Bài viết đưa ra những điểm nổi bật của kinh tế, giá cả, tài chính, tiền tệ quốc tế và lấy dẫn chứng về kinh tế của một số nước như: Kinh tế Mỹ, Kinh tế Nhật Bản, Kinh tế Trung Quốc; đồng thời cũng nêu ra được những điểm nổi bật của kinh tế trong nước. Để tìm hiểu sâu hơn về nội dung, mời các bạn cùng xem và tham khảo.
Trang 11
Kinh tế vĩ mô quý I năm 2018: Những điểm nổi bật
Những điểm nổi bật của kinh tế, giá cả, tài chính tiền tệ quốc tế
- Kinh tế thế giới tiếp tục đón nhận nhiều tín hiệu tốt, tuy nhiên một số khó khăn đã bắt đầu xuất hiện;
- Chỉ số giá cả hàng hóa toàn cầu có nhiều biến động, kết thúc quý I đã giảm xấp xỉ 0,5%
so với cuối năm ngoái
- Thị trường ngoại hối diễn biến sát với dự báo, tiếp tục bị chi phối mạnh bởi các quyết định chính sách của Mỹ và khu vực EU;
- Giá vàng đã có quý tăng thấp nhất trong 5 năm gần đây;
- Đà tăng trưởng của thị trường chứng khoán toàn cầu đã giảm tốc với nhiều biến động;
- Định hướng điều hành CSTT theo hướng thắt chặt rõ rệt hơn tại các nền kinh tế chủ chốt
Những điểm nổi bật của kinh tế trong nước
- Tăng trưởng kinh tế đạt mức cao nhất trong vòng 10 năm qua, ghi nhận mức tăng mạnh của nhiều nhóm hàng chủ lực;
- Sản xuất công nghiệp khẳng định vai trò trụ cột, tiêu thụ và tồn kho hàng hóa diễn biến thuận lợi;
- Tiêu dùng tiếp tục đóng vai trò quan trọng dẫn dắt tăng trưởng về phía cầu;
- Vốn FDI thu hút mới và vốn FDI tăng thêm đã sụt giảm trong quý I;
- Kim ngạch xuất khẩu tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao qua các tháng, cán cân thương mại đạt xuất siêu 1,3 tỷ USD với đóng góp chủ yếu vốn thuộc về khu vực có vốn đầu tư nước ngoài;
- Chỉ số giá tiêu dùng bình quân trong quý I tăng 2,82% so với mức bình quân của cùng kỳ năm ngoái;
- Diễn biến lãi suất khá ổn định, lãi suất liên ngân hàng giảm dần qua các tháng;
- Tỷ giá đã có những thay đổi so với cùng kỳ năm ngoái, giá vàng trong nước biến động thấp hơn giá vàng thế giới;
- TTCK Việt Nam giữ vững đà tăng điểm tích cực
Trang 2Các số liệu vĩ mô cho thấy kinh tế Mỹ vẫn nhận được các tín hiệu hỗ trợ tích
cực từ thị trường lao động và diễn biến lạm phát Cụ thể, thị trường việc làm tiếp tục được củng cố với chỉ số việc làm được tạo mới có sự gia tăng liên tục trong 2 tháng đầu năm, trong đó tháng 2 đạt 313 nghìn việc làm – mức cao nhất kể từ giữa năm 2016 trở lại đây Tỷ lệ thất nghiệp cũng tiếp tục duy trì ở mức 4,1% - mức thấp nhất trong vòng 17 năm qua Trong khi đó, lạm phát vẫn đang bám sát mục tiêu đề ra Tỷ lệ lạm phát chung trong 3 tháng đầu năm giao động quanh ngưỡng 2,1% - 2,2%, trong khi đó tỷ lệ lạm phát cơ bản cũng duy trì ổn định ở ngưỡng 1,8% trong 3 tháng liên tiếp vừa qua
Mặc dù vậy, diễn biến khu vực sản xuất và tiêu dùng đang cho thấy những khó khăn nhất định Khu vực sản xuất là một minh chứng rõ nét nhất khi chỉ số PMI tổng hợp sau khi leo lên mức kỷ lục 55,8 điểm trong tháng 2 đã nhanh chóng tụt xuống còn 54,2 điểm trong tháng 3 Tiêu dùng cũng không còn duy trì được đà tăng trưởng tốt như những tháng cuối năm ngoái khi tăng trưởng doanh số bán lẻ hàng hóa trong những tháng đầu năm đã rơi xuống dưới mức 5%
Tỷ lệ thất nghiệp
Diễn biến lạm phát (yoy)
Doanh số bán lẻ hàng hóa tại Mỹ (yoy)
Chỉ số PMI sản xuất của Mỹ
Nguồn: Trading economicsics
Cũng giống như Mỹ, tại khu vực Châu Âu, hai chỉ số vĩ mô là tỷ lệ thất
nghiệp và lạm phát vẫn diễn biến khá khả quan Tỷ lệ lạm phát sau khi liên tục giảm trong một số tháng qua hiện đã tăng lên hiện ở mức 1,4%, trong khi đó
tỷ lệ thất nghiệp hiện đang ở mức thấp nhất trong vòng nhiều năm qua là 8,5%
Tuy nhiên, diễn biến của khu vực sản xuất và tiêu dùng cũng đang ghi nhận những tín hiệu không tốt Khu vực sản xuất mặc dù vẫn mở rộng nhưng đà mở rộng này đang có chiều hướng thu hẹp trở lại trong những tháng gần đây Cụ thể, chỉ số PMI tổng hợp sau khi đã leo lên mức đỉnh của 12 năm qua là 58,8
Trang 33
điểm trong tháng 1 đã nhanh chóng giảm tốc, trong đó tháng 3 đã giảm xuống còn 55,3 điểm, mức thấp nhất kể từ tháng 1 năm ngoái Tiêu dùng cũng tăng trưởng chậm hơn cuối năm 2017 khi mức tăng doanh số bán lẻ hàng hóa so với cùng kỳ đã rơi liên tục xuống dưới 2% trong những tháng gần đây
Tỷ lệ thất nghiệp
Diễn biến lạm phát (yoy)
Doanh số bán lẻ hàng hóa tại Châu Âu (yoy)
Chỉ số PMI sản xuất của Châu Âu
Nguồn: Trading economicsmics
Tại Nhật Bản, tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng đang có sự cải thiện rõ rệt,
hướng đến mốc mục tiêu 2% với tốc độ tăng của tháng gần đây nhất đã đạt 1,4% so với cùng kỳ và cũng là mốc lạm phát cao nhất được ghi nhận kể từ tháng 3/2015 Tỷ lệ thất nghiệp hiện đang ở mức thấp nhất trong 25 năm qua là 2,5%
Tuy nhiên, một số lĩnh vực khác những khó khăn đã bắt đầu bộc lộ Tiêu dùng nội địa mức tăng cũng đã giảm tốc so với một số tháng trước Trong khi đó, khu vực sản xuất mặc dù vẫn trên đà mở rộng với chỉ số PMI đã duy trì trên ngưỡng
