Để nghiên cứu chi tiết về tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam trongnhững năm gần đây, để từ đó tìm ra các nguyên nhân và có thể đưa ra được cácgiải pháp khắc phục các yếu kém, phát hu
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Năm 1986, Đại hội Đảng đã chấp thuận chính sách đổi mới, cải tổ bộ máyNhà nước và chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường Đến giữa thập niên
90, Việt Nam đã bắt đầu hội nhập vào cộng đồng quốc tế, cho tới nay nước ta đã
có rất nhiều các hoạt động mang tầm chiến lược phát triển quốc gia như: Năm
1995 gia nhập ASEAN, hiện nay đã là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế nhưLiên Hiệp Quốc, Cộng đồng Pháp ngữ, APEC, ngày 11/01/2007 chính thức trởthành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO Nhiệm kỳ 2008 -2009Việt Nam được bầu làm thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo AnLiên Hiệp Quốc Năm 2010 đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN…
Với những cố gắng và nỗ lực hết mình nhằm cải cách chính sách để hộinhập nền kinh tế thế giới, nền kinh tế nước nhà đã có những cơ hội phát triểntrông thấy, biểu hiện là sau hơn 20 năm đổi mới nền kinh tế đã có tốc độ tăngtrưởng tăng dần qua từng thời kỳ, lạm phát được đẩy lùi, cơ cấu kinh tế đã có sựthay đổi đáng kể Qua đó từng bước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế -
xã hội, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng đói nghèo, đời sống nhân dân được cảithiện và ngày càng được nâng cao
Để nghiên cứu chi tiết về tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam trongnhững năm gần đây, để từ đó tìm ra các nguyên nhân và có thể đưa ra được cácgiải pháp khắc phục các yếu kém, phát huy tối đã những nguồn lực trong vàngoài nước nhằm đưa nền kinh tế nước ta phát triển lên một tầm cao mới Tôiquyết định nghiên cứu tình hình tăng trưởng kinh tế nước ta trong vòng 5 nămgần đây nhất 2010-2014
Vì điều kiện thời gian cũng như mức độ hiểu biết của t«i còn hạn chế, bàitiểu luận khó tránh khỏi những sai sót Mong thầy và các bạn thông cảm Rấtmong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô giáo và bạn bè để bài tiểu luậnđược hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 2CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG
Kinh tế học vĩ mô hay là kinh tế tầm lớn (Macroeconomic) là một phânngành của kinh tế học chuyên nghiên cứu về đặc điểm, cấu trúc và hành vi của
cả một nền kinh tế nói chung Kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô là hai lĩnhvực chung nhất của kinh tế học Trong khi kinh tế học vi mô chủ yếu nghiên cứu
về hành vi của các cá thể đơn lẻ, như công ty và cá nhân người tiêu dùng, kinh tếhọc vĩ mô lại nghiên cứu các chỉ tiêu cộng hưởng như GDP, tỉ lệ thất nghiệp vàcác chỉ số giá cả để hiểu cách hoạt động của cả nền kinh tế
Kinh tế học vĩ mô là một lĩnh vực tổng quát nhưng có hai khu vực nghiêncứu điển hình:
+ Nghiên cứu nguyên nhân và hậu quả của biến động ngắn đối với thunhập quốc gia (còn gọi là chu kỳ kinh tế)
+ Nghiên cứu những yếu tố quyết định cho tăng trưởng kinh tế bền vững.Các chuyên gia kinh tế học vĩ mô phát triển các mô hình để giải thích mốiquan hệ giữa các yếu tố như thu nhập quốc gia, sản lượng, tiêu dùng, thấtnghiệp, lạm phát, tiết kiệm, đầu tư, buôn bán đa quốc gia và tài chính đa quốcgia Các mô hình này và các dự báo do chúng đưa ra được cả chính phủ lẫn cáctập đoàn lớn sử dụng để giúp họ phát triển và đánh giá các chính sách kinh tế vàcác chiến lược quản trị
Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu sự vận động và những mối quan hệ kinh tếchủ yếu của một đất nước trên bình diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nhữngđối tượng nghiên cứu cụ thể của kinh tế học vĩ mô bao gồm tổng sản phẩm, việclàm, lạm phát, tăng trưởng, chu kỳ kinh tế, vai trò ổn định kinh tế vĩ mô củachính phủ, v.v Vì vậy nghiên cứu tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Namtrong năm 2010 - 2014 là một đề tài hay nhằm tìm ra nguyên nhân và nghiêncứu đưa ra các chính sách kinh tế hợp lý để đẩy nhanh tốc tộ tăng trưởng nềnkinh tế Trước hết ta hãy tìm hiểu
Trang 31.1 Tăng trưởng kinh tế
1.1.1 Khái niệm: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượngquốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định
1.2.1 Đo lường tăng trưởng kinh tế:
1.2.1.1.Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) haytổng sản phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch
vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thờigian nhất định (thường là một năm tài chính)
Phương pháp tính GDP
Phương pháp tiếp cận chi tiêu: Theo phương pháp chi tiêu, tổng sản
phẩm quốc nội của một quốc gia là tổng số tiền mà các hộ gia đình trong quốcgia đó chi mua các hàng hóa cuối cùng.Như vậy trong một nền kinh tế đơn giản
ta có thể dễ dàng tính tổng sản phẩm quốc nội như là tổng chi tiêu hàng hóa vàdịch vụ cuối cùng hàng năm
GDP= C+G+I+NXTrong đó: C là tiêu dùng của hộ gia đình
G là tiêu dùng của Chính phủI: là tổng đầu tư, I = De+ In
NX là cán cân thương mại, NX = X-M
Phương pháp tiếp cận thu nhập hay phương pháp chi phí: Tổng sản
phẩm quốc nội bằng tổng thu nhập từ các yếu tố tiền lương (W), tiền lãi (i), lợinhuận (Pr) và tiền thuê (R); đó cũng là tổng chi phí sản xuất các sản phẩm cuốicùng của xã hội
GDP = W+R+i+Pr+Ti+DeTrong đó: Ti là thuế gián thu
De là khấu hao
Phương pháp tiếp cận sản xuất: GDP tổng hợp của mọi doanh nghiệp
trong nền kinh tế
Trang 4- GDP thực tế là tổng sản phẩm nội địa tính theo sản lượng hàng hóa vàdịch vụ cuối cùng của năm nghiên cứu còn giá cả tính theo năm gốc Do đó còngọi là GDP theo giá so sánh GDP thực tế đưa ra nhằm hiệu chỉnh lại những sailệch như sự mất giá của đồng tiền trong việc tính toán GDP danh nghĩa để có thểước lượng chuẩn hơn số lượng thự sự của hàng hóa và dịch vụ tạo thành GDP.
1.2.1.2 Tổng sản lượng quốc gia: (Gross National Products, GNP) là giá
trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi côngdân một nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm), không kể làm
ra ở đâu (trong và ngoài nước) Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩmquốc nội cộng với thu nhập ròng
Công thức tính tổng sản phẩm quốc gia dựa trên cơ sở tiếp cận khái niệmchi tiêu:
GNP = C+I+G+XM+NR = GDP +NRTrong đó: NR là thu nhập ròng từ các hàng hóa và dịch vụ đầu tư ở nướcngoài (thu nhập ròng)
Ví dụ: Một nhà máy sản xuất ô tô do Chủ sở hữu là công dân Trung Quốcđầu tư tại Việt Nam thì lợi nhuận sau thuế từ nhà máy sẽ được tính một phần làGNP của Trung Quốc chứ không phải của Việt Nam bởi vì vốn sử dụng trongsản xuất là thuộc sở hữu của người Trung Quốc Lương của công nhân ViệtNam là một phần GNP của Việt Nam, trong khi lương của công nhân TrungQuốc là một phần GNP của Trung Quốc
