SKSS Chỉ khi tăng cường các cuộc tiếp xúc, trao đổi trực tiếp, trao đổi và đối thoại trên các phương tiện thông tin đại chúng với lãnh đạo đảng, chính quyền các cấp, các chức sắc tôn giáo, những người

có ảnh hưởng trong xã hội về những vấn đề DS và SKSS nhằm đảm bảo thông tin đúng đắn, đa chiều về các chủ trương, chính sách DS-KHHGĐ của Đảng và Nhà nước; đưa nội dung DS và SKSS, giới và bình đẳng giới vào chương trình đào tạo của hệ thống trường chính trị, hành chính và các trường đào tạo cán bộ của ngành, đoàn thể thì báo chí mới làm tốt vai trò truyền thông về dân số của mình

1.5.3 Nâng cao hiệu quả các hoạt động truyền thông

Trên cơ sở xác định rõ đặc điểm của từng nhóm đối tượng, từng vùng, báo chí cần xây dựng và hoàn thiện nội dung truyền thông về DS và SKSS, MCBGTKS, các nội dung về nâng cao chất lượng dân số, KHHGĐ để thực hiện gia đình ít con, ngăn ngừa lựa chọn giới tính thai nhi, phòng chống bạo lực giới, bao lực gia đình, chăm sóc SKSS, chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, trẻ sơ sinh, người cao tuổi, thực hiện bình đẳng giới và nhấn mạnh vai trò của nam giới trong lĩnh vực trên Cùng với đó, báo chí cần duy trì và nâng cao chất lượng các chương trình tin, bài, chuyên trang, chuyên mục về DS-KHHGĐ, tăng số lượng các chương trình, tin, bài về chăm sóc SKBMTE, SKSS, sức khỏe tình dục, MCBGTKS và bình đẳng giới

Trang 35

Tiểu kết chương 1

Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, báo chí là một hiện tượng xã hội Báo chí ra đời do nhu cầu thông tin giao tiếp, giải trí và nhận thức của con người Mặc dù ra đời chậm hơn so với các hình thái kinh tế xã hội khác, nhưng báo chí đã nhanh chóng trở thành một trong những lĩnh vực xung kích bởi khả năng phản ánh hiện thực của nó Từ khi xuất hiện đến nay báo chí luôn năng động trong việc phản ánh hiện thực đa dạng, sinh động và luôn vận động, phát triển Báo chí là một bộ phận không thể thiếu được trong đời sống tinh thần của mọi người, mọi dân tộc Vì thế, báo chí luôn là một công cụ quan trọng của con người và các giai cấp trong cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ và văn minh của nhân loại Báo chí trở thành một hoạt động thông tin đại chúng rộng rãi và năng động nhất mà không một hình thái ý thức xã hội nào có được

Ở nước ta, báo chí là công cụ thông tin sắc bén của Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội để giáo dục, thuyết phục nhân dân xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Báo chí có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội Với vai trò quan trọng đó, báo chí đã vào cuộc rất tích cực với các vấn đề xã hội, một trong số đó là vấn đề MCBGTKS

MCBGTKS là vấn đề xã hội lớn không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều khu vực trên thế giới như Châu Á và Đông Âu Giáo dục, đô thị hoá và phát triển kinh tế đã nâng cao đáng kể cơ hội cho phụ nữ, trẻ em gái trong vòng hai thập kỷ qua Tuy nhiên, sự chuyển biến rõ rệt về vị thế của người phụ nữ và bình đẳng giới cũng đi kèm tình trạng giảm sút tỷ lệ trẻ em gái ở nhiều nước

Sự suy giảm có nguyên nhân một phần lớn do gia tăng thực hành lựa chọn giới tính trước sinh trong vòng 20 năm qua đã dẫn đến hiện tượng MCBGTKS ở mức báo động Nếu không có những biện pháp kiềm chế tích cực, sự mất cân bằng giới đang gia tăng này sẽ có tác động xấu tới nam giới,