53 điểm 5 tháng liên tiếp, tuy nhiên hoạt động sản xuất cũng đang có chiều hướng đi xuống Xuất khẩu sau 14 tháng liên tiếp duy trì mức tăng trưởng dương 2 con số so với cùng kỳ, trong tháng 2 mức tăng đã đột ngột giảm tốc chỉ còn 1,8%, chủ yếu là do tác động của yếu tố mùa vụ khi các đơn hàng xuất khẩu sang một số đối tác thương mại lớn trong khu vực bị gián đoạn trong dịp nghỉ Tết nguyên đán
\\
Tỷ lệ thất nghiệp
Diễn biến lạm phát (yoy)
Doanh số bán lẻ hàng hóa tại Nhật Bản
Chỉ số PMI chế biến chế tạo
Nguồn: Trading economics
Trang 44
Kinh tế Trung Quốc cũng đang có dấu hiệu chững lại trong một số khu vực
của nền kinh tế Đà mở rộng của khu vực sản xuất đang giảm tốc với chỉ số PMI tổng hợp đã giảm liên tục trong 3 tháng qua, hiện đang ở mức 51,8 điểm – mức thấp nhất kể từ tháng 11 năm ngoái Tiêu dùng nội địa hiện tăng trưởng ở mức dưới 10%, thấp hơn mức tăng trưởng trung bình khoảng 11 – 12% của năm
2017 Riêng khu vực xuất khẩu vẫn ghi nhận những mức tăng trưởng mạnh mẽ trong những tháng gần đây, trong đó tháng 2 đạt mức tăng 44,5% so với cùng
kỳ - mức cao nhất trong vòng 3 năm gần đây nhờ sự khởi sắc của lĩnh vực thương mại vận tải
Một điểm đáng chú ý là lạm phát của Trung Quốc có khá nhiều biến động trong quý I Lạm phát sau khi giảm nhẹ xuống mức 1,5% so với cùng kỳ trong tháng
1 đã đột ngột tăng mạnh đạt 2,9% trong tháng 2 và đây cũng là mức lạm phát cao nhất theo tháng được ghi nhận tại Trung Quốc từ tháng 11 năm 2013 đến nay Sự gia tăng của lạm phát mặc dù chủ yếu xuất phát từ sự gia tăng giá cả hàng tiêu dùng và giá cước vận tải trong dịp cận tết Nguyên đán, tuy nhiên đây cũng là một yếu tố cần lưu ý đối với NHTW Trung Quốc, đặc biệt khi nước này vẫn đang cần tiếp tục siết chặt chính sách tài chính nhằm cắt giảm các khoản nợ tín dụng và các khoản nợ tiềm tàng trong tương lai
Lạm phát tại Trung Quốc (yoy) Doanh số bán lẻ hàng hóa của Trung Quốc
Tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc (yoy) Chỉ số PMI tổng hợp của Trung Quốc
Nguồn: Trading Economics
Theo thống kê của Tổ chức thương mại thế
giới (WTO), chỉ số triển vọng thương mại
toàn cầu (WTOI) hiện đang ở mức 102,3
điểm, không có nhiều thay đổi so với mức
102,2 điểm được ghi nhận vào cuối năm
2017 Điều đó cho thấy các điều kiện
thương mại vẫn đang diễn biến thuận lợi và
giá trị giao dịch thương mại toàn cầu vẫn
duy trì đà tăng trưởng tích cực
Trong các cấu phần hoạt động thương mại
theo thống kê của chỉ số WTOI, thương mại
vận tải qua đường hàng không và container
đang trong giai đoạn mở rộng tích cực nhất
với mức điểm đạt được là 103,2 và 104,3
Diễn biến chỉ số thống kê lượng giao dịch thương mại toàn cầu và chỉ số
WTOI
Nguồn: WTO Statistics (02/2018)
Trang 5Diễn biến các chỉ số thành phần của chỉ số WTOI
Nguồn: WTO Statistics (02/2018)
hỗ trợ, nhưng quay đầu giảm mạnh trong tháng 3 khi các điều kiện kinh tế có diễn biến xấu đi
Trong 2 tháng đầu năm, chỉ số PMI duy trì liên tục trên mức 54 điểm, đều là những mức điểm tốt nhất đã đạt được kể từ đầu năm 2011 đến nay Diễn biến tích cực của chỉ số PMI thể hiện đồng đều trên tất cả các lĩnh vực, từ hàng hóa đầu tư đến hàng hóa trung gian và hàng hóa tiêu dùng Xu hướng mở rộng cũng được ghi nhận tại hầu hết các nền kinh tế nằm trong phạm vi khảo sát của JP Morgan Bên cạnh đó, các đơn hàng xuất khẩu mới cũng ghi nhận tháng thứ 19 tăng trưởng dương liên tiếp, đồng thời chỉ số niềm tin kinh doanh cũng leo lên mức tích cực nhất kể từ tháng 2/2015 trở lại đây
Tuy nhiên, bước sang tháng 3, chỉ số này đã giảm xuống còn 53,3 điểm, mức thấp nhất trong vòng 16 tháng qua Hầu hết các chỉ số thành phần đều chỉ tăng ở mức độ nhẹ Đồng thời xu hướng sụt giảm của chỉ số PMI này cũng được ghi nhận đồng đều tại hầu hết các nền kinh tế chủ chốt như Mỹ, Nhật, Anh, khu vực EU, Trung Quốc,…
Chỉ số PMI sản xuất toàn cầu Phân tích các cấu phần của chỉ số PMI
Nguồn: JP Morgan
Trang 6Xu hướng sụt giảm diễn ra trên nhiều
nhóm hàng, trong đó đáng chú ý là
nhóm hàng kim loại vào những ngày
cuối tháng 3 trước tác động của việc
Mỹ gia tăng áp thuế một số mặt hàng
kim loại và căng thẳng thương mại leo
thang giữa các nước Cụ thể, giá đồng
đã giảm 11% trong quý I, đánh dấu quý
giảm mạnh nhất kể từ giữa năm 2013
Tương tự như vậy, nhôm giảm 10,7%
trong khi thép giảm 12,4%
Ngoài ra, nhiều mặt hàng nông sản cũng ghi nhận những mức giảm khá mạnh trong quý I do nguồn cung vẫn đang gia tăng đều đặn, đáng chú ý là một số mặt hàng như đường giảm 24,12%, lúa mạch giảm 7,5%, cà phê giảm 10,17%, cao su giảm 13,7%,…
Trái ngược với diễn biến của những nhóm hàng trên, mặt hàng dầu mỏ tiếp tục duy trì được đà tăng trong quý I tuy nhiên cũng phải đối mặt với nhiều phiên điều chỉnh mạnh, đặc biệt trong tuần từ ngày 5 – 9/2 với mức giảm lên đến xấp xỉ 10% trước
áp lực mạnh lên của đồng USD sau đợt bán tháo chứng khoán và thông tin về số lượng giàn khoan tại Mỹ gia tăng Kết thúc quý I, giá dầu WTI đạt mức tăng 7,7%, chốt ở mức 64,94 USD/thùng, trong khi dầu Brent tăng 6,3% , chốt ở 70,27 USD/thùng
Diễn biến chỉ số giá hàng hóa thế giới
Nguồn: Bloomberg
Trang 77