Trang 51.2.1.3 GDP bình quân đầu người: GDP bình quân đầu người của một
quốc gia hay một lãnh thổ tạ một thời điểm nhất định là giá trị nhận được khi lấyGDP của quốc gia hay lãnh thổ này tại thời điểm đó chia cho dân số của nó cũngtại thời điểm đó
1.2 Công thức đo lường tăng trưởng kinh tế
Đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc
độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong mộtgiai đoạn
1.2.1 Mức tăng trưởng tuyệt đối: Là mức chênh lệch quy mô kinh tế
giữa hai kỳ so sánh
∆K = Yt – YoTrong đó: Yt là GDP, GNP tại thời điểm t của kỳ phân tích
Yo là GDP, GNP tại thời điểm gốc của kỳ phân tích
1.2.2 Tốc độ tăng trưởng: Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng
cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước.Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %
Y =dY/Y x100%
Trong đó: Y là quy mô nền kinh tế và y là tốc độ tăng trưởng
Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP hay GNP danh nghĩa, thì sẽ có tốc
độ tăng trưởng GDP (GNP) danh nghĩa Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằngGDP hay GNP thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (GNP) thực tế Thôngthường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa
Trang 6CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM TỪ 2010-2014
2.1.Quy mô, tốc độ tăng trưởng
Nguồn trang https://vi.wikipedia.org/wiki/Việt_Nam
Năm 2013, theo xếp hạng về GDP của các nước trên thế giới thì GDP củaViệt Nam xếp thứ 51 với khoảng141 tỷ USD
GDP/ người của Việt Nam còn thấp do quy mô của nền kinh tế còn nhỏ,trong khi dân số Việt Nam vào khoảng 90,73 triệu người năm 2014 và có tốc độtăng dân số hàng năm vào khoảng 1,2%
2.1.2 Tốc độ tăng trưởng
Hình 1.1 Tăng trưởng GDP theo quý giai đoạn 2010-2014 (Đơn vị: %)
Nguồn: Tổng cục thống kê (GSO)
Hình 1.2 Tăng trưởng kinh tế toàn cầu giai đoạn 2008-2014
Trang 7Nguồn: IMF
Hình 1.3 Biểu đồ tăng trưởng kinh tế qua các năm
9.5
8.4 8.5
5.5 6.0 6.4
6.8 7.8
Nguồn: Tổng cục thống kê (GSO)
Năm 2014, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 5.98%, cao hơn hẳn mức 5,42%của năm 2013, mức 5,25% của năm 2012 nhưng thấp hơn mức 5,87% của năm
2011 và mức 6,78% của năm 2010 Mức tăng trưởng trên cao hơn so với mứctăng trưởng chung của toàn cầu giai đoạn 2010 -2014
Tăng trưởng giai đoạn này diễn ra theo kịch bản cũ “tiếp tục hồi phục saukhi suy thoái, tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước” từ năm 2012 đến năm
2014 Tuy nhiên, mức hồi phục này vẫn còn thấp, chưa vượt qua mức 6% vàchưa thực sự bền vững Trên thực tế, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2010 - 2014thấp hơn khá xa mức tăng trưởng bình quân của giai đoạn 1990-2010 (H.1.3).Trong mức tăng chung, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng cao nhất 7.14%,cao hơn nhiều so với năm trước
Bảng 1.1 Đóng góp vào tăng trưởng theo ngành (%)
2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Nông, lâm nghiệp và thủy sản 0.47 0.66 0.4 0.48 0.61
Hình 1.4 Tăng trưởng GDP theo ngành (%)