Trang 36

phụ nữ, gia đình và toàn xã hội ở nhiều cấp độ trong vòng nửa thế kỷ tới Chính vì thế, việc giảm thiểu MCBGTKS là một việc cần sự chung tay của cả cộng đồng, trong đó, báo chí cần phát huy tính xung kích trên mặt trận tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, từ đó đẩy nhanh tiến độ đưa sự phân bổ GTKS về mức bình thường và giảm thiểu tác động chung của cuộc khủng hoảng về TSGTKS hiện nay

Trang 37

Chương 2

THỰC TRẠNG PHẢN ÁNH TRÊN BÁO IN VỀ VẤN ĐỀ MẤT CÂN

BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH Qua khảo sát báo Gia đình và Xã hội, Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô 2.1 Giới thiệu khái quát 3 tờ báo khảo sát

2.1.1 Báo Gia đình và Xã hội

Tiền thân của Báo Gia đình và Xã hội là bản tin Thông tin Dân số do

Bộ Văn hóa – thông tin và Ủy ban Quốc gia DS-KHHGĐ phối hợp thực hiện năm 1988 Năm 2001 Báo Gia đình và Xã hội chính thức được thành lập, xuất bản 4 kỳ/tuần, phát hành thứ 2, 4, 6 và số cuối tuần, mỗi kỳ 40.000 bản Sau

14 năm hình thành và phát triển, hiện nay Báo Gia đình và Xã hội đã trở thành tờ báo của mọi gia đình, được đông đảo bạn đọc quan tâm Theo nhịp phát triển của xã hội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của ngành và độc giả trong cả nước với nhiều ấn phẩm nội dung phong phú, hình thức đẹp, xứng đáng là “Tờ báo của mọi Gia đình”

Các ấn phẩm của Báo Gia đình và Xã hội

Hiện nay Báo Gia đình và Xã hội có các ấn phẩm như sau:

+ Số Báo tuần phát hành ngày thứ 2, thứ 4, thứ 6 và số Cuối tuần (phát hành thứ 5 hàng tuần)

+ Số Cuối tháng xuất bản 1 tháng/kỳ

+ Chuyên đề Dân số Gia đình và Trẻ em dành cho vùng xa, vùng sâu, xuất bản 2 kỳ/tháng

+ Chuyên đề Sức khỏe xuất bản 2 kỳ/tháng

+ Chuyên đề Tiềm Năng Việt (bằng tiếng Nhật) xuất bản 4 kỳ/tháng + Bản tin Dân số Vùng biển, đảo và ven biển 1 kỳ/tháng

+ Báo điện tử giadinh.net.vn hiện nay là một trong những tờ báo điện

tử có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất

Trang 38

Về tôn chỉ, mục đích, đối tƣợng

Báo Gia đình và Xã hội có tôn chỉ, mục đích là tuyên truyền, phổ biến các chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác DS-KHHGĐ; công tác dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; biểu dương những nhân tố mới điển hình tiên tiến trong việc thực hiện chính sách DS-KHHGĐ của Đảng và Nhà nước, phê phán các hiện tượng tiêu cực, những mặt tồn tại yếu kém trong lĩnh vực DS-KHHGĐ; xây dựng tiêu chí gia đình ít con, khỏe mạnh, có lối sống văn minh, hạnh phúc

Báo hiện có đội ngũ cán bộ, phóng viên trẻ, được đào tạo cơ bản trong các trường đại học chuyên ngành Báo chí, có trình độ và yêu nghề báo Đây là tài sản hết sức quý giá để Báo xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng nhu cầu phát triển của Báo Hiện nay Báo đang có chính sách thu hút các cây bút giỏi, yêu nghề và có phẩm chất chính trị về làm việc, đáp ứng nhu cầu thông tin cho bạn đọc