số nền kinh tế như khu vực EU (từ mức 1,4% cuối năm ngoái hiện chỉ còn 1,1%) hay tại Anh (từ mức 3,1% cuối năm ngoái xuống hiện còn 2,8%) Tại các quốc gia đang phát triển và mới nổi, ngoại trừ lạm phát có chiều hướng gia tăng khá nhanh tại Trung Quốc và Ấn Độ, lạm phát tại các nền kinh tế lớn như Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Nam Phi, một số quốc gia Đông Nam Á vẫn được kiểm soát khá ổn định trong ngưỡng 2 – 3%
Lạm phát tại một số nền kinh tế phát triển Lạm phát tại khu vực châu Âu
Lạm phát tại một số nền kinh tế mới nổi châu Á Lạm phát tại một số nền kinh tế mới nổi khác
Nguồn: Bis Statistics
2 Điều hành chính sách của NHTW các quốc gia
NHTW Canada là quốc gia phát triển đầu tiên tiến hành tăng lãi suất trong
năm 2018 Vào ngày 17/1, BOC đã điều chỉnh tăng lãi suất thêm 0,25%, đưa lãi suất điều hành lên hiện đạt 1,25%, mức cao nhất kể từ năm 2009 trở lại đây Lần tăng lãi suất này của Canada nằm trong dự báo của giới đầu tư khi lạm phát đang có xu hướng gia tăng nhanh tại quốc gia này
NHTW Mỹ vào ngày 21/3chính thức công bố tăng lãi suất đồng USD từ 1,5% lên 1,75%, mức lãi suất cao nhất kể từ năm 2008 Đây là lần tăng lãi suất thứ 5 của Fed kể từ khi tổ chức này bắt đầu tăng lãi suất kể từ cuối năm 2016 trở lại đây Lần tăng lãi suất này nằm trong dự báo và nhiều khả năng Fed sẽ tăng lãi
Trang 88
suất ít nhất thêm 2 lần nữa trong năm nay
NHTW Trung Quốc tiếp bước Fed vào ngày 22/3 cũng đã điều chỉnh tăng lãi
suất cho vay ngắn hạn (lãi suất repo đảo ngược kỳ hạn 7 ngày) thêm 0,05% lên mức 2,55% Việc tăng lãi suất của PBOC được đánh giá như một biện pháp để giảm bớt áp lực chênh lệch lãi suất có thể khiến dòng vốn chảy ra khỏi thị trường Trung Quốc
Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tiếp tục thận trọng trong việc điều
hành chính sách tiền tệ ECB cho rằng việc xem xét điều chỉnh chính sách có thể bắt đầu vào nửa đầu năm 2018 nhưng cần tránh những thay đổi đột ngột và kiểm soát chặt chẽ sự tăng giá của đồng EUR Do đó, ECB sẽ tiếp tục duy trì mức lãi suất 0% và có thể kéo dài cho tới khi kết thúc chương trình nới lỏng định lượng Từ đầu năm nay, ECB cũng đã cắt giảm quy mô chương trình thu mua tài sản xuống còn 30 tỷ EUR hàng tháng và chương trình này dự định kéo dài đến hết tháng 9/2018
NHTW Nhật Bản (BoJ) tiếp tục giữ nguyên định hướng điều hành CSTT trong
quý I Cụ thể, BoJ đã quyết định giữ nguyên cơ chế kiểm soát lãi suất trái phiếu, trong đó duy trì chính sách lãi suất ngắn hạn là -0,1% và mua lại trái phiếu chính phủ nhằm giữ lãi suất dài hạn ở mức 0% Mặc dù vậy, BoJ cũng đã bắt đầu phát đi thông điệp sẽ có thể chấm dứt nới lỏng CSTT vào năm 2019 nếu lạm phát mục tiêu đạt mức 2%
Xu hướng thắt
chặt CSTT trên
toàn cầu khiến
lãi suất dài hạn
gia tăng
Lãi suất dài hạn vẫn đang trong xu hướng gia tăng trong những tháng đầu năm
2018 Hiện tại, lãi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm tại hầu khắp các nền kinh tế chủ chốt đều tăng cao hơn so với cuối năm ngoái, trong đó mức tăng mạnh được ghi nhận tại các quốc gia đã tiến hành điều chỉnh lãi suất chính sách như
Mỹ, Canada Cụ thể, so với thời điểm cuối năm ngoái, lãi suất trái phiếu 10 năm tại Canada đã tăng thêm khoảng 0,3%, tại Mỹ tăng thêm 0,2%, trong khi đó mức tăng này tại các nước khu vực EU là từ 0,1% - 0,16%; lãi suất trái phiếu dài hạn tại Nhật Bản có mức tăng thấp nhất 0,04% tuy nhiên mức lãi suất hiện tại cũng đã cao gấp đôi so với thời điểm cuối năm ngoái
Diễn biến lãi suất trái phiếu dài hạn tại một số nền kinh tế chủ chốt
Nguồn: OECD Statistics
Trong khi đó, lãi
suất cho vay trên
xu hướng gia tăng phù hợp với định hướng thắt chặt CSTT thì lãi suất cho vay tại hầu khắp các nền kinh tế chủ chốt khác như khu vực EU, Nhật, Anh vẫn
Trang 99
điều hành CSTT
của mỗi quốc gia không có nhiều thay đổi và duy trì ở mức thấp Tương tự như vậy, tại các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi, lãi suất cho vay cũng có sự biến động theo
chiều hướng khác nhau, một số nước lãi suất cho vay ngắn hạn đang có chiều hướng đi xuống như Nga, Brazil, tuy nhiên một số nước lãi suất cho vay đang
đi lên như Ấn Độ, Mexico, Hàn Quốc,
Diễn biến lãi suất cho vay ngắn hạn của một số nền kinh tế chủ chốt
Nguồn: OECD Statistics
Tương tự như vậy, dòng chảy lãi suất trên thị trường tín dụng cũng vận hành theo những hướng khác nhau Lãi suất cho vay tại Mỹ, Canada, Hàn Quốc, gia tăng ngay sau khi các quốc gia này có quyết định tăng lãi suất hồi đầu năm
và hiện đang có xu hướng giảm nhẹ Tại các nền kinh tế vẫn chưa có nhiều thay đổi trong định hướng điều hành chính sách như khu vực EU, Nhật, Anh, lãi suất giảm nhẹ hoặc vẫn duy trì tại mức thấp Trong khi đó, lãi suất giảm mạnh hơn tại các quốc gia đang thực hiện nới lỏng chính sách mạnh mẽ như Nga
Diễn biến lãi suất cho vay tại một số nền kinh tế chủ chốt
Mỹ EU Canada
Hàn Quốc Anh Nga
Nguồn: Trading Economics
Trang 1010
3 Diễn biến thị trường ngoại hối, vàng, chứng khoán
Thị trường ngoại
hối diễn biến sát
với dự báo, tiếp