Trang 8“không bền vững” do chất lượng và giá trị gia tăng thấp Nông nghiệp nói chungvẫn chủ yếu phát triển “quảng canh”, chưa thật rõ định hướng tới một nền nôngnghiệp hiện đại, phát triển theo chiều sâu, chất lượng và hiệu quả Tuy giai đoạnnày đánh dấu sự chuyển hướng trong tái cơ cấu ngành, song xu hướng chi phốivẫn là “sản lượng cao, tiêu tốn nhiều nguồn lực, chất lượng thấp và giá trị giatăng thấp”
Điểm sáng của ngành là đã có những đột phá mạnh trong ứng dụng rộngrãi khoa học kĩ thuật, công nghệ cao, với sự tham gia của ngày càng nhiều doanhnghiệp lớn vào sản xuất nông nghiệp Xu hướng tuy mới bắt đầu nhưng có khảnăng lan tỏa nhanh
Ngành công nghiệp
Sản xuất công nghiệp giai đoạn 2010-2014 đang trong giai đoạn phục hồisau chu kỳ suy thoái Tính đến năm 2014, chỉ số sản xuất toàn ngành ước tăng7.6% so với năm 2013, cao hơn nhiều mức tăng 5.9% của năm 2013, mức 4,52%của năm 2012 và 5,53% của năm 2011
Trang 9Tuy nhiên, về thực chất, nền công nghiệp nước ta là nền công nghiệp địnhhướng phi công nghệ Theo báo cáo của Bộ KHCN năm 2012, phần lớn cácdoanh nghiệp nước ta sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thếgiới 2-3 thế hệ Khoảng 80%-90% công nghệ Việt Nam đang sử dụng là ngoạinhập, 76% máy móc, dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế hệ những năm 1950-
1960, 75% số thiết bị đã hết khấu hao, 50% là đồ tân trang Tính chung cácdoanh nghiệp, mức độ thiết bị hiện đại chỉ có 10%, trung bình 38%, lạc hậu vàrất lạc hậu 52% Tỷ lệ sử dụng công nghệ cao chỉ 2% so với 31% của Thái Lan,51% của Malaysia, 73% của Singapore Các doanh nghiệp Việt Nam thờ ơ vớicông nghệ, ít có động lực sáng tạo; còn các công ty có vốn đầu tư nước ngoàicũng không quan tâm tới nghiên cứu phát triển vì vấn đề này được thực hiện tạicông ty mẹ Các công ty này chỉ chú trọng khai thác nguồn nhân lực và nguyênliệu rẻ của Việt Nam Chính vì vậy, ở Việt Nam, ngành công nghiệp phụ trợ khó
có thể phát triển, chủ yếu “khiêm tốn” đảm nhận công đoạn “công nghệ thấp” gia công và lắp ráp
-Giai đoạn sau năm 2012, ngành xây dựng bắt đầu hồi phục Nhiều dự ángiao thông được khởi công và đẩy nhanh tiến độ, nhất là các dự án đường caotốc, các dự án phát triển hạ tầng xã hội sử dụng vốn Nhà nước, vốn ODA, vốnPPP Điển hình như dự án: Đường cao tốc Hà Nội- Lào Cai, cầu Nhật Tân - nốisân bay Nội Bài, nhà ga T2 Nội Bài, đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, đườngcao tốc Hạ Long – Vân Đồn – Móng Cái, quốc lộ 18… Riêng tại Vân Đồn có:Cảng hàng không Quảng Ninh tại xã Đoàn Kết, Tuyến đường trục chính nối cáckhu chức năng chính khu Kinh tế, Tuyến đường trục chính Khu đô thị Cái Rồng
Thị trường bất động sản có tín hiệu phục hồi Nhiều dự án phát triển nhà ởđược hoàn thành và bàn giao trong giai đoạn 2010-2014, đặc biệt là phân khúcnhà chung cư giá trung bình và rẻ Nhà nước có cơ chế hỗ trợ vay vốn mua nhàđối với các đối tượng có thu nhập thấp Thị trường vật liệu xây dựng không cóbiến động lớn, góp phần giảm bớt khó khăn cho các doanh nghiệp xây dựng.Mặc dù vậy, đó chỉ là quá trình phục hồi chậm chạp
Tình trạng nợ đọng xây dựng từ những năm trước của các doanh nghiệp
Trang 10vẫn chưa có hướng giải quyết triệt để Nhiều doanh nghiệp khó khăn trong việctiếp cận vốn, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Thủ tướng Chính phủ đã cóchỉ thị số 1792/CT-TTg về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách Nhà nước
và vốn trái phiếu Chính phủ
Ngành dịch vụ