Là cơ quan truyền thông về công tác DS-KHHGĐ, trong những năm qua báo Gia đình và Xã hội đã thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến các chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác DS-KHHGĐ Báo luôn tập trung chỉ đạo sát sao về nội dung của từng số báo, luôn đúng tôn chỉ mục đích của ngành, nhiệm vụ tuyên truyền của Cục Báo chí và Ban tuyên giáo Trung ương Bám sát các nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong từng thời điểm, tuyên truyền sâu rộng đến với bạn đọc các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước đối với công tác DS-KHHGĐ Báo đã có những chuyên đề sâu về công tác tổ chức bộ máy, về các nhiệm vụ trọng tâm của công tác Dân số sau khi sáp nhập thành một đơn vị thuộc Bộ Y

Trang 39

Nội dung các số báo đã nêu lên những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của những cán bộ làm công tác Dân số, phản ánh những cách làm hay và những địa phương làm không đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, coi nhẹ công tác dân số Nhờ phản ánh kịp thời, nhanh chóng các nội dung trên, báo Gia đình

và Xã hội đã góp phần định hướng, ổn định tư tưởng cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân số trong cả nước, định hướng về công tác tổ chức cho lãnh đạo các địa phương nhằm sớm ổn định về tổ chức bộ máy làm công tác dân số ở tỉnh, huyện, xã

Bên cạnh đó Báo đã tập trung tuyên truyền có hiệu quả các thông tin về ngày Dân số thế giới 11/7, ngày Dân số Việt Nam 26/12… Ngoài nhiệm vụ tuyên truyền của ngành trong thời gian qua Báo đã thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền về các nhiệm vụ kinh tế xã hội của đất nước, lên án những hành động sai trái với chủ trương chính sách của Đảng và Pháp luật của Nhà nước, góp phần ổn định tình hình chính trị đất nước và thu hút được đông đảo bạn đọc từ thành thị, nông thôn đến các vùng sâu vùng xa của Tổ quốc Để phục

vụ tốt cho công tác của ngành, cho đến nay báo đã là tiếng nói của ngành, không ngừng phát triển cải tiến nội dung, hình thức đáp ứng kịp thời cho bạn đọc

Ngoài các ấn phẩm báo in, báo đã tập trung chỉ đạo phát triển báo điện

tử Báo gia đời báo điện tử Giadinh.net.vn tạo nên sức mạnh trong việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế xã hội, công tác Dân số - KHHGĐ đến với đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước Báo điện tử giadinh.net.vn đã trở thành một kênh thông tin dành cho mọi gia đình Việt Nam với những thông tin thời sự hấp dẫn cập nhật liên tục trong ngày về xã hội, văn hóa, giáo dục, pháp luật, giải trí, sức khỏe; các kinh nghiệm và kỹ năng trong cuộc sống nuôi con, học tập, làm việc, chữa bệnh; dịch vụ giải trí phục vụ cộng đồng như Diễn đàn trẻ thơ, viết nhật ký gia đình

Trang 40

Đến nay, báo điện tử giadinh.net.vn dã thu hút hàng triệu người truy cập Các thông tin được độc giả đón nhận, được báo khác trích dẫn và đăng tải lại Các tiện ích khác như diễn đàn, nhật ký gia đình ngày càng trở nên gắn bó và thân thuộc với nhiều người Hiện tại Giadinh.net.vn được đánh giá là một trong những trang báo điện tử có nội dung phong phú, cập nhật thường xuyên nhất

và được truy cập nhiều nhất

Từ một bản tin “Thông tin dân số”, với sự chỉ đạo của lãnh đạo các cấp đến nay báo Gia đình và Xã hội đã trở thành tờ báo được bạn đọc trong ngành

và độc giả trong cả nước yêu mến Thành quả đó là công sức đóng góp của các thế hệ lãnh đạo và cán bộ phóng viên đã vượt lên khó khăn, đoàn kết, xây dựng báo phát triển Xây dựng Báo Gia đình và Xã hội là “Tờ báo của mọi gia đình” đang là mục tiêu phấn đấu của lãnh đạo, cán bộ phóng viên trong tòa soạn, góp phần xây dựng ngành ngày càng vững mạnh