Sát với các dự báo đưa ra vào cuối năm ngoái, đà giảm của đồng USD đã diễn
ra mạnh mẽ ngay từ tháng đầu tiên (-3,25%) của năm, tạm thời tăng trở lại (1,66%) vào tháng 2 và quay đầu giảm nhẹ 0,71% trong tháng 3 Diễn biến đó
đã làm cho đồng USD giảm 2,33% trong quý I – tương đương với mức giảm của cùng kỳ năm ngoái
Trong quý I, mặc dù đồng bạc xanh đã bị mất giá song chỉ số USD index vẫn có phiên tăng giảm đan xen qua các tháng Trong đó diễn biến tăng tiếp tục được
hỗ trợ bởi những diến biến khả quan của kinh tế vĩ mô trong nước, các tín hiệu sát với kỳ vọng của thị trường về kế hoạch điều hành lãi suất của Fed trong năm
2018 Trong khi đó xu hướng giảm chịu tác động mạnh mẽ bởi các yếu tố chính trị cả trong và ngoài nước Cụ thể đó là những phản ứng của Đảng dân chủ đối với kế hoạch cắt giảm thuế đã được thông qua vào cuối năm ngoái, những rắc rối xung quanh dự luật ngân sách cũng như kế hoạch chi tiêu tài khóa 2018, kế hoạch áp thuế đối với mặt hàng nhôm và thép dành cho các đối tác thương mại cũng như kế hoạch áp thuế đối với danh mục hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc vào tháng 3; tiếp đến là định hướng điều hành của các nước lớn như EU
và Nhật Bản liên quan đến việc bình thường hóa CSTT, quan điểm về sức mạnh của đồng USD trên các diễn đàn quốc tế hay phản ứng của các nước trước kế hoạch bảo vệ thương mại của nước Mỹ,… Ngoài ra, sự phục hồi của các khối nước cũng như các đồng tiền mạnh khác cũng làm giảm sức hấp dẫn của đồng bạc xanh Mặc dù vậy, tác động từ các nhân tố này sẽ mạnh nhất trong ngày diễn ra sự kiện, không tạo thành xu hướng kéo dài và thường chỉ kết thúc sau 01 tuần giao dịch
Trong quý I, chỉ số USD index có mức giảm mạnh nhất hơn 1% vào ngày 24/1
và tăng mạnh nhất ở mức 0,82% vào ngày 28/3, kết thúc quý I, chỉ số USD index chốt giao dịch ở mức 89,97
Diễn biến chỉ số USD index
87 88 89 90 91 92 93
Trang 11vào tháng cuối của quý với mức đều lớn hơn 1% Kết thúc Quý I, đồng EUR và đồng GBP đã tăng lần lượt là 2,7% và 3,27% - lớn hơn gấp đối so với mức 1,29% và 1,72% vào cùng thời điểm so sánh của năm ngoái
Diễn biến tăng của đồng EUR và đồng GBP tiếp tục được nâng đỡ bởi các kết quả kinh tế vĩ mô1, định hướng điều hành CSTT rõ ràng, các tín hiệu thuận lợi của hiệp ước Brexit và xu hướng mất giá của đồng bạc xanh Trong chuỗi tăng
đó, đồng EUR đã có ngày giao dịch tăng 1,29% vào ngày 12/1, đồng thời cũng đạt được mức giá đỉnh lớn hơn 1.25 EUR/USD trong tháng này Bên cạnh đó, đồng GBP cũng đạt mức tăng cao nhất, lớn hơn 1,73% vào ngày 24/1
Trong khi đó, diễn biến giảm của cả hai đồng tiền này bị tác động chủ yếu bởi các yếu tố chính trị trong khu vực, cụ thể là tình hình bầu cử và kiện toàn bộ máy chính trị của một số nền kinh tế trong khu vực như Ý, Đức, Pháp,… nguy
cơ tan rã của EU gắn với các diễn biến xung quanh hiệp ước Brexit hay việc trỗi dậy của phong trào cực hữu Ngoài ra, những tác động từ bên ngoài như kế hoạch áp thuế đối với một số mặt hàng nhập khẩu từ Châu Âu, diễn biến tăng của đồng USD và những quan ngại về rủi ro lạm phát và chủ nghĩa bảo hộ gia tăng,… cũng có ảnh hưởng nhất định đến diễn biến giảm của đồng EUR và đồng GBP Diễn biến giảm rõ rệt nhất đã xuất hiện trong tháng 2, ghi nhận mức giảm trên 1% đối với đồng GBP và 0,91% đối với đồng EUR
Kết thúc quý, tỷ giá GBP/USD chốt giao dịch ở mức 1.4018; tỷ giá EUR/USD
là 1.2323
Bên cạnh đó, đồng AUD và đồng CAD đã giảm sau 3 tháng giao dịch, lần lượt
ở mức 1,58% và 2,5% Xu hướng diễn biến của hai đồng tiền này khá tương đồng khi cùng tăng trong tháng 1 trước diễn biến bất lợi của đồng USD nhưng đồng loạt giảm vào hai tháng kế tiếp, đáng chú ý là mức giảm mạnh 3,6% và lớn hơn 4% vào tháng 2 Xu hướng giảm này chịu tác động bởi những diễn biến thiếu tích cực của kinh tế trong nước, những đe dọa trong mối quan hệ thương mại với Mỹ và diễn biến của giá cả kim loại, giá dầu trên thị trường quốc tế Kết thúc tháng 3/2018, tỷ giá AUD/USD và USD/CAD lần lượt chốt giao dịch
ở mức 0.7679 và 1.2894
Đồng JPY và đồng CNY đều tăng mạnh hơn so với cùng kỳ năm ngoái
Tại khu vực Châu Á, hai đồng tiền chủ chốt là JPY và CNY đều tăng giá mạnh
so với đồng USD lần lượt ở mức 5,69% và 3,55% - cao hơn so với tốc độ tăng cùng kỳ năm ngoái Trong đó, đồng JPY đã duy trì được đà tăng liên tục trong 3 tháng, đồng CNY tăng so với đồng USD vào tháng 1 và tháng 3, giảm nhẹ 0,67% vào tháng hai Cả hai đồng CNY và đồng JPY đều có mức tăng trên 3% vào tháng 1
Trong Quý I/2018, đồng JPY đã có được đà tăng kéo dài sau chuỗi tăng giảm không ổn định vào cuối năm ngoái Đà tăng của đồng JPY liên tục được hỗ trợ bởi những yếu tố kinh tế nền tảng thuận lợi như diễn biến kinh tế vĩ mô, thặng
dư tài khoản vãng lai, định hướng điều hành CSTT của NHTW và những vấn đề chính trị trong nước có ảnh hưởng đến giai đoạn siêu nới lỏng của CSTT2 và nhu cầu tài sản đầu tư an toàn gia tăng Xu hướng tăng giá liên tục của đồng JPY đã đưa tỷ giá USD/JPY ở ngưỡng giao dịch phổ biến trong tháng 1 và đầu