Tính chung giai đoạn 2010-2014, đóng góp của ngành dịch vụ vào tỷtrọng phát triển của nền kinh tế có suy hướng suy giảm Một nguyên nhân quantrọng là căng thẳng trên biển Đông do Trung Quốc gây ra: đặt dàn khoan HảiDương 981 trong phạm vi thềm lục địa của nước ta
2.2 Lao động việc làm
Trong năm 2014, nền kinh tế có những dấu hiệu tích cực hơn so với năm
2012 và 2013 như tăng trưởng kinh tế ở mức cao hơn, sản xuất công nghiệp,dịch vụ và nông nghiệp đều có mức tăng trưởng tốt hơn năm trước Do đó, nênkinh tế cả nước đã giải quyết việc làm cho khoảng khoảng 1,6 triệu lao động, Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước ước tính đến thời điểmcuối năm 2014 là 54,48 triệu người, cuối năm 2013 là 53,65 triệu người, cuốinăm 2012 là 52,58 triệu người, cuối năm 2011 là 51,39 triệu người Lao động từ
15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2014 của khu vực nông, lâm nghiệp và thủysản chiếm 46,6% tổng số; năm 2013 là 46.8%; năm 2012 chiếm 47,5%; năm
2011 chiếm 48,4%; năm 2010 chiếm 48,7%
Như vậy số người có việc làm các năm sau đều tăng cao hơn so với nămtrước
Hình 1.5 Số người có việc làm năm 2013 và 2014
Nguồn: TCTK và Bộ LĐTB&XH (2014, 2015)
Mặc dù số việc làm mới nền kinh tế tạo ra lớn hơn năm trước nhưng
Trang 11đó chỉ là dấu hiệu tích cực về mặt số lượng Chất lượng việc làm mới vẫnthấp và thiếu bền vững.
Giai đoạn này nói chung lao động dịch chuyển chậm từ ngành nôngnghiệp sang công nghiệp (chỉ trên 2% lao động từ ngành nông nghiệp sang côngnghiệp trong 05 năm) Số lao động làm công ăn lương vẫn chỉ chiếm số lượngthấp và gần như không thay đổi so với năm trước, chiếm khoảng 35% lực lượnglao động Còn lại trong nền kinh tế hầu hết là lao động tự làm và lao động giađình không hưởng lương
Vấn đề thất nghiệp và thiếu việc làm
Ở những nước đang phát triển như Việt Nam, số người tham gia đóng bảohiểm thất nghiệp thường thấp Người lao động phải tìm việc bằng mọi cáchnhằm đảm bảo sinh kế của bản thân và gia đình Thông thường, họ chấp nhậnlàm những công việc chất lượng kém, trả lương thấp trong nền kinh tế phi chínhthức hoặc chấp nhận những thỏa thuận làm việc một cách không chính thức để
có thu nhập Chính vì vậy, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam thường ở mức rấtthấp
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2014 là 2.08%, năm
2013 là 2,2%, năm 2012 là 1,99%, năm 2011 là 2,27%, năm 2010 là 2,88% Tỷ
lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động các năm sau được cải thiệnhơn so với năm trước Với đặc thù cầu lao động chất lượng thấp và những ràngbuộc (về trình độ chuyên môn, kỹ năng) để tham gia làm việc không khắt khenên người lao động có thể dễ dàng tham gia thị trường lao động.Trong dài hạn,
tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp như hiện nay là yếu tố không tích cực Người laođộng sẽ ít có động lực nâng cao trình độ và kỹ năng do không có nhiều áp lực vềcác tiêu chuẩn cần phải trang bị nhằm cạnh tranh khi đi tìm việc
Chuyển dịch cơ cấu lao động
Giai đoạn 2010-2014, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng: từ năm
2010 đến năm 2014, lao động nông nghiệp giảm từ 48,7% xuống 46,8%, laođộng công nghiệp và xây dựng tăng từ 20.9% lên 21.2%; lao động khu vực dịch
vụ tăng từ 29.6% lên 32%
Trang 12Bảng 1.2 Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế
Năm Tổng Nông, lâm nghiệp
Nguồn: Niên giám thống kê
Mặc dù lao động chuyển dịch sang phía công nghiệp, dịch vụ nhưng tỷtrọng lao động nông nghiệp vẫn còn rất lớn, chất lượng nhân lực rất chậm cảithiện Nông nghiệp vẫn là khu vực tạo ra nhiều việc làm Chất lượng nguồnnhân lực ở nước ta thấp Đào tạo đại học, cao đẳng ít gắn với thực tiễn nên kỹnăng lao động kém Trong khi đó, việc tham gia khu vực dịch vụ đẳng cấp thấp,
ít cần lao động có kĩ năng lại dễ dàng, với mức thu nhập ban đầu không thấphơn nhiều so với thu nhập của lao động mới tốt nghiệp đại học, cao đẳng Vìvậy, lao động thất nghiệp trong công nghiệp, nông nghiệp rất dễ chuyển sangkhu vực dịch vụ Người lao động ít có động lực làm việc, nâng cao kỹ năng Do
đó, dù cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ thì đó vẫn
2014 có xu hướng liên tục giảm qua các tháng, CPI tháng 12/2014 cả nước giảm0.24% so với tháng trước (Hình 6) Đáng chú ý trong vòng 10 năm trở lại đây,CPI tháng 12 giảm so với tháng 11 là lần thứ hai (trước đó là vào năm 2008).Thời điểm năm 2008, khủng hoảng kinh tế thế giới lan rộng, giá cả các mặt hàngtrên thế giới tăng đột biến vào 6 tháng đầu năm và khiến giá cả sau đó lại giảmmạnh vào những tháng cuối năm Tính đến cuối tháng 12/2014, chỉ số giá tiêudùng tăng 1.84% so với cùng kỳ năm 2013 Trong khi đó, CPI bình quân năm
Trang 132014 tăng 4.09% so với bình quân năm 2013, mức tăng thấp trong 10 năm trở lạiđây CPI bình quân mỗi tháng tăng khoảng 0.15%, tăng mạnh nhất trong quý 1
và quý 3 và thấp nhất (âm) trong quý 4
Hình 6 Diễn biến lạm phát năm 2014
Lạm phát (%, yoy) giai đoạn 2007-2014 Diễn biến CPI năm 2014
Nguồn: Tổng cục thống kê
Có thể chỉ ra một số nhân tố chính dẫn tới CPI năm 2014 được kiềm chế ởmức thấp trong giai đoạn 2010 -2014 như sau:
Thứ nhất, lạm phát đã giảm đáng kể do công tác quản lý, điều hành giá
trong năm 2014 được thực hiện khá hợp lý khi thời điểm điều chỉnh không trùngvào các tháng cao điểm đã giảm thiểu được tác động của việc điều chỉnh giá lênCPI Mức giá được điều chỉnh đối với một số nhóm hàng do Nhà nước quản lýnhư Giáo dục, Y tế thấp hơn so với năm trước Trong bối cảnh giá cả các nhómhàng lương thực thực phẩm tương đối ổn định trong ba năm qua thì chính biên
độ điều chỉnh tăng theo lộ trình của nhóm hàng giáo dục và y tế thấp hơn tươngđối đã có sự đóng góp không nhỏ, làm nên sự khác biệt của CPI năm nay vớinăm 2011, 2012 và 2013
Thứ hai, lạm phát nhập khẩu và lạm phát chi phí đẩy giảm mạnh Giá các
mặt hàng thiết yếu trên thế giới khá ổn định, chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa đang
có chiều hướng giảm trong những năm qua: năm 2014 giảm 1.02% so với năm
2013 (trong năm 2013 và 2012 giảm lần lượt là 2.36% và 0.33%) Ngoài ra,nhiều khoản thuế đã được cắt giảm, giãn, hoãn, tạo điều kiện cho doanh nghiệpgiảm bớt chi phí, giảm giá hàng hoá, dịch vụ; lãi suất cho vay của ngân hànggiảm khá nhanh; tỷ giá ổn định làm cho giá hàng nhập khẩu tính bằng USDgiảm Bên cạnh đó, giá nhiên liệu đặc biệt là dầu thô trên thế giới giảm mạnh
Trang 14dẫn đến giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh giảm, tác động kéo giảm chỉ
số giá nhiều nhóm hàng quan trọng như “Nhà ở, vật liệu xây dựng”…
Thứ ba, lạm phát giảm tốc rõ rệt do chính sách thắt chặt tài khóa và tiền
