Gần 50 năm cầm bút, sáng tác và nghiên cứu trênnhiều lĩnh vực và ở lĩnh vực nào Triều Ân cũng có những tác phẩm để lạidấu ấn rõ nét trong đời sống văn học và văn hóa dân tộc ở các giai đ
Trang 1Vietluanvanonline.com Page 1
Trang 2Vietluanvanonline.com Page 2
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 5
3.2 Phạm vi nghiên cứu: 5
4 Mục đích nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Cấu trúc luận văn 6
PHẦN NỘI DUNG 7
Chương 1: VÀI NÉT VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN TRIỀU ÂN 7
1.1 Bản sắc văn hóa dân tộc 7
1.1.1 Văn hóa và bản sắc văn hóa Việt Nam 7
1.1.2 Đặc điểm văn hóa dân tộc (Tày, Dao) 10
1.2 Sáng tác của Triều Ân trong dòng chảy của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại 22
1.2.1 Đôi nét về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại 22
1.2.2 Sáng tác của Triều Ân 23
Chương 2: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG VĂN XUÔI TRIỀU ÂN 34
2.1 Phương diện phong tục tập quán 34
2.1.1 Văn hoá Tày, Dao qua lễ hội, chợ phiên 35
2.1.2 Văn hóa Tày, Dao qua hôn nhân 39
Trang 3Vietluanvanonline.com Page 3
2.1.3 Tập quán sinh nở và lễ đầy tháng tuổi của đồng bào Tày,
Dao 44
2.1.4 Văn hoá Tày, Dao trong tổ chức đời sống cộng đồng 47
2.2 Phương diện nghề thủ công và trang phục 54
2.2.1 Nghề thủ công 54
2.2.2 Vẻ đẹp trang phục 58
2.3 Văn hóa Tày, Dao qua y học dân tộc 63
2.4 Dấu ấn văn hóa Tày, Dao ở phương diện đời sống văn nghệ, tín ngưỡng và tâm hồn 70
2.4.1 Đời sống văn nghệ 70
2.4.2 Đời sống tín ngưỡng 80
2.4.3 Đời sống tâm hồn 80
Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG VĂN XUÔI TRIỀU ÂN 85
3.1 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện 85
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 97
3.2.1 Đặc tả ngoại hình nhân vật 97
3.2.2 Xây đựng nhân vật đa diện 101
3.3 Nghệ thuật sử dụng ngôn từ 106
3.3.1 Ngôn ngữ mang đậm dấu ấn miền núi 107
3.3.2 Ngôn ngữ đậm chất thơ 111
PHẦN KẾT LUẬN 115
Trang 4Vietluanvanonline.com Page 4
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ những năm 50, 60 của thế kỷ XX, lớp nhà văn là người dân tộc thiểu
số đã xuất hiện và trưởng thành với nhiều tác phẩm phản ánh hiện thựccuộc sống ở vùng quê của họ Một trong các tác giả tiêu biểu đó là nhà vănTriều Ân Ông là một trong mười sáu nhà văn dân tộc thiểu số đầu tiên cómặt trong cuốn Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (Nxb Vănhóa dân tộc – 1988) Gần 50 năm cầm bút, sáng tác và nghiên cứu trênnhiều lĩnh vực và ở lĩnh vực nào Triều Ân cũng có những tác phẩm để lạidấu ấn rõ nét trong đời sống văn học và văn hóa dân tộc ở các giai đoạnlịch sử khác nhau Ông bắt đầu con đường văn học của mình bằng thơ vàđoạt giải nhì cuộc thi thơ 1960 – 1961 do Tạp chí Văn nghệ tổ chức với bàithơ Quê ta anh biết chăng? Bên cạnh thơ, Triều Ân còn viết văn xuôi
Truyện ngắn Bên bờ suối tiên của ông đã được giải nhì cuộc thi truyệnngắn của Tạp chí Văn nghệ Việt Bắc (1962) Đến nay, ngoài 8 tập thơ tiếngViệt và 1 tập thơ tiếng Tày, Triều Ân đã xuất bản năm tập truyện ngắn:
Tiếng hát rừng xa (Nxb Văn học – H.1969), Tiếng khèn A Pá (Nxb Tácphẩm mới – H.1980), Như cánh chim trời (Nxb Kim Đồng – 1982),Đường qua đèo mây (Nxb Văn nghệ Cao Bằng – 1988) và Xứ sương mù(Nxb Văn học – H.2000) Vào thập niên chín mươi của thế kỉ XX, Triều
Ân lại tìm đến thể loại tiểu thuyết, và chỉ trong vòng mười năm ông đã cho
ra mắt ba cuốn tiểu thuyết: Nắng vàng bản Dao (1992), Nơi ấy biên thùy(1994), Dặm ngàn rong ruổi (2000) Những sáng tác tiêu biểu của ông đãđược tập hợp trong cuốn Tuyển tập thơ văn Triều Ân (Nxb Văn học –H.2006) Với những hoạt động sáng tạo và nghiên cứu văn học phong phútrên nhiều phương diện, có thể nói Triều Ân là một trí thức, một nhà nghiên
Trang 5số, lại ít được nghiên cứu, giới thiệu rộng rãi Do vậy việc tìm hiểu nghiêncứu về văn học miền núi, nhất là với những sáng tác do chính các tác giảngười miền núi viết trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc gia và quốc tếhiện nay là việc làm có ý nghĩa cấp thiết Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài:
Bản sắc dân tộc trong văn xuôi Triều Ân
2 Lịch sử vấn đềTrong những năm gần đây, văn học dân tộc và miền núi đã được giớinghiên cứu, phê bình quan tâm chú ý Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình vănhọc đã có những ý kiến nhận xét, đánh giá về các tác giả văn học hiện đạingười dân tộc thiểu số và mảng văn học miền núi Trong đó, có khá nhiềucông trình, bài viết đề cập đến sự nghiệp sáng tác cùng những đóng góp củanhà văn Triều Ân với văn học dân tộc và miền núi nói riêng và văn họcđương đại nói chung Đặc biệt ở cuộc Hội thảo khoa học về nhà vănHoàng Triều Ân được tổ chức tại Cao Bằng ngày 12 tháng 11 năm 2007,giới nghiên cứu, phê bình văn học đã có những bản tham luận đánh giá xácđáng về sự nghiệp sáng tác của ông PGS – TS Đỗ Thị Hảo đã viết: “Thậtkhó có thể xếp Hoàng Triều Ân hay gọi ông là “nhà” gì? Vì tác phẩm củaông quá nhiều; lại cực kỳ phong phú về thể loại” [50, tr.171] PGS – TS Lã
Trang 6“Nhưng Triều Ân không chỉ làm thơ – ông còn là một người viết vănxuôi có hạng” [37] PGS – TS Nguyễn Văn Long khi nghiên cứu về vănxuôi Triều Ân đã đưa ra nhận xét: “Trong lĩnh vực văn xuôi, có thể nói câybút Hoàng Triều Ân đã có những đóng góp thật đáng kể, làm đầy đặn vàphong phú hơn cho sáng tác văn xuôi của các dân tộc thiểu số Đóng góp
ấy càng đáng quý trong tình hình văn học các dân tộc thiểu số vẫn thườngmạnh về thơ mà đội ngũ viết văn xuôi còn chưa đông đảo, nếu không nói làcòn khá thưa thớt” [50, tr.40]
Bên cạnh sáng tác thơ văn, Triều Ân còn làm công tác nghiên cứu, sưutầm văn học, văn hóa Đánh giá về công việc này của Triều Ân, nhà vănDương Thuấn từng khẳng định: “Có thể nói Triều Ân là một người có côngđối với lĩnh vực sưu tầm gìn giữ vốn văn học dân gian của người Tày ( )
Muốn nhận định về ông một cách hoàn hảo thì phải đánh giá đúng cả haimặt sáng tác và sưu tầm nghiên cứu của ông, nếu không sẽ nhìn nhận vềTriều Ân một cách phiến diện, không đánh giá xác đáng một con người cónhiều cống hiến như ông” [50, tr.183]
Bên cạnh việc khẳng định vị thế sự nghiệp sáng tác và nghiên cứu củaTriều Ân, giới học thuật còn đánh giá cao tính dân tộc và bản sắc văn hoá
Trang 7Vietluanvanonline.com Page 7
trong các sáng tác của ông Nhà văn Lâm Tiến khi bàn về bản sắc văn hóadân tộc trong sáng tác của Triều Ân khẳng định ông là người “hiểu biết sâurộng và phong phú về văn hóa dân gian, về phong tục tập quán và sinhhoạt đồng bào miền núi”, và “sống trong dân tộc, đồng hành với dân tộcnên con người và cuộc sống đồng bào miền núi được thể hiện trên trangviết thật gần gũi, thân mật” [50, tr.92,93] Còn PGS – TS Mai Hương đãphát hiện: “dù ở thể loại nào: thơ, truyện ngắn hay tiểu thuyết, đọc trangviết của Triều Ân người đọc đều có cảm giác được khám phá những điềumới mẻ và thú vị ( ) Có thể nói sự xuất hiện khá đậm đặc những phongtục, tập tục, những nét quen thuộc trong đời sống sinh hoạt trong tác phẩmcuả Triều Ân, cho thấy công phu đi sâu tìm hiểu và sự thuộc hiểu đời sống,truyền thống văn hóa lâu đời của cộng đồng các dân tộc vùng cao củaTriều Ân Chính những điều đó đã mang đến sự sinh sắc cho trang viết củanhà văn” [50, tr.217,218] PGS – TS Bích Thu cũng đã ghi nhận: “qua cáctrang tiểu thuyết của Triều Ân, miền nước non Cao Bằng đã hiển hiện ngàycàng rõ nét với cảnh sắc, con người, phong tục tập quán, với những buồnvui, may rủi, tốt xấu, hay dở đan xen trong cộng đồng dân cư, thôn bản cácdân tộc ít người mà suy cho cùng, đó cũng là bức tranh thu nhỏ của xã hộiViệt Nam đương đại” [50, tr.56] Có thể tổng kết, đánh giá về bản sắc vănhóa trong sáng tác của Triều Ân bằng ý kiến của GS – TS Mai Quốc Liên:
“đó là những cống hiến vô giá không những cho văn hóa dân tộc ông màcho cả văn hóa dân tộc nước nhà Ông xứng đáng là nhà văn hóa, ngườiđại diện có thẩm quyền cho văn hóa dân tộc Tày anh em” [22, tr.5,6]
Thế nhưng do nhiều yếu tố khách quan cho đến nay vẫn chưa có mộtcông trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về sáng tác văn học của Triều
Ân, đặc biệt là ở góc độ bản sắc văn hóa Do vậy chúng tôi tìm đượckhoảng trống để thực hiện đề tài Các ý kiến của người đi trước về sáng táccủa Triều Ân nói chung và văn xuôi nói riêng là những gợi dẫn bổ ích vàquý báu giúp chúng tôi trong quá trình tiếp cận và triển khai đề tài
Trang 83.2 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn đi sâu vào nghiên cứu: Bản sắc dân tộc Tày, Dao trong vănxuôi Triều Ân trên các khía cạnh: Phong tục tập quán; nghề thủ công vàtrang phục; khả năng y học dân tộc; đời sống văn nghệ, tín ngưỡng và đờisống tâm hồn
4 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm đạt được các mục đích sau:
- Có cái nhìn tổng thể và khái quát về bản sắc của dân tộc thiểu số Tày,Dao Từ đó thấy bản sắc dân tộc được phản ánh trong các tác phẩm văn họcviết về đề tài miền núi nói chung và trong văn xuôi của Triều Ân nói riêng
- Chỉ ra những biểu hiện cụ thể bản sắc dân tộc Tày, Dao trong vănxuôi Triều Ân trên phương diện nội dung cũng như nghệ thuật Qua đókhẳng định thành tựu, đóng góp của Triều Ân với văn học các dân tộc thiểu
số Việt Nam hiện đại nói riêng và văn học đương đại nói chung
5 Phương pháp nghiên cứuThực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiêncứu sau:
- Vận dụng phương pháp nghiên cứu tác gia văn học
- Phương pháp thống kê hệ thống
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trang 9Vietluanvanonline.com Page 9
6 Cấu trúc luận vănNgoài phần mở đầu, phần kết luận và phần thư mục tài liệu tham khảo,luận văn gồm ba chương:
Chương một: Vài nét về bản sắc văn hóa dân tộc và sự nghiệp sáng táccủa nhà văn Triều Ân
Chương hai: Những biểu hiện của bản sắc dân tộc trong văn xuôi Triều ÂnChương ba: Một số phương diện nghệ thuật thể hiện bản sắc dân tộctrong văn xuôi Triều Ân
Trang 10Vietluanvanonline.com Page 10
PHẦN NỘI DUNG Chương 1:
VÀI NÉT VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ SỰ NGHIỆP
SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN TRIỀU ÂN1.1 Bản sắc văn hóa dân tộc
1.1.1 Văn hóa và bản sắc văn hóa Việt Nam
Ở Việt Nam và trên thế giới có nhiều cách định nghĩa khác nhau vềkhái niệm “Văn hóa” Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc cho rằng: “Vănhóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay mộttộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc ngườinày mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện
rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấynhất, biểu hiện thành một kiến thức lựa chọn riêng của cá nhân hay tộcngười, khác các kiểu lựa chọn của cá nhân hay các tộc người khác” [46,tr17] Giáo sư - Tiến sĩ Trần Ngọc Thêm xác định cụ thể: “Văn hóa là một
hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo vàtích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa conngười với môi trường tự nhiên và xã hội” [52, tr10] Nhà nhân loại họcphương Tây E.B.Taylo lại định nghĩa: “Văn hóa là toàn bộ phức thể baogồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục,những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là mộtthành viên của xã hội” [61, tr8]
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa nhưng cácđịnh nghĩa đó vẫn xoay quanh vấn đề tương đối thống nhất: Văn hóa là mộttrong những giá trị đặc trưng về vật chất, tinh thần được con người sáng tạo
ra trong sự phát triển của dân tộc Trong luận văn “Dấu ấn văn hóa người
Trang 11Vietluanvanonline.com Page 11
Mông trong tác phẩm “Đồng bạc trắng hoa xòe” và “Vùng biên ải” của
Ma Văn Kháng”, tác giả Ma Thị Hiên đã phân tích sâu sắc định nghĩa củaTaylo, chúng tôi tán thành và sử dụng định nghĩa này cho luận văn củamình Bởi đây quả là một khái niệm tóm lược được hầu hết các thành tố,các nội dung tạo thành văn hóa đó là tri thức hiểu biết, là tín ngưỡng, nghệthuật, đạo đức, phong tục tập quán, pháp luật … mà con người có được khisống trong cộng đồng xã hội, và trong mối quan hệ xã hội mang tính tổnghòa Hơn nữa, như chúng ta đã biết: “Văn hóa và văn học có mối quan hệmật thiết bởi trước hết văn học có thể coi là một bộ phận nằm trong chỉnhthể của nó là văn hóa, mỗi nhà văn khi sáng tạo tác phẩm của mình đềuphải dựa trên một nền tảng rộng lớn là văn hóa dân tộc và văn hóa nhânloại Có thể coi văn học là một tấm gương vừa phản chiếu, vừa thu nhỏ bộmặt văn hóa của từng thời đại vào trong đó Đặc biệt văn học sẽ kết tinhtoàn bộ các phương diện của văn hóa vào trong thế giới nghệ thuật củamình Sự kết tinh cao độ nhất nằm trong các hình tượng nhân vật và sốphận của chúng” [29, tr20]
Như vậy, mỗi quốc gia sẽ có nền văn hóa riêng và mỗi dân tộc cũng
sẽ có bản sắc văn hóa của riêng mình Trên đất nước Việt Nam có hơn 50dân tộc anh em cùng chung sống, trong nền văn hóa đa dân tộc đó, mỗi dântộc anh em đều lưu giữ những nét bản sắc văn hóa của riêng dân tộc mình
Vậy bản sắc dân tộc là gì? “Bản sắc là sự lan tỏa tự nhiên trong sắc thái tưduy, ngôn ngữ, trong tâm hồn, trí tuệ, trong phong tục, cung cách, hành vi,ứng xử, trong lề thói, tập tục, trong văn chương, nghệ thuật, và trong toàn
bộ các giá trị văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của con người Bản sắcdân tộc trong mọi sắc thái là sự lan tỏa một cách tự nhiên không ai gò épđược, nhưng nó phải gắn liền với ý thức dân tộc và tự khẳng định qua thửthách của thời gian, nếu không qua giao lưu và mở rộng văn hóa, bản sắc
Trang 12Vietluanvanonline.com Page 12
sẽ bị biến đổi, mất đi những gì tinh túy nhất của dân tộc Do đó các nhànghiên cứu trên thế giới đã từng đưa ra những ý kiến thống nhất gọi bảnsắc văn hóa dân tộc là một thứ căn cước, một chứng minh thư của riêngmột dân tộc” [60, tr78] Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã từng khẳngđịnh: “Bản sắc là những nét riêng biệt, độc đáo của một dân tộc thể hiệntrong nền văn hóa, nghệ thuật trong phong tục tập quán, trong đời sốngmuôn màu của dân tộc ” [26, tr.11] Chính bởi xác định được vị trí, vai trò
và tầm quan trọng của văn hóa, bản sắc dân tộc nên chủ trương, đường lốilãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là “Xây dựng một nền văn hóaViệt Nam tiên tiến hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc”
Việc đề cao bản sắc dân tộc là một hành động thiết thực trong côngcuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam trong thời đại hiệnnay Bản sắc dân tộc vừa có nét chung của cộng đồng vừa có nét riêng củatừng dân tộc Tất cả sẽ góp lại để tạo thành nền văn hóa Việt Nam đa dântộc, đa màu sắc, nằm trong tổng hòa của nền văn hóa khu vực Đông Nam Á
và văn hóa nhân loại Đúng như nhà thơ Nông Quốc Chấn đã nhận định:
“Bản sắc văn hóa Việt Nam bao gồm nhiều nét đặc trưng Có những nétchung trong văn hóa người Việt (còn gọi là người Kinh) có những nét riêngtrong văn hóa các dân tộc thiểu số Những nét ấy biểu hiện trong cách laođộng, cách sống, cách kiến trúc nhà cửa, cách ứng xử giữa người vớingười …Những nét riêng ấy không mâu thuẫn với nét chung: Nó đang có
sự hài hòa” [35, tr52]
Dân tộc Việt Nam có lịch sử hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữnước Cùng với chiều dài lịch sử của dân tộc là chiều dài và bề sâu củatruyền thống văn hóa Nền văn hóa Việt Nam được cấu thành bởi bốn thành
tố cơ bản là: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa ứng
xử với môi trường tự nhiên, văn hóa ứng xử với môi trường xã hội Các
Trang 13Vietluanvanonline.com Page 13
thành tố văn hóa đó không phải là đứng im mà luôn có sự vận động, tíchlũy, bổ sung để ngày càng hoàn thiện Nó được gìn giữ, bảo tồn và phát huytrên nhiều lĩnh vực, trong đời sống của từng dân tộc khác nhau và với nhiềukhía cạnh biểu hiện riêng biệt “Bản sắc dân tộc trong văn học cũng khôngphải là cái gì nhất thành bất biến, mà nó luôn luôn phát triển Trong sựphát triển đó văn học các dân tộc thiểu số không thể không tiếp nhậnnhững giá trị mới, những giá trị của văn học Kinh, văn học phương tây vàvăn học thế giới hiện đại Đó cũng là hình thức tích cực bảo vệ bản sắc dântộc của nhà văn, góp phần phát huy và làm giàu bản sắc dân tộc trong vănhọc” [55, tr73] Đặc biệt, “Bản sắc dân tộc của văn học là toàn bộ nhữnggiá trị tốt đẹp mà một nền văn học đạt được Nó có tác dụng tích cực đểnuôi dưỡng tâm hồn văn học của nhân dân đó và có những nét phân biệtvới văn học dân tộc khác” [62]
1.1.2 Đặc điểm văn hóa dân tộc (Tày, Dao)1.1.2.1 Khái quát về văn hóa dân tộc Tày
Dân tộc Tày thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, là cư dân đông nhất ởvùng miền núi phía Bắc và chiếm tỷ lệ cao so với các dân tộc thiểu số khác
Theo số liệu điều tra dân số công bố năm 2001 của Tổng cục Thống kê dântộc Tày có 1.477.514 người, “cư trú trên một địa bàn rộng lớn miền thượng
du Việt Bắc, Đông Bắc … Vùng người Tày cư trú thường xen kẽ các dântộc Mông, Dao, Nùng, Sán Chay, Giáy” [25, tr 284]
Đồng bào Tày vốn có lòng yêu nước Sử sách còn ghi rõ ngay từbuổi bình minh của lịch sử, thế ký thứ III trước công nguyên,liên minh bộlạc Âu Việt (Tày, Nùng) đã cùng với liên minh bộ lạc Lạc Việt (Việt,Mường) dưới sự chỉ huy của thủ lĩnh An Dương Vương Thục Phán, đã có
đủ sức mạnh đánh bại quân Tần xâm lược và thành lập Vương quốc ÂuLạc Âu Lạc chính là nhà nước đầu tiên xuất hiện trên vũ đài lịch sử Việt
Trang 14Vietluanvanonline.com Page 14
Nam Với tiến trình lịch sử lâu đời của mình, dân tộc Tày chẳng những gópphần quan trọng vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước mà còn sớm hìnhthành một nền văn hóa, làm phong phú thêm nền văn hóa truyền thống củacác dân tộc Việt Nam
* Văn hóa sản xuất
Từ rất lâu đời người Tày đã sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước
Do có mặt sớm hơn các dân tộc khác nên người Tày đã khai phá và làm chủđược những vùng thung lũng bằng phẳng Việc trồng lúa nước của ngườiTày đã được ghi dấu trong truyền thuyết Phú Lương Quân của dân tộcmình Truyện kể rằng Sao Cải vợ của Báo Luông thấy bên bờ suối có thứ
cỏ màu xanh, hạt có nhân ăn được nên đêm về trồng Còn Báo Luông lạinghĩ cách khuấy đất với nước cho nát, sau đó gieo mạ, rồi cấy
Vì địa hình đồi núi cao, hệ thống sông, suối thường thấp hơn cáccánh đồng, đám ruộng, nên từ xa xưa người dân đã biết đào mương, đắpphai, bắc máng, làm cọn lấy nước lên ruộng và lợi dụng sức nước đểgiã gạo
Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa nương, hoa màu, cây ănquả Nói đến vùng dân tộc Tày không thể không nhớ đến các loại quả đãtrở thành đặc sản nổi tiếng như lê, táo, mận, quýt, hồng , hạt dẻ … Các loạicây công nghiệp cũng được người dân chú trọng phát triển như thuốc lá,trẩu, hồi, chè, tre, trúc …
Nhân dân Tày cũng rất chú trọng và phát triển về chăn nuôi Bởingoài trồng trọt, chăn nuôi cũng đem lại nguồn thu lợi đáng kể cho kinh tế
hộ gia đình Từ bao đời nay, dân tộc Tày đã có quan niệm “tu mò nhò pỏkhỏ” (con bò giúp đỡ người nghèo) Cư dân Tày cổ cũng đã biết thuầndưỡng trâu để phục vụ sản xuất Chính vì vậy con trâu được chọn làm vật
tế lễ trong lễ hội “Lồng Tôồng”, hình đầu trâu được treo trong nhà ở
Trang 15Dân tộc Tày rất nổi tiếng với các nghề thủ công như đan lát các vậtdụng gia đình bằng tre, trúc, mây; đục đẽo đá làm thành cối giã, cối xay;
rèn sắt Để phục vụ cuộc sống, họ đã biết trồng cây bông, làm sa quay,khung cửi để dệt vải, và với kỹ thuật nhuộm đã tạo ra loại vải màu đen rấtđặc trưng (màu chàm) dùng để may quần áo, làm màn, mặt chăn Đặc biệt
là những tấm thổ cẩm được dệt với nhiều hoa văn đẹp, độc đáo làm mặtchăn, mặt địu …
Do nông lâm thổ sản và tiểu thủ công nghiệp phong phú, cộng thêmnhu cầu trao đổi, buôn bán của mọi người dân, ở vùng người Tày cư trú từrất lâu đời đã mở chợ ở nhiều nơi Chợ họp theo chu kỳ năm ngày mộtphiên Các chợ bày bán sản phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân
Trong ngày chợ phiên, nhiều hình thức văn hóa đặc sắc mang đậm dấu ấnđịa phương đã tạo nên văn hóa chợ của các dân tộc vùng cao
* Văn hóa tổ chức đời sống
Tục ngữ Tày có câu “vỉ noọng tam tó bấu táy vỉ noọng sỏ rườn” (anh
em ruột ở xa không bằng người dưng ở ngay bên cạnh) để nói lên sự cố kếtdân bản Họ cố kết với nhau trong một chòm xóm để hợp sức nhau tronglao động sản xuất, chống trộm cướp Hơn thế nữa, họ luôn quan tâm, giúp
đỡ, chia ngọt sẻ bùi lẫn nhau mỗi khi gia đình nào đó có việc, theo kiểulàng xóm tắt lửa tối đèn có nhau của các dân tộc khác Trong quan hệ vớicác dân tộc anh em, đồng bào có tập quán kết nghĩa anh em gọi là “lạo
Trang 16Vietluanvanonline.com Page 16
tồng”, thương yêu, giúp đỡ nhau như anh em ruột thịt Đồng bào Tày rấtmến khách “Khách đến nhà bao giờ cũng được tiếp đãi chu đáo Kháchđến làng, tuy không quen biết, nhưng cũng được đồng bào chào hỏi thânmật” [39, tr.8]
* Văn hóa vật chất
Người Tày ăn cơm tẻ là chính Mỗi ngày ăn ba bữa gồm ăn sáng, ăntrưa và tối Những ngày lễ tết (dù là tết to hay nhỏ), cưới hỏi đồng bàothường mổ gà, vịt, ngan, lợn và chế biến thành những món ăn mang đậmphong vị miền núi Các loại bánh làm trong ngày tết lễ như bánh chưng,bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh khảo, chè lam, bánh trứng kiến, bánhcuốn … cũng đã trở thành nét riêng trong văn hóa ẩm thực của dân tộc Tày
Nước uống chủ yếu của người Tày là nước chè được đun bằng cácloại lá cây rừng có tác dụng y học nhất định do đồng bào hái trên rừng Từlâu người Tày đã biết cất rượu bằng ngô, gạo, sắn ủ với men lá tự chế
Rượu được uống trong sinh hoạt ngày thường, khi khách đến nhà chơi thểhiện lòng hiếu khách và những ngày lễ tết
Từ lâu đời người Tày đã cư trú tập trung thành bản, tên bản thườnggọi theo tên cánh đồng, khúc sông suối hay dốc núi Ở những nơi đất rộng,ruộng nhiều có bản tập trung tới hàng trăm nóc nhà, nơi ruộng ít thì cũngdăm chục nóc nhà Bản làng thường dựa lưng vào núi, trước mặt trông racánh đồng Nhà ở của dân tộc Tày thường là nhà sàn và nhà đất, lợp bằngngói âm – dương hoặc lá cọ, gianh
Người Tày có câu nói “Chiêm slao, chiêm tin slửa” (kén gái nhìn tàáo) để nói về tài nghệ của người phụ nữ Tày trong việc trồng bông, kéo sợivải, nhuộm chàm cắt quần áo cho cả gia đình; đồng thời nó cũng nói lênbản sắc văn hóa dân tộc qua trang phục
Trang 17Vietluanvanonline.com Page 17
Trong trang phục truyền thống của dân tộc, “cả nam lẫn nữ đều mặcquần áo màu chàm và hầu như cùng một kiểu, không thêu trang trí” [25,tr.290] Riêng chiếc áo của phụ nữ thường may vừa vặn cơ thể : hơi nhấnthêm eo, ống tay nhỏ để sao cho tôn những đường nét của cơ thể Khi mặc
áo bao giờ người phụ nữ cũng thắt ra ngoài một chiếc thắt lưng bằng vảichàm để xõa mối ra phía sau tạo nên sự mềm mại, nhún nhảy trong từngbước đi Những điều đó đã tạo nên bản sắc riêng của người Tày qua y phục
Bởi người phụ nữ Tày cũng mặc áo dài năm thân, cài khuy áo bên náchphải như nhiều dân tộc khác nhưng vẫn tạo ra dáng vẻ riêng của mình, nhờthân áo dài chấm gót, tay áo hẹp bó sát giống như áo dài của phụ nữ Kinh,
cổ áo không ôm khít vòng cổ như áo dài Kinh, mà vẫn để hở một khoảngtạo cảm giác như chiếc áo “mềm mại” hơn Độc đáo hơn cả có lẽ là màusắc của áo dài người Tày Đó là màu vải chàm sậm đen ánh sắc tím haymàu tím hồng Để tôn thêm sự duyên dáng, phụ nữ Tày còn vấn tóc, chítkhăn vuông màu chàm theo kiểu chít vuông trước trán, các góc khănthường đính tua chỉ màu Họ cũng hay đeo vòng cổ, vòng tay, chân và dây
xà tích bằng bạc
Do địa hình không bằng phẳng, nhiều núi đồi, khe suối nên họthường đi lại, vận chuyển sản phẩm nông nghiệp bằng ngựa Ngoài ra cònvận chuyển bằng việc gánh đôi dậu, đôi xỏng và đôi cuôi Tất cả những vậtdụng này đều do bàn tay người dân đan lát mà tạo thành Dùng trâu kéo và
bè, mảng để chuyên chở cũng là một nét đặc sắc riêng của dân tộc Tày
* Văn hóa tinh thần
Thanh niên nam nữ Tày được tự do tìm hiểu qua các cuộc hội hè, hátlượn Nhưng để đi đến hôn lễ hay không lại do hai gia đình quyết định
Người Tày có phong tục “Khai lục nhình” (bán con gái) nên lễ vật và tiềncưới nhà trai phải mang đến nhà gái rất hậu hĩnh Việc tiến hành hôn nhân
Trang 18Vietluanvanonline.com Page 18
phải qua rất nhiều khâu: đánh tiếng (đi hỏi), lễ ăn hỏi, lễ cưới, lễ lại mặt Lễcưới thể hiện rõ nhất nét đẹp văn hóa của người Tày qua việc hát đối đápsli lượn trong đám cưới Đó là tiếng hát của ông quan lang (người chủ đóndâu) và đại diện nhà gái để được lên nhà gái làm lễ tổ tiên và đón dâu, đưadâu về nhà chồng Tiếng hát “quan lang” mang ý nghĩa cao quý bởi nó thểhiện tình cảm trân trọng của nhà trai đối với nhà gái và ngược lại; đồng thời
nó cũng thể hiện văn hóa ứng xử của cả gia tộc nói riêng, tộc người nóichung thông qua đại diện của hai gia đình Đó còn là tiếng lượn của nhữngngười đến dự đám cưới cất lên để mừng cho cô dâu chú rể, mừng cho giachủ có được con dâu, con rể thảo hiền, mừng cho cuộc sống mới … Tất cảcác điệu si lượn đó đã tạo nên một phần quan trọng trong đời sống vănnghệ của dân tộc Tày
Người Tày là dân tộc theo tín ngưỡng đa thần Các thần đều được gọi
là ma (phi), gồm phi phạ ở trên trời, phi đông ở trong rừng, phi pú pẩu là tổtiên … Bên cạnh quan niệm về các loại ma như trên, trong tâm thức củadân tộc này còn có loại ma gà (phi cáy) ngự trị ở một số người Đây là mộtloại ma ác, thường làm hại nên người Tày rất ghét, sợ những ai bị mangtiếng là ma gà Mỗi khi gia đình có việc vui, buồn, ốm đau, bệnh tật … dântộc Tày đều hay mời thầy mo, thầy tào, bà bụt (pựt) về để hành lễ
Trong một năm, người Tày có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khácnhau Những dịp tết dù nhỏ hay to, người Tày đều làm những thứ bánh theotừng thời điểm Các loại bánh trái đó luôn biểu hiện cho bản sắc dân tộccủa dân tộc Ví như mùng 3 tháng 3 là ngày tết ăn xôi ngũ vị, bánh trứngkiến; rằm tháng bảy là tết bánh gai, bánh dợm và ăn thịt vịt quay … Đặcbiệt nhất là những ngày hội “Lồng Tôồng” ( xuống ruộng) tổ chức vào dịpđầu xuân ở nhiều địa phương trong vùng với nhiều hình thức văn hóa và
Trang 19Cũng giống như một số dân tộc thiểu số ở vùng cao khác, người Tàycòn có một nền y học nhân dân khá phong phú “Hầu như gia đình nàocũng biết nhiều cây thuốc chữa bệnh, thuốc bổ” [25,tr.303] cho con người
và gia súc, gia cầm để tự phục vụ nhu cầu cuộc sống
1.1.2.2 Khái quát về văn hóa dân tộc Dao
Dân tộc Dao thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao “Người Dao cónguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từthế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX Họ tự nhận mình là con cháucủa Bàn Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêngliêng ở người Dao” [33, tr.49] Với số dân 620.538 người, cư trú trên địabàn rộng lớn và phân chia thành nhiều nhóm địa phương ( hầu hết các tỉnhĐông Bắc đều có mặt) Dân tộc Dao có mặt ở cả ba vùng: vùng thấp, vùnggiữa và vùng cao
Như vậy, xét về nguồn gốc và số dân của dân tộc Dao không có bềdày lịch sử và số lượng cư dân đông như dân tộc Tày nhưng với tiến trìnhlịch sử, văn hóa – xã hội của tộc người, họ đã tạo nên bản sắc dân tộc mangđậm những nét riêng đặc sắc, góp phần tạo nên tính phong phú và đa dạngcủa bức tranh văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam với đầy đủ bốn thành
tố cơ bản
Trang 20Vietluanvanonline.com Page 20
Trước hết là văn hóa sản xuất Tùy theo mỗi địa bàn cư trú mà đặcđiểm canh tác có khác nhau “Ở vùng cao, người Dao định canh định cưluân canh hoặc du canh du cư nương rẫy trên những thửa nương hẹp cónhiều tảng đá rải rác gọi là nương thổ canh hốc đá… Đây là lối canh táccủa người Dao Đỏ, Dao Quần chẹt
Người Dao ở vùng giữa có nhiều núi đất xen lẫn núi đá chủ yếu canhtác du canh du cư Nương rẫy làm được vài vụ lại bỏ hoang để đi khai thácnơi khác … Lối canh tác này gắn với người Dao Tiền, Dao Lô Giang
Người Dao ở vùng thấp canh tác lúa nước ruộng bậc thang kết hợpvới định canh nương bằng phẳng…Về kĩ thuật canh tác, đồng bào đã biếtbón phân, làm thủy lợi mương phai, cọn Nhóm Dao Quần trắng, Dao Áodài, Dao Thanh Y làm ruộng nước” [25, tr.329, 330]
Địa bàn cư trú của người Dao thường sẵn đồi cỏ, thung lũng, khesuối nên việc chăn nuôi phát triển “Mỗi gia đình nuôi hàng chục trâu, bò;
gia đình nào nuôi nhiều thì 20 – 30 lợn, ít cũng vài ba con Gà cũng đượcnuôi rất nhiều; sau đó đến vịt, ngỗng … ”[ 25, tr.331]
Dân tộc Dao cũng rất thành thạo trong các nghề thủ công như đancác đồ đựng trong gia đình bằng tre nứa, giang, mây Nghề làm đồ trangsức bằng bạc, bằng đồng là nghề lâu đời gia truyền những người thợchuyên môn - người thợ bạc Họ làm ra các sản phẩm: vòng cổ, vòng tay,vòng chân, khuyên tai, nhẫn, xây xà tích và các đồ gắn trên váy áo Các đồbạc được chạm chìm nổi các hình hoa văn, hoa lá khá khéo léo, được cácdân tộc Tày, Nùng, Mông ưa thích Nhóm Dao Đỏ, Dao Tiền còn nổi tiếng
vì có nghề làm ra giấy bản (loại giấy dùng để chép sách cúng, sách truyện,sách hát, hay dùng để viết sớ, làm tiền ma trong các lễ cúng) Dân tộc Tày,Nùng rất ưa dùng loại giấy này của người Dao
Trang 21Vietluanvanonline.com Page 21
Người Dao cũng rất nổi tiếng trong nghề săn bắn Việc săn bắn chủyếu là để bảo vệ mùa màng và tránh những nguy hại cho con người Háilượm cũng là nghề khá phổ biến đối với dân tộc này Họ lên rừng hái lượm
củ nâu, củ ấu, bột nhúc, củ mài, nấm hương, mộc nhĩ, cánh kiến, các loạihạt có dầu, các loại măng rừng, rau rừng, thảo quả là dược liệu … NgườiDao cũng biết tự trồng bông, dệt vải như người Tày Đồng bào ưa dùng vảinhuộm chàm Kỹ thuật nhuộm và trang trí vải của họ rất đặc biệt
Cách tổ chức đời sống của cộng đồng dân cư Dao cũng có những nétvăn hóa độc đáo Vai trò thầy cúng luôn có mặt và theo sát mọi hoạt độngđời sống của người Dao Người Dao cũng “rất mến khách, đến nhà ngườiDao không lo đói, dù đi xa hay gần đến nhà người Dao đều được mời ănuống chu đáo” [25, tr.333]
Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăncơm hoặc ăn cháo Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua,canh măng chua Người Dao phổ biến uống rượu cất từ ngô, gạo, một sốnơi uống rượu hoẵng (rượu không cất) có vị chua ít cay Nước uống hàngngày là nước chè, nước vối Riêng nước lá rừng có tác dụng như một vịthuốc bổ, phụ nữ Dao uống thứ nước này lúc nào má cũng đỏ hây
Làng bản của người Dao có hai loại: loại làng phân tán gắn vớingười Dao Quần chẹt, Dao Đỏ, Dao Thanh Y, mỗi điểm tụ cư chỉ mươi nócnhà, đó là lối ở chạy theo du canh nương rẫy; loại bản làng cư trú tập trung,thường ở nhóm Dao Tiền, sống quây quần bên nhau vài ba chục nóc nhà,cách cư trú này gắn với định canh ruộng nước, định canh hoặc luân canhnương rẫy
Từ lâu việc trồng bông, kéo sợi, dệt vải, nhuộm chàm đã là côngviệc phổ biến của người Dao… “Người phụ nữ Dao cắt may, khâu vá, thêuthùa, in hoa (bằng việc bôi sáp ong trên áo quần) của cả gia đình Họ làm
Trang 22Vietluanvanonline.com Page 22
không thường xuyên, chỉ tranh thủ những ngày không đi nương, nhữngngày mưa hoặc những lúc rảnh rỗi Người con gái Dao từ 9 – 10 tuổi đãhọc dệt vải, may vá, thêu thùa cho đến khi lấy chồng, đến già mới ngừngcông việc may vá” [25, tr.332] Trang phục của đàn ông Dao ở tất cả cácnhóm đều tương tự giống nhau Họ thường mặc hai loại áo: áo ngắn mặchàng ngày may xẻ bụng cài khuy, ống tay hẹp áo có hai túi ở hai vạt trước;
loại áo dài may kiểu năm thân cài khuy cổ, vai, nách, sườn phải mặc khi đichợ, đi chơi xa, đi hội, đi đám Quần là vải để trắng hoặc nhuộm chàm,may theo kiểu chân què, cạp lá tọa, mặc thắt lưng dây rút bên ngoài Họ ítkhi để đầu trần mà thường quấn khăn vải chàm theo kiểu đầu rìu “Phụ nữDao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài, yếm, váy hoặc quần Y phục thêurất sặc sỡ Họ không thêu theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vàotrí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải Nhiều loạihoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây Cách
in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo Muốn hình gìngười ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chảy rồi in lênvải Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn màu xanh lơ do phủ lớpsáp ong không bị thấm chàm” [33, tr.50]
Về phương tiện vận chuyển thì nhóm người Dao ở vùng cao quendùng gùi đan bằng tre, giang, hai quai đeo hai vai Nhóm người Dao ở vùngthấp gánh bằng đôi dậu Còn các nhóm người Dao khác ưa đeo túi vải haytúi lưới, ba lô
Hôn nhân người Dao là do nam nữ tự do tìm hiểu Nhưng trai gáimuốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau Hôn lễ sẽtrải qua các bước cơ bản: lễ đánh tiếng (chạm ngõ), lễ ăn hỏi chính thức
Trong lễ này nhà gái đưa ra một bản hôn thư Đó là tờ giấy đỏ ghi lễ vật mànhà trai phải nộp cho nhà gái gồm: bạc trắng, thịt rượu, gạo, vải, đồ phục
Trang 23Vietluanvanonline.com Page 23
sức cô dâu, số người đi đón dâu Nhà trai chấp nhận sẽ định ngày cưới Ởnhóm Dao Tiền, trước khi lễ ăn hỏi chính thức người con trai phải sang nhàgái làm chẩu công (làm công), thời gian kéo dài tùy ý cho đến khi nhà gái
đã chấp nhận Trong thời gian làm công, người con trai có thể gần gũichuyện trò với cô gái Nếu chàng rể tương lai làm ăn tốt, có thể nhà gái đối
xử tốt, cho quần áo Nhưng không ít trường hợp người con trai đi làm cônghai ba đám mà vẫn không lấy được vợ vì nhà gái không ưng anh ta Khi bỏ
về người con trai không được trả công Trong đám cưới thường “có tụcchăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, háttrong đám cưới” [33, tr 51] Hôm sau hai vợ chồng đem hai con gà vàchai rượu trở lại nhà gái làm lễ lại mặt Chàng trai phải ở lại nhà gái làm rể
từ 3 – 5 năm mới trở lại nhà mình
Người Dao sinh sống tản mạn theo các nhóm lâu ngày lại ở xen kẽvới các dân tộc khác nên tang ma giữa các nhóm Dao đôi nét khác nhau dotiếp thu của các dân tộc khác, nhưng cơ bản là giống nhau trong việc laurửa, khâm liệm thi hài, nhập quan, đặt thi hài chân thẳng trước cửa nhà …Thầy tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay Thầy tào làmphép, thực hiện mọi nghi lễ đám tang
Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thủy, các nghi lễnông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất
là Đạo giáo Họ luôn tin rằng vạn vật hữu linh hay bái vật giáo, mọi vật đều
có linh hồn Khi một thực thể bị hủy diệt, chết đi thì hồn lìa khỏi vật (xác)biến thành ma Có ma dữ và ma lành, ma lành ban phúc, ma dữ gây họa
Bàn vương, tổ tiên, ma đất, ma bếp, ma nương rẫy, Ngọc hoàng, Thượng đếTam thanh (Những thần linh Đạo giáo) đều là ma lành Từ quan niệm trênứng vào con người thì con người có 12 hồn Vì thế người đau ở bộ phậnnào hay ốm là thiếu hồn, phải mời thầy tào cúng tìm hồn
Trang 24Đời sống văn nghệ của người Dao cũng rất phong phú Mặc dù chưa
có chữ viết riêng nhưng hệ thống văn học truyền miệng của dân tộc này rấttiêu biểu Các truyện kể như: Sự tích Bàn vương, Hai chị em, Con quạ vàcái trống, Yêu tinh, Quả bầu với nạn hồng thủy … Đồng thời người Daocũng có nhiều bài thơ ca truyền miệng, như thơ ca phản ánh cuộc sống ducanh du cư, cuộc sống nghèo nàn, thú rừng phá hoại mùa màng … Hệthống câu đố, tục ngữ của họ cũng vô cùng phong phú, hàm súc Đặc biệt làcác điệu hát dân ca mà người Dao gọi là “páo dung”, “tồ dung”
Từ những điều vừa tìm hiểu về đặc điểm văn hóa của dân tộc Tày,Dao như trên, chúng ta có thể nhận ra rằng: mỗi một dân tộc đều mangtrong mình những dấu ấn văn hóa riêng hòa trong những nét văn hóa chungcủa nhiều dân tộc Chính cái riêng tạo nên đặc sắc của dân tộc đó Cònnhững nét chung đã tạo nên nét hài hòa giao lưu giữa các dân tộc anh em
Bản sắc văn hóa hay truyền thống dân tộc là quá trình chọn lọc, tích lũyqua nhiều thế hệ Nếu một dân tộc không có bản sắc, không tiếp thu truyềnthống thì văn hóa dân tộc đó chỉ là hư vô Do đó việc phát hiện, gìn giữ vàphát huy truyền thống văn hóa của từng dân tộc theo hướng ngày càng hiệnđại nhưng vẫn giữ được dấu ấn riêng là vấn đề ý nghĩa, mang tính thời sự,cập nhật
Trang 25Vietluanvanonline.com Page 25
1.2 Sáng tác của Triều Ân trong dòng chảy của văn học các dân tộcthiểu số Việt Nam hiện đại
1.2.1 Đôi nét về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
Lịch sử hình thành và phát triển của nền văn học hiện đại Việt Nam
đã và đang tồn tại mảng văn học viết về đề tài miền núi Thời kỳ trước cáchmạng tháng Tám 1945, đề tài miền núi đã thấp thoáng xuất hiện trong vănhọc với một vẻ đẹp gợi chất hoang dại, kỳ ảo và bí ẩn của chốn rừng thiêngnước độc: Truyện đường rừng (Lan Khai), Vàng và máu, Một đêm trăng(Thế Lữ) Song đề tài này chỉ có được vị trí thực sự và có được tiếng nóiriêng kể từ sau cách mạng tháng Tám, với những sáng tác mở đầu hết sứctiêu biểu của các tác giả là người Kinh như Nam Cao, Tô Hoài, NguyênNgọc, Nguyễn Huy Tưởng, Ma Văn Kháng … Các sáng tác của họ có ýnghĩa như “những con dao phát đường rừng giúp đỡ anh chị em viết vănmiền núi” (Nông Minh Châu) Bởi “Những tác phẩm văn xuôi của dân tộcKinh, được những trí thức dân tộc làm quen trước và sau cách mạng thángTám, nhất là những tác phẩm “Ở rừng” của Nam Cao, “Truyện Tây Bắc”
của Tô Hoài, “Đất nước đứng lên” của Nguyên Ngọc ảnh hưởng khôngnhỏ tới cảm hứng sáng tác văn xuôi của các tác giả dân tộc” [55, tr.191]
Từ Đại hội I thành lập Hội nhà văn Việt Nam (diễn ra từ ngày 01 –04/04/1957) trở đi đã có sự tham dự và xuất hiện các tác giả là người dântộc trưởng thành từ miền núi đồng thời bám trụ ở miền núi để sáng tác Đó
là Nông Quốc Chấn, Cầm Biêu, Bàn Tài Đoàn, Hoàng Nó, Nông MinhChâu, Nông Viết Toại, Vi Hồng, Triều Ân, Vi Thị Kim Bình … Lực lượngsáng tác này đã tạo nên bộ phận văn học các dân tộc thiểu số Việt Namhiện đại
Nhìn chung văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại ra đời từsau cách mạng tháng Tám 1945, với một đội ngũ khá hùng hậu trên các thể
Trang 26sỹ trước dân tộc và thời đại đã phản ánh được một bức tranh rộng lớn vớinhững hình ảnh sinh động và thuyết phục về một cuộc đổi đời vĩ đại củadân tộc, trong đó cuộc sống hiện thực miền núi nổi lên với những mảngmàu tươi tắn và mới lạ.
Như vậy, bên cạnh những nhà văn người Kinh viết về mảng đề tàimiền núi còn có một đội ngũ sáng tác văn học là người dân tộc thiểu số Sovới các tác giả người Kinh thì các nhà văn người dân tộc có lợi thế ở chỗ
họ là những người bám sát cuộc sống của dân tộc mình, chứng kiến từnggiai đoạn cách mạng, những đổi thay từng ngày, từng giờ của dân tộc, vùngquê họ Hơn thế nữa, họ vừa thông thạo tiếng Kinh, vừa sử dụng tiếng mẹ
đẻ, được nuôi dưỡng trong một kho tàng văn hóa đặc sắc của từng dân tộc
Tất cả những điểm mạnh trên cộng với ý thức luôn học hỏi, phấn đấu đãgiúp các nhà văn người dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại có được nhữngtác phẩm thành công , thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc Vì vậysáng tác của các tác giả người dân tộc thiểu số đã góp phần quan trọngtrong việc khẳng định một nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
Nó đã trở thành một bộ phận đặc sắc, độc đáo làm nên tính đa dạng vàphong phú trong đời sống văn học các dân tộc Việt Nam hiện đại
1.2.2 Sáng tác của Triều Ân
Triều Ân họ Hoàng, dân tộc Tày Ông sinh năm 1931 tại Bản Nưa –Lam Sơn, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng Xuất thân trongmột gia đình Nho học, giàu truyền thống yêu nước và văn chương Ông
Trang 27Vietluanvanonline.com Page 27
nội là Hoàng Đức Mỹ (1836 – 1919) đỗ cử nhân năm Giáp Tý – 1864, từnglàm Tri phủ Từ Sơn - Bắc Ninh, làm Tán tương quân trong đạo quân củalãnh binh Lương Tuấn Tú đánh Pháp ở mặt trận Bắc Ninh (1883) Cụ lànhà nho uyên thâm, để lại nhiều bài thơ chữ Hán Thân sinh là Hoàng ĐứcTriều, bí danh An Định (1899 – 1986), là đảng viên Đảng cộng sản ViệtNam từ 1932, Huyện ủy viên Thạch Lâm (1936 – 1937), bị đế quốc bắt điđầy ở Sơn La (1940 – 1943) … Trước ngày nghỉ hưu là Phó chủ tịch Ủyban hành chính huyện Hòa An – Cao Bằng, được công nhận là Cán bộ lãothành cách mạng Cụ nổi tiếng thơ phú chữ Việt, chữ Hán từ năm 1925 Cụcùng lớp nhà thơ cao tuổi làm thơ xây dựng nếp sống văn hóa mới, ca ngợichế độ, quê hương … Hai anh trai của Triều Ân là Hoàng Đức Quyết vàHoàng Tuấn Nam cũng đều được công nhận là Cán bộ lão thành cách mạng
và thường xuyên sáng tác, nghiên cứu, sưu tầm văn học, văn hóa dân tộc
Ngay từ nhỏ Triều Ân đã được học chữ nho tại nhà Sau đó theo học
6 năm tại Trường Pháp Việt Năm 1943 khi mới 12 tuổi ông đã tham giahoạt động cách mạng với nhiệm vụ liên lạc tại cơ quan Tỉnh ủy và hoànthành tốt mọi nhiệm vụ được giao Từ năm 1953 ông được đảng gửi sangTrung Quốc học tại Trường Dục Tài – Nam Ninh tỉnh Quảng Tây Tháng6/1956 tốt nghiệp ông về nước làm giáo viên Trường phổ thông cấp II,tham gia nghiên cứu ngôn ngữ văn tự dân tộc Tày (thuộc Ủy ban hànhchính khu Việt Bắc), sau đó ông lại được cử đi học Trường đại học Sưphạm Hà Nội, khóa 1960 – 1963 Ông vào Đảng năm 1963 ở Đại học Sưphạm Tốt nghiệp đại học, ông trở về Cao Bằng dạy học (Trường phổ thôngtrung học, Trường Trung cấp Sư phạm tỉnh) Năm 1985 ông được tổ chứcđiều động về xây dựng, thành lập và lãnh đạo Hội Văn học nghệ thuật tỉnhCao Bằng cho đến khi về hưu
Trang 28Vietluanvanonline.com Page 28
Triều Ân bắt đầu con đường văn học của mình bằng sáng tác thơ,như một lẽ tự nhiên của nguồn mạch văn học dân tộc và từ truyền thống giađình Với lời khuyên chí tình của cha: “Phải nhập tâm được “Thi thiên phúbách” mới mong vỡ vạc dần nghề thơ” và sự giảng giải cặn kẽ của ông vềtruyền thống văn chương của cả gia đình đã khiến Triều Ân say mê chépthơ, đọc thơ, suy nghĩ về thơ và mạnh dạn làm thơ Ông khai bút bằngnhững bài thơ đường luật - thể thơ mà đồng bào dân tộc Tày ở Cao Bằngquen dùng, yêu thích Triều Ân gắn bó với thơ suốt mấy chục năm qua và
đã cho in tám tập thơ tiếng Việt cùng một tập thơ tiếng Tày Độc giả có thể
dễ nhận ra phong cách thơ Triều Ân cũng như dấu ấn văn hóa dân tộc trongthơ ông
Với tấm lòng nồng hậu, Triều Ân ca ngợi say sưa cuộc sống mới trênmiền quê Việt Bắc, mà theo ông, đó thực sự là cuộc đổi đời lần thứ hai củacác dân tộc vùng cao sau Cách mạng tháng Tám Và “hình ảnh quê hươngđổi mới trở thành một chủ đề lớn trong thơ của nhà thơ Triều Ân” (TrịnhPhương) [50, tr.131]
Điểm qua những bài thơ của Triều Ân, ta gặp những tên núi, tênsông, tên làng, tên người cụ thể, và đó cũng là những cái tên giản dị củanhững bài thơ: Thác Bản Giốc, Hồ Núi Cốc, Người mẹ biên giới, Tô ThịRỉnh, Cầu treo sông Máng, Suối Khuổi Sao, Hang Pác Bó, Phúc Senmùa ngô, Cây ổi Cốc Bó … tất cả đã dệt nên “bức tranh quê” miền núisống động Đặc biệt, với bài thơ Giữa mùa cốm Triều Ân đã làm hiện rõnét đặc trưng nổi bật của con người miền núi Bởi đọc bài thơ ta như đượchòa vào sinh hoạt đầm ấm, hồn hậu của bản làng Việt Bắc:
Tắm ánh trăng xanhBản Ngà giã cốmChày ba chày bốn
Trang 29Vietluanvanonline.com Page 29
Lay động giọt sương trên cànhBay bổng tiếng sli, trầm lan tiếng lượnHương sen, hương lúa, trăng thanh …Nhan đề nhiều tập thơ cũng biểu hiện hình ảnh quê hương và thấmđẫm phong vị Tày, phong vị miền núi: Tung còn và suối đàn (1963), Nắngngàn (1974), Kin mác (1975), Hoa vông (1994), Hoa và nắng (2000) Mớichỉ qua nhan đề các tập thơ đã có thể thấy tư duy thơ Triều Ân là tư duybằng hình ảnh, cảm xúc thơ Triều Ân là cảm xúc bằng hình ảnh Đây cũng
là cái chất Tày, chất miền núi thấm vào ngòi bút tác giả
Hình ảnh trong thơ Triều Ân là hình ảnh của thiên nhiên, cuộc sống,con người, văn hóa Tày, làm thành cả một hệ thống gây ấn tượng với ngườiđọc Ta thường bắt gặp trong thơ ông các hình ảnh như: si, lượn, then, kèn
lá, kèn môi, đàn tính, hoa – ong, ngựa hý, ngựa phi, ngựa thắng yên cương,nhạc ngựa rung, suối đèo, ghềnh thác, cánh chim rừng …Sống trong thếgiới hình ảnh của thơ Triều Ân là sống cùng thiên nhiên Tày, văn hóa Tày,con người Tày Hệ thống hình ảnh là sự phản ánh cách cảm nhận thế giớicủa người nghệ sỹ Do đó qua hệ thống hình ảnh quen thuộc này ta có thểthấy được sự lựa chọn hình ảnh trong thơ Triều Ân là sự lựa chọn mangđậm bản sắc dân tộc, bản sắc văn hoá của non nước Cao Bằng
Ở lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu, Triều Ân để lại nhiều dấu ấn trong
sự nghiệp của ông, đó là những đóng góp đáng kể cho dân tộc và cho xãhội Nhiều tác phẩm, nhiều đề tài, nhiều công trình của ông về lĩnh vực nàymang nhiều ý nghĩa đối với văn hóa truyền thống các dân tộc Cao Bằng nóiriêng và với cộng đồng dân tộc Tày nói chung Những tác phẩm điển hìnhnhư: Ca dao Tày – Nùng (sưu tầm – nghiên cứu, 1994), Truyện thơ NômTày (sưu tầm – nghiên cứu, 1994), Tục cưới xin của người Tày (nghiêncứu 1995), Từ điển văn hóa cổ truyền dân tộc Tày (nghiên cứu, 1995),
Trang 30Vietluanvanonline.com Page 30
Then Tày - những khúc hát (sưu tầm – nghiên cứu, 2000), Chữ Nôm Tày
và truyện thơ (sưu tầm – nghiên cứu, 2003), Ba áng thơ Nôm Tày và thểloại (nghiên cứu, 2004) … đã nói lên điều đó Thông qua sưu tầm nhữngvấn đề thuộc về văn nghệ dân gian, Triều Ân đã đóng góp công sức củamình vào việc bảo tồn gìn giữ, phát huy những giá trị nền tảng văn hóatruyền thống Những tác phẩm của ông đã góp phần bảo tồn những nét tinhtuý của văn hóa truyền thống, của dân tộc Nó xứng đáng được coi là tàisản quý báu của dân tộc Tày nói riêng và cũng là của chung của nền vănhọc đa dân tộc Việt Nam Với thành quả lao động cần mẫn đó,
Triều Ân đã được tôn vinh là “người mải mê tìm kiếm những giá trị vănhóa dân tộc” (Đỗ Thị Hảo) [50, tr 170]
Trở lên trên chúng ta vừa ghi nhận bản sắc dân tộc trong các sáng táccủa Triều Ân qua thơ ca, sưu tầm, nghiên cứu văn học, văn hóa dân tộc
Bên cạnh đó, Triều Ân còn sáng tác văn xuôi Nhà văn Lê Lâm đã từngnhận định: “Văn xuôi của Triều Ân có thể nói là sự bổ sung và hoàn thiện
sự nghiệp sáng tác của ông” [37] Điều đặc biệt hơn là trong lĩnh vực vănxuôi, bản sắc dân tộc càng được thể hiện đậm nét hơn Lời đầu cuốn Triều
Ân văn tuyển, tác giả Hà Lý đã giới thiệu: “có dịp xem lại phần sáng tạovăn xuôi của Triều Ân, ta thấy ba phần: truyện ngắn, tiểu thuyết, nghiêncứu văn học … đều đậm đà màu sắc dân tộc” [23, tr 9,10]
Là người con của dân tộc Tày suốt đời hoạt động, công tác gắn bóvới mảnh đất Cao Bằng, Triều Ân có điều kiện am hiểu sâu sắc cuộc sống,con người và thiên nhiên nơi đây Đó là một thuận lợi cơ bản cho cây bútvăn xuôi Triều Ân và cũng là điều kiện đầu tiên tạo nên sức hút trongnhững trang viết của ông Truyện của Triều Ân đưa người đọc đến với cuộcsống của các dân tộc ở nhiều địa bàn tỉnh Cao Bằng và rộng ra ở Việt Bắc,
từ những bản làng, thị trấn của người Tày nơi vùng thấp đến những làng
Trang 31Vietluanvanonline.com Page 31
người Dao, người Mông trên những triền núi cao ở “xứ sương mù”, từ thị
xã Cao Bằng xinh đẹp đến vùng biên thùy xa xôi …
Triều Ân viết truỵện ngắn từ năm 1959 khi quê hương ông đang rầm
rộ xây dựng hợp tác xã nông nghiệp Đề tài bao trùm lên những tác phẩmcủa ông là thiên nhiên, cuộc sống và con người của quê hương Dựngtruyện, Triều Ân luôn chú ý đặt con người vào một “phông nền” chung: đó
là sinh hoạt và phong cảnh miền núi Với tác phẩm: Câu chuyện cuộc đời(1959) nhà văn đã say sưa ca ngợi cuộc sống mới và sự đổi đời của ngườidân Bên cạnh mặt sáng đẹp của cuộc sống, nhà văn còn cho thấy cả nhữnggian khổ, phức tạp của công cuộc xây dựng ở vùng cao Những khó khănnày mang dấu ấn riêng của miền núi, đó là cuộc đấu tranh chống những hủtục, mê tín dị đoan đã bao đời đè nặng kìm trói người dân trong vòng tămtối, ngu muội (Chặt cổ rồng – 1962); đó là sự hiềm khích, chia rẽ giữa cácdân tộc, làng bản, hậu quả chính sách “chia để trị” của phong kiến thực dân(Bên bờ suối tiên – 1962); đó còn là sự phản ánh công cuộc hợp tác hóanông nghiệp kết hợp cuộc vận động đồng bào Mông, Dao Tiền, Dao Đỏđịnh canh định cư Đây thực sự là cuộc đổi đời, thay đổi nếp nghĩ, tập quánbao đời nay của đồng bào (Mây tan – 1976)
Truyện của Triều Ân còn nêu lên ý thức, tình cảm và trách nhiệmcủa con người miền núi đối với nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc Trong truyệnngắn Tiếng khèn A Pá, nhà văn đã để nhân vật bộc bạch suy nghĩ rất chânthành trước hành động trốn trường để đi nhập ngũ: “A Pá phải đi đánhMỹ… A Pá phải tranh thủ đi đánh chúng để lấy bằng tốt nghiệp đánh Mỹ,nếu chậm sẽ mất cái bằng này; còn cái bằng ở nhà trường sau này trở vềhọc lại thi lấy cũng chưa muộn” [4, tr.114]
Qua truyện ngắn của Triều Ân, những con người miền núi hiền lành,chất phác rất đỗi trung thành với đường lối cách mạng của Đảng đều phải
Trang 32Nhan đề các tiểu thuyết: Nắng vàng bản Dao (1992), Nơi ấy biênthùy (1994) và Dặm ngàn rong ruổi (2000) đã cho thấy sự hiểu biết, gắn
bó của người viết đối với cuộc sống của đồng bào Tày, Nùng, Mông, Dao
Với cảm hứng thế sự, đời tư, ngòi bút của Triều Ân cũng như của các câybút văn xuôi khác đã có ý thức khai thác các mối quan hệ xã hội phức tạpgiữa con người với con người, khám phá vào từng cuộc đời, số phận với cáinhìn tỉnh táo, sâu sắc nhưng cũng đầy nhân ái Các câu chuyện trong tiểuthuyết của Triều Ân đều xoay quanh những mối quan hệ trong gia đình và
xa hơn là ứng xử của mỗi thành viên trong gia đình với xã hội Đó là côgiáo Ngọc Lan người Tày xinh đẹp vượt qua sự ác cảm của bà mẹ chồngngười Dao mê tín dị đoan để làm chủ cuộc đời mình (Nắng vàng bảnDao); là cô Niêm không những chỉ tìm thấy hạnh phúc với người yêu cũcủa mình mà còn tìm thấy mẹ đẻ ở bên kia biên giới; cho dù Niêm (tênTrung Quốc là Dị Xuỳn) đã nhận về mình hạnh phúc nhân đôi thì cô cũngkhông quên người mẹ nuôi Việt Nam đã bế bồng chăm sóc cô từ tấm bé(Nơi ấy biên thùy); là thầy lang Thuần giỏi giang tay nghề và tốt bụng màlận đận đường vợ con, qua những thăng trầm của cuộc đời và số phận, cuốicùng cũng đã tìm được bến đỗ cho đời mình (Dặm ngàn rong ruổi)
Bên cạnh cảm hứng thế sự, đời tư, tiểu thuyết của Triều Ân đã khaithác hiệu quả vốn sống miền núi trong ông Từ những nét sinh hoạt thườngnhật nho nhỏ: trai gái đặt cành ổi trước cửa để hẹn hò, trò trơi trốn Dả Dỉn
Trang 33để lấy may Nào là những điều kiêng kỵ: quét nhà không được hất rác raphía ngoài, khách mặc áo trắng không được đi vào cửa giữa (người Dao).
Trong tiểu thuyết Nắng vàng bản Dao, Triều Ân còn cho thấy sự chi phốidai dẳng của những tục lệ dị đoan cùng với vai trò của thầy mo, bà then(tục kin chai, gọi hồn …)
Triều Ân cũng khá thành công trong việc dựng người, dựng cảnh,dựng không khí của đời sống Nhờ thế con người, cảnh sắc, cuộc sống sinhhoạt vùng cao hiện lên trong tác phẩm thật sinh động, rõ nét Tất cả đều thểhiện công phu lao động nghệ thuật của nhà văn Trong Dặm ngàn rongruổi, để viết được những đoạn tả cảnh săn bắn, nhà văn phải có sự “hòanhập, cùng đi săn, cùng uống rượu say với đoàn săn người Dao Tiền mới
có thể hiểu biết phong tục và dựng được cảnh đi săn của đồng bào DaoTiền và đoạn vĩ thanh - cảnh mọi người chung vui trong lễ chiến thắng theotục lệ đầy “không khí” và hấp dẫn như vậy” Và cũng phải chịu khó thâm
Trang 34Vietluanvanonline.com Page 34
nhập quan sát đời sống thực tế của người Dao, Triều Ân “mới tạo được chongười đọc sự hấp dẫn với những trang mô tả chân thật cảnh ma gà nhập vàcảnh giết lợn giải ma gà” [50, tr.219] Triều Ân cũng thành công khi mô tảsinh động một đám cưới vùng cao theo phong tục của người Dao, một lễcúng “đuổi ma” (Nắng vàng bản Dao) hay một màn xem bói của thầy tào(Nơi ấy biên thùy) …
Một trong yếu tố văn hóa dân gian có thể tìm thấy dấu vết trongtruyện của Triều Ân, đó là việc sử dụng những mô típ trong truyện dân gianmột cách sáng tạo Chẳng hạn, trong tiểu thuyết Nắng vàng bản Dao có chitiết bà Đô (mẹ chồng) thử thách Ngọc Lan (con dâu mới) bằng việc bỏchiếc kim vào thùng gánh nước, đến khi Ngọc Lan gánh nước về trongthùng còn nguyên chiếc kim (cô dâu đã không rửa thùng trước khi lấynước) Bà Đô đã có lí do để trách mắng con trai (Piao) trong việc chọn vợ
Trong một số truyện ta cũng thường gặp những nhân vật có dáng dấp kiểunhân vật người mồ côi trong truyện cổ dân gian, mô típ mẹ chồng – nàngdâu (Nắng vàng bản Dao), chị em cùng cha khác mẹ hay cùng mẹ kháccha, mô típ đứa con đi tìm cha, mẹ cũng tức là con người muốn tìm về gốc
rễ, nguồn cội của mình (Dặm ngàn rong ruổi, Nơi ấy biên thùy) … Cốnhiên những mô típ đó đã được nhà văn nhào năn cho phù hợp với hoàncảnh xã hội hiện đại
Lưu giữ dấu ấn dân tộc trong văn xuôi của Triều Ân còn là nhữngđoạn văn, trang văn miêu tả thiên nhiên miền núi Ta có thể bắt gặp trongcác tác phẩm của ông những đoạn miêu tả khung cảnh thiên nhiên mangđậm hồn dân tộc Đó là bức tranh thủy mặc miền núi, qua vài nét phác họa:
“Nơi ấy thường bốn mùa mây phủ Nhưng hằng ngày lúc sáng ra, mặt trờitreo ngang ngọn núi, trời trong, nắng dọi sân nhà, hoa đua nở, chim đuahót” [5, tr.13] Chất dân tộc càng ấn tượng hơn với khung cảnh của bản
Trang 35Vietluanvanonline.com Page 35
Hoa Đào khi mùa xuân đến: “Suốt dọc hai bên đường cái chạy qua trướcbản, những cành đào đơm đầy bông đã nở Những cây đào ở vườn vươncành đầy nụ, gác lên cả sàn nhà Khắp nơi, rừng hoa khoe sắc trong nắngnhạt, hầu như chỉ còn một màu hồng thắm Những nếp nhà sàn lấp ló saunhững rặng đào” [7, tr.144] Đó còn là thiên nhiên đầy ắp sự sống: “Bìnhminh đã hé Những tia nắng ấm áp Những chùm lá đỏ và hoa vẫn nở rực
rỡ trên rặng nhạn lai hồng càng tô điểm thêm cho ngày xuân tươi vui”
Khác nào nước suối giặt xà cạp lại qua chỗ nước suối giặt giày” [5, tr.15],
“Thương thấy đôi lông mày kẻ chỉ trên diện mạo Cắm Và rướn lên cong vútnhư cái bẫy … Hai làn môi tô son đỏ chót như đít chào mào” [10, tr.65]
Những câu văn như thế đã được Triều Ân chắt lọc từ cuộc sống đời thườngvào văn chương trở nên độc đáo, giàu hình ảnh, vừa gợi vào tâm trí ngườiđọc những khuôn hình đẹp đẽ giàu sức tưởng tượng, vừa tạo được sự gầngũi, rất tự nhiên và đầy màu sắc dân tộc Kiểu diễn đạt đó có lúc còn tạonên giá trị biểu đạt cao Chẳng hạn trong câu văn: “Bảy cười hờ hờ như conngựa đực nhập đàn” [8, tr.187] bộc lộ một sự quan sát, sự so sánh tinhquái Chỉ một câu thôi mà tác giả đã làm nổi bật hẳn tính cách, gương mặtnhân vật, và đó là nhân vật lái xe, không thể là ai khác
Như vậy dù ở thể loại nào, thơ, truyện ngắn hay tiểu thuyết củaTriều Ân người đọc đều có thể thấy “sự xuất hiện khá đậm đặc nhữngphong tục, tập tục, những nét quen thuộc trong đời sống sinh hoạt trong tác
Trang 36Vietluanvanonline.com Page 36
phẩm của Triều Ân” [50, tr.218] Về phương diện này,có thể coi Triều Ân
là người kế tục và làm phong phú thêm dòng văn chương phong tục đã có
bề dày truyền thống từ trước năm 1945 với nhiều tên tuổi như Tô Hoài, BùiHiển, Kim Lân … và gần đây lại được phục sinh với những hướng tìm tòimới Để có được những trang viết đậm đà màu sắc dân tộc, Triều Ân đãphải trải qua một hành trình lao động nghệ thuật miệt mài và cả đời người
“mải mê tìm kiếm những giá trị văn hóa dân tộc” Nhờ sự am hiểu văn hóadân tộc cùng với khổ công trong sáng tạo nghệ thuật mà Triều Ân đã để lạicho đời một khối lượng tác phẩm khá bề thế Thành công trong sáng tạonghệ thuật của ông đã được nhà nghiên cứu Mai Hương khẳng định: “Đếnvới trang viết của Triều Ân người đọc (đặc biệt bạn đọc người Kinh) luôn
có cơ hội được tiếp cận và khám phá một trường văn hóa đặc sắc, hấp dẫncủa người vùng cao mà “con ong” cần mẫn Triều Ân đã công phu sưu tầmgom nhặt, công phu tái tạo từng trang văn cho người đọc được tận hưởngmột mùa mật ngọt” [50, tr.220]
Trang 37Vietluanvanonline.com Page 37
Chương 2:
NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA BẢN SẮC DÂN TỘC
TRONG VĂN XUÔI TRIỀU ÂN
“Bản sắc dân tộc trong văn học là do chính những nhà văn dân tộcsáng tạo ra … Nó là sự thể hiện tâm hồn, tính cách dân tộc qua cách cảm,cách nghĩ, cách nói riêng của nhà văn, là sự thể hiện một cách đẹp đẽ,sáng tạo những truyền thống văn hóa của dân tộc” [55, tr.76] Trên tinhthần, quan điểm chung này, văn xuôi Triều Ân đã thể hiện sâu sắc bản sắccác dân tộc thiểu số Tày, Nùng, Dao, Mông ở vùng cực bắc của tổ quốc
Bản sắc dân tộc trong văn chương thường được các nhà văn khai thác ởnhiều khía cạnh và với nhiều biểu hiện nhưng với khuôn khổ của luận vănnày, chúng tôi chỉ tập trung đi sâu vào tìm hiểu bản sắc dân tộc trong vănxuôi Triều Ân qua việc thể hiện những giá trị văn hóa truyền thống của haidân tộc Tày, Dao trên các phương diện cụ thể như sau:
2.1 Phương diện phong tục tập quán
Khi nói đến những biểu hiện của bản sắc văn hoá dân tộc không thểkhông nói tới những phong tục tập quán đã được lưu truyền từ lâu đời củadân tộc đó Phong tục “là những thói quen ăn sâu vào đời sống xã hội từlâu đời, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo” [52, tr.143]
Cùng với thời gian, các phong tục tập quán đã thấm sâu vào máu thịt, vàođời sống sinh hoạt của họ và tạo nên giá trị văn hoá tinh thần khá ổn định
Nó quy định và chi phối mọi hành vi ứng xử của con người đối với tựnhiên, xã hội và nó đã làm nên bản sắc văn hoá đặc sắc mỗi dân tộc
Là nhà văn dân tộc Tày, suốt đời gắn bó với quê hương Cao Bằng,Triều Ân đã dày công sưu tầm, nghiên cứu các phong tục tập quán của cácdân tộc thiểu số ở vùng cao Việt Bắc Bởi vậy trong văn xuôi của ông các
Trang 38Ở bài viết “Bản sắc dân tộc trong tiểu thuyết của Triều Ân” nhànghiên cứu Bích Thu cũng đã nhấn mạnh: “tiểu thuyết của Triều Ân đã khaithác khá hiệu quả vốn sống miền núi trong ông Bản sắc văn hóa dân tộc,phong tục tập quán của người miền núi hòa quyện trong các trang viết Nóhiện hữu trong tác phẩm như muốn tăng thêm sức sống của con người, nó
là quá khứ, là kỷ niệm và cũng là hiện tại làm phong phú thêm bản năngsống cũng như thế giới tinh thần của con người” [50, tr 62]
Bản sắc dân tộc ở phương diện phong tục tập quán trong văn xuôikhông phải là cái mới mẻ, riêng biệt Tô Hoài, Ma Văn Kháng đã rấtthành công với những trang viết về phong tục tập quán đồng bào Tày,Mông, Thái ở Tây Bắc Nông Minh Châu, Vi Hồng cũng rất tinh tế trongviệc khai thác và phản ánh những phong tục tập quán của đồng bào TàyViệt Bắc Theo dòng chảy văn chương đó, văn xuôi của Triều Ân cũng đãghi dấu bản sắc dân tộc Tày, Dao với những nét phong tục tập quán độcđáo, đặc sắc
2.1.1 Văn hoá Tày, Dao qua lễ hội, chợ phiên2.1.1.1 Lễ hội là hình thức văn hoá truyền thống, có quy mô lớn của mỗidân tộc Phần “lễ” mang ý nghĩa tạ ơn và cầu xin thần linh bảo trợ cho cuộcsống của mình Phần “hội” gồm các trò vui chơi giải trí hết sức phong phú
Vùng Việt Bắc có hội “Lồng tôồng” (xuống đồng), hội “thi cấy” liên quanđến cuộc sống trong quan hệ với môi trường tự nhiên, thường được tổ chức
Trang 39Vietluanvanonline.com Page 39
vào dịp đầu xuân năm mới Bên cạnh đó còn có những lễ hội liên quan đếnđời sống cộng đồng như hội ăn mừng của cả bản mỗi khi săn bắn được thúrừng Nhà văn Triều Ân đã hoà mình vào không khí ngày hội để quan sát,lắng nghe và diễn tả không khí của các lễ hội đó Trong tiểu thuyết Dặmngàn rong ruổi, Triều Ân đã đưa người đọc đến với ngày hội xuân ở vùngcao “Hội được mở trên bãi đất rộng trước ngôi chùa cổ kính ở thung lũng
Đủ các màu áo dân tộc ở vùng này kéo nhau về tấp nập” [17, tr.607] Đốivới cư dân miền núi, lễ hội là dịp để mọi người gặp gỡ, làm quen, dốc bầutâm sự Trong ngày hội xuân không thể thiếu các trò chơi dân gian Ngườidân tộc vùng cao thường có các trò chơi như tung còn, hát giao duyên,đánh cờ tiên, đánh sảng, kéo co, đẩy gậy … Mỗi lứa tuổi có một thú vuiriêng “Thanh niên say nhất vẫn là gieo đúm (tung còn) và hát giao duyên”
Theo tục lệ, “người có vợ, có chồng nhưng ở lứa tuổi thanh niên vẫn cứđắm say vào cuộc chơi với bạn như chưa vợ chưa chồng” [17, tr.607] Giữacác dân tộc thiểu số cũng không có ranh giới Cuộc vui kéo dài trong khungcảnh bình yên, thân thiện và lành mạnh
Bên cạnh lễ hội mùa xuân còn có hội ăn mừng mỗi khi săn bắn đượcthú rừng của người dân tộc Người Dao sinh sống bằng hoạt động săn bắn
Cá nhân săn thú nhỏ như cầy, chồn, cáo, sóc cũng là để bảo vệ mùa màng
Thú lớn thì săn tập thể, có lưới săn và chó dữ hỗ trợ, gồm: lợn rừng, gấu,hươu, nai Theo tục lệ nếu trong cuộc săn bắt tập thể đó con mồi trúng đạncủa tay súng nào thì đêm đó sẽ làm lễ ăn mừng tại nhà người ấy Vì vậy
“đêm ấy mọi người mang theo một cút rượu, gọi theo chó, kéo về nhàLương Dưỡng cùng Hoàn kiêu hãnh đứng trước con mồi làm lễ chiếnthắng Hoàn tuyên bố:
- Hôm nay khẩu súng này hạ sát con hươu phá lúa Đây là chiếncông thứ ba của khẩu súng này Ta hãy bôi chút máu lên thân súng làm
Trang 40Vietluanvanonline.com Page 40
dấu Còn chiến công là của mọi người, mọi nhà, của cả đàn chó làng Dao
… Chúng ta xả thịt, xào nấu, nhắm rượu Dành riêng cho mỗi nhà đưa vềmột cân cho người giữ bản lúc này không có mặt” [17, tr.825]
Trong bữa tiệc, người được bạn bè chúc mừng phải là thiện xạ đã hạthủ con vật Một lời chúc là trăm chén rượu đi theo Chén rượu nâng lên đặtxuống không ngớt Vui liên hoan họ hát các bài dân ca về tình yêu, về đisăn, về lên nương Tiếng nói tiếng cười triền miên kéo dài suốt đêm
Thông qua các lễ hội truyền thống của dân tộc, nhà văn đã cho ngườiđọc nhận thấy tinh thần đoàn kết, gắn bó của từng tộc người, giữa các dântộc anh em, để từ đây các dân tộc sẽ cùng giúp đỡ nhau trên đà phát triểnkinh tế, văn hoá, xã hội
2.1.1.2 Tạo nên dấu ấn dân tộc của người miền núi còn là hình thức tổchức chợ phiên (họp chợ theo phiên, cứ năm ngày là một phiên) Ai đã từngđặt chân lên mảnh đất biên giới phía Bắc chắc sẽ không thể không ấn tượngvới những phiên chợ vùng cao Chợ không chỉ là trung tâm trao đổi hànghoá mà còn là trung tâm giao lưu tình cảm, sinh hoạt văn hoá rất đặc sắc
Các phiên chợ vùng cao đã đi vào các sáng tác của Tô Hoài, Ma VănKháng, Cao Duy Sơn với chợ Bắc Hà, Phiềng Sa … Nếu Tô Hoài nhìnphiên chợ vùng cao như một cảnh quan sinh hoạt mang đặc thù ý nghĩa xãhội thì Triều Ân lại đi vào khai thác, nhìn nhận, miêu tả nó như một nét vănhoá đặc sắc của các dân tộc thiểu số
Ở vùng người Tày – Nùng, chợ ngày mồng tám tết là chợ “khaixuân” Trong phiên chợ này, hàng bày bán chủ yếu là các đồ ăn, đồ chơicủa trẻ em “Những chiếc bánh đang sôi trong chảo mỡ thơm lừng: su sê,
áp chảo, dê vàng, chim én, quai chảo … Nhiều em cầm trên tay những quảtrứng nhuộm màu, phẩm đỏ giây đầy tay, bôi nhọ nhem cả má, mặt vênhlên như rất đỗi tự hào Em thì khua giòn giã trống bỏi, em thì cầm từng