Trang 12Mỹ Tuy nhiên, xu hướng này chỉ xuất hiện trong 1 tháng, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã tăng trở lại vào tháng 3 Theo số liệu do Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) công bố, trong tháng 3 dự trữ ngoại tệ đã tăng 8,34 tỷ USD đạt mức 3,143 nghìn tỷ USD
Trang 13Kết thúc Quý I/2018, mặc dù giá vàng vẫn giữ được xu hướng tăng nhưng diễn
ra không liên tục qua các tháng và mức độ biến động đã thấp hơn rất nhiều so với cùng kỳ các năm gần đây Cụ thể, giá vàng đã tăng mạnh, lần lượt là 3,2% đối với vàng giao ngay và 2,62% đối với giá vàng kỳ hạn trong tháng 1; tăng nhẹ 0,58% và 0,27% trong tháng 3 và đồng loạt giảm 1,96% và 1,83% trong tháng 2 Kết thúc quý I/2018, giá vàng đã tăng 1,82% đối với vàng giao ngay và 1,01% đối với vàng kỳ hạn – đây là mức tăng theo quý thấp nhất trong thời gian gần đây Xu hướng giảm của giá vàng vào tháng 2/2018 chủ yếu vẫn bị ảnh hưởng bởi sự phục hồi tạm thời của đồng USD, các quan ngại bất ổn chính trị khởi xướng từ nước Mỹ và khu vực Châu Âu Mặc dù vậy, trong tháng 2/2018, giá vàng đã có ngày giao dịch tăng mạnh nhất ở mức trên 1.350 $/ounce đối với vàng giao ngay và trên 1.363 $/ounce đối với vàng kỳ hạn (14/2) Trong khi
đó, xu hướng tăng của giá vàng tiếp tục được hỗ trợ bởi đồng USD yếu, các quan ngại về vấn đề lạm phát, lãi suất, lợi tức trái phiếu chính phủ và căng thẳng địa chính trị Kết thúc tháng, giá vàng giao ngay và kỳ hạn lần lượt chốt ở mức 1.325,03 $/ounce và 1.327,3 $/ounce
Diễn biến giá vàng thế giới
Nguồn: usagold.com
Xu hướng tăng chậm lại của giá vàng trong thời gian gần đây cũng phần nào được phản ánh qua báo cáo về số liệu vàng trong năm 2017 của hội đồng vàng thế giới (WGC) Theo WGC, mặc dù nhu cầu vàng toàn cầu phục hồi trở lại trong những tháng cuối năm 2017, đạt 1.095,8 tấn, tăng 6% trong quý IV so với năm trước nhưng nhu cầu vàng toàn cầu trong năm 2017 vẫn giảm 7%, xuống mức 4.071,9 tấn
Trong các cấu phần quan trọng của nhu cầu vàng toàn cầu, chỉ có nhu cầu vàng trang sức và vàng trong sản xuất có kết quả tăng Theo đó, nhu cầu vàng trang sức đã tăng 4% trong năm, ở mức 2.135,5 tấn chủ yếu nhờ nhu cầu vàng trang sức tại Trung Quốc và Ấn Độ Nhu cầu vàng trong lĩnh vực công nghệ cũng tăng 3% lên 332,8 tấn
Mặc dù vậy, sự sụt giảm lại diễn ra trên tất cả các cấu phần quan trọng khác Cụ thể, nhu cầu vàng qua các quỹ ETF chỉ đạt 202,8 tấn – chỉ bằng khoảng một phần ba nhu cầu của năm 2016, ở mức 546,8 tấn Đồng thời nhu cầu vàng thanh
và đồng tiền vàng cũng giảm 2%, xuống còn 1.029,2 tấn nguyên nhân chủ yếu
do sự sụt giảm mạnh nhu cầu của Mỹ Ngoài ra, nhu cầu mua vàng ròng của NHTW cũng giảm 5% so với năm 2016, đạt 371,4 tấn
Bên cạnh đó, tổng cung vàng toàn cầu năm 2017 cũng đã giảm 4% so với năm trước, ở mức 4.398,4 tấn Trong đó, mặc dù sản lượng khai thác mỏ đạt mức kỷ lục là 3.268,7 tấn song nguồn cung vàng tái chế lại giảm khoảng 10% xuống còn 1.160 tấn
1300 1320 1340 1360 1380
Trang 1414
Diễn biến thị trường chứng khoán
Diễn biến nhu cầu nắm giữ vàng
Xu hướng này diễn ra phổ biến trên các thị trường chứng khoán lớn Cụ thể, chỉ
số MSCI ACWI đạt mức tăng 5,58% trong tháng 1, giảm 3,4% trong tháng 2 và tiếp tục giảm 3,64% trong tháng 3, trong đó đáng chú ý là đợt điều chỉnh giảm mạnh xấp xỉ 10% trong tuần đầu tiên của tháng 2 và đợt giảm xấp xỉ 5,3% trong tuần thứ 3 của tháng 3 Như vậy, kết thúc quý I, chỉ số MSCI ACWI ở mức 505,44 điểm, giảm 1,5% so với cuối năm ngoái
Diễn biến chỉ số MSCI ACWI
Nguồn:msci.com
Chứng khoán Mỹ trước những diễn biến kinh tế bất lợi cùng với những bê bối rò
rỉ thông tin tại các các công ty công nghệ cũng đã giảm điểm mạnh mẽ Sự sụt giảm cũng được ghi nhận mạnh nhất trong tuần đầu của tháng 2 và tuần thứ 3 của tháng 3 với mức giảm giao động trong khoảng 7 - 10% đối với các chỉ số chứng khoán chủ chốt Kết thúc quý I, chỉ số Dow Jones chốt ở 24.103,11 điểm, chỉ số S&P 500 ở 2.640,87 điểm và chỉ số Nasdaq Composite ở 7.063,45 điểm Tính chung cả quý, Dow Jones giảm 3,18% và S&P 500 lùi 0,97% chỉ riêng Nasdaq Composite tăng 2,73%
0.0 500.0 1,000.0 1,500.0 2,000.0 2,500.0 3,000.0 3,500.0 4,000.0 4,500.0 5,000.0
Trang 15ép tăng giá của đồng bảng Anh
và những khó khăn trong hoạt động của các công ty niêm yết dưới tác động Brexit Hai thị trường chủ chốt khác là Đức và Pháp cũng sụt giảm mạnh với mức giảm lần lượt là 7,46% và 7,89% Với diễn biến như vậy, chỉ số Euro Stoxx toàn khu vực
đã giảm 3,9% trong quý I, mức giảm theo quý mạnh nhất được ghi nhận từ quý I năm 2016 trở lại đây
Tại Châu Á, các chỉ số chứng khoán cũng chịu tác động mạnh từ những thông tin kém tích cực trên thị trường chứng khoán toàn cầu và diễn biến cùng với xu hướng chung của chứng khoán thế giới Kết thúc tháng 1, chỉ số MSCI khu vực châu Á Thái Bình Dương đã giảm gần 1% so với cuối năm ngoái Hầu hết các chỉ
số chứng khoán chính trong khu vực như Nikkei 225 của Nhật, Sanghai của Trung Quốc, Kopsi của Hàn Quốc,… đều ghi nhận những mức giảm điểm mạnh
từ 5 – 7% trong quý I
4 Triển vọng kinh tế toàn cầu năm 2018