tệ của Chính phủ Việc kiềm chế lạm phát thấp do thắt chặt chính sách tiền tệkhiến nguồn cầu tiêu dùng yếu đi, đầu tư của doanh nghiệp và chi tiêu củaChính phủ bị thu hẹp Tăng trưởng tín dụng từ 2012 đi lên liên tục tới 2014,nhưng bình quân cũng chỉ bằng khoảng 1/3 so với giai đoạn trước khủng hoảng
và chủ yếu tăng vào các tháng cuối năm Ngoài ra, với ưu tiên ổn định kinh tế vĩ
mô hơn là mục tiêu tăng trưởng bằng mọi giá, chính sách tài khóa luôn đượckiểm soát chặt chẽ Thu ngân sách cũng gặp khó khăn so với trước, song nhucầu chi tiêu vẫn lớn, do vậy, thâm hụt ngân sách luôn ở mức cao và nợ công đãtới mức giới hạn nên Chính phủ không thể tiếp tục nới lỏng chi tiêu Đây cũng lànguyên nhân quan trọng làm cho cầu tiêu dùng thấp và giá cả khó có cơ hội tăngcao
Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, tăng trưởng thấp, sản xuất bị thu hẹp donhững ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu và quá trình tái cơcấu mới đang được triển khai, thì việc lạm phát được kiểm soát ở mức thấp đãđóng vai trò quan trọng để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, gia tăng niềm tin vàonền kinh tế, thúc đẩy mở rộng sản xuất kinh doanh
2.3.2 Chính sách tài khóa
Luật Đầu tư Công có quy định mới về tiêu chí phân loại dự án đầu tư công,phân bổ vốn theo kế hoạch trung hạn, điều chỉnh phân cấp thẩm quyền quyếtđịnh chủ trương đầu tư các dự án nhóm A, v.v Tuy nhiên, chưa có biện phápbảo đảm tăng trưởng cân đối của chi đầu tư phát triển với chi thường xuyên Cơchế để nâng cao hiệu quả thẩm định, điều phối, và giám sát thực hiện dự án đầu
tư công chưa có thay đổi đáng kể so với khuôn khổ hiện hành Thực trạng nàytiếp tục hạn chế tính khách quan, khoa học và nhất quán của công tác đánh giá,thẩm định dự án đầu tư công
Bảng 1.3 Diễn biến thu chi Ngân sách Nhà nước, 2010-2014
Đơn vị: % GDP
Trang 15201 0
201 1
201 2
201
3 2014
Tổng chi (không bao gồm chi trả nợ gốc) 30.1 28.3 28.2 26.8 24.1
5
Bội chi ngân sách (không tính trả nợ gốc) 2.4 2.1 3.4 3.9 4.1
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Bộ Tài chính; Ghi chú: Số liệu 20010-2012 là quyết toán; số liệu 2013 là ước thực hiện lần 2; số liệu 2014 là ước thực hiện lần 1
Nguồn : Tổng cục thống kê (GSO)
Đầu tư vừa là nhân tố cung, vừa là nhân tố cầu và là nhân tố chính tạo ratốc độ tăng trưởng khá cao của nền kinh tế nước ta trong nhiều năm qua nhờ tỷ
lệ đầu tư trên GDP đã tăng lên rất nhanh và liên tục đứng ở mức rất cao Việcphát triển kinh tế thị trường và đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa đã tạo ra nhiều
cơ hội đầu tư mới, khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước bỏ vốn ralàm giàu, đóng góp vào quá trình phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên, thực tếcũng cho thấy một khi vốn đầu tư đã trở nên quá dồi dào thì hiệu quả sử dụngvốn sẽ giảm xuống, tất yếu dẫn tới việc phải điều chỉnh lại chiến lược đầu tư
Sau một số năm triển khai đầu tư ồ ạt (2006-2010) dẫn tới hai cuộc khủnghoảng lạm phát lớn 2008 và 2011 (hình 7), từ năm 2011, tỷ trọng vốn đầu tưtoàn xã hội trên GDP đã giảm rất nhanh và liên tục; từ mức 42,7% năm 2007 và38,5% năm 2010 xuống chỉ còn 33,3% năm 2011 và ổn định khoảng 30,5-31%năm 2013-2014, thấp nhất kể từ năm 2000 Tuy nhiên, theo kinh nghiệm thếgiới, tỷ lệ đầu tư các năm 2013-2014 được xem là phù hợp với một nền kinh tế