2.1.2 Báo Phụ nữ Việt Nam

Báo Phụ nữ Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam, tờ báo đại diện cho các tầng lớp phụ nữ cả nước gửi gắm tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình để phản ánh trước công luận Tờ báo đề cập đến những vấn đề chung của người phụ nữ nhưng lại là vấn đề chung của gia đình Việt Nam và của toàn xã hội

Ngày 8/3/1947, cơ quan Phụ nữ Trung ương đóng tại chiến khu Việt Bắc xuất bản ấn phẩm đầu tiên của mình Báo có truyện ngắn, ca dao, tiểu phẩm, tin hoạt động của Hội, những hình vẽ sinh hoạt của cơ quan…Ngày 19/8/1948 tờ báo Phụ nữ Việt Nam số một ra đời Tờ báo in tipô, khổ nhỏ Báo chỉ có 6 trang Giấy báo đen xấu nhưng in chữ rất rõ nét Trang đầu đăng

Ngày đăng: 19/05/2016, 21:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2.1.1. Số lượng tin, bài của các tờ báo được khảo sát về vấn đề - Truyền thông về mất cân bằng giới tính khi sinh trên báo in ( khảo sát báo gia đình và xã hội, phụ nữ việt nam và phụ nữ thủ đô từ tháng 6 2012   tháng 6 2014)
Bảng 2.2.1.1. Số lượng tin, bài của các tờ báo được khảo sát về vấn đề (Trang 44)
Bảng 2.4.1. Tần suất độc giả đọc tin bài về vấn đề MCBGTKS trên báo in: - Truyền thông về mất cân bằng giới tính khi sinh trên báo in ( khảo sát báo gia đình và xã hội, phụ nữ việt nam và phụ nữ thủ đô từ tháng 6 2012   tháng 6 2014)
Bảng 2.4.1. Tần suất độc giả đọc tin bài về vấn đề MCBGTKS trên báo in: (Trang 73)
Bảng 2.4.2. Đánh giá của công chúng về việc chuyển tải thông tin về vấn đề - Truyền thông về mất cân bằng giới tính khi sinh trên báo in ( khảo sát báo gia đình và xã hội, phụ nữ việt nam và phụ nữ thủ đô từ tháng 6 2012   tháng 6 2014)
Bảng 2.4.2. Đánh giá của công chúng về việc chuyển tải thông tin về vấn đề (Trang 74)
Bảng 2.4.3. Đánh giá sự hài lòng của công chúng về việc chuyển tải thông tin - Truyền thông về mất cân bằng giới tính khi sinh trên báo in ( khảo sát báo gia đình và xã hội, phụ nữ việt nam và phụ nữ thủ đô từ tháng 6 2012   tháng 6 2014)
Bảng 2.4.3. Đánh giá sự hài lòng của công chúng về việc chuyển tải thông tin (Trang 75)
Bảng 2.4.4. Nguyên nhân dẫn đến MCBGTKS: - Truyền thông về mất cân bằng giới tính khi sinh trên báo in ( khảo sát báo gia đình và xã hội, phụ nữ việt nam và phụ nữ thủ đô từ tháng 6 2012   tháng 6 2014)
Bảng 2.4.4. Nguyên nhân dẫn đến MCBGTKS: (Trang 76)
Bảng 2.4.5. MCBGTKS ảnh hưởng đến gia đình, xã hội: - Truyền thông về mất cân bằng giới tính khi sinh trên báo in ( khảo sát báo gia đình và xã hội, phụ nữ việt nam và phụ nữ thủ đô từ tháng 6 2012   tháng 6 2014)
Bảng 2.4.5. MCBGTKS ảnh hưởng đến gia đình, xã hội: (Trang 77)
Bảng 2.4.6. Sự lựa chọn của công chúng - Truyền thông về mất cân bằng giới tính khi sinh trên báo in ( khảo sát báo gia đình và xã hội, phụ nữ việt nam và phụ nữ thủ đô từ tháng 6 2012   tháng 6 2014)
Bảng 2.4.6. Sự lựa chọn của công chúng (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w