1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách kinh tế mới với vấn đề hoà hợp dân tộc ở Malaixia giai đoạn 1971-1990

110 721 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 30,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TATBơc Cộng đồng công nghiệp và thương mại bản địa CPI Chỉ số giá tiêu dùng DBP* Hội đồng về ngôn ngữ và văn học EOI Công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu FELCRA Cơ quan

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÝ TƯỜNG VÂN

CHÍNH SÁCH KINH TÊ MỚI VỚI

GIAI DOẠN1971 -1990

Chuyên ngành: Lịch sử th ế giới

Mã số: 5.08.01

LUẬN ÁN CAO HỌC KHOA HỌC LỊCH s ử

Người hướng dẫn khoa học:

Trang 2

Sưu cam đoan

9ci xin ca/m đũ€m ctđụ lù cên^ tửrỉ/ỉi nỹ/ùên cứu CM M /tiên^ lôi %ác bổ /iêuý Á'4$ <jfìưả nêu

ìu tumtý ăỉíMvn iwm là l/um^ tỉưtc.

s p , L

Lu luíor^Ị VQ J V

Trang 3

CHƯƠNG 3: NHŨNG CHUYỂN BIẾN VỂ K IN H TẾ - XÃ H Ộ I Ở 73

M A L A IX IA SAU QUÁ TR ÌN H TH ự C H IỆN NEP

3 1 Nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm bớt chênh lệch về mức 73 thu nhập

3 2 Những kết quả đạt được trong xoá đói giảm nghèo 85

5

Trang 4

3.3 Công bằng giữa các cộng đồng sắc tộc 88

6

Trang 5

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TAT

Bơc Cộng đồng công nghiệp và thương mại bản địa

CPI Chỉ số giá tiêu dùng

DBP* Hội đồng về ngôn ngữ và văn học

EOI Công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu

FELCRA Cơ quan thâm canh và phục hoá đất đai Liên bang

FGDA Phân Phối phát triển của Chính phủ Liên bang

FIDA u ỷ ban phát triển công nghiệp Liên bang (được thành lập

năm 1965)

HICOM Công ty công nghiệp nặng

HPEAEs Những nền kinh tế Đông Á tăng trưởng cao

HQLI Chỉ số đo chất lượng cuộc sống

IADP Chương trình phát triển nông nghiệp tổng hợp

ISI Công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu

JCRR Uỷ ban phục hồi nông thôn

M ARA* 7 5 chức phát triển công nghiệp ngoài khu vực nông thôn MCA Hiệp hội Hoa kiều Mã lai

Đại hội Ấn kiều Mã lai

7

Trang 6

M IDA Uỷ ban phát triển công nghiệp Malaixia (được thành lập

trong Chính sách kinh tế m ớ i ) MIDFA U ỷ ban tài chính phát triển công nghiệp Malaixia

NA P Chính sách nông nghiệp quốc gia

NDP Chính sách phát triển quốc gia

OPP-I K ế hoạch triển vọng lần thứ nhất

OPP-II K ế hoạch triển vọng lần thứ hai

PERNAS * Công ty thương mại nông nghiệp quốc gia

RDAs Các cơ quan phát triển khu vực

R & D Nghiên cứu và Triển khai

RIDA Uỷ ban phát triển công nghiệp và nông thôn

RISDA U ỷ ban phát triển công nghiệp đồn điền cao su

RM* Đồng Ring-gít Malaixia (= đôla Mã lai)

SEDC Các tập đoàn phát triển kinh tế nhà nước

S & T Khoa học và Công nghệ

UM NO Tổ chức thống nhất quốc gia Malaixia.

Chú ý: * Viết tắt từ tiếng Mã lai.

8

Trang 7

tr o n g n h ữ n g h iể m h o ạ , t h á c h th ứ c đ ó là vấn đ ề mâu thuẫn sắc tộc, xung đột sắc tộc.

V ấ n đ ề s ắ c t ộ c là m ộ t v ấ n đ ề h ế t s ứ c n h ạ y c ả m , n h ạ y c ả m c ả tr o n g m ộ t

xã hội thuần nhất về sắc tộc, còn đặc biệt nhạy cảm hơn rất nhiểu đối với những xã hội đa sắc tộc Cho đến ngày nay, có thể nói không có quốc gia nào không bao gồm nhiều tộc người cùng chung sống Mà giữa các tộc người lại có sự khác nhau rất lớn về lịch sử, văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng,

tr ìn h đ ộ p h á t tr iể n k in h t ế , v v T ín h c h ấ t n ó n g b ỏ n g c ủ a m â u th u ẫ n n à y

th ể h iệ n ở c h ỗ : c á c c u ộ c x u n g đ ộ t s ắ c t ộ c d iễ n ra m ộ t c á c h p h ổ b iế n ở k h ắ p

mọi nơi trên thế giới Mâu thuẫn lớn gây ra nội chiến, mâu thuẫn nhỏ hơn

n h iê n , tro n g th ờ i đ ạ i m ớ i hiện nay, vấn đ ề lợ i ích kin h tế lạ i được xem như

là ưu tiê n hàng đẩu (m à lợ i ích kin h tê lạ i gắn liê n v ớ i quyền lực về chính

t r ị) đ ã là nhân tô ' kích th ích cho mâu thuần sắc tộ c p h á t triể n và tr ở tlià n h

m ột tro n g những vấn đ ề nóng bỏng nhất.

9

Trang 8

V iệc giải quyết vấn đề này quả thực không đơn giản chút nào bởi

k h ô n g th ể có một h a y một số giải pháp chung để giải quyết một cách hữu hiệu mọi x u n g đột sắc tộc ở những quốc gia khác nhau Trên thực tế, chính phủ các nước có tồn tại vấn đề s ắ c t ộ c đã đưa ra những biện pháp để ngăn

c h ặ n , t iế n tớ i l o ạ i trừ n ó T u y n h iê n , th à n h c ô n g đ ế n đ â u lạ i tu ỳ t h u ộ c v à o

khả năng và những nỗ lực của bản thân chính phủ các nước đó.

T ro n g tìn h hình ấy, M a la ix ia đ ã n ổ i lên v ớ i tư cách là m ột tro n g s ố rấ t

ít nước trê n th ế g iớ i được đánh g iá là thành công tro n g việc g iả i quyết những b ấ t bình đẳng tro n g kin h tế (vốn là nguyên nhân dẩn đến máu thuẫn sắc tộ c) bằng các biện p háp kin h tế, đem lạ i sự hoà hợp dân tộc, đoàn kết dán tộc, làm nền tảng cho sự p h á t triể n p hồn th ịn h của đấ t nước như ngày hôm nay.

M a la ix ia là m ộ t q u ố c g i a đ a s ắ c t ộ c , b a o g ồ m b a t ộ c n g ư ờ i c h ủ y ế u là

người Mã lai, người Hoa và người Ân Độ Ngoài ra, ở Malaixia còn có các tộc người khác như người Anh, người Indonesia, người Ả Rập, người Phillipine, người Pakistan và các tộc người bản xứ Lẽ dĩ nhiên các tộc người này cũng rất khác nhau về ngôn ngữ, văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng và đặc biệt là trình độ phát triển kinh tế Sự khác nhau đó đã dẫn đến sự chia rẽ sâu sắc giữa các cộng đồng cư dân và các tầng lớp trong xã hội mà trước hết

là giữa người Hoa và người Mã lai Tình trạng này là do hậu quả của hơn một thế kỷ cai trị của Chủ nghĩa thực dân và là một thách thức lớn nhất đối với chính phủ sau độc lập.

Vì vậy, ngay sau khi giành được độc lập (tháng 8/1957), v ấ n đề được các nhà lãnh đạo đất nước (đứng đầu là Tổ chức Dân tộc Thống nhất Mã lai

- U M N O , n h ữ n g n g ư ờ i t h e o C h ủ n g h ĩa d â n t ộ c M ã la i) q u a n tâ m h ơ n c ả là

việc khắc phục tình trạng chênh lệch về kinh tế giữa cộng đồng người Mã lai và c ộ n g đồng n g ư ờ i Hoa, cải thiện sự lạc hậu của người Mã lai trong lĩnh

Trang 9

vực khoa học kỹ thuật và sự trì trệ của họ trong giáo dục w Đ ể có th ể đưa người Mã lai lên địa vị kinh tế, văn hoá, giáo dục ngang bằng, thậm chí cao hơn các cộng đồng cư dân khác trong nước, Hiến pháp Mã lai đã công nhận

“ Q u y ề n đặc biệt” của người Mã lai với tư cách là cộng đồng cư dân bản địa Theo đó là hàng loạt các chính sách nhằm bảo vệ quyền lợi cho người Mã lai trê n mọi phương diện Và đây chính là nguyên nhân làm cho sự chia rẽ, mất đoàn kết giữa các cộng đồng sắc tộc vốn đã sâu sắc lại càng sâu sắc thêm.

Cuối những năm 60, tình hình chính trị ở Malaixia rất phức tạp Mối quan hệ căng thẳng giữa các tộc người trong nước đã dẫn đến sự bất ổn định

về chính trị, đặc biệt là vấn đề sắc tộc đang đứng trước nguy cơ khủng hoảng Cuộc xung đột sắc tộc năm 1969 đã thực sự đẩy Malaixia vào một cuộc khủng hoảng chính trị nghiêm trọng mà sau này Thủ tướng Tunku

A b d u l R a h m a n g ọ i đ â y là “ th ờ i k ỳ đ e n t ố i n h ấ t tr o n g l ịc h s ử d â n t ộ c ta ” [6 4 ;

p 8 2 ]

Sau cuộc rối loạn sắc tộc năm 1969, Hệ tư tưởng Quốc gia -

R ukunegara đ ã chính thứ c khẳng đ ịn h rằ n g : chính những sự khác b iệ t vê trìn h độ p h á t triể n k in h tế giữ a các cộng đồng là c ộ i nguồn của những mâu thuẫn chủng tộc ở M a la ix ia v à c h o r ằ n g m uốn g iả i quyết tận gốc những mâu thuẫn đó th ì n h ất th iế t p h ả i xây dựng cho được m ột đường lố i p h á t triể n

k in h tế hướng tớ i việ c thực hiệ n công bằng x ã h ộ i (song không p h ả i bằng cách ch ia sẻ quyền lợ i kin h tế của các tộc ngư ời khác (n gư ờ i H o a và người

Á n ) cho ngư ời M ã la i), từ đó huy động tiềm năng của tấ t cả các dân tộc tro n g nuớc vào sự nghiệp p h á t triể n của đ ấ t nước.