Kinh tế thế giới trong những tháng còn lại của năm 2018 sẽ được hậu thuẫn bởi các yếu tố, bao gồm: xu hướng tăng trưởng ổn định tại các nền kinh tế lớn, sự hồi phục của các dòng thương mại và đầu tư trên thế giới, xu hướng thúc đẩy toàn cầu hóa tại một số khu vực, đặc biệt là châu Á - Thái Bình Dương và áp lực lạm phát ở mức có thể kiểm soát được giúp thúc đẩy tiêu dùng và đầu tư tại nhiều nước trên thế giới Về cơ bản, dự báo kinh tế toàn cầu năm 2018 sẽ đi theo những hướng sau:
- Về tăng trưởng kinh tế: Hầu hết các tổ chức quốc tế vẫn lạc quan về triển vọng
tăng trưởng kinh tế toàn cầu khi nâng mức dự báo tăng trưởng trong năm 2018
so với những mức dự báo được đưa ra vào cuối năm ngoái Quỹ tiền tệ quốc tế IMF đưa ra dự báo mới nhất về tăng trưởng kinh tế toàn cầu ở mức 3,9%, cao hơn 0,2% so với mức dự báo đưa ra cuối năm ngoái Tương tự như vậy, Ngân hàng thế giới WB cũng đưa ra mức dự báo cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu là 3,1%, cao hơn 0,3% so với mức dự báo được đưa ra trước đó Bên cạnh đó, hầu hết các dự báo đều thống nhất trong việc đưa ra những nhận định khả quan về triển vọng tăng trưởng tại các nền kinh tế chủ chốt
- Về hoạt động thương mại: Theo dự báo của WTO, tăng trưởng thương mại toàn cầu năm 2018 ước đạt 3,2%, thấp hơn một chút so với mức tăng trưởng 3,6% của năm 2017.IMF dự báo, tăng trưởng khối lượng thương mại hàng hóa
và dịch vụ toàn cầu năm 2018 ở mức 4,6%, giảm nhẹ so với 4,7% năm 2017 Những lí do khiến cho thương mại thế giới năm 2018 khó đạt mức tăng trưởng cao như năm 2017 là do chính sách tiền tệ dự kiến sẽ thắt chặt ở các nước phát triển và tác động bất lợi của những chính sách bảo hộ thương mại đang có chiều
Diễn biến tăng trưởng các chỉ số chứng khoán chủ chốt tại các thị trường chính qua các tháng quý I
Nguồn: Bloomberg
Trang 1616
hướng gia tăng trở lại từ cuối quý I năm nay
- Về hoạt động đầu tư: Dòng vốn FDI toàn cầu dự báo sẽ tiếp tục xu hướng
phục hồi khiêm tốn trong năm 2018 nhờ tăng trưởng kinh tế cao hơn ở nhiều nước trên thế giới, sự hồi phục của thương mại UNCTAD dự báo dòng vốn FDI sẽ tăng từ 1,8 nghìn tỷ USD năm 2017 lên 1,85 nghìn tỷ USD năm 2018 Mặc dù có cải thiện trong năm 2018, nhưng rủi ro về bất ổn chính sách, địa - chính trị và thay đổi chính sách thuế có thể ảnh hưởng lớn tới dòng vốn FDI Dòng vốn đầu tư gián tiếp vào các thị trường đang phát triển và mới nổi được
dự báo sẽ tăng từ 1,1 nghìn tỷ USD năm 2017 lên 1,2 nghìn tỷ USD năm 2018
do tăng trưởng kinh tế được cải thiện Tuy nhiên, do lãi suất trái phiếu kỳ hạn dài tại các nền kinh tế phát triển đang có xu hướng tăng lên có thể làm chậm lại tốc độ tăng của dòng vốn đầu tư gián tiếp vào các thị trường đang nổi trong thời gian tới
- Lạm phát được dự báo tăng ở cả các nền kinh tế phát triển và đang phát triển
trong năm 2018 tuy nhiên mức tăng này vẫn nằm trong phạm vi kiểm soát Theo Oxford Economics, lạm phát toàn cầu năm 2018 dự báo ở mức 3,1%, lạm phát của Mỹ là 1,9%, còn Eurozone là 1,2% Còn theo Focus Enonomics, lạm phát toàn cầu năm 2018 sẽ ở mức 2,8%, tăng nhẹ so với mức 2,7% của năm
2017
Giá dầu và giá các mặt hàng phi nhiên liệu thế giới vẫn được dự báo tăng trong năm 2018 do nhu cầu tăng, trong khi nguồn cung thắt chặt hơn Mặc dù vậy, những rủi ro địa chính trị và những biến động trên các thị trường tài chính tiền
tệ toàn cầu có thể tác động khiến thị trường giá cả hàng hóa sẽ có nhiều giao động
- Thị trường tài chính tiền tệ đón nhận những biến động theo chiều hướng khác
nhau: Với những gì đã diễn ra trong quý I, diễn biến thị trường ngoại hối trong quý tới về cơ bản sẽ không có nhiều xáo trộn và tiếp tục bị ảnh hưởng bởi các quyết định chính sách của NHTW các nước lớn, xung đột thương mại được khởi xướng từ nước Mỹ, rủi ro chính trị từ khu vực Châu Âu Trên cơ sở đó, nhiều dự báo cho rằng chỉ số USD index tiếp tục giảm trước những áp lực trong nước và quốc tế, đáng chú ý là khả năng phải đối mặt với thâm hụt kép; đồng EUR và đồng GBP sẽ có được những mức giá mới trong tình huống kiểm soát được các vấn đề bất ổn chính trị trong khu vực, lạm phát chưa đủ mạnh để ECB thay đổi chính sách nhưng BOE sẽ hội đủ điều kiện để điều chỉnh lãi suất trong quý tới Bên cạnh đó, đồng JPY mặc dù vẫn được hỗ trợ bởi các yếu tố kinh tế nền tảng nhưng khả năng mức tăng sẽ không mạnh và liên tục để tránh làm triệt tiêu các nỗ lực của CSTT; đồng CNY sẽ diễn biến ổn định hỗ trợ cho công cuộc cải cách kinh tế và khu vực tài chính của Chính quyền mới nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội đã đặt ra
Ngoài ra, mặc dù giá vàng đã có quý tăng thấp nhấp trong nhiều năm trở lại đây nhưng xu hướng này đang diễn ra trong một môi trường thuận lợi cho việc tăng giá Thêm vào đó, vàng sẽ tiếp là tài sản đầu tư an toàn đặc biệt khi mà thị trường chứng khoán toàn cầu nhiều khả năng sẽ trải qua biến động ngoài dự đoán, vì vậy nhiều dự báo cho rằng giá vàng không chỉ tiếp tục giữ được đà tăng trong quý tới mà có thể còn bảo vệ được diễn biến này trong cả năm 2018 Trên cơ sở đó, giá vàng đã được dự báo lạc quan, có thể đạt ngưỡng 1.380
$/ounce – 1.400 $/ounce
Trong khi đó, thị trường chứng khoán chắc chắc sẽ tiếp tục phải đối mặt với những biến động Thị trường sẽ không thể giữ được đà tăng điểm xuyên suốt
Trang 1717
KINH TẾ TRONG NƯỚC
1 Tăng trưởng kinh tế
trong những quý còn lại, thay vào đó sẽ là những đợt điều chỉnh mạnh mẽ, đặc biệt tại một số thị trường chứng khoán đã bùng nổ vượt quá giá trị thực Trong bối cảnh đó, nhiều tổ chức đang đưa ra một mức dự báo bi quan về khả năng thị trường chứng khoán toàn cầu có thể sẽ tiếp tục sụt giảm thêm 10% giá trị trong những tháng còn lại của năm 2018
Mặc dù đón nhận những dự báo khá lạc quan như vậy, kinh tế thế giới 2018 cũng tiềm ẩn những rủi ro, thách thức: các yếu tố bất định từ những điều chỉnh chính sách của Mỹ; các vấn đề địa chính trị tiếp tục diễn biến khó lường, nổi lên
là căng thẳng Mỹ - Nga, Anh - Nga, EU - Nga; chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc; xu hướng gia tăng chủ nghĩa dân túy, bảo hộ thương mại; xu hướng thắt chặt chính sách tại các nền kinh tế chủ chốt; biến động trên các thị trường hàng hóa khiến lạm phát trở nên khó dự đoán và kiếm soát; rủi ro tài chính, tiền tệ đang có xu hướng gia tăng nhất là ở thị trường chứng khoán toàn cầu… Tất cả những yếu tố này sẽ tiếp tục tác động khiến kinh tế thế giới sẽ tiếp tục phải đối mặt với một giai đoạn biến động mới
- Khu vực công nghiệp và xây dựng đã có được mức tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái, đồng thời cũng là khu vực có mức tăng mạnh nhất, tăng 9,7%, đóng góp 3,39 điểm phần trăm Xu hướng tăng mạnh của khu vực này tiếp tục được dẫn dắt bởi nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo, đồng thời ghi nhận sự tăng trưởng dương trở lại sau hai năm suy giảm của công nghiệp khai khoáng;
2 3 4 5 6 7 8
2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018
Mức tăng trưởng của các nhóm ngành chủ lực trong khu vực công nghiệp và xây dựng trong quý 1/2017 và quý 1/2018 (so với cùng kỳ)
Nguồn: TCTK
Trang 1818
- Khu vực nông, lâm nghiệp và
thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng
trưởng đã lấy lại từ năm ngoái,
thậm chí đã khai thác được những
thuận lợi về thời tiết, chính sách
và môi trường kinh doanh nên đã
có được mức tăng lớn gấp hai lần
so với năm ngoái, tăng 4,05%,
đóng góp 0,46 điểm phần trăm
vào mức tăng chung Diễn biến
tích cực hơn so với năm ngoái đã
được ghi nhận đối với cả 03 lĩnh
vực;
- Khu vực dịch vụ vẫn giữ được đà tăng cao nhất, tăng 6,7%, đóng góp 2,75 điểm phần trăm Trong đó, có nhiều nhóm ngành dịch vụ chủ lực đã có được mức tăng trưởng cao hơn 7%;
Mức tăng trưởng của các nhóm ngành chủ lực trong khu vực dịch vụ
trong quý 1/2017 và quý 1/2018 (so với cùng kỳ)
Bán buôn và bán lẻ dịch vụ lưu trú và ăn uống
hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm hoạt động kinh doanh bất động sản
6 6.2 6.4 6.6 6.8 7 7.2
Mức tăng trưởng của các nhóm ngành trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản trong quý 1/2017 và quý 1/2018 (so với cùng kỳ)
Nguồn: TCTK
Trang 19Trong Quý I/2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 11,6% so với cùng
kỳ năm trước – là mức tăng cao trong 5 năm gần đây Kết quả này được đóng góp bởi hầu hết các nhóm ngành chủ lực trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp Cụ thể:
- Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt với mức tăng trưởng cao 13,9%, đóng góp 10,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung Nhóm ngành này đã duy trì được mức tăng mạnh qua 03 tháng so với cùng kỳ, ghi nhận sự đóng góp của các nhóm ngành trụ cột như sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính, sản phẩm quang học và sản xuất kim loại với mức tăng trưởng hầu hết cao hơn mức tăng chung…;
Tốc độ tăng trưởng của một số nhóm trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Nguồn: TCTK
- Ngành khai khoáng đã tăng trưởng dương trở lại sau 2 năm suy giảm, tăng ở mức 0,4%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm vào mức tăng chung Tuy nhiên xu hướng tăng còn ở mức thấp, chưa đều qua các tháng và mới chỉ diễn ra trong lĩnh vực khai thác than non, than đá; khai khoáng khác, trong khi đó khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên suy giảm ở mức 0,5%;
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100
thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm
Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học
thoát nước và
xử lý nước thải
sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu
sản xuất kim loại dệt phẩm từ kim sản xuất sản
loại đúc sẵn
sản xuất giường, tủ, bàn, ghế
Trang 2020
4 Doanh thu của Công ty TNHH SamSung Display Việt Nam 2 tháng đầu năm ước tính đạt 49,3 nghìn tỷ đồng gấp 2,2 lần so với cùng kỳ năm trước Tập đoàn Formosa cũng có tốc độ sản xuất ấn tượng với sản lượng kim loại ước đạt 475,5 nghìn tấn thép, gấp 11,8 lần so với cùng kỳ năm trước.
Tốc độ tăng/giảm của các nhóm trong ngành khai khoáng
Nguồn: TCTK
- Ngành sản xuất và phân phối điện tăng trưởng ổn định ở mức 10,5%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,1%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm
Xu hướng diễn biến tốt của sản xuất công nghiệp đã lan tỏa trên khắp các tỉnh, thành trong cả nước, trong đó ghi nhận sự tăng tốc mạnh của một số địa phương như Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Nguyên,… Góp phần vào diễn biến khởi sắc của các địa phương trên phải kể đến sự đóng góp của Tập đoàn Formosa và Công ty TNHH Samsung Display Việt Nam trong lĩnh vực khai khoáng và sản xuất linh kiện điện
tử, máy vi tính và sản phẩm quang học4 Nhìn chung, kết thúc quý I/2018, các tỉnh, thành phía Bắc tiếp tục giữ được vai trò đầu tàu trong sản xuất công nghiệp, tiếp đến
là khu vực miền Trung và cuối cùng là khu vực phía Nam
Diễn biến chỉ số sản xuất công nghiệp ở các tỉnh, thành phố lớn
-1 -0.5 0 0.5 1 1.5 2 2.5 3 3.5
Khai thác than cứng và than non Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên Khai khoáng khác
0 5 10 15 20 25 30 35 40
Trang 2121
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tính đến cuối tháng 3/2018 ước tăng 6,4% so với thời điểm cuối tháng trước và tăng 13,5% so với cùng thời điểm năm trước Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân Quý I/2018 đạt 68,2%, thấp hơn mức 71,9% của cùng kỳ năm ngoái
Diễn biến chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế
Chỉ số Nhà quản trị mua hàng – PMI đã có được mức cải thiện mạnh mẽ trong tháng 1
và tháng 2, lần lượt là 53,4 và 53,5 điểm và đã giảm nhẹ ở mức 51,6 điểm trong tháng 3/2018 Diễn biến tích cực của PMI trong quý I tiếp tục được hỗ trợ từ diễn biến tăng của sản lượng, số lượng đơn đặt hàng mới, việc làm, hoạt động mua hàng Trong đó sản lượng hàng hóa duy trì chuỗi tăng liên tục dưới tác động tích cực của nhu cầu trong nước và nước ngoài đã tác động lan tỏa đến các khu vực khác Mặc dù xu hướng này đã chững lại trong tháng 3 xong việc số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh nhờ lĩnh vực xuất khẩu đã tạo niềm tin tích cực cho sức bật của sản lượng trong những tháng tới Bên cạnh những diễn biến tích cực, trong những tháng đầu năm, lĩnh vực sản xuất tiếp tục phải đối mặt với chi phí đầu vào tăng cao, chủ yếu là do sự khan hiếm hàng hóa, nguyên vật liệu đầu vào Việc chi phí đầu vào tăng kéo dài đã kéo theo chi phí đầu ra tăng – tạo áp lực lạm phát Tuy nhiên những thách thức này đã dịu bớt trong tháng cuối cùng của quý khi chi phí đầu vào và giá cả đầu ra đã giảm mạnh so với tháng 2, giảm bớt tâm lý lo lắng về lạm phát trong những tháng tới
Diễn biến Chỉ số PMI
Quý 1/15 Quý 1/16 Quý 1/17 Quý 1/18
Tiêu thụ so với tháng trước Tiêu thụ so với cùng kỳ
2.0 4.0 6.0 8.0 10.0 12.0 14.0 16.0
-Quý 1/15 -Quý 1/16 -Quý 1/17 -Quý 1/18
Tồn kho so với tháng trước Tồn kho so với cùng kỳ
50.5 51 51.5 52 52.5 53 53.5 54 54.5 55
Trang 22Tăng trưởng tích cực của hoạt động tiêu dùng trong 3 tháng đầu năm đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế xét theo yếu tố sử dụng Cụ thể, xét về góc độ sử dụng GDP quý I, tiêu dùng cuối cùng đạt mức tăng cao nhất trong các cấu phần, đạt 7,13% so với cùng kỳ năm 2017 và tiếp tục là khu vực đóng góp cao nhất vào mức tăng GDP chung5
Tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh
thu DV TD so với tháng trước và cùng kỳ (%)
Tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đã loại trừ yếu tố giá (% yoy)
đã có tốc độ tăng trưởng thấp đạt 4,4% so với cùng kỳ
Tốc độ phát triển vốn đầu tư thực hiện toàn xã hộ quý I các năm 2016-2018 so với cùng
5 Xét về góc độ sử dụng GDP quý I, tiêu dùng cuối cùng đóng góp 5,04 điểm phần trăm vào mức tăng chung; tích lũy tài sản đóng góp 1,15 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ ở tình trạng xuất siêu làm tăng 1,19 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung
Trang 23Diễn biến vốn đầu tư từ NSNN
và số vốn tăng thêm đạt 1.789,9 triệu USD, giảm 54,6% so với cùng kỳ năm trước
Trái ngược lại, lượng vốn FDI vào Việt Nam thông qua kênh góp vốn mua cổ phần lại có sự gia tăng mạnh mẽ Cụ thể, trong 3 tháng năm 2018 có 1.285 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị vốn góp
là 1.890,1 triệu USD, tăng 121,6% so với cùng kỳ năm 2017