Như vậy, từ chỗ chỉ quan tâm đến quyền lợi của người Mã lai v à th ấ y

quyền lợi của người Mã lai luôn mâu thuẫn với quyền lợi của c á c c ộ n g đ ồ n g

cư d â n khác, thì nay UM NO đã thừa nhận rằng c á c quyền lợi mâu thuẫn

Trang 10

n h a u đó có thể được dàn xếp trong cơ cấu của một x ã hội hoà hợp dân tộc

[86; p 145].

T r ê n c ơ s ở đ ó , C h ín h s á c h K in h t ế m ớ i ( N E P ) ra đ ờ i N ộ i dung cơ bản

và quan trọ n g n h ất của N E P là điều chỉnh những sự m ất cân đ ố i tro n g kin h

tế - x ã h ộ i đ ể giảm và c u ố i cùng lo ạ i bỏ phân b iệ t sắc tộc, thực hiện hoà hợp dân tộc và thống n h ất dân tộc.

Thực tế đã chỉ ra rằng muốn giải quyết được mâu thuẫn sắc tộc bắt nguồn từ lý do kinh tế thì trước hết phải giải quyết được mâu thuẫn giữa tăng trưởng và phát triển Điều đó có nghĩa là, nó đòi hỏi phải có sự kết hợp hài hoà giữa việc tăng trưởng kinh tế với chương trình phát triển xã hội có chú ý đến quyền lợi kinh tế và truyền thống văn hoá, bản sắc dân tộc của tất

cả các nhóm cư dân cùng chung sống trên một lãnh thổ.

Thực tế đó một lần nữa lại được kiểm nghiệm ở Malaixia: Nếu thời kỳ

1 9 5 7 - 1 9 7 0 , n ề n k in h t ế t ă n g trư ở n g n h a n h nhưng k h ô n g m a n g lạ i th à n h

quả cho đa số người dân Malaixia, thậm chí còn làm gia tăng khoảng cách khác biệt giữa các cộng đồng người, thì ở thời kỳ thực hiện NEP 1971 -

1990, m ục tiê u tăng trư ởn g kin h tế được đ ặ t tro n g m ố i quan hệ khăng k h ít

với các mục tiêu phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế cũng đồng nghĩa với việc mở rộng cơ hội đối với các cộng đồng lạc hậu, tạo điều kiện để các cộng đồng lạc hậu có thể tiến kịp các cộng đồng tiên tiến mà không gây

p h ư ơ n g h ạ i đ ố i v ớ i c á c c ộ n g đ ồ n g t iế n b ộ h ơ n C hính v ì thế, sau h a i thập kỷ thực hiện các đường lố i, chiến lược, sách lư ợc của N E P , M a la ix ia đ ã g iả i

quyết được những vấn đ ề hết sức nan giải của đất nước như: giảm bớt được những b ấ t bình đẳng x ã h ộ i, những sự khác b iệ t giữ a các tầng lớ p , các nhóm dân cư, giữ a các vùng, lã n h th ổ tro n g cả nước bằng chức năng kin h

tế Đ iề u quan trọ n g n liâ t ở đ â y chính là việc giả m b ớ t được sự khác b iệ t

Trang 11

giữ a các sắc tộc đ ã tạo c ơ sở cho chính sách đoàn kết dân tộc của

M a la ix ia N E P đ ã bước đầu tạo lậ p được m ô i trư ờng hoà bình và ổn định.

Như vậy, nghiên cứu Chính sách Kinh tế mới của Malaixia trong việc giải quyết mâu thuẫn sắc tộc, xung đột sắc tộc - vấn đề nhức nhối nhất, nan giải nhất của thời đại - sẽ được coi là có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ với các quốc gia đang tồn tại những mâu thuẫn sắc tộc mà còn rất có ý

c ă n b ả n v ề n g u ồ n g ố c lịc h s ử , p h o n g tụ c tậ p q u á n , t iế n g n ó i, c h ữ v iế t, k h á c

nhau về địa bàn cư trú, về số lượng cư dân của mỗi tộc người, về về trình độ phát triển kinh tế Và, quan trọng hơn cả là chúng ta vẫn tồn tại những chênh íệch tương đối lớn giữa miền núi và miền xuôi, giữa nông thôn và thành thị, chênh lệch về cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, chênh lệch về trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, trình độ phân công lao động và năng suất lao động, về số lượng và chất lượng sức lao động v v

Do đó, những bài học thành công của Malaixia trong quá trình giải quyết những bất bình đẳng trong kinh tế, xã hội - là nguồn gốc của những

Trang 12

V ì n h ữ n g l ẽ đ ó , “ C h ín h s á c h K in h t ế m ớ i v ớ i v ấ n đ ề h o à h ợ p d â n t ộ c ờ

Malaixia giai đoạn 1971 - 1990” đã được chọn làm đề tài cho Luận văn

n à y Đ â y là m ộ t đ ề tà i c ó g iá trị h iệ n th ự c c a o , d o đ ó đ ể tà i n à y c ũ n g v ừ a

m a n g ý n g h ĩa k h o a h ọ c lạ i v ừ a m a n g ý n g h ĩa c h ín h trị.

2 Tài liệu tham khảo.

T r ư ớ c h ế t , đ ể n g h iê n c ứ u đ ề tà i n à y , tá c g iả đ ã d ự a trên n h ữ n g c ô n g trìn h t h ô n g s ử M a la i x ia n ó i c h u n g n h ư “M a la y s ia ” c ủ a J o n h G u llic k [ 7 3 ] ,

an d N a tio n a l U n ity " c ủ a J o n h G u llic k [ 7 4 ] , h a y “ M a la y s ia : G ro w th and

E q u ity in M u ltir a tic a l S o cie ty” c ủ a K e v in Y o u n g [ 7 7 ] , “ E conom ic developm ent a n d E th n ic in te g ra tio n , The M a la y s ia expere nce" c ủ a O s m a n

R a m i [ 8 3 ] , N h ư n g b ê n c ạ n h đ ó c ũ n g c ó m ộ t s ố c ô n g trìn h đ ề c ậ p đ ế n

từ n g v ấ n đ ể c ụ t h ể h ơ n c ũ n g n h ằ m v à o v i ệ c g iả i q u y ế t v ấ n đ ề s ắ c t ộ c ở

M a la ix ia n h ư : v ề v ấ n đ ề n g ô n n g ữ q u ố c g i a c ó ‘T he Im p o rta ce o f the

N a tio n a l Language in R e la tio n to Socio - E cono m ic C o n d itio n s an d E th n ic

C om m u nica tio n P a tte n s ” c ủ a K w e i K u e n N g [ 7 8 ] , “ Language and society

in M a la y s ia ” [ 6 0 ] , “ N a tio n a l Language an d C om m unica tion in

M u ltilin g u a l S o c ie tie s ” [ 6 1 ] h a y “ P atte rns o f Language C om m unication in

M a la y s ia ” [ 6 2 ] của Asm ah H a ji O m a r, ; v ề v ấ n đ ề p h á t tr iể n v ù n g h a y

Trang 13

k h ắ c p h ụ c s ự k h á c b iệ t g iữ a c á c v ù n g c ó c á c tá c p h ẩ m n h ư ‘‘R egional developm ent in R u ra l M a la y s ia and the T rib a l Q u e s tio n " c ủ a Ib r a h im

Z a w a w i [ 7 1 ] , “ U rb a n D evelopm ent in Southeast a s ia : R egional citie s and

L o c a l G ove rnm ent” c ủ a J u r g e n R [ 7 2 ] , “ A Study o f U rban in the N o rth e rn Region o f P e n is u la r M a la y s ia ” c ủ a K a u s a A l l [ 7 6 ] ,

L à m ộ t q u ố c g i a lá n g g i ề n g , lạ i c ó n h iề u n é t tư ơ n g đ ồ n g v ớ i M a la ix ia

s o n g ở V iệ t N a m , v ì n h iề u l ý d o k h á c n h a u m à v i ệ c n g h iê n c ứ u v ề M a la ix ia

c ò n c h ư a th ậ t p h á t tr iể n C h ú n g ta c h ư a c ó n h iề u tá c p h ẩ m c h u y ê n k h ả o v ề

M a la ix ia C ó t h ể k ể ra m ộ t s ố ít tá c p h ẩ m như: “ M a la ix ia - L ịc h sử, Văn hoá và N hững vấn đ ề hiện đ ạ i" , c ủ a T ậ p th ể c á c tá c g iả ở V iệ n Đ ô n g N a m

Á , [ 1 3 ] “ M a la ix ia tr ê n đ u ờ n g p h á t t r iể n ” c ủ a P h ạ m Đ ứ c T h à n h [ 4 3 ] , “ K in h

t ế M a la ix ia ” [ 2 6 ] v à “ T ă n g trư ở n g k in h t ế v à c ô n g b ằ n g x ã h ộ i ở M a la ix ia ” [ 2 7 ] c ủ a Đ à o L ê M in h , T r ầ n L a n H ư ơ n g T á c g iả L u ậ n v ă n c ũ n g th a m k h ả o

p h ầ n M a la ix i tr o n g n h ữ n g t á c p h ẩ m v iế t c h u n g v ề c á c q u ố c g ia Đ ô n g N a m

Á n h ư “ Đ ôn g N am Á trê n đường p h á t tr iể n ” [ 1 9 ] , “ C ác con đường p h á t triể n của A S E A N ” [ 2 0 ] v à “ A S E A N - những vấn đê và xu hư ớng” [ 2 1 ] c ủ a

P h ạ m N g u y ê n L o n g , “ M ộ t sô' vấn đ ề về sự p h á t triể n của các nước

A S E A N ” c ủ a V ũ D ư ơ n g N in h [ 3 2 ] , "A S E A N hôm nay và triể n vọng tro n g

th ê 'kỷ X X I” c ủ a P h ạ m Đ ứ c T h à n h v à P h ạ m N g u y ê n L o n g , ẫV ề lịc h sử Đ ông

N am Á hiện đ ạ i” c ủ a N g u y ễ n K h á n h T o à n [ 4 7 ] , “ C á c nước Đ ông N am Á -

L ịc h sử và hiện t ạ i’’ c ủ a V i ệ n Đ ô n g N a m Á [ 5 3 ] , “ Đ ịa lý các nước Đ ông

N am Á : N hững vấn đ ề kin h tê ' - x ã h ộ i ” c ủ a P h a n H u y X u v à M a i P h ú

T h a n h [ 5 8 ] v à m ộ t s ố t á c p h ẩ m k h á c n h ư ‘T ìm hiểu kin h nghiệm tổ chức quản lý nông thôn ở m ột s ố nước khu vực Đ ông Á và Đ ông N ơm Á ” c ủ a

P h a n Đ ạ i D o ã n v à N g u y ễ n T r í D ĩn h [ 3 ] , “ K hó khăn và g iả i p háp đ ố i vớ i tăng trư ở /ìg bền vững của những nền kin h tế đang chuyển đ ổ i ” c ủ a Đ ỗ Đ ứ c

Trang 14

Đ ịn h c h ủ b iê n [ 6 ] , "S ự thần kỳ Đ ông Á - Tăng trư ởng kin h tế và chính sách công cộng ” c ủ a T r u n g tâ m k in h t ế C h â u Á - T h á i B ìn h D ư ơ n g [ 5 0 ] N g o à i

những nguồn tài liệu kể trên, nhiều bài viết trên các tạp chí chuyên ngành

sách Kinh tế mới nằm trong khuôn khổ của K ế hoạch cho tương lai I (OPP-I).

4 Phương pháp nghiên cứu.

Trang 15

Đ ể c ó m ộ t c á i n h ìn s o s á n h , L u ậ n v ă n c ũ n g s ử d ụ n g phươììg pháp tổng hợp, p h ân tíc h , so sánh n h ằ m n ê u b ậ t l ê n n h ữ n g th à n h c ô n g c ủ a M a la ix ia

sa u q u á trìn h th ự c h iệ n C h ín h s á c h k in h t ế m ớ i s o v ó i g ia i đ o ạ n trư ớ c đ ó v à

s o v ớ i c ả m ộ t s ố n ư ớ c tr o n g v à n g o à i k h u v ự c

N g o à i ra, phương p h á p thống kê, sử dụng bảng biểu c ũ n g đ ư ợ c th ể h iệ n

tr o n g L u ậ n v ă n C ù n g v ớ i n h ữ n g b ả n g b iể u lấ y từ n g u ồ n s á c h t iế n g V iệ t , tá c

Trang 16

định của M alaixia trong việc giải quyết mâu thuẫn sắc tộc vốn bắt nguồn từ

lý do kinh tế bằng chính các biện pháp kinh tế.

6.5 Trên cơ sở tổng hợp các kết quả phân tích trên, Luận văn nêu bật đ ư ợ c

Chương 2: Chính sách Kinh tế mới (NEP) với vấn đề hoà hợp dân tộc ở

Malaixia giai đoạn 1971 -1 9 9 0

Trang 17

cụ thể như: Phát triển cộng đồng công thương nghiệp bản địa; Phát triển nông nghiệp và nông thôn; Khấc phục sự khác biệt giữa các vùng lãnh thổ; Phát triển giáo dục; và Chính sách ngôn ngữ quốc gia.

Chương 3: Những chuyển biến về kinh tế, xã hội ở Malaixia sau quá

trình thực hiện NEP.

Từ những thành tựu phát triển chung của đất nước sau 20 nãm thực hiộn NEP, Malaixia đã đạt được những kết quả đáng kể trong việc giảm bớt được những bất bình đẳng xã hội, những sự khác biệt giữa các tầng lớp, các nhóm dân cư, sự khác biệt giữa các vùng lãnh thổ trong cả nước Việc giảm bớt được sự khác biệt giữa các sắc tộc đã tạo cơ sở cho chính sách đoàn kết dân tộc của Malaixia.

Kết luận.

Phần này nhằm đưa ra một số nhận xét về những thành tựu cũng như những mặt còn hạn chế của Chính sách Kinh tế mới, cùng những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam (một quốc gia đa dân tộc) trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nước hiện nay.

Trang 18

bảo, đóng góp ý kiến của các nhà nghiên cứu và các độc giả để có thể tiếp tục bổ sung và hoàn chỉnh đề tài nghiên cứu của mình.

Qua bản Luận văn này, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hai Thày hướng dẫn - Tiến sĩ Lê Khắc Thành và Tiến sĩ Phạm Đức Thành đã giúp tôi định hướng đề tài Luận văn và dành nhiều thời gian giúp đỡ, hướng dẫn tôi hết sức tận tình từ những ngày đầu cho đến khi hoàn thành Luận văn.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn GS Vũ Dương Ninh, TS Nguyễn Văn Kim cùng các Thày, Cô giáo trong Bộ môn Lịch sử Thế giới đã cho tôi những ý kiến và chỉ dẫn hết sức quý báu trong quá trình nghiên cứu.

Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Lịch sử, Phòng Đào tạo sau Đại học, Ban Giám hiệu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà nội đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành bản Luận văn này.

Hà nội ngày tháng năm 2002

Lý Tường Vân

Trang 19

CHƯƠNG 1 MALAIXIA GIAI B O M 1 9 5 7 - 1970

1.1 TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI MALAIXIA SAU KHI GIÀNH ĐỘC LẬP.

Một trong những vấn đề chính trị - xã hội phức tạp nhất của Liên bang Malaixia là sự tồn tại của một xã hội đa sắc tộc với sự khác nhau rất căn bản

về ngôn ngữ, văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng và trình độ phát triển kinh tế

Trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, kể từ khi có sự chiếm đóng của Nhật bản và sau đó là chính sách chia để trị của thực dân Anh, vấn đề mâu thuẫn sắc tộc của Malaixia đã bắt đầu nảy sinh và càng ngày càng trở nên phức tạp hơn kể từ sau khi Malaixia giành được độc lập.

Trước hết, việc thông qua Hiến pháp Liên bang năm 1957 với những điều khoản thể hiện sự ưu đãi tuyệt đối dành cho người Mã lai trên tất cả các phương diện đã gây nên những bất bình trong cộng đồng người Hoa và người

Ạ/

Ấn.

Hiến pháp khẳng định vị trí đặc biệt của đạo Hồi trong mọi lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội của đất nước, đồng thời cũng thừa nhận là cần phải duy trì m ột ưu th ế chính trị nhất định cho người Hồi giáo Mã lai (có tính đến

sự trung hoà các cộng đồng dân cư không phải Mã lai) Hiến pháp năm 1957

và Hiến pháp sửa đổi năm 1963 công nhận Hồi giáo là tôn giáo chính thức của toàn Liên bang nhung cũng bảo đảm quyền tự do truyền bá và hành đạo cho tất cả các tín ngưỡng và tôn giáo khác Tiếng Malayu được Hiến pháp quy định là ngôn ngữ quốc gia, bên cạnh đó tiếng Anh cũng có quy chế là ngôn ngữ chính thức trong thời kỳ chuyển tiếp được tính là 10 năm Ngoài ra, Hiến pháp cũng công nhận những "quyển đặc biệt" của người Mã lai với tư cách cộng đồng cư dân bản địa Người Mã lai được tạo mọi cơ hội khi tham gia vào

2 1

Trang 20

các lĩnh vực kinh tế (như các ngành sản xuất công nghiệp, đặc biệt là các ngành kinh doanh, đào tạo nghề và việc làm), hay trong giáo dục (được ưu tiên

về chỉ tiêu học và được cấp học bổng), chính phủ cũng dành sự quan tâm to lớn cho phát triển nông nghiệp và nông thôn, nơi có đa số người Mã lai sinh sống

Như vậy, có thể thấy nền tảng tư tưởng của chính phủ Mã lai (mà điCììg đầu là UM NO - Tổ chức dân tộc thống nhất Mã lai) sau độc lập là Chủ nghĩa dàn tộc Mã lai, trong đó: Người Mã lai phải là công dân sô' một; Tiếng Malayu phải là tiếng nói chính thống trên bán đảo Mã lai; Đạo Hồi phải là

phía bảo vệ quyền lợi trước hết cho người Mã la i Đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự chia rẽ, mất đoàn kết sâu sắc giữa các sắc tộc trong Liên bang mà trước hết là giữa người Hoa và người Mã lai.

Những mâu thuẫn đó một lần nữa lại được thổi bùng lên sau cuộc bầu cử Quốc hội năm 1959 Đảng Liên minh (Alliance Party)1 đã giành thắng lợi tuyệt đối và trở thành Đảng cầm quyền ở Mã lai Những người đứng đầu Đảng Liên minh nhìn chung là những người thuộc tầng lớp trên của ba cộng đồng sắc tộc Mã lai, Hoa và Ấn Độ Vì vậy, Liên minh này trên thực tế mang tính chất thoả hiệp giữa những người đứng đầu ba Đảng Sự thoả hiệp đó bao giờ cũng kèm theo sự nhân nhượng, hy sinh quyền lợi của từng cộng đồng nhưng

đó không phải là quyền lợi của giai cấp cầm quyền mà là quyền lợi của nhân dân lao động nói chung Chẳng hạn, U M N O (Tổ chức dân tộc thống nhất Mã lai) đại diện cho tầng lớp quý tộc, quan lại, địa chủ của người Mã lai sẽ nắm trong tay các chức vụ chính trị quan trọng trong chính phủ, các cơ quan nhà nước, quân đ ội, cảnh sát; M CA (H iệp hội Hoa Kiều Mã lai) đại diện cho tầng

1 Alliance Party là tổ chức liên minh của ba đảng: Tổ chức dân tộc thống nhát Mã lai

(UMNO), Hiệp hội Hoa kiều Mã lai (MCA) và Đại hội Ân kiểu Mã lai (IMC) được thành

lập từ năm 1952.

2 2

Trang 21

lớp đại tư sản người Hoa được quyền kiểm soát các mạch máu kinh tế quan trọng của đất nước trong lĩnh vực sản xuất nguyên liệu, nội thương, ngoại thương và có quan hệ chặt chẽ với tư bản nước ngoài; Còn IMC (Đại hội Ấn kiều Mã lai) do không phải là một cộng đồng lớn, thế lực kinh tế lại không mạnh nên ảnh hưởng của tổ chức này là không đáng kể Sự phân chia quyền lợi giữa những người cầm quyền vô hình chung đã làm khơi dậy những mầm mống mâu thuẫn vốn tiềm ẩn trong xã hội Mã lai chỉ chờ cơ hội là có thể vỡ tung ra Vấn đề dân tộc ở Mã lai từ sau nãm 1959 trở nên thực sự căng thẳng Trong khi đó, cũng vào cuối những năm 50 ở Singapore, phong trào đấu tranh của phe dân chủ, cánh tả đòi độc lập dân tộc diễn ra rất mạnh mẽ buộc thực dân Anh phải xem xét quy chế tự trị cho Singapore Ngay lập tức, ở Liên bang Mã lai đã xuất hiện những ý kiến liên kết "các miền đất của người Mã lai" với nhau, tức là sát nhập các vùng thuộc địa của Anh là Singapore, Sarawak, Sabah và Brunei vào Liên bang Trong tính toán của chính quyền Liên bang Mã lai, việc sát nhập Singapore trước hết sẽ ngãn không cho Singgapore trở thành "tiền đồn của Chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á"1 - rất không có lợi cho sự phát triển của Mã lai sau này Ngoài ra, chính quyền Liên bang muốn lợi dụng khả năng kinh tế và tài chính của Singapore để phát triển đất nước, nhưng lại sợ sự thay đổi tỷ lệ dân tộc bất lợi cho cộng đồng người

Mã lai V ì thế, với việc đưa Sarawak, Sabah và Brunei vào Liên bang cùng Singapore - nơi đa số cư dân là người Hoa - đã góp phần làm thay đổi về tương quan lực lượng, tạo ra thế cân bằng giữa các tộc người (chủ yếu là người Hoa

và người Mã lai) Đ ó là một trong những điều kiện cần thiết cho quá trình hoà hợp dân tộc mà chính quyền Abdul Rahman xem là cơ sở cho sự ổn định quốc gia Trên tinh thần đó, ngày 16/9/1963, Liên bang M alaixia chính thức được thành lập.

1 Pie Fixtie: Đông Nam Á - Phần Malaixia, Singapore, Brunei Thư viện Quân đội sao lục,

1975 Tr 25.

23

Trang 22

N gay sau khi thành lập Liên bang, UM NO đã thực hiện ý đồ củng cô' địa

vị thống trị của mình Singapore, với mục đích biến Singapore thành một bang của Liên bang mà ở đó, đặc quyền thuộc về người Mã lai và quyền chính trị nằm trong tay UMNO Tuy nhiên ý đồ này đã bị thất bại Cùng lúc đó, Đảng Hành động nhân dân Singapore cũng có tham vọng giành được một ưu thế chính trị nhất định trong Liên bang bằng cách mở rộng ảnh hưởng của mình ở các bang khác của Liên bang Chính những tham vọng của cả hai bên

đã làm tăng thêm mâu thuẫn và thái độ nghi kỵ giữa người Hoa và người Mã lai Đặc biệt khi những phần tử phái hữu theo chủ nghĩa dân tộc Mã lai đòi giành cho người Mã lai ở Singapore những quyền lợi như người Mã lai ở trên lãnh thổ Mã lai thì mâu thuẫn giữa người Hoa và người Mã lai càng trờ nên căng thẳng, đạc biệt là ở Singapore, nhũng cuộc xung đột sắc tộc đã liên tiếp diễn ra Năm 1965, quan hệ giữa chính phủ Malaixia và Singapore trở nên căng thẳng trên tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị và quan trọng hơn cả là vấn

đề sắc tộc Thêm vào đó là những cuộc xung đột vũ trang giữa Liên bang Malaixia với Indonesia (do Indonesia phản đối việc thành lập Liên bang) đã gây nên những thiệt hại kinh tế khá lớn cho Singgapore Bởi vậy, ngày 9/8/1965, Singapore tuyên bố tách ra khỏi Liên bang Malaixia và trở thành quốc gia độc lập.

Việc Singgapore tách ra khỏi Liên bang Malaixia đã gây nên sự rối loạn chính trị à Malaixia: mâu thuẫn đã nảy sinh ngay trong nội bộ Đảng Liên minh - giữa các Đảng với nhau và thậm chí trong m ỗi Đảng, đặc biệt là trong

UM NO và MCA; mâu thuẫn sắc tộc giữa người Mã lai và người Hoa không những không giảm mà ngày càng có xu hướng gia tăng Các cuộc xung đột sắc tộc diễn ra liên tiếp.

Năm 1967, vấn đề ngôn ngữ quốc gia tiếp tục là đề tài tranh luận gay gắt giữa các sắc tộc khi Quốc hội Liên bang thông qua Chính sách ngôn ngữ với quy định tiếng Malayu là ngôn ngữ chính thức duy nhất của đất nước Cuộc

24

Trang 23

tranh luận này đã làm cho mâu thuẫn sắc tộc càng có dịp bùng nổ và lên đến đỉnh cao vào tháng 5/1 9 6 9

1.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ MALAIXIA GIAI ĐOẠN 1957-1970.

Sau khi giành được độc lập, nên kinh t ế Malaixia vẫn còn là một nền

trọng (đến khoảng giữa những năm 50, nông nghiệp chiếm 40,3% giá trị tổng sản phẩm quốc dân còn công nghiệp chỉ chiếm 8% [53; tr 57] Nền sản xuất phân tán, manh mún N ôn g nghiệp được coi là nền tảng của nền kinh tế nhưng phát triển trong th ế độc canh (cây trồng chủ yếu là cây cao su) Đất nước thiếu các ngành c h ế tạo quan trọng, một số cơ sở ch ế tạo hiện có thì quy mô nhỏ bé,

kỹ thuật thô sơ, năng suất lao động thấp Thị trường trong nước hết sức hạn hẹp, buôn bán và dịch vụ thương mại nhìn chung hoạt động yếu.

Tính chất của nền kinh tế M alaixia không chỉ bộc lộ ờ sự lạc hậu, mất

c â n đ ố i m à n ó c ò n phụ thuộc nặng nề vào nước ngoài Cắc cơ s ở k i n h t ế l ớ n

trong côn g nghiệp c h ế biến, c h ế tạo và đồn điền đều do tư bản Anh nắm giữ Trong khi đó, người Hoa, từ chỗ là m ột bộ phận cấu thành nền kinh tế thuộc địa với đặc trưng kinh t ế Hoa Kiều trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, họ đã trở thành m ột bộ phận quan trọng trong tầng lớp tư sản dân tộc

M alaixia với đặc trưng kinh t ế người Hoa sau khi Malaixia giành được độc lập N gười Hoa giữ vị trí then chốt trong các ngành sản xuất cao su, nội thương, ngoại thương, ngân hàng, bảo hiểm w [85; p 2 4 0 - 248],

Mặt khác, do thiếu vốn và tín dụng, người bản xứ không thể đi vào sản xuất quy mô lớn như người Anh và người Hoa Đại đa số nhân dân Mã lai sống bằng nghề nông, chủ yếu là trồng lúa và đánh cá với kỹ thuật thô sơ Sự yếu kém về vật chất tất yếu sẽ dẫn đến yếu kém về trình độ dân trí, trình độ phát triển văn hoá - xã hội.

25

Trang 24

Trước thực t ế đó, chính phủ Malaixia đã đưa ra chiến lược phát triển

kinh t ế - x ã hội nhằm phục hồi nền kinh t ế và từng bước đưa nền kinh t ế đất nước thoát khỏi tình trạng lạc hậu, phụ thuộc, đồng thời tâng cường vai trò kinh t ế của người bản địa (Bumiputera) nhất là của người Mãlai.

Đ ể khôi phục đất nước, chính phủ M alaixia quyết định chọn con đường phát triển kinh tế bằng những bước đi khác với các nước trong khu vực Malaixia đã không dành sự ưu tiên tối đa cho phát triển công nghiệp mà lại

chú ỷ phát huy tiêm năng thê mạnh của mình, tập trung vào phát triển nông

trọng trong chiến lược nhằm thiết lập một nền kinh tế dân tộc độc lập vừa tạo

ra nền tảng vững chắc cho đời sống nông thôn là khu vực tập trung đông đảo người dân M ã lai nghèo khổ Bên cạnh đó, M alaixia cũng tiến hành phát triển các ngành cô n g nghiệp trọng điểm.

Trong thập kỷ 50, chính phủ đã dành 37% ngân sách nhà nước đê phát triển nông nghiệp và nông thôn trong khi Thái Lan dành 31%, Mianma và Inđônêxia dành 27% [79; p l 15] Trong K ế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1966 - 1970), 24% ngân sách công cộng được tập trung đầu tư cho lĩnh vực này

( b ả n g 1 1 ) , t r o n g đ ó c h i p h í c h ủ y ế u c h o k h a i h o a n g , m ở r ộ n g d i ệ n t í c h đ ấ t

canh tác để tăng sản lượng cây trồng xuất khẩu và nâng cao sản lượng lương thực, tiến tới giảm nhập khẩu và tự túc lương thực.

Tại những nơi mới khai hoang, chính phủ đã cho thành lập các khu dân

cư sau đó cung cấp cho các hộ dân vốn, đất đai và tư liệu sản xuất Ngoài ra chính phủ còn xây dựng các công trình phụ trợ như trường học, nhà thờ, cơ sở

y tế các khu thương m ạ i;c á c cơ quan hành ch ín h Đến năm 1969, ở bán đảo

M alacca đã khai khẩn được gần 100.000 ha đất và di cư đến đó 120.000 dán [66; tr 82].

26

Trang 25

Bảng 1.1: Phàn bổ ngân sách cho phát triển công cộng (1960 - 1970)

(triệu USD)

1966 -1 9 7 0

% trong tổng số

- T/c tài chính phát triển công nghiệp 16

Malaixia (MIDFL)

Viện khoa học và nghiên cứu công 5

nghiệp

Uỷ ban phát triển công nghiêp liên bang 5,0

*MARA: T ổ chức phát triển công nghiệp ngoài khu vực nông thôn

Trang 26

Đ ối với khu vực nông thôn, nhà nước rất chú trọng đến việc xây dựng những cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cống, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống thông tin, giáo dục, y tế Ngoài ra, nhằm đa dạng hoá các hoạt động kinh tế nông thôn, nhà nước còn đầu tư mở rộng nhiều ngành nghề phụ để thu hút lực lượng lao động nhàn rỗi vào các hoạt động phi nông nghiệp Những việc làm

đ ó c ủ a c h í n h p h ủ đ ã b ư ớ c đ ầ u g ó p p h ầ n v à o g i ả m n ạ n t h ấ t n g h i ệ p , n â n g c a o

thu nhập, nâng cao dân trí tiến tới giảm nạn đói nghèo ở khu vực nông thôn Song song với phát triển nông nghiệp và nông thôn, năm 1958, chính phủ

đã thực hiện bước đi đầu tiên nhằm khuyến khích phát triển công nghiệp bằng

v iệc ban hành "Sắc lệnh các ngành công nghiệp tiên phong ” chủ yếu là công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chế biến, mở đầu cho quá trình thực hiện chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu và từng bước hướng vào xuất khẩu Năm 1960, Uỷ ban Tài chính phát triển công nghiệp Mã lai (MIDFA) được thành lập với nhiệm vụ cung cấp tài chính cho công nghiệp, thực hiện quốc hữu hoá các x í nghiệp có vốn cổ phần của tư bản nước ngoài, cung cấp

sở hạ tầng đặc biệt là giao thông, điện nước, nhà xưởng cho phát triển công nghiệp Năm 1965, sau khi Singapore tách ra khỏi Liên bang Malaixia,

U ỷ ban Phát triển công nghiệp liên bang - FIDA được thành lập (hiện nay gọi

là U ỷ ban Phát triển côn g nghiệp M alaixia - M ID A ) nhằm đem lại các hệ thống ưu đãi thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp Nãm 1968, Luật khuyến khích đầu tư ra đời đã đánh dấu sự chuyển hướng chính sách của Malaixia từ Công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu (ISI) sang Công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu (EOI) Những ngành được ưu tiên phát triển trong chính sách công nghiệp hoá mới bao gồm : Những ngành sản xuất sản phẩm chủ yếu phục vụ

ch o xuất khẩu; Những ngành sử dụng nhiều l a o động; Những ngành sử dụng nguồn nguyên liệu địa phương, bao gồm hai loại chế biến các sản phẩm truyền thống như cao su và thiếc, và chế biến những nguyên liệu mới như dầu cọ, gỗ.

28

Trang 27

Trong giai đoạn này, chính phù Malaixia rất quan tâm, chú ý tới việc tăng cường vai trò kinh tế cho người Mã lai bằng cách hình thành giai cấp tư bản Mã lai Thông qua các “Quyền lợi đặc biệt ” dành cho người Mã lai, nhà nước khuyến khích người Mã lai tham gia vào các hoạt động thương mại và công nghiệp Người Mã lai được hưởng các chế độ ưu đãi về thuế, về các khoản tín dụng, về đào tạo nghề và việc làm Các cơ quan như Tổ chức phát triển công nghiệp ngoài khu vực nông thôn - MARA, Ngân hàng Bumiputera, Công ty thương mại nhà nước - PERN AS, Công ty tài chính phát triển công nghiệp Mã lai - M ID F, là những cơ quan thực hiện các hoạt động trợ giúp giúp của chính phủ.

Những biện pháp của chính phủ nhằm nâng đỡ tư bản gốc Mã lai như: nhà nước đứng ra thành lập nhiều cơ sở kinh tế quốc doanh, có thể là hỗn hợp giữa nhà nước với tư bản tư nhân để sau đó mua và bán cổ phần cho tư bản bản xứ; dành một phần nhất định những cổ phần trong tất cả các xí nghiệp mới cho người Mã lai; hoặc quy định việc thành lập những công ty và ngân hàng

c ổ phần chỉ được phép dành cho người Mã lai ở vùng Sarawak và Sabah Tuy nhiên, trên thực tế, các hoạt động thương mại và công nghiệp hầu hết lại nằm trong tay người nước ngoài và những người không phải Mã lai Cụ thể, trong công nghiệp khai thác (thiếc): Năm 1963, trong tổng số 709 công trường khai thác thì công ty nước ngoài chiếm 107 công trường và công ty bản xứ chiếm 602 công trường (chủ yếu nằm trong tay người Hoa) Tương tự như thế, trong công nghiệp ch ế biến - chế tạo người Hoa cũng giữ vai trò chủ đạo bên cạnh người nước ngoài (bảng 1.2) Hoạt động thương mại vẫn luôn là sở trường của người Hoa từ thời thuộc địa Cuối những năm 60, 85% công việc bán buôn bán lẻ nằm trong tay người Hoa, người Hoa cũng nắm 60 đến 65% các hoạt đ ộ n g nhập khẩu và 5 0 đến 55% cá c h oạt đ ộ n g xuất khẩu của

M a la ix ia [17; tr 2 0 4 ].

Trang 28

Bang 1.2: Sơ hữu các tài sản cỏ định của ngành công nghiệp chẻ biến - ché tạo,

khai thác mỏ và xây dựhg cơ bản ở bán đảo Malaixia năm 1970 *

(triệu đôla Malaixia và %).

Dân tộc - Quốc tịch Hình thức hoạt động

30

Trang 29

Trang 30

167,2%, vượt mức 67,2%; giao thông vận tải đạt 99,8%; thông tin liên lạc đạt 98,8%; xuất khẩu cây cao su chiếm tới 1/2 giá trị xuất khẩu của cả nước và đóng góp của xuất khẩu vào G NP là 42,5% Trong giai đoạn (19 6 6 - 1970), GDP đạt tốc độ tăng 5,4% năm Mức tăng lao động đạt bình quân 15%/ năm

và tỷ lệ tiết kiệm tăng từ 17,8% GDP (1961 - 1965) lên 18,2% GDP (1966 - 1970) [87; p 157 - 159],

Mặc dù đạt được những kết quả đáng kể như trên song nhìn chung nền kinh tế của Malaixia vẫn chưa có sự chuyển dịch cấu một cách mạnh mẽ Nông nghiệp vẫn là ngành chủ đạo chiếm tới 30,8% GDP trong khi đó công nghiệp chỉ chiếm 12,21% Tổng sản phẩm quốc gia (GDP) bình quân đầu người tăng chậm: 1968: 370 USD, 1969: 380 USD, 1970: 390 USD Những cố gắng của giới cầm quyển Mã lai chỉ giới hạn trong cộng đồng Mã lai chứ chưa tạo ra sự liên kết, hợp tác về kinh tế giữa các cộng đồng Chính vì thế, sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các cộng đồng vẫn không được rút ngắn, đã kéo theo hàng loạt các vấn đề làm cho tình hình chính trị - xã hội

ở Malaixia vốn đã phức tạp lại càng trở nên phức tạp hơn.

1.3 CUỘC KHỦNG HOẢNG SẮC TỘC NĂM 1969 VÀ HỆ TƯ TƯỞNG RUKUNEGARA.

Sau khi Singgapore tách ra khỏi liên bang, các nhà lãnh đạo Tổ chức dân tộc thống nhất Mã lai cảm thấy tự tin hơn và quyết tâm hành động hơn trong việc thực hiên mục tiêu của mình Trong khi đó, các cộng đồng dân tộc khác, trước hết là cộn g đồng người Hoa, đã phản ứng m ột cách mạnh mẽ đối với việc tăng cường ảnh hường quá lớn của cộng đồng người Mã lai Do vậy mà, mặc dù Singgapore đã trở thành quốc gia riêng nhưng mâu thuẫn sắc tộc giữa người Hoa và người Mã lai vẫn không hề giảm Cuộc tranh luận về ngôn ngữ chính thức của quốc gia đã làm cho những mâu thuẫn đó càng có dịp bùng nổ.

31

Trang 31

Tháng 1/1967, Đại hội của Đảng Liên minh được tiến hành, trong đó, Tuyên bố của Đại hội cho rằng: Chính sách phân biệt sắc tộc của các Đảng đối lập là hết sức nguy hiểm và trong một xã hội đa sắc tộc như Malaixia thì các nhóm sắc tộc chính có thể sống, làm việc cùng nhau và đạt được sự thống nhất trong đa dạng Tuyên bố cũng cho ràng phương tiện quan trọng đ ể có th ể thống nhất các nhóm sắc tộc đó là áp dụng tiếng Malayu chung cho tất cá các nhóm sắc tộc trong cả nước.

Ban đầu, phái dân tộc trong UMNO đòi công bô' tiếng Malayu là ngôn ngữ quốc gia duy nhất nhưng các đảng của người Hoa và người Ấn đã phản đối tư tưởng này một cách quyết liệt Do vậy, ngày 3/3/1967, Quốc hội Liên bang đã thông qua Luật về ngôn ngữ quốc gia Luật này hoàn toàn đáp ứng với yêu cầu của người Mã lai mặc dù có đưa ra một số thoả hiệp như cùng với việc khẳng định tiếng Malayu là ngôn ngữ quốc gia duy nhất thì tiếng Anh có thể được sử dụng như là tiếng nói chính thức trong một số trường hợp, tiếng Trung

và tiếng Tamil cũng được sử dụng như là ngôn ngữ không chính thức.

Hình thức thoả hiệp đó là kết quả của một cuộc đấu tranh gay gắt trong nội bộ Đảng Liên minh Ngoài sự bất đồng nội bộ, Liên minh đặc biệt là

UM NO còn phải đối phó với cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân Mã lai

mà đứng đầu là Đảng Hồi giáo đại Mã lai Đảng này lên án UMNO đã thoả hiệp với các tổ chức chính trị khác của Malaixia và bán rẻ lợi ích của người

Mã lai Đảng Hồi giáo đòi đưa vào Hiến pháp những bổ sung nhằm tăng đặc quyền của người bản xứ, đòi đặt các nguyên tắc của đạo Hồi làm cơ sờ cho sự phát triển của Malaixia.

Trong bối cảnh của cuộc đấu tranh chính trị này, nhiều đảng phái chính trị đối lập mới được thành lập Những đảng đó không dựa trên nguyên tắc cộng đồng mà là đại diện cho quyển lợi của các nhóm dân tộc khác nhau, kể

32

Trang 32

cả người H oa và người Ấn, trong đó đáng kể nhất là Đ ảng Hành động Dân chủ

và Đảng Phong trào Nhân dân Malaixia.

Đảng Hành động Dân chủ (DAP) được thành lập năm 1966, là đảng của những người có xu hướng xã hội chủ nghĩa cánh hữu, được tách ra từ Đảng Nhân dân Hành động Singapore Đảng này có ảnh hưởng trong bộ phận công nhân, tiểu tư sản thành thị và trí thức gốc Hoa Trong cương lĩnh của mình, Đảng này lên án tư tưởng độc quyền sắc tộc của một cộng đồng và kêu gọi sự thống nhất dân tộc trên cơ sở phi cộng đồng; trong khi thừa nhận tiếng Mã lai

là ngôn ngữ quốc gia thì Đảng Hành động Dân chủ cũng đòi phải có những quy định chính thức cho cả tiếng Anh, tiếng Trung Quốc và tiếng Tamil Trong cuộc bầu cử vào Nghị viện liên bang năm 1969, Đảng Hành động Dân chủ đưa ra khẩu hiệu "Malaixia của người Malaixia" nghĩa là yêu cầu phải có một Hiến pháp bình đẳng đối với tất cả công dân của đất nước không phụ thuộc vào sắc tộc nào Khẩu hiệu này dã nhận được sự ủng hộ rất lớn của giới trẻ dặc biệt là giới trẻ người Hoa.

Đảng Phong trào Nhân dân M alaixia (Grakan Rakyat M alaysia) được thành lập năm 1968 bởi nhóm tư sản người Hoa trên cơ sở hợp nhất Công đảng và Đảng Dân chủ Thống nhất Đảng này đòi thực hiện dân chủ hoá xã hội, đòi quyền bình đẳng, không phân biệt đối xử đối với tất cả m ọi công dân Malaixia.

Nhìn chung, tiếng nói chung của các đảng chính trị đối lập đều phản đối chính sách của UM NO ưu tiên cho người Mã lai và đưa ra đề nghị thực hiện dân chủ hoá đất nước nhằm đem lại quyền bình đẳng cho m ọi người dân không phân biệt sắc tộc V à như vậy thì mặc dù các đảng đối lập không có khả năng nêu ra một chương trình hành động rõ ràng cho một xã hội đa sắc tộc để

có thể làm đối trọng với chương trình phát triển của Đảng Liên minh nhưng vẫn nhận được sự ủng hộ rất lớn của các cử tri.

Trang 33

Vì vậy, trong cuộc bầu cử Quốc hội liên bang ngày 11/5/1969, Đảng Liên minh bị thất bại lớn Mặc dù vẫn chiếm đa số ghế trong Quốc hội nhưng

so với cuôc bầu cử trước thì vị trí của Đảng này đã bị giảm sút đáng kể Trong cuộc bầu cử vào Hội đồng lập pháp các bang ở vùng bán đảo, Đảng Liên minh cũng bị thất bại Ở các bang Selanggor, Perak, Penang, Đảng Liên minh cũng không giành được da số phiếu.

Ngày 13/5/1969, tại Kuala Lumpur, Đảng Phong trào Nhân dân và Đảng Hành động Dân chủ dã tổ chức một cuộc tuần hành lớn để chào mừmg thắng lợi của mình Trước tình hình đó, các bộ phận cực hữu trong giới lãnh đạo

UM NO đã tập hợp bộ phận quần chúng người Mã lai bất mãn về kinh tế như tầng lớp dân nghèo thành phố, tiểu tư sản, nông dân để tổ chức một cuộc phản tuần hành Hành động này đã đưa đến một hậu quả bi thảm nhất trong lịch sử phát triển của Liên bang Malaixia Những cuộc xung đột sắc tộc đẫm máu đã diễn ra giữa một bên là những người ủng hộ hai đảng nói trên mà đa phần là người Hoa với một bên là người Mã lai Liên bang Malaixia ở trong tình trạng rối loạn đến cao độ Xung đột đẫm máu đã lan ra nhiều vùng của đất nước Ngày 17/5/1969, tình trạng khẩn cấp được công bố trong toàn quốc Tính đến cuối tháng 7/1969, "khoảng 200 người chết và 440 người bị thương, 9.000 người bị bắt giam, 5.500 người bị đem ra xét xử Phần lớn những người

bị thương và bị giết là người Hoa" [43; tr 58] Phải đến tháng 8/1969, các cuộc xung đột mới được dập tắt Tình hình chính trị M alaixia ổn định trở lại Sau những biến động tháng 5/1969, chính phủ Malaixia đã đặt vấn đề thống nhất dân tộc lên hàng đầu Dù xuất thân từ người gốc Hoa, gốc An, hay gốc Mã lai thì trên lãnh thổ của liên bang ngày nay, tất cả đều hợp thành một dân tộc Malaxia.

Các nhà lãnh đạo trong Liên minh cầm quyền cho rằng để ổn định tình hình chính trị trong nước cần phải có những biện pháp nhất định để thiết lập

34

Trang 34

m ột sự chung sống hoà thuận giữa các cộng đồng H ọ cũng cho rằng một trong nhiều nguyên nhân chính dẫn đến sự kiện ngày 13/5/1969 là do sự thiếu hụt một hệ triết học hoặc một hệ tư tưởng mà nhờ nó có thể làm nguyên tắc để lãnh đạo xã hội M alaixia.

Trên tinh thần đó, tháng 8 /1 9 7 0 , H ội đồng tư vấn quốc gia - m ột cơ quan bao gồm 65 đại diện của chính phủ liên bang và chính phủ của các bang, các đảng phái chính trị, các tổ chức tôn giáo, và các tầng lớp xã hội được thành lập

để thảo luận những vấn đề có liên quan tới sự hoà hợp dân tộc và có nhiệm vụ thảo ra một hệ tư tưởng dân tộc nhằm thắt chặt sự thống nhất các dân tộc trong

cả nước Ngày 31/8/1970, chính phủ M alaixia đã thông qua một bản Tuyên bố trong đó trình bày hệ tư tưởng g ọ i là RUKƯNEGARA (nền tảng quốc gia) và coi đó là hệ tư tưởng chính thức của đất nước.

Trong bản Tuyên b ố này, lần đầu tiên ở mức độ chính phủ, các nhà lãnh đạo Malaixia đ ã đặt ra vấn đ ề tồn tại và phát triển của đất nước với tư cách

là một quốc gia nhiều sắc tộc và nhấn mạnh rằng mọi hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, x ã hội cũng như trong sự nghiệp giáo dục và văn

bố khẳng định để bảo đảm sự hoà hợp dân tộc thì các lợi ích chung nhất thiết phải được đặt cao hơn bất kỳ nhóm sắc tộc nào và nếu như trong trường hợp ngược lại thì sẽ dẫn đến sự mất ổn định, nguy hiểm đối với đất nước.

Rukunegara nêu rõ các mục tiêu của đất nước Malaixia là: Đạt được mục tiêu thống nhất hơn nữa trong nhân dân; Duy trì một lối sống dân chủ; Tạo lập một xã hội công bằng mà trong đó, của cải của đất nước được phân phối công bằng; Bảo đảm một khả năng tồn tại tự do của các truyền thống văn hoá giàu

có và đa dạng của đất nuớc; X ây dựng m ột xã hội tiến bộ, định hướng khoa học và công nghệ.

35

Trang 35

Khi để ra 5 nguyên tắc của Rukunegara, các tác giả của nó cho rằng chỉ khi nào những người M alaixia công nhận 5 nguyên tắc đó m ột cách vô điều kiện thì mới có thể tạo dựng những tiền đề cho sự thống nhất dân tộc 5 nguyên tắc đó là: Tin vào Đấng tối cao; Trung thành với Quốc vương và đất nước; Tôn trọng H iến pháp; Pháp quyền; Có hành vi và đạo đức tốt [63; p 2 1 5 ] .

Vẫn trên nguyên tắc thống nhất dân tộc nhưng các tác giả của Rukunegara đã đưa vào đấy hàng loạt các điều khoản nhằm mục đích bảo vệ

vị trí ưu thế của người Mã lai V í dụ như, mặc dù tuyên bố là tự do tín ngưỡng nhưng Rukunegara vẫn đề cao Hồi giáo, khẳng định tôn giáo chính thức của liên bang là đạo Hồi và mọi công dân của liên bang phải có nghĩa vụ trung thành với thủ lĩnh tối cao của liên bang, dân chúng các bang phải trung thành với thủ lĩnh các bang Với nguyên tắc này, giới quý tộc Mã lai đã tìm thấy ở đấy sự bảo đảm đặc quyền của mình Hơn nữa, để bảo đảm một cách vững chắc "quyền dặc biệt" của người Mã lai, Hiến pháp sửa đổi năm 1971 nêu rõ: Nghĩa vụ của m ỗi công dân là phải tôn trọng từng câu chữ cũng như tinh thần của Hiến pháp và phải tuân thủ một cách tuyệt đối các điều khoản trong Hiến pháp, cấm không được nghi ngờ hay phê phán những điều khoản của Hiến pháp nói về quy chế của các quốc vương Mã lai, về quyền công dân, về quyền đặc biệt của người Mã lai, về địa vị của Hồi giáo với tư cách là tôn giáo chính thức của quốc gia, về tiếng Malayu với tư cách là ngôn ngữ quốc gia duy nhất

Đ iều dáng lưu ý là bản Tuyên b ô 'đ ã chính thức công nhận rằng: sự khác

ngày 13/5 đã chỉ ra rằng: để có thể đạt được sự ổn định là hoàn toàn phụ thuộc vào việc giải quyết vấn đề nghèo đói của dân chúng nói chung, của các cư dân

36

Trang 36

bản địa nói riêng, và giải quyết sự yếu kém của tầng lớp doanh nghiệp Mã lai

Đ ây chính là những vấn đề cần phải được giải quyết một cách nhanh chóng.

Tóm lại, bằng viộc thông qua Rukunegara làm hệ tư tưởng quốc gia và những sửa đổi H iến pháp nhằm đáp ứng những mục tiêu được nêu ra trong Rukunegara đã có những tác động to lớn đối với sự biến đổi tình hình chính trị

- xã hội ở M alaixia vào giai đoạn sau.

1.4 TIỂU KẾT.

Sau khi thực hiện chiến lược phát triển kinh tế giai đoạn 1957 - 1970, đặc biệt là sau K ế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1966 - 1970, nền kinh tế M alaixia đã

có sự tăng trưởng đáng kể Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh t ế ở M alaixia thời

kỳ này không th ể giải quyết được tất cả các vấn đ ề chính trị, x ã hội có liên

Thứ nhất, để phát triển tư bản nhà nước và tư bản tư nhân người M ã lai nhằm hạn c h ế sự kiểm soát của tư bản nước ngoài và tư bản người Hoa, chính phủ M alaixia đã sử dụng “Q uyền đặc biệt” dành cho người Mã lai Tuy nhiên trên thực tế, “Q uyền đặc biệt” ấy không phát huy được hiệu quả khi m à hầu hết người M ã lai sống tập trung ở khu vực nông thôn và còn đang trong tình trạng nghèo khổ M ặt khác, những ưu tiên, ưu đãi về vốn và tín dụng w hoàn toàn không có ý nghĩa đối với người M ã lai vì các hoạt động công thương nghiệp phần lớn nằm trong tay người nước ngoài và những người không phải Mã lai, hoặc nếu có thì số người hoạt động trong lĩnh vực này cũng bị yếu kém về trình độ quản lý.' V ì th ế phát triển nông nghiệp và nông thôn lúc bấy g iờ được coi là biện pháp quan trọng và duy nhất để giúp người

Mã lai đuổi kịp các dân tộc khác Song chính sách này đã bộc lộ mặt hạn ch ế

c ơ bản của nó là kìm hãm người Mã lai tiếp tục ở vị trí lạc hậu trong các hoạt động kinh tế truyền thống Chính sách này không những không giải quyết

37

Trang 37

được ý đồ của nhà nước mà trái lại nó còn gây nên sự bất bình trong các cộng

đồng người Hoa và người Ân Độ.

Thứ hai, sự khác nhau trong lĩnh vực hoạt động kinh tế giữa các cộng đồng như trên đã trình bày đã k éo theo sự khác nhau về khu vực địa lý sinh sống N gười M ã lai sống ở nông thôn, tập trung chủ yếu ở các bang nông nghiệp lạc hậu như Kelantan, Terenggaru, Kedah, Penang và Perlis Tỷ lệ người Mã lai sống ở đô thị không nhiều N gười Hoa sống tập trung ở thủ đô Kuala Lumpur và các thành phố ven biển bắc Kalimantan Cộng đồng người

Ấn Đ ộ sinh sống cả ở vùng nông thôn lẫn thành thị, nhưng vùng tập trung chính là ở vùng bờ biển phía Tây bán đảo M alacca, nơi có nhiều đồn điền cao

phong tục, tập quán, văn hoá, ngôn ngữ càng trở nên sâu sắc hơn.

Thứ ba là sự cách biệt về mức sống, và chất lượng sống Sau 13 năm độc lập, sự bất bình đẳng trong phán phối thu nhập của cả nước không những

M alaixia nhận được 50% thu nhập quốc dân và năm 1970 nhận được 56% Trái lại, 60% hộ nghèo nhất M alaixia nhận được 30% thu nhập quốc dân vào năm 1957, nhưng chỉ nhận được 25% vào năm 1970 Hệ số Gini' cũng tăng từ 0,41 lên 0 ,5 1 3 trong cùng giai đoạn, chứng tỏ mức độ bất bình đẳng ngày càng trầm trọng trong phân phối thu nhập ở M alaixia Phân phối thu nhập

Kelatan chỉ bằng 47% mức trung bình của cả nước, ở bang Kedah bằng 67% , Terengganu bằng 60% trong khi bang Selangor bằng 163% và bang Sabah bằng 119% Những cách biệt về thu nhập cũng th ể hiện rõ hơn đối với từng

cộng đồngtrong cùng thời gian đó: N ăm 1957, thu nhập hộ gia đình của người

1 Hộ số Gini là hệ số đo sự bất bình đẳng trong thu nhập tính từ 0 đến 1 Hệ số càng lớn thì bất bình đẳng càng cao

38

Trang 38

Bảng 1.3: Phân phối thu nhập hộ gia đình ở bán đảo Malaixia (1957 - 1970)

Trang 39

Mã lai là 139 đôla Mã lai/tháng, người Hoa là 300 đôla và người Ấn là 131 đôla Năm 1970, thu nhập bình quân/tháng của hộ gia đình người Hoa là 394 đôla, người Ấn là 304 đôla thì gia đình người Mã lai chỉ có 172 đôla Mạt khác, hơn 50% dân số Mã lai và Ân Độ trong giai đoạn này đều sống trong những điều kiện sinh hoạt hết sức tồi tàn Địa vị kinh tế của người Hoa và người Mã lai vẫn rất chênh lệch. Năm 1970, người Hoa chiếm 34,3% số vốn, người Mã lai chỉ chiếm 2,4%, ít hơn 14 lần Tình trạng thất nghiệp ở Malaixia ngày càng tăng. Năm 1965, tỷ lệ thất nghiệp là 6,5% và năm 1970 đã tăng lên 8%, lại tập trung chủ yếu vào người M ã lai ở nông thôn [83; tr 10 - 15] Tình

trạng nghèo đói vẫn còn p h ổ biến. Đ ại đa s ố các hộ nghèo trong cả nước tập

nhóm người Hoa, người Ấn và các nhóm cộng đồng khác cũng có những vấn

đề về nghèo song không đến nỗi bức xúc như đối với người bản địa Tỉ lệ người nghèo trong cộng đồng người Mã lai chiếm 55,7%, người Ấn là 19,8%

và người H oa chiếm 13,1% X ét theo khía cạnh khu vực, mức độ nghèo ở các bang Kedah, Perak, Kelatan, Terengganu, Sabah và Sarawak cao hơn rất nhiều

so với mức bình quân của toàn quốc gia.

Nhìn chung, nền kinh tế tăng trưởng nhanh sau độc lập đã không mang lại thành quả cho số đông người nghèo ở Malaixia.

Tóm lại, những bất bình đẳng về kinh tế giữa người Mã lai và người Hoa

là nguyên nhân dẫn đến sự cách biệt rất lớn trong mọi lĩnh vực của đời sống

xã hội Mâu thuẫn sắc tộc dường như đã trở thành “căn bệnh” cơ bản của

M alaixia kể từ sau đ ộc lập và đặc biệt sâu sắc hơn khi Liên bang Malaixia thành lập nãm 1963 Trong thời gian đó, các cuộc xung đột sắc tộc diễn ra liên tiếp nhất là sau khi Singapore tách ra khỏi Liên bang M alaixia nãm 1965, mâu thuẫn sắc tộc và xung đột dân tộc không hề giảm , trái lại có xu hướng tăng lên Cuối cùng, cuộc xung đột đẫm máu ngày 13/5/1969 dã phản ánh

40

Trang 40

những bất Ổn định khó tránh khỏi của hệ thống chính trị, kinh tế, x ã hội được vận hành trên cơ sỏ của sự bất bình đẳng vê kinh tê và sự chia r ẽ sãu sắc giữa các tầng lớp, các tộc người trong x ã hội.

Trong bối cảnh đó Rukunegra đã ra đời, song trên thực tế nó chỉ là một biện pháp mang tính chất hành chính, tức là nó chỉ có thể giải quyết vấn đề sắc tộc từ bên trên V ì vậy, Rukunegara không phải là một biện pháp mang tính toàn diện và triệt để Vấn đề là ở chỗ, nguyên nhân sâu sa của các cuộc xung đột sắc tộc chính là do sự bất bình đẳng về kinh tế giữa các cộng đồng

Do đó, để có thể giải quyết vấn đề hoà hợp dân tộc thì nhất thiết phải xây dựng cho được một đường lối phát triển kinh tế hướng tới việc huy động tiềm năng của tất cả các dân tộc trong nước hay nói cách khác là thực hiện sự phát triển một cách công bằng giữa các cộng đồng sắc tộc Xuất phát từ nhận thức trên, Chính sách kinh tế mới (NEP) ra đời.

41

Ngày đăng: 23/03/2015, 07:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Azizun. I (1999), Những bài học từ kinh nghiệm tăng trưởng của khuvực Đông và Đông Nam Á, Đinh Trọng Minh dịch, Nxb CTQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài học từ kinh nghiệm tăng trưởng của khu"vực Đông và Đông Nam Á
Tác giả: Azizun. I
Nhà XB: Nxb CTQG Hà Nội
Năm: 1999
2. Cai cách giáo dục ở Malaixia” (1996), Khoa học kỹ thuật kinh té tliê giới (40), tr. 13 &amp; 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học kỹ thuật kinh té tliê giới
Tác giả: Cai cách giáo dục ở Malaixia”
Năm: 1996
3. Phan Đại Doãn, Nguyễn Trí Dĩnh cb (1995), Tìm hiểu kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn ở một số nước khu vực Đông Á và Đông Nam Á Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn ở một số nước khu vực Đông Á và Đông Nam Á
Tác giả: Phan Đại Doãn, Nguyễn Trí Dĩnh cb
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
4. Phạm Đức Dương cb (1997), Các ngôn ngữ Đông Nơm Á trong giao lim và phát triển, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các ngôn ngữ Đông Nơm Á trong giao lim và phát triển
Tác giả: Phạm Đức Dương cb
Năm: 1997
5. Đỗ Đức Định, Danny M. Leipziger, Vinod Thomas (1995), Kinh tế Đông Á - nền tảng của sự thành công, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Đông Á - nền tảng của sự thành công
Tác giả: Đỗ Đức Định, Danny M. Leipziger, Vinod Thomas
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1995
6. Đỗ Đức Định cb (1998), Khó khăn và giải pháp đối với táng trường bền vững của những nền kinh tế đang chuyển đổi, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khó khăn và giải pháp đối với táng trường bền vững của những nền kinh tế đang chuyển đổi
Tác giả: Đỗ Đức Định cb
Năm: 1998
7. Hoàng Giáp, Hoài Anh (2001), “Chiến lược phát triển kinh tế tri thức của Malaixia”, Kinh tếCháu Á - Tliái Bình Dươìig (5), tr. 34 - 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển kinh tế tri thức của Malaixia”, "Kinh tếCháu Á - Tliái Bình Dươìig
Tác giả: Hoàng Giáp, Hoài Anh
Năm: 2001
8. Nguyễn Văn Hà (2001), “Nhà nước và hoạt động kinh tế ờ Malaixia", Nghiên cứu Đông Nam J 4. (2), tr. 40 - 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và hoạt động kinh tế ờ Malaixia
Tác giả: Nguyễn Văn Hà
Năm: 2001
9. Phạm Mộng Hoa cb (1998), Địa lý kinh tế - xã hội các nước ASEAN, Nxb KHXH, Hà Nội.103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý kinh tế - xã hội các nước ASEAN
Tác giả: Phạm Mộng Hoa cb
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1998
10. Nguyễn Thanh Hoàn (2000), “Giáo dục Malaixia hiện tại và tương lai”Nghiên cứu giáo dục (7), tr. 28 - 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Malaixia hiện tại và tương lai”"Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thanh Hoàn
Năm: 2000
12. Nguyễn Hồ (1995), “Nhân tố chính sách trong phát triển kinh tế của Malaixia”, Những vấn đề kinh tế thế giới, (2), tr. 26 - 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân tố chính sách trong phát triển kinh tế của Malaixia”, "Những vấn đề kinh tế thế giới
Tác giả: Nguyễn Hồ
Năm: 1995
13. Nguyễn Huy Hồng, Đinh Nguyên Khuê,... Nguyễn Văn Hà (1998), Malaixia - Lịch sử, văn hoá và những vấn đề hiện đại, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Malaixia - Lịch sử, văn hoá và những vấn đề hiện đại
Tác giả: Nguyễn Huy Hồng, Đinh Nguyên Khuê,... Nguyễn Văn Hà
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1998
14. Lê Mạnh Hùng (1996), Kinh tê xã hội Việt Nam - Thực trạng, xu thế và giải pháp, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tê xã hội Việt Nam - Thực trạng, xu thế và giải pháp
Tác giả: Lê Mạnh Hùng
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1996
15. Trần Lan Hương (1999), “Nông nghiệp Malaixia trên con đường công nghiệp hoá”, Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, (4), tr. 25 - 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp Malaixia trên con đường công nghiệp hoá”, "Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
Tác giả: Trần Lan Hương
Năm: 1999
16. Jonh. H. Naibis (1998), Tám xu hướng pliát triển cùa Châu Á đang lùm thay đổi thế giới, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tám xu hướng pliát triển cùa Châu Á đang lùm thay đổi thế giới
Tác giả: Jonh. H. Naibis
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1998
17. Trần Khánh (1992), Vai trò của người Hoa trong nền kinh tế các nước Đông Nam Á, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của người Hoa trong nền kinh tế các nước Đông Nam Á
Tác giả: Trần Khánh
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1992
18. Phan Ngọc Liên cb (1997), Lược sử Đông Nam Á, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử Đông Nam Á
Tác giả: Phan Ngọc Liên cb
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
19. Phạm Nguyên Long cb (1993), Đông Nam Á trên đường phát triển, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Nam Á trên đường phát triển
Tác giả: Phạm Nguyên Long cb
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1993
20. Phạm Nguyên Long cb (1996), Các con đường phát triển cùa ASEAN. Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các con đường phát triển cùa ASEAN
Tác giả: Phạm Nguyên Long cb
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TAT - Chính sách kinh tế mới với vấn đề hoà hợp dân tộc ở Malaixia giai đoạn 1971-1990
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TAT (Trang 5)
Bảng 1.1: Phàn bổ ngân sách cho phát triển công cộng (1960 - 1970) - Chính sách kinh tế mới với vấn đề hoà hợp dân tộc ở Malaixia giai đoạn 1971-1990
Bảng 1.1 Phàn bổ ngân sách cho phát triển công cộng (1960 - 1970) (Trang 25)
Hình  thức  thoả  hiệp  đó  là kết  quả  của  một  cuộc  đấu  tranh  gay  gắt  trong  nội  bộ  Đảng  Liên  minh - Chính sách kinh tế mới với vấn đề hoà hợp dân tộc ở Malaixia giai đoạn 1971-1990
nh thức thoả hiệp đó là kết quả của một cuộc đấu tranh gay gắt trong nội bộ Đảng Liên minh (Trang 31)
Bảng 1.3: Phân phối thu nhập hộ gia đình ở bán đảo Malaixia (1957 - 1970) - Chính sách kinh tế mới với vấn đề hoà hợp dân tộc ở Malaixia giai đoạn 1971-1990
Bảng 1.3 Phân phối thu nhập hộ gia đình ở bán đảo Malaixia (1957 - 1970) (Trang 38)
Bảng 2.2: Mục tiêu phân phối lại lao động theo các ngành kinh tế. - Chính sách kinh tế mới với vấn đề hoà hợp dân tộc ở Malaixia giai đoạn 1971-1990
Bảng 2.2 Mục tiêu phân phối lại lao động theo các ngành kinh tế (Trang 43)
Bảng 2.3: Phán bô lại lao động theo nghề nghiệp  (tỷ lệ %) - Chính sách kinh tế mới với vấn đề hoà hợp dân tộc ở Malaixia giai đoạn 1971-1990
Bảng 2.3 Phán bô lại lao động theo nghề nghiệp (tỷ lệ %) (Trang 44)
Bảng 2.5: Phân phối dành cho việc thủ tiêu nghèo khổ và cấu trúc lại xã hội  (so với % của tổng số FGDA - Phân phối phát triển của chính phủ liên bang) - Chính sách kinh tế mới với vấn đề hoà hợp dân tộc ở Malaixia giai đoạn 1971-1990
Bảng 2.5 Phân phối dành cho việc thủ tiêu nghèo khổ và cấu trúc lại xã hội (so với % của tổng số FGDA - Phân phối phát triển của chính phủ liên bang) (Trang 49)
Bảng 3.2:  Tăng trưởng của các ngành  kinh tế  trong GDP (Đơn vị %) - Chính sách kinh tế mới với vấn đề hoà hợp dân tộc ở Malaixia giai đoạn 1971-1990
Bảng 3.2 Tăng trưởng của các ngành kinh tế trong GDP (Đơn vị %) (Trang 74)
Bảng 3.4: Các chỉ số phản ánh chất lượng cuộc sống. - Chính sách kinh tế mới với vấn đề hoà hợp dân tộc ở Malaixia giai đoạn 1971-1990
Bảng 3.4 Các chỉ số phản ánh chất lượng cuộc sống (Trang 76)
Bảng 3.6: Những mục tiêu và thành tựu trong xoá đói giảm nghèo - Chính sách kinh tế mới với vấn đề hoà hợp dân tộc ở Malaixia giai đoạn 1971-1990
Bảng 3.6 Những mục tiêu và thành tựu trong xoá đói giảm nghèo (Trang 81)
Bảng 3.7: Các số liệu xã hội chủ yếu ở một số nước châu Á năm 1990. - Chính sách kinh tế mới với vấn đề hoà hợp dân tộc ở Malaixia giai đoạn 1971-1990
Bảng 3.7 Các số liệu xã hội chủ yếu ở một số nước châu Á năm 1990 (Trang 82)
Bảng 3.8:  Các mục tiêu và thành tựu trong chuyển dịch cơ cấu. - Chính sách kinh tế mới với vấn đề hoà hợp dân tộc ở Malaixia giai đoạn 1971-1990
Bảng 3.8 Các mục tiêu và thành tựu trong chuyển dịch cơ cấu (Trang 84)
Bảng 3.9: Tổng sản phẩm quốc dân bình quân đáu người - Chính sách kinh tế mới với vấn đề hoà hợp dân tộc ở Malaixia giai đoạn 1971-1990
Bảng 3.9 Tổng sản phẩm quốc dân bình quân đáu người (Trang 90)
Bảng 3.10: Dự kiến tổng sản phẩm quốc dân bình quàn đầu người - Chính sách kinh tế mới với vấn đề hoà hợp dân tộc ở Malaixia giai đoạn 1971-1990
Bảng 3.10 Dự kiến tổng sản phẩm quốc dân bình quàn đầu người (Trang 91)
Bảng 3.11:  Mục tiêu và thành tựu theo vùng của NEP - Chính sách kinh tế mới với vấn đề hoà hợp dân tộc ở Malaixia giai đoạn 1971-1990
Bảng 3.11 Mục tiêu và thành tựu theo vùng của NEP